text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích – Bình luận đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga trong Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
Bài làm
Mở đầu Truyện Lục Vân Tiên, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu viết:
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lành dè thân san.
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình…
Lời thơ giản dị, rành rẽ như một tuyên ngôn, định hướng cho bước đi của toàn bộ tác phẩm. Với nhà thơ xứ dừa ấy, sáng tác văn chương không phải vì sự nghiệp văn chương mà trước hết, quan trọng hơn hết là vì mục đích giáo dục, truyền bá đạo lí, nhân cách con người. Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được nhân dân ta – nhất là bà con ở Nam Bộ – yêu thích không phải vì có nhiều câu hay, lời đẹp, nghệ thuật tinh tế mà vì những chi tiết, sự việc, những nhân vật toả sáng đạo lí, vì những ý tưởng giáo huấn chân thành, thấm thía. Nội dung đạo lí bao trùm toàn thiên truyện là nhân nghĩa, là trung hiếu, tiết hạnh. Song đấy không phải những từ ngữ khô khan trói trong khuôn khổ phong kiến cổ hủ, nặng nề.
Với Nguyễn Đình Chiểu, nhân nghĩa là đạo đức của nhân dân, là căn cốt, gốc rễ để trau dồi, rèn giũa con người. Vì vậy, vào đầu tác phẩm – ở đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – nhà thơ đã hào hứng giới thiệu hai con người trẻ tuổi, biết hướng theo lòng nhân, biết hành động theo việc nghĩa. Đó là Lục Vân Tiên – chàng trai tài ba dũng cảm, sẵn sàng làm việc "nghĩa". Vân Tiên vốn con nhà thường dân nhưng học giỏi, văn võ kiêm toàn. Chàng đang háo hức trên con đường lên kinh ứng thi. Vậy mà gặp cướp. Không phải chúng gây sự với chàng, mà chúng đang quấy nhiễu nhân dân. Trước mắt chàng, bày ra một nghịch cảnh: dân thì "than khóc tưng bừng – Đều đem nhau chạy vào rừng lên non" ; bọn cướp thì "xuống thôn hương – Thấy con gái tốt qua đường bắt đi". Thế là, sau một lời hứa ngắn gọn: "Tôi xin ra sức anh hào…", Lục Vân Tiên nhanh nhẹn "Ghé lại bên đàng, bẻ cây làm gậy", xông thẳng vào giữa bọn cướp.
Bọn cướp đông đặc. Tên tướng cướp "Mặt đỏ phừng phừng", dữ tợn như một con ác thú. Chúng "Truyền quân bốn phía bủa vây bịt bùng". Lực lượng thật quá chcnh lệch. Bèn kia là cả lũ lâu la đông như ong, như kiến. Bên này chỉ độc nhất một mình chàng trai dũng cảm với lời hứa chân thành "Cứu người ra khỏi lao dao buổi này", với vũ khí giản dị "cây gậy bên đàng". Vậy mà, chàng không chút nao núng:
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Nhà thơ không tả tỉ mỉ trận giao chiến mà chỉ kể ngắn gọn bằng mấy dòng thơ, một đấu so sánh và dăm ba từ đặc sắc: "tả đột, hữu xông – Khác nào Triệu Tử…" đúng là một dũng tướng tài ba, đánh nhanh, kín võ, sánh ngang với Triệu Tử Long thời Tam quốc trong trận phá vây quân Tào Tháo ở Đương Dang Trường Bản. Ngày xưa Triệu Tử Long chiến đấu vì ngôi vua nhà Hán, vì bảo vệ ấu chúa A Đẩu, dù sao vẫn là nghĩa vụ của một bầy tôi trung thành. Còn ngày nay, Lục Vân Tiên chiến đấu vì người dân gặp nạn, cứu dân, trừ ác, vì việc nghĩa… hành động đó thật giản dị, vô tư trong sáng và cao đẹp biết bao. Cuộc chiến đấu của chàng y như trận đánh của Thạch Sanh„ diệt đại bàng cứu nàng công chúa. Sức mạnh của Lục Vân Tiên là sức mạnh của nhân dân, của điều thiện.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đêu quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Lời thơ chân chất, có chỗ còn thô mộc, song hồn thơ chan chứa dạt dào. Đọc Lục Vân Tiên, chúng ta thường gặp nhiều câu chữ chân mộc như thế. Thơ chân mộc nhưng cảm hứng tác giả vẫn bay bổng, mộng mơ. Ngỡ như người thi sĩ mù ấy vừa kể chuyện vừa rung đùi thích thú, gửi tới bạn đọc một lẽ phải nhỡn tiền: Người có lòng nhân, biết làm việc nghĩa thì sẽ thắng. Kẻ độc ác, bất nhân sẽ thảm bại như thế đấy. Xuất phát từ lòng nhân, Lục Vân Tiên đã làm dược một việc "nghĩa", một việc xứng đáng được gọi là anh hùng.
Tự nguyện dấn thân vào vòng nguy hiểm, chiến đấu hết mình, thắng lợi rực rỡ,… tất cả đều vì nhân nghĩa, nên sau thắng lợi, Lục Vân Tiên không một chút kiêu ngạo. Trái lại, chàng thật khiêm nhường, chính trực. Nghe cô hầu Kim Liên than thở nhưng vẫn còn hoảng sợ, Vân Tiên động lòng thương, an ủi: "Ta đã trừ dòng lâu la". Rồi ôn tồn, chàng thăm hỏi ngọn ngành từ tên họ, gia cảnh đến quê hương, nguyên cớ gặp nạn của hai cô gái. Trong lời chàng, có ý còn lạc hậu, ảnh hưởng quan niệm phong kiến "Nam nữ thụ thụ bất thân", song tất cả đều chân thành, duns dị, rất đáng mến. Đáng mến, đáng phục hơn nữa là sau khi nghe cô tiểu thư Kiều Nguyệt Nga (nạn nhân được chàng cứu giúp) kể lể, thở than, ca ngợi và tha thiết muốn đền ơn, thì:
Vân Tiên nghe nói liền cười
"Cái cười đáng yêu, đáng kính sao! Một là cái cười của anh hùng quân tử, hai là cái cười của anh con trai, ba là cái cười của quần chúng rộng lượng, đều nở trên môi Vân Tiên" (Xuân Diệu – Đọc lại thơ văn Nguyễn Đình Chiểu). Sau nụ cười đáng yêu ấy là lời nói, cũng rất đáng yêu:
Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
Đúng là giọng nói, cách nói của chàng trai Nam Bộ – nôm na, giản dị. Nó cất lên từ một cõi lòng chất phác. Chất phác, là cái bên ngoài là cái vỏ xù xì, thô nháp. Nhưng phía trong, phần ruột thì cao đẹp, thắm đỏ, ngọt ngào thơm thảo một quan niệm nhân sinh rất hào hiệp, vô tư của một lớp người, một thế hệ con người. Chúng ta hiểu lời của Lục Vân Tiên như thế nào?. Trước hết, chàng khẳng định việc mình làm là hoàn toàn tự nguyện. Gọi là ơn cũng được. Hay nên xem đó là việc "nghĩa"? Làm việc "nghĩa" thì không nên đợi trả ơn, tính hon thiệt,… vì "ơn nghĩa" là lẽ thông thường của người sống có văn hoá, đang theo đòi kinh sử, người hướng về nghĩa khí, lấy nghĩa lớn, lấy chữ nhân, lòng nhân làm động cơ, làm mục đích cho mọi hành động. Chàng đã hành động vì nghĩa lớn trừ kẻ ác, bảo vệ người lương thiện. Chàng chỉ mong Nguyệt Nga cũng như mọi người "rõ đặng nguồn cơn" – nghĩa là hiểu rõ, cảm thông với hành động của chàng. Sau nữa, chàng nhắc tới sử sách, nhắc lời các bậc hiền nhân xưa. Người xưa nói: "Kiến ngãi bất vi vô dùng dã". Nghĩa là "Thấy việc nghĩa mà không làm, không phải người dũng cảm". Cách nói của chàng giản dị hơn: "Nhớ câu kiến ngãi bất vi – Làm người thế ấy cũng phi anh hùng". "Phi anh hùng" là những kẻ tiểu nhân, hèn nhát. Lời của Vân Tiên chắc nịch, vừa đê đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường, vừa khẳng định việc làm là đúng đắn, là tất yếu, hiển nhiên, thuộc căn cốt, gốc rễ trong lẽ sống của minh. Đó cũng là lẽ sống của biết bao hiền nhân, quân tử ngày xưa, và bao con người chân chính ngày nay. Lời chàng, nhân cách của chàng, gợi nhớ Từ Hải, nhân cách Từ Hải trong Truyện Kiều: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng – Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha". Thế đấy, Lục Vân Tiên thật dũng cảm, trọng nghĩa, khinh tài, tiêu biểu cho những chàng trai Nam Bộ.
Còn Kiều Nguyệt Nga là một cồ gái hiền hậu, nết na biết trọng nghĩa tình. Sau khi được cứu thoát khói tay bọn bất nhân, độc ác, nàng vô cùng xúc động. Nàng đã nói những lời đẹp nhất để cám ơn ân nhân:
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trâm năm cũng bỏ đi một hồi.
Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.
Nói "Tiết trăm năm" là nói việc hộ trọng của cả một đời người. "Lạy rồi sẽ thưa" cũng là một thái độ kính nể, thiêng liêng trong quan hệ của con người. Một cô tiểu thư vốn quen được yêu chiểu, quen được bảo vệ, chở che mà xử sự như thế, hạ mình như thế, đâu phải chuyện dễ dàng. Nguyệt Nga là tiểu thư – con quan tri phủ – nàng được giáo dục chu đáo, nàng gắn bó với những người dân, nên tiếp nhận được đạo đức của nhân dân. Đạo đức ấy là chữ "ân", chữ "nghĩa". Do đó, sau những phút giao đãi mở đầu, nàng thẳng thắn bày tỏ ý nguyện đền dáp công lao cứu mạng của Lục Vân Tiên. Thái độ và lời nói của nàng có cái gì lúng túng, ngượng ngập, nhưng chất phác, "nghe thánh thót bên tai giọng nói của cô gái miền Nam" (Xuân Diệu):
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.
Nguyệt Nga nói tới "của tiền", "vàng bạc" để giãi bày sự thiếu hụt về vật chất. Lại nói tới "báo đức thù công" – đền đáp ơn đức, công lao. Rồi than thở "Lấy chi cho phí tấm lòng…" để giãi bày sự lúng túng vé tinh thần, những xúc động có thật của một tâm hồn trong trắng. Sau đó Nguyệt Nga cố mời Vân Tiên về nhà mình để tạ ơn. Nhưng chàng từ chối. Nàng băn khoăn, day dứt khôn nguôi. Chí đến khi thấy "Vân Tiên nghe nói liền cười…" và an ủi: "Nhớ câu kiến ngãi bất vi – Làm người thế ấy cũng phi anh hùng", Nguyệt Nga mới khuây khoả hỏi thăm gia cảnh tuổi tên của vị ân nhân. Vậy đấy, ngay phút gặp gỡ ban đầu với Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga đã tỏ rõ một tâm hồn trung hậu, nết na. Tâm hồn ấy bắt nguồn từ đâu, nếu không phải từ đạo lí nhân nghĩa của nhân dân ta, nhất là nhân dân Nam Bộ cùng quê hương với Nguyễn Đình Chiểu.
Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng: Lục Vân Tiên là Truyện Kiều của nhân dân Nam Bộ.
Vân Tiên, Vân Tiền, Vân Tiên,
Cho tôi một tiền, tôi kể chuyện thơ…
Những nghệ sĩ hát rong vùng đồng bằng sông Cửu Long, thường giáo đầu bài hát Lục Vân Tiên bằng câu ca như thế. Ngay sau đó, buổi diễn xướng dân gian được đông đảo bà con hưởng ứng, quây tròn quanh người kể chuyện. Người diễn, người nghe giao hoà, say đắm hàng giờ, hàng buổi. Một trong những đoạn truyện được mọi người yêu thích là đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Ngư. Yêu thích không phải vì văn chương chải chuốt, nghĩa lí thâm trầm như Truyện Kiều, mà trước hết vì: đoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của Nguyễn Đình Chiểu và khắc hoạ phẩm chất đẹp đẽ của hai người trẻ tuổi – Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài ; Kiều Nguyệt Nga nết na, nhân hậu, ân tình. Tất cả những vẻ đẹp ấy của đoạn thơ phù hợp với phong cách sống, với ước mơ, khát vọng giản dị mà trong sáng của nhân dân ta, mãi mãi dạy chúng ta bài học đạo đức thiết thực và cao cả biết bao. | Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga | 2,096 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Mưu trí của Chiêu Vũ của Nguyễn Khoa Chiêm
Bài làm
Hai nhân vật chính là Chiêu Vũ và Thuận Nghĩa, được bố trí như hai tuyến đối lập theo công thức chung của văn học trung đại về thiện-ác, chính-tà. Chiêu Vũ có lòng nhân ái, quý trọng con người, có cơ mưu sâu sắc, hành động vì lợi ích chung của quân Nguyễn, biết nghe lời bàn bạc của mọi người, vững vàng trong hiểm nguy, thử thách,… Còn Thuận Nghĩa thâm hiểm, đố kị, độc ác, giết hại binh lính không ghê tay.
Vì thế Thuận Nghĩa nói không đúng, không thật với những suy nghĩ và hành động. Còn Chiêu Vũ trung thực, thẳng thắn, nói và làm đi đôi, là người hành dộng bình tĩnh, gan dạ, thông minh ứng phó mọi tình huống, cao thượng, không chấp nhặt lòng hiểm độc của Thuận Nghĩa.
(…) Sức hấp dẫn của câu chuyện nằm trong tình huống có tính kịch. Quân chúa Nguyễn trong thế tiến thoái lưỡng nan, tướng lĩnh bất đồng quan điểm, kèn cựa ghen ghét nhau trong khi quân chúa Trịnh đang chờ đợi thời cơ tiến đánh. Quân Nguyễn thoát ra khỏi tình huống ra sao? Câu hỏi đố tạo tâm lí chờ đợi, hồi hộp ở người đọc. Tình tiết căng thẳng dồn dập khí quân Thuận Nghĩa rút lui: ong rừng bay ra cắn quan quân, binh lính bỏ trốn. Cảnh quân lính bỏ trốn bị chính chỉ huy chém giết, quân Trịnh đuổi theo sát phía sau…
Những mưu mẹo của Chiêu Vũ thực ra không phải là mới: Ví dụ chuyện cho ngựa kéo cành cây tung bụi mù để đối phương tưởng là đông quân địch, không dám tiến lên thực ra là một cảnh trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Trung (Trương Phi trên cầu Tràng Bản đã thực hiện mẹo này khiến cho Tào Tháo nghi hoặc không dám tiến đánh). Chuyện phóng hỏa đốt trại cũng là mô típ quen thuộc trong Tam Quốc diễn nghĩa. Nhà văn đã biết vận dụng sáng tạo kinh nghiệm nghệ thuật đó để kể rất hấp dẫn, sinh động về cuộc nội chiến. Các đoạn đối thoại giữa các nhân vật bàn về châm xử sự với các binh lính bỏ trốn đã thể hiện quan điếm tiến bộ của tác giả về nhân nghĩa. | Phân tích đoạn trích Mưu trí của Chiêu Vũ của Nguyễn Khoa Chiêm | 401 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Mải mê chinh chiến và yêu đương (tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu củaTôm Xoyơ).
Bài làm
Đoạn trích nằm trong chương III của cuốn tiểu thuyết cũng có tiêu đề là Mải mêchinh chiến và yêu đương. Ở đây tiêu đề của chương được dùng luôn làm tiêu đề của đoạn trích. Điều đó hoàn toàn có cơ sở bởi hai khía cạnh “chinh chiến” và “yêu đương” của chương được thể hiện khá rõ qua mấy trang trích ngắn ngủi này. Cách kểchuyện của Mac Tuên trong sáng, giản dị, dễ hiểu, tuy nhiên không phải vì thế mà đoạn trích không còn gì để phân tích, tìm hiểu. Cái tài của tác giả là chỉ qua mẩu chuyện mà vẫn giúp người đọc có được ấn tượng hoàn chỉnh về nhân vật Tom và nếu giỏi suy đoán, ta có thể hình dung được trước tính chất của những việc Tom sẽ làm. Cái sâu sắc của một ngòi bút hiện thực chính là chỗ đó. Rất tôn trọng sự phát triển lôgic của tính cách dù chẳng bao giờ khuôn câu chuyện theo một sơ đồ cứng nhắc. Vì vậy, điều cần thiết là khi đọc đoạn trích nên thường xuyên liên hệ rộng ra với toàn tác phẩm.
Đoạn trích có một bố cục sáng sủa tập trung kể về hai “sự kiện” chính trong cuộc “phiêu lưu” của Tom: “chinh chiến” và “yêu đương”. Chuyện “chinh chiến” được kế từ câu “Tom đi vòng khu nhà mình…" tới câu Tom trở về nhà một mình”. Chuyện “yêu dương” được kể trong đoạn văn còn lại. Việc kết hợp miêu tả hai sự kiện chinh chiến và yêu đương không có tính chất ngẫu nhiên. Giả sử tác giả chi miêu tả sự kiện đầu (chinh chiến) thì nét riêng của nhân vật Tom không được làm rõ, là lúc đó Tom bi lẫn đi giữa bao nhiêu đứa bế cũng hiếu động, cũng ham chơi trò đánh trận giả như thế. Nhưng nếu tác giả chỉ miêu tả sự kiện thứ hai (yêu đương) thì tính cách trẻ con của Tom bị bỏ qua một cách đáng tiếc, bởi như ta đã biết, ở Tom vừa có dáng dấp người lớn lại vừa có dáng dấp của một đứa bé. Như vậy, việc miêu tả kết hợp ở đây mang một ý nghĩa nghệ thuật đáng chú ý. Nhờ điều này, độc giả có dịp hiếu thêm về phong cách "hảo hán”, "hiệp sĩ” rất đậm nét của nhân vật Tom. Mặc dầu chú ta chưa phải là người đã có tính cách ổn định như những đức tính tốt dẹp đã hình thành và được vun đắp thường xuyên, một phần nhờ vào ảnh hưởng của các tiểu thuyết hiệp Sĩ má chú ta thường ngốn ngấu không biết mệt. Chú luôn muốn làm theo sách, làm một anh hùng nghĩa hiệp diệt ác trừ tà bảo vệ chân lí. Và cũng theo sách, chú cầnphải cómột “ý trung nhân” của lòng mình để tôn thờ, để nhớ nhung và thậm chí để sầu muộn.
Trong khi miêu ta kết hợp hai sự kiện, tác giả chú ý nhiều hơn đến sự kiện thứ hai. Phải chăng tác giả đã nghĩ rằng chuyện đánh trận giả quá quen với một lớp độc giả quan trọng của cuốn sách là thiếu nhi nên cần kể lướt qua thôi? Còn với sự kiệu thứ hai vốn liên quan đến một “thể nghiệm” mới mẻ của Tom, có tính chất "phiêu lưu” thật sự thì nên kể chi tiết? Dù tác giả đã nghĩ thế nào thì độc giả vẫn nhận thấy ở đây ông đã lựa chọn đúng.Chưa bao giờ những cái vụng về, lớ ngớ và những điệu bộ "phường tuồng" của chú bé Tom một kẻ đang học làm người lớn – được thể hiện rõ nét như ở đây. Và vì vậy, nụ cười hài hước có đất để phát huy, có điều kiện để bộc lộ nhiều hơn
Trong “tình yêu" với cô bé Becky, Tom đã tự chứng tỏ tư cách “lỡ cỡ’’ giữa người lớn và trẻ con của mình.
Trước hết, chú giống ngườn lớn ở chỗ “tình yêu” với Becky không còn là một trò chơi có quy ước trước với nhau mag nó chứa đựng những tình cảm thật, rung động thật. Rõ ràng, chú đã bắt đầu biết yêu và đã được nếm chút ý vị của tình yêu. Như người lớn, chú đã trải qua cơn choáng váng trước sắc đẹp của nàng và mọi hoạt động tâm lí dường như đã bị tê liệt. Cũng lại giống người lớn lúc chớm yêu, chú muốn giấu giếm tình cảm thật của mình và nhiều lúc rơi vào trạng thái sượngsùng khó tả. Chú “lấm lét”, “vờ như không biết "nét mặt chú bỗng tươi hẳn lên” khi bắt được tín hiệu khả quan từ phía đối tượng trước khi vào khuất trong nhà, cô bé vứt qua hàng rào một bông hoa păngxê. Đến lúc buộc phải về nhà, “đầu óc đáng thương” của chú “tràn đầy ảo ảnh và chú vui đến độ không giấu nổi mình để cho dì Poly phải ngạc nhiên không hiểu “thằng bé có chuyện gì”.
Thực ra. cuộc phiêu lưu tình ái của Tom chỉ “giống người lớn” ở khía cạnh tâm lí mà thôi. Riêng trong hành động để chinh phục trái tim người đẹp, chú đã được hoàn nguyên về lứa tuổi của mình, dù ta vẫn biết rằng khi yêu thật sự thì người lớn vẫn nhiều lúc vụng về, ngớ ngẩn quá một đứa bé. Từ khi hiểu rằng cô bé đã phát hiện ra mình, Tom bắt đầu ra sức “trổ tài" bằng đủ trò trẻ con. Tác giả không tả chi tiết các trò của chú mà chỉ cho biết tính chất linh tinh, “nực cười”, “điên rồ”, “lố lăng”, “nguy hiểm” của nó mà thôi. Đến trò nhặt hoa păngxê thì tác giả nói kĩ lưỡng hơn, không quên chỉ cho người đọc thấy “bàn chân đi đất” và cách “nhảy lò cò” của chú.
Mac Tuên đã kể những chuyện phiêu lưu của Tom Xoyơ bằng giọng văn hài hước mà nhân hậu. Tiếng cười bật ra từ đây là tiếng cười độ lượng, bao dung, dẫu đến mực tinh quái, thóc mách. Đúng là không thể không cười khi tự thân những hành động của Tom đã hàm chứa lắm chuyện đáng cười, nhưng do những hành động ấy mang nhiều nét trẻ con và vô hại nên tiếng cười không thể cay độc mà ấm áp nhân tình. Vừa để cho Tom gặp Becky, nhà văn đã bình luận một câu “sát phạt”: “Vị anh hùng vừa đại thắng chưa bắn một phát súng nào đã ngã gục". Nhà văn đã tôn Tom lên vị trí cao vời để rồi hạ bệ chứ chàng một cách bất ngờ, vô cùng hóm hỉnh. Hơn nữa, ông còn cực tả “mối tình” trước của Tom với Amy Lorenxơ bằng lối nói đại ngôn (ý hắn ngầm cho rằng thứ tình cảm ấy của Tom chẳng qua là thứ tình cảm bồng bột, xốc nổi, “lửa rơm”) để rồi hạ xuống những câu dửng dưng, tinh nghịch, tương tự như việc giảm áp suất không khí một cách đột ngột vậy: “Trước đây chú đã tưởng mình yêu cô ta đắm duối, say mê, chú xem mối tình của mình như một cái gì thiêng liêng ghê gớm; thế mà bây giờ té ra đó chỉ là chút tình vụn thoáng qua (…) chỉ trong chốc lát, hình ảnh cô ta đã rời khỏi trái tim chú như người khách lạ sau khi tình cờ ghé thăm”.
Khi kể đến đoạn Tom trổ tài chinh phục cô bé Becky, nụ cười hài hước mà nhân hậu của nhà văn càng bộc lộ rõ. Ông mô tả thật nhiều động tác và cứ chỉ của Tom để cho thấy rằng chú chàng rất cố gắng, rất công nhu trong việc chinh phục. Nào việc “chú bé chạy vòng quanh đến cách bông hoa độ vài bước thì dừng lại”, nào việc chú “lấy tay che phía trên mắt và bắt đầu nhìn xuống cuối phố như vừa phát hiện điều gì thú vị diễn ra ở phía đó”, nào việc “chú nhặt một cọng rơm, và bắt đầu cổ ngửa mặt lên trời, giữ cho cọng rơm được thăng bằng, rồi lắc người mỗi lúc một nhích lại gần bông hoa păngxê”… Nhưng ngay sau đó, nhà văn “tường minh hóa” ý nghĩa của các hành động kia. Thì ra đó chỉ là những cách giúp chú chàng nhặt được bông hoa một cách kín đáo mà thôi! Chưa hết, tác giả còn bồi thêm một “giả thiết” làm trần tục hóa những trò tài tử của Tom: Tom đã nhặt bông hoa păngxê lên nhét vào trong áo, “gần ngay trái tim – hay gần dạ dày chưa biết chừng, vì chú không hiểu biết lắm về các bộ phận trong cơ thể con người, và được cái cũng chẳng lấy gì làm khó tính”. Lúc này, sự trần tục hóa đã làm bật ra tiếng cười – một tiếng cười thoải mái, dễ chịu, không ác ý. | Phân tích đoạn trích Mải mê chinh chiến và yêu đương | 1,565 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Ngục Kom Tum (Trích Ngục Kom Tum của Lê Văn Hiến)
Bài làm
Ngày 12 – 12 – 1931, bọn thực dân tiến hành đợt hai của kế hoạch bắt tù nhân lên Đắc Pao làm đường. Tên đội Mu-léc đem sổ vào kêu mọi người đi làm, trừ 40 người có tên ở lại. Anh em hiểu ý ngay ý đồ thâm độc của bọn thực dân nên đồng thanh la hét nhất định không di. Người đứng đầu đối đáp với Mu-léc là Nguyễn Lung, số hiệu 299. Mu-léc ra về báo tin cho công sứ và giám binh. Lát sau lính tráng rầm rộ kéo đến. Anh em sắp hàng đứng trước cửa lao hô to khẩu hiệu phản đối đi
Đắc Pếch. Người đứng đầu hàng là Trương Quang Trọng, số hiệu 303. Khi tên đội Mu-léc hỏi số tù 299, Trương Quang Trọng nhận ngay và chết thay cho bạn. Cái chết của Trương Quang Trọng đã tiếp thêm sức mạnh cho mọi người tiếp tục cuộc đấu tranh, dù bị kẻ thù đàn áp rất dã man.
Gây ấn tượng mạnh trong đoạn trích là cuộc đối đầu nảy lửa giữa Trương Quang Trọng và Mu-léc. Mu-léc là một tên thực dân cáo già hết sức tàn ác. Hắn để ý đến Nguyễn Lung vì thấy anh là người hăng hái đối đáp, hô to khẩu hiệu, cổ vũ tù nhân kiên cường tranh đấu. Mu-léc quyết diệt bằng được Nguyễn Lung mà hắn cho là kẻ chủ trì cuộc phản đối. Vì thế khi quay lại nhà ngục lần thứ hai, Mu-léc tìm ngay “thằng 299” (số tù của Lung). Người đứng ngay hàng đầu nhận số tù ấy lại chính là Trương Quang Trọng. Anh hiểu rõ người cần hơn cả cho anh em bây giờ, người có khả năng tập hợp, động viên anh em quyết, tâm chiến đấu đến cùng là Nguyễn Lung. Chính vì thế trong cuộc đối đầu với Mu-léc, Trương Quang Trọng đã nhận mình là số tù 299 để chết thay cho bạn. Với sự gan dạ, can đảm, không sợ hi sinh như thế, trong cuộc đối đầu này, Trương Quang Trọng đã là người anh hùng chiến thắng.
Tiêu biểu cho văn bản Cuộc đấu tranh lưu huyết 12 -12 – 1931 là một đoạn văn rất ngắn:
“Khi Trọng ngã, anh em ở sau tiến lên, vừa tiến vừa hô khẩu hiệu phản đối, một tiếng súng thứ hai vừa ra, người thứ hai ngã, người sau lại tiến lên, hô to mấy khẩu hiệu, dũng cảm đương đầu với súng đạn”.
Tên đội Mu-léc tưởng rằng giết chết được “thằng 299” (người mà hắn cho là kể chủ trì cuộc phản đối) thì sẽ đè bẹp được tinh thần phản kháng của tù nhân, dễ dàng lừa họ lên xe, chở thẳng đi Đắc Pao. Nhưng hắn không thể ngờ người nhận ngay số tù ấy và cùng nhận lấy cái chết mà không hề do dự là Trương Quang Trọng. Hắn càng không thể ngờ cái chết của Trọng không hề làm cho tù nhân run sợ, khiếp đảm, trái lại, họ càng thêm căm thù bọn giặc dã man, càng quyết tâm noi gương Trương Quang Trọng chiến đấu đến cùng, không sợ hi sinh. Đấy chính là phản ứng dây chuyền hết sức dữ dội. Sự hi sinh của người này tiếp thêm sức mạnh cho người kia, người trước ngã người sau tiến lên “vừa tiến vừa hô khẩu hiệu phản đối… người thứ hai ngã, người sau lại tiến lên…” Chỉ qua một đoạn văn rất ngắn (một câu văn) người ta đã thấy rõ bản lĩnh kiên cường, tinh thần thép của người chiến sĩ cách mạng, chính tinh thần thép ấy là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Đọc đoạn trích (Cuộc đấu tranh lưu huyết ngày 12 -12 – 1931) làm ta có cảm giác đằng sau mỗi dòng chữ luôn hiện lên ánh mắt của tác giả Lê Văn Hiến, người chứng kiến nhưng cũng là người trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh đó. Đấy là ánh mắt uất hận, căm hờn khi chứng kiến bọn thực dân đàn áp rất dã man những người tù ốm yếu, tay không vũ khí, là ánh mắt khinh bỉ, coi thường khi thấy sự hèn nhát của chúng được che dậy bằng vẻ ngoài hùng hổ. Đấy còn là ánh mắt của những người cùng chung một chiến hào tranh đấu, ánh mắt xót xa, thương cảm khi thấy đồng đội bị bọn giặc dê hèn sát hại, ánh mắt cảm phục, tự hào khi thấy đồng đội người trước ngà người sau tiến lên dũng cảm đương đầu với súng đạn, cho kẻ thù biết rõ thế nào là sức mạnh ý chí kiên cường, không sợ hi sinh của những người cách mạng, một sức mạnh khiến kẻ thù phải khiếp sợ. | Phân tích đoạn trích Ngục Kom Tum của Lê Văn Hiến | 836 | |
Phân tích đoạn trích Những đứa trẻ của Mác-xim Go-rơ-ki
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích tác phẩm Những đứa trẻ của Mác-xim Go-rơ-ki.
Đọc Những đứa trẻ ta nhận ra một đoạn văn thấm đẫm chất thơ, chất thơ của tuổi thơ, của tình thương và cả chất thơ của tài kể chuyện.
1.Tuổi thơ mơ mộng
Con người ta, ai chẳng có một thời thơ dại, những bước chân chập chững vào đời. Nhưng một khi đã lớn khôn, không phải chúng đều được nhớ. Phải là những kỉ niệm cay đắng hay ngọt ngào cứa vào tim gan, hoặc bay bổng hồn người, kí ức mới có thể không quên và trở thành hành trang đi suốt chặng đường dời còn lại. A-li-ô-sa và mấy đứa con nhà ông đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp nếu xét về hoàn cảnh sống, về thành phần xã hội thì rất khác nhau. Nhưng trong thế giới tuổi thơ, sự phân cách ấy chưa đủ để thành một bức tường vướng cản. Ấy là còn chưa nói, chúng có cùng một bất hạnh như nhau: mất mẹ, mất đi một nguồn sữa tình người lớn nhất trên đời. Vầng sáng tuổi thơ là thế giới chung của chúng. Chúng đến với nhau theo kiểu của trẻ thơ: không đi bằng cổng chính. Khi thì bọn trẻ nhà Ốp-xi-an-ni-cốp thấy thằng bé vắt vẻo trên cây, khi qua cái lỗ, cái ngách hẹp của hàng rào, chúng nói chuyện với nhau bằng cái tư thế không được đàng hoàng cho lắm: ngồi xổm hoặc quỳ xuống và cũng chỉ "khe khẽ với nhau" vì sợ ông đại tá bắt gặp. Nơi chúng trò chuyện với nhau cũng không phải là phòng khách, có khi chỉ là trên cái xe trượt tuyết đã hỏng để ở dưới mái nhà kho. Song những cuộc hẹn hò vụng trộm ấy là cả một thế giới thần tiên, cả bọn đều sung sướng, cảm động biết chừng nào, chúng vừa "ngắm nhìn nhau vừa nói chuyện rất lâu". Nội dung các câu chuyện rôm rả mà chúng nói với nhau chẳng có gì quan trọng, hoặc về "những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác", về phép phù thuỷ làm cho người chết sông lại y như thật chứ không bịa đặt chút nào. Vì hầu hết là lấy từ kho cổ tích của bà ngoại nên chẳng may có chỗ nào quên thì đợi đấy, A-li-ô-sa chạy về nhà "hỏi lại bà tôi" đã. Những câu chuyện không biết chán hấp dẫn cả người kể lẫn người nghe, người kể thì say sưa, còn người nghe nếu có nghi ngờ thì lập tức được A-li-ô-sa giải thích và nhấn mạnh để không thể không tin. Cả ba anh em nhà Ốp-xi-an-ni-cốp, nhất là hai đứa em đều "im lặng lắng nghe". Thằng anh do đã có trí khôn, đã biết "mỉm cười", còn thằng bé nhất "mím chặt môi và phồng má lên" do bị căng thẳng. Tuổi thơ được chắp cánh bay bổng, bay vào không gian, chạy ngược thời gian vẻ cái "ngày trước, trước kia, đã có thời…" dường như thằng lớn nhà Ốp-xi-an-ni-cốp đã "sống trên trái đất này một trăm năm" chứ không phải là mười một năm như tuổi mẹ đẻ, cha sinh của nó.
2.Tuổi thơ thiếu tình thương
Sự gắn bó thân thiết giữa mấy đứa trẻ vì chúng có một tuổi thơ mơ mộng, cũng còn vì một tuổi thơ thiếu tình thương. Đầu tiên, việc mấy đứa trẻ nhà ông đại tá bị đánh đòn làm A-li-ô-sa "thấy khó mà tin". A-li-ô-sa cứ tưởng chỉ có mình mới bị đánh đòn vì không còn được ai che chở (mẹ bỏ đi lấy chồng), còn con nhà quan chức giàu sang làm sao phải chịu roi vọt. Mà nguyên nhân dẫn đến việc bị đánh đòn chi là đi chơi với con nhà thường dân hèn hạ, nghĩa là một nguyên nhân vô cớ, A-li-ô-sa cảm thấy một cơn giận bùng lên vì "tức thay cho chúng". Phải sau này, A-li-ô-sa mới thấu hiểu nỗi đau của mấy đứa bạn, một nỗi đau chính mình mới thấm thìa mà chúng chứa kịp biết, chưa kịp nói thành tên. "Thế các cậu có mẹ không?" – câu hỏi bật ra như một bi vọng. Nhưng nghe mấy đứa trả lời, dứa thì nói là "không", đứa thì trả lời là "mẹ khác", A-li-ô-sa quả quyết "Mẹ khác thì gội là dì ghẻ", em đã tìm ngay ra đáp số. Hai tiếng khủng khiếp ấy dược nói ra, quả thật với mấy đứa con ông đại tá, như một tiếng sét bên tai. Chúng sợ hãi "ngồi sát vào nhau giống như những chú gà con" bơ vơ tội nghiệp. Còn A-li-ô-sa thì hiểu dì ghẻ trong những câu chuyện cổ tích của bà. Nỗi bất hạnh của những đứa trẻ thơ mất mẹ đang phải sống với người mẹ danh nghĩa chứ không phải "mẹ thật" của mình giúp A-li-ô-sa phát hiện ra cái điều bấy lâu chính bọn trẻ kia giữ kín là "chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và về dì ghẻ". Hình ảnh người dì ghẻ dù chỉ là một ý nghĩ thoáng qua nhưng bóng tối của nó cũng đè nặng lên không khí vui tươi hồn nhiên của đám trẻ. Riêng đối với A-li-ô-sa, em hiểu từ những câu chuyện cổ tích của bà mình và nhất là từ thái độ, hành động độc đoán, gia trưởng của ngài đại tá và sự bất lực vô hồn của mấy đứa trẻ thơ – con ông – khi răm rắp phục tùng như "những con ngỗng ngoan ngoãn". Quyết định ở ông ta là không thể đổi thay nhất là đối với con mình, ngay cả đến A-li-ô-sa một người dưng xa lạ bị ông ta tóm cổ đuổi ra khỏi nhà làm em "sợ phát khóc". Còn những đứa con dễ mến của ông có vẻ dẹp dịu dàng, thơ ngây và cam chịu. Cặp mắt của thằng anh làm A-li-ô-sa nghĩ đến "những ngọn đèn trong nhà thờ" như một thứ ánh sáng hắt hiu bị cái tăm tối không cùng, mênh mông của toà nhà vây bủa. Trong bóng tối dày đặc vừa nói trên đây, không phải cha cố mà là chính ông già đại tá "với bộ ria trắng, mình vận chiếc áo dài lùng thùng màu nâu nhạt như của thầy tu" là hiện thân của kẻ ác, một hung thần, một quỷ dữ Xa-tăng chính hiệu.
3.Một biệt tài kể chuyện
Tài kể chuyện của Go-rơ-ki không phải ở sự khéo léo dựng chuyện li kì. Tuy không mấy dụng công mà câu chuyện vẫn đậm đà, hấp dẫn. Nhà văn đưa ta vào một không khí trẻ thơ vô cùng thú vị. Trước hết, nó kích thích sự tò mò và trí tưởng tượng. Chẳng hạn như chuyện người chết có thể sống lại được không, thì trẻ con nhà ông đại tá bán tín bán nghi, còn A-li-ô-sa thề sống thề chết như mình đã trải qua, đã chứng kiến: có người chết mà không phải là chết thật. "Trời ơi, biết bao nhiêu lần những người chết, thậm chí đã bị xả ra từng mảnh, mà chỉ cần vẩy cho ít nước phép là sống lại". Giọng A-li-ô-sa nói như đonh đóng cột thế kia làm sao có thể không tin. Hơn nữa, nó liên quan đến một người, người mẹ của bọn trẻ mà chính chúng đang khao khát ước mơ là làm sao sống lại. Câu chuyên cứ nửa thực nửa mơ, mờ mờ ảo ảo không còn một ranh giới nào để trí tưởng tượng con người tha hồ bay bổng. Trong thế giới kì lạ ấy, hình ảnh những bà tiên, ồng bụt hiện lên thật hiền lành phúc hậu. Nó đối lập với cái xấu xa, cái độc ác. Nó che chở và bao dung, nhất là đối với những trẻ thư bất hạnh trên đời. Hình ảnh về người bà của mỗi đứa cứ như lướt đi trên đầu lũ trẻ. Với A-li-ô-sa, người bà gần gũi hơn, cứ chạy ra chạy vào là gặp, gặp nụ cười nhân ái bao dung (khi nghe A-li-ô-sa cần đến những câu chuyện cổ tích, "bà tôi thường rất hài lòng"). Còn với mấy đứa con ông đại tá "bà tớ ngày xưa cũng rất tốt", nghĩa là cũng y như bà ngoại của A-li-ô-sa bây giờ, chi có điều bà không còn nữa, bà đã thuộc về chặng đời đẹp nhất "ngày trước", "trước kia"… nghĩa là đã vụt qua đi như một tia chớp mà bọn chứng phải nhớ tiếc, thẫn thờ.
Tài kể chuyện của Go-rơ-ki còn thể hiện ở sự dẫn dắt, từ chuyện nuôi chim đến chuyện dì ghẻ của con ông đại tá. Việc nuôi chim thì trẻ con đứa nào chẳng ham ("Chim gì hót vui vui ấy. Để nhốt vào lồng"). Nhưng cái việc tưởng như cỏn con ấy phải được người cha cho phép, mà cha chúng thì dứt khoát chẳng bao giờ cho phép chúng nuôi. Thế còn người mẹ, người mẹ có thể chiều chúng, có thể đồng tình. Chúng tớ khồng còn mẹ. Chúng tớ có nhưng là mẹ khác. Mẹ khác thì gọi là dì ghẻ… Diễn biến của đối thoại dẫn dắt rất tự nhiên như chúng vốn là như thế. Rồi chuyện lối vào sân nhà ông đại tá của A-li-ô-sa là từ trên cao, từ "trên cây", em đã "nhảy dù" xuống theo lời mời của chính con ông đại tá. Nhưng lối ra của em thì thật "đàng hoàng", do ông đại tá nắm cổ áo lôi ra, mà ra bằng cổng chính với câu nói đầy hăm doạ: "Cấm không được đến nhà tao". Những chi tiết ấy thật bất ngờ, nhưng đối chiếu trong một hệ thống, tự nó tạo ra một ý nghĩa riêng, từ mạch ngầm của văn bản. Trong sự dẫn dắt ấy, những chân dung nhân vật hiện ra mỗi người một khác, như mấy đứa con ông đại tá. Một mặt chúng giống nhau như những giọt nước trong trẻo, ngây thơ, nhưng bản năng che chở đã hình thành ở hành động của hai đứa lớn hơn, một đứa đã biết "mỉm cười" nghe chuyện thần tiên, còn một đứa khi nghe những câu chuyện đầy tưởng tượng ấy, quàng tay lên vai em và ấn nó "cúi xuống". Nghệ thuật ấy cùng với nội dung đã tạo nên những trang viết tuyệt vời. Nó thật dung dị, cái dung dị của một tài năng. | Phân tích đoạn trích Những đứa trẻ của Mác-xim Go-rơ-ki | 1,790 | |
Đề bài: Phân tích – Bình luận về đoạn trích Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi.
Bài làm
Như ta biết, cáo cùng với hịch, chiếu là những văn bản có tính chất công vụ hành chính từ trên ban truyền hoặc trình bày, giải thích một chủ trương hoặc công bố một sự kiện. Ở đây, Nguyễn Trãi dùng từ đại cáo vì sự kiện mà bài văn nói đến là một sự kiện lớn: công cuộc bình Ngô. Đòi hỏi ở một bài cáo nói riêng, một bài văn nghị luận nói chung phải là sự chặt chẽ đã đành, trong trường hợp này, tác giả vừa lược thuật chiến tranh vừa bàn luận về chiến tranh. Nó vừa là lịch sử vừa là tư tưởng. Làm thế nào phối hợp được cái bề nổi và chiều sâu hàm ẩn ấy, điều này quả không đơn giản chút nào. Hiện diện bằng câu chữ thì bài văn gồm có bốn phần: chân dung quốc gia Đại Việt; tội ác của quân thù; cuộc dấy binh thắng lợi; một trang sử mới mở ra, ấy là theo trình tự của loại văn miêu tả, tự sự thông thường. Dựa vào đó mà phân tích không phải là không có lí. Nhưng bài văn còn một tầng nghĩa thứ hai là chuyên chở tư tưởng của người viết. Chính tư tưởng (mạch chìm) của người viết mới tạo ra cho bài văn cái ý nghĩa kép làm cho câu, chữ toả sáng, lung linh, rung động lòng người từ đó đến nay, xứng đáng là một “thiên cổ hùng văn” mà người xưa ca ngợi.
Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt Ta của Nguyễn Trãi
Đặt đoạn một của bài văn trong kết cấu chung, vấn đề cần phân tích để rút ra: sự tồn tại của quốc gia Đại Việt là một chân lí vĩnh hằng. Quốc gia ấy có tư tưởng riêng, có sức mạnh riêng, nghĩa là những yếu tố tinh thần nằm trong một hệ thống song hành cùng với các yếu tố vật chất như địa lí, đất đai. Vậy, tư tưởng riêng ấy là gì? Đừng vội trả lời rằng đó là đạo lí nhân nghĩa, dù câu văn trong bài cáo là “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Bởi nhân nghĩa vốn là học thuyết của Nho gia nói về quan hộ đối xử giữa con người với con người. Nhưng đến Nguyễn Trãi, nó được nâng lên, được mở rộng ra trong một quan hệ khác: giữa các quốc gia, dân tộc với nhau. Cũng như sau này, cách Nguyễn Trãi năm thế kỉ, Hồ Chí Minh, trong Tuyên ngôn Độc lập đã “suy rộng ra” (“Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là…”). Từ quyền sống của con người cá thể, từ đạo lí mà con người cá thể ấy nên theo mà “suy rộng ra” như vậy là hợp lí với lô gích của tư duy, nhất là nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc ta, một dân tộc vốn là đối tượng nhòm ngó của bao nhiêu thế lực bên ngoài từ đông sang tây, từ nam đến bắc. Nhân nghĩa là trái với bạo ngược. Nhân nghĩa là tình thương và lẽ phải hướng về phía nhân dân. “Trừ bạo” vì “yên dân” là nhân nghĩa, đó là nói chung. Còn nói riêng, khi đất nước bị xâm lăng, vì thương dân (nhân), vì việc phải, nên làm (nghĩa), quân dội ấy trở thành “quân điếu phạt”. Nhân nghĩa không còn là một khái niệm khoan dung mà là trừ ác, có trừ ác mới đạt được cái đích yên dân. Tính chặt chẽ trong lập luận nổi bật hẳn’ lên giữa hai khía cạnh tướng như đối lập mà thống nhất. Hai câu văn như hàm súc một chân lí thiêng liêng, là người nói mà như là trời nói, nghĩa là cùng một thứ “sách trời” (hai chữ thiên thư trong Nam quốc sơn hà). Chính sự mở rộng về khái niệm nhân nghĩa này, Nguyễn Trãi đã đưa được nó vào một khái niệm rộng hơn: nền văn hiến. Đất nước có chủ quyển không chỉ dựa vào yếu tố lịch sử, đất đai, mà chủ yếu là đất nước ấy thực sự có một nền văn hiến. Đó là dấu hiệu của một nền văn minh. Nền văn hoá phi vật thể này chính là sự bổ sung quan trọng cho tinh thần dân tộc. Quốc gia Đại Việt không chỉ có “Núi sông bờ cõi đã chia” (dùng lại ý trong bài Nam quốc sơn hà) mà còn có “Phong tục Bắc Nam cũng khác”. Cái khác ấy phải chăng là ở chỗ chúng ta, dân tộc ta đã nâng khái niệm nhân nghĩa thành lẽ sống, thành đạo lí, thành bản lĩnh, cốt cách riêng của mình. Bức chân dung tinh thần của quốc gia Đại Việt có phần chìm chính là ở chỗ đó. Và cũng chính là vì lẽ đó mà Nguyễn Trãi có thể tự hào: một nước nhỏ mà có thể sánh vai, ngang hàng với một nước lớn:
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên xưng đế một phương.
So với câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” đời Lí, niềm tự hào, tự tôn đã nâng lên một bậc, nâng lên bằng một ý thức văn hoá hẳn hoi. Cái linh, cái hồn vía của “địa linh” đã tạo ra “nhân kiệt” là lẽ đương nhiên như thế. Cách nhìn vào Jịch sử dân tộc bằng cái nhìn như thế là có chiều sâu, đảm bảo được sức sống trường tồn không gì khuất phục được. Đoạn văn trần thuật, đúng hơn là tự thuật ấy nếu hiểu sâu xa thì có đến hai lớp nghĩa: giữa các triều đại phương Nam và phương Bắc không chỉ có sự tồn tại ngang hàng mà còn có lí do để có sự tồn tại ngang hàng. Muốn tồn tại ngang hàng, quốc gia Đại Việt đã trả bằng máu của mình, nhưng dù có thế, chúng ta đã “thà hi sinh tất cả” (chữ của Hổ Chí Minh) để đánh đổi lấy chủ quyền, độc lập, tự do. Còn một điều nữa: nếu tính toán, cân đong một cách máy móc, bình quân thì lịch sử của mảnh đất phương Nam làm sao có độ dài tương đương lịch sử vùng đất phương Bắc? Điều mà Nguyễn Trãi nói là “bao đời xây nền độc lập”, hay “Như nước Đại Việt ta từ trước”, hoặc “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” thực thì chỉ mấy trăm năm làm sao có thể sánh vai với lịch sứ mấy ngàn năm tính từ thời Xuân thu – Chiến quốc? Sự thiếu hụt về độ dài vật lí ấy đã có niềm kiêu hãnh về tâm lí bù vào để cán cân không còn nghiêng lệch. Nó có đủ độ cân bằng. Đoạn văn không hề có ý định chứng minh (vì chỉ có mục đích trần thuật) mà có tác dụng như một sự tự phản biện (hỏi và đáp) một cách hùng hồn, ấy là do âm vang của lòng yêu nước tự thân lên tiếng. Ấy là tiếng nói tự bên trong, cái ý ở ngoài lời, lặn sâu dưới mặt bằng câu chữ.
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất hại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong…
Nhưng nó chứng minh cho cái gì? Có lẽ cả hai, cả tư tưởng nhân nghĩa, một đạo lí làm người, ngọn cờ của đội quân “điếu phạt”, cả chủ quyển dân tộc dựa trên tư tưởng ấy, nghĩa là dựa trên nền tảng của một “nền văn hiến đã lâu”. Cuộc dụng đầu lịch sử giữa kẻ phi nghĩa, bất nhân với quốc gia Đại Việt là trên tinh thần ấy. Kẻ thù “thất bại”, “tiêu vong” vì động cơ ích kỉ, vì “thích lớn”, “tham công”. Dựa vào tướng giỏi, quân đông, không “lấy nhân nghĩa làm gốc”, mà chỉ lấy “trí dũng làm cành”, hậu quả ấy không thể nào tránh khỏi. Ở đây vừa có cái nguyên cớ của sự bại vong, có cả chứng tích của sự bại vong như những hiện vật trong viện bảo tàng, với kẻ địch là một sự nhục nhã muôn đời khôn rửa, tiếng xấu còn ghi, còn với ta, đó là minh chứng cho một lẽ phái hùng hồn mà dân tộc Đại Việt đã gửi trọn niềm tin vào đó (tất nhiên còn là tinh thần xả thân, ý thức và hành động xả thân – như cách nói của Trần Quốc Tuấn (“Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa”). Bạch Đằng, Hàm Tử với lịch sử dân tộc như những dấu son chói lọi làm phấn chấn lòng người bao nhiêu thì cũng những địa danh đó, với kẻ địch, bao nhiêu tham vọng, danh dự bị vĩnh viễn chôn vùi. Nhưng còn đáng nói thêm: lời tiên tri (hai câu đầu bài cáo) đã có ứng nghiệm theo luật quả báo (nhân nào quả ấy) tức thời. Cái chết của Ô Mã, của Toa Đô với chúng là đột ngột, bất ngờ, không sao hiểu nổi. Ngược lại cái chết “bất đắc kì tử” ấy, chí chúng ta hiểu: điều gì xảy ra tất phải xảy ra theo luật định, mệnh trời. | Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt Ta của Nguyễn Trãi | 1,584 | |
Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình của Nguyễn Du
Truyện Kiều được xem là tác phẩm kiệt tác của nền văn học Việt Nam, đây cũng là tác phẩm làm nên tên tuổi cho đại thi hào Nguyễn Du. Truyện Kiều kể về cuộc đời của người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh Thúy Kiều. Đoạn trích Nỗi thương mình là một trong những trích đoạn hay nhất của TRuyện Kiều, thể hiện được bi kịch không lối thoát của nàng Kiều.
Đoạn trích Nỗi thương mình kể về những chuỗi ngày đầy đau đớn, ê chề của nàng Kiều khi bị lừa bán vào Lầu xanh. Mở đầu đoạn trích, tác giả Nguyễn Du đã tái hiện lại khung cảnh đầy bát nháo của khách làng chơi và thân phận đầy đáng thương của nàng Kiều.
“Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc vui đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”
Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng những hình ảnh mang tính chất ước lệ như” bướm lả ong lơi” “ cuộc vui đầy tháng”, “trận cười suốt đêm” để diễn tả khung cảnh đầy nhộn nhịp, bát nháo của những người khách làng chơi. Sống trong cảnh lầu xanh tràn đầy tửu sắc ấy, thân phận nàng Kiều càng trở nên nhỏ bé, đáng thương. Bởi con người tài sắc ấy giờ đây cũng như một món hàng hóa buộc phải mua vui cho những kẻ lắm tiền nhiều của ham mê tửu sắc.
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Buộc phải sống và thích nghi trong không gian ấy, Thúy Kiều đã vô cùng đau đớn và xót xa. Sự xót xa được đẩy lên đỉnh điểm khi giật mình sau những chén rượu và cuộc sống triền iên nơi lầu xanh. Thúy Kiều thương xót cho thân phận, hoàn cảnh của mình. Đây cũng là một nét mới lạ trông thơ của Nguyễn Du, bởi các tác phẩm trước đó các nhân vật chưa ý thức về nỗi khổ đau, bất hạnh của bản thân.
“Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Mặt sau dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”
Cuộc sống đơn độc nơi lầu xanh khiến Thúy Kiều chẳng thể lương nhờ cũng không thể dãi bày những tâm sự cùng ai, nàng đau xót cho thân phận bất hạnh của mình. Hình ảnh những cánh hoa giữa đường khiến cho độc giả không khỏi xót xa, bởi Thúy Kiều vốn là một người con gái tài sắc nhưng giờ đây thân phận nổi trôi cũng như những cánh hoa tàn giữa đường, mặc người chà đạp, tổn thương. Kiều đã tự ý thức được về bản thân mình nhưng sự tỉnh táo trong nhận thức ấy lại khiến cho nàng càng thêm đáng thương.
“Đòi phen gió tựa hoa kể
Nửa đêm tuyết bốn bề trăng thâu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Ở chốn lầu xanh đầy thị phi, vốn chẳng tìm được một người thật lòng, Thúy Kiều làm bạn với thi ca,họa và thơ nhưng cũng chẳng thể làm vơi bớt nỗi sầu. “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu” câu thơ gợi cho chúng ta nhiều liên tưởng độc đáo, phải chăng trong cảm nhận đầy u sầu của nhân vật trữ tình thì cảnh vật cũng hóa ra tâm trạng, hay vốn cảnh vật luôn có sự đồng, cảm, sẻ chia với con người.
Tâm trạng buồn đau của nàng Kiều thấm đượm vào trong cảnh vật, khiến cho những cảnh vật vốn vô tri cũng có tình, biết buồn trước nỗi buồn của con người.
Bằng biện pháp tả cảnh ngụ tình đầy tinh tế, tác giả Nguyễn Du đã tái hiện đầy chân thực tâm trạng của nàng Kiều, đó là tâm trạng chán chường, ê chề, sống mà còn đau khổ hơn chết
“Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai”
Như vậy, trong đoạn trích Nỗi thương mình, tác giả NGuyễn Du đã thể hiện được hoàn cảnh đầy bi kịch của Thúy Kiều, cùng với đó là tâm trạng đầy đau khổ, bế tắc của Kiều khi phải sống trong lầu xanh. | Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình của Nguyễn Du | 714 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Sau khi Thúy Kiều đánh tiếng sẽ bán mình để chuộc cha ra khỏi chốn ngục tù, Mã Giám Sinh nhờ mối lái dẫn đến, giả danh cưới Kiều làm vợ lẽ. nhưng thực ra y mua nàng về cho nhà chứa của Tú Bà. Khi biết mình bị lừa, Thúy Kiều quyết liệt chống lại âm mưu tàn ác của chúng. Nàng rút dao định tự sát, nhưng không chết. Trong cơn mê, Thúy Kiều thấy hồn Đạm Tiên hiện về báo cho biết nàng chưa thoát được số đoạn trường nên đành phải nghe lời dỗ dành của Tú Bà ra tạm ở lầu Ngưng Bích. Sở Khanh, tên tay sai của Tú Bà đã lập mưu rủ nàng đi trốn. Kiều nhẹ dạ nghe theo, bị Tú Bà bắt về đánh đập rất dã man và buộc nàng phải tiếp khách.
Đoạn trích Nỗi thương mình từ câu 1229 đến câu 1248 cùa Truyện Kiều miêu tả tâm trạng đau đớn, tủi nhục, nỗi cô đơn, thương thân trách phận và ý thức về thân phận bất hạnh của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh.
Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ:
Đoạn 1 (từ Biết bao đến tối tìm Trường Khanh): Giới thiệu cảnh trớ trêu của Kiều.
Đoạn 2 (từ Khi tỉnh rượu đến nào biết có xuân là gì): Tâm trạng, nỗi niềm của Kiều trong hoàn cảnh sống nhục nhã ở lầu xanh.
Đoạn 3 (từ Đòi phen đến mặn mà với ai): Tả cảnh để diễn tả nỗi cô đơn, đau khổ đến tột cùng của Kiều.
Điểm đặc thù của đoạn trích này là tác giả viết về tình cảnh, tâm trạng của Thúy Kiều khi bị buộc làm kĩ nữ tiếp khách làng chơi. Nguyễn Du phải đốỉ diện với một thực tế phũ phàng là xã hội vạn ác đã đồn đẩy nhân vật mà ông trân trọng, yêu mến vào chốn thanh lâu. Làm thế nào để vẫn phản ánh được sự thật mà không hạ thấp nhân vật. vẫn thể hiện được thái độ cảm thông của mình và nói lên được sự đau khổ, thương thân xót phận của nhân vật. Nguyễn Du phát huy mặt mạnh của bút pháp ước lệ cùng nghệ thuật sử dụng ngôn từ chọn lọc vừa phù hợp vừa chính xác để giải quyết vấn đề nan giải này. Nguyễn Du đã miêu tả thật sống động bức tranh sinh hoạt đặc trưng ở chốn lầu xanh bằng bút pháp ước lệ tượng trưng:
Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.
Những ẩn dụ như bướm lả, ong lơi, lá gió, cành chim, hình ảnh cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm và cả điển tích văn chương về Tống Ngọc, Trường Khanh, hai vị khách phong lưu nổi tiếng đã khắc họa được cảnh sống xô bồ, nhơ nhớp và thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Giữa cái không khí ồn ào, náo nhiệt, lả lơi, dập dìu, sớm đưa, tối tì ra ấy, nổi bật lên hình ảnh một nàng Kiều cô đơn, buồn tủi.
Các hình thức đối xứng trong câu như bướm lả / ong lơi, lá gió / cành chim được Nguyễn Du khai thác triệt để nhằm tô đậm nỗi thương thân, xót phận của Thúy Kiều và gây cảm giác đau đớn. Xót xa thực sự cho người đọc.
Bốn câu thơ đầu vừa là bức tranh sinh hoạt nhơ nhớp chốn thanh lâu vừa ẩn chứa tiếng thở dài não ruột của người con gái tài sắc buộc phải làm kĩ nữ. Tác giả xót thương Thúy Kiều rơi vào chốn bùn nhơ, nơi nhân phẩm bị hủy hoại, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh đó, Thúy Kiều đã ý thức rất rõ về nhân phẩm cao quý của mình.
Thúy Kiều là một người con gái được Nguyễn Du xây dựng trở thành hình mẫu lí tưởng của cái đẹp, cái thiện. Khi lâm vào tình cảnh ô nhục mà nàng chưa từng nghĩ đến. Thúy Kiều đã cố vùng vẫy để được giải thoát, nhưng càng vùng vẫy lại càng bế tắc. Nỗi đau “trần thế'’ đối với một người Mai cốt cách, tuyết tinh thần như Thúy Kiều dường như nhân lên gấp bội: vì hơn ai hết, nàng không bao giờ chấp nhận cuộc sống sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh. Do đó, khi thể hiện tâm trạng Thúy Kiều ở lầu xanh, Nguyễn Du đã dồn hết cảm xúc xót thương vào ngòi bút.
Nhà thơ đã thể hiện thật chân tình tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của Thúy Kiều khi phải đối diện với chính lòng mình:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa
Sống trong cảnh cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm thi chỉ khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Kiều mới có những khoảnh khắc hiếm hoi để sống thực với mình. Lúc khách làng chơi đã ra về hết, đêm rất khuya, chỉ còn một mình Kiều đối diện với ngọn đèn chong.
Nhịp thơ 3/3 như gợi từng bước đi chậm chạp của thời gian. Thời gian và không gian vắng lặng, cô liêu càng gợi nỗi niềm cay đắng, xót xa trong dạ người con gái đang lênh đênh, lưu lạc nơi đất khách.
Đến câu thứ hai, nhịp thơ thay đổi thành 2/2/2/2: giật mình / mình lại / thương mình / xót xa. Hai chữ giật minh kết. hợp với cách ngắt nhịp đột ngột diễn tả tâm trạng thảng thốt của Thúy Kiều. Từ mình mang thanh bằng nhưng không gợi sự nhẹ nhõm mà gợi cảm giác nặng nề bởi nó được lặp lại tới ba lẩn trong một câu thơ có nhịp điệu thổn thức, như tiếng nấc nghẹn ngào khi cố ghìm tiếng khóc.
Thúy Kiều giật mình sợ hãi trước sự đổi thay ghê gớm của số phận và tình cảm thảm hại của mình lúc này. Hai câu thơ tả tâm lí trên có thể coi là tuyệt bút. Nhịp điệu, âm hưởng và phép điệp từ kết hợp hài hòa, tự nhiên đã diễn tả thật chính xác tâm trạng trĩu nặng sầu thương của Thúy Kiều. Đêm khuya thanh vắng, nỗi sầu thương ấy như hiện rõ thành hình, thành khối là Thúy Kiều bằng xương bằng thịt. Đọc hai câu thơ trên, ai cũng phải ngậm ngùi rơi lệ.
Nỗi thương mình là cảm xúc bao trùm trong đoạn trích. Thúy Kiều buộc phải xa cha mẹ, xa tổ ấm để bước lên cỗ xe định mệnh: vó câu khấp khểnh, bánh xe gặp ghềnh, lao đi trên con đường mịt mù, vô định. Nàng chấp nhận: Thôi đành nhắm mắt đưa chân, để xem con tạo xoay vần đến đâu nhưng không thể ngờ rằng mình lại rơi vào chốn hang hùm đầy những kẻ bán thịt buôn người trâng tráo và đê tiện. Nàng đang phải sống trong cảnh Chán trời góc biển bơ vơ, không nơi nương tựa, không người an ủi, vỗ về, chia sẻ cho vơi bớt nỗi đau cô độc giữa lũ quỷ mặt người nên Kiều có cảm giác mình lại thương mình xót xa là vậy!
Nguyễn Du không chỉ dừng lại ở mức “đọc” được tâm trạng Thúy Kiều mà sâu hơn thế, thi sĩ thực sự rung động trước nỗi khổ tâm của nàng, đồng thời truyền sự rung động mãnh liệt ấy đến trái tim, khối óc người đọc, tạo nên mối dây đồng tình, đồng điệu.
Thúy Kiều cay đắng nghĩ tới sự tương phản ghê gớm giữa quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc và hiện thực đen tối, phũ phàng:
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
Nàng nhớ lại cảnh sống quý phái, sang trọng khi còn ở nhà với cha mẹ trước lúc xảy ra tai họa và thương tiếc thân mình vì vùi dập tan tác như hoa giữa đường. Những hình ảnh, từ ngữ đốì lập đã đặc tả tâm trạng đau đớn, tủi hổ ê chề của Kiều. Quá khứ đối lập hiện tại một cách khốc liệt. Dĩ vãng tươi đẹp chỉ được gợi lên qua một câu: Khi sao phong gấm rủ là, còn hiện tại đen tối được nhắc đến liên tiếp trong nhiều câu thơ. Trước kia, Kiều được nâng niu quý trọng bao nhiêu thì bây giờ nàng bị vùi dập phũ phàng bấy nhiêu. Sao là từ nghi vấn nhưng lại mang tính chất cảm thán, vừa được dùng trong hình thức đối vừa được dùng ở hình thức điệp: Khi sao, giờ sao, mặt sao, thân sao kết hợp với các thành ngữ mà từ ghép, từ láy được xé lẻ rồi đan chéo vào nhau như: dày gió dạn sương, bướm chán ong chường tạo nên giọng thơ mà nỗi đau đớn ê chề như thấm đẫm trong từng câu, từng chữ. Đằng sau những ngôn từ, hình ảnh ước lệ hoa mĩ ấy là cơn uất hận không nguôi, là những câu hỏi day dứt, dằn vặt muốn vang vọng tới trời xanh. Bất công thay, trớ trêu thay là Trời già tai ác! Thực ra, tạo hóa chẳng nỡ đày đọa Thúy Kiều – người con gái tài sắc vẹn toàn, mà chính là các thế lực tàn ác trong xã hội đã dìm nàng xuống bùn đen. Tuy nhiên, thái độ của Kiều là không buông mình theo dòng đục, bởi nàng cảm nhận sâu sắc về phẩm giá của mình và nỗi tủi nhục của người lương thiện bị vùi dập, đọa đày.
Tác giả tả tâm trạng của Kiều ở chốn lầu xanh:
Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
Cảnh có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt, tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa như: xuân có hoa; hè có gió; thu có trăng; đông có tuyết. Nhưng trước những cảnh đẹp đó, Kiều dửng dưng, thờ ơ bởi con tim nàng đã bị nỗi đau khổ quá mức làm cho giá lạnh.
Ở lầu xanh cũng có đủ các thú vui như cầm, kì, thi, họa, nhưng đối với Kiều thì cảnh vật, con người và những thú vui ấy giờ đây đốì với nàng đều trở nên vô nghĩa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du, không chỉ có quá khứ đối lập với hiện tại mà bản thân cuộc sống hiện tại cũng chứa đựng sự đối lập. Cuộc đời kĩ nữ nhìn bề ngoài tưởng thanh cao, tao nhã: Đòi phen nét vẽ câu thơ, cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa; Đòi phen gió tựa hoa kề, nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu, nhưng thật là mỉa mai khi sự nhơ nhớp bẩn thỉu được che đậy bằng vẻ ngoài thơ mộng và hào nhoáng.
Sự đối lập ấy Kiều đã nhận ra bằng trái tim nhạy cảm của mình. Những từ gượng, thờ ơ, ngẩn ngơ thể hiện tâm trạng chẳng mặn mà, thậm chí bẽ bàng của Kiều trước thực tại. Một người vốn trung thực như Kiều mà lại phải vui là vui gượng để chiều khách làng chơi thì nỗi tủi, nỗi sầu càng sâu sắc, thấm thía hơn. Tưởng chừng như nỗi sầu từ lòng người lan tỏa sang cả cảnh vật:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Bằng sự thông cảm thực sự và bằng tài năng kì diệu. Nguyễn Du đã viết lên hai câu thơ hay nhất về mối liên hệ tương đồng giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình trong văn chương Việt Nam.
Đoạn trích Nỗi thương mình chứa đựng ý nghĩa sầu sắc về quá trình tự ý thức của con người cá nhân trong văn học trung đại. Người phụ nữ xưa thường được giáo dục theo tinh thần an phận thủ thường, cam chịu và nhẫn nhục. Khi nhân vật Giật mình mình lại thương mình xót xa thì điều này đã bao hàm ý nghĩa “cách mạng” Con người không chỉ biết hi sinh, nhẫn nhục, cam chịu mà bước đầu đã có ý thức về phẩm giá, nhân cách, tức là ý thức về quyền sống của bản thân.
Thương thân, xót phận là một hiện tượng khá phổ biến trong thơ văn thế kỉ XVIII, nhưng Nguyễn Du viết về chủ đề này thấm thía hơn, sâu sắc hơn so với các tác giá khác. Sự thương mình chính là nền tảng của lòng thương người. Văn học dân gian có câu: Thương người như thể thương thân là vì thế. Không thể có tình thương sâu sắc, chân chính dành cho người khác nếu không có ý thức về bản thân, không biết thương chính bản thân mình.
Đoạn trích Nỗi thương mình cho thấy phẩm giá cao quý, trong trắng của Thúy Kiều. Nguyễn Du đã không né tránh thực tế nghiệt ngã, và đã đề cao nhân cách của Kiều, phẩm giá của Kiều bằng việc thể hiện thành công nỗi buồn thương, day dứt, chán chường của nàng giữa chốn bùn nhơ.
Đoạn thơ đầy chất bi thương nhưng lại không hề yếu đuối. Từ bên trong nó toát lên ánh sáng của phẩm chất cao quý và chính cái bi thương ấy lại là lời tố cáo mãnh liệt tội ác của xã hội bất nhân đã chồng chất bao nhiêu đau khổ lên một kiếp người. Người đọc xót xa căm giận cái xã hội vạn ác và càng cảm phục, yêu thương khôn xiết người con gái tài hoa mà bất hạnh – Thúy Kiều. | Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du | 2,348 | |
Phân tích đoạn trích Nỗi Thương Mình trong truyện kiều
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Nỗi Thương Mình trong truyện kiều
Bài làm
Truyện Kiều là tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du và cũng là một trong những tác phẩm kinh điển của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm xoay quanh cuộc đời “hồng nhan bạc mệnh” của Thúy Kiều, trong đó, “Nỗi thương mình” là đoạn trích kể về nỗi đau đớn tủi nhục của nàng khi bị lừa gạt rơi vào chốn lầu xanh.
Từng giai đoạn đầy chông gai, đau khổ trong cuộc đời của Kiều đều được Nguyễn Du lột tả xuất sắc qua mỗi câu thơ, nhưng nỗi đau đớn, tủi nhục, uất hận có lẽ được thể hiện rõ nét nhất trong đoạn trích “Nỗi thương mình”. Nỗi đau đớn khi phải trao duyên, phải bán thân, phải lẻ loi trong lầu ngưng bích làm sao có thể so sánh với tâm trạng tủi nhục khi một người con gái tài sắc vẹn toàn bỗng nhiên lại trở thành gái thanh lâu rẻ mạt.
“Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh. ”
Chỉ với bốn câu thơ, Nguyễn Du đã khắc họa hoàn hảo hình ảnh của chốn thanh lâu với những cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Những cô gái lầu xanh, trong đó có Kiều hàng ngày phải cười đùa, phải chìm đắm trong cơn say cũng những kẻ “ong bướm lả lơi”, toàn là người xa lạ. Điển tích Tống Ngọc, Trường Khanh cũng được tác giả sử dụng để diễn tả tâm trạng của Kiều khi phải sống một cuộc sống xô bồ, nhơ nhớp.
Nỗi đau đớn xót xa của Kiều thực sự đã bùng nổ trong những câu thơ tiếp theo:
“Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”
Thực tại càng trở nên phũ phàng khi nó được cạnh một quá khứ tươi đẹp và tinh khiết. Cuộc sống êm đềm xưa kia nay biến thành “tan tác như hoa giữa đường”. Hoàn cảnh của Kiều lúc này chính là một bông hoa đẹp bị rơi rớt giữa đường, mặc cho người đời giày xéo. Người con gái chính chuyên trong trắng xưa kia nay chỉ còn lại vẻ “trơ lì”, dạn dĩ. Nàng đã chán ngán chính bản thân mình và dường như chẳng còn chút xúc cảm tốt đẹp nào đối với cuộc sống.
“Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu. ”
Rõ ràng, nàng vẫn chưa phải là gái thanh lâu, nàng vẫn là Kiều với tâm hồn đoan chính như xưa. Bởi mặc cho những kẻ xung quanh vui thú dục vọng, Kiều vẫn chẳng thấy vui gì. Bên trong sự tủi nhục bẽ bàng, chúng ta vẫn nhìn thấy phẩm chất của Kiều chưa hề bị vùi dập.
Nàng vui đùa chẳng qua cũng chỉ là vui gượng, hoàn toàn không phải vì tìm thấy lạc thú trong cuộc sống nhơ nhuốc đó:
“Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?”
Nàng tuyệt vọng vì nghĩ rằng chẳng thể tìm được tri âm ở chông phong lưu. Nhưng điều đó cũng cho thấy, ẩn sâu trong lòng Kiều vẫn còn khao khát yêu thương, vẫn còn mong người tri kỷ.
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Hai câu thơ trên chính là lời kết cho nỗi xót thương chính bản thân mình của Kiều. Bởi tâm trạng của Kiều đang buồn bã, tủi nhục nên cảnh vật như cũng nhuốm màu u ám theo. Một cái kết đầy lắng đọng, mang tới cho ta cảm nhận chân thực về cảm xúc của Kiều và của cả thi hào Nguyễn Du. | Phân tích đoạn trích Nỗi Thương Mình trong truyện kiều | 660 | |
Phân tích đoạn trích Ra- ma buộc tội
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Ra- ma buộc tội
Là một trong những cái nôi văn minh đầu tiên của loài người, nền văn học của Ấn Độ cũng sớm được hình thành và phát triển mạnh mẽ, nhắc đến văn học Ấn Độ chắc hẳn sẽ có nhiều người nhớ đến hai bộ sử thi nổi tiếng Ramayana và Mahabharara. Trải qua nhiều thế kỉ nhưng những cuốn sử thi này vẫn làm say đắm hàng triệu trái tim của độc giả. Đoạn trích Ra- ma buộc tội là một phần trong cuốn Ramayana.
Bàn về vai trò của sử thi Ramayana đối với đời sống tinh thần của người Ấn Độ đã có lời nhận xét rằng: “ Chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì sử thi Ramayana còn làm say lòng người và cứu họ ra khỏi tội lỗi”. Đoạn trích Rama buộc tội là một trích đoạn tiêu biểu của cuốn sử thi này,đoạn trích kể về sự kiện Ra-ma sau khi chiến thắng quỷ vương Ra-va-na đã cứu được người vợ của mình là Xita, hai người đã có giây phút đoàn tụ với những sự kiện phức tạp đã diễn ra.
Sau những ngày bị chia cắt khi Xi-ta bị quỷ vương bắt đi, hai vợ chồng Ra- ma và Xi-ta đã được đoàn tụ, nhưng đó không phải phút giây hàn nguyên vợ chồng cảm động mà lại là thời điểm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột.
Gặp lại chồng, Xi-ta vô cùng vui mừng, thế nhưng đáp lại sự nhớ thương, chờ mong của nàng thì Ra-ma đối xử với nàng vô cùng lạnh lùng bởi trong Ra-ma luôn tồn tại mối nghi ngờ vì Xi-ta đã bị quỷ vương bắt đi một thời gian, liệu nàng có chung chạ chăn gối với hắn ta không là điều không ai biết. Nghi ngờ danh tiết của vợ nên Ra-ma có ý muốn chối bỏ dù rất yêu thương vợ.
Ra- ma là người quân vương hội tụ được đầy đủ phẩm chất, năng lực của người đứng đầu một nước. Phẩm chất cao quý của chàng được thể hiện rõ nét qua đoạn trích này. Trong cuộc gặp gỡ với Xi- ta dù lòng rất nhớ thương vợ nhưng Ra-ma vẫn tỏ ra lạnh lùng và chối bỏ vợ vì lúc này chàng không chỉ là một người chồng mà nàng còn là một người quân vương, người đứng đầu đất nước, do vậy chàng đã đặt trách nhiệm với quốc gia dân tộc lên trên tình cảm cá nhân, cần suy xét rõ ràng, minh bạch mọi chuyện, dù đó có là vợ mình đi chăng nữa.
Trước đông đảo quần thần và bạn hữu, nếu Ra-ma không xử lí tốt chuyện gia đình thì sẽ gây nên những điều tiếng đáng tiếc, ảnh hưởng đến uy tín của bậc quân vương. Đối với Ra-ma thì uy tín và danh dự của bản thân và gia tộc là điều quan trọng hàng đầu, dù yêu thương vợ nhưng chàng không thể bất chấp tất cả, vượt lên những điều tiếng không hay của dư luận mà đón nàng về cung điện.
Trước những lời nói của Ra- ma, Xi- ta đã vô cùng đau lòng, nàng đau đớn đến nghẹt thở, cảm giác như có sợi dây leo thít chặt vào da thịt. Đặc biệt, những lời hàm nghi của Ra- ma lại được nói trước đông đảo dân chúng và bạn hữu, nàng đã tủi thân, xấu hổ cho số phận của mình. Nàng đã cố gắng minh bạch tấm lòng trong sạch của mình nhưng Ra- ma đều nhẫn tâm phũ bỏ tất cả.
Cuối cùng, không còn cách nào khác, Xi-ta đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của thần lửa A- nhi, nàng đã bước lên giàn hỏa thiêu để nhờ thần Lửa chứng minh cho sự trung trinh, trong sạch của mình.
Cảm động trước tấm lòng của nàng, thần lửa A- nhi đã xuất hiện mà chứng minh sự trong sạch của Xi-ta trước tất cả dân chúng, quần thần, bạn hữu. Nhờ vậy mà Ra- ma hiểu được tấm lòng và sự thủy chung của vợ, hai người đã được đoàn tụ thực sự mà không có bất kì khoảng cách nào khác.
Qua đoạn trích Ra- ma ta có thấy được những khát vọng của người Ấn Độ và mẫu hình người anh hùng và người phụ nữ lí tưởng của thời đại bấy giờ, qua đoạn trích ta cũng hiểu được phần nào vì sao mà sử thi Ramayana lại có thể làm say đắm nhiều thế hệ đến vậy. | Phân tích đoạn trích Ra- ma buộc tội | 778 | |
Đề bài: Phân tích – Bình luận bài thơ Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc) bản dịch của Đoàn Thị Điểm
Bài làm
Trong cuộc đời con người, khi phải chia tay tiễn biệt – người thân, hoặc bạn bè – ai mà chẳng buồn rầu. Trong các cuộc chia tay, đưa tiễn, có lẽ cuộc tiễn đưa người thân ra trận để lại trong lòng người nhiều nỗi buồn lo nhất. Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc đã ghi lại cuộc chia tay như thế và hơn thế là: người chồng ấy ra đi không phải vì dân vì nước mà vì quyền lợi của giai cấp thống trị, ra đi để đàn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân ở nửa đầu thế kỉ XVIII trong xã hội phong kiến Việt Nam. Do đó, khi tiễn chồng ra đi, người vợ đã vô cùng buồn lo, sầu muộn.
Đoạn trích Chinh phụ ngâm khúc mà chúng ta được dọc trong sách Ngữ văn 7, tập một chính là một cuộc chia li ngập tràn nỗi buồn lo sầu muộn đó:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
…
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Điều đầu tiên ta cần lưu ý là: Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc do ông Đặng Trần Côn sáng tác (khoảng năm 1741 – 1742) bằng chữ Hán, theo thể thơ tự do cổ điển. Sau đó, tác phẩm được một nữ sĩ cùng thời là bà Đoàn Thị Điểm dịch sang tiếng Việt (viết bằng chữ Nôm), theo thể thơ song thất lục bát. Song thất lục bát là thể thơ do chính người Việt Nam chúng ta sáng tạo ra. So với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú và lục bát, thơ song thất lục bát có nhạc tính phong phú hơn. GS. Phan Ngọc từng nhận xét: “Cần phải có hình thức ấy, tình cảm mới có thể mang hình thức một đợt sóng đi lên với hai câu thất, dừng lại ở câu lục ngắn gọn để toả ra trong câu bát dài nhất rồi lại vươn lên trong một khổ mới, cứ thế, đợt sóng tình cảm lên xuống ãn khớp với hình thức của ngôn ngữ”. Tác phẩm Chinh phụ nqâm khúc là một bài thơ song thất lục bát, dài tới 408 câu đã thể hiện muôn vàn đợt sóng tình cảm của người chinh phụ – người vợ có chồng ra trận. Đoạn thơ trích nói trên tập trung thể hiện tình cảm hai vợ chồng trong những ngày đầu chia li. Đoạn thơ gồm ba khổ song thất lục bát, mười hai câu thơ, mổi khổ ghi lại một cung bậc tình cảm.
Khổ thơ thứ nhất:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
ghi cảm xúc phút đầu chia li. Tác giả dùng nghệ thuật đối lập: Chàng thì đi… thiếp thì về, miêu tả thật chính xác cảnh hai vợ chồng, hai phương trời đối nghịch mỗi lúc một cách xa nhau. Chồng đi vào cõi xa mưa gió biết bao gian khổ. Còn vợ thì buồng cũ chiếu chăn, sống cảnh đơn độc, vò võ, mòn mỏi với những đồ vật cũ kĩ, tàn tạ. Sự ngăn cách đã là sự thật khấc nghiệt. Nỗi sầu chia li nặng nề tưởng như phủ lên màu biếc của trời mây, trải vào màu xanh của núi ngàn. Các động từ “tuôn”, “trải” kết hợp hình ảnh mây biếc, núi xanh gợi lên cái mênh mang, nét vần vũ, quằn quại của thiên nhiên vũ trụ khiến nỗi buồn chia li thêm da diết, rộng lớn tưởng đến không cùng.
Nỗi buồn chia li tăng dần, trở thành nỗi sầu muộn dâng lên tràn ngập cả cõi lòng kẻ ở người đi.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Những địa danh Hàm Dương, Tiêu Tương không phải dùng để tả thực mà chỉ mang ý nghĩa tượng trưng cho hai vị trí xa cách của đôi vợ chồng. Ở khổ thơ thứ hai này, cũng vẫn bằng cách nói tương phản “Chàng còn ngảnh lại… Thiếp hãy trông sang” phối hợp cách điệp từ và đảo vị trí của hai địa danh “Chốn Hàm Dương – Bến Tiêu Tương, Bên Tiêu Tương – Cây Hàm Dương”, tác giả muốn chia đều cảm xúc của hai người, nhấn mạnh nỗi sầu xa cách. Tinh cảm buồn thương, nhung nhớ cứ tăng dần, tăng dần. Điều đó cho thấy sự chia li ở đây là chia li về cuộc sống và thể xác, còn trong tình cảm, tâm hồn hai vợ chồng ấy vẫn gắn bó thiết tha. Họ vẫn hướng về nhau, dõi theo, để tìm nhau, nhìn thấy nhau. Nhưng càng hướng vé nhau thì không gian, thời gian càng đẩy họ xa nhau. Ở đoạn trên chỉ là “cách ngăn” đến đây sự cách ngăn thành “cách mấy trùng”. Do dó, lời thơ không chí biểu hiện nỗi sầu chia li mà còn nhấn mạnh sự oái oăm, nghịch chướng: gắn bó mà phải chia xa, càng dõi nhìn nhau, càng không thấy nhau…
Càng trông lại mà càng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Ở đoạn này, nghệ thuật đối nghịch được bổ sung bằng những điệp từ, điệp ngữ rất ấn tượng: cùng, thấy, xanh xanh, xanh ngắt, ngàn dâu,… Ở trên, ít ra còn có tên hai địa danh Hàm Dương và Tiêu Tương gợi một ý niệm về địa điểm cụ thể, về vị trí hai người để có thể hướng tới nhau. Đến đây, mọi địa điểm, vị trí bị xoá mờ, hai hình hài chàng và thiếp cũng bị xoá mờ. Chỉ còn lại ngàn dâu, rất nhiều ngàn dâu nối nhau “xanh xanh” rồi “xanh ngắt” mênh mông khắp trời. Choán tất cả vũ trụ là màu xanh, xanh đến rợn ngợp, xanh não né, nhức buốt tận đáy lòng. Từ ghép “xanh ngắt” với thanh “sắc” ở tiếng “ngắt” như mũi kim chích vào da thịt vậy. Tất cả, mười một câu thơ ở trên tập trung tả cảnh, tả cử chỉ của đôi vợ chồng, từ đó biểu hiên tâm tư, tình cảm. Đó là kiểu văn biểu cảm, mượn cảnh để biểu lộ tâm hổn. Qua cảnh vật và sự việc, người đọc thấm thìa cảm xúc của nhân vật và của tác giả. Nhân vật trong đoạn thơ này là hai vợ chồng người lính trận, chủ yếu là nhân vật chinh phụ, người chồng ra trận. Họ chia li về hình hài thể xác, nhưng tình thương và nỗi nhớ, sự gắn bó thì không chia li, rời cắt. Họ cố dõi theo nhau, tìm nhau để mãi mãi thấy nhau.
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Không dùng cách tả cảnh ngụ tình nữa, nhà thơ trực tiếp nói lên tiếng lòng của nhân vật và tiếng cảm thương của chính mình. Từ “sầu” trong câu thơ cuối này như đúc kết lại tất cả những cung bậc tình cảm ở mười một câu thơ trên. Nỗi buồn li biệt đã nhân lên, dâng trào, trở thành một khối sầu thương, trĩu nặng trong tâm hồn người chinh phụ.
Đoạn ngâm khúc về cuộc chia tay của đôi vợ chồng trong tác phẩm Chinh phụ ngâm cho ta thấy: nỗi sầu chia li của người chinh phụ lúc tiễn chồng ra trận đã như nhuốm cả vào mây, trời, núi non, cảnh vật, cây cối. Nỗi sầu này vừa có ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa, vừa thể hiện niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ. Đoạn thơ có giá trị nhân đạo, nhân văn thấm thìa, về nghệ thuật, doạn thơ cho ta biết một thể thơ dân tộc với nhiều từ ngữ gần gũi, nhiều biện pháp tu từ (đối lập, diệp từ,…) kết hợp hài hoà với tính nhạc của những dòng thơ song thất lục bát rất linh hoạt, vừa biểu cảm vừa truyền cảm… | Phân tích đoạn trích Sau phút chia li của Đoàn Thị Điểm | 1,392 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích “Sau phút chia ly”
Bài làm
Tác phẩm “Sau phút chia ly” trích trong Chinh phụ ngâm khúc hiện nay đoạn trích này chưa rõ nguồn tác giả là ai.
Tuy nhiên đây là đoạn trích hay thể hiện nỗi lòng của người con gái trong thời phong kiến khi cho chồng đi chinh chiến phương xa.
Thông qua đoạn trích tác giả muốn tố cáo tội ác phi nghĩa, trong thời kỳ xưa khiến nhiều người dân lâm vào cảnh lầm than, cơ cực. Nhiều người phụ nữ phải xa chồng, nhiều người chồng phải chịu cảnh đầu rơi máu chảy nơi chiến trường.
Giây phút chia ly đầy đau đớn, nhiều xót xa, luyến tiếc của đôi vợ chồng trẻ. Tác giả đã diễn tả tinh tế tâm trạng kẻ ở người đi.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh
Trong bốn câu thơ này tác giả đã khắc họa sâu sắc tâm trạng của người vợ trẻ khi tiễn người chồng của mình ra trận. Một tình cảnh khắc nghiệp, thê lương tới tê tái lòng người.
Người vợ trẻ nhìn theo bóng dáng người chồng thân thương của mình trong không gian mịt mờ, mênh mông, chỉ thấy sự chia ly cách biệt dài đằng đẵng không thấy sự tương phùng hiện diện. Một tâm trạng buồn đau tới não lòng, sự vấn vương lưu luyến thể hiện trong từng câu từng chữ của đoạn trích.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Trong khổ thơ này nghệ thuật đối lập được tác giả sử dụng vô cùng tinh tế thể hiện sự tiêu điều, ảm đạm của cảnh biệt ly, kẻ đi người ở. Trong không gian bao la mênh mông, trong giây phút tiễn biệt đầy xúc động.
Hình ảnh sự chờ trông ngóng chờ của người con gái, hiện lên trong những câu thơ làm nhói lòng người ra đi, khiến cho người đọc cảm thấy nghẹn lòng cho tâm sự của người phụ nữ cho chồng đi viễn xứ.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Trong bốn câu thơ này tác giả đã biến đổi phong cách thơ linh hoạt, người con gái vò võ một mình trong căn phòng hoang lạnh thiếu hơi ấm, vòng tay che chở của người đàn ông. Sự cô đơn gối chiếc, người chồng nơi xa không biết khi nào trở lại.
Tuổi xuân của người con gái thì chỉ có giới hạn nhất định, nhưng chiến tranh đã không cho họ hạnh phúc trọn vẹn. Không cho họ sống những thời khắc tuổi xuân hạnh phúc, mà bắt người con gái phải sống trong hiu quạnh, hoang lạnh mỗi đêm.
Đoạn trích này thể hiện nỗi niềm, tâm sự của người con gái khi tiễn chân chồng đi đánh trận. Những giờ phút tiễn biệt, bi thương nhiều nước mắt. Thể hiện sự nhân văn, nhân đạo của tác giả với số phận những người chinh phụ thời xưa. | Phân tích đoạn trích Sau phút chia ly | 540 | |
Phân tích đoạn trích Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai
Bài làm
Chúng ta là người Việt Nam, hằng ngày dùng tiếng mẹ đẻ, tiếng nói của toàn dân – tiếng Việt – để suy nghĩ, nói năng, giao tiếp. Nhưng đã mấy ai biết tiếng nói Việt Nam có những đặc điểm, những giá trị gì và sức sống của nó ra sao. Trong thơ và âm nhạc đã có vài ba người ca ngợi vẻ đẹp, nét độc đáo của tiếng Việt. Song muốn hiểu sâu để cảm nhận một cách thích thú vẻ đẹp, sự độc đáo của tiếng nói dân tộc Việt Nam, ta hãy đi tìm các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn chương. Một trong những người ấy là Giáo sư Đặng Thai Mai, tác giả bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt. Bài nghị luận ấy ngắn gọn mà sâu sắc đã giải thích và chứng minh một cách thuyết phục nét đặc trưng cơ bản của tiếng nói Việt Nam chúng ta: “giàu và đẹp”.
Bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt (tên bài do người soạn sách đặt) là đoạn trích ờ phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc, in lần đầu năm 1967, được bổ sung và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai. Tuy là đoạn trích, song văn bản mà chúng ta được đọc vẫn có cấu tạo khá trọn vẹn như một áng văn nghị luận thể văn chứng minh. Chúng ta có thể đọc văn bản ấy theo ba đoạn:
Mở bài (từ “Người Việt Nam ngày nay…” đến “… các thời kì lịch sử”): Nhận định tiếng Việt là thứ tiếng nói đẹp và hay, giải thích ngắn gọn nhận định ấy. Đây là phần nêu vấn đề trong bài nghị luận.
Thân bài (“Tiếng Việt, trong cấu tạo…” đến “…. kĩ thuật, vãn nghệ, V.V.”): chứng minh cái đẹp và sự giàu có (cái hay) của tiếng Việt về các mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp.
Kết bài (câu văn còn lại): Nhấn mạnh, khẳng định cái đẹp, cái hay của tiếng Việt chính là sức sống của tiếng Việt, cũng có ý nghĩa biểu hiện sức sống của dân tộc.
Phân tích đoạn trích Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai
Vì là bài nghị luận nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ, nên tác giả dùng lí lẽ và dẫn chứng thuộc phạm vi ngôn ngữ và thực tiễn, chứ không đưa ra những ví dụ cụ thể về những ngữ liệu văn chương hay tiếng nói trong đời sống hằng ngày. Do đó, khi tìm hiểu áng văn này, chúng ta cần kết hợp việc suy ngẫm vẻ các lí lẽ, các dẫn chứng của tác giả với những liên tưởng vốn liếng văn chương, tiếng nói hằng ngày dể chia sẻ và thấu hiểu tư tưởng, tình cảm tác giả.
Nhưng xuống phần hai, tác giả lại trình bày luận điểm và minh hoạ bằng các dẫn chứng khá rành mạch, sáng tỏ và chặt chẽ.
Luận điểm thứ nhất: tác giả khẳng định và chứng minh Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó,… của một thứ tiếng khá đẹp. Nét đẹp ấy được minh hoạ bằng các dẫn chứng về giàu chất nhạc (trong ngữ âm, tiếng Việt có hai thanh bằng, bốn thanh trắc, thanh điệu phong phú. Trong cú pháp, tiếng Việt cân đối, nhịp nhàng, về từ vựng, tiếng Việt dồi dào vốn từ về cả ba mặt thơ, nhạc, hoạ). Do đó, nhà nghiên cứu khảng định: “tác dụng của đặc tính này đối với văn học là rất quan trọng”. Đễ hỗ trợ cho các dẫn chứng về khoa học, tác giả bổ sung thêm dẫn chứng thực tế. Ông kể: nhiều người ngoại quốc sang thăm nước ta nhận xét rằng tiếng Việt là thứ tiếng giàu chất nhạc. Rồi ông dẫn ý kiến một giáo sư nói: “”tiếng Việt như là một thứ tiếng “đẹp” và “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển trong câu kéo, rất ngon lành trong những câu tục ngữ””. Xen kẽ các dẫn chứng, tác giả dùng phép so sánh “tiếng Việt… giàu hình tượng ngữ âm như những âm giai trong bản nhạc trầm bổng”. Những dẫn chứng phong phú, đa dạng, cách liên tưởng và viết câu nhịp nhàng, uyển chuyển như thế chứng tỏ nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai rất thích thú, say sưa và tự hào về chất nhạc của tiếng nói Việt Nam. Còn chúng ta, đọc văn của ông, cũng cảm thấy bị lôi cuốn. Chứng ta nhớ đến những bài thơ, những áng văn sống động, đa thanh, giàu chất nhạc trong kho tàng văn học Việt Nam. Ta hãy đọc đoạn thơ sau trong bài Lượm:
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
Ca lô đội lệch
Mồm huýt sáo vang
Như con chim chích
Nhảy trên đường vàng…
Nhạc tính của tiếng Việt đã tấu lên những âm sắc, những thanh điệu, cú pháp đẹp đẽ, uyển chuyển, sinh dộng biết bao trong đoạn thơ ấy của nhà thơ Tố Hữu. Và chúng ta nhớ tới bao nhiêu câu tục ngữ, bài ca dao, cả những câu nói bình thường hằng ngày ta nghe từ tiếng nói của mẹ cha, ông bà, của thầy, cô và bè bạn. Làm sao minh hoạ cho hết được tính nhạc, cái đẹp của tiếng Việt Nam chúng ta.
Hãy trở lại với bài văn của Đặng Thai Mai. Sau khi chứng minh chất nhạc – vẻ đẹp – nhà nghiên cứu khẳng định tiếp: tiếng Việt là thứ tiếng hay. Rồi ông minh hoạ bằng vài nét khái quát: tiếng Việt có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ, về hình thức diễn đạt, ngữ pháp đang dần dần uyển chuyển hơn, chính xác hơn, không ngừng đặt ra những từ mới, cách nói mới, đồng thời Việt hoá những từ và cách nói của các dân tộc anh em và các dân tộc láng giềng… Dồn dập những dẫn chứng, vừa mang tính khoa học vừa đẫm chất thực tế. Điều đó giúp chúng ta vừa nâng cao hiểu biết về lí thuyết vừa thúc đẩy chúng ta liên hệ thực tế, để cảm thông, chia sẻ với tác giả niềm say mê trong khám phá khoa học và tình yêu tiếng mẹ đẻ Việt Nam. Ngoài Tố Hữu, qua các câu tục ngữ, các bài ca dao, chúng ta còn dược học biết bao tác phẩm văn chương của cha ông xưa từ Trần Quang Khải, đến Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến,… những tác phẩm của Bác Hồ, của các nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, các nhà thơ Minh Huệ, Xuân Quỳnh,… trong thời đại ngày nay. Nhờ sự giàu và đẹp của tiếng Việt mà các văn nghệ sĩ sáng tạo ra biết bao áng văn chương tuyệt tác và cũng nhờ sự sáng tạo và tình yêu tiếng nói Việt Nam của các tác giả mà tiếng Việt càng ngày càng giàu, càng đẹp hơn, sức sống càng ngày càng dồi dào hơn.
Về nội dung, tác giả đã có một phát hiện khoa học lí thú về vẻ dẹp tiếng nói Việt Nam. Về nghệ thuật, bài văn cũng đạt tới trình dộ đáng khâm phục, đáng học tập: kết hợp giải thích với chứng minh, bình luận nhẹ nhàng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng khá toàn diện, bao quát, viết câu linh hoạt, dùng câu rút gọn (ở phần đầu), phối hợp với câu mở rộng (ở phần hai)…
Tóm lại, điều chúng ta cần ghi nhớ là: bằng những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện, bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt đà chứng minh tiếng nói Việt Nam giàu có và đẹp đẽ ở nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất bền vững và khả nâng sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của nó, là một biểu tượng hùng hồn của sức sống dân tộc… | Phân tích đoạn trích Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai | 1,358 | |
Phân tích đoạn trích Tao duyên truyện Kiều
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Tao duyên truyện Kiều
Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân
Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều
Những vần thơ của Tố Hữu đã gợi ta nhớ tới Nguyễn Du- đại thi hào dân tộc, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn cùng kiệt tác “Truyện Kiều”. Thi phẩm hàm chứa bao giá trị hiện thực và nhân đạo khi viết về cuộc đời và số phận của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong xã hội phong kiến xưa. Trong tập đại thành, nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao không chỉ có ngôn từ điêu luyện, giàu hình ảnh cùng các biện pháp tu từ mà còn hấp dẫn người đọc bởi những khúc đoạn miêu tả tâm trạng Kiều. Mở đầu cho chuỗi bi kịch nội tâm trong cuộc đời Kiều là khi nàng phải tự tay trao duyên cho em gái được thể hiện trong đoạn trích “ Trao duyên”.
“Truyện Kiều” là một bức tranh hiện thực xã hội phong kiến suy tàn không cưỡng lại được của bánh xe lịch sử. Kéo theo đó là sự tha hóa của bản chất con người, đồng tiền trở thành thế lực vạn năng đẩy con người lương thiện vào bức đường cùng. Gia đình Vương viên ngoại cũng không tránh khỏi tai vạ. Gia đình Kiều bị vu oan, phận làm con nên Kiều đã phải bán mình. Trước ngày đi, Kiều đã sắp xếp xong mọi việc, chỉ còn nỗi vướng bận duy nhất là mối tình dang dở với chàng Kim. Vào một đêm nọ, Kiều đã quyết định gọi Vân, kể rõ sự tình và trao tơ hồng giữa mình và Kim Trọng cho em. Đoạn trích “Trao duyên” kể về sự việc này đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du khi đã nhìn ra và tôn vinh vẻ đẹp và phẩm chất của Kiều trong lúc này.
Vẫn biết trao duyên là khó khăn nhưng Kiều đắn đo trước sau, băn khoăn ngập ngừng mãi nhưng vẫn thốt ra câu khiến người đọc cũng mủi lòng:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Kiều “cậy” với tất cả sự tin tưởng, khẩn khoản, tha thiết mong em sẽ giúp chứ không đơn giản là nhờ. Vì vậy nên Kiều cũng mong em “chịu lời” chứ không phải “nhận lời” bình thường. “Chịu lời” dường như Kiều có ý nài ép em phải nhận vì không nhận không được. Việc hẳn rất khó khăn và hệ trọng Kiều mới nói như vậy. Sau đó là một chuỗi hành động trang trọng, nàng “lạy” rồi “thưa” với em mình. Đối với nàng, sự nhận lời của Thúy Vân sẽ là một hành động hi sinh đáng kính và đó sẽ là cái ơn mà nàng phải lạy tạ ân nhân. Cách xưng hô rồi hành động thiêng liêng như muốn Vân chuẩn bị tâm lý mà nàng chuẩn bị nói, đó là trao duyên. Nàng đang nhúng nhường, cầu xin người ta nhận lấy người mà nàng yêu nhất, hạnh phúc mà nàng muốn có nhất. Hành động đó không phải vì nàng mà vì người nàng yêu là chàng Kim. Trong cái cử chỉ tội nghiệp kia, ta thấy tất cả sự cao khiết của một tấm lòng, một phẩm cách con người luôn hi sinh vì người khác.
Trong nước mắt, Kiều đã giãi bày tâm sự, vừa kể vừa để thuyết phục em bằng cả lý và tình:
Giữa đường đứt gành tương tư
Keo loan chắp mối tờ thừa mặc em
Tình yêu vốn là một gánh tương tư. Mối tình giữa Kim Kiều đang say đắm, nồng nàn nhất thì cơn gia biến lại ập đến, gánh tương tư này Kiều đã không đủ sức theo mang theo. Nàng đành phải đau đớn trao đi mối tình đẹp. Nhưng nàng không thể trao cho bất kì ai mà nhất định phải là em mình vì nàng coi trọng mối tình này và muốn thể hiện tấm chân tình với chàng Kim. Trao duyên cho em, Kiều hiểu rõ hơn ai nỗi khó của Vân khi phải nhận việc này. Kiều dùng điển tích “keo loan” mong em có thể hiểu cho sự bất lực trong tình duyên của chính mình. Vì đã từng yêu thương, nên Kiều lại càng xót xa khi Vân phải nhận “mối tơ thừa” này và kết hôn với một người mình không yêu. Nhưng Kiều cũng không làm được gì, cũng đành “mặc em”. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều đã không chỉ trao đi duyên mà còn trao cả nỗi đau cho em gái mình.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước, khi đêm chén thề
Kiều kể cho em nghe về quá khứ ngọt ngào, sống động “ngày quạt ước-đêm chén thề” của đôi uyên ương đã từng hẹn ước với nhau, điệp ba lần từ “khi” như những kỉ niệm, tình cảm sâu đậm khó có thể phai mờ. Những kí ức vốn dĩ rất ngọt ngào, giờ đây nhớ lại trở thành một nỗi dắng cay khi cố gắng chạm đến hạnh phúc nhưng không được. Nó lớn dần khi Kiều nghĩ tới nguyên nhân của nỗi đau:
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình vẹn lẽ khôn bề vẹn hai
Từ “sự đâu” như lời oán trách số phận đã gây ra “sóng gió bất kì” làm cuộc đời nàng khốn khổ. Nhà có chuyện, phận làm con Kiều phải bán mình cứu cha. Đó là bổn phận nhưng Kiều có thực sự cam tâm khi làm vậy? Cả một con tim đang chảy máu, đau đớn, day dứt, quằn quại. Thật vô lý phải lựa chọn giữa chữ hiếu và chữ tình mà đúng ra nó phải cùng tồn tại song song với nhau như điều thiêng liêng nhất trong con người. Câu hỏi tu từ “Hiếu tình vẹn lẽ khôn bề vẹn hai” vang lên trăm ngàn nuối tiếc, đắng cay mà nàng cố kim nén xin em, chữ hiếu chị đã nhận, em hãy giúp chị làm tròn chữ tình. Trong bi kịch mất tình yêu của chính mình, Kiều vẫn lo lắng, xót thương cho người khác, nàng đau đớn vì cố hi sinh hết thân mình mà Vân vẫn chịu khổ. Bởi vậy mà người ta mới thương Kiều, nhớ đến Kiều với hình bóng người con gái giàu đức hi sinh, nhạy cảm với nỗi đau của người khác.
Cậy em bằng đủ các lý do thiêng liêng nhất, nhưng giờ phút hành động trao đi tín vật tình yêu, chính thức cắt đứt tơ tình lại khiến Kiều quyến luyến, mất mát vô cùng.
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này của chung
“Chiếc vành- Tờ mây” là vật thề ước, là sự chứng thực cho mối tình đôi lứa Kim Trọng- Thúy Kiều. Có hai vật đó Kiều mới có thể đường hoàng bên chàng Kim đến “đầu bạc răng long”. Nhưng mất nó đồng nghĩa Kiều với Kim không còn là gì cũng như tình yêu sẽ đổ vỡ không thể hàn gắn. Bởi vậy nên mỗi kỉ vật trao đi như từng mảnh tình yêu cuối cùng rời khỏi tay Kiều. Giọng điệu nghe ra bình thường như vẫn có tiếng nấc nghẹn ngào sau từng câu câu chữ. Trao đi “duyên này…vật này” cho Vân nhưng lại kết bằng hai chữ “của chung”. Tình yêu với Kiều là sự sống, là hơi thở nên đâu nói bỏ là dứt được. Nguyễn Du cuối cùng vẫn để kiều trở lại là người con gái yếu đuối nằm trong dòng xoáy tâm lí thường tình, khi mất đi thứ gì càng quan trọng với mình thì càng ý thức mạnh mẽ về giá trị thực của nó. Cho nên “của chung” mới vang lên trong Kiều với bao nhiêu giằng xé, mâu thuẫn. Dường như lý trí nàng đã quyết định dứt bỏ nhưng trái tim thì không thể tuân theo. Giống như kỉ vật đã trao nhưng vẫn níu kéo tình yêu, kỉ niệm cho riêng mình.
Trước đây, khát vọng tình yêu vô bờ bến đã vẽ ra trong tưởng tượng của cô về tương lai ngập tràn màu hồng hạnh phúc. Nhưng cuộc đời bể dâu với những “sóng gió bất kì” đã khiến Kiều rơi vào bi kịch của sự tuyệt vọng do chính mình tạo ra khi nhìn vào phía trước vẫn hoàn hảo như vậy, chỉ thiếu bóng mình.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Kiều day dứt láy đi láy lại về tương lai nên duyên vợ chồng giữa Kim Trọng và Vân. Như vậy, nghĩa cho Kim Trọng đã trả, Vân đã có hạnh phúc cho mình, nàng cũng đã báo hiếu cho cha mẹ. Nhưng nàng vẫn không thanh thản vì hạnh phúc cuộc đời nàng là chàng Kim đã thuộc về người khác. Tương lai đã không có chỗ cho Kiều. Nàng cô độc, bơ vơ bên lề hạnh phúc. Nàng sẽ chẳng còn lại gì, thân “bạc mệnh” này chỉ mong chờ vào “chút của tin” cùng quá khứ xưa để được tưởng nhớ không bị lãng quên. Hiện tại vẫn còn đây “chút của tin”, nhưng đó chỉ còn là của “ngày xưa”, là vật gợi lại kí ức trong quá khứ của Kiều, còn mai sau sẽ là của Vân. Chữ “ngày xưa” xa xôi vang lên chua xót gọi về mối tình đẹp mới như ngày hôm qua giữa Kim Kiều. Lúc này, dường như nhớ về kỉ niệm tình yêu ấm áp “phím đàn với mảnh hương nguyền” kia lại càng khiến Kiều đau đớn hơn.
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan
Lại thêm một lần nữa Kiều nói về cái chết của mình. Kiều lần đầu nhắc đến cái chết để cầu xin em nhận duyên như đang thực hiện di nguyện của chị mà đến sau này khi chết đi vẫn chỉ có một. Vân nhận lấy duyên của Kiều, nàng vẫn không hề thanh thản mà lại cảm thấy mình chết đi nhưng không thể siêu thoát được. Kiều đến cõi hư không mà vẫn chỉ là một mảnh hồn thác oan vất vương theo ngọn gió hiu hiu với tiếng tơ tình trên phím đàn, với mùi hương của mảnh trầm ngày xưa và vẫn còn mang nặng lời thề, lời nguyền nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai. Kiều đinh ninh mình sẽ là một hồn oan và tha thiết mong em sẽ đến rưới giọt nước cho người thác oan. Kiều chìm trong thế giới âm u của cõi chết hay sự ảm đạm trong chính tâm trạng mình. Xã hội xưa đã đày đọa con người ta đến đường cùng, cướp đi quyền yêu và hạnh phúc, khiến cho một cô gái “xuân xanh” như Kiều lại bế tắc nghĩ đến cái chết. Nàng vùng vẫy vọng tuyệt vọng, muốn biết tại sao mình lại phải hy sinh thân mình, trao duyên, chịu đựng giằng xé vì một lỗi lầm không phải của ai cả. Sự không cam lòng ấy lại chẳng thể chia sẻ với ai, không ai thấu hiểu nên càng bế tắc. Cả cuộc đời, Kiều vẫn luôn sống trong sự trăn trở với những câu hỏi xem mình làm vậy có đúng hay không. Và ngòi bút nhân đạo Nguyễn Du đã nhìn thấy sự khốn khổ đó của con người trong xã hội cũ và để sự tự ý thức về cuộc đời, số phận, phẩm chất lần đầu tiên được bộc lộ rõ ràng, quyết liệt như thế. Nhà thơ đã lên tiếng che chở cho nhu cầu hạnh phúc cơ bản, vốn có của con người.
Nếu những câu thơ đầu là lời Kiều thuyết phục em nhận duyên và sự đau đớn cho quyết định nghiệt ngã của mình thì 8ct cuối là tiếng khóc nghẹn ngào không kìm nén nổi cùng lời tạ từ Kiều gửi Kim Trọng.
Nỗi đau mất tình yêu quá lớn đã khiến Kiều quên rằng trước mặt mình là Thúy Vân, lúc này đối diện nàng chính là Kim Trọng. Bao nhiêu nhớ thương ấp ủ, lời tâm sự chua xót về số phận và tình yêu của mình nay bộc phát, trào dâng mạnh mẽ. Kiều khóc thương thân mình và dằn vặt khi nghĩ về sự đổ vỡ của tình yêu.
Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Mối tình tan vỡ không còn hi vọng. Trâm đã gãy, gương đã tan, còn có điều gì để nối lại. Mà có nối lại thì vẫn sẽ còn mãi vết nối ấy cũng như tình cảm sẽ chẳng còn như xưa. Kiều ý thức rõ ràng bi kịch của mình là không gì cứu vãn nổi bởi mất mát vô hạn nàng gây ra đối với tình yêu của mình và Kim Trọng. Đáng lẽ ra nàng không nên nắm giữ tình yêu để khi không giữ nổi lại phụ lòng người khác. Đối với chàng Kim mà nói, tình cảm “kể làm sao xiết” chàng dành cho Kiều càng lớn bao nhiêu thì nỗi đau chàng chịu sẽ lớn bấy nhiêu. Kiều nhận thấy điều này nên càng đau khổ hơn gấp nghìn lần. Nỗi đau biến thành hành động “lạy” tạ lỗi cũng là từ biệt. Trong lòng vẫn còn ngổn ngang tâm sự, vẫn còn trăm nghìn điều Kiều muốn nói với chàng nhưng tình duyên để dang dở lại cho em, lời thề nguyền hẹn ước cũng không thể giữ, nay tín vật cũng đã trao, nàng còn gì để nói ngoài hành động “trăm nghìn gửi lạy tình quân”. Nàng cũng chỉ còn biết xót xa cho chính “tơ duyên ngắn ngủi” của mình. Bế tắc đỉnh điểm, nàng đã tự hỏi “Phận sao phận bạc như vôi”. Từ “phận” được lặp lại hai lần nhấn mạnh cho sự nhỏ bé của những con người bấy giờ. Thành ngữ “phận bạc như vôi” cho thấy sự bất hạnh, bạc bẽo trong cuộc đời Kiều. Cả câu mang theo sự uất ức không hiểu nổi tại sao mình phải trao duyên rồi chịu bất hạnh lúc này. Nhưng câu sau lại là sự đắng cay mà chấp nhận tuân theo số phận “Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Bởi nàng biết rằng, dù có hàng trăm hàng nghìn câu hỏi nữa, hay bất kì sự chống đối nào lại số phận thì chỉ khiến cho mọi thứ khó khăn hơn giống như tình yêu của nàng mà thôi. Xã hội xưa đã đẩy con người vào sự ân hận và bất lực vì đã yêu chân thành mãnh liệt. Tình yêu, những điều chính đáng lại trở thành căn nguyên của bi kịch tinh thần Kiều. Nhưng trong nỗi đau đó, ta cảm nhận được một người con gái giàu đức hi sinh, ý thức được về tình yêu và cuộc sống mình.
Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Với nhịp thơ 3/3, Thúy Kiều đã gọi kim Trọng là ‘ kim lang’ vởi trong sâu thẳm lòng Kiều Kim Trọng là phu quân. Điều đó thể hiện tình yêu Kiều với Kim Trọng rất sâu nặng. Nhưng do hoàn cảnh, Kiều đành phải phụ Kim Trọng, đành phải vứt bỏ mối tình đẹp của mình. Tiếng kêu xé lòng vang lên vọng cả trời đất.
Vận dụng linh hoạt từ ngữ, hình ảnh, điển tích điển cố nghệ thuật đặc sắc, mỗi câu thơ dường như đều thấm nỗi đau khi Kiều phải trao đi duyên tình sâu nặng đời mình. Diễn tả thành công nỗi đau của Kiều, khiến nó chạm đến trái tim bạn đọc, Nguyễn Du đã gửi gắm trái tim nhân hậu, niềm cảm thương xót đau cho kiếp đời bất hạnh qua từng trang viết. Đó cũng là lời cảnh tỉnh, tố cáo xã hội đồng tiền đã cướp đi quyền sống của con người. Có thể nói, người ta thích đọc “ Truyện Kiều” vì soi bóng nước mắt nàng Kiều, họ thấy bản thân mình. Và Nguyễn Du “nếu không có con mắt trông thấu vào sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có bút lực ấy”.
Đoạn trích “ Trao duyên” mở đầu cho cung đàn bạc mệnh của Kiều, mở đầu cho cuộc đời thứ hai với những sóng gió, trớ trêu, đau đớn, nhớ nhưng mà xã hội đương thời đẩy vào cuộc đời nàng, một thiếu nữ tài hoa, xinh đẹp. Đọc đoạn trích ta xót thương cho số phận bi ai của nàng để từ đó, ta hiểu được trách nhiệm của mình là phải chung tay xây dựng một xã hội thật bình đẳng, tươi đẹp hơn:
Trải qua một cuộc bể dâu
Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình
Nỗi chìm kiếp sống lênh đênh
Tố Như ơi! Lệ chảy quanh thân Kiều
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn trích Tao duyên truyện Kiều | 2,928 | |
Phân tích đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích – Bình luận đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán (trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du
Bài làm
Về bố cục của đoạn thơ, có hai phần rõ rệt. Mười hai câu đầu: Thuý Kiều báo ân, còn hai mươi hai câu tiếp theo: Thuý Kiều báo oán. Ân, oán là hai khái niệm đối lập nhau nhưng con người hành động vẫn chỉ là một. Nguyễn Du vừa phải xây dựng một nhân vật đại diện cho công lí, cho lẽ công bàng, vừa phải cá tính hoá đến mức tối đa. Nói khác đi, phải nhìn nhân vật bằng "con mắt tinh đời" (như lời Từ Hải khen Kiều ngay lần đầu gặp mặt), ta mới thấy thành công và dụng ý của Nguyễn Du trong một tình huống.
1.Cảnh báo ân:
Cảnh báo ân tuy chỉ là cảnh phụ, nhưng ngoài ý nghĩa dọn đường cho cảnh chính tiếp theo, ngoài ý nghĩa độc lập tương đối, nó vẫn làm ta hiểu được một người, người ấy không phải là Thúc Sinh mà lại là Thuý Kiều. Thúc Sinh là người như thế nào, chúng ta đã biết, Thuý Kiều càng biết rõ hơn khi bản thân trả giá "Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng". Cảnh ghen tuông trong nhà Hoạn Thư mà Kiều là nạn nhân, tuy Thúc Sinh không phải là thủ phạm nhưng chàng cũng là một nguyên nhân gián tiếp. Điều này, chính chàng thú nhận "Vì ta cho luỵ đến người". Vậy nên, trước phiên toà, khi "cho gươm mời đến", Thúc Sinh đinh ninh là người có tội, mà tội không nhỏ với Kiều. Đã đành là người yếu bóng vía "Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run" chàng khiếp sợ. Đó là một thái độ tự nhiên vốn có của người biết lẽ phải đã hối hận, ăn năn. Chàng vốn là người như thế chứ không có chủ định làm ra như thế để nghĩ rằng: "Hình ảnh tội nghiệp của Thúc Sinh có thể làm Kiều động lòng trắc ẩn không nỡ đánh người yếu thế" như có người đã hiểu. Hiểu như thế không phải là cách để cao mà là hạ thấp nhân vật Thuý Kiều, biến một tầm suy nghĩ rộng sâu thành con người hời hợt. Gọi Thúc Sinh lên trước để đền ơn, và việc đền ơn rất hậu cho chàng là dụng ý, là chủ trương của người xử án. Tuy đối thoại với chàng chỉ có sáu câu nhứng là sáu câu đáng nói. Nó hàm súc lại bao nhiêu nghĩa nặng tình sâu mà kẻ chịu ơn chưa một dịp đáp đền:
Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non,
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân
Cần chú ý đến lời nói và giọng nói ở đây về lời nói, một tổ hợp từ gốc Hán phù hợp với sự trang trọng của kẻ đền ơn là một khía cạnh (khác hẳn với hệ thống từ ngữ sau đó nàng đối thoại với Hoạn Thư). Song, còn một khía cạnh thứ hai (mà ít người chú ý), ấy là ngôn ngữ gợi đến tình yêu, một tình yêu dang dở với chàng. Trong tiếng Việt tình vốn đi liền với nghĩa (tình nghĩa – tình chồng vợ nghĩa tao khang). Tinh (đồng nghĩa với duyên) với chàng Thúc tuy không còn, nhưng cái nghĩa dù chỉ một ngày thì làm sao mất được. Nghĩa ấy tương đương với nghĩa sinh thành, vì vậy mới có câu "Nghĩa nặng nghìn non" nghĩa mà rộng như biển Đông, cao như núi Thái Sơn, cách nói ấy tuy có ước lệ, hoa mĩ về hình thức diễn đạt nhưng tình cảm của nàng đâu phải là hời hợt. Đó là cách duy nhất mà nàng cho là phù hợp. Những từ Hán Việt nhằm cố định hoá, vĩnh viễn hoá tình yêu ấy: "Sâm Thương", "chữ tòng", "cố nhân" nhằm vào dụng ý ấy. Còn về giọng nói, Kiều vốn có một chất giọng "mặn mà", "sắc sảo" ("Kiều càng sắc sảo mặn mà"). Mặn mà với mối tình mà nàng đã một thời tự nguyện gắn bó, dù sự gắn bó ấy chỉ là một thứ bến đợi mong manh đối với con thuyền giữa mênh mông trôi dạt. Câu nói của Kiều có sự gợi khơi hơn là kể, tả. "Lâm Tri người cũ…" là một giọng nói vừa như một kí ức hiện về, vừa như một nỗi nhó xa xôi xao xuyến, bâng khuâng khó tả. Bao nhiêu là vương vấn đến nao lòng trong một câu nói đơn sơ của một người từng trải, từng trải mà vẫn hồn nhiên. Còn cái sắc sảo của Kiều chính là sự giải thoát cho Thúc Sinh ra khỏi mặc cảm của tội lỗi đã và đang hành hạ, giày vò: "Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?". Kiều đã hiểu cho Thúc Sinh, cho tấm lòng "cố nhân" vì dó là một cách nhìn đã "gạn đục khơi trong" của người tri kỉ. Tóm lại qua việc ứng xử với Thúc Sinh, ta có thể thấy Kiều là con người hiểu đời và hiểu người với tấm lòng vị tha chứ không bao giờ vị kỉ.
2.Cánh báo oán:
Về hình thức phân đoạn thì khá rạch ròi hai cảnh. Nhưng bốn câu cuối nói với Thúc Sinh trong cảnh báo ân nên dành cho phần báo oán. Bởi lẽ minh oan cho Thúc Sinh khi đề cập đến vợ chàng là không chỉ trò chuyện với chàng mà để dọn đường cho cảnh tiếp theo: báo oán (có người đưa nó lên phần báo án là khiên cưỡng).
Như ở trên đã phân tích, nếu việc trả nghĩa Thúc Sinh là nằm trong ý định của nàng Kiều, thì việc trừng phạt đối với Hoạn Thư còn hơn một ý định. Vì hơn một ý định, không chỉ "ăn miếng trả miếng" với Hoạn Thư, tâm sự với Thúc Sinh phải chăng nàng còn tạo sự đồng cảm sẻ chia giữa hai người "trong cuộc". Nói thì nói với chàng Thúc, mà thực chất là đối thoại với kẻ vô hình, với nhân vật thứ ba còn chưa xuất hiện. Trong đối thoại ngắn này, ý định của Thuý Kiều dường như không gì lay chuyển được. Bởi ý định ấy, cơn dông bão ấy đâu chí hình thành từ ngày một ngày hai. Nó đã nung nấu trong sự sắc nhọn ngôn từ, một phong cách lời thơ khác hẳn:
"…Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau.
Kiến hò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa".
Chỉ nội bốn câu thơ mà đã có đến hai thành ngữ dân gian: "kẻ cắp bà già", "kiến bò miệng chén", một lặp ý "quỷ quái, tinh ma", một đối lập giữa "mưu sâu" với "nghĩa sâu"… nghĩa là toàn ngôn ngữ đời thường mang tính chất văn xuôi (phá vỡ mọi ước lệ, công thức của văn chương bác học) nhằm bóc trần ý định, rạch ròi, dứt khoát, không do dự, quanh co giấu giếm cùng với cách dùng từ, giọng nói của nhân vật vừa nói với người (Thúc Sinh) vừa như tự nói với mình về cơn sấm sét do nắng hạn lâu ngày, nó phải bùng lên đầy phẫn nộ. Việc làm ấy không chỉ thế, không chí trong ý định, nó còn ở trong tầm tay với "gươm lớn giáo dài", giữa thanh thiên bạch nhật. Và việc làm ấy nếu diễn ra, nó chỉ như trong một nháy mắt, hơn nữa được sự đồng tình của bất kì ai nếu hiểu nàng và đứng về công lí.
Lúc cho gọi Hoạn Thư lên, ý định ấy vẫn là ý định. Nó còn được củng cố, bổ sung trong cái tình cảm hận thù khi phải đối mặt với kẻ đã đày đoạ nàng, một con người vô tội. Đối thoại với Hoạn Thư lúc này, nàng lại dùng một phong cách ngôn ngữ khác thường chứ không thể bình thường như với bất kì ai trong truyện. Mạch thơ được đẩy lên đến cao trào nhưng tạm thời nó đi vào một lối khác theo kiểu "vờn mồi". Hoàn cảnh găp nhau giữa hai người tuy hoàn toàn đã khác, đã thay bậc đổi ngôi, nhưng Kiều cố tinh làm như nó không hề khác, Kiều vẫn như còn ở trong nhà "Họ Hoạn danh gia" với tư cách con ở, con đòi:
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
"Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!".
Giả vờ đon đả, cung kính, thân tình nhưng đằng sau cái ngọt ngào hình thức là hàm chứa tích tụ bao nhiêu cay đắng bên trong. Cho mời gọi chủ động mà Kiều cứ làm như một kẻ vô tình bất ngờ gặp mặt. Tuy trước mặt Kiều, Hoạn Thư là một tên tội phạm sẽ bị trừng trị đáng dời nhưng miệng lưỡi nàng vẫn chào thưa, vẫn "trân trọng" gọi đúng cái danh xưng ngày trước vẫn gọi (tiểu thư). Cách tạo lại bối cảnh, không gian, ngôn từ "thưa gửi" ấy hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Hoạn Thư hẳn cũng biết thân phận của mình, kẻ "gieo gió" thì "gặt bão" ấy là một lẽ đương nhiên. Có trong đó chút mỉa mai, châm chọc cũng là sự nén lại bao uất ức, xót xa mà lúc này đây Kiều mới tự giải toả được cho mình. Nhưng dù sao, đấy cũng mới chỉ là phút giáo đầu "văn vẻ". Đây mới là giọng nói thực (chứ không phải "nói nhại" như trên) của nàng:
"…Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Cũng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều".
Bốn câu thơ nói bằng chất giọng răn đe, ít mang tính chất cá thể, cá nhân như mấy câu trước đó. Bởi lẽ Kiều tuy là nạn nhân nhưng đang ở vào vị trí cao hơn vị thế nạn nhân, nàng là một quan toà, đại diện cho công lí. Tuy là tiếng nói của công lí, nhưng từ một người bị oan ức, bị đè nén nói ra, nó vẫn có một giọng điệu riêng, ở đó có sự pha trộn công tư không dễ dàng tách bạch. Tính cụ thể của nghệ thuật, ở đây là nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du cần hiểu trong văn cảnh ấy, trong quan hộ ấy mà nó không thể trừu tượng, chung chung. Gây hận thì sẽ chuốc thù. Nhưng "gây hận" theo kiểu Hoạn Thư thì xưa nay chưa có ("Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!"). Phải tối tăm tâm địa đến mức nào, phải tàn ác đến mức nào, người ta mới có thể đoạ đày con người đến thế. Kẻ "ra tay" ấy vẻ giới tính lại là đàn bà. Ý nghĩa điển hình cho tội ác của Hoạn Thư là ở cả trên hai phương diện ấy. Sự trừng phạt của Thuý Kiều theo quy luật "Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều" là hợp lô gích, được nhân tâm và lẽ phải dồng tình.
Nhưng ta biết sau đó, Kiều không làm theo ý định ban đầu, Hoạn Thư được tha, thì đấy lại là một thứ lô gích khác, đối lập mà thống nhất trong một nhân vật nàng Kiều. Kết cục này gây một bất ngờ lớn, một sự xôn xao trong dư luận người đọc từ đó đến nay, và biết đâu, nó cũng nằm ngoài ý định của chính Nguyễn Du vì ông trong một chừng mực nào đó đã hoá thân vào nhân vật nàng Kiều, phải giải quyết vấn đề theo quy luật khách quan vói tư cách là một người ngoài cuộc?
Theo dõi diễn biến phiên toà, ta thấy gì? Trước hết là sự tham sống sợ chết của kẻ tội phạm ở vào bước cùng đường, không có cách gì tránh được cái chết. Điều này không lạ, vì dù ở vào hoàn cảnh nào, Hoạn Thư cũng tham sống như ai. Sau đó là van nài, năn nỉ. Đến lúc này đây, sau phút hoảng sợ ban đầu, Hoạn Thư mới chính là Hoạn Thư. Lấy lại sự tĩnh tâm (trong hoàn cảnh khó mà tĩnh tâm), từ thế bị động, y đã chuyên sang chủ động. Chủ động nhưng phải biết điều, Hoạn Thư biết người biết mình là trong cái chừng mực tinh vi ấy "Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca". Hoạn Thư "kêu ca" những gì mà sau đó đã đảo ngược tình thế, mà Kiều phải tấm tắc: "Khen cho: thật đã nên rằng – Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời"? Trong tám câu gỡ tội và thanh minh của Hoạn Thư – theo cách nói hiện đại bây giờ – là lập luận theo kiểu tư biện, nhưng ở vào văn cảnh ấy, nó lại rất thấu lí đạt tình. Tình, lí ở đây xen kẽ nhau khi thắt khi cởi, khi nắm khi buông rất khó rạch ròi. Cái lí ghen tuông tuy không là luật lệ nhưng lại là một thực tế vì cảnh "chồng chung" xưa nay vẫn thế ("Chém cha cái kiếp lấy chồng chung" – Hồ Xuân Hương). Nhưng ngay khi ở vào hoàn cảnh "chồng chung", Hoạn Thư cũng dã có thiện chí mở đường:
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
"Tình" như thế là rõ. Rõ rồi mà Hoạn Thư vẫn khiêm nhường nhũn nhặn xin được "nghĩ cho" thì làm sao Thuý Kiều không "nghĩ"? Rồi cái lí được lặp lại lần thứ hai, vẫn cái lí "chồng chung" ("Chồng chung chưa dễ ai chiểu cho ai"). Rồi kèm với cái tình nhằm kêu gọi sự bao dung, che chở cho một kẻ đáng thương:
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.
Theo cách nói của Hoạn Thư thì việc xưa đã lỡ, đã "trót", nay chỉ còn hi vọng ở tình thương mà người y nhờ lại là "lượng bể". Ấy là chưa nói cái "khôn ngoan đến mực" của Hoạn Thư trên hai khía cạnh: một là mụ không nói gì đến tội ác nói chung, chỉ tự khoanh vùng trong một phạm vi hẹp: tội ghen tuông mà "Ghen tuông thì cũng người ta thường tình". Ghen tuông do đàn bà mà ra, nhưng thương người çùng cảnh thì cũng chỉ đàn bà mới có. Gửi gắm kín đáo hai khía cạnh trên vào lời cầu xin, phải chăng Hoạn Thư đã là người dàn bà trong muôn một "Đàn bà dễ có mấy tay". Đánh vào tình thương của một người vị tha, tình thương trong hoàn cảnh có thể còn thương một kẻ ăn năn hối lỗi, Hoạn Thư dã khơi đậy ở Kiều sự bao dung, che chở, cả sự mang tiếng vị kỉ, "nhỏ nhen". Tâm thế của Kiều trước lúc tha cho Hoạn Thư tuy có cân nhắc, lưỡng lự vài giây giữa sự trừng phạt hay không trừng phạt kẻ có tội cũng dáng "thương tình". Sức mạnh của lòng tự ái và tự trọng đã dẫn nàng đi đến kết cục cuối cùng như ta đã biết.
Trừng phạt Hoạn Thư là một khả năng rất dễ xảy ra vì điều kiện khách quan và chủ quan đã đủ. Đó là nguyện vọng của mọi người chứ không chỉ của một nạn nhân. Tiếng nói của công lí phải minh bạch, rõ ràng. Nhưng không trừng phạt Hoạn Thư, tuy công lí không được thực hiện ở cái mức thoả đáng, song kẻ phạm tội đã biết cúi đầu, lẽ phải ít nhất một lần cũng đã dõng dạc vang lên. Điều chủ yếu, cách xử lí của nàng Kiều giữ lại nơi chúng ta: một nhân vật, một con người như hiện ra bằng xương bằng thịt. Một nhân vật như Thuý Kiều không có một cách giải quyết nào cho khác hon trong hoàn cảnh đó. | Phân tích đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán của Nguyễn Du | 2,715 | |
Phân tích đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều
Truyện Kiều của Nguyên Du thật sự đã mang tới cho người đọc những cảm xúc những bài học cuộc sống không những thế còn thương cảm cho nàng Kiều và cho những mối tình giang giở của nàng. Cuộc đời Kiều nếu mối tình đầu là Kim trọng đã mang lại cho Kiều những tình cảm đầu đời thì Từ Hải là một người anh hùng là bờ vai mà Kiều có thể tựa vào. Bên cạnh đó một người mà Kiều dành tình cảm nhiều không kém đó chính là chàng Thúc Sinh. Đây cũng chính là nguyên do mà Nguyễn Du đã cho ra đời đoạn trích Thúc Sinh từ biệt thúy Kiều với những câu thơ thấm đậm tình cảm đồng cảm.
Thúc Sinh là một người đã có vợ Nhưng thúc sinh đã cứu rỗi cuộc đời của thúy Kiều thoát khỏi kiếp lầu xanh nhơ nhuốc nên Kiều rất lấy làm cảm tạ. Đoạn trích Thúc Sinh từ biệt THúy KIều đã lấy đi nhiều nước mắt của độc giả khi chứng kiến tình cảnh éo le của hai con người này.
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Dặm hồng, bụi cuồn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Đây là một trong những câu thơ mở đầu của cảnh tượng từ biệt giữa Thúy Kiều và Kim trọng đầy đau lòng. Đó chính là khi cô rơi vào hoàn cảnh cuộc đời là một cô kĩ nữ lầu xanh, đã chung chăn gối biết bao nhiêu người đàn ông, nhục nhã khiến cho lương tâm cô lúc nào cũng không yên nhưng chàng trai tưởng rằng thói trăng hoa Thúc Sinh ấy lại mang lại những ngày tháng hạnh phúc cho Kiều.
Sống bên thúc Sinh với không một danh phận gì nhưng ít ra bên cạnh Thúc Sinh thúy Kiều thoát khỏi cảnh tiếp khách và ê chề với những đêm và thú vui của khách làng chơi. Thúy Kiều cảm thấy biết ơn cũng khiến cho Kiều mên chàngnhưng nỗi chàng lại là người có vợ và người vợ ấy lại rất co uy quyên khiến cho Kiều không thể không e ngại. KHuyên Thúc Sinh trở về bên Hoạn Thư nhưng thâm tâm nàng vẫn như muốn níu lấy chàng lại. điều này được thể hiện khi Kiều níu lấy vạt áo chàng Thúc bịn rịn khó rứt ra rồi khi chàng Thúc lên đến ngựa thì nàng mới chịu buông tay “chia bào”. Có thể nói đó là một hình ảnh đầy nỗi buồn của Kiều. Bước chân ngựa xa vạn dặm, bụi cuốn theo những bước ngựa phi ấy thì dần dần hình ảnh chàng Thúc cũng khuất dần sau ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi,
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Tất cả như nhuốm một màu tâm trạng vừa buồn tủi lại vừa thương thay cho số kiếp của mình, đó là một nỗi buồn thương vô hạn, tất cả sự chung đôi như tan biến vĩnh viễn, tất cả những niềm vui, niềm hạnh phúc cũng theo chàng Thúc Sinh. ở lại bên cạnh Thúy Kiều chỉ còn lại đây những tàn tạ của cảnh vật của tâm trạng. Thúy kiều như mong mỏi, thức trắng nhớ thương hay thiếu bóng chàng Thúc Sinh. Giờ đây khi người thương đã đi khuất bóng thì chỉ còn mình nàng ngồi đây với những buồn thương tủi phận. Vầng trăng không còn nguyên vẹn mà nó nhuốm màu của sự chia lynhư bị xẻ làm đôi và không biết rằng ai sẻ. Sự trống trải lẻ bóng và tâm trạng buồn phiền của Kiều đã nhuốm lấy mọi vật xung quanh
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều | 654 | |
Phân tích đoạn trích Thề nguyền trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Đoạn trích Thề nguyền trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Mở bài:
Truyện Kiều là tác phẩm văn học xuất sắc nhất của thiên tài Nguyễn Du và của nền văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Không những là một kiệt tác bất hủ, truyện Kiều còn ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và đời sống của con người Việt nam nhiều thời đại. Đoạn trích Thề nguyền trích từ câu 431 đến câu 452 trong Truyện Kiều. Đoạn trích kể về việc Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng và làm lễ thề nguyền gắn bó trước vầng trăng sáng vằng vặc:
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình
…………………………………….
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng[ đến xương.
Thân bài:
Thúy Kiều táo bạo băng lối vườn khuya tìm đến với Kim Trọng:
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Tác giả dùng hai lần chữ “vội”, một lần chữ “xăm xăm”, một lần chữ “băng” để diễn tả tâm trạng, tình cảm của Kiều. Mặt khác thể hiện sự khẩn trương, vội vã của nàng trong hành động táo bạo, đột xuất, bất ngờ.Kiều như tranh đua với thời gian và định mệnh đang ám ảnh mà cũng vì tình yêu với Kim Trọng mà Kiều vội vã đến vơi chàng Kim.
Thông thường, quan niệm Nho giáo cho rằng trong quan hệ nam nữ, bao giờ người con trai cũng phải đóng vai trò chủ động. Người con gái không bao giờ là người chủ động trong tình yêu. Thế nhưng, lần đầu tiên trong lịch sử, Nguyễn Du đã để cho Kiều hành động như thế. Đây là một nét mới trong cách nhìn tình yêu của Nguyễn Du. Nhưng ỏ đây, Nguyễn Du đã nhấn mạnh sự chủ động của Kiều – người con gái. Nhà thơ có cái nhìn vượt trước thời đại, hướng đến sự bình đẳng trong tình yêu lứa đôi và trong cuộc sống xã hội của mỗi con người.
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
Không gian đêm thần tiên, hư ảo được tả bằng các hình ảnh ánh trăng nhặt thưa, ngọn đèn hiu hắt, tiếng bước chân nhẹ nhàng tạo ấn tượng cho Kim Trọng như đang sống trong mơ. Không gian như cần thêm ánh sáng, cần thêm hương thơm và sự ấm áp. Đó là không gian đẹp, nhưng có cảm giác hư ảo, không có thực, con người rất cô đơn giữa trời đất bao la:
Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê.
Tiếng sen sẽ động giấc hè,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Kiều đến và tỏ bày về hành động của mình:
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”
Biết là trái với luân thường đạo lí, nhưng ngọn lửa tình yêu cháy bỏng khiến nàng mạnh bước vượt qua. Sợ Kim Trọng không vừa ý nên tỏ lòng cho rõ nguồn cơn.
Cuộc thề nguyền gắn kết trăm năm:
Cuộc thề nguyền tuy vội vàng nhưng cũng đủ cả các hình thức nghi lễ. Hai mái đầu xanh cùng ngước lên trời cao, có vầng trăng chứng giám lời thề, tình yêu tự nguỵen và chung thuỷ của họ:
Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi.
Vừng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Hình ảnh: “Đinh ninh ….song song” và lời thề: “Trăm năm…..xương” thật cảm động và thiêng liêng, lãng mạn và đầy chất lí tưởng.
Đoạn trích cho thấy tình yêu của con người là rất cao đẹp và thiêng liêng. Lời thề của họ được vầng trăng chứng giám. Đoạn Trao duyên là sự tiếp tục một cách lôgic quan niệm và cách nhìn tình yêu của Thuý Kiều. Ngược lại đoạn trích này cũng góp phần hiểu đúng đoạn Trao duyên, vì đây là một kỉ niệm đẹp đối với Kiều và Kiều sẽ nhớ lại những chi tiết trong đêm thề nguyền thiêng liêng này. Bởi vậy khi phải phụ lời thề để báo hiếu Kiều luôn nhớ chàng Kim với buổi thề nguyền với tâm trạng đau xót, tiếc thương. Hành động trao duyên tả nghĩa chàng Kim làm dịu đi phần nào nỗi đau của Kiều
Kết bài:
Thề nguyền là đoạn thơ chứng tỏ quan niệm mới mẻ táo bạo của Nguyễn Du về tình yêu. Mặt khác chứng minh tình cảm say đắm, mãnh liệt, chủ dộng và rất đỗi trong sáng, thiêng liêng của Kiều – Kim. Đoạn thơ đã trở thành bản tình ca bất diệt về tình yêu đầy lãng man, lí tưởng táo bạo. Đây là cái nhìn mới mẻ, giàu tính nhân văn của Nguyễn Du về tình yêu.
Phân tích ý nghĩa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều Nguyễn Du: Một vẻ đẹp làm mê mị lòng người | Phân tích đoạn trích Thề nguyền trích Truyện Kiều của Nguyễn Du | 872 | |
Phân tích đoạn trích Thề Nguyền
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Thề Nguyền
Thề nguyền là một trong những đoạn trích tiêu biểu chtình yêu trong sách, thủy chung mà không kém phần bạo dạn của Thúy Kiều- một cô gái trong xã hội phong kiến, sẵn sàng vượt những hủ tục để có được tình yêu với Kim Trọng
Mở đầu đoạn trích với cảnh Thúy Kiều lén sang gặp Kim Trọng lần hai khi thấy cha mẹ chưa về:
Sông Tương một dải nông sờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia
Một tường tuyết trở sương che
Tin xuân đâu dễ đi về cho năng
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Kiều đi tìm gặp Kim Trọng, Nàng với những bước chân nhanh nhẹn “xăm xăm”, can đảm đến bên nhân tình cùng nhau xướng họa văn thơ, tâm sự bầu bạn. Quả thật trong xã hội phong kiến xưa, nhưng hủ tục trói buộc con người, tạo ra một bức tường ngắn cách tình yêu đôi lứa, nhưng Kiều một cô gái có trái tim bồng bột ngây thơ, với sự táo bạo, chủ động trong tình yêu, thê nguyền với người mình yêu khi không có sự cho phép của cha mẹ mình cho thấy trong nàng có khao khát một tình yêu tự do, chính đáng, một tình cảm mãnh liệt với Kim Trọng đồng thời, nàng đang vì chính mình tranh đua với thời gian, định mệnh để tìm kiếm hạnh phúc. Theo từng bước đi đó của Thúy Kiều là tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Du, mở rộng danh giới tình cảm cho nhân vật. Nàng cứ thế bước đi trong vườn khuya, dần lạc vào ảo mộng:
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu!
Sinh vừa tựa án thiu thiu
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê
Từ thực tại bước vào ảo mộng, từ nơi cỏ cây vườn tược, nàng bước đi để lại sau lưng vườn khuya để đến với tình nhân cũng là lúc bước vào cõi mộng. Chỉ có nàng mới hiểu thấu được rằng trái tim nàng đang nằm ở đó, bên cạnh Kim Trọng- người nàng yêu. Cả hai tầng ánh sáng cũng soi rọi bước chân nàng, ánh đèn hòa cùng ánh trăng, dường như ánh trăng tạo nên chất thơ dẫn dắt tình cảm của Kiều đến đúng nơi cần đến. Còn đối với Kim Trọng sự xuất hiện của Kiều như một giấc mộng, với trạng thái chập chờn giấc ngủ, đường ranh giới mơ thực mỏng manh, không còn được phân định rõ ràng. Nhưng khi nhận ra, chàng lại thấy hạnh phúc, bâng khuâng trước sự xuất hiện đột ngột của tình nhân, xáo trộn không gian nơi căn nhà. Nhìn Thúy Kiều đẹp mờ ảo:
Tiếng sen sẽ động giấc hòe
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần
Bóng Kiều hiện ra thật đẹp, vẫn trạng thái mộng thực đan xen lẫn lộn, Bóng người và bóng trăng như hòa làm một. Vừa gần mà lại xa, tưởng chừng trong tầm tay mà lại khó nắm băt. Cả hình ảnh và âm thanh đều rất mơ hồ bởi những bước chân của nàng Kiều quá đỗi khẽ khàng, chỉ như một cơn gió thoảng qua. “giấc hòe” trong câu thơ thực chất là giấc mơ của Kim Trọng, Sự xuất hiện của Thúy Kiều “sẽ động” giấc mơ kia. Khi chàng đã nhận ra Kiều nhưng vẫn không khỏi những ngỡ ngàng, phân vân:
Còn nhờ giấc mộng đêm xuân mơ
Giấc mộng đêm xuân hay còn là giấc mơ của tình yêu có thật. Nguyễn Du không tự nhiên đưa ra hai giấc mơ, cũng là sự vận dụng điển tích quen thuộc trong văn học trung đại.
Trước những ngỡ ngàng, hanh phúc của Kim Trọng, Kiều giãi bày lí do nàng chủ động sang nhà Kim Trọng:
Nàng rằng: khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đây rồi nữa chẳng là chiêm bao
“Khoảng vắng đêm trường” là không gian thời gian tâm lí bởi vì Kim Trọng trọ học ở ngay gần nhà Kiều mà Kiều sang gặp Kim Trọng đúng sau ngàu thanh minh vậy mà cảm giác như đã xa nhau một khoảng thời gian lâu lắm rồi. Kiều thể hiện nỗi nhớ niềm thương qua chứ “hoa”, tình yêu sâu sắc của nàng dành cho Kim Trọng. Nhưng Kiều luôn chiu sự ảm ảnh về tình yêu và số phận sau cuộc gặp gỡ hữu duyên ở mộ Đạm Tiên, nàng có dự cảm về một tương lai bất hạnh chia lìa. Nàng Kiều là một người con gái nhạy cảm lại đang ở mối tình trong sáng, quấn quýt thì nỗi lo lắng về sự xa cách luôn luôn thường trực.Qua đó thể hiện quan niệm của nàng, phá vỡ những hủ tục lạc hậu trong xã hội phong kiến, tim sự chủ động trong tình yêu và trân trọng nó.
Vầng trăng vằng vặc giưax trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trăm năm rác một chữ đồng đến xương.
Đây là một cuộc thề nguyền vụng trộm nhưng lại được Nguyễn Du miêu tả một cách trang trọng, thiêng liêng trong không gian ấm cúng. Trong hoàn cảnh ấy, lời thề trở thành một sợi dây vô hình gắn kết hai trái tim, hai tâm hồn “tạc một chữ đồng đến xương”
Qua đoạn trích Thề nguyền, Nguyễn Du đã xây dựng một khung cảnh tuyệt đẹp đó là đêm trăng lãng mạn soi chiếu đôi nhân tình, đề cao tình yêu thủy chung của Kiều và gợi những ám ảnh định mệnh cứ mãi trong tâm trí nàng, khiến nàng mãi lo sợ vụt mất tình yêu của mình, một tình yêu trong sáng mà không kém phần sâu sắc. | Phân tích đoạn trích Thề Nguyền | 974 | |
Phân tích đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du
Tình duyên là thứ tình cảm tự nhiên, thuần khiết xuất phát từ những người khác giới, nó vốn không thể gượng ép, càng không thể cưỡng cầu. Thế nhưng trong đoạn trích Trao duyên, nhân vật Thúy Kiều đã nhờ em gái của mình là Thúy Vân thực hiện lời hẹn ước với chàng Kim. Khung cảnh trao duyên diễn ra cũng thật đặc biệt.
Thúy Kiều đã từng đính ước với chàng Kim trong đêm trăng thề nguyền, nhưng cuộc sống đổi thay, Kiều phải bán mình cứu cha, không đành lòng với lời nguyện ước dở dang, Thúy Kiều đã tìm cách để làm vẹn tròn tất cả, chí ít cũng làm cho chàng Kim bớt những đau đớn, buồn khổ khi nàng ra đi. Thúy Kiều đã tìm đến Thúy Vân để nhờ nàng thay mình thực hiện lời ước hẹn ấy:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Hai câu thơ đầu tiên thật chua xót, đau đớn. Tác giả Nguyễn Du đã rất tinh tế khi sử dụng từ “cậy”, đặc biệt tác giả còn đảo lên đứng đầu câu đã thể hiện được tình thế đầy éo le, khó mở lời của Thúy Kiều. Từ cậy vừa mang ý nghĩa nhờ vả lại vừa mang ý ép buộc, không để cho đối phương từ chối.
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc ai
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề”
Thúy Kiều đã kể với Thúy Vân về tình duyên đẹp nhưng đầy dang dở của mình với chàng Kim, tình yêu của nàng dành cho chàng Kim là một tình yêu say đắm, chân thành. Nàng cũng kể về việc hẹn ước, trao duyên của hai người như lí giải cho lí do mà nàng nhờ cậy Thúy Vân. Sở dĩ Kiều không thể tự mình thực hiện được lời đính ước là vì những sóng gió bất ngờ ập tới trong cuộc đời của nàng:
“Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Qua những câu thơ này ta có thể thấy được Thúy Kiều đã ý thức rất rõ về hoàn cảnh cũng như nỗi đau của mình. Để cứu cha, làm tròn chữ hiếu của người con, nàng đã bán mình cứu cha, dù nặng lòng với chàng Kim nhưng đứng trước chữ Hiếu nàng đành phụ tấm lòng của chàng Kim. Không muốn chàng Kim phải buồn đau, nàng đã trao duyên cho Thúy Vân.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây”
Thúy Kiều và Thúy Vân đều đang ở độ tuổi đẹp nhất của người con người, Thúy Kiều đã nhắn nhủ với Thúy Vân “ngày xuân em hãy còn dài” thể hiện mong muốn nối tiếp tình duyên với chàng Kim giúp mình. Có thể thấy, ngay khi còn sống trong cảnh “êm đềm chướng rủ màn che thì Thúy Kiều luôn có dự cảm không lành về tương lai của mình.
Trong câu thơ này, Thúy Kiều đã nhắc đến cái chết, và nếu Thúy Vân đồng ý với lời cậy nhờ của nàng thì dù có chết nàng cũng cảm thấy thanh thản, qua đây ta thấy được con người nặng tình nặng nghĩa của Thúy Kiều.
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”
Trong xã hội phong kiến nhiều bất công, đen tối, Thúy Kiều lẽ ra phải được hưởng hạnh phục trọn vẹn nhưng cuối cùng, để làm tròn chữ Hiếu, nàng phải lựa chọn con đường nhiều khổ đau, bất hạnh với mình. Đối với Thúy Kiều, cái chết cũng chẳng phải kết thúc đau đớn nhất đối với nàng bởi nàng còn măng nặng nỗi day dứt với chàng Kim, với cuộc đời. | Phân tích đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du | 675 | |
Phân tích đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Phan tich doan trich Trao duyen – Đề bài: Em hãy viết bài văn Phân tích đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều
Bài làm 1
Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng “để lòng thị phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác. Từ “cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm một cử chỉ thiêng liêng là “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào! Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình thường của Thúy Vân không bao giờ biết được:
“Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai”
Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu – tình là hai giá trị tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay đắng lựa chọn chữ “hiếu”. Mà chỉ có ba điều tồn tại: “Đức tin, hi vọng và tình yêu, tình yêu vĩ đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ngày xuân em hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn lao.
Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim:
“Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung”
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì, nàng trao duyên, trao cả những kỷ vật tình yêu cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tờ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.”
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng, cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá cây”, với “hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách mình là “phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ chàng”. Chính tâm lý mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên “Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện của Thanh Tâm Tải Nhân là một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều thì lại càng đau đớn hơn.
Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên Đường Chủ nhân là khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo?
Bài làm 2
Con người khi đứng trước sự lựa chọn của bên nghĩa bên tình thì rất khó lựa chọn. Tuy nhiên thì công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả vậy cho nên nếu là một người con hiếu thảo yêu thương cha mẹ của mình thì dẫu cho tình yêu kia có đẹp đến mấy thì vẫn quyết định chọn chữ nghĩa để trả ơn bố mẹ. kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã chọn chữ “nghĩa” lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn vù đắp cho tình cảm kia của mình. Vì thế nàng quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Đoạn trích trao duyên thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên của mình cho nàng Thúy Vân.
Duyên là một thứ để cho con người ta gặp gỡ, để mà yêu nhau và nếu có phận thì sẽ có thể bên nhau đến trọn đời. Và đặc biệt cái duyên cái nợ là do ông tơ bà nguyệt se tơ kết tóc nối duyên. Thế nhưng ở đây Thúy Kiều đã như đoạt lấy cái quyền hành ấy mà để nối duyên của mình cho em. Nàng có duyên với chàng Kim Trọng nhưng lại không có phận vì thế cho nên nàng muốn nối duyên cho em. Vì trong thâm tâm nàng đó như một cái để nàng đền đáp những ân tình của chàng Kim mà chàng đã trao cho nàng. Trao duyên đi lòng nàng không khỏi đau xót vì tình yêu duy nhất và đầu tiên của nàng đã không thành. Phải chăng tình đầu là dang dở.
“Cậy em em có chịu lời.
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Là một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế nhưng ở đây Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm chân tình với Kim Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” là những từ để chỉ thái độ kính trọng của người dưới đối với người trên thế mà ở đây bị xáo trộn. Thúy Kiều là chị nhưng lại phải lạy em cậy nhờ. Cái “cậy” kia mang ý nghĩa ép buộc Thúy Vân phải làm nhiều hơn là nhờ.
Nói là nhờ thì lại rất bình thường nhưng nói là cậy thì cái nhờ vả kia lại nặng hơn gấp bội. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng Kim.
Nàng cậy nhờ rồi nàng nói lên những lời tâm tư tình cảm của bản thân mình. Đó là những tâm sự tận sâu trong đáy lòng của nàng:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai. ”
Nàng như thể hiên được cái nỗi đau xót của bản thân mình khi tình duyên lỡ dở. Chính vì chữ hiếu mà nàng hi sinh chữ tình phụ chàng Kim. Và có lẽ thế nàng vừa đau xót cho thân mình vừa đau đớn cho cuộc tình dang dở. Chàng Kim ấy vẫn đang chịu tang nơi quê nhà không hề hay biết những chuyện nơi đây. Nàng chỉ mong Vân có thể nối duyên bù đắp những gì của mình vẫn còn dang dở. Chính vì thế mà Kiều mong Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình mà chắp mối tơ loan với chàng Kim Trọng. Sự ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. Dù cho là chị em nữa nhưng phải gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao và thứ mà người ta không muốn nhận thì chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được “ Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Vốn dĩ chữ tình và chữ hiếu không thể đặt lên bàn mà cân cho được.
Thúy Kiều vịn vào tình cảnh của gia đình hiện tại và thêm nữa là tình máu mủ ruột già. Điều đó càng làm cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!”
Rõ ràng cả hai chị em cùng đến tuổi xuân xanh đang tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân, tuổi biết yêu thương lấy một người nào đó. Vậy mà Kiều lại nói là tuổi xuân của Thúy Vân còn dài trong khi mình thì nào có khác đâu. Nói như thế để cho thấy Kiều như đã xác định được con đường mà nàng sắp phải đặt chân đến, không yên bình như những ngày tháng trước đây nữa mà sóng gió có thể mang cô đi bất cứ lúc nào. Kiều mong vân xót tình chị em máu mủ ruột già mà hãy chấp nhận lời thay chi làm trọn lời hẹn thề với chàng Kim. Nếu được như thế thì ngay cả khi những sóng gió kia bủa vây lấy nàng cướp nàng đi khỏi thế gian này. Mặc cho sang thế giới bên kia không còn nguyên vẹn thì Kiều cũng cảm thấy thơm lây cái sự hi sinh của em gái cho mình.
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Chiếc vành với tờ mây kia chính là những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng nhau thề nguyền sống chết, họ đã có với nhau những ngày tháng hạnh phúc những niềm vui tràn ngập vậy mà giờ đây cái xã hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu mà hi sinh chữ tình. Nàng chỉ mong mai này khi chàng Kim và em của nàng có thành duyên vợ chồng rồi thì mong họ hãy nhớ đến nàng. Những kỉ vật tình yêu của nàng với chàng Kim chỉ mong tham lam giữ thành của chung của ba người. Dẫu đã trao cho Thúy Vân những kỉ vật ấy nhưng nàng vẫn luyến tiếc và mong rằng nó sẽ là của chung. Nguyễn Du không đặt những kỉ vật ấy vào trong cùng một câu thơ mà lại chia ra thành mấy câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng như cố níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho Vân những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào mà đền đáp tấm ân tình của chàng Kim trọng được. Có thể nói qua những câu thơ trên tâm trang của thúy Kiều được hiện thật sự rất rõ nét. Đó chính là tâm trạng mong muốn trở lại những ngày tháng trước đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy.
Kiều đau đớn như nghĩ đến cái chết, có lẽ là nàng tưởng tượng ra cảnh mai này Kim và vân sống hạnh phúc mà nàng phải chứng kiến cảnh yêu thương của họ thì nàng sống không bằng chết. Hay từ khi xác định bán thân nàng đã quyết định chọn cái chết để kết thúc cuộc đời này. Tuy vậy nàng vẫn mong rằng:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan”
Sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật sự đau oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau nếu thấy hiu hiu gió thì có thể cảm nhận là nàng đang về. Cơn gió kia thể hiện sự vương vấn cõi trần này của nàng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều có nát thân liễu yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong kim và Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan là Thúy Kiều. Có thể nói cuộc sống của con người ai mà chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự cảm thấy rất đau khổ không thể nào có thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ đến. kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con dường mà nàng sắp đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.
Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư của nàng Thúy kiều. Tình đầu là thứ tình cảm thiêng liêng đẹp đẽ nhất, duyên phận vốn trớ trêu với con người. Chính vì thế chữ tình kia không trọn cho phận má đào. Cô không muốn chàng Kim đợi chờ mình mà mong rằng Thúy Vân em cô sẽ giúp cho anh có một cuộc sống hạnh phúc. Dẫu biết vậy nhưng nàng không khỏi đau khổ khi trao duyên. | Phân tích đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du | 2,951 | |
Phân tích đoạn trích Trao Duyên trong Truyện Kiều
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Trao Duyên trong Truyện Kiều
Bài làm:
Trao duyên là đoạn trích ghi dấu niềm đau đớn nhất trong những năm tháng bi ai đầy biến động của người con gái tài sắc vẹn toàn Thúy Kiều. Kiều đền ơn sinh thành, đặt chữ hiếu lên đầu không hề oán hờn nhưng nghĩ tới Kim Trọng, tới lời thề vàng đá, Kiều day dứt không nguôi. Đoạn trích thể hiện bi kịch tình yêu và nhân cách của Kiều, nó như bản lề khép mở đối lập hạnh phúc và đau khổ cho thấy tài năng miêu tả nội tâm nhân vật tài tình của thi hào Nguyễn Du.
Kiều một mình đứng ra thu xếp cơn gia biến của gia đình, phải bán mình chuộc cha, nàng cũng nghĩ đến nỗi khổ của người mình yêu, không đành lòng với tấm chân tình của Kim Trọng. Phải làm sao đây cho trọn chữ hiếu, chữ tình? Kiều đành phải nhờ em gái Vân thay chị trả nghĩa cho Kim Trọng.
Ở phần đầu đoạn trích, Kiều xưng hô chị em rõ ràng với Vân nhưng đến đoạn sau khi duyên đã trao Kiều cảm thấy tình duyên của mình đến đây đã hết nên xưng mình là kẻ hồng nhan bạc mệnh như quên rằng đang nói với em mà chuyển sang nói với Kim Trọng, đó quả thực là đoạn đối thoại đau khổ tột cùng với người yêu trong tâm tưởng. Kiều thương mình và thương người yêu, nghĩ tới nỗi đau của Kim Trọng trong cơn gia biến, đêm trao duyên một mình bên ngọn đèn khuya, áo đầm giọt lệ Kiều sống với những cơn sóng lòng dữ dội.
“Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Lời nhờ cậy ấy bất ngờ ngay cả với chính người trong cuộc là Kiều, cái điều mà nghĩ tới nàng đau khổ, dày vò. Lời nhờ cậy bất ngờ ấy vô cùng hệ trọng với Thúy Vân, ảnh hưởng tới cả cuộc đời của em gái bở lẽ nhận lời lấy một người đàn ông làm chồng đâu phải là chuyện nhỏ. Dựa vào đâu Kiều dám đưa ra lời nhờ cậy đột ngột và mực mực đưa Vân vào thế phải nhận lời? Là bởi tình thương, tình chị em, tình cảm gai đình. Kiều biết em sẽ không làm trái ý chị và em cũng hiểu đầu đuôi câu chuyện, cũng đủ thấu hiểu nỗi lòng chị. Kiều đặt nhờ vào chỗ cậy như gửi gắm một tấm lòng đang trong cơn tuyệt vọng, tin tưởng vào tình ruột thịt. Vì thế, Vân lúc bấy giờ chỉ có thể chịu lời.
Kiều là người con có hiếu, tự nguyện bán mình lấy tiền cứu cha và em trai khỏi vòng lao ý oan nghiệt. Chữ hiếu đã được đền đáp còn tình cảm sâu nặng vẫn canh cánh bên lòng như món nợ với chàng Kim. Xót xa cho Kiều khi phải năn nỉ em gái kết duyên với chàng Kim. Kiều tự an ủi rằng có nơi chín suối nàng sẽ vẫn còn thơm lây ơn nghĩa của Vân, những lời từ tâm can của chị sao em có thể nỡ chối từ. Kiều ban đầu nói ra ngôn ngữ từ lý trí, dùng lý lẽ phân tích đúng sao để em hiểu nàng không chỉ dùng tình cảm để thuyết phục em.
Trao duyên là khúc đoạn trường trong thiên đoạn trường tân thanh Truyện Kiều, như có máu cỏ đọng trên đầu bút Thanh Tâm khiến nước mắt thấm vào trang giấy. Bằng con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã dựng lại cảnh trao duyên sâu sắc, độc đáo với những tình tiết cảm động đạt đến phép biện chứng tâm hồn để người đọc cảm nhận được ở Kiều là người con gái giàu tình cảm, có ý thức về tình yêu, gia đình và cuộc sống vừa bước ra đời đã bị sóng gió vù dập. | Phân tích đoạn trích Trao Duyên trong Truyện Kiều | 676 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Trao duyên
Bài làm 1
“Trao duyên”- một hành động “trả nghĩa chàng Kim” của Thuý Kiều thể hiện một nét đẹp trong đạo sống của người xưa, “tình” thường gắn liền với “nghĩa”. Đó là một đặc điểm quan trọng trong quan niệm truyền thống về tình yêu. Đó là cái nhìn hiện thực của Nguyễn Du về con người.
Nhưng bên cạnh đó, ta còn thấy một nàng Kiều thiết tha với tình yêu, thiết tha với cuộc sống riêng tư. Điều đó được thể hiện qua nỗi đau đớn của nàng vì tình yêu tan vỡ. Chiều sâu và sự chân thành trong tình cảm của nàng Kiều được bộc lộ sâu sắc khi nàng đối diện với kỉ vật, kỉ niệm tình yêu.
Mối tình Kim- Kiều là mối tình đẹp vượt lễ giáo phong kiến. Mối tình của đôi tài tử- giai nhân ấy đã có những kỉ niệm trong sáng, đẹp đẽ, sâu nặng thiết tha. Kỉ niệm chính là hiện thân của tình yêu. Kỉ vật gắn với kỉ niệm, là một dạng vật chất hoá của kỉ niệm. Cho nên, rải rác suốt trong đoạn Trao duyên, Thuý Kiều đã nhắc tới, đã sống và đau đớn với những kỉ vật và kỉ niệm ấy.
Trước hết, kỉ niệm được Kiều nhắc đến một cách tế nhị khi nói với Thuý vân về mối tình của mình:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Ngôn ngữ khách quan, chữ “khi” lặp lại như dư âm của cái đã qua, lời lẽ có vẻ thanh thản. Nhưng cái thiết tha, cái chiều sâu của tình cảm lại nằm ở kỉ niệm “gặp chàng Kim”. Đó là kỉ niệm của phút giây gặp gỡ ban đầu mà “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”. Cả một vùng trong sáng của kí ức hiện về. Nhưng lúc này Kiều còn đủ lí trí để kìm nén, để không bị kỉ niệm cuốn vào tâm tưởng. Nhưng đến câu: “Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề” thì kỉ niệm của ngày trao quạt cho nhau để hẹn ước, đêm dưới trăng uống rượu nguyện thề thuỷ chung tự nó nói lên sự sâu nặng của một mối tình: trong sáng mà mãnh liệt, thiết tha.
Mối tình vàng đá ấy tưởng cầm nắm trong tay bỗng chốc bị xã hội dập vùi tan vỡ. Tình yêu vẫn tiếp tục hiện về với kỉ vật:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Khi trao kỉ vật cho Thuý Vân, nỗi mất mát hiện hữu quá rõ. cầm đến kỉ vật, kỉ niệm tình yêu sống dậy đối lập với hiện thực phũ phàng, Thuý Kiều không còn đủ lí trí để kìm nén được nữa, giọng nói của nàng run lên: “Duyên này thì giữ, vật này của chung”, nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó. Hoài Thanh đã cảm thông nỗi đau đớn của nàng Kiều ở hai từ “của chung” – “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng đơn sơ ấy”. đau đớn vì duyên thì trao cho em mà tình yêu thì không trao được. Kỉ vật với Thuý Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thuý Kiều nó lại là tình yêu.
Trao duyên cho em, con người đạo lí ở Thuý Kiều mách bảo cần phải trao kỉ vật. vả lại, khi tình yêu tan vỡ, giữ kỉ vật chỉ thêm đau. Nhưng Thuý Kiều không chỉ là con người của đạo lí mà còn là con người của tình riêng. Thuý Vân giữ kỉ vật trong khi chính Kiều mới là người giữ kỉ niệm của tình yêu. Cuộc chia lìa giữa kỉ niệm và kỉ vật là cuộc chia lìa giữa linh hồn và thể xác. Đau đớn dồn vào hai chữ “của chung” là vì như thế. Nguyễn Du như hoá thân để cảm thông, chia xẻ đến tận cùng nỗi đau với nhân vật của mình, từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc, mới mẻ.
Càng lúc, nỗi đau đớn càng lớn, kỉ vật, kỉ niệm tình yêu cứ chập chờn:
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
“Ngày xưa”, “phím đàn”, “mảnh hương nguyền”,… có một đôi lứa thiếu niên bên nhau, nàng đánh đàn cho chàng nghe trong khói hương trầm thơm ngát. Bao nhiêu thi vị của mối tình đầu giờ chỉ còn là vô vọng.
– Đốt lò hương ấy, so tơ phím này…
– Hồn còn mang nặng lời thề …
“Lò hương”, “phím đàn”, “lời thề” là những kỉ niệm sâu nặng, thiết tha đối lập với hiện thực phũ phàng, tương lai mù mịt khiến Thuý Kiều rơi vào trạng thái đau đớn tột độ.
Nguyễn Du thật tinh tế, sâu sắc khi biểu đạt nội tâm con người đối diện với kỉ vật, kỉ niệm tình yêu trong hoàn cảnh trao duyên. Thân phận đau khổ nhưng nhân cách sáng ngời. Nàng ứng xử theo văn hoá của thời trung đại nhưng không thôi nghĩ về thân phận và tình yêu riêng tư. điều đó khiến nàng Kiều “người” hơn, gần chúng ta hơn, sống động và chân thực hơn.
Bài làm 2
Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng “để lòng thị phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác. Từ “cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm một cử chỉ thiêng liêng là “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào! Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình thường của Thúy Vân không bao giờ biết được:
“Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai”
Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu – tình là hai giá trị tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay đắng lựa chọn chữ “hiếu”. Mà chỉ có ba điều tồn tại: “Đức tin, hi vọng và tình yêu, tình yêu vĩ đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ngày xuân em hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn lao.
Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim:
“Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung”
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì, nàng trao duyên, trao cả những kỷ vật tình yêu cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật và còn dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tờ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.”
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng, cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá cây”, với “hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách mình là “phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ chàng”. Chính tâm lý mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên “Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện của Thanh Tâm Tải Nhân là một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều thì lại càng đau đớn hơn.
Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên Đường Chủ nhân là khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo? | Phân tích đoạn trích Trao duyên | 2,203 | |
Phân tích đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng văn 8
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng văn 8
Trong lòng mẹ là chương IV hồi ký Những ngày thơ ấu nồi lên những ngày tháng đau đớn, tủi nhục tủa một em bé mồ côi bố và niềm hạnh phúc được gặp lại mẹ sau một năm trời xa cách.
Nói về niềm vui sướng hạnh phúc ấy, Nguyên Hồng thổ lộ: Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ (…), mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng.
Phần đầu chương IV, Nguyên Hồng thuật lại những cay đắng tủi nhục thời ấu thơ của mình. Bố mất, mẹ đi bước nữa chửa đẻ với người khác… Mẹ bé Hồng phải tha phương cầu thực. Bé Hồng và em Quế sống thui thủi cô đơn, ăn chực nằm chờ giữa sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của những người họ hàng bên nội giàu có. Bà cô thật ghê tởm, bịa ra, moi móc mọi điều xấu xa về người mẹ của bé Hồng, nào là ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng, ngồi bên rổ bóng đèn cho con bú, thấy người quen thì xấu hổ vội quay đi, lấy nón che…. Bà cô cười rất kịch, giọng nói cay độc và tàn nhẫn cố ý gieo rắc vào đầu óc non nớt của đứa cháu những hoài nghĩ, để li gián tình mẹ con, âm mưu làm cho đứa con khinh miệt và ruồng rẫy mẹ mình.
Người mẹ có một êm dịu vô cùng…. Người mẹ đã trở về đúng ngày giỗ để làm trọn đạo lý và tự khẳng định tư cách người vợ, người mẹ trong gia đình. Mẹ đem về cho hai con nhiều quà. Tan học, trên đường về nhà, bé Hồng gặp lại mẹ sau một năm dài xa cách. Em gọi rối rít: Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi! Cảnh hai mẹ con gặp lại nhau mừng mừng, tủi tủi. Mẹ cầm nón vẫy… mẹ kéo tay con, xoa đầu con, hỏi… Con òa lên khóc nức nở, mẹ cũng sụt sùi theo… | Phân tích đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng văn 8 | 359 | |
Phân tích đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
Bài làm
Một trong những nhà văn để lại cho tôi ấn tượng nhất có lẽ là Nguyên Hồng. Bởi trong những trang văn của ông chất chứa dạt dào một thứ tình cảm bình yên đến lạ lung, tâm hồn ta sẽ được trở về với những ngày thơ ấu hồn nhiên, được bình yên sau cuộc sống bộn bề, được chìm đắm trong tình yêu thiết tha của tình mẹ. tác phẩm tiêu biểu cho lối phong cách sáng tác ấy chính là “Những ngày thơ ấu” của ông. Đặc biệt là đoạn trích “Trong lòng mẹ”.
Trong trang văn của mình, đều có phần nào đó bóng dáng của Nguyên Hồng, bởi chính tuổi thơ cay đắng, tăm tối của mình luôn là niềm động lực để ông cầm bút sáng tác.
“Trong lòng mẹ” nằm trong chương VI của “Những ngày thơ ấu” kể về cuộc sống cơ cực, thiếu thốn tình yêu thương của cậu bé Hồng. Hằng ngày cậu phải chịu sự ghẻ lạnh, đay nghiến và mỉa mai của người cô cùng họ hàng bên nhà nội. Bên cạnh đó còn là hình ảnh một người mẹ nghèo tiều tụy với một tình yêu thương con vô bờ bến.bé Hồng sinh ra là kết quả của cuộc hôn nhân không hạnh phúc.Bố là kẻ nghiện ngập, chết mòn trên bàn thuốc phiện để lại cho mẹ con Hồng một cuộc sống tù túng cực độ cùng những cay nghiệt bên nhà nội, cuối cùng mẹ Hồng phải tha hương cầu thực, bỏ Hồng lại một mình sống với bà cô.
Bé Hồng sống với bà cô cay nghiệt, ghẻ lạnh, luôn dùng những lời đọc địa nhất kể về mẹ của bé, để bôi thêm muối vào tâm hồn non nớt kia. Bà cô là hiện thân cảu một xá hội phong kiến đọc ác, nhiều hủ tục, nhiều cay đắng và bé Hồng chính là hiện thân của những người ở dưới đáy cùng xã hội, chịu đựng sự chà đạp và bất công nhất. Trong một lần bà cô gọi Hồng đến và nói “Mày có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ mày không”, một câu hỏi chứa đầy hám ý khiến trái tim đứa bé run rẩy toan gật đầu đồng ý. Nhưng sau đó cậu đã tỉnh táo nhận ra phía sau của nụ cười đầy gian tà kia của cô mình nên chỉ biết cúi đầu. nỗi khổ của mẹ cậu bọ những hủ tục phong kiến đè bẹp lên, đè lên gang nặng đôi vai để rồi mẹ cậu phải xa cậu. bằng cách xây dựng tâm lí tinh tế, tác giả khiến người đọc không kìm được cảm xúc. Bởi khi nghĩ về mẹ, cậu chỉ “biết cúi đầu im lặng, khóe mắt cay cay”. Dù bà cô có nhắc đến “em bé” có gieo rác thêm bất cứ điều xấu xa nào nhưng cậu vẫn bỏ ngoài tai, vẫn luôn hướng tình cảm mong ngóng tha thiết mẹ về.
Chỉ một tiếng gọi “Mợ! Mợ! Mợ ơi” khi thấy một người đàn bà giống mè thì tình yêu trong bé chực trào ra. Yêu thương lâu nay bị kìm nén giờ đây có dịp bật ra thành tiếng. tiếng gọi ấy khiến người đọc đứt từng khúc ruột, cay đến sống mũi. Khoảng khắc cậu được sà vào lòng mẹ thật cảm động. tác giả dùng những từ ngữ tươi đẹp nhất để diễn tả lại “phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng” câu văn khiến không ít người run rẩy vì độ chân thực cũng như tình thương vô bờ bên của tình mẫu tử.
Cuộc gặp gỡ định mệnh và tình cảm trở nên sâu nặng hơn. Có thể nói người đọc đến đây thở phào nhẹ nhõm vì cuối cùng cậu bé cũng được đền đáp tình yêu thương. Không có sức mạnh nào có thể ngăn được tình cảm thiêng liêng ấy
Bằng lối viết nhẹ nhàng, sâu lắng, cách diễn tả tâm lí sâu sắc và hơn hết bằng tình yêu thương vô bờ bến của tác giả đã khiến người đọc “ôm tim mình” mà khóc. “trong lòng mẹ” luôn in đậm trong người đọc một tình cảm thiêng liêng, chân thành nhất. | Phân tích đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng | 756 | |
Phân tích đoạn trích Trích diễm thi tập
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Trích diễm thi tập
Đoạn trích Tựa trích diễm thi tập được tác giả Hoàng Đức Lương sưu tầm và biên tập những bài thơ, tác phẩm thơ văn có giá trị từ đời nhà Trần đến đời nhà Lê. Trong bài Tựa này, tác giả Hoàng Đức Lương không chỉ sưu tập những tác phẩm tiêu biểu mà còn nói về những nguyên nhân và quá trình tuyển chọn bằng thái độ tự hào và trân trọng đối với di sản văn hóa lớn lao của dân tộc.
Tựa là phần mở đầu thường được đặt ở đầu bài viết nhằm giới thiệu đến người đọc về mục đích, nội dung cũng như kết cấu của cuốn sách. Trong bài Tựa tích diễm thi tập, tác giả Hoàng Đức Lương đã trình bày theo bố cục khá rõ ràng. Phần một nói về những nguyên nhân khiến cho thơ ca không được lưu truyền ở đời.
Tác giả cung phân tích qua sáu nguyên nhân sau:
Thứ nhất, thơ ca không được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian vì chỉ có những người thi nhân, có học thực mới có điều kiện tiếp cận với các tác phẩm thơ ca, và cũng chỉ có họ mới hiểu được những cái hay, cái đẹp của thơ ca.
Nguyên nhân thứ hai mà tác giả Hoàng Đức Lương đưa ra, đó chính là những người có học thì lại ít để ý nhiều đến thơ ca. Dưới đời Lí- Trần đã có nhiều tác phẩm thi ca hay và giàu giá trị nhưng những bậc danh nho dưới thời đó vì bận rộn với những công việc triều chính mà không có thời gian để ý, biên tập, mặt khác, những quan cấp dưới cũng vì lận đận lo việc thi cử, lập công danh mà cũng không để ý khiến cho các tác phẩm không được lưu truyền rộng rãi.
Nguyên nhân tiếp nữa, đó chính là việc in ấn của triều đình quy định quá ngặt nghèo, chỉ có người nhà chùa mới có thể tự do in ấn sách. Đối với các nhà Nho, khi có nhu cầu in ấn cần được thông qua sự đồng ý của nhà vua mới được xuất bản.Bởi vậy mà thơ ca không có điều kiện để lưu truyền.
Tác giả Hoàng Đức Lương đã sử dụng phép liệt kê để trình bày ra những nguyên nhân chủ quan khiến thơ văn không được lưu truyền ở đời. Ngoài bốn nguyên nhân chủ quan trên còn hai nguyên nhân khách quan khác được tác giả nêu ra, đó là: thời gian và binh lửa.
Thời gian quá lâu cùng khói lửa của chiến tranh sẽ vô tình hủy hoại đi nhiều tác phẩm giá trị. Tác giả đã có phép so sánh đầy độc đáo: cứng như đá, như vàng lại được quỷ thần phù hộ cũng không tránh được sự hủy hoại nữa là những tác phẩm được viết vào giấy, cất giữ trong những chiếc hòm, trải qua vài lần binh lửa khó còn vẹn nguyên.
Sở dĩ tác giả Hoàng Đức Lương đặt phần lí do xuống sau phần nguyên nhân khiến thơ văn không được lưu truyền ở đời là nhằm mục đích nhấn mạnh về những lsi do khiến ông sưu tầm và biên soạn thơ ca không phải ý muốn chủ quan của tác giả mà đó là yêu cầu của thời đại.
Tác giả đã thể hiện sự xót xa trước thực trạng của đất nước, để gìn giữ những giá trị thơ ca, ông đã quyết tâm sưu tập và lựa chọn những tác phẩm thơ ca hay để xây dựng lên cuốn Trích diễm thi tập. Hoàng Đức Lương đã giới thiệu qua về quá trình biên soạn cuốn sách này và khái quát nội dung và kết cấu của Trích diễm thi tập.
Những tác phẩm thơ văn được lưu trữ trong những cuốn thi tập cũ không còn nên ông phải nhặt nhạnh từng mảnh giấy tài, tìm tòi khắp nơi và nhờ đến sự giúp đỡ của những người hiện đang làm quan ở triều đình mà phân cuốn sách của mình ra làm hai phần: phần chính là thơ ca – đây là những tác phẩm có giá trị mà Hoàng Đức Lương đã sưu tập và biên soạn lại và phần phụ lục ( bao gồm những tác phẩm mà tác giả sáng tác) | Phân tích đoạn trích Trích diễm thi tập | 748 | |
Phân tích đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ của Ngô Tất Tố
Hướng dẫn
-Chị Dậu đã đáp trả như thế nào?
-“Nước ” ở trong đoạn trích nhằm ám chỉ điều gì? Ám chỉ ai?
-“Bờ” trong đoạn trích ám chỉ ai?
Đặt cho đoạn trích nhan đề Tức nước vỡ bờ thật thỏa đáng, vì những lý do trên.
-Khi phân tích nên chú ý đến việc chăm sóc chồng con, đến sắc mặt, cử chỉ, lời nói, hành động của chị Dậu biến đổi theo thời gian và sự đối xử của tên cai lệ và người nhà lý trưởng. Đó là diễn biến tâm lý chân thực và hợp lý của nhân vật.
I.Ngô Tất Tô”, nhà báo nổi tiếng, là một học giả có những công trình khảo cứu về triết học phương Đông và về văn học cổ có giá trị. Ông còn là nhà văn có tài luôn gần gũi nông dân, người lao động với những bộ tiểu thuyết, trong đó có tác phẩm “‘Tắt đèn”. Với cái nhìn tinh tế, tài chọn lựa những nhân vật điển hình, nhà văn đã tái hiện hình ảnh thảm sầu của nông dân Việt Nam, cũng là bản cáo trạng về tội ác của quan lại, cường hào dưới thời thực dân – phong kiến. Tiêu biểu cho cảnh thảm sầu đó là hình ảnh gia đình chị Dậu trong mùa SƯU thuế. Dù cực khổ, tủi nhục như thế nào chị cũng là người phụ nữ thực thà, lương thiện, giàu tình thương yêu và đức hy sinh của người vợ, người mẹ. Và khi bị chế độ áp bức đẩy vào chân tường, chị đã dám chông lại bằng chính sức mạnh của mình qua đoạn văn trích “Tức nước vỡ bờ”.
Phân tích đoạn văn trích: “Tức nước vỡ bờ” để thấy rõ thêm phẩm chất cao đẹp đó, đồng thời có những suy nghĩ đúng của mình về sự thay đổi của người phụ nữ Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay.
II.Vì thiếu SƯU thuế mà anh Dậu bị bọn cường hào ác bá bắt giải ra đình hành hạ, đánh đập, bỏ nắng, phơi sương đến độ ngất xỉu. Vì bị sợ vạ lây nên bọn chúng sai người nhà lý trưởng cõng cái xác không hồn của anh về trả cho gia đình chị Dậu. Trong cảnh khốn cùng, chị đã tìm mọi cách để cứu chồng tỉnh lại. Chỉ một hành động ấy thôi cũng đủ chứng tỏ chị có lòng thương yêu đậm đà đối với anh Dậu rồi. Anh Dậu vừa tỉnh lại thì trong nhà không có lấy một hạt gạo để cầm hơi. Chị phải vất vả ngược xuôi đi vay mượn ở hàng xóm được lon gạo về nấu cháo cho chồng. Cháo vừa chín, chị ngả mâm bát múc ra la liệt và “lấy quạt, quạt cho cháo mau nguội”’ thì tiếng trống, tiếng tù và, tiếng chó sủa đã inh ỏi vang lên ở đầu làng. Hơn ai hết, chị đã một lần hiểu được sau âm thanh oan nghiệt kia chuyện gì sẽ xảy đến cho anh Dậu, cho gia đình chị. Bởi vậy chị càng băn khoăn, lo lắng. Qua lời đối thoại của chị với bà hàng xóm lúc bà hớt hải chạy qua khuyên chị nên mang anh Dậu đi trốn sưu, cũng đã làm rõ sự băn khoăn suy nghĩ đó. Chị trả lời: “thưa cụ cháu cũng nghĩ như cụ’ “Nghĩ như cụ” là chị cũng định mang anh Dậu đi trốn sưu, nhưng vì anh “nhịn suông từ sáng hôm qua đến giờ”, nên chị đã nấn ná để cho chồng húp ba miếng cháo lấy lại sức trước khi đi trốn. Cháo nguội, chị bưng một bát lớn rồi “rón rén” đặt cạnh chỗ anh Dậu nằm. Có cử chỉ nào đầy tình thương trong bước đi nhẹ nhàng của người phụ nữ chỉ vì muôn cho chồng mình được yên tĩnh trong những phút ốm đau. Chẳng những thế chị còn cố nài nỉ: “Thầy hãy cố dậy húp lấy vài húp cho đỡ xót ruột”. Lời nói ấy chỉ có ở những người phụ nữ vừa giàu lòng thương yêu, vừa kính trọng chồng. Thêm vào đó “chị còn cố ý chờ xem chồng chị ăn có ngon miệng hay không?”. Chỉ một cử chỉ đó cũng đủ cho người đọc thây chị là con người hy sinh, lấy hạnh phúc của chồng con làm hạnh phúc của chính bản thân mình.
Anh Dậu vừa bưng bát cháo đưa lên miệng húp thì tên cai lệ và người nhà lý trưởng sầm sập, hùng hổ tiến vào. Chúng hoạnh hoẹ, chửi bới, đe dọa, để cố đòi cho được tiền SƯU.
-Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu! Mau!”.
Trước cử chỉ, giọng nói sặc mùi quan liêu, hách dịch nhưng vô cùng bệ rạc đó của tên cai lệ, anh Dậu hoảng quá “vộỉ để bát cháo xuống phản và lăn đùng ra đó, không nói được câu gì”. Chỉ một mình chị Dậu tay nách con tìm cách đối phó. Những giây phút đầu tiên chị Dậu đã “run run” lo sỢ, nhưng rồi chị đã bình tĩnh trở lại và cố tìm lời khôn khéo để vừa khất cho được tiền SƯU thuế, vừa trả đũa lại kẻ thù. Chị đã tự hạ mình xuống hàng “con” “cháu” và tôn xưng kẻ thù là “ông”. Dù bị xâm phạm đến danh dự của cá nhân, của gia đình mình, bị đe dọa: “giời cả nhà mày đi” và bị chửi bới: “nói cho cha mày nghe đấy à”, thì chị vẫn cố nén sự tức giận của mình, vẫn cố chứng minh sự vô lý của việc chính quyền bắt nhà chị phải đóng SƯU, vẫn cô” van xin tha thiết:
Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu cửa chú nó nữa, nên mới lôi thôi như thế. Chứ cháu có dám bỏ bễ tiền SƯU của nhà nước đâu? Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất…” và khi không thuyết phục được thì chị đã hé ra một chút liều để xin khất sưu:
Khốn nạn! Nhà cháu đã không có, dẫu ông chửi mắng cũng đến thế thôi. Xin ông trông lại!”
Không đáp lại lời cầu xin, tên cai lệ ra lệnh cho người nhà lý trưởng “trói cổ thằng chồng nó lại, điệu ra đình kia!”. Người nhà lý trưởng “hình như không dám hành hạ một người” ốm nặng thì chính anh ta giật phắt sợi dây thừng đi đến chỗ anh Dậu. Lúc này chị Dậu mới “xám mặt”, ấy là màu sắc biểu hiện của người đang trong tâm trạng vừa sợ, vừa lo. Chị vội vàng đặt con xuống đất, chạy lại vừa đỡ lây tay cai lệ vừa năn nỉ:
Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!
-Tha này! Tha này
Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu”.
Đúng là một cảnh tượng sống động đã xảy ra giữa một người đàn ông có chút quyền lực với người nữ nông dân có con mọn hiếm thấy. Hành động của hắn như lửa đổ thêm dầu. Chị Dậu đã liều mạng cự lại. Lời nói của chị ở vị trí của một kẻ ngang hàng với kẻ thù và như ra lệnh “chồng tôi đau ốm không được phép hành hạ”, và rồi chị nói như thách thức: “mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem”. Xét về thái độ và ngôn ngữ, nếu cai lệ và người nhà lý trưởng ỷ thế cậy quyền, tỏ ra quan liêu, hách dịch thì chị Dậu là người biết thủ phận, nhịn nhục dù đang chịu sự bất công chèn ép. Điều ấy được biểu hiện ở những lời xưng hô ban đầu của chị. Thay đổi cách xưng hô ấy là diễn biến tâm trạng biểu hiện thành lời nói. Tự hạ mình thành hàng “con cháu”, “tôi”, và khi căm giận tới tột cùng thì chị đã xưng là “bà”, còn cai lệ từ vai “ông” biến thành “mày”. Không dừng lại ở lời nói, chị đã đáp trả bằng hành động khi cai lệ “bịch luôn vào ngực chị mấy bịch”. Lấy bạo lực trừng trị bạo lực. Chị đã biến sự căm thù thành hành động tích cực nhất. Chị đã xông về phía tên cai lệ để: “túm lẩy cổ ấn giúi ra cửa”. Người nhà lý trưởng thấy đàn anh của mình bị đánh ngã nên hắn lại xông vào. Với sức mạnh của nữ lực điền, chị nắm lấy tóc quẳng cho một cái, khiến “hắn ngã chòng quèo ra thềm”. Chị vừa biểu lộ tinh thần đấu tranh, vừa chứng tỏ tiềm năng của những người nô lệ khi đã bị đẩy đến chân tường. Điều ấy càng được chứng tỏ ở câu trả lời của chị khi nghe anh Dậu nhắc đến chuyện “phải tù phải tội” khi đánh bọn người đi đòi SƯU thế:
Chị Dậu đúng là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam sau lũy tre làng.
Khi bị quyền lực bất công dồn vào chân tường, họ biết vùng dậy. Dù là đấu tranh “tự phát” đánh bọn cai lệ người nhà lý trưởng để “thà chịu ngồi tù” nhưng hành động đấu tranh của chị đã giúp ta nhận rõ thêm phân nào chân lý: “Nơi nào có áp bức nơi đó có đấu tranh”, “Tức nước” (quyên lực bất công đàn áp) thì “v<? bờ” (nhân dân vùng lên chống lại); thây rõ sức mạnh tiềm tàng của phụ nữ Việt Nam.
I.Với nghệ thuật chọn lọc những chi tiết gây căng thẳng, miêu tả thật tự nhiên và đầy kịch tính, nhà văn Ngô Tất Tô” đã làm xúc động người đọc qua nhân vật chị Dậu trong tác phẩm: “Tắt đèn” ông xứng đáng là người có công lớn trong việc hình thành và phát triển nền tiểu thuyết Việt Nam thuộc dòng văn học Hiện thực phê phán, thật xứng với lời nhận xét của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan rằng: “Cái’ đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”, và của nhà văn Nguyễn Tuân: “Xui người nông dân nổi loạn”.
Hiện nay phụ nữ đã biết đấu tranh giành quyền lợi thiết thực hàng ngày vừa chống những hiện tượng tiêu cực để xây dựng xã hội vừa dạy đỗ con cái, biết lo cho chồng con và còn là những giáo viên dạy giỏi, thợ dệt tiên tiến, bác sĩ tận tụy trong việc làm để xây dựng đất nước. Họ cũng đã đồng lồng chung sức họp lại để đương đầu với mọi khó khăn trước mắt. Để khỏi phụ lòng những bà mẹ, những người chị đáng kính, em càng nô lực trong học tập, tích cực rèn luyện để sau này có đầy đủ tài năng về phẩm chất chống lại bất cứ một ai muốn dùng quyền lực đê buộc con người hôm nay phải sống cảnh tủi nhục như chị Dậu đã phải sông. | Phân tích đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ của Ngô Tất Tố | 1,887 | |
Phân tích đoạn trích Tức nước vỡ bờ nằm trong chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn
Bài làm
Đoạn trích Tức nước vỡ bờ phơi bày bộ mặt tàn ác, bất nhân của chế độ thực dân phong kiến, đồng thời thể hiện sự sâu sắc nỗi thống khổ cũng như sức mạnh phản kháng tiềm tàng của người nông dân. Có đủ các hạng người được khắc họa sinh động trong bức tranh thu nhỏ của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng ấy. Giữa cái dám sâu bọ hại dân lúc nhúc ở cái làng quê u ám đang rên xiết trong vụ thuế kinh tởm thấy sáng lên một chị Dậu đảm đang, chịu thương chịu khó hết mực vì chồng vì con, một chị Dậu lam lũ, nhẫn nhục nhưng cũng đầy sức mạnh phản kháng, quyết không để đói khổ làm hoen ố phẩm hạnh. Hình tượng nhân vật này được xem là điển hình cho người phụ nữ nông dân bây giờ.
Gia đình chị Dậu thuộc loại cùng nhất hạng cùng đinh đang lâm vào tình cảnh bức bách của sưu thuế. Chồng ốm đau lại bị đánh đập khổ sở, chị Dậu một thân một mình chạy vạy ngược xuôi để lo suất Sưu cho anh Dậu. Đường cùng, chị đã phải đứt ruột, gạt nước mắt mà bán con cho Nghị Quế. Một đứa con lên bảy, một ổ chó cộng với mấy hào bán gánh khoai mới đủ tiền nộp suất SƯU để chồng được tha về. Nào ngờ bọn lí dịch lại bắt phải nộp cả suất SƯU của người em chồng đã chết từ năm ngoái, đẩy gia đình chị đến cùng cực.
Anh Dậu về nhà nhưng lâm vào tình trạng thập tử nhất sinh. Bà hàng xóm tốt bụng ái ngại cho cảnh đói nhà chị Dậu mang cho bát gạo để nấu cháo. Đoạn trích Tức nước vỡ bờ là cảnh buổi sớm hôm sau.
Khi anh Dậu cố gượng ngồi dậy, chưa kịp đưa bát cháo lên miệng thì tên cai lệ và gã đầy tớ của lí trưởng xộc vào định trói anh để nã thuế. Chị Dậu lức này phải đốì mặt với tình thế nguy ngập: chồng chị vừa mới bị bắt trói, tưởng đã chết đêm qua, bây giờ mà lại bị trói bị đánh nữa chắc anh không sống nổi. Không đếm xỉa đến những lời van xin tha thiết của chị, tên cai lệ bất nhân nhất định xông vào trói anh Dậu. Hắn là một tên tay sai chuyên nghiệp; với hắn không có gì khác ngoài đánh, trói. Hạng người này trong chế độ thực dân, phong kiến sẽ thành thứ công cụ thực sự, không còn là người, ơ cái làng Đông Xá ấy, cai lệ thỏa sức hoành hành, tác oai tác quái. Vụ thuế đang là thời điểm tốt nhất để hắn thể hiện tính chuyên nghiệp trong cướp bóc, hà hiếp dân lành. Chỉ là một tên tay sai mạt hạng nhưng qua những gì hắn làm, có thể nói hắn là hiện thân đầy đủ, rõ rệt cho cái “nhà nước” phi nhân tính, nhân quyền lúc bấy giờ. Hắn “sầm sập tiến vào”, “trợn ngược hai mắt”, “đùng đùng cai lệ giật phắt cái thừng”, “bịch luôn vào ngực chị Dậu”, “sấn đến để trói anh Dậu”, “tát vào mặt chị một cái đánh bốp”,… Hành động của hắn như một con thú dữ. Bản tính ác thú của tên này thể hiện cả ra ngôn ngữ: khàn khàn, quát, thét, hầm hè, nham nhảm… Tiếng của hắn đâu phải là tiếng người! Nếu là người thì hắn đã phải mủi lòng trước cảnh một người ốm nặng, đã động lòng trước những lời van xin tội nghiệp của chị Dậu, hắn đã biết thương hại… Đằng này, dường như hắn không có khả năng hiểu được ngôn ngữ của con người, hắn đáp lại những lời van vỉ của chị Dậu bằng chửi, đánh. Thật táng tận lương tâm!
Thế mà chị Dậu đã phải sống, cả nhà chị Dậu đã phải sống và nói rộng ra, cả cái làng Đông Xá này đã phải sống, tất cả những người nông dân ở biết bao cái làng khác cũng đã phải sống. Chỉ có điều sống dở chết dở, sống đau sống đớn mà thôi! Chị Dậu thương chồng, con hết mực. Bát cháo chị nấu cho anh Dậu và cử chỉ “rón rén bưng”, “chờ xem chồng chị ăn có ngon miệng hay không” cho thấy nét đẹp trong bản lĩnh phụ nữ của chị. Và, vẻ đẹp của chị Dậu còn được thể hiện một cách đặc sắc khi một mình chị phải đứng ra đương đầu với lũ ác là tên cai lệ và người nhà lí trưởng.
Phân tích đoạn trích Tức nước vỡ bờ nằm trong chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn
Như những người phụ nữ nông dân khác, chị Dậu có thể cam chịu, nhẫn nhục. Chị đã phải “van xin tha thiết” trước bọn người đang nhân danh “nhà nước”, mặc dù là sự nhún chịu trước sự vô lí, bất nhân (đánh vào người đã chết). Chỉ đến khi tên cai lệ bất chấp, lại còn bịch vào ngực chị, xông đến trói anh Dậu thì “tức quá không thể chịu được”, chị đã “liều mạng cự lại”. Cái tài của Ngô Tất Tố là đã miêu tả rất tinh những diễn biến trong tâm lí và hành động của chị Dậu, để nó thế hiện ra chân thực trước mắt người đọc. Có thể xem quá trình diễn biến ấy có hai giai đoạn: từ chịu đựng nhẫn nhục đến phản kháng mãnh liệt. Thoạt đầu chị xưng cháu, gọi cai lệ bằng ông. Nhưng đáp lại những lời lễ phép thấu tình của chị, cai lệ quát: “Mày định nói cho cha mày nghe đấy à?” rồi: “Ông sẽ dỡ cả nhà mày đi”, chưa hết: “Đùng đùng, cai lệ giật phắt cái thừng trong tay anh này và chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu”. Đến lúc này, chị Dậu vẫn một mực tha thiết: “Cháu van ông,…,ông tha cho!”. Đến mức như thế nhưng cai lệ không những không mủi lòng mà còn xông tới đấm vào ngực chị Dậu. Đến đây, mới thấy bắt đầu những dấu hiệu phản kháng của người phụ nữ này: chị xưng tôi, gọi cai lệ là ông. “Không thể chịu được” nữa, chị Dậu đã đứng lên, với vị thế của kẻ ngang hàng, trực diện với thế lực áp bức.
Ngô Tất Tố miêu tả rất sống động cảnh chị Dậu tay không đánh bại hai tên tay sai đang lăm lăm vũ khí. Lòng căm phẫn, tình yêu thương chính là cội nguồn sức mạnh phản kháng mãnh liệt mà chị Dậu đã cho thấy những hành động cục súc, ác ôn của tên cai lệ là nguyên nhân trực tiếp, “châm ngòi nổ” cho hành động vùng lên của chị Dậu. Nhưng sâu xa hơn, căn bản hơn, chính là tình thương trong chị đã biến thành sức mạnh. Một người phụ nữ nghèo khổ, quen nhẫn nhục hi sinh đã dám đứng thẳng lên với một sức mạnh phản kháng phi thường. Vẻ đẹp nhân cách của chị Dậu đã được thể hiện rõ nét. Thì ra, đằng sau sự khiêm nhường, vị tha, mộc mạc, nhẫn nhục, trong con người ấy vẫn tiềm tàng ẩn chứa một sức sống dồi dào, mãnh liệt. Sức sống ấy được bộc lộ ra bằng sự phản kháng quyết liệt như ta đã thấy. Nó chứng minh một chân lí của muôn đời: có áp bức thì có đấu tranh — điều mà nhân dân ta đã tổng kết trong một hình ảnh giản dị: “Tức nước vỡ bờ”. | Phân tích đoạn trích Tức nước vỡ bờ nằm trong chương XVIII của tiếu thuyết Tắt đèn | 1,314 | |
Đề bài: Em hãy viết bài băn phân tích đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
Bài làm
Ngô Tất Tố (1893 – 1954), quê ở làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Đông Anh, Hà Nội; là một nhà Nho sống ở nông thôn, có vốn hiểu biết Hán học khá sâu rộng, ông nổi tiếng trên lĩnh vực báo chí và văn chương trong giai đoạn đầu thế kỉ XX. Tắt đèn là tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố và trong trào lưu văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Tác giả lấy đề tài từ một vụ thu thuế hàng năm ở một làng quê Bắc Bộ, qua đó phản ánh số phận bi thảm của nông dân và bản chất tàn bạo của giai cấp thống trị trong xã hội đương thời. Có thể nói tác phẩm Tắt đèn là bức tranh thu nhỏ của nông thôn Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.
Trong tác phẩm Tắt đèn, bằng ngòi bút tả thực sắc sảo, nhà văn đã vẽ lên chân dung sinh động của một loạt nhận vật. Từ vợ chồng lão Nghị Quế keo kiệt bất nhân đến bọn cường hào tham lam hống hách. Từ một quan “phụ mẫu” oai vệ mà bỉ ổi đến bọn tay sai đầu trâu mặt ngựa. Mỗi đứa một vẻ nhưng đều giống nhau ở bản chất tàn ác và tư cách đê tiện. Những nhân vật phản diện này tiêu biểu cho tầng lớp phong kiến thống trị ở nông thôn lúc bấy giờ.
Đặc biệt, Ngô Tất Tố đã thành công xuất sắc trong việc xây dựng hình tượng điển hình về người phụ nữ nông dân qua nhân vật chị Dậu. Nhà văn miêu tả chân thực và cảm động về số phận tủi cực của người nông dân bị áp bức, bóc lột, bị dồn đến bước đường cùng. Nhà văn chân thành ca ngợi phẩm chất đáng quý của họ trong hoàn cảnh sống tối tăm, ngột ngạt.
Thái độ yêu ghét của Ngô Tất Tố thể hiện rất rõ ràng qua từng trang viết. Tình cảm yêu mến, trân trọng mà ông dành cho người nông dân khiến ông thật sự là tri âm, tri kỉ của họ. ông cũng không giấu diếm sự khinh bỉ và căm ghét đối với bọn thống trị sâu mọt ở nông thôn. Về nghệ thuật, Tắt đèn được coi là tiểu thuyết hiện thực xuất sắc mà thành công lớn nhất là tác giả đã dựng nên một thế giới nhân vật sinh động, trong đó có những điển hình độc đáo.
Đoạn Tức nước vỡ bờ trích từ chương XVIII của tác phẩm, nội dung xoay quanh những biến động ghê gớm xảy ra với gia đình chị Dậu trong mùa sưu thuế.
Vụ thuế đang trong thời điểm gay gắt nhất. Quan trên sắp về tận làng để đốc thuế. Bọn tay sai hung hãn xông vào nhà những người chưa nộp thuế để đánh trói, bắt bớ và giải ra đình tiếp tục cùm kẹp, tra khảo. Chị Dậu đã phải bán khoai, bán chó, bán cả đứa con gái lớn để nộp sưu cho chồng, nhưng bọn hào lí ngang ngược lại bắt anh Dậu phải nộp cả suất của người em đã chết từ năm ngoái. Thành thử, anh Dậu vẫn cứ là người thiếu thuế, bọn chúng chắc chắn sẽ không buông tha. Đã thế anh Dậu lại đang ốm rề rề sau trận đòn, tưởng chết đêm qua. Nếu bị chúng đánh trói lần nữa thì mạng sống của anh khó mà giữ được. Vấn đề quan trọng nhất đối với chị Dậu giờ đây là làm sao bảo vệ được chồng trong tình thế nguy ngập này. Đoạn trích tiếp nối câu chuyện trên.
Qua đoạn trích, tác giả phơi bày và lên án bản chất tàn ác bất nhân của chế độ thực dân phong kiến lúc bấy giờ và phản ánh tình cảnh đau thương của nông dân cùng quy luật có áp bức có đấu tranh. Nhà văn giúp chúng ta thấy được vẻ đẹp tâm hổn và sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông dân nghèo khổ. Trong đoạn trích có hai nhân vật chính là chị Dậu và tên cai lệ.
Chị Dậu đã trở thành trụ cột của cái gia đình đang quẫn bách khốn khổ vì sưu, vì thuế. Chồng bị đánh đập, gông cùm. Một tay chị chèo chống, chạy vạy, phải bán tất cả những gì có thể bán được, kể cả đứa con gái đầu lòng ngoan ngoãn, hiếu thảo mà chị thương đứt ruột để lấy tiền nộp sưu, cứu chồng khỏi vòng tù tội. Chị đã phải đổ bao mồ hôi nước mắt để anh Dậu được trả tự do trong tình trạng tưởng như chỉ còn là một cái xác không hồn. Giữa lúc anh Dậu vừa bưng bát cháo kề vào miệng thì cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập sấn vào với những roi song, tay thước và dây thừng, hò hét bắt anh phải nộp tiền sưu. Quá khiếp đảm, anh Dậu đã lăn đùng ra không nói được câu gì, chỉ còn chị Dậu một mình đối phó với lũ ác nhân.
Chị Dậu đã đương đầu với bọn nha dịch tay sai để bảo vệ chổng như thế nào?
Ban đầu, khi bọn chúng ập vào định lôi anh Dậu đi nhưng chưa hành hung mà chỉ chửi bới, mỉa mai, đe doạ thì chị Dậu vẫn nhũn nhặn van xin tên cai lệ độc ác. Bọn đầu trâu mặt ngựa hung hãn nhân danh phép nước, người nhà nước để ra tay, còn chồng chị là hạng cùng đinh đang có tội (!) cho nên chị phải van xin. Vả lại, kinh nghiệm lâu đời đã thành bản năng của người nông dân thấp cổ bé họng là phải biết rõ thân phận mình. Thói quen nhẫn nhục khiến chị chỉ dám năn nỉ, khơi gợi lòng nhân từ của tên cai lệ: Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tĩnh được một lúc, ông tha cho! Cách xưng hô ông, cháu của chị Dậu là cách xưng hô của kẻ dưới với người trên, biểu hiện sự hạ mình. Bọn chúng chẳng thèm nghe mà sầm sập chạy đến chỗ anh Dậu, định bắt trói anh một lần nữa thì chị Dậu đã giận xám mặt nhưng vẫn cố chịu đựng, níu tay tên cai lệ van nài: Cháu xin ông! Mọi lời nói, hành động của chị Dậu đều không ngoài mục đích để bảo vệ chồng.
Đến khi giới hạn của sự chịu đựng bị phá vỡ thì tính cách cứng cỏi của chị Dậu mới thật sự bộc lộ. Lúc tên cai lệ đáp lại lời van xin của chị bằng những cú đấm thô bạo rồi sấn đến trói anh Dậu thì chị tức quá không thể chịu được nên đã liều mạng chống cự lại. Sự bùng nổ tính cách này là kết quả tất yếu của quá trình chịu đựng lâu dài sự tàn ác, bất công. Điều đó đúng với quy luật có áp bức, có đấu tranh. Người đọc xót thương một chị Dậu phải hạ mình van xin bao nhiêu thì càng đồng tình, nể phục một chị Dậu đáo để, quyết liệt bấy nhiêu.
Lúc đầu, chị cự lại tên cai lệ bằng lí lẽ: Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ! Thực ra, chị chỉ nói đốn lòng nhân đạo tối thiểu của con người. Chị không còn xưng cháu và gọi tên cai lệ bằng ông nữa mà xưng là tôi – ông, ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào mặt đối thủ.
Chị không chấp nhận để chồng mình bị hành hạ thêm một lần nữa. Hành động chống trả bọn tay sai diễn ra thật bất ngờ nhưng thực ra mầm mống phản kháng đã ẩn chứa tử lâu dưới vẻ ngoài cam chịu nhẫn nhục thường ngày của chị. Sự chịu đựng kéo dài và sự áp bức lên đến tột đỉnh khiến cho thái độ phản kháng bùng lên dữ dội.
Khi tên cai lệ dã thú ấy tát vào mặt chị một cái đánh bốp rồi cứ hung hăng sấn tới chỗ anh Dậu, thì chị đã nghiến hai hàm răng thách thức: Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem! Không còn ông – cháu, tôi – ông gì nữa, chị chuyển phắt sang xưng bà và gọi tên cai lệ là mày. Điều đó thể hiện thái độ căm giận, khinh bỉ đến cao độ, đồng thời khẳng định tư thế của chị là sẵn sàng đè bẹp đối phương. Chị Dậu là một lò lửa đang bùng cháy dữ dội. Chị không thèm đấu lí với tên cai lệ bất lương mà thẳng tay trừng trị hắn.
Tiếp sau lời cảnh cáo đanh thép là hành động phản kháng mạnh mẽ. Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất… Còn tên người nhà lí trưởng hung hăng kết cục cũng bị chị Dậu túm tóc; lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm.
Đoạn văn miêu tả cuộc đối đầu giữa chị Dậu và lũ người độc ác được tác giả miêu tả thật sinh động và thu vị. Trong xã hội mà tội ác hoành hành, còn gì hả hê hơn khỉ mọi người được chứng kiến cái ác bị trừng trị đích đáng?!
Do đâu mà chị Dậu có sức mạnh lạ lùng một lúc quật ngã hai tên tay sai hung hãn như vậy? Đó là sức mạnh của lòng căm hờn mà cái gốc của lòng căm hờn ấy lại chính là tình yêu thượng và ý thức bảo vệ chồng con của người đàn bà nghèo khổ. Khi rón rén bưng cháo cho chồng và theo dõi xem chồng ăn có ngon miệng không, khi hạ mình van xin kẻ ác và khi nghiến răng quật ngã chúng, trước sau, lúc nào chị Dậu cũng vì người chồng đang đau ốm. Tình yêu chồng, thương con cộng với tỉnh thần phản kháng âm ỉ bấy lâu đã thổi bùng ngọn lửa phản kháng trong lòng chị. Nỗi sợ cố hữu của kẻ bị áp bức phút chốc tiêu tan, chỉ còn lại nhân cách cứng cỏi của một con người chân chính. Hành động chống đối bộc phát đó chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương mãnh liệt trong trái tím người phụ nữ dường như sinh ra để suốt đời nhường nhịn, hi sinh.
Tuy vậy, sự phản kháng của chị Dậu mới chỉ là hành động tức nước vỡ bờ của một cá nhân chứ chưa phải là hành động vùng lên phá vỡ áp bức bất công để tự giải phóng của một giai cấp, một dân tộc. Thế nhưng nó cũng chứng minh cho quy luật có áp bức, có đấu tranh. Áp bức càng nhiều thì đấu tranh càng quyết liệt.
Ý nghĩa của câu tục ngữ tức nước vỡ bờ qua ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố đã được thể hiện thật sống động và đầy thuyết phục. Tuy tác giả khỉ đó chưa giác ngộ cách mạng và tác phẩm kết thúc bằng cảnh ngộ bế tắc của chị Dậu nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét rằng Ngô Tất Tố, với Tắt đèn đã “xui người nông dân đấu tranh cách mạng…”.
Bằng cảm quan hiện thực mạnh mẽ, Ngô Tất Tố đã cảm nhận được xu thế “tức nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của nó. Cố thể nói đoạn trích này đã dự báo cơn bão táp của quần chúng nông dân nổi dậy dưới sự tập hợp, lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ sẽ hất phăng chế độ thực dân phong kiến tham tàn, mục nát.
Nhân vật cai lệ trong đoạn trích tiêu biểu chọ lũ tay sai chuyên nghiệp, là công cụ đàn áp đắc lực của giai cấp thống trị. Để khẳng định vai trò của mình trong vụ thuế, hắn đánh người, trói người vô tội vạ. Trong bộ máy thống trị ở nông thôn, tên cai lệ này chỉ là một gã tay sai mạt hạng. Hắn hung dữ, sẵn sàng gây tội ác mà không chùn tay vì không hề bị ai ngăn chặn. Hắn vênh váo tự cho mình là đại diện cho nhà nước. Hắn nhân danh phép nước để làm những điều tàn ác đối với người nghèo. Vì vậy, có thể nói, tên cai lệ vô danh đó là hiện thân đầy đủ nhất của cái guồng máy “nhà nước” bất nhân lúc bấy giờ. Tuy chỉ xuất hiện trong một đoạn văn ngắn nhưng nhân vật cai lệ được ngòi bút tả thực của tác giả khắc họa nổi bật, có giá trị khái quát cao.
Đoạn trích Tức nước vỡ bờ là một đoạn văn hay, tiêu biểu cho bút pháp tả thực tài tình của Ngô Tất Tố. Ngôn ngữ kể chuyện, miêu tả và đối thoại của nhân vật rất đặc sắc. Đó là lời ăn tiếng nối bình dị, tự nhiên của đời sống hằng ngày. Mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ riêng. Ngôn từ của tên cai lệ thì thô lỗ, đểu cáng. Lời lẽ của chị Dậu khi thì thiết tha mềm mỏng, khi đanh thép quyết liệt. Lời lẽ của bà cụ hàng xóm thì thật thà, hiền hậu… Lời ăn tiếng nói của nông dân được tác giả sử dụng nhuần nhuyễn, rất hợp cảnh, hợp tình.
Nhà văn Ngô Tất Tố đã dành cho nhân vật chính là chị Dậu tình cảm yêu thương, thông cảm và trân trọng. Những tình tiết sinh động và đầy kịch tính trong đoạn trích đã góp phần hoàn thiện tính cách của người phụ nữ nông dân đẹp người, đẹp nết.
Chị Dậu mộc mạc, hiền dịu, vị tha, sống khiêm nhường, biết nhẫn nhục chịu đựng… nhưng hoàn toàn không yếu đuối, trái lại vẫn có một sức sống mạnh mẽ, một tỉnh thần phản kháng tiềm tàng. Khi bị đẩy tới bước đường cùng, chị đã vùng dậy chống trả quyết Hệt. Đó là thái độ cứng còi, bất khuất, dám đối đầu với cái ác trong xã hội. | Phân tích đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố | 2,444 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Bài làm
Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác không chỉ là một danh y nổi tiếng, mà còn là một tác giả có nhiều tác phẩm văn học có giá trị thời trung đại. Lê Hữu Trác để lại cho đời một sự nghiệp y học đồ sộ, nổi bật hơn cả là bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh được coi là bách khoa toàn thư về y học thế kỉ XVIII. Các tác phẩm của ông không chỉ có giá trị về y học mà còn mang nhiều giá trị văn học sâu sắc vì đã ghi lại cảm xúc chân thật cùng như bộc lộ tâm huyết, đức độ của người thầy thuốc. Thượng kinh kí sự là tập kí sự nổi tiếng trong cuộc đời Lê Hữu Trác. Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh. Đoạn trích vào Trịnh phủ không chỉ miêu tả cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, mà còn thể hiện rõ nét tâm hồn và nhân cách của vị lương y tài hoa đức độ này.
Vào Trịnh phủ là đoạn trích kể lại sự việc tác giả được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh cho Đông Cung Thế tử Trịnh Cán. Qua đoạn trích, tác giả đã thể hiện chân thực bức tranh sinh động về cuộc sống kiêu sa, vương giả và hiện thực cuộc sông nơi phủ chúa. Vào Trịnh phủ là một phần của tập Thượng kinh kí sự, là tác phẩm thuộc thế kỉ. Vì vậy đoạn trích là lời kể mộc mạc và chân thực, có ghi rõ thời gian Mồng 1 tháng 2, sáng tinh mơ và có sự việc: Có thánh chỉ triệu vào cung. Song điều làm cho chúng ta chú ý đó là cảnh vàng son nơi phủ chúa hiện lẽn vô cùng rực rờ qua cái nhìn của tác giả. Ban đầu Lê Hữu Trác được hò chìm trong khung cảnh vườn phủ chúa: Tôi ngẩng đầu lên, đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đung đưa thoang thoảng mùi hương. Cảnh vật ấy khiến cho ta có cảm giác, nơi đây là một khu vườn địa đàng nào đó trên tiên giới trong các truyện cổ tích dân gian, chứ không phải cảnh ở hiện thực mà tác giả nhìn thấy. Tiếp đến tác giả ghi lại những sự việc minh nhìn thấy: Nlìững dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp, người qua lại như mắc cửi. Đồng thời tác giả cũng bộc lộ những nét suy nghĩ chân thành khi có việc liên quan được đặt chân vào một nơi mà chính tác già cũng nghĩ mình đang ở trong mơ: Tôi nghĩ bụng: mình vốn con quan… Bước chân đến đây mới hay cái cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường. Điều này chứng tó thái độ ngỡ ngàng đến bất ngờ của tác giả. Khung cảnh giàu sang đó là ngoài sức tưởng tượng của ông. Đứng trước cảnh đẹp đệ nhất trời Nam ấy, tâm hồn người thầy thuốc tràn ngập một cảm xúc chân thành cứa một tâm hồn nhạy cảm:
Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm ngặt
Cả trời Nam sang nhất là đây…
… Khác gì ngư phủ đào nguyên thủa nào.
Bản thân vốn là một con người không màng danh lợi, nhưng đứng trước khung cảnh hoành tráng này, Lê Hữu Trác không tỏ ra miệt thị, phản diện trong cách nhìn nơi mà ông không hề muốn đến này. Trái lại ông vẫn ngợi ca, vẫn ngập tràn xúc cảm trước vẻ đẹp tuyệt vời nơi đây, có được điều này là do Lê Hữu Trác là nhà thơ có tâm hồn giàu cảm xúc trước thiên nhiên, tạo vật, thế sự. Có một điều chúng ta nhận thấy rằng ông nhìn và cảm nhận bằng con mắt khách quan, đứng trước cảnh đẹp thì ông ngợi ca, nhưng không hoàn toán ngợi ca tất cả, dường như đằng sau những dòng thơ này vẫn ẩn chứa một nỗi niềm u hoài của tác giả:
Quê mùa cung cẩm chưa quen
Ông tự coi mình là kẻ quê mùa lạc vào chốn cung đình, có khác gì Đào nguyên lạc vào chốn thần tiên. Cảnh thì đẹp đấy, nhưng lòng người nào có vui gì.
Đoạn trích là những trang kí sự giàu cảm xúc về cảnh giàu sang nơi phủ chúa và bệnh tình của thế tử. Nhưng bên cạnh những dòng hiện thực ấy, người đọc vẫn thấy toát lên trên tất cả là một tâm hồn, một nhân cách cao đẹp của danh y Hải Thượng Lãn Ông. Vốn bản thân không màng công danh, ông đã chọn nơi rừng núi yên tĩnh để sống cuộc sống ẩn dật, lấy chim muông làm bầu bạn, hoa cỏ làm niềm vui. Bởi thế mà Lê Hữu Trác dường như xa lạ trước cuộc sống cung đình. Tuy xa lạ nhưng ông không hề ngơ ngác mà vẫn giữ được cái uy nghi, trầm tĩnh của một ẩn sĩ. Trước hàng ngũ quan lại không hề tỏ ra khúm núm, hay kiêu ngạo khi danh tiếng của mình được nhiều người biết đến. Ngôn ngữ ông dùng thật khiêm nhường: Tôi là kẻ nơi quê mùa, làm sao biết được các vị ở nơi triều đình đông đúc như thế này. Ông còn dũng cảm chỉ ra sự ngu dốt của các quan thái y trong triều, đó là việc ông không nghe theo lời ngụ ý của quan chánh đường mà vẫn hành động theo lương tâm nghề nghiệp của mình, trình đơn thuốc lên thánh thượng. Ông cũng là người thấy được căn bệnh thừa mứa, ngu dốt của bọn ở phù chúa một cách chính xác: Vì Thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ… nên phủ tạng yếu đi. Chốn lầu son gác ngọc ấy đã làm cho con người trở nên hao mòn, mất hết nhuệ khí, lại chứa toàn bọn ngu dốt như quan chánh đường và các quan thái y chỉ lo dùng thuốc công phạt theo ý mình. Tỏ ta đây là hiểu biết nhưng chỉ làm cho thế tử ngày càng yếu đi. Thế tử chính là nạn nhân của sự ngu dốt, của sự thừa thãi quá mức nơi phủ chúa. Đó cũng chính là những biểu hiện rõ nét nhất của một triều đại suy đồi đã đến lúc mạt vận, diệt vong, là sản phẩm của một chôn chỉ biết xu nịnh, ăn chơi phè phỡn không lo cho cuộc sống của nhân dân lao động.
Lê Hữu Trác nhanh chóng nhận ra khuyết tật của phủ chúa, phán xét chính xác căn bệnh của thế tử, đồng thời cũng thấy được căn bệnh chung của nơi giàu sang này. Chính vì thế mà có lúc ông đã do dự: Nếu mình làm, sao về núi được nữa, chi bằng ta dùng phương thuốc hòa hoãn, nếu không trúng thì cũng không sai bao nhiêu. Từ xưa đến nay, con người chỉ sợ thất bại, khổ đau. Còn với Lê Hữu Trác thì hoàn toàn ngược lại, ông sợ công danh, sợ uy quyền ràng buộc. Nhưng những suy nghĩ ấy nhanh chóng mất đi, nhường chỗ cho chữ trung, chữ đức cha ông mình đời đời… để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình mới được. Là một nhà nho chân chính, dù lánh xa danh lợi, nhưng để giữ vững khí tiết của mình, ông vẫn đặt chữ trung lên hàng đầu, dù vị chúa mà ông thờ, triều đại mà ông sống là một xã hội thối nát, suy đồi. Ông có thể làm như suy nghĩ ban đầu, không hại ai, cũng không gây đau khổ cho ai, nhưng vì tấm lòng lương y như từ mẫu cứu người không phân biệt sang hèn, đẳng cấp, Lê Hữu Trác đã làm đúng tâm đức của một thầy thuốc. Tấm lòng ấy đáng được ca ngợi.
Phải có một cái nhìn tinh tế, một tâm hồn và nhân cách cao thượng, tác giả mới có cái nhìn sắc sảo và chân thực về cuộc sống xa hoa mà tàn tạ nơi phủ chúa.
Tóm lại, qua đoạn Vào Trịnh phủ chúng ta đã thấy được khung cảnh giàu có, xa hoa nơi phủ chúa, đồng thời cũng nhận thây một nhân cách cao thượng trong con người của danh y Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác. | Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác | 1,468 | |
Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác không chỉ là một danh y nổi tiếng, mà còn là một tác giả có nhiều tác phẩm văn học có giá trị thời trung đại. Lê Hữu Trác để lại cho đời một sự nghiệp y học đồ sộ, nổi bật hơn cả là bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh được coi là bách khoa toàn thư về y học thế kỉ XVIII. Các tác phẩm của ông không chỉ có giá trị về y học mà còn mang nhiều giá trị văn học sâu sắc vì đã ghi lại cảm xúc chân thật cùng như bộc lộ tâm huyết, đức độ của người thầy thuốc. Thượng kinh kí sự là tập kí sự nổi tiếng trong cuộc đời Lê Hữu Trác. Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh. Đoạn trích vào Trịnh phủ không chỉ miêu tả cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, mà còn thể hiện rõ nét tâm hồn và nhân cách của vị lương y tài hoa đức độ nà
“ Vào phủ chúa Trịnh” là một đoạn trích được rút ra từ “ Thượng thư kí sự” của tác giả Hải Thượng Lãn Ông –Lê Hữu Trác. Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh cũng như quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh. Đoạn trích vào Trịnh phủ không chỉ miêu tả cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, mà còn thể hiện rõ nét tâm hồn và nhân cách của vị lương y tài hoa đức độ này.
Đoạn trích “Vào phủ chúa trịnh ghi lại thời điểm:” Sau khi Hải Thượng Lãn Ông vào kinh, đang tá túc tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì ông được mời vào phủ chúa Trịnh để xem bệnh cho Thế tử Cán. Đây là lần đầu tiên ông bước chân vào chốn thâm nghiêm này. Qua đây tác giả có cơ hôi chiêm ngưỡng và chứng kiến sự giàu có xa hoa và cung cách làm việc nơi phủ chúa. Trước hết là quang cảnh trong phủ chúa Trịnh, đập ngay vào mắt tác giả là những quang cảnh của cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm. quả thật đây là một nơi sang trọng bậc nhất thiên hạ. Bên cạnh đó vào phủ chúa phải trải qua biết bao nhiêu là cửa sự trang nghiêm nơi đây thật sự khiến cho người ta rụt rè chân bước “ Hậu mã quân thúc trực” để cho chúa sai việc. Không chỉ dừng lại đó bên trong cửa phủ thì có những “đại đường”, “quyền bổng”, “gác tía” với kiệu son, võng nghi lộng lẫy, tất cả mọi thứ đều được mạ vàng. Từ những chiếc cột cho đến những mâm bát chén cũng đều như được dát vàng. Cuộc sống ở đây quả thực xa hoa bậc nhất.
Sự sang trọng mà hiển diện trong phủ chúa được tác giả miêu tả và nhận xét là “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”. Khi tác giả bước chân đến nội cung của thế tử thì phải bước qua mấy lần trướng gấm. Trong căn phòng của thế tử cũng có nhiều thứ rất sang trọng mà người đời mấy ai được xem qua. Trướng gấm, những sập cũng sơn son thiếp vàng, ghế rồng hương hoa bay ngào ngạt. Sự giàu có của phủ chúa không thể nói hết trong một hai câu, có thể những gì viết ra chỉ lột tả hết một phần của sự nguy nga tráng lệ nơi đây. Cảnh tượng ấy thật sự là khiến cho người ta đau lòng vì khi nhân dân thì đang khổ sở với cuộc sống thì chúa cái người mà đứng ra cai quản lại có thể ăn chơi xa đọa trước những vất vả của nhân dân như vậy.
Không chỉ có quang cảnh ở đây lộ vẻ xa hoa mà ngay cả tới người hầu kẻ hạ cũng ra vào tấp lâp “đầy tớ chạy trước hết đường”, rồi lại đến “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Lời nói của mọi người khi nhắc đến thế chúa và thế tử đều rất cung kính, lễ độ. Riêng với chúa Trịnh lúc nào cũng có những cung tần mĩ nữ xung quanh để hầu hạ. Chúa giống như những bậc thánh khiến cho tác giả cũng khó mà gặp mặt chúa mà chỉ làm theo chỉ dẫn để vào cung thăm bệnh cho thế tử Trịnh Cán mà thôi. Khi xem bệnh xong thì không được trao đổi với chúa mà phải viết giấy khai đưa lên. Còn riêng phần thế tử thì khi bị bệnh lại có rất nhiều tầm bảy, tám ngự y thúc tục vây quanh. Cung cách khám bênh ở phủ chúa, những ngự y ở đây, muốn khám bệnh cho con chúa thì đều phải quỳ lạy dưới chân của một đứa bé. Không chỉ vậy mà người gọi chúa Trịnh là thánh thượng, các chữ “thánh” ấy phải chăng chúa Trịnh đang quá lạm dụng quyền hành của mình.
Qua đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh Qua tác giả đã phơi bày cuộc sống xa hoa ở đây cũng như cung cách của con người trong phủ chúa. Sự xa hoa ấy không phải là một lời khen ngợi, ca ngợi sự nguy nga ở đây mà chính là nói lên sự thực sự tráng lệ đó là chính nhân dân khổ cực bị chúa bóc lột đến tận xương hay không.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh | 998 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt"
Bài làm
A. MỞ BÀI
Trong làng kịch nói Việt Nam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ – một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở nhiều lĩnh vực như viết truyện ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh… nhưng ông được xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt nam hiện đại.
Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Bằng nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối vở kịch đem đến cho người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt.
Phân tích đoạn trích vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt"
B. THÂN BÀI
Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được Lưu Quang Vũ viết năm 1981, công diễn lần đầu tiên năm 1984, sau đó được diễn lại nhiều lần trong và ngoài nước. Từ cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lại thành một vở kịch nói hiện đại và lồng vào đó nhiều triết lí nhân văn về cuộc đời và con người. Trong tác phẩm, Trương Ba là một ông lão gần sáu mươi, thích trồng vườn, yêu cái đẹp, tâm hồn thanh nhã, giỏi đánh cờ. Chỉ vì sự tắc trách của Nam Tào gạch nhầm tên mà Trương Ba chết oan. Theo lời khuyên của “tiên cờ” Đế Thích, Nam Tào, Bắc Đẩu “sửa sai” bằng cách cho hồn Trương Ba được tiếp tục sống trong thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà. Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba và một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú nhờ vào người khác. Do phải sống tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình. Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt. Qua các cuộc đối thoại của Trương Ba, tác giả dần tạo nên một mạch truyện dẫn dắt người xem hiểu sâu hơn về Trương Ba
1. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt: Có thể nói Trương Ba đã chết một cách vô lí, ai cũng biết cái chết của Trương Ba là do sự vô tâm và tắc trách của Nam Tào. Nhưng sự sửa sai của Nam Tào và Bắc Đẩu theo lời khuyên của Đế Thích nhằm trả lại công bằng cho Trương Ba lại đẩy Trương Ba vào một nghịch cảnh vô lí hơn là linh hồn mình phải trú nhờ trong thể xác của kẻ khác. Do phải sống nhờ thể xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo một số nhu cầu hiển nhiên của xác thịt. Linh hồn nhân hậu, trong sạch, bản tính ngay thẳng của Trương Ba xưa kia, nay vì phải sống mượn, vá lắp, tạm bợ và lệ thuộc nên chẳng những đã không sai khiến được xác thịt thô phàm của anh hàng thịt mà trái lại còn bị cái xác thịt ấy điều khiển. Đáng sợ hơn, linh hồn Trương Ba dần dần bị nhiễm độc bởi cái tầm thường của xác thịt anh đồ tể. Hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ (Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải). Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng.Ý thức được điều đó linh hồn Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt để tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào thể xác. Xác hàng thịt biết rõ những cố gắng đó là vô ích, đã cười nhạo hồn Trương Ba, tuyên bố về sức mạnh âm u, đui mù ghê gớm của mình, ranh mãnh dồn hồn Trương Ba vào thế đuối lí và hơn nữa, ve vãn hồn Trương Ba thoà hiệp vì, theo lí lẽ của xác thịt là “chẳng còn cách nào khác đâu”, vì cả hai “đã hoà vào nhau làm một rồi”. Trước những “lí lẽ ti tiện” của xác thịt, Trương Ba đã nổi giận, đã khinh bỉ, đã mắng mỏ xác thịt hèn hạ nhưng đồng thới cũng ngậm ngùi thấm thía nghịch cành mà mình đã lâm vào, đành nhập trở lại vào xác thịt trong tuyệt vọng. Hai hình tượng hồn Trương Ba và xác hàng thịt ở đây mang ý nghĩa ẩn dụ. Một bên đại điện cho sự trong sạch, nhân hậu và khát vọng sống thanh cao, xứng đáng với danh nghĩa con người và một bên là sự tầm thường, dung tục. Nội dung cuộc đối thoại xoay quanh một vấn đề giàu tính triết lí, thể hiện cuộc đấu tranh dai dẳng giữa hai mặt tồn tại trong một con người. Từ đó nói lên khát vọng hướng thiện của con người và tầm quan trọng của việc tự ý thức, tự chiến thắng bản thân Màn đối thoại này cho thấy
• Trương Ba được trả lại cuộc sống nhưng là một cuộc sống đáng hổ thẹn vì phải sống chung với sự dung tục và bị sự dung tục đồng hoá.
• Không chỉ đừng lại ở đó, tác giả cảnh báo: khi con người phải sống trong dung tục thì tất yếu cái dung tục sẽ ngự trị, sẽ thắng thế, sẽ lấn át và sẽ tàn phá những gì trong sạch, đẹp đẽ, cao quý trong con người.
2. Màn đối thoại giữa Trương Ba với người thân Không phải ngẫu nhiên, tác giả không đưa anh con trai thực dụng của Trương Ba vào cuộc đối thoại của Trương Ba với những người thân. Các cuộc đối thoại với vợ con dâu và cháu gái càng làm cho Trương Ba đau khổ hơn. ông hiểu những gì mình đã, đang và sẽ gây ra cho người thân là rất tệ hại nặc dù ông không hề muốn điều đó. Thái độ của vợ trương Ba, con đâu và cháu gái trước sự biến đổi và tha hoá của Trương Ba.
• Vợ Trương Ba buồn bã, đau khổ nhưng vốn bàn tính vị tha nên định nhường Trương Ba cho cô vợ anh hàng thịt.
• Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, “khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị không thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nối có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”.
• Trái lại, cái Gái, cháu Trương Ba thì phản ứng quyết liệt và dữ dội. Tâm hồn tuổi thơ vốn trong sạch, không chấp nhận sự tầm thường, dung tục nên không chấp nhận người ông trong thể xác anh hàng thịt thô lỗ. Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân (tôi không phải là cháu ông… Ông nội tôi chết rồi). Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây nó không thể chấp nhận cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “to bè như cái xẻng” đã làm “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy”. Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”. Tuy nhiên, họ chỉ là những người dân thường, họ không giúp gì được cho tình trạng hiện tại của Trương Ba. Tình huống kịch thúc đẩy Trương Ba phải lựa chọn và sau màn độc thoại nội tâm (hồn Trương Ba thách thức xác anh hàng thịt: “có thật là không còn cách nào khác?” và phản kháng quyết liệt: “Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”).!”. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.
3. Màn đối thoại giữa. Trương Ba với Đế Thích: Gặp lại Đế Thích, Trương Ba thể hiện thái độ kiên quyết chối từ, không chấp nhận cái cảnh phải sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo nữa và muốn được là mình một cách toàn vẹn “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Qua lời thoại này của nhân vật Trương Ba. Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm vào đó thông điệp: Con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hoà. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục tội lỗi. Khi con người bị chi phối bở những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng đỗ lỗi cho thân xác và tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Lúc đầu Đế Thích ngạc nhiên nhưng khi hiểu ra thì khuyên Trương Ba nên chấp nhận vì thế giới vốn không toàn vẹn, dưới đất, trên trời đều thế cả. Nhưng Trương Ba không chấp nhận lí lẽ đó. Trương Ba thẳng thắn chỉ ra sai lầm của Đế Thích: “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần biết”. Sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chấp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Lòng tốt hời hợt thì chẳng đem lại điều gì thực sự có ý nghĩa cho ai mà sự vô tâm còn tệ hại hơn, nó đẩy người khác vào nghịch cảnh, vào bi kịch! Đế Thích định tiếp tục sửa sai của mình và của Tây Vương Mẫu bằng một giải pháp khác, tệ hại ít hơn là cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị nhưng Trương Ba đã kiên quyết từ chối, không chấp nhận cái cảnh sống giả tạo, mà theo ông là chỉ có lợi cho đám chức sắc tức lão lí trưởng và đám trương tuần, không chấp nhận cái cuộc sống mà theo ông là còn khổ hơn là cái chết. Trương Ba kêu gọi Đế Thích hay sửa sai bằng một việc làm đúng, đó là trả lại linh hồn cho bé Tị. Đế Thích cuối cùng cũng đã thuận theo đề nghị của Trương Ba với lời nhận xét: “Con người hạ giới các ông thật kì lạ”. Người đọc, người xem có thể nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía qua hai lời thoại này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện. Qua màn đối thoại, có thể thấy tác giả gửi gắm nhiều thông điệp vừa trực tiếp vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ, quyết liệt vừa kín đáo và sâu sắc về thời chúng ta đang sống. Tuy vậy, chỉ cần nhấn mạnh ở đây vẻ đẹp tâm hồn của những người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo để bảo vệ quyền được sống toàn vẹn, hợp với lẽ tự nhiên cùng sự hoàn thiện nhân cách. Chất thơ của kịch Lưu Quang Vũ cũng được bộc lộ ở đây.
4. Màn kết: Trương Ba trả lại xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết để linh hôn được trong sạch và hoá thân vào các sự vật thân thương, tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những người thân yêu của mình. Cuộc sống lại tuần hoàn theo quy luật của muôn đời. Màn kết với chất thơ sâu lắng đã đem lại âm hưởng thanh thoát cho một bi kịch lạc quan đồng thời truyền đi thông điệp về sự chiến thăng của cái Thiện, cái Đẹp và của sự sống đích thực.
C. KẾT BÀI
Không chí có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, rong vở kịch nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ: Thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển. Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn. Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán. Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi. Với tất cả những ý nghĩa đó, đoạn trích rất tiêu biểu cho phong cách viết kịch của Lưu Quang Vũ. | Phân tích đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” | 2,592 | |
Phân tích đoạn trích Xúy Vân giả dại
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Xúy Vân giả dại
Thuộc loại hình sân khấu dân gian, chèo được hình thành và phát triển ở nước tâ từ rất sớm. Những vở chèo nổi tiếng nhất có thể kể đến như: Quan âm Thị Kính, Kim Nhan…những vở chèo không chỉ nhằm mục đích giải trí mà thông qua vở chèo các tác giả dân gian đã gửi gắm biết bao quan niệm về nhân sinh. Chèo đối với cuộc sống của con người đã trở nên vô cùng quen thuộc, chẳng những vậy mà nhà văn Nguyễn Bính cũng từng viết:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay… ”
Trong những trích đoạn chèo hay và nổi tiếng nhất có thể kể đến, đó chính là Xúy Vân giả dại. Trích đoạn chèo này thuộc vở chèo Kim Nham, nói về việc Xúy Vân có những dan díu bất chính với tình nhân là Trần Phương khi chồng vắng nhà. Để có thể đến được với Trần Phương, Xúy Vân đã quyết định giả dại để làm lí do có thể li hôn với Kim Nhan.
Ở phần mở đầu, Xúy Vân xuất hiện với những tiếng hát và hành động quay cuồng, tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, nửa ngây nửa dại. Xúy Vân đã cất tiếng hát than thở với bà NGuyệt về tình duyên của mình, sau đó Xúy Vân đã mượn hình ảnh con đò tình duyên để nói về mình, một người phụ nữ mòng mỏi chờ chồng, hạnh phúc dang dở.
Tôi càng chờ, càng đợ, càng trưa chuyến đò”
Tuy lời hát xuất phát từ trạng thái nửa tỉnh nửa ngây nhưng qua lời hát ấy chúng ta vẫn có thể cảm nhận được tâm trạng đầy đau khổ, day dứt của một cô gái đang lo lắng trước tuổi xuân đang trôi qua, hình ảnh của cô gái ấy như một người lữ khách đứng trên bến đò vắng nhưng chưa thấy bóng dáng con đò.
Ở những câu hát tiếp theo, dưới hình thức của những câu thơ lục bát biến thể, Xúy Vân đã thể hiện được tâm trạng của một người con gái đã có chồng, tự do bị trói buộc, mọi thứ đều phải phụ thuộc vào chồng. Muốn qua sông lần nữa thì phải dứt bỏ tình duyên cũ với chồng:
“Chẳng nên gia thất thì về
Ở làm chi nữa chúng chê bạn cười”
Xúy Vân không phủ định mà thừa nhận tình cảm đổi thay của mình, cô gái ấy luôn khát khao tình yêu và có một niềm tin mãnh liệt vào một tương lai đầy hạnh phúc với tình nhân mới củy mình.
“Gió giăng thì mặc gió giăng
Đôi ta chỉ quyết đạo hằng với nhau”
Hình ảnh Xúy Vân mạnh mẽ tìm đến tình yêu của mình đã từng bị coi là hành vi phá bỏ những giá trị đạo đức phong kiến, phá vỡ đạo tam tòng tứ đức, trở thành một người nổi loạn chẳng quá cũng vì quá khát khao tình yêu và đắm chìm trong tình yêu ấy đến nỗi không thể thoát ra được.
“Chẳng giấu gì: tôi tên gọi Xúy Vân
Lấy Kim Nhan nhà khó gian truân
Chồng học vắng chầy ngày mong mỏi
Khi đã giới thiệu về bản thân mình. Xúy Vân cũng đã mạnh dạn thừa nhận mình đã phụ tấm lòng của Kim Nhan mà say đắm tình nhân trong hiện tại là Trần Phương, dẫu biết là sai trái nhưng tình cảm nào chịu nghe theo sự chi phối của lí trí:
“Phụ Kim Nham say đắm Trần Phương
Nên đến nỗi điên cuồng dồ dại”
Nhưng cũng có những lúc Xúy Vân chợt bừng tỉnh khỏi cơn mê để nhận thức được cái dại khờ của mình:
“Rồ này ai bán thì mua
Dại này ai thấy không mơ mẩn tình
Lúc thì giả cách làm thinh
Lúc thì giả dại ra hình làm điên”
Trích đoạn Xúy Vân giả dại đã làm nổi bật lên tâm trạng nhiều đau khổ, day dứt của Xúy Vân, một cô gái đa tình mà đành phụ tình, đi theo tình yêu mới. Tuy nhiên nàng cũng không hề hay biết rằng người mà mình yêu say đắm Trần Phương lại là một tên Sở Khanh không hơn không kém. | Phân tích đoạn trích Xúy Vân giả dại | 729 | |
Đề bài: Phân tích – Bình luận đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục (trích Trưởng giả học làm sang) của Mô-Li-e
Bài làm
Đây là trích đoạn trong vở hài kịch nổi tiếng của Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang (lớp 5, hồi II). Nói đến kịch phải nói đến xung đột kịch. Nhưng đi vào hài kịch thì cái mà người xem chú ý nhất lại là nghệ thuật gây cười. Trong những tình huống nhất định, nhân vật chính của hài kịch xuất hiện đem đến cho người xem những nụ cười sảng khoái. Đạt đến mức ấy, vở kịch đã thành công.
1. Cảnh thứ nhất: ông Giuốc-đanh và bác phó may.
Đối thoại đầu tiên của hai nhân vật xung quanh chuyện bít tất với đôi giày. Ở đây, ông Giuốc-đanh là người có lí, bởi cả hai thứ ông ta đều đi chật. Còn vì sao ông ta phải “khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được” (đối với tất) hay nó “làm tôi đau chân ghê gớm” (đối với đôi giày) chẳng qua là ở thói láu cá ăn bớt tiền của bác phó may (số nhỏ thì thường ít tiền hơn số đo lớn hơn), cũng như ở đoạn sau: may một bộ lễ phục cho khách mà bác ta cố tinh gạn đủ một cái áo cho mình. Biết tỏng những mẹo vặt ấy, ông Giuốc-đanh dồn bác ta vào thế chân tường. Ăn vụng bị bắt quả tang, bác phó may là người đuối lí. Người xem hoàn toàn đồng cảm với ông Giuốc-đanh vì lúc này trí óc ông còn tỉnh táo. Vì tỉnh táo nên lí luận sắc sảo. Chẳng hạn khi bác phó may chống chế về đôi tất không xỏ vừa chân “Rồi nó dãn ra thì lại rộng quá ấy chứ”, ông Giuốc-đanh đốp vào mặt bác ngay “Phải, nếu tôi cứ làm đứt mãi các mắt thì sẽ rộng thật”. Còn với đôi giày đi chật, bác phó may không chịu, cho đó chí là tưởng tượng (“Ngài cứ tưởng tượng ra thế”), ông Giuốc-đanh có lẽ phải của ông: “Tôi tưởng tượng ra thế vì tôi thấy thế. Bác này lí luận hay nhỉ!” Cái đúng ở ông Giuốc-đanh có được là nhờ vào thực tế, lấy thực tế (là đôi chân của mình) làm thước đo, vì vậy mà phân biệt được phải trái rạch ròi.
Phân tích đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục của Mô-Li-e
Khi không còn chỗ dựa ấy, hoặc lấy tưởng tượng làm chỗ dựa cho mình, ví như hình mẫu một nhà quý tộc trong cách ăn mặc ra sao, ông ta không còn sáng suốt nữa. Bị mù quáng và mê hoặc, ông Giuốc-đanh chỉ còn là một thứ hình nộm, một thứ con rối do người khác điều khiển giật dây. Nghệ thuật gây cười bắt đầu từ đó. Câu giới thiệu về bộ lễ phục vừa may xong của bác phó may đối với ông Giuốc-đanh như một phép thử, thử xem ông ta đã mê muội đến đâu: “Thưa, đây là bộ lễ phục đẹp nhất triều đình và may vừa mắt nhất. Sáng chế ra được một bộ lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen thật là tuyệt tác…”. Nhưng, sự khoác lác của bác phó may không hoàn toàn làm cho ông Giuốc-đanh bị hoa mắt. Ông ta lại có lí luận của ông ta: “Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi!” Lần này, ông ta vẫn có lí vì người thợ may nào chẳng phân biệt được cái điều sơ đẳng ấy. Nhưng cái lí của ông ta (Giuốc-đanh) chỉ có đến như thế, rồi thôi. Câu chống chế của bác phó may làm cho lão nửa tin nửa ngờ: “Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quý phái đều mặc như thế này cả”. Câu thứ nhất, lão chắc không tin, nhưng đến câu thứ hai thì lão đã có phần tin, vì tin mà lão chì cần hỏi lại bác phó may tinh khôn bằng một giọng của kẻ đáng thương đuối lí: “Những người quý phái mặc áo hoa ngược ư?”. Với người xem, luận điệu của bác phó may rõ ràng là lừa bịp (lễ phục không may màu đen, lại còn may hoa ngược), còn với ông Giuốc-đanh, ông thay đổi rất nhanh như người vồ được của. Vồ được của rồi, ông hí hửng, ông ôm giữ khư khư. Lại một phép thử nữa xem cá cắn câu đến mức độ nào khi bác phó may nói rằng hoa ngược có thể đổi thành hoa xuôi (?) thì ông Giuốc-đanh chối đây đẩy: “Không, không” và lảng sang chuyện khác: “Bác cho rằng tôi mặc áo này có vừa vặn không?”. Sự đắc ý của ông Giuốc-đanh đã lên đến tột độ khi có được bộ lễ phục đúng mốt quý tộc. Điều đó làm cho lão lờ đi những chuyện vặt vãnh, rãu ria. Bộ tóc giả và lông đính mũ, lão chỉ hỏi lấy lệ, qua loa, cũng như biết bác phó may ăn bớt vải một cách tham lam, trắng trợn (dám mặc áo bằng vải của mình trước mặt mình), lão cũng chỉ. phàn nàn đôi chút mà thôi (“Đành là đẹp, nhưng đáng lẽ đừng gạn vào áo của tôi mới phải”). Xung đột kịch, diễn biến kịch không căng thảng (như bi kịch chẳng hạn) nhưng qua nhân vật hài (ông Giuốc-đanh), tác giả đã giúp ta hình dung: thói học đòi, bắt chước đã biến đổi con người sâu sắc biết chừng nào. Sự sáng suốt bỗng trở lên mù quáng. Đúng mà hoá thành sai và ngược lại. Rối tinh lên và lộn tùng phèo không còn biết đâu là chân lí nữa.
2. Cảnh thứ hai: ông Giuốc-đanh và những tay thợ phụ.
Nếu ở cảnh thứ nhất, sự lừa bịp đã thành công vì cái sự học đòi biến con người (ông Giuốc-đanh) thành một thứ mồi ngon của nó thì ở cảnh thứ hai, sự
tâng bốc đã thắng lợi vì những danh tiếng hão huyền mà con người thường ước mơ, khao khát.
Đầu tiên, nghe chú thợ phụ xin tiền uống rượu, ông Giuốc-đanh giật mình, giật mình không phải vì sợ (sợ mất tiền, cái sợ cố hữu của những người giàu keo kiệt) mà vì sung sướng, mở mày mở mặt: lần đầu tiên, ông ta được gọi là ông lớn. Một cách gọi chưa quen nên chưa dám tin không biết mình có phải nghe nhầm hay không? Ông ta phải hỏi lại cho chắc chắn. Khi biết đích xác là như thế qua lời nhắc lại của chú thợ phụ, nhất là khi tin vào lập luận của chính ồng ta (“Ấy đấy, ăn mặc theo lối quý phái thì thế đấy! Còn cứ bo bo giữ kiểu áo quần trưởng giả thì đời nào được gọi là ông lớn”), sự trả giá của ông Giuốc-đanh thật là hào phóng (“Đây, ta thưởng vể tiếng ông lớn đây này!”). Thói láu cá ranh ma – thực chất là từ lòng tham của tay thợ phụ có cái mũi rất tinh. Nó đánh hơi được con mồi béo bở: kẻ thích tâng bốc có cả một túi tiển. Túi tiền ấy giúp cho chú thợ phụ tinh khôn leo thang từng nấc một, biết kiềm chế, cứ từ từ, không đi đâu mà vội. Hãy cứ để cho người có túi tiền kia có thời gian tận hưởng niềm vui. Vì cứ có niềm vui của lão là tiền sẽ được xì ra. Lão không tiếc tiền vì lão cần danh vọng hơn, dù sự tôn vinh ấy có là.giả tạo đi chăng nữa. Cứ thế, danh vọng hão nhưng tiền lại là có thật. Những chú thợ phụ chỉ cần có thế, cứ tha hồ đem đến cho lão những niềm vui. Song, nhân vật chính ở cảnh này không phải là các chú thợ phụ, dù họ có đến bốn năm người và dù họ có mưu ma chước quỷ đến đâu. Nhún vật ông Giuốc-đanh mới lẳ đối tượng mồi chài của họ, là nạn nhân mà cứ tưởng mình là ông lớn, mới là nhân vật trung tâm. Nhân vật ấy hiện trên sân khấu như cứ bằng xương thịt hẳn hoi vì ông ta là một người có tính cách: lòng hám danh kể cả cái danh nếu chỉ cần tỉnh táo một chút thôi sẽ biết là giả dối. Lão Giuốc-đanh còn tỉnh táo làm sao được trước vòng hào quang đường mật? Hệ thống đại từ nhân xưng: ông lớn, cụ lớn, đức ông thường dùng với những nhà quý tộc đã được lạm phát ở đây, với người xem nó dùng để lừa người, lừa những kẻ trưởng giả như ông Giuốc-đanh ngu dốt hám danh. Ấy là còn chưa kê đến trình tự từ thấp đến cao của nó. Dù có là quý tộc hẳn hoi đi nữa thì làm sao có sự thăng cấp liên tục và chỉ trong phút chốc thế kia? Thế mà ông Giuốc-đanh có lần nào không vui, lần nào cũng như mở cờ trong bụng, và không lần nào giống lần nào. Hai lần trước ông ta say, say trước những từ ngữ đại ngôn hoa mĩ. Niém vui của nhân vật lớn bé tuy có khác nhau, nhưng là niềm vui trọn vẹn, ông ta thoả mãn và có thể ngủ yên trong vòng tay của giấc mơ hạnh phúc tràn đầy. Nhưng đến lần thứ ba, ông ta có phần hồi tỉnh.
Tóm lại, tình huống kịch và diễn biến kịch dù chí qua hai cảnh diễn nhưng rất sinh động, luôn luôn phát triển. Từ đó mà nhân vật kịch được khắc hoạ tài tình. Nổi bật lên một tính cách rất đáng bị phê phán: thói học đòi làm sang của hạng người trưởng giả. Tính cách ấy biến con người thành một thứ trò hể mà chính con người – hể kia không tự biết. Dĩ nhiên, nhân vật của Mô-li-e chỉ là sản phẩm của một thời (thế kỉ XVII), của một nền văn chương (văn chương Pháp). Nhưng là một hình tượng nghệ thuật được xây dựng rất thành công như thế, cho đến ngày hôm nay, nó vẫn là một cảnh báo. Con người sẽ không còn là con người nếu bị nhiễm dộc về tinh thần. Sự biến chất, sự thoái hoá sẽ diễn ra như một thứ nguy cơ không thể nào tránh được. | Phân tích đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục của Mô-Li-e | 1,768 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trong tác phẩm Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e
Bài làm
Tác giả Mô -li- e là một nhà văn nhà biên kịch lớn của nền văn chương Châu Âu thế kỷ 17. Ông chính là người tạo dựng, sáng lập ra nền hài kịch cổ điển Pháp. Trong các tác phẩm của mình ông đều phản ánh những thói hư tật xấu của lớp người quý tộc.
Tác phẩm “Trưởng giả học làm sang” là một vở hài kịch nổi tiếng thể hiện sự châm biếm những thói hư tật xấu của con người tuy có ít tiền nhưng thiếu học thức. Lúc nào cũng tỏ vẻ ta đây hiểu biết sành điệu, quý tộc
Trích đoạn “Ông Giuốc- đanh mặc lễ phục” nhân vật trung tâm là ông Giuốc đanh một người giàu có tuổi ngoại tứ tuần, dốt nát ít chữ nghĩa không được học hành nhiều, nhưng may mắn giàu có nên ông ta lúc nào cũng học đòi làm sang.
Những kẻ xu nịnh bủa vây xung quanh ông, nịnh hót, để kiếm chác, moi tiền của ông Giuốc đanh nhưng ông không hề hay biết cứ tưởng mình quyền quý, cao sang khiến nhiều người nể trọng.
Ông Giuốc đanh đi may lễ phục lối phong cách ăn mặc của những gia tộc quyền quý, do không hiểu biết nên Giuốc đanh bị thợ may chơi đểu, moi tiền. Tác giả đã vô cùng tinh tế khi khắc họa nhân vật Giuốc đanh đúng tính cách của một tên trọc phú lắm tiền những ngu dốt, thích đua đòi theo người ta nhưng chỉ làm trò hề cho thiên hạ mà thôi.
Vở kịch chia làm hai cảnh chính. Trong cảnh một ông Giuốc-đanh xuất hiện với bác phó may diễn ra tại một phòng trà cao cấp ” Bác đã tới đấy à? Tôi sắp phát khùng lên vì bác đây”. Những lời reo vui mừng, vừa nhắc nhở của ông Giuốc đanh khi người thợ may vừa bước ra.
Thái độ mừng vui nay cho thấy ông Giuốc -đanh vô cùng vui mừng, hào hứng khi thấy bộ quần áo mình đặt may đã xong. Bộ lễ phục ấy không chỉ là một bộ quần áo thông thường mà nó thể hiện sự giàu sang, quyền lực của một người khi gia nhập tầng lớp quý tộc thời xưa.
Nhưng ông Giuốc-đanh ngây thơ đã bị người phụ tá thợ may lừa gạt. Những thứ ông mua chỉ toàn đồ dởm, đồ rẻ tiền, bít tất trật mới đi vào đã đứt mất hai mắt rồi, hay giày không vừa với bàn chân khiến ông sẽ bị đau chân khi mang nó. Tình huống hài hước châm biếm gây cười xuất hiện. Bác phó may đã khôn khéo qua mặt, lấp liếm để tránh những trách móc của Giuốc đanh khi chuyển chủ đề. Khi ông Giuốc- đanh phát hiện hoa bị may ngược.
Thì bác phó may đáp lại ngay rằng “nào ngài có bảo ngài muốn ay hoa xuôi”. Khiến ông Giuốc -đanh giận điên người nhưng khi nghe bác phó may nói là quý tộc nào cũng đều thích hoa ngược, thì ông Giuốc đanh đã thay đổi thái độ “Bộ này may được đấy” điều này cho thấy ông Giuôc đanh chỉ cần được làm quý tộc còn đẹp xấu, thẩm mỹ như thế nào ông không quan tâm. Có lẽ nếu ở trần mà thành quý tộc thì ông cũng thấy nó đẹp.
Bọn thợ phụ thi nhau nịnh hót, lừa phỉnh ông để kiếm tiền của Giuốc đanh, việc kiếm tiền trở nên quá dễ dàng khiến cho bọn chúng thi nhau đào mỏ.
Tác giả đã vô cùng sâu sắc, tinh tế khi xây dựng nhân vật Giuốc -đanh ngu dốt nhưng thích học đòi làm sang, thích trở thành quý tộc trong khi mình xuất thân hèn kém may mắn nhờ trúng quả mà trở nên giàu có. Nhưng ông ta lại muốn một bước lên trời gia nhập giới thượng lưu được vạn người nể trọng. Khiến cho ông trở thành mỏ vàng để đào cho những kẻ đào mỏ, nịnh hót, cơ hội. | Phân tích đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trong tác phẩm Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e – văn lớp 8. | 701 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trong tác phẩm Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e.
Bài làm
Mô-li-e (1622 – 1673) sinh trưởng ở Pa-ri, trong một gia đình buôn bán giàu có. Cha là một thương gia nổi tiếng, sau được phong một chức quan nhỏ hầu cận nhà vua. Người cha muốn con trai kế tục chức vị của mình nhưng Mô-li-e từ chối và hăm hở bước vào lĩnh vực nghệ thuật sân khấu. Sau này, ông trở thành nhà biên kịch lớn của châu Âu thế kỉ XVII và là người sáng lập ra nền hài kịch cổ điển Pháp.
Trưởng giả học làm sang là một vở hài kịch năm hồi, có xen những màn ca múa phụ họa nên gọi là vũ khúc hài kịch. Nội dung tóm tắt như sau:
Giuốc-đanh tuổi ngoài bốn mươi, thuộc tầng lớp thị dân phong lưu, giàu cổ. Nhờ bố mẹ ngày trước làm nghề buôn len dạ tích luỹ được khá nhiều tiền nên giờ đây, Giuốc-đanh muốn trở thành quý tộc để được bước chân vào xã hội thượng lưu. Bắt chước những người cao sang, lão thuê thầy về dạy cho mình đủ các môn như âm nhạc, kiếm thuật, triết lí và cả cách ăn mặc, nói năng… Giuốc-đanh mù quáng và nhẹ dạ đã bị lừa bịp một cách dễ dàng bởi các ông thầy rởm, bác phó may vụng về nhưng ba hoa, chú thợ phụ lẻo mép và cả gã bá tước sa sút Đô-răng-tơ. Vì muốn trở thành quý tộc nên Giuốc-đanh đã nhờ Đô-răng-tơ mai mối làm quen với bà hầu tước Đô-ri-men (chính là tình nhân của gã). Giuốc-đành từ chối gả con gái là Luy-xin cho Clê-ông chỉ vì chàng không phải dòng dõi quý tộc. Cuối cùng, nhờ mưu mẹo của nữ đầy tớ Cô-vi-en, Clê-ông cải trang làm hoàng tử Thổ Nhĩ Kì đến cầu hôn Luy-xin và đã được Giuốc-đanh vui vẻ chấp thuận.
Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục là lớp kịch kết thúc hồi Il của vở kịch Trưởng giả học làm sang. Có thể tóm tắt nội dung lớp kịch này như sau:
Giuốc-đanh dốt nát, quê kệch lại muốn học đòi làm sang nên đã bị nhiều kẻ lợi dụng moi tiền, cảnh Giuốc-đanh mặc lễ phục là một biểu hiện của thói học đòi lối ăn mặc sang trọng của quý tộc. Lão ta đã bị bọn thợ may lợi dụng. Tác giả đã khắc họa sinh động, tài tình, làm nổi bật tính cách lố lăng của một gã trọc phú thừa tiền rửng mỡ. Chân dung hài hước của Giuốc-đanh đã gây ra những trận cười sảng khoái cho khán giả. Màn kịch thể hiện thái độ châm biếm, đả kích và phê phán mạnh mẽ của Mô-li-e đối với giai cấp tư sản hãnh tiến đương thời.
Trong lớp kịch này, Mô-li-e sử dụng hai kiểu ngôn ngữ là ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật và ngôn ngữ kể chuyện của tác giả.
Ngôn ngữ trực tiếp có khi là lời đối thoại giữa các nhân vật với nhau. Ví dụ như Giuốc-đanh đối đáp với bác phó may về đôi bít tất lụa hay về đôi giày quá chật, về chiếc áo may ngược hoa… Cũng có khỉ là lời độc thoại như đoạn Giuốc-đanh tự nói với mình. Đoạn kể về cảnh bác phó may và bọn thợ phụ mặc lễ phục cho Giuốc-đanh là ngôn ngữ kể chuyện. Trong kịch nói thì đối thoại là ngôn ngữ chính, qua đó làm nổi bật tính cách nhân vật.
Màn kịch có hai cảnh: trước và sau khi Giuốc-đanh mặc lễ phục.
Cảnh một diễn ra tại phòng khách nhà Giuốc-đanh với ba nhân vật: Giuốc- đanh, bác phó may và một tay thợ phụ vừa mang bộ lễ phục đến nhà. Tính cách học đòi làm sang của Giuốc-đanh bộc lộ rất rõ qua cuộc đối thoại giữa lão ta và bác phó may về bộ lễ phục, đôi bít tất, đôi giày, bộ tóc giả và lông đính mũ. Người nghe bật cười trước những lời nói, sự việc, hành động trái ngược giữa bác phó may ranh ma và lão Giuốc-đanh khờ khạo.
Khi Giuốc-đanh tỏ ý sốt ruột vì bộ lễ phục may mãi chưa xong và cằn nhằn: Tôi sắp phát khùng lên vì bác đấy thì bác phó may láu cá lại viện cớ rằng vì bộ lễ phục này quá cầu kì nên vừa khó làm, vừa tốn công: Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại làm bộ lễ phục của ngài đấy.
Giuốc-đanh than phiền là đôi bít tất lụa bé quá, lão phải khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được và đã đứt mất hai mắt rồi thì bác phó may lại lí sự cù cưa theo kiểu thợ may, thợ giày rằng rồi nó giãn ra thì lại rộng quá ấy chứ. Lúc này, Giuốc-đanh vẫn tỉnh táo. Biết bác phó may cãi bừa nên lão mới bóng gió rằng: nếu các mắt của bít tất cứ đứt mãi thì sẽ rộng thật, nghĩa là sẽ rách toang không dùng được nữa.
Người xem đều thấy rõ Giuốc-đanh rất tỉnh táo và lời nói sắc bén của ông ta dường như đã làm cho bác phó may đuối lí.
Qua cuộc đối thoại này, chúng ta thấy cái đúng của Giuốc-đanh là ông ta lấy chính đôi chân của mình làm thước đo nên vẫn phân biệt được đúng sai (giày, tất đều quá chật làm cho chân bị đau). Tuy vậy, Giuốc-đanh lại dễ bị người khác điều khiển, chi phối vì không có lập trường vững vàng. Nghệ thuật gây cười bắt đầu từ đó. Đương nhiên là lão Giuốc-đanh làm sao thắng được miệng lưỡi dẻo quẹo của bác phó may.
Để gỡ thế bí, bác phó liền giới thiệu về bộ lễ phục vừa may xong với Giuốc- đanh. Đây là cách đánh trống lảng, tránh né thật tài tình: Thưa, đây là bộ lễ phục đẹp nhất triều đình và may vừa mắt nhất. Sáng chế ra được một bộ lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen thật là tuyệt tác. Tôi thách các thợ giỏi nhất mà làm nổi đấy.
Nhưng sự khoác lác của bác phó không lừa nổi Giuốc-đanh khi lão ta phát hiện ra chuyện động trời: Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi!
Thợ may nào mà chẳng hiểu được điều tối thiểu là vải hoa thì phải may cho hoa hướng lên trên. Nhưng phản ứng của Giuốc-đanh cũng chỉ dừng đến đấy. Bác phó may ranh mãnh chống chế: Nào ngài có bảo là ngài muốn may hoa xuôi đâu!
Giuốc-đanh không chấp nhận điều vô lí ấy và vặn lại:
– Lại cần phải bảo may hoa xuôi ư?
Câu chống chế của bác phó may làm cho Giuốc-đanh nửa tin nửa ngờ. Bác phó tinh ý nhận thấy sự dao động của lão nên tấn công tiếp:
– Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quý phái đều mặc như thế này cả.
Để được làm “quý tộc”, quan trọng nhất là phải có bộ lễ phục sang trọng. Thế mà bác phó lại may, lễ phục cho Giuốc-đanh bằng vải hoa, tệ hơn nữa là may hoa ngược. Giuốc-đanh bực mình lắm nhưng chỉ cần nghe bác phó khẳng định như đinh đóng cột rằng những người quý phái đều mặc như thế này cả thì vội vàng bằng lòng ngay vì đang khoái làm… quý tộc. Cho nên, lão chỉ hỏi lại bác phó may tinh khôn bằng giọng của kẻ ngờ nghệch đáng thượng:
– Những người quý phái mặc áo ngược hoa ư?
Người xem nhận ra lí sự của bác phó may rõ ràng là vụng chèo khéo chống, cố tình lừa bịp Giuốc-đanh. Bác phó may thấy mình đã thắng liền nói thêm một câu tỏ vẻ hờn dỗi là nếu Giuốc-danh không Ưng ý thì bác sẽ đổi lại chiều hoa cho đúng. Giuốc-đanh vì nôn nóng muốn làm quý tộc nên đầu óc bỗng mất sáng suốt, đúng hóa thành sai, rối tinh rối mù, vội khen rối rít:
– Ồ! Thế thì bộ áo này mạy được đấy.
– Nếu ngài muốn thì tôi xin may hoa xuôi lại thôi mà.
Giuốc-danh hoảng hốt, xua tay, lắc đầu lia lịa:
– Không, không.
Bác phó tiếp tục vờn Giuốc-đanh như mèo vờn chuột:
– Xin ngài cứ việc bảo.
Đến dây thì Giuốc-đanh đã sa bẫy một cách nhẹ nhàng mà không biết và lại càng tỏ vẻ cương quyết:
– Tôi đã bảo không mà. Bác may thế này được rồi. Bác cho rằng tôi mặc áo này có vừa vặn không?
– Còn phải nói! Tôi đố họa sĩ nào lấy bút mà vẽ hầu ngài bộ áo vừa khít hơn được. Ở nhà tôi có một chú thợ phụ may quần cộc thì tài nhất thiên hạ; và một chú khác là anh hùng của thời đại về may áo chẽn đấy.
– Bộ tóc giả và lông đính mũ có được chững chạc không?
– Chững chạc tuốt!
Sự đắc ý của Giuốc-đanh lên tới tột độ khi tin rằng mình đã có được bộ lễ phục đúng mốt quý tộc (!) Điều ấy làm cho lão ta sẵn sàng bỏ qua những chuyện vặt vãnh trước đó. Đến bộ tóc giả và lông đính mũ thì lão cũng chỉ hỏi qua loa lấy lệ.
Đoạn này có kịch tính rất cao. Bác phó may đang ở thế bị động (bị Giuốc- đanh phát hiện là may ngược hoa), đột ngột chuyển sang thế chủ động, tấn công đối phương bằng hai đề nghị liên tiếp: Nếu ngài muốn thì tôi sẽ xin may hoa xuôi lại thôi mà và Xin ngài cứ việc bảo. Thế là Giuốc-đanh sợ, cứ lùi mãi. Lão ta sợ là phải vì nếu bác phó nổi cơn tự ái may hoa lại cho đúng hướng thì còn gì là quý tộc nữa? Cho nên lão vội hỏi bác phó may rằng liệu bộ lễ phục lão mặc có vừa vặn không.
Điều đáng buồn cười thứ hai là vải hoa thì đương nhiên phải may bông hoa hướng lên trên, nhưng bác phó chẳng biết là do vụng hay do cố tình biến Giuốc-đanh thành trò cười cho thiên hạ nên đã may hoa chúc xuống phía dưới. Giuốc-đanh phát hiện ra điều đó nhưng chỉ cần bác phó may bịa ra chuyện những người quý phải đều mặc như thế này cả là lão chấp nhận ngay.
Sau đó, Giuốc-đanh tiếp tục phát hiện ra bác phó may ăn bớt vải của mình khi may bộ lễ phục trước nên lấy lại thế chủ động và trách bác ta. Bác phó may chống đỡ khéo léo: Chẳng là thứ hàng đẹp quá nên tôi đã gạn lại một áo để mặc và gỡ thế bí bằng cách hỏi Giuốc-đanh có muốn mặc thử bộ lễ phục mới không. Bác phó may tinh quái láu lỉnh đã đánh trúng tâm lí Giuốc-đanh đang nôn nóng muốn thành “quý tộc”để phớt lờ chuyện ăn bớt vải của mình:
– Mời ngài mặc thử bộ lễ phục chứ ạ.
– Ừ, đưa đây tôi.
– Khoan đã, không thể mặc như thế được. Thứ áo này phải mặc đúng thể thức, tôi có đem người đến để mặc hầu ngài theo nhịp điệu, ơ này! Vào đây, các chú. Các chú hãy mặc bộ lễ phục này hầu ngài theo cách thức mặc cho các nhà quý phái.
Mô-li-e chuyển tiếp từ cảnh trước sang cảnh sau rất tự nhiên và hợp lí. Nếu ở cảnh thứ nhất, bác phó may ranh mãnh đã tránh né rất thành công những sai sót của mình bằng chính sự nôn nóng học đòi làm sang của Giuốc-đanh thì ở cảnh thứ hai, chú thợ phụ láu cá đã kiếm được khá nhiều tiền nhờ đánh trúng vào tâm lí khao khát danh vọng hão huyễn của lão trưởng giả.
Khác với thủ đoạn của bác phó may là vụng chèo khéo chống, chú thợ phụ đã dùng mánh khoé nịnh hót và tâng bốc là chính. Khi vừa mặc xong bộ lễ phục cho Giuốc-đanh, gã thợ phụ muốn xin tiền uống rượu nên khúm núm tôn xưng lão là ông lớn. Giuốc-đanh giật mình vì lần đầu tiên trong đời được gọi là ông lớn. Lão chưa dám tin ở tai mình, không biết có phải là nghe nhầm hay không nên hỏi lại cho chắc chắn. Chú thợ phụ lại càng tỏ vẻ lễ phép hơn: Bẩm, ông lớn ạ. Điều đó khiến cho Giuốc-đanh sướng lắm và cứ tưởng rằng hễ mặc lễ phục vào là nghiễm nhiên trở thành quý tộc: Ấy đấy, ăn mặc theo lối quý phái thì thế đấy Ị Còn cứ bo bo giữ kiểu cũ quần trưởng giả thì đời nào được gọi là “ông lớn”. Giuốc-đanh phóng thưởng cho chú thợ phụ: Đấy, ta thưởng về tiếng “ông lớn” đây này. Thấy lão đã mắc mưu, tay thợ phụ tiếp tục tâng bốc lão lên tận mây xanh, hết gọi là ông lớn, cụ lớn, rồi đến đức ông. Chúng ta hãy lắng nghe lời đối thoại giữa chú thợ phụ và con người mắc bệnh ảo tưởng Giuốc-đanh:
– Bẩm ông lớn, xin ông lớn ban cho anh em ít tiền uống rượu.
– Anh gọi ta là gì?
– Bẩm, ông lớn ạ.– Ông lớn ư? Ấy đấy, ăn mặc theo lối quý phái thì thế đấy! Còn cứ bo bo giữ kiểu áo quần trưởng giả thì đời nào được gọi là “ông lớn”. Đây, ta thưởng về tiếng “ông lớn” đây này!
– Bẩm cụ lớn, anh em chúng tôi đội ơn cụ lớn lắm lắm.
– “Cụ lớn”, Ồ, ồ, cụ lớn! Chú mày thong thả tí đã. Cái tiếng “cụ lớn” đáng thưởng lắm. “Cụ lớn” không phải là một tiếng tầm thường đâu nhé. Này, cụ lớn thưởng cho các chú đây.
– Dám bẩm đức ông, anh em chúng tôi sẽ đi uống rượu chúc sức khỏe đức ông.
– Lại “đức ông” nữa! Hà hà! Hà hà! Các chú hãy đợi tí, đừng đi vội. Ta là đức ông kia mà! (nói riêng) Của đảng tội, nếu nó tôn ta lên bậc tướng công, thì nó sẽ được cả túi tiền mất. Đây nữa này, thưởng cho chú về tiếng “đức ông” đấy nhé.
– Dạ, bẩm đức ông, anh em chúng tôi xin bái tạ ơn Người.
Chú thợ phụ quả là có cái mũi rất tinh, đánh hơi được miếng mồi béo bở: kẻ thích nịnh có cả một túi tiền to. Túi tiền ấy kích thích chú nghĩ ra cách khéo léo moi tiền của Giuốc-đanh. Chú tinh khôn leo thang từng nấc một, biết kiềm chế để cho kẻ hám danh kia có thời gian tận hưởng sung sướng, vì cứ sướng là lão lại thưởng tiền. Giuốc-đanh không tiếc tiền vì đang khao khát danh vọng và dù có biết tỏng sự tôn vinh ấy là giả tạo đi chăng nữa thì lão vẫn cứ thích mê. Danh vọng ảo nhưng tiền bỏ ra mua lại là tiền thật. Chú thợ phụ chỉ cần tiền nên chẳng tội gì mà ngưng nịnh hót.
Vậy tại sao Giuốc-đanh đang từ chỗ tỉnh táo bỗng nhiên lại rời vào tình trạng mất sáng suốt như thế? Thì ra lão đang chìm ngập trong ảo giác quý tộc, đang quay cuồng giữa vầng hào quang lóa mắt của hư danh. Những đại từ nhân xưng trang trọng thường dùng trong giới thượng lưu như: ông lớn, cụ lớn, đức ông đã được chú thợ phụ tinh quái dùng để lừa những kẻ trưởng giả thích học làm sang như Giuốc-đanh. Cái “tài” của chú thợ phụ chính là ở chiến thuật “câu nhử” con mồi. Sự thật là dù có thuộc hạng quý tộc hẳn hoi đi nữa thì cũng chẳng bao giở có sự thăng Cấp liên tục chỉ trong phút chốc như thế. Ấy vậy mà chú ta “bốc” Giuốc-đanh lên vùn vụt đến chóng mặt, hỏi làm sao mà Giuốc-đanh không sướng mê tơi?! Hai lần đầu, nghe gã thợ phụ tâng bốc gọi mình là ông lớn, rồi cụ lớn, Giuốc-đanh ngỡ ngàng vì lạ lùng và khoái chí. Lần thứ ba, được tôn vinh là đức ông thì Giuốc-đanh chóang váng như vừa nốc một li rượu mạnh, đầu óc quay cuồng, lâng lâng bay trện chín tầng mây. Nhưng sau đó thì lão có phần hổi tỉnh và nghĩ đến túi tiền. Lão sáng suốt lại chăng? Quả có thế! Nhưng dù có tự dặn mình là đừng quên cái túi tiền mỗi lúc một với sau những lần được tôn vinh, xưng tụng; nhưng lão trót đâm lao thì phải theo lao. Vả lại, tội gì mà kìm nén niềm sung sướng tột đỉnh đâu phải lúc nào cũng dễ dàng bỏ tiền ra mà mua được?!
Thấy chú thợ phụ dừng lại, không tôn vinh mình lên đến bậc tướng công, Giuốc-đanh lắm bẩm: Nó như thế là phải chăng, nếu không ta đến mất tong cả tiền cho nó thôi! Qua câu nói đó, ta thấy khao khát học đòi làm sang ở lão trưởng giả này là vô cùng mãnh liệt. Lão sẵn sàng tốn kém rất nhiều tiền để được làm sang, tức là để giống như tầng lớp quý tộc thượng lưu trong xã hội đương thời. Một điều người xem dễ nhận thấy là Giuốc-đanh vẫn biết phân biệt đúng sai nhưng hư danh quý tộc đã khiến cho lão quên mất thực tại. Vì ảo tưởng nên lão đã để cho kẻ xấu lừa bịp và biến thành trò cười.
Lão Giuốc-đanh trọc phú dốt nát chỉ vì thói học đòi làm sang mà bị bác phó may và chú thợ phụ lợi dụng để kiếm chác. Người xem bật cười khi thấy lão tin rằng phải mặc áo ngược hoa thì mới là quý phái và cứ moi mãi tiền ra thưởng cho tay thợ phụ để mua lấy mấy cái tên gọi hão huyền.
Khán giả cười đến vỡ rạp khi được tận mắt chứng kiến cảnh Giuốc-đanh bị bốn tay thợ phụ lột quần áo ra, mặc cho bộ lễ phục lố lăng, màu sắc lòe loẹt, lại may ngược hoa và lão vừa mặc vừa nhún nhảy theo điệu nhạc. Lão đang sung sướng đến mê mẩn vì tưởng rằng mình đã trở thành một quý tộc chính tông (!).
Mô-li-e là nhà soạn kịch tài ba, tên tuổi ông sáng chói trong lịch sử sân khấu thế giới. Ông đã xây dựng thành công nhiều nhân vật điển hình, tiêu biểu cho tầng lớp giàu có thừa tiền rửng mỡ, học đòi làm sang. Có thể nói thái độ châm biếm, đả kích của Mô-li-e đối với giai cấp tư sản hãnh tiến được thể hiện rất rõ trong vở hài kịch xuất sắc này. Tính cách lố lăng, rởm đời của Giuốc-đanh vừa có đặc điểm riêng, vừa mang tính xã hội rất cao. Nhân vật này đã vượt khỏi giới hạn là tác phầm của một thời (thế kỉ XVII) trong nền văn chương Pháp để trở thành hình tượng nghệ thuật độc đáo, mang tính khái quát muôn đời.
Vở hài kịch Trưởng giả học làm sang là lời cảnh báo cho những kẻ bị tha hóa về nhân cách, hoang tưởng về mình, ham thích những thứ mình không thể có và không nên có. | Phân tích đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trong tác phẩm Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e | 3,282 | |
Phân tích đoạn trích Ông già và Biển cả của nhà văn Hê-minh-uê
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Ông già và Biển cả của nhà văn Hê-minh-uê
Đề bài: Phân tích đoạn trích Ông già và Biển cả của nhà văn Hê-minh-uê
Nhà văn Hê-minh-uê là một trong những nhà văn vĩ đại nhất thế kỉ XX của nước Mỹ. Ông để lại cho thế hệ sau nhiều tiểu thuyết có giá trị triết lí cuộc sống trong đó nổi bật nhất là tác phẩm ông già và biển cả cũng là tác phẩm góp phần đưa tên tuổi của ông đến với mọi người.
Ông chính là người đã đề xướng cho lối viết tiết kiệm lời nhưng lại có rất nhiều ý nghĩa của nguyên lý tảng băng trôi. Theo Hê-minh-uê thì tác phẩm viết theo nguyên lý tảng băng trôi chỉ có ba phần nổi với bảy phần chìm.
Với lối viết theo phong cách này thì đòi hỏi người đọc phải có một cái nhìn sâu sắc và phải chiêm nghiệm suy nghĩ mới có thể hiểu hết được những cái hay của nó.Nhà văn không nói ra một cách trực tiếp những ý tưởng của mình mà xây dựng rất nhiều gợi ý thông qua những hình tượng.
Tác phẩm ông già và biển cả nhân vật chính là ông lão Xantiago một người đánh cá Cuba. Ông đã 74 tuổi và trong suốt 84 ngày liền ông không hề câu được bất cứ một con cá nào dù to hay là nhỏ.
Chính vì điều đó nên thậm chí bố mẹ của Manolin cũng không cho phép cậu bé cùng câu chung với ông nữa, có thể nói rằng người ta nghĩ ông chính là vận xui. Một hôm với ý chí không chịu khuất phục của mình Xantiago quyết định một mình đi ra khơi để đánh cá.
Ông lão xantiago đi đến trưa và thả tất cả bốn cần câu rồi đợi đến trưa thì có một con cá kiếm bị cắn câu, con cá to đến mức ông lão cảm thấy xứng đáng với tài nghệ củ bản thân. Vì thế ông cho rằng mình nhất định phải bắt được con cá này vào bờ để cho những người khinh thường ông không thể nói được gì nữa.
Con cá hiện lên với một hình tượng vô cùng đẹp và ấn tượng, đó là một con cá to thể hiện qua những vòng lượn rất lớn.Không chỉ thế ông lão còn trông thấy nó qua một bóng đen vượt dài ở phía dưới thuyền của mình.
Ông không thể tin vào mắt mình và tin vào độ dài của nó với “Cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm”và “ Thân hình đồ sộ và những dọc dài màu tía” cùng “bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”
Ngay ở khi đó, con cá đã kéo con thuyền của ông lão trong suốt hai ngày đêm ở ngoài khơi xa. Hình ảnh một con người cô độc, đi ra khơi chỉ với một chai nước với quyết tâm không gì có thể thay đổi về việc quyết tâm bắt một con cá xứng đáng với tài nghệ của bản thân mình.
Con cá làm cho Xantiago trở nên chóng mặt, những vòng lượn lờ ấy như là thể hiện sự cố gắng để thoát khỏi sự bủa vây của những người ngư phủ “Nó dường như treo lơ lửng trên không trung…rơi sầm xuống nước bắn tung trùm lên cả ông lão và chiếc thuyền”.
Qua đây ta có thể thấy được những ý đồ nghệ thuật của nhà văn muốn gửi gắm tới độc giả thông qua hình tượng hình ảnh con cá kiếm, đó là hình tượng văn học mang tính người và toát lê được sự kiêu hãnh, anh dũng và bất khuất có thể vượt lên trên mọi khó khăn của cuộc sống.
Không chỉ thế, cá kình còn là biểu tượng cho sự kì vĩ của thiên nhiên anh hùng đẹp đẽ, đồng thời nó là biểu tượng đặc trưng cho những ước mơ khát vọng của những con người.
Về phía ông lão, ông cảm thấy vui khi cá cắn câu nhưng ông cũng biết muốn đưa nó về thì buộc ông phải chiến đấu với nó, đây chính là một cuộc chiến không cân sức và ông lão lại ở phía yếu.Nhưng ông lão không hề sợ hãi và khuất phục mà ngược lại kiên quyết bắt được nó về.
Một kết cục thương tâm khi ông bắt được con cá vì khi ông thu phục được nó thì cũng là lúc bọn cá mập đến và rỉa hết thịt, vào bờ con cá cũng chỉ còn lại là một bộ xương.
Điều đó cũng không quan trọng, ông đã chiến thắng trong trận đấu không cân sức, chính điều này mới là điều mà nhà văn muốn gửi gắm những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của mình.
Qua tác phẩm ta có thể thấy được phần nổi và phần chìm của tác phẩm, phần nổi chính là hành trình chinh phục con cá kiếm của ông lão còn phần chìm chính là sức mạnh và trí tuệ của con người, con cá với biểu tượng cho hình ảnh thiên nhiên kì vĩ có sức mạnh to lớn.
Biển cả chính là khung cảnh kì vĩ là môi trường cho hoạt động sáng tạo của con người. Cuộc đi câu kia chính là những hành trình đi tìm cái đẹp và khả năng chinh phục thiên nhiên của con người. Nó còn là hành trình để theo đuổi những ước mơ và làm cho ước mơ thành hiện thực đồng thời cũng là hành trình để vượt qua mọi thử thách để tới với thành công. | Phân tích đoạn trích Ông già và Biển cả của nhà văn Hê-minh-uê | 967 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Đám tang lão Goriô của H.Balzac
Bài làm
Ông Goriô bây giờ đã chết, nằm trong quan tài, nhưng vẫn cứ là nhân vật trung tâm của đoạn trích, cũng như ông là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết. Nhà văn dùng nhiều biện pháp nghệ thuật nhằm khắc họa đậm nét số phận bi đát của ông, nạn nhân đau khổ của thói đen bạc. Chẳng phải không có dụng ý khi nhà văn kết thúc quyển tiểu thuyết về ông bằng một đám tang, đám tang của chính ông. Balzac chọn khung cảnh là một vùng ngoại ô buồn tẻ (ngày nay, cả khu vực ấy từ dãy phố, nhà thờ thánh Etienne Du Mont, đến nghĩa địa cha Lachaise đều thuộc thành nội Paris). Ông chọn thời gian vào lúc ngày tàn. Đám tang nào mà chẳng buồn, nhưng không gian, thời gian nay làm tăng thêm tính chất bi đát. Ánh sáng mờ mờ của ngôi giáo đường đã nhỏ lại thấp và tối, rồi đến quang cảnh ngày tàn với một buổi hoàng hôn ẩm ướt là thứ ánh sáng và màu sắc được chọn lựa để miêu tả đám tang. Ánh sáng và màu sắc ấy càng trở nên ảm đạm hơn khi cuối cùng xa xa về phía trung tâm thành phố đã lên đèn
Ánh đèn rực rỡ và cả âm thanh cái tổ ong rào rào là ở chỗ xa xa kia, còn nơi đây lặng lẽ đến rợn người. Nhà văn như cố tình bỏ qua không nhắc đến tiếng động: Không có tiếng xe ngựa, không có tiếng cuốc xẻng, không có âm vang những lời cầu kinh vì chúng chỉ được nhắc thoáng qua trong lời kể. Không phải ngẫu nhiên trong bài Đám tang lão Goriô nhà văn chủ yếu sử dụng ngôn ngữ gián tiếp của người kể chuyện, chỉ có ba lần lời nói trực tiếp vang lên, ba câu ngắn ngủi, ba lời đối thoại, nhưng là đối thoại một chiều, một lời của Christophe, một của vị linh mục và một của Rastisgnacs.
Christophe nói với Rastignar “Đúng thế đấy, cậu Euagene ạ. Ông cụ là người tử tế và đứng đắn, chưa bao giờ to tiếng không thể làm hại ai và chưa từng làm điều gì nên tội". Balzac đưa câu này vào đây thật đúng lúc. Nó gợi lên nghịch cảnh tâm lí. Người chết càng hiền lành tốt bụng bao nhiêu, đám tang này càng có vẻ xót xa trớ trêu bấy nhiêu. Ai mà không xúc động khi đọc đoạn trích Tình cha con? Goriô là “Chúa trời của tình phụ tử”. Ta cò thể liên hệ đoạn trích tình cha con ở đây. Lời nhận xét của Christophe không bù đắp được cái thiếu vắng của tình người là khía cạnh nhà văn đi sâu hơn khi miêu tả đám tang ông Goriô.
Vị linh mục nói: "Không có người đưa đám…". Gần đúng như thế nếu ta tạm gác sang một bên nhân vật Ratisguac. Thật mủi lòng phải chứng kiến một đám tang không có người đi đưa! Chẳng ai là người thân thích. Chỉ một nhóm người dưng đếm trên đầu ngón tay, hầu hết là những nhân vật phụ, không đáng để nhà văn đặt cho một cái tên, trừ Rastisgnac và Christophe. Đi theo chiếc xe chở người xấu số từ quán trọ đến nhà thờ thánh Saint Etienne chỉ có bốn người: Rastignac, Christophe và hai gã đô tùy. Lúc hành lễ có thêm bốn người nữa là hai vị linh mục, chú bé hát lễ và người bõ nhà thờ. Khi xe chuyển bánh đến nghĩa trang có thêm hai gia nhân trên hai chiếc xe ngựa không có người ngồi của Bá tước De Restaud và của Nam tước De Nucingen, nhưng lại bớt đi người bõ nhà thờ và một vị linh mục. Tới đây có thêm hai gã đào huyệt nữa, nhưng hai gã đô tùy chắc là quay về ngay theo với xe tang không đợi chôn cất xong, song không thấy người kể chuyện nhắc đến. Nhà văn khéo bố trí để số người ít ỏi kia lại cứ vơi đi dần: Mới đầu là bọn gia nhân của hai cô con gái cùng với vị linh mục và chú bé hát lễ sau khi đọc xong bài kinh ngắn ngủi. Rồi đến hai gã hát lễ sau khi vùi xong nấm mộ, cuối cùng Christophe cùng bỏ đi nốt, để lại một mình Rastignac và chàng sinh viên cũng không đứng ở bên mộ mà được nhà văn cho đi “về phía đầu nghĩa địa”.
Như ta biết, ngòi bút hiện thực của Balzac hết sức tỉ mỉ, hầu như không bỏ qua bất cứ chi tiết nào khi kể và tả. Dường như ông sử dụng bút pháp nghệ thuật hoàn toàn ngược lại ở đoạn trích Đám tang lão Goriô. Nhà văn tránh không tả. Bạn đọc không được biết gì về nhà thờ thánh Etienne Du Mont, bên ngoài cũng như nội thất, trừ chi tiết "Một giáo đường nhỏ, thấp và tốt”. Ta cũng chẳng được biết gì về quãng đường đi và quang cảnh nghĩa trang Piere – Lachaise, không kể hình ảnh "Thành phố Paris nằm khúc khuỷu dọc hai bà sông Seine” hiện ra trước mắt chàng sinh viên Rastignac.
Nhà văn chỉ kể, mà cũng kể rất lướt, không dựng lại một cảnh nào cả, nên ta không thể hình dung nghi lễ cử hành ở nhà thờ và việc chôn cất ở nghĩa trang ra sao. Những biện pháp nghệ thuật kể trên nhằm rút ngắn càng nhiều càng tốt đoạn văn miêu tả đám tang ông Goriô, để mọi người cảm nhận ngay trên trang giấy tính chất sơ sài quá đáng của mọi thủ tục tang lễ. Nghi lễ cử hành ở nhà thờ chỉ hai mươi phút ư? Ta cảm nhận được điều đó ngay ở số dòng ngắn ngủi nhà văn dành cho thủ tục này. Đếm số dòng dành cho việc chôn cất ở nghĩa trang cũng thấy được việc làm qua quýt.
Ông Goriô là nạn nhân đau khổ của thói đời đen bạc, mà các nhân vật khác dưới ngòi bút của Balzac đều ít nhiều bị biến chất đi trong xã hội đồng tiền. Hầu như tất cả đều hành dộng bằng tiền. Một đoạn văn không dài lắm mà bao nhiêu lần nhà văn nhắc đến tiền. Christophe gắn việc làm của mình với “mấy món tiền đãi công kha khá”, các vị nhà đạo tiến hành nghi lễ xứng đáng “với giá tiến bảy mươi quan… ”, bài kinh ngắn ngủi cầu cho ông cụ ở nghĩa trang do '‘chàng sinh viên trả tiền ”, hai gã đào huyệt mới hất được vài xẻng đất thì đã “đòi tiền đãi công” khiến Rastignac móc túi không còn đồng nào, buộc phải vay Christophe “hai mươi xu”. Balzac nhìn đời qua những con người ấy có đen tối quá không?
Hai con gái của Goriot không được nhà văn cho xuất hiện ở mấy trang cuối cùng của tiểu thuyết này, nhưng lại không thể không nói đến. Balzac ba lần nhắc đến họ khi thi hài của người quá cố sắp được chuyển bánh đến nhà thờ: "… cái hình ảnh thuộc về một thời mà Delphine và Anastasie còn bé bỏng, đồng trinh và trong trắng…”, ở trong nhà thờ, chàng sinh viên đã "hoài công tìm hai cô con gái…” khi xe tang sắp chuyển bánh đến nghĩa trang "… thì xuất hiện hai chiếc xe có treo huy hiệu nhưng không có người ngồi, một của Bá tước De Restaud và một của Nam tước De Nucingen. Lần đầu gợi về quá khứ, hai lần sau nhắc đến hiện tại: Thoạt tiên, người kể chuyện gọi họ bằng tên thời con gái Delphine và Anastasie. Cuối cùng, người kể chuyện thay bằng tên các đức ông chồng, Bá tước De Restaud và Nam tước De Nucingen.
Ý đồ nghệ thuật của nhà văn bộc lộ rõ ràng qua cách bố trí và sử dụng ngôn ngữ như trên. Nó gợi cho ta thấy được quá trình biến chất của những đứa con ấy. Mà nguyên nhân sâu xa là của xã hội thượng lưu. Chồng của cô chị là một nhà quý tộc, chồng của cô em là một chủ ngân hàng. Địa vị phu nhân và vợ của chủ ngân hàng giết chết Anastasie và Delphine trong tâm hồn họ. Thật bi đát cho người cha Goriot những đứa con như vậy. Ở cùng thành phố mà lánh mặt cha lúc cha còn sống. Xấu hổ vì cha nghèo; lúc cha ốm đau không đến thăm vì còn mãi những thú vui riêng- khi cha chết không có mặt. Và đến bây giờ không đưa cha về nơi an nghỉ cuối cùng. Mà đấy là người cha thương con rất mực và “chưa làm điều gì nên tội”.
Chi tiết hai chiếc xe có huy hiệu mà không có người ngồi là hình ảnh rất đạt nhà văn đưa vào đám tang này. Nó vừa là sự có mặt vừa là sự vắng mặt của hai vợ chồng De Restaud và De Nucingen, nhưng chủ yếu là của hai bà vợ. Vắng mặt thật và có mặt giả. Nó gợi nhớ cho những ai quên là ông Goriot có hai cô con gái kia. Nó tăng thêm cho tính chất bi đát cho số phận và đám tang của người cha bất hạnh.Nếu không có hai chiếc xe ấy, chắc linh hồn người xấu số nằm trong quan tài kia đã đau đớn hơn nếu linh hồn vẫn tồn tại. Và những người chứng kiến đám tang ấy hay chúng ta dọc đến đoạn này đỡ xót xa hơn. Thời gian sẽ làm cho người đọc quên đi nhiều chi tiết trong tiếu thuyết Lão Goriô, thậm chí quên cả tên hai cô con gái. Nhưng chắc người ta sẽ nhớ mãi hình ảnh hai chiếc xe không!
Cùng với Goriô, chàng sinh viên Rastignac là nhân vật chính xuyên suốt tiểu thuyết và cùng có mặt từ đâu đến cuối đoạn trích Đám tang lão Goriô. Thái độ của Balzac đối với các nhân vật đã phân tích trên kia toát lên qua ngôn từ của người kể chuyện bao gồm nội dung kể và cả những lời bình kèm theo. Nếu không có mấy chữ "làm cho anh ta kiếm được mấy món tiền đãi công kha khá” thì Christophe gây được thiện cảm nhiều hơn với chúng ta, nhất là lời tình yêu nhận xét về người quá cố. Người kể chuyện nhấn vào chi tiết hai vị linh mục đến chậm để mọi người phải cố chờ đợi ( “trong khi chờ hai vị linh mục… ") sau đó lại giục giã đi nhanh để khỏi chậm trễ… Người kể chuyện còn bình thêm một câu chua chát: “Họ tiến hành tất cả nghi lễ xứng dáng bảy mươi quan trong một thời kìmà tôn giáo không lấy gì làm giàu lắm để cầu kinh làm phúc nghĩa là chi vẻn vẹn hai mươi phút ở nhà thờ. Còn bài kinh ngắn ngủi nơi nghĩa trang chắc phải tính riêng vì có mấy chữ: “do chàng sinh viên trả tiền”.
Trái lại, nhìn chung, nhà văn tỏ ra có thiện cảm với Rastignac, và truyền được tình cảm ấy đến người đọc. Ta xúc động về tấm lòng của chàng với ông Goriô, về cái nghẹn ngào của chàng " siết chặt bàn tay Christophe mà không nói nên lời”, về giọt nước mắt của chàng như được thăng hoa qua lời bình của người kề chuyện: "Giọt nước mắt trào ra vì những nỗi xúc động thiêng liêng của một trái tim trong trắng, cái thứ nước mắt rơi xuống mặt đất rồi từ đó lại vút lên đến tận trời cao”.
Song đấy lại là “giọt nước mắt cuối cùng của người trai trẻ”. Nhà văn muốn xây dựng Rastignac thành một nhân vật cũng bị biến chất đi trong xã hội tôn thờ tiền tài và danh vọng. Giọt nước mắt đánh dấu bước ngoặt quá trình phát triển tính cách của chàng, trở thành cái mốc phân chia hai giai đoạn của cuộc đời chàng. Những điều chứng kiến đau lòng về thói đen đời bạc không làm cho chàng rút ra bài học đúng đắn về cách xử thế, mà lại là bài học vứt bỏ đi bản chất tốt đẹp của mình.
Mầm mống của sự chuyển biến tính cách thực ra đã có từ lâu. nhưng bây giờ mới là thời điểm quyết định. Vẫn đôi mắt thôi nhưng lúc này là “giọt nước mắt trào ra…” còn bây giờ là cái nhìn “gần như thèm thuồng” vào cái nơi tập trung của xã hội thượng lưu, cái nhìn "như trút nước mật của nó". Ngôn từ của người kể chuyện bắt đầu chuyển sang giọng phê phán.
Dưới ngòi bút của Balzac, cái khoảng thàh phố Paris giữa cột đồng trụ của quảng trường Vendôme và đỉnh mái tròn điện Invalides vừa là khung cảnh hiện thực, nơi sinh hoạt của những kẻ giàu sang thời đó, vừa mang ý nghĩa tượng trưng cho xã hội thượng lưu nói chung, Rastigiiac nhân cách hóa nó, hình dung nó như một đó vật mà anh phải chiến thắng. Không phải ngẫu nhiên nhà văn viết hoa từ Xã Hội ở câu cuối cùng.
Đám tang lão Goriô kết thúc quyển tiểu thuyết này, khép lại cuộc đời ông Goriô, nhưng nó lại mở ra với cuộc đời của Rastignac. Ta biết rằng sang những tiểu thuyết khác, nhà văn để cho nhân vật đó ngày càng leo cao trên nấc thang danh vọng, nhưng chẳng còn đâu tâm hồn trong tráng của chàng sinh viên nghèo ngụ tại quán trọ của bà Vauquer ngày xưa. | Phân tích đoạn trích Đám tang lão Goriô của H.Balzac | 2,345 | |
Phân tích đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió của Xéc-van-tét
Bài làm
Tính đến những năm đầu thế kỉ XXI này, cuốn tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của nhà vãn vĩ đại nước Tây Ban Nha Xéc-van-tét (1547 – 1616) đã sống trên ba trăm năm và chắc còn sống lâu hơn nữa.. Bởi vì, qua tác phẩm của mình, Xéc-van-tét đã phản ánh và đặt ra những vấn đề lớn lao của một giai đoạn biến đổi quan trọng của lịch sử nước Tây Ban Nha và nhiều nước trên thế giới: chuyển tiếp từ xã hội phong kiến trung cổ lạc hậu sang xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển về mọi mặt. Đọc Đôn Ki-hô-tê, người đọc hiểu rõ: “Tác giả chế giễu tàn dư của lí tưởng hiệp sĩ phiêu lưu, phê phán chế độ phong kiến… phê phán chế độ tư bản thời kì tích luỹ ban đầu… Mặc dù lỗi thời, gàn dở, hình tượng Đôn Ki-hô-tê vẫn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc: yêu quý tự do, bình đẳng, ghét thói xa hoa, ăn bám, trọng danh dự, đạo nghĩa”. Qua những dòng vãn rất sinh động, hóm hỉnh, trào lộng mà thâm thuý, Xéc-van-tét đưa chúng ta phiêu lưu hàng vạn dạm trên khắp nước Tây Ban Nha thơ mộng, chứng kiến nhiều việc làm vừa hào hiệp vừa gàn dở, khám phá được nhiều ý nghĩ lúc cao thượng, khi thấp hèn của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê và giám mã Xan-chô Pan-xa. Một trong những việc làm, cũng là một cuộc phiêu lưu của họ là việc Đôn Ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió, một trận đánh kì quặc làm nổi bật lên tính cách của cả hai người.
Phân tích đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió của Xéc-van-tét
Đi vào đoạn trích trong sách Ngữ văn 8, chúng ta có thể hình dung câu chuyện gồm ba phần với năm sự việc tiêu biểu. Mỗi phần mang một cái tên cụ thể, chẳng hạn như sau:
Phần một (từ đầu đến: “… và không cân sức”), có thể mang tên “Những cối xay gió hay là những tên khổng lồ ghê gớm”. Phần này có sự việc: Thầy trò nhà hiệp sĩ tranh cãi, nhận định về kẻ thù.
Phần hai (từ câu: “Nói rồi, Đôn Ki-hô-tê thúc con ngựa…” đến “… bị toạc nửa vai”), có thể mang tên “Một trận giao chiến không cân sức”. Phần này gồm hai sự việc. Một là: Đôn Ki-hô-tê thất bại, giáo gãy, người và ngựa ngã văng ra. Hai là: thầy trò hiệp sĩ dìu nhau đứng dậy trong hai tâm trạng khác nhau.
Phần cuối (đoạn còn lại), có tên là “Tiếp tục cuộc phiêu lưu”. Phẩn này cũng gồm hai sự việc. Một là: Xan-chô ăn uống no say, trong khi Đôn Ki-hô-tê vẫn thản nhiên dẫn bước. Hai là: Đôn Ki-hô-tê trằn trọc không ngủ, còn Xan-chô đánh một giấc ngon lành.
Từ dòng đầu cho đến chữ cuối của đoạn tiểu thuyết, nhất là qua năm sự việc chính nói trên, chân dung hai nhân vật – nhà hiệp sĩ xứ Man-cha Đôn Ki-hô-tê và bác giám mã Xan-chô Pan-xa – hiện lên mỏi lúc một rõ nét, rất cụ thể, sinh động, từ ngoại hình, trí tuệ, ước muốn đến hành động và quan niệm về cuộc sống. Chúng ta hãy lần lượt quan sát và suy ngẫm về từng người.
Hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê:
Chúng ta có thể gọi nhân vật này kèm theo các đại từ “ngài hiệp sĩ”, “nhà hiệp sĩ”, “lão hiệp sĩ”, hoặc “chàng hiệp sĩ”,… bởi vì Đôn Ki-hô-tê hiện lên lúc thật trang nghiêm, dáng kính, khi lại gàn dở, đáng cười, vừa già nua, lại vừa trai trẻ. Đọc tác phẩm và đoạn trích này, chúng ta hình dung một chàng hiệp sĩ tuổi trạc năm mươi, gầy gò, cao lênh khênh. Cưỡi trên lưng con ngựa còm có cái tên mĩ miều Rô-xi-nan-tê, minh mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, vai vác giáo dài, toàn những thứ han rỉ của tổ tiên để lại, rồi đem đánh bóng,… Đôn Ki-hô-tê hiên ngang tiến bước với mục đích tốt đẹp là tiễu trừ quân gian ác, giúp đỡ người lương thiện. Trí óc Đôn Ki-hô-tê đầy hoang tưởng, có lúc mê muội. Nhìn thấy những chiếc cối xay gió, lão nghĩ là bọn khổng lồ gian ác, sau đó cho rằng dấy là phép thuật của phù thuỷ Phơ-re-xtôn. Với động cơ trong sáng, hồn nhiên – tiêu diệt lũ tàn ác, trừ hại cho dân – Đôn Ki-hô-tê đã dũng cảm xống vào đánh “lũ quỷ khổng lồ” (thực ra là những chiếc cối xay gió), mặc dù chàng biết rằng đây là “cuộc giao tranh điên cuồng và không cân sức”. Đơn thương độc mã, hiệp sĩ bỏ mặc lời can ngãn của Xan-chô, phóng ngựa, vừa quát mắng lũ quỷ khổng lồ, vừa tâm niệm nguyện cầu người tình lí tưởng – nàng Đuyn-xi-nê-a xinh đẹp – giúp minh trong lúc nguy nan. Trong giây phút tiến công kẻ thù ấy, hình ảnh chàng hiệp sĩ sáng chói lên, đẹp như một anh hùng, rất đáng kính phục. Nhưng, suy nghĩ tỉnh táo một chút, người đọc lại bật cười. Bởi vì mục đích và hành động của Đôn Ki-hô-tê là đúng đắn, tốt đẹp, nhưng đối tượng hướng tới của chàng lại không phải là lũ quỷ khổng lồ gian ác mà chỉ là những chiếc cối xay gió hiền lành vỏ tội. Bởi vì đầu óc chàng đầy những hoang tưởng. Cho nên cái động cơ tốt đẹp, cái hành động dũng cảm kia của Đôn Ki-hỏ-tê trở thành hão huyền, mang tính phá phách. Còn bản thân hiệp sĩ thì thất bại một cách đau đớn, “ngọn giáo gãy tan tành, người và ngựa ngã vãng ra”. Nhìn thấy hình ảnh Đôn Ki-hô-tê “nằm không cựa quậy”, bác giám mã sợ quá và chắc cũng thương quá, đã phải “lạy Chúa”, kêu trời. Còn chúng ta, đọc dến chi tiết này, cũng vừa thương vừa… khống nén được tiếng cười. Song, xin bạn đọc chớ đùa cợt. Trong thời khắc nguy nan sau cuộc chiến đấu, thầy trò chàng hiệp sĩ lại tiếp tục tranh cãi một cách rất nghiêm chinh. Nghe Xan-chô có ý phê mình là “đầu óc quay cuồng như cối xay gió”, hiệp sĩ mắng lại: “Thôi im đi! Chuyện chinh chiến thường biến hoá khôn lường… Ta cho rằng chính lão pháp sư Phơ-re-xtôn biến những tên khổng lồ kia thành cối xay gió để tước đi của ta niềm vinh quang đánh bại chúng… nhưng rồi lão sẽ không thể nào đối chọi được thanh kiếm lợi hại của ta”. Ý nghĩ và những lời lập luận của hiệp sĩ kể ra cũng sáng suốt và chặt chẽ đấy chứ! Bị quật ngã đau dến lịm người như thế mà không một tiếng rên rỉ, xuýt xoa, trái lại vẫn cháy bỏng rnột niềm tin, một quyết tâm hành động vì nghĩa lớn. Một bản lĩnh làm người như thế đáng khâm phục biết bao! Chỉ có điều, cái bản lĩnh làm người ấy của Đôn Ki-hô-tê không bắt nguồn từ thực tế cuộc sống mà nó từ trong những cuốn sách hiệp sĩ cổ xưa mà lão đã ngốn ngấu dọc, rồi làm theo. Do đó, sau trận chiến thất bại ê chề, Đôn Ki-hô-tê vẫn chưa chịu tỉnh táo để rút ra bài học. Trái lại, lão vẫn tiếp tục cuộc phiêu lưu, tiếp tục nhông suy nghĩ lãng mạn, hoang tưởng. Lão tâm sự với Xan-chô: “Ta không kêu đau vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương thế nào cũng không được rên rỉ, dù xổ cả gan ruột ra ngoài”. Thế là tấm gương những hiệp sĩ trong sách vở sống dậy, giục giã, khích lệ lão. Trong khi giám mã Xan-chô ăn uống thì ngài hiệp sĩ “thấy chưa cần ăn”, vì… hình như đang mải nghĩ tới những cuộc chiến đấu sắp tới. Cho tới đêm hôm ấy, chúng ta cũng không thấy hiệp sĩ ăn uống gì. Ngài bẻ một cành cây khô “rút cái mũi sắt ở chiếc cán gãy lắp vào làm thành ngọn giáo”. Đcm ấy, Đôn Ki-hô-tê không ngủ để dành thời gian nghĩ tới nàng Đuyn-xi-nê-a, đúng như hiệp sĩ trong sách, thức trắng nhiều đêm ròng ở trong rừng hoặc nơi hoang mạc nhớ tới tình nương của minh. Suy nghĩ và mộng mơ bay bổng đến nỗi, Đôn Ki-hô-tê không thèm để ý tới giám mã Xan-chô đang đánh một giấc ngon lành. Cho tới sáng hôm sau, hiệp sĩ cũng không muốn ăn sáng, vì “chàng nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi”… Có thể nói, dưới ngòi bút sinh động, vừa nghiêm chinh vừa bỡn cợt, trào lộng của Xéc-van-tét, hình ảnh hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê hiện lên là một con người đầy mộng mơ, ảo tưởng. Lão mang những khát vọng đẹp, hành động dun« cảm, bản lĩnh kiên cường,… nhưng lại có những nhầm lẫn trong suy nghĩ, gàn dớ trong việc làm chỉ vì
lão bị ảnh hưởng quá nặng nể bởi những trang sách cũ kĩ, lỗi thời. Do đó, tìm hiểu về những mặt trái ngược của tính cách Đôn Ki-hô-tê, chúng ta vừa buồn cười và mến yêu, vừa cảm thấy đáng trách mà lại đáng thương…
Giám mã Xan-chô Pan-xa:
Đó là một bác nông dân béo lùn, nhận làm giám mã cho Đôn Ki-hô-tê với hi vọng sau này, chủ công thành danh toại, bác sẽ được làm thống đốc, cai trị vài hòn đảo, được sống cuộc đời giàu sang, phú quý. Giám mã Xan-chô đũng đinh cưỡi lừa đi theo chủ, lúc nào cũng mang theo bầu rượu và cái túi hai ngăn đựng dầy thức ăn ngon. Trước khi vào trận đánh kì quặc, Xan-chô đã nhìn thấy rõ kẻ thù của hiệp sĩ là những chiếc cối xay gió. Bác giải thích rất rõ ràng rành mạch: “cái vật trông giống cánh tay là những cánh quạt, khi có gió thổi, chứng sẽ quay tròn làm chuyên động cối đá bên trong”. Đến lúc cố hét to để ngăn ông chủ cuồng si lao lên phía trước đánh nhau với cối xay gió không dược, bác nông dân ấy bỏ mặc chủ. Thái độ này vừa đúng, vừa không đúng. Đúng là vì bác biết rõ phía trước Đôn Ki-hô-tê không có tên khổng lồ độc ác nào mà chí là một hàng dài những chiếc cối xay gió đứng hiên ngang đợi gió thổi là quay tít những cánh quạt khổng lồ. Đúng, là vì bác ta biết rằng hành động của chủ là gàn dở, điên cuồng chắc chắn sẽ thất bại. Nhưng sai, vì bác không thực sự quyết tâm bằng hành động và sức vóc khoẻ mạnh của mình xông lên để ngân cấn chủ, hay chí ít cũng giúp đỡ để ông chủ không bị thua một cách thảm hại đến mức “giáo gãy, ngựa và người ngã lăn ra”. Hay là lúc ấy bác cũng hoảng loạn mà tưởng ràng đó là những tên quỷ khổng lồ nguy hiểm thật, để rồi bỏ mặc cho chủ giao chiến? Phải chăng, bác nông dân chỉ quen ăn no vác nặng này nhút nhát, sợ hãi (nếu không nói là hèn nhát)? Sau trận đánh, Xan-chô tỏ ra là một giám mã tận tuy. Bác ta vừa xuýt xoa thương chủ, vừa cố giải thích một lần nữa để thức tỉnh ông chú về cái hành động kì quặc bắt nguồn từ những “đầu óc quay cuồng như cối xay”, vể việc này, giám mã Xan-chô thật đáng yêu. Bác đã hết lòng phục vụ ông chủ. Miệng cầu Chúa phù hộ cho chủ tỉnh ngộ và sẽ giành thắng lợi sau này, bác ta vừa nâng Đôn Ki-hô-tê dậy, rồi đỡ cho ông chủ ngồi ngay ngắn trên lưng con chiến mã gầy còm. Đến những phút tiếp tục cuộc phiên lưu sau trận đánh, giám mã Xan-chô tiếp tục nhiệm vụ theo hầu bên chủ. Tâm sự với hiệp sĩ, bác tỏ ra là người rất chân thành cởi mở. Bác nói: “Chúa hiểu thấu cho tôi là tôi có yên lòng không nếu thấy ngài rên la khi bị cái gì làm cho đau đớn… Còn tôi, xin thưa với ngài rằng chỉ cần hơi đau một chút là tôi rên rỉ ngay”. Như vậy, Xan-chô là người tốt nết, biết thương người khác, tận tuy với chù đấy chứ! Song, có lẽ thương người thì ít mà bác ta… thương mình nhiều hơn. Do đó, sau khi xin phép hiệp sĩ bằng vài lời qua quýt, Xan-chô thản nhiên lấy rượu và thức ăn ra đánh chén đến no say, chảng nhớ gì đến những lời hứa hẹn của chủ, và cảm thấy cái nghề phiêu lưu này “cũng chẳng vất vả gì mà lại thoải mái nữa là khác”. Thế rồi, sau khi ních chặt cái dạ dày toàn rượu thịt, đến tối hôm ấy, trong khi ông chủ trằn trọc thao thức thì giám mã, người hầu cận thân tín kia “ngủ một mạch”, cho đến sáng hôm sau, vừa tỉnh dậy đã vớ ngay bầu rượu… để “buồn rầú vì trên quãng đường này khó kiếm đâu ra rượu để đổ vào cho đầy”. Quan tâm tới những nhu cầu vật chất hằng ngày như việc ăn, ngủ là chuyện bình thường. Nhưng hình như giám mã Xan-chô quá chú trọng đến hai việc này, nhiều lúc quên hết, kể cả ông chủ mà mình có nhiệm vụ hầu hạ, chăm sóc thì thật tầm thường và đáng chê trách! Như vậy, cũng bằng ngòi bút sinh động, hóm hỉnh, nhà văn Xéc-van-tét đã khắc hoạ nhân vật giám mã Xan-chô với những nét ngoại hình và tính cách trái ngược hẳn với Đồn Ki-hô-tê. Nếu Đôn Ki-hô-tê biểu tượng cho loại người hoang tưởng, lang mạn, thì Xan-chô là hình ảnh của những người tỉnh táo, thực tế đến mức thực dụng, tầm thường. | Phân tích đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió của Xéc-van-tét | 2,375 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió trong tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của nhà văn Xéc-van-tex.
Bài làm
Xéc-van-tex (1547 – 1616) là nhà văn nổi tiếng của đất nước Tây Ban Nha, Ông đã để lại cho nhân loại nhiều kiệt tác, trong đó có tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê làm say mê bao thế hệ người đọc trên thế giới, cốt truyện tóm tắt như sau:
Một lão quý tộc nghèo ở nông thôn tên là Ki-ha-đa, tuổi khoảng năm mươi, thân hình cao lênh khênh, gầy gò ốm yếu trông rất buồn cười. Vì quá say mê loại truyện hiệp sĩ phiêu lưu nên lão nung nấu ước mơ trở thành hiệp sĩ lang thang để trừng trị quân gian ác, diệt trừ yêu quái và lũ khổng lồ xấu xa, đem lại công lí cho người lương thiện. Lão hì hục sửa chữa những đồ binh khí đã han rỉ của tổ tiên dể trang bị cho mình rồi tự phong là “hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Man-cha” và đặt tên cho con ngựa già gầy còm là “chiến mã Rô-xi-nan-tê”.
Để cho đúng mốt của hiệp sĩ lang thang là phải có người tình xinh đẹp, lão chợt nhớ đến một phụ nữ nông dân mà lão thầm yêu từ hồi còn trai trẻ và đặt cho mụ cái tên rất quý phái là công nương Đuyn-xi-nê-a. Lão thuê một bác nông dân hàng xóm béo lùn tên là Xan-chô Pan-xa làm giám mã kiêm hộ vệ. Hai thầy trò bắt đầu chuyến phiêu lưu diệt ác, trừ gian.
Sau bao lần giao chiến với những kẻ thù tưởng tượng, Đôn Ki-hô-tê bị đánh tả tơi và thất bại ê chề. Cuối cùng, lão trở về nhà. Buồn bã và kiệt sức, Đôn Ki-hô-tê ốm nặng. Đến lúc này, lão mới nhận ra hậu quả tai hại của những truyện kiếm hiệp rẻ tiền. Lão viết di chúc để lại rồi qua đời.
Đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió kể về một trong những trận giao chiên của Đôn Ki-hô-tê. Nội dung xoay quanh mấy sự việc chính: Sự xuất hiện của cối xay gió. Đôn Ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió. Đôn Ki-hô-tê bị thương. Việc ăn ngủ của hai thầy trò trên đường đi. Qua đó, tính cách của hai nhân vật được bộc lộ rõ nét.
Bằng nghệ thuật trào lộng sắc sảo, tác giả châm biếm loại người sống theo ảo tưởng, tuy có mục đích sống đúng đắn nhưng chọn đối tượng và phương pháp để thực hiện mục đích lại sai nên dẫn đến thất bại. Mặt khác, tác giả cũng kín đáo nhắc nhở mọi người là không nên quá thực dụng, ích kỉ.Tên chương truyện là Đánh nhau với cối xay gió nhưng tác giả không kể nhiều về diễn biến cuộc đánh nhau mà chủ yếu đi sâu miêu tả tính cách hai nhân vật Đôn Ki-hô-tê và Xan-chô Pan-xa trong suốt quá trình trước, trong và sau cuộc giao tranh. Sự tương phản hoàn toàn giữa chủ và tớ đã tạo nên một cặp nhân vật bất hủ trong văn học thế giới. Tính cách của Đôn Ki-hô-tê thật nực cười, tuy vậy lão cũng có ít nhiều ưu điểm. Bác nông dân Xan-chô Pan-xa có những mặt tốt, song cũng có nhiều điểm đáng chê trách.
Hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê cao lênh khênh, gầy nhẳng, trông như một bộ xương biết đi. Lão mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, vai vác giáo dài, cưỡi trên lưng con ngựa già còm nhom, hăng hái lên đường lập chiến công. Đang đi, chợt hai thầy trò phát hiện ra ba bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng và Đôn Ki-hô-tê vừa nhìn thấy liền nói với giám mã bằng giọng tràn đầy khí thế: Vận may run rủi khiến cho sự nghiệp của chúng ta tốt đẹp quá sự mong muốn, vì kia kìa, anh bạn Xan-chô Pan-xa ơi, có đến ba chục hoặc trên ba chục tên khổng lồ ghê gớm, ta quyết giao chiến giết hết bọn chúng.
Đầu óc Đôn Ki-hô-tê bị ám ảnh thường xuyên bởi những truyện kiếm hiệp rẻ tiền trong tủ sách của lão nên đâm ra mê muội, điên rồ. Thế mới sinh ra chuyện lão nhìn những chiếc cối xay gió hiền lành, quen thuộc thành bọn khổng lồ hung ác, xa lạ. Mặc cho Xan-chô hết lời giải thích, Đôn Ki-hô-tê vẫn khăng khăng không chấp nhận sự thật. Lão muốn ra tay tiêu trừ lũ khổng lồ xấu xa ấy. Mục đích của lão rất tốt, chi tiếc rằng cái đầu óc hoang tưởng kia đã làm cho nó trở nên hão huyền. Ta hãy nghe lão cao giọng phê phán bác giám mã Xan-chô: Xem ra anh chẳng thành thạo gì về những chuyện phiêu lưu… Đấy là những tên khổng lồ, và nếu anh sợ thì hãy lánh xa ra mà cầu kinh trong lúc ta sẽ đương đầu với chúng trong cuộc giao tranh điên cuồng và không cân sức.
Chẳng biết sợ là gì, Đôn Ki-hô-tê hung hăng vung giáo xông vào đánh. Nếu đối thủ của lão thật sự là quân gian ác cần tiêu diệt thì hành động của lão là dũng cảm, đáng khen, nhưng lão lại đánh nhau với những cối xay gió vô tri vô giác cho nên hành động ấy hóa nực cười: Đôn Ki-hô-tê thúc con Rô-xi-nan-tê xông lên chẳng thèm để ý tới giám mã Xan-chô đang hét bảo là rõ ràng xông vào đánh những cối xay gió chứ không phải là bọn khổng lồ.
Đặc điểm của nhân vật Đôn Ki-hô-tê là bảo thủ đến mức cực đoan, cố tình phủ nhận sự thật. Rõ ràng trước mắt lão là đám cối xay gió nhưng trong bụng vốn đinh ninh phía trước là những tên khổng lồ nên Đôn Ki-hô-tê chẳng những không nghe lời can ngăn của giám mã Xan-chô, mà khi đã tới gần cũng chẳng nhận ra đấy là những chiếc cối xay; đã thế, lão còn thét lớn: “Chớ có chạy trốn, lũ hèn mạt nhát gan kia, bởi duy nhất chỉ có một hiệp sĩ tấn công bọn mi đây”.
Cuộc giao chiến giữa người với vật được tác giả miêu tả bằng giọng văn hài hước, hóm hỉnh: Vừa lúc đó nổi lên một làn gió nhẹ và các cánh quạt lớn của những chiếc cối xay gió bắt đầu chuyển động; thấy thế, Đôn Ki-hô-tê liền nói: “Dù cho bọn ngươi có vung nhiều cánh tay hơn cả gã khổng lồ Bri-a-rô-ô, các ngươi cũng sắp phải đền tội”. Nói xong, lão nhiệt tình thành tâm niệm cầu mong nàng Đuyn-xi-nê-a của mình cứu giúp cho trong lúc nguy nan này; rồi lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, lão thúc con Rô-xi-nan-tê phi thẳng tới chiếc cối xay gió gần nhất ở trước mặt, và đâm mũi giáo vào cánh quạt; gió làm cánh quạt quay tít khiến ngọn giáo gãy tan tành, kéo theo cả người và ngựa ngã văng ra xa.
Người đọc vừa bật cười trước suy nghĩ ngớ ngẩn và hành động dại dột, vừa thương hại cho Đôn Ki-hô-tê khi cả người lẫn ngựa đã bị cánh quạt của chiếc cối xay gió văng trúng, ngã lăn ra đất.
Thấy tình cảnh của chủ như vậy, Xan-chô Pan-xa vội thúc lừa chạy đến cứu, và khi tới nơi thì thấy chủ nằm không cựa quậy. “Giúp tôi với, lạy Chúa, Xan-chô nói, tôi đã chẳng bảo ngài rằng phải coi chừng cẩn thận đấy ư, rằng đó chi là những chiếc cối xay gió, ai chẳng biết thế, trừ kẻ nào đầu óc cũng quay cuồng như cối xay Ị”. Giám mã Xan-chô nói rất đúng tâm trạng của Đôn Ki-hô-tê lúc này. Nhưng trong tình thế dở cười dở khóc ấy, lão vẫn ngoan cố cho rằng việc làm của mình là đúng và vẫn tự lừa dối bằng những lời lẽ hoa mĩ hoang đường, bịa đặt: Thôi im đi, anh bạn Xan-chô… chuyện chinh chiến thưởng biến hoá khôn lường chứ không như các chuyện khác; bởi lẽ, ta cho rằng, và đúng là như thế, chính lão pháp sư Phơ-re-xtôn trước đây đã đánh cắp thư phòng và sách vở của ta, bây giờ lại biến những tên khổng lồ kia thành cối xay gió để tước đi của ta niềm vinh quang đánh bại chúng, vì lão thâm thù ta lắm cơ; nhưng rồi các pháp thuật xấu xa của lão cũng sẽ không thể nào đối chọi với thanh kiếm lợi hại của ta. Đến nước này thì giám mã Xan-chô chi còn biết lắc đầu và cầu Chúa hết sức phù hộ cho và nâng Đôn Ki-hô-tê dậy, đỡ lão ngồi tại trên lưng con Rô-xi-nan-tê cũng bị toạc nửa vai!
Tuy bị trọng thương nhưng Đôn Ki-hô-tê không hề rên rỉ. Tinh thần chịu đựng kiên cường ấy cũng đáng khen nhưng rất tiếc đấy lại là do lão cố bắt chước đúng như các hiệp sĩ giang hồ… trong sách: Ta không kêu đau là vì hiệp sĩ giang hồ có bị thương thế nào cũng không được rên rỉ, dù xổ cả gan ruột ra ngoài.
Đôn Ki-hô-tê không quan tâm đến những nhu cầu vật chất dù là tối thiểu, trong khi bao kẻ chi lo ăn cho đầy bụng, ngủ cho đẫy mắt. Nhưng điều tưởng chừng tốt đẹp đó lại xuất phát từ động là vì tình nương Đuyn-xi-nê-a! Trong tính cách của nhân vật Đôn Ki-hô-tê tuy có một số điều tốt đẹp như căm ghét áp bức bất công, sẵn sàng xả thân, mong muốn lập lại trật tự xã hội, đem lại công lí cho người nghèo… nhưng do tiêm nhiễm quá nặng nội dung của loại truyện kiếm hiệp nhảm nhí nên lão tự biến mình thành nhân vật nực cười, đáng trách mà cũng đáng thương.
Nhận thức sai lầm đã dẫn Đôn Ki-lìô-tê đến hành động sai lầm nhưng lão vẫn cố ngụy biện để bảo vệ chủ kiến của mình. Đây cũng là tính cách chung của một hạng người trong xã hội đương thời mà tác giả muốn phê phán. Rõ ràng, đấu tranh với sai lầm của bản thân cũng là một cuộc chiến gay go, gian khổ.
Tương phản hoàn toàn với Đôn Ki-hô-tê là giám mã Xan-chô Pan-xa béo lùn, thực dụng và láu cá. Bác ta nhận làm giám mã cho Đôn Ki-hô-tê với hi vọng sau khi công thành danh toại, ông chủ sẽ cho bác làm thống đốc, cai trị một vài hòn đảo giữa biển khơi. Suốt cuộc phiêu lưu, giám mã đủng đinh cưỡi lừa đi theo chủ và lúc nào cũng mang theo bầu rượu cùng cái túi hai ngăn đựng đầy thức ăn ngon.
Đầu óc Xan-chô hoàn toàn tỉnh táo. Khi chủ khẳng định mấy chục chiếc cối xay gió trước mặt là những tên khổng lổ, bác ngạc nhiên hỏi: Những tên khổng lồ nào cơ? Rồi giải thích thật cặn kẽ: Thựa ngài, xuất hiện ở kia chẳng phải là các tên khổng lồ đâu mà chi là những cối xay gió, và cái vật trông giống cánh tay lá những cánh quạt, khi có gió thổi, chúng sẽ quay tròn làm chuyển động cối đá bên trong. Chủ vẫn khăng khăng muốn đánh nhau, bác ra sức can ngăn. Khi chủ lâm nạn, bác vội thúc lừa tới cứu và xót xa vì chủ bị ngã quá đau. Cách xử sự đó chứng tỏ bác ta tử tế và biết thương người. Bên cạnh đó, bác ta là người sống rất thực dụng. Đoạn miêu tả cung cách ăn uống thể hiện khá rõ tính cách ấy: Xan-chô nhắc chủ đã đến giờ ăn. Đồn Ki-hô-tê đáp là lúc này chưa cần ăn, nếu Xan-chô đói thì cứ tự nhiên. Được phép, Xan-chô ngồi lại cho thật thoải mái trên lưng lừa, lấy các thứ ở trong cái túi hai ngăn ra, vừa đi theo chủ vừa ung dung đánh chén, thỉnh thoảng lại tu bầu rượu một cách ngon lành khiến tay chủ quán rượu dễ thương nhất ở Ma-la-ga cũng phải phát ghen. Vừa đi vừa chè chén như thế, Xan-chô chẳng còn nhớ gì đến những lời hứa hẹn của chủ và cảm thấy cái nghề đi tìm kiếm chuyện phiêu lưu này dù có nguy hiểm đến đâu cũng chẳng vất vả gì mà lại thoải mái nữa là khác…
Trái lại, Xan-chồ Pan-xa thì không thế, bởi vì dạ dày no căng toàn là rượu thịt, bác ngủ một mạch và nếu như chủ không gọi, thì dù ánh nắng chiếu thẳng vào mặt và vô số tiếng chim líu lo đón mừng một ngày mới có lẽ cũng không đủ để đánh thức bác. Vừa ngủ dậy, bác vớ ngay lấy bầu rượu, thấy nó nhẹ hơn tối hôm trước nên buồn rầu vì xem chừng trên quãng đường này khó đào đâu ra rượu ngay để đổ vào cho đầy.
Đối chiếu giữa Đôn Ki-hô-tê và Xan-chô Pan-xa về mọi mặt, ta sẽ thấy mục đích của nhà văn là cố tình xây dựng một cặp nhân vật tương phàn hoàn toàn. Đặt cạnh nhau, người này sẽ làm cho tính cách của người kia nổi bật.
Đôn Ki-hô-tê dòng dõi quý tộc, Xan-chô Pan-xa nguồn gốc nông dân. Đôn Ki-hô-tê gầy gò, cao lênh khênh lại cưỡi trên lưng con ngựa còm nên trông như càng cao thêm. Xan-chô Pan-xa đã béo lùn lại ngổi trên lưng lừa nên càng lùn tịt.
Đôn Ki-hô-tê có khát vọng cao cả, Xan-chô Pan-xa chi có ước muốn đời thường. Đôn Ki-hô-tê mong giúp ích cho đời, Xan-chô Pan-xa chi nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Đôn Ki-hô-tê mê muội, Xan-chô Pan-xa tỉnh táo. Đôn Ki-hô-tê hão huyền, Xan-chô Pan-xa thực tế. Đôn Ki-hô-tê dũng cảm, Xan-chô Pan-xa nhút nhát. Tính thực dụng quá đáng của bác giám mã nông dân góp phần tô đậm thêm đầu óc hão huyền của lão hiệp sĩ dòng dõi quý tộc. Hợp nhất hai nhân vật này lại, ta sẽ có bức chân dung hoàn chỉnh về tính cách con người, kể cả mặt tích cực và tiêu cực. Thiên tài của nhà văn Xéc-van-tex chính là ở đó. | Phân tích đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió trong Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-tex | 2,407 | |
Phân tích đoạn trích “Nỗi thương mình” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích “Nỗi thương mình” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Bài làm
Truyện Kiều là một kiệt tác văn học mà Nguyễn Du đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam. Đoạn trích “Nỗi thương mình” kể về nỗi đau đớn tủi nhục trong quãng đời của Kiều khi bị Sở Khanh lừa gạt, Tú Bà đầy vào chốn lầu xanh.
Cảnh Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà thật đau đớn, cùng cực:
“Biết bao bướm lả ong lơi;
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”.
Các ẩn dụ: “Bướm lả ong lơi”, “cuộc say”, “trận cười”, các thi liệu, điển tích: “lá gió cành chim”, Tống Ngọc, Trường Khanh đã được sử dụng để diễn tả hiện thực chốn lầu xanh. “Biết bao” là không đếm được, “suốt đêm” là sự triền miên vô tận. Kiều bị ném vào bùn nhơ, bị chà đạp không thương tiếc. Kiều thương cho số phận mình phải đem tài sắc làm thú vui cho những khách làng chơi:
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Từ một cô gái khuê các, Kiều bị xã hội nhơ bẩn, vì tiền đẩy vào cảnh cùng cực. Nhớ lại những năm tháng êm đềm bên cha mẹ càng làm Kiều thêm tủi nhục:
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”.
Sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ kết hợp thủ pháp phân hợp từ ngữ: “dày gió dạn sương”, “bướm chán ong chường”, nhà thơ đã cực tả nỗi tụi nhục của một người con gái bị đẩy vào vũng bùn hôi tanh nhơ nhớp. Nhưng Kiều vẫn ý thức được nhân phẩm của mình:
“Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì?
Trong chốn lầu xanh, cuộc sống của nàng Kiều không hề thiếu thốn điều gì. Cảnh thì có:
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèn tuyết ngậm bốn bề trăng thâu”.
cầm kì thi họa – những thứ Kiều thích và đam mê thì đầy đủ:
“Đòi phen nét vẽ câu thơ
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa”.
nhưng Kiều hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”.
Phong cảnh mang màu tâm cảnh. Cảnh mang tình người. Nàng cảm thấy đau khổ, tê tái vì thấy nhục nhã ê chề khiến cho mọi cảnh vật đều nhuốm màu đau thương như nàng đang chịu đựng. Bất kẻ lúc nào, dấu đắng cay hay sung túc, nàng vẫn luôn ý thức được nhân phẩm của bản thân.
Giữa chốn lầu xanh, Kiều vẫn cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Nàng không thể tìm lấy cho riêng mình một người tri âm, tri kỉ để tâm sự. Trong mọi cuộc vui, nàng chỉ có thể “vui gượng”:
Ai tri âm đó mặn mà với ai?”
Dẫu sống trong cảnh lầu xanh nhơ bẩn, Kiều vẫn giữ cho mình những phẩm chất cao quý của người con gái: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bơi thê, người đọc càng thấy thương cảm và trân trọng nàng. | Phân tích đoạn trích “Nỗi thương mình” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du | 547 | |
Phân tích đoạn trích “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích đoạn trích “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng – văn mẫu lớp 8
Bài làm
Mỗi lần ngồi lật dở và đọc từng trang “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng tôi không đọc bằng mắt nữa mà để cho trái tim tự đọc, tự cảm nhận và tự rung động. Văn của ông rất sâu, rất sắc bởi nó cứa vào lòng người niềm thương cảm chân thành nhất. Đoạn“Trong lòng mẹ” trích trong “Những ngày thơ ấu” có lẽ là trích đoạn có sức lay động và ám ảnh người đọc nhất về tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt. Bằng ngòi bút tinh tế và tình cảm sâu đậm Nguyên Hồng đã dẫn người đọc khám phá văn chương của mình bằng trái tim.
Nguyên Hồng không thêu dệt một câu chuyện bi lụy ở đâu đó quanh chúng ta mà ông trải lòng lên trang giấy bằng chính cuộc đời, bằng chính tuổi thơ cùng cực, cay đắng và nước mắt của mình.
“Trong lòng mẹ” nằm ở chương IV của “Những ngày thơ ấu” kể về cuộc sống cơ cực, thiếu thốn tình yêu thương của bé Hồng. Hằng ngày Hồng chịu sự ghẻ lạnh, đay nghiến và mỉa mai của người cô bên nhà “thầy”. Bên cạnh đó còn là hình ảnh người mẹ nghèo tiều tụy với một tình yêu thương con vô bờ bế.
Bé Hồng sinh ra là kết quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Bố là một kẻ nghiện ngập, chết mòn trên bàn thuốc phiện để lại cho mẹ con Hồng một cuộc sống tù túng cực độ cùng những cay nghiệt bên nhà nội, cuối cùng mẹ Hồng phải tha hương cầu thực, bỏ lại Hồng một mình sống với bà cô.
Nguyên Hồng mở đầu bằng cách kể nhẹ nhàng, nhiều chua xót “Tôi đã bỏ cái khăn tang bằng vải màn ở trên đầu đi rồi. Không phải đoạn tang thầy tôi mà vì tôi mới mua được cái mũ trắng và quấn băng đen. Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về”. Một chuỗi tuổi thơ cay đắng mở đầu bằng “chiếc khăn tang” trắng, gợi lên trong lòng người đọc nhiều chua xót. Bé Hồng vẫn luôn mong ngóng người mẹ phương xa trở về trong ngày dỗ đầu của thầy. Tác giả được biết mẹ đang “bán bóng đèn và bán vàng hương ở chợ”, mẹ làm tất cả để mưu sinh để kiếm sống và để trở về.
Tâm lý của bé Hồng trong đoạn hội thoại này chất chứa yêu thương đối với người mẹ nghèo đáng thương. Nỗi khổ của mẹ, những hủ tục phong kiến ấy đã đè bẹp một người phụ nữ góa chồng, đẩy bà ấy đến bước đường cùng. Bé càng thương mẹ nhiều hơn, chỉ mong được gặp mẹ là đủ. Bằng cách xây dựng tâm lý cực kỳ tinh tế, Nguyên Hồng đã khiến người đọc không kìm được cảm xúc. Bởi vậy khi nghĩ về mẹ “tôi chỉ im lặng, cúi đầu, khóa mắt cay cay”, nén cảm xúc vào bên trong, không để nó bật ra trước mắt bà cô độc ác này, vì thể nào nếu khóc bà cô sẽ càng mỉa mai và châm biếm hơn.
Hình ảnh người mẹ qua lời kể bà cô khiến bé hồng nghẹn đắng, chua chát “Mẹ tôi ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng, người gầy rạc đi, thấy thế bà ta thương tình toan gọi hỏi xem sao thì mẹ tôi vội quay đi, lấy nón che”. Đặc biệt ở suy nghĩ tiếp theo, tác giả đã diễn tả cực kỳ thành công tâm lý của nhân vật “giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi”. Sự kìm nén cảm xúc bấy lâu nay khiến cho một đứa bé không thể chịu đựng được, đành phải để nó thoát ra bằng suy nghĩ đanh thép và cứng rắn như vậy. Ngôn ngữ gần gũi, đơn giản nhưng có góc cạnh sắc nhọn đã lột tả hết tâm lý của một đứa trẻ bị kìm kẹp.
Có thể nói đoạn trích này tác giả đã diễn tả cực kỳ thành công tâm lý nhân vật bé Hồng bằng hàng loạt động từ mạnh, ngôn ngữ sắc cạnh, phép đối lập đắc địa nhất. Đến phần thứ hai, giọng văn trở nên dịu nhẹ đi vì nó tái hiện lại cảnh gặp gỡ đầy cảm động giữ mẹ và bé Hồng sau bao nhiêu xa cách. Đây chính là mạch cảm xúc chính, là cao trào thắt nút tình cảm được mở bung ra để yêu thương ùa về.
Khoảnh khắc bé Hồng được sà vào lòng mẹ thật cảm động. Tác giả đã dùng những lời lẽ đẹp nhất, ngọt ngào nhất để diễn tả lại khoảnh khắc hiếm hoi,cảm động đó “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người miệng, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trên trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Câu văn này đã khiến không ít người run rẩy vì thương yêu vô bờ bến của tình mẫu tử.
Cuộc gặp gỡ định mệnh, và tình cảm cũng trở nên sâu và nặng hơn. Có thể nói người đọc đến đây đã thở phào nhẹ nhõm vì tình mẫu tử cuối cùng cũng được đền đáp. Không có sức mạnh nào hơn sức mạnh của tình mẫu tử, không có ai ngăn cản được mẹ và con đoàn tụ.
Bằng cách viết nhẹ nhàng và sâu lắng, cách diễn tả tâm lý cực kỳ sâu sắc và hơn hết bằng tình yêu thương vô bờ bến Nguyên Hồng đã khiến người đọc “ôm tim mình” mà khóc. “Trong lòng mẹ” luôn để lại trong lòng người những rung động ngọt ngào và chân thành nhất. | Phân tích đoạn trích “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng | 1,037 | |
Phân tích đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm
Bài làm
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người. Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớp thi nhân. Ta bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm. Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân. Tư tưởng ấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ như những lời tâm tình kết hợp với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước.
Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa
ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu abây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết
trồng tre mà đánh giặc.
Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. Đất Nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ … gợi lên một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm lược. Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần Đất nước, đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân tộc.
Đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa, giầu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình. Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Gừng tất nhiên là cay, muối tất nhiên là mặn. Tình yêu cha mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí tự nhiên kia. Hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng nhớ về một lời nhắc nhở thiết tha về tình nghĩa của một ai đó hôm nào: Tay bưng dĩa muối chén gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay,
giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.
Ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản gị biết bao. Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của nhân dân”.
Vẫn bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm đất nước theo kiểu riêng của mình:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nươc là nơi em đánh rơi chiếc
khăn trong nỗi nhớ thầm.
Đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từ rừng đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người, không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương. Ý nịêm về đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm đất nước, mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mạnh.
Đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Cùng với thời gian lớn lên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn. Không những thế, đất nước còn người bạn chia sẻ những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu. Đất và nước tách rời khi anh và em đang là hai cá thể, còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta. Chiếc khăn – biểu tượng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng: “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất …”, một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn yêu thương say đắm.
Đất Nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê hương. Hình ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong cách dân ca miền Trung, thẫm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả. Đất Nước mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng, tráng lệ và kì vĩ vô cùng, nhất là đối với những người đi xa. Dù chim ham trái chín ăn xa, thì cũng giật mình nhớ gốc cây đa lại về. Gia đình Việt Nam là như thế, lúc nào cũng hướng về quê hương, hướng về cội nguồn.
Đất Nước trường tồn trong không gian và thời gian: Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ, là không gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, về truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ. Nhắc lại Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc. Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ đến dòng giống Rồng Tiên của mình.
Nhắc đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để nhắc nhở:
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Cảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng, tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ mà chủ yếu là tác giả thể hiện đất nước trong ba phương diện: trong chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời gian lịch sử, trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách dân tộc.
Ba phương diện ấy được thể hiện gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi, nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ.
Và cụ thể hơn nữa, gần gũi hơn nữa, Đất nước ở ngay trong máu thịt của mỗi chúng ta:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Đất nước đã thấm tự nhiên vào máu thịt, đã hóa thành máu xương của mỗi con người, vì thế sự sống của mỗi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là của cả đất nước. Mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước, phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên đất nước muôn đời.
Từ những quan niệm như vậy về đất nước, phần sau của tác phẩm tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng: Đất nước của nhân dân, chính Nhân dân là người đã sáng tạo ra Đất nước.
Tư tưởng đó đã dẫn đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, về những danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền đất nước. Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên … không còn là những cảnh thú thiên nhiên nữa mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những con người không tên tuổi:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu, Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”, “Người học trò thắng cảnh”. Ở đây cảnh vật thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông. Từ những hình ảnh, những cảnh vật, những hiện tượng cụ thể, nhà thơ qui nạp thành một khái quát sâu sắc:
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước,
một lối sống ông cha
Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu
ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.
Tư tưởng Đất nước của nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước. Nhà thơ không ca ngợi các triều đại, không nói đến những anh hùng được sử sách lưu danh mà chỉ tập trung nói đến những con người vô danh, bình thường, bình dị. Đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người vô danh bình dị đó.
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước
Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ đã giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao. Mạch cảm xúc lắng tụ lại để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm nổi bật lên tư tưởn cốt lõi của cả bài thơ vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáo:
Đất nước này là Đất nước nhân dân
Đất nước của Nhân dân, Đát nước của ca dao thần thoại
Một định nghĩa giản dị, bất ngờ về Đất nước. Đất nước của ca dao thần thoại nhưng vẫn thể hiện những phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, của dân tộc: Thật đắm say trong tình yêu, biết quí trọng tình nghĩa và cũng thật quyết liệt trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Những câu thơ khép lại tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sắc quê hương với một tâm hồn lạc quan phơi phới. Tất cả ào ạt tuôn chảy trong tâm trí người đọc những tí tách reo vui …
III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm thành công cho mảng thơ viết về Đất nước. Từ những cảm nhận mang tính gần gũi, quen thuộc, Đất nước không còn xa lạ, trừu tượng mà trở nên thân thiết nhưng vẫn rất thiêng liêng. Đọc Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm ta không chỉ tìm về cội nguồn dân tộc mà còn khơi dậy tinh thần dân tộc trong mỗi con người Việt Nam trong mọi thời đại.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Phân tích đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm | 2,020 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Thuế máu (Trích Bản án chế độ thực dân Pháp)
Bài làm
Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Procès de la Colonisation Française) là tác phẩm của Hồ Chủ tịch viết bằng tiếng Pháp trong khoảng những năm 1921-1925, đăng tải lần đầu tiên tại Paris trên Báo Imprékor của Quốc tế Cộng sản.
Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục, với cách thành văn ngắn gọn, súc tích, cùng với những sự kiện đầy sức thuyết phục, tác phẩm tố cáo thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khốc liệt bắt “dân bản xứ” phải đóng “thuế máu” cho chính quốc… để “phơi thây trên chính trường Châu Âu”, đày đọa phụ nữ, trẻ em “thuộc địa”; các thống sứ, quan lại thực dân độc ác như một bầy thú dữ, v.v… Tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời, thức tỉnh lương tri của những con người yêu tự do, bình đẳng, bác ái, hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác-Lm ênin, thắp lên ngọn lửa đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam.
Năm 1946, ở Việt Nam, tác phẩm này đã được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Hà Nội. Năm 1960, Nhà xuất bản Sự Thật lần đầu tiên đã xuất bản bằng tiếng Việt. Đoạn trích Thuế máu Thuộc chương I Bản án chế độ thực dân Pháp. Ở chương này tác giả tập trung vạch trần bộ mặt kẻ thù, nói lên nỗi nhục khổ của những người dân bị áp bức, kêu gọi nhân dân thuộc địa đoàn kết đấu tranh.
Đoạn tríchgây ấn tượng với người đọc ngay từ nhan đề của nó: Thuế máu. Trong thực tế không có thuế nào gọi là “thuế máu”, chỉ có thuế thân, thuế gạo, thuế muối,… Thuế máu là cách đặt tên của tác giả nhằm phản ánh một thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn của chế độ thực dân, ở các nước thuộc địa: biến người dân nơi đây thành vật hi sinh trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa. Qua nhan đề này, nhà văn muốn phản ánh số phận bi thảm của người dân thuộc địa, đồng thời biểu lộ thái độ căm phẫn trước tội ác ghê tởm của chính quyền thực dân. Người dân thuộc địa phải gánh chịu nhiều thứ thuế bất công, vô lí, song có lẽ một trong những thứ thuế tàn ác, dã man nhất là thứ thuế thu bằng xương máu và tính mạng của họ.
Trình tự và cách đặt tên các phần trong chương Thuế máu cũng hàm ý bóc trần các chính sách lừa bịp để bóc lột người dân thuộc địa đến tận xương tủy của chính quyền thực dân cai trị. Từ Chiến tranh và người bản xứ đến Chế độ lính tình nguyện rồi Kết quả của sự hi sinh, qua các phần tiếp nối nhau như thế, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước phơi bày bản chất “ăn thịt người” của bè lũ thực dân.
Phần một: Chiến tranh và người bản xứ.
Ở phần này, tác giả nêu bật sự đối lập trong thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm: trước khi xảy ra chiến tranh và khi chiến tranh vừa bùng nổ.
Tác giả đưa ra hai thái độ trái ngược hoàn toàn ấy nhằm tố cáo thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền thực dân trong việc biến dân thuộc địa thành vật hi sinh. Luận điệu bịp bợm trơ trẽn của chúng được Nguyễn Ái Quốc nhắc lại với dụng ý châm biếm và đả kích sâu cay.
Số phận của người dân bản xứ trong các cuộc chiến tranh được Nguyễn Ái Quốc khắc họa thật thê thảm: Họ phải xa lìa vợ con, xuống tận đáy biển bảo vệ Tổ quốc cho các loài thủy quái, bỏ xác tại miền hoang vu. Ra chiến trường là thế, còn ở hậu phương, người dân thuộc địa cũng không kém phần thê thảm. Hầu hết họ phải làm kiệt sức trong xưởng thuốc, hít phải những luồng khí độc, “khạc ra từng miếng phổi”.
Và tác giả đã tổng kết lại về số phận của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa bằng một con số cụ thể: “Tổng cộng có bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa”.
Tác giả đã nêu ra một con số khủng khiếp về số người bản xứ đã bỏ mình trôn đất Pháp trong mấy năm chiến tranh thế giới thứ nhất: Tổng cộng cố bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa.
Phần hai: Chế độ lính tình nguyện.
Ở phần này, tác giả vạch trần các mánh khóe và thủ đoạn bắt lính của bọn thực dân. Bọn chúng tiến hành những cuộc lùng ráp vây bắt, cưỡng bức người ta đi lính; lợi dụng chuyện bắt lính mà doạ nạt, xoay xở kiến tiền đối với những nhà giàu; sẵn sàng trói, xích, nhốt người ta như nhốt súc vật, sẵn sàng đàn áp dã man nếu như có chống đối.
Trong khi thực hiện những hành vi bỉ ổi trên, chính quyền thực dân vẫn không quên rêu rao về lòng tự nguyện đầu quân của người dân thuộc địa. Lời tuyên bố trịnh trọng của phủ toàn quyền Đông Dương chỉ càng bộc lộ sự lừa bịp trơ trẽn, họ đã tuyên bố rằng: “Các bạn ấy đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”. Có thật là người dân thuộc địa tình nguyện hiến dâng xương máu cho “nước mẹ Đại Pháp” như lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền hay không? Tác giả kể rằng:
Qua đây chúng ta thấy thủ đoạn bắt lính của bọn thực dân Pháp thật bỉ ổi. Thực chất là dựng vũ lực bắt lính chứ không hề có “tình nguyện” nào cả. Bằng giọng điệu giễu cợt cùng những câu hỏi đanh thép, những dẫn chứng hùng hồn, tác giả đó vạch trần bản chất mánh khóe, vụ lợi, mị dân của thực dân Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã nhắc lại câu chuyện thực tế bằng giọng điệu giễu cợt các lời tuyên bố trịnh trọng của bọn thực dân cầm quyền rồi phản bác lại bằng những thực tế hùng hồn.Tiếng cười chua chát, tiếng cười nước mắt. Đằng sau là nỗi đau của tác giả. Không một lúc nào Người quên được nỗi đau của dân tộc mình, nhân dân mình dưới ách cai trị của bọn thực dân
Vậy thì, kết quả của sự hi sinh của người dân thuộc địa cho các cuộc chiến tranh phi nghĩa ấy như thế nào? Bọn thực dân đã đối xử như thế nào đối với những người đã ra chiến trường thay họ? Đó chính là nội dung của phần ba của văn bản: Kết quả của sự hi sinh.
Kết quả sự hi sinh của người lính thuộc địa trong các cuộc chiến tranh và cách đối xử của chính quyền thực dân sau khi đã bóc lột xương máu họ đã được tác giả miêu tả bằng những hình ảnh, chỉ tiết tiêu biểu có sức tố cáo rất lớn:
Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyển nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nê-gơ-rô” lẫn người “An nam-mít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”.
Đối với người dân thuộc địa, sự hi sinh chẳng hề mang lại lợi ích gì cho họ bởi chế độ bản xứ không hề biết đến chính nghĩa và công lí. Cách đối xử của chính quyền thực dân với họ sau chiến tranh – sau khi đã bóc lột hết “thuế máu” thật tàn nhẫn, độc ác. Ở đây, nhà văn đã vạch trần được bộ mặt tráo trở, tàn nhẫn của chính quyền thực dân cùng với bộ mặt trắng trợn khi tước đoạt hết của cải mà người lính thuộc địa mau sắm được, đánh đập họ vô cớ, đối xử với họ thô bỉ như đối với súc vật. Người dân thuộc địa lại trở về vị trí hèn hạ ban đầu sau khi bị bóc lột trắng trợn thuế máu. Nhà văn đã sử dụng hàng loạt câu nghi vấn để lột trần được bộ mặt vô nhân đạo, tráo trở, tàn nhẫn và bản chất lừa dối, nham hiểm, độc ác, phi nhân tính của thực dân Pháp.
Nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc thể hiện chủ yếu qua hệ thống hình ảnh chọn lọc, tiêu biểu, những từ ngữ giàu khả năng gợi tả, gợi cảm và chất chứa sức mạnh tố cáo tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân.
Ngôn ngữ tác phẩm mang màu sắc trào phúng rất rõ nét. Những từ mỉa mai như; “con yêu”, “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”, “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế”, “lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”, “vật liệu biết nói…” vừa phơi bày bản chất dã man của chủ nghĩa thực dân, vừa tô đậm số phận bi thảm của người dân thuộc địa.
Tác giả sử dụng rất thành công nghệ thuật gậy ông đập lưng ông bằng cách nhắc lại những mĩ từ, danh hiệu hào nhoáng mà chính quyền thực dân khoác cho người lính thuộc địa để bóc trần bản chất lừa bịp vô liêm sỉ của chúng. Tác giả dùng liên tiếp các câu hỏi tu từ để phơi bày sự thật trái ngược với lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền. Các câu chuyện, các sự kiện, con số được nêu ra đều lấy từ thực tế nên không thể chối cãi. Để tăng tính thuyết phục của lí lẽ, khi cần, tác giả còn dẫn ra ý kiến của người khác hay của chính đối tượng bị đả kích.
Tác giả sử dụng có hiệu quả biện pháp nghệ thuật kể để nêu ra những câu chuyện, những bằng chứng rõ ràng. Các câu chuyện, các sự kiện, con số được nêu ra đều lấy từ thực tế sinh động nên không thể chối cãi. Để tăng tính xác thực, khi cần còn dẫn ra ý kiến của người khác hay lời lẽ của chính đối tượng đả kích.
Trong đoạn trích, yếu tố tự sự và yếu tố biểu cảm được kết hợp chặt chẽ, hài hòa làm cho văn bản nghị luận này trở nên sinh động, hấp dẫn.
Từ hệ thống hình ảnh và giọng điệu chung của tác phẩm, người đọc nhận ra thái độ yêu ghét rõ ràng của tác giả: căm phẫn chính quyền thực dân tàn ác và xót xa thương cảm cho thân phận người dân nô lệ của các nước thuộc địa bị bóc lột đến cả xương máu, tính mạng.
Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ thái độ đê mạt, hèn hạ của đám quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm trước chiến tranh và sau chiến tranh xảy ra, đồng thời đồng cảm sâu sắc với số phận bi thảm của những người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa ấy. | Phân Tích Đoạn Trích Thuế Máu (Trích Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp) | 2,011 | |
Phân tích đoạn văn Thép Mới nói về nhạc của tre, măng tre và vai trò của cây tre trong tương lai
Hướng dẫn
Những bài văn mẫu hay lớp 6
Văn mẫu lớp 6: Phân tích đoạn văn Thép Mới nói về nhạc của tre, măng tre và vai trò của cây tre trong tương lai gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.
Đề bài: Phân tích đoạn văn Thép Mới nói về nhạc của tre, măng tre và vai trò của cây tre trong tương lai. Nêu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài tuỳ bút “Cây tre Việt Nam”.
Bài làm
Phần thứ ba của bài tùy bút nói về cây tre trong tương lai. Như một quy luật của sự sống vĩnh hằng: “Tre già măng mọc”. Búp măng non sẽ còn mãi trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam. Tre, nứa “sẽ còn mãi… còn mãi… còn mãi…” với dân tộc ta, “chia bùi sẻ ngọt” với nhân dân ta trong hạnh phúc, hòa bình.
Đất nước sẽ được công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sẽ có nhiều sắt thép, nhưng cây tre vẫn sống mãi trong tâm hồn dân tộc. Bóng mát của tre xanh, khúc nhạc tâm tình của tre, cổng chào thắng lợi, những chiếc đu tre, tiếng sáo diều tre vẫn trường tồn cùng đất nước và nhân dân ta trên dặm đường trường “của những ngày mai tươi hát”…
Cây tre Việt Nam, cây tre xanh với bao phẩm chất “nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm” là biểu trưng cao đẹp “những đức tính của người hiền”, là “tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam”. Thép Mới đã dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi cây tre với tất cả tình yêu và niềm tự hào quê hương xứ sở, về đất nước và con người Việt Nam.
“Cây tre” là một tùy bút đặc sắc, xứng đáng là một tờ hoa, trang hoa của Thép Mới để lại cho đời. Cây tre xanh, lũy tre xanh là cảnh sắc làng quê, là bạn thân, là cánh tay, là đồng chí chiến đấu dũng cảm anh hùng, là người bạn tâm tình,… của nông dân Việt Nam, của nhân dân Việt Nam. Trên con đường đi tới ngày mai ca hát, hạnh phúc, hòa bình, cây tre vẫn là người bạn thủy chung của nhân dân ta, chia ngọt sẻ bùi với dân tộc ta. Cây tre là biểu lượng cao quý về những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Những ý tưởng phong phú ấy, tốt đẹp ấy đã được diễn tả bằng một bút pháp tài hoa. Câu văn xuôi vừa cổ kính, vừa hiện đại. Tác giả đã sử dụng rất sáng tạo các biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ, phép đối để tạo nên những câu văn xuôi trữ tình giàu chất nhạc, chất thơ, dào dạt cảm xúc. | Phân tích đoạn văn Thép Mới nói về nhạc của tre, măng tre và vai trò của cây tre trong tương lai | 517 | |
Đề bài: Hãy phân tích đoạn văn trong truyện ngắn Chiếc thuyến ngoài xa của Nguyễn Minh Châu để thấy lòng hi sinh cao cả của người phụ nữ bị chồng hành hạ.
Dàn ý
Giới thiệu sơ lược về Nguyễn Minh Châu: Nổi tiếng từ tiểu thuyết Cửa sông 1967), nhà văn không ngừng trăn trở về số phận của người dân và trách nhiệm của người cầm bút. Từ đầu thập kỉ tám mươi, ông chuyên viết truyện về đề tài triết lí nhân sinh.
Phân tích đoạn văn trong truyện ngắn Chiếc thuyến ngoài xa
Chiếc thuyên ngoài xa kể về đời sống lao khổ của một gia đình chài lưới nghèo và sự hi sinh cao cả của người vợ, người mẹ giữa cát vàng nắng cháy và sóng biển vô tình.
+ Vị trí đoạn văn: Đoạn văn nằm ở phần giữa truyện, sau khi mụ bị chồng đánh, đứa con trai vì thương mẹ mà đánh lại cha trước mặt người dẫn truyện – phóng viên ảnh. Chính vì thế mà đây là lần thứ hai mụ được tòa án triệu tập lên: trả lời về việc mụ quyết định như thế nào với người chồng vũ phu ấy.
+ Phân tích: Đoạn văn được viết với ngôn ngữ kể giản dị, dễ hiểu. Đoạn văn có hai nhân
vật. Mỗi nhân vật được diễn tả bằng giọng văn phù hợp, lời văn gợi hình ảnh sinh động. Cả hai đều nói về một người có liên quan: người chồng. Với Đẩu – chánh án thì lão đàn ông phạm pháp, còn với người phụ nữ thì lão đàn ông ấy là chồng của mụ.
Sống với những trận đòn: Qua lời của chánh án Đẩu: “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng nào như hắn. Điều ấy có nghĩa là mụ đã từng đau đớn vì đòn roi từ ngày này qua tháng khác – Người phụ nữ chịu đòn kỉ lục trường kì. Mụ bị đánh đòn tới nỗi chánh án Đẩu phải cảnh cáo: “Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu!" Chính vì cảm nhận như thế nên tòa mới mời mụ lên để hỏi ý kiến trước. Có lẽ sau khi biết ý kiến của mụ, tòa mới căn cứ vào đó làm việc với “lão đàn ông vũ phu ấy”.
Thái độ của người phụ nữ:
“chấp tay lại vái lia lịa:
Con lạy quý tòa – Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Trước thái độ tha thiết van xin ấy, ai nghe chắc cũng giận, cũng cho rằng người phụ nữ ấy ngu dại.
Có đúng mụ là người phụ nữ như thế chăng?
Mụ kể về vóc dáng: “là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt. Kể về hoàn cảnh: “Trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá, hiền lành lắm, không bao giờ đánh tôi. Như thế, mụ đã có một thời hạnh phúc, một gia đình ấm cúng…
Điều gì đã khiến “anh con trai hiền lành" trở thành "lão đàn ông vũ phu?” Cũng chính từ lời tâm sự của mụ: Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn…”. Thế là đủ rõ để cảm thông được với thái độ tha thiết van xin của mụ. Cái nghèo đã biến “anh con trai hiền lành” thành “lão đàn ông vũ phu”. Làm sao bình tĩnh cho được khi thấy đàn con đến cả chục đứa sống nheo nhóc trên chiếc thuyền con? Anh ta căm giận cái nghèo. Và thế là chị trở thành cái bị thịt để anh trút giận…
Chị hiểu chồng mình mà cam chịu. Và cũng vì thương con nên “mới xin được với lão… đưa lên bờ mà đánh” vì sợ con chứng kiến cảnh buồn, và có thể có hành động không hay với cha của chúng…
-Phân tích các tình huống trong đoạn văn trích chúng ta mới thấy rõ sự hi sinh cao cả của người vợ. người mẹ trong hoàn cảnh nghèo.
Đó là một vấn đề trong nhiều vấn đề nan giải của xã hội.
Song song với việc giáo dục cho mọi người về bình đẳng giới tính, sinh đẻ có kế hoạch chinh là giải quyết việc thoát nghèo cho người dân… | Phân tích đoạn văn trong truyện ngắn Chiếc thuyến ngoài xa để thấy lòng hi sinh cao cả của người phụ nữ bị chồng hành hạ. | 738 | |
Phân tích đoạn đầu bài thơ Bên kia sông Đuống
Hướng dẫn
Phân tích đoạn đầu bài thơ Bên kia sông Đuống
Hoàng Cầm là nhà thơ có sự gắn bó với quê hương, chính sự gắn bó này nó thấm vào những câu thơ giản dị chân chất của ông.Đặc biệt là bài thơ “ Bên kia sông Đuống”. những giai điệu của bài thơ đã khiến cho độc giả cảm nhận được cái hồn hậu giản dị mộc mạc chứa đựng trong đó. Cảm hứng ấy được bộc lộ khá rõ ngay trong đoạn mở đầu bài thơ, khi người con của quê hương đứng ở “bên này” nhìn về “bên kia sông Đuống”:
Mở đầu bài thơ chính là cái nhìn toàn cảnh “bên kia sông Đuống” từ “bên này”.cái nhìn ấy bao quát toàn cảnh và cũng được miêu tả trước con mắt của một con người tinh tế.
Và trong câu thơ: “Em ơi buồn làm chi”. Chúng ta tự hỏi rằng Em là ai? Là một con người không xác định. Chúng ta chỉ biết là một người cùng quê bên kia sông Đuống, không gọi tên nhưng biết rõ cũng k để làm gì.chỉ nhìn thấy phía bên kia sông đuống dáng người đó.. nhưng trong thơ Hoàng cầm thì bao giờ “em” cũng là một cô gái Kinh Bắc của ngày xưa ở đoạn kết, cô gái ấy đã hiện ra với hình ảnh ấy:
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng…
Được miêu tả là một cô gái đẹp đồng thời cũng là một cô gái thùy mị, e lệ.Nhà thơ cần một cô gái như thế để bày tỏ tâm tình dào dạt của mình, nhất là đối với quê hương Kinh Bắc đẹp một cách cổ kính. Em đẹp từ khi tác giảm miêu tả những nét đặc trưng của cô gái Kinh Bắc với yếm thắm. Lụa hồng là cô gái thắt đáy lưng ong.
Không chỉ có cái nhìn toàn cảnh về không gian mà còn có sự miêu tả và cái nhìn thấu đáo về thời gian:
Sông Đuống trôi đi,Một dòng lấp lánh.
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì.
Câu hỏi tại sao lại nằm “nghiêng nghiêng”? thực chất điều này thật khó giải thích có lẽ phải có cái dáng “nằm nghiêng nghiêng” ấy con sông mới như một sinh thể có hồn, có tâm trạng hơn. dáng nghiêng nghiêng ấy như đợi chờ cùng thời gian chứng kiến những đổi thay của năm tháng xưa cho tới nay. Kết hợp cùng với “bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc”, hình ảnh nằm nép mình “nghiêng nghiêng” của con sông Đuống dường như gợi không khí lo âu, vắng lặng hơn chăng
Hơn thế tác giả Hoàng Cầm còn diễn tả Một nỗi đau “xót xa như rụng bàn tay” hình ảnh tươi đẹp của quê hương không còn bình yên, đẹp cổ kính ấy đã bị giặc chiếm đóng. Còn đâu dòng sông Đuống lấp lánh trôi giữa hai bờ cát trắng phẳng lì, còn đâu màu xanh mượt mà, biêng biếc của dâu mía ngô khoai? tất cả giờ chỉ còn lại nỗi đau của một con người “đứng bên này Bỗng sao nhớ tiếc” cảm giác được:Sao xót xa như rụng bàn tay. Cảm xúc ấy phải được rút ra từ người trong cuộc, là quê hương thân yêu của mình bị giặc chiếm đóng thì mới có nỗi đau như vậy. Khi nghe tin quê hương bị giặc tàn phá và nỗi đau đã trào ngay trong những dòng thơ đầu bằng một hình ảnh đầy ấn tượng.
Hoàng Cầm đã rất thành công với đoạn thơ đầu tiên là khi bắt đầu khơi nguồn cảm xúc. Đoạn thơ là một bức tranh đẹp được khúc xạ qua tâm trạng đau xót của nhà thơ khi quê hương Kinh Bắc thân yêu đã bị giặc chiếm đóng.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn đầu bài thơ Bên kia sông Đuống | 656 | |
Phân tích đoạn đầu bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
Hướng dẫn
Phân tích đoạn đầu bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
Đoạn trích Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm thuộc phần đầu chương V của bản trường ca ” mặt đường khát vọng ” được sáng tác ở chiến khu Bình Trị Thiên năm 1971 và xuất bản năm 1974, thể hiện nhiều suy ngẫm và cảm nhận rất độc đáo và mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Trong đó, đoạn đầu của đoạn trích nêu lên cách cảm nhận rất độc đáo về đất nước.
Ở phần 1, đất nước được cảm nhận từ những gì rất gần gũi, bình dị, nhỏ bé, thân thiết trong cuộc sống giản dị hằng ngày.
Để trả lời câu hỏi đất nước là gì? đất nước có từ đâu?, tác giả đã đưa ra cách lí giải rất thú vị: đất nước là nơi ta đã sinh ra, là mảnh đất đã ấp ủ, chắt chiu nuôi ta lớn lên, đất nước hiện hình từ câu chuyện cổ tích của mẹ, từ miếng trầu bà ăn, từ cây kèo cây cột ta ở, hạt gạo miếng cơm ta ăn hàng ngày cho đến các phong tục tập quán quen: ” tóc mẹ thì bới sau đầu “, đến cả đạo lí sống tình nghĩa thủy chung ” cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn “… tất cả đều cho thấy đất nước thật bình dị, gần gũi, thân thiết nhưng nó cũng rất bền vững sâu xa bởi nó là bản sắc văn hóa dân tộc, là điệu hồn của dân tộc đã được tồn tại từ ngàn xưa. Nguyễn Khoa Điềm đã để đất nước hóa thân vào cuộc sống hàng ngày, hóa thân vào cổ tích ca dao thần thoại, hình tượng thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã được dệt bằng những sợi tơ óng ánh sắc màu của văn hóa dân gian. Chất dân gian, hồn dân tộc như thấm sâu vào từng câu từng chữ, chính nó đã tạo nên một nghệ thuật vừa gần gũi quen thuộc vừa sâu xa kì diệu, có sức gợi dậy những cảm xúc sâu lắng, gợi lên hồn thiêng của non sông đất nước trong lòng người đọc.
Ở phương diện hai, đất nước được nhìn từ phương diện là không gian địa lý, tác giả khai thác hai thành tố đất và nước từ nghệ thuật chơi chữ bằng cách ” chiết tự ” không những không làm người đọc hiểu sai ý nghĩa vấn đề mà còn tạo nên sự suy luận rất độc đáo: đất và nước kết hợp hài hòa với nhau để tạo nên không gian địa lí rộng của đất nước, không gian ấy là núi sông ruộng đồng, rừng bể mênh mông từ nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc đến nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi, tức là từ rừng xa cho đến biển rộng mênh mông bát ngát, nhưng không gian ấy là không gian sinh tồn của bao thế hệ, là nơi dân mình đoàn tụ và cũng là nơi gắn liền với tình yêu đôi lứa của anh và em.
Ở phương diện ba, đất nước được cảm nhận từ không gian địa lí đến thời gian lịch sử. Đất nước được cảm nhận trong thời gian đằng đẵng nhưng đó không phải là thứ vô tri vô giác mà nó gắn liền với thời gian lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước. Tác giả đã nhắc tới Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng là muốn nhắc đến cội nguồn dân tộc, nhắc đến Vua Hùng là người đã có công gây dựng đầu tiên nên đất nước này. Tiếp đó là các thế hệ nối tiếp nhau trong suốt bốn nghìn năm lịch sử cùng đóng góp phần mình xây dựng và bảo vệ đất nước.
Đất nước ở trong ta là máu xương của mình đòi hỏi mỗi con người, đòi hỏi anh và em phải biết gắn bó thương yêu, phải có trách nhiệm với đất nước, tình yêu đất nước là tình yêu máu thịt, yêu chính sự sống của mình cho nên ” phải biết gắn bó và san sẻ”, ” phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở “. Tức là phải biết cống hiến và khi cần phải biết hi sinh để ” làm nên Đất Nước muôn đời “. Nếu mọi người dân trên đất nước đều có ý thức trách nhiệm, đều biết gắn số phận cá nhân với số phận cộng đồng, biết yêu thương trân trọng, đóng góp dựng xây, giữ gìn và bảo vệ sẽ tạo nên một đất nước hài hòa, lớn lao, thắm đẹp trường tồn đến muôn đời.
Có thể thấy ở đoạn đầu, cách cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm vừa tổng hợp toàn vẹn vừa sâu sắc thấm thía, cho người đọc hiểu rõ được vẻ đẹp độc đáo, thiêng liêng một cách khái quát rõ rệt nhất. | Phân tích đoạn đầu bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm | 857 | |
Phân tích đoạn đầu của bài thơ Đất nước
Hướng dẫn
Phân tích đoạn đầu của bài thơ Đất nước
Đất nước là đề tài mà khiến nhiều nhà thơ nhà văn khơi nguồn sáng tạo.Từ những bài thơ giản dị tới những bài thơ mang cảm hứng yêu nước sâu sắc, Đất nước la hai tiếng thiêng liêng và tràn trề cảm xúc. Là một nhà thơ trẻ, trưởng thành trong thời kì chống Mỹ cứu nước, nặng tình với non sông, người trí thức Nguyễn Khoa Điềm cũng góp riêng một tiếng nói của mình để khẳng định sự lớn dậy ấy. Và bài thơ Đất Nước đã ra đời đóng góp vào văn chương những vần thơ giản dị nhưng hồn hậu và thiêng liêng.
Trường ca Mặt đường khát vọng mà âm điệu chính là những lời ngợi ca, đó là những suy nghiệm sâu lắng về đất nước, về thời đại. Dù mới mẻ, thơ của Nguyễn Khó Điềm về chủ đề quen thuộc này cũng đã khẳng định một cách nghĩ, cách nhìn mới. Những câu chuyện những lời thơ dễ dàng đi vào lòng người một cách tự nhiên nhất.
Chất liệu được sử dụng trong bài thơ nhất là những câu thơ mở đầu là những thứ rất cụ thể gần gũi. Để thể hiện sự hiện hữu cùa đất nước này ở chiều sâu của thời gian, chiều rộng của không gian, trong đoạn mở đầu, ông đã tập trung sử dụng rất nhiều hình ảnh hết sức cụ thể, gần gũi đầy thân thương nhưng lại có sức liên tưởng mãnh liệt và tính khái quát cao. Có thể thấy từ câu thơ thứ nhất,Đặc biệt, ông nối kết để tạo nên mạch thơ nói về sự hiện hữu của đất nước bằng điệp từ có. Bằng việc sử dụng điệp từ này đã nối kết những hình ảnh tưởng chẳng liên quan gì với nhau thành một khối không thể tách rời, khẳng định sự hiện hữu vừa có tính truyền thống vừa đầy ân tình sâu nặng của đất nước. qua những câu thơ như những lời hát ru, chúng ta càng thấm thía tình yêu về hà nội.
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng
Đất nước có từ ngày đó…
Những hình ảnh được sử dụng làm chất liệu mộc mạc chân tình, những hình ảnh thơ đầy sức tưởng tượng của tác giả về sự hiện hữu của đất nước.cách gợi hình ảnh của tác giả khiến độc giả rất thích thú vì có cơ hội tìm về với nguồn cội. Bắt đầu khơi gợi với cụm từ “Ngày xửa ngày xưa” không rõ là từ khi nào, nó như mở đầu cho những câu chuyện cổ tích, hình ảnh người bà – nhà thơ muốn nói rằng đất nước này đã tồn tại từ lâu đời, tồn tại từ thuở Mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long, cái thuở Nam quốc sơn hà. Hình tượng đất nước lớn lên và được bao bọc với những phong tục, cốt cách của một dân tộc đậm tình, đậm nghĩa nhưng cũng sẵn sàng xả thân khi tổ quốc lâm nguy. Đó là những câu thơ với hồn thơ rất thân thương, hình ảnh khi đất nước hiện hữu vừa thật nhỏ nhoi, lại vừa thật tình cảm nơi miếng trầu. bây giờ bà ăn. Tác giả không gợi ra hình ảnh hay khái niệm đất nước ở đây với những thứ vừa trừu tượng vừa cụ thể được truyền từ ngàn đời, biết bao nhiêu thế hệ. Có thể nói, ở đây, sức liên tưởng thật sáng tạo, đầy ắp những nét đẹp về phong tục, tập quán, bản sắc quê hương:
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Những tình cảm thân thương, giản dị nhưng gắn liền với phong tục với nền tảng văn hóa từ buổi đầu dựng nước. Chúng ta thấy, ở đó, có những bàn tay, những trái tim, những con người cần cù chịu thương chịu khó, lam lũ cần cù, một nắng hai sương. Hơn thế, trong khổ đầu này có sự tồn tụ hiện hữu có khi phải được đánh đổi bằng máu xương, mồ hôi, nước mắt của cả một dân tộc luôn cần phải Rũ bùn đứng dậy tự khẳng định mình. Như vậy, từ những điều thân thương và cả hi sinh, tác gải đã dẫn cho chúng ta vào những câu chuyện đất nước bất tận.
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng
Đất nước có từ ngày đó…
Không nói rõ là thời gian là bao giờ nhưng với cách đi vào vấn đề như những câu chuyện,cứ dẫn dắt người đọc vào đó,khiến chúng ta nhận thức được đất nước như thế nào từ bao giờ, cứ thấm đượm tình cảm thiêng liêng này. Tất cả thật tự nhiên không một chút gượng gạo gì, và đất nước là như thế
Với 9 câu đầu thôi mà Nguyễn Khoa Điềm đã khiến người đọc bắt đầu chìm đắm vào cuộc sống thế giới và không gian của truyền thống của những nét đẹp văn hóa linh thiêng. Câu thơ trong bài thơ đã khơi gợi những nét đẹp, lôi cuốn người đọc người nghe. | Phân tích đoạn đầu của bài thơ Đất nước | 937 | |
Phân tích Đôi mắt của Nam Cao văn 12
Hướng dẫn
Phân tích Đôi mắt của Nam Cao văn 12
Trong nền văn học hiện thực Việt Nam, Nam Cao là cái tên vô cùng sáng giá. Là người đến sau so với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng nhưng Nam Cao vẫn có những tác phẩm khẳng định tên tuổi của mình. Bời vì ông quan niệm “Văn chương không dung nạp những người thợ khéo tay làm theo vài kiểu mẫu cho sẵn, văn chương chỉ cần đến những người khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Trước cách mạng tháng Tám Nam Cao tập trung phản ánh tấn bị kịch của người nông dân và người tri thức qua hai tác phẩm tiêu biểu là Chí Phèo và đời thừa. Còn sau khi cách mạng tháng Tám thành công nhà văn tập trung đi vào phản ánh cách nhìn nhận của một bộ phận nhà văn về người nông dân qua tác phẩm đôi mắt.
Điều khiến chúng ta chú ý ở đây là nhan đề của tác phẩm. Đôi mắt theo nghĩa tả thực thì đó chính là bộ phận của con người dùng để nhìn. Nhưng ở đây nhà văn dùng theo nghĩa bóng của nó. Nói đôi mắt là nhà văn muốn nói tới sự nhìn nhận của các nhà văn về người nông dân trong kháng chiến. Cụ thể ở đây là cách nhìn khác nhau của nhà văn hoàng và nhà văn Độ. Cách nhìn đó khác nhau như thế nào? Đọc tác phẩm sẽ là câu trả lời cho câu hỏi đó.
Nhà văn Nam Cao đã xây dựng thành công hai nhân vật nhà văn là Hoàng và Độ. Nhà văn Hoàng là đàn anh của Độ. Sau đó kháng chiến nổ ra Hoàng tản cư về nông thôn sau đó mất liên lạc. Sau những tháng ngày hỏi han thì Độ biết nhà của anh Hoàng, Độ biết được nhà đàn anh này và đến thăm hỏi. Trong lần gặp mặt này hai người đã có những câu chuyện thể hiện cái nhìn của mình về người nông dân. Nhân vật Độ bước vào thì có một anh hàng xóm gọi hộ anh Hoàng. Cái cánh cửa cổng kín mít cùng con chó béc dê không ai dám vào. Ban đầu anh Hoàng phải cẩn thận nhìn xem ai mới mở cửa. Và khi nhận ra người anh em cũ anh bảo vợ xích chó lại và đưa anh vào nhà.
Nói tóm lại lối sống mà Hoàng sống là một lối sống ích kỉ hẹp hòi chỉ có biết mình trong khi cả nước chiến đấu. Đó là một lối sống cần phải lên án gay gắt.
Không chỉ lối sống sai lệch mà cách nhìn nhận về người nông dân của Hoàng cũng sai lệch. Nhà văn Nam Cao đã thể hiện điều đó trong việc kể về câu chuyện giữa Hoàng và Độ. Hoàng chê người nông dân đã ít chữ lại còn nhặng xị, tham lam, ích kỉ và buôn chuyện. Có thể nói là một nhà văn đi trước lại là người không thích dừng lại ở cái chung, lúc nào cũng phải đi đến cái cụ thể chi tiết thì Hoàng là một nhà văn có tài quan sát rất tốt. Chính vì thế những điều anh chê người nông dân không phải là vu khống và đặt điều. Đó là những điều đúng thế nhưng cái sai của anh là anh chỉ nhìn thấy cái xâu của họ mà không thấy được điểm tốt. Trong khi chính anh cũng có những điểm xấu mà anh lại không hề nhận ra. Và nhà văn xây dựng nhân vật Hoàng như một phản diện thì muốn để cho Độ – chính diện phản đối những điều Hoàng nói ra cũng là một điều rất khó vì điều Hoàng nói hoàn toàn là sự thật. Tuy nhiên nhà văn vẫn thận trọng tạo nên tình huống để cho người đọc biết được cách nhìn nhận nào là đúng.
Còn nhân vật Độ khi nghe những nhận xét của nhà văn Hoàng về người nông dân thì anh cũng chỉ im lặng. Nhiều câu phản bác lại để bảo vệ cho người nông dân nhưng không hề gay gắt. Nói như thế không phải nhà văn ấy chịu trước cái nhận xét ấy của Hoàng mà lại Độ không thể nói cho Hoàng hiểu được, Bởi cuộc sống và suy nghĩ của Hoàng đã lệch lạc quá rồi. Những nhận xét về người nông dân quả thật không sai nhưng cái nhìn ấy là cái nhìn tiêu cực. Đọc đoạn hội thoại bình luận ta tưởng chừng như nhà văn Độ là người lép về bị lấn át không thể làm sao mà bảo vệ được quan niệm của mình được. Tuy nhiên cái tài của nhà văn Nam Cao là dù không nói người đọc vẫn thấy được cái nhìn của Độ mới là đúng. Bởi vì lối sống của Hoàng là quay lưng lại với nông dân cách mạng, bó hẹp mình lại trong cái bao an toàn. Điều đó đủ cho thấy Hoàng xa rời quần chúng cách mạng đến nhường nào. Và Hoàng không hiểu hêt được những người nông dân. Hoàng nhìn người một cách phiếm diện. Đó là cái nhìn hoàn toàn sai lệch.
Truyện ngắn đôi mắt của Nam Cao đã nêu lên một vấn đề nóng bỏng đó là cách nhìn của những nhà văn với người dân và cách mạng, Trong tình hình đất nước ấy nhà văn có vai trò sáng tác ra những tác phẩm khơi dậy ý chí chiến đấu và ca ngợi sức mạnh của nhân dân. Nhưng nếu có những cái nhìn sai lệch như Hoàng thì liệu rằng có những tác phẩm kia không. Vì vậy mỗi nhà văn phải có trách nhiệm nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo sâu sắc. | Phân tích Đôi mắt của Nam Cao văn 12 | 1,002 | |
Đề bài: Phân tích đặc điểm của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong tùy bút Người lái đò sông Đà
Gợi ý
Đặc điểm của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
– Tùy bút Người lái đò Sông Đà đã thể hiện rõ nét các đặc điểm của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.
* Khám phá, phát hiện sự vật ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ: con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình.
* Nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ: Ông lái đò được miêu tả như một dũng tướng tài năng nhưng có phong thái của một nghệ sĩ tài hoa.
* Tô đậm những nét phi thường, tuyệt vời cua cảnh vật, con người: Con Sông Đà hung bạo. hiểm ác, ông lái đò tài hoa.
Phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà
Vận dụng tri thức cùa nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau về đối tượng sáng tác đẽ tạo hình tượng: Con Sông Đà hung bạo và những trận thủy
chiến của ông lái đò được ghi lại bằng kiến thức của văn chương, hội họa, điện ảnh, địa lí, lịch sử, quân sự, võ thuật.
Ngôn ngữ trong tác phẩm:
*Từ ngữ sắc sảo in đậm dấu ấn riêng. Ngữ nghĩa, ngữ điệu biến đổi, chuyển hóa: sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ, nắng ròn tan, nỗi niềm cổ tích tuổi xưa, để thơ vào sông nước… Tác giả còn sáng tạo những từ ngữ mới, cô đọng, giàu ý nghĩa: luôn gân, luôn tim, bờm sóng…
*Diễn tả đa dạng, nhiều góc cạnh. Câu thật ngắn phối hợp với câu thật dài: đoạn tả chặng cuối vượt vòng vây thứ ba, đang viết câu chất chồng ý (… Cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền… xuyên nhanh, vừa xuyên vừa…), đã kết lại bằng một câu rất gọn, biểu thị ý hoàn thành: Thế là hết thác.
*Có khi vừa thể hiện mặt hung dữ, vừa gợi lên khía cạnh thơ mộng của đối tượng miêu tả, vừa ném ra những chi tiết rất tự nhiên, không trau chuốt (con sông đánh đòn hiểm độc nhất với con đò) vừa chắt lọc những chi tiết, những hình ảnh rất trữ tình, rất thơ (ven Sông Đà lặng tờ). | Phân tích đặc điểm của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong tùy bút Người lái đò sông Đà | 382 | |
Đề bài: Phân tích ấn tượng khi đọc truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Bài làm
Là một nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, Thạch Lam yêu cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Thạch Lam là người chắt chiu cái đẹp và sáng tác của Thạch Lam chính là tìm kiếm cái đẹp đã bị đánh mất. Thạch Lam cho rằng một nhà văn thực sự có tài phải là người có thể cảm nhận được mọi vẻ đẹp man mác khắp vũ trụ. Ông viết: Công việc của nhà văn là phát biểu cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức.
Thạch Lam yêu cái đẹp nhưng với ông, văn chương không phải lấy cái đẹp làm cứu cánh, không phải ngợi ca cái đẹp mà xa rời hiện thực. Người nghệ sĩ không tìm đến văn chương như một thứ thoát li hiện thực. Trong bài tựa Gió đầu mùa, ông viết: Đôi với tôi, văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên. Trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có thể vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lònq người được thêm trong sạch và phong phú hơn.
Phân tích ấn tượng khi đọc truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Hai đứa trẻ là truyện ngắn không có chuyện. Toàn bộ truyện là một mảnh đời nơi phố huyện nhỏ chầm chậm diễn ra xung quanh chị em Liên vào một buổi cuối mùa hè. không có phát triển và đỉnh điểm, thắt nút và mở nút như các bài học giáo khoa về lí luận văn học. Nhưng lạ thay, người đọc không vì thế mà dễ dàng quên đi sau khi đọc. Họ luôn nhớ về nó như một kỉ niệm êm đềm mà mỗi chi tiết đàu gây xúc động, gợi lại một thời đã qua.
Ấn tượng sâu đậm trước tiên đến với người đọc là tình người giữa những dân nghèo của phố huyện vào một thời khắc bình lặng của cuộc sống. Có người, khi nói tới Hai đứa trẻ, đã nhấn mạnh cuộc sống nghèo khổ, bế tắc được miêu tả trong truyện như một khía cạnh làm nên giá trị của truyện. Đúng là từ những chì tiết của câu chuyện bất cứ ai cũng có thể nhận ra không khó khãn gì cả: “ nghèo khổ, nhếch nhác của phố huyện, cũng như của từng gia đình. Chỉ cát thấy cảnh Liên xếp hàng họ vào hòm, cách tính tiền bán hàng của hai chị em cái ý nghĩa gánh phở bác Siêu là món quà xa xỉ không bao giờ chị em Liên có thể mua được, chúng ta cũng đủ hiểu gia đình và mức sống của gia đình Liên. Nhưng nếu coi đây là một khía cạnh làm nên giá trị của truyện thì chắc chắn sẽ phải đưa vào cảnh đó một vài định ngữ như cách nói xưa nay: Truyện tố cáo chưa mạnh mẽ, chưa gay gắt… Đặt cạnh Tắt đèn, Bước đường cùng, Chí Phèo Vỡ đê…. thì việc thêm các định ngữ kia khi đánh giá truyện là hợp lẽ. Song điểm ấy lại không đúng với dụng ý của tác giả và không là giá trị thực của truyện. Cuộc sống nghèo nơi phố huyện chỉ là cái nền để tác giả nói tới quan hệ giữa những người dân mộc mạc trong cảnh sống bình thường.
Ân tượng thứ hai là sự tinh tế của ngòi bút Thạch Lam khi tả tình và tả cảnh Trong truyện ngắn này, Liên là một cô gái nghèo phố huyện. Liên có một tâm hồn thuần phác. Ngòi bút của tác giả đã hé mở những rung động nhỏ bé trong tâm hồn cô. Chỉ mới bắt gặp mùi âm âm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc Liên đã nghĩ đến mùi riêng của đất, của quê hương. Một chiếc xà ích, một chiếc khóa được mẹ giao cũng gợi lên trong lòng cô sự quỷ mến và hãnh điện vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang, ở nét tâm tư này Liên gắn với những con người con gái trong ca dao, người vợ chịu thương chịu khó trong thơ Tú Xương, người chị giàu đức tính hi sinh trong một số tiểu thuyết, truyện ngắn đương thời. Đây cũng là nét tâm lí được Thạch Lam miêu tả với thái độ nâng niu, trân trọng trong một số truyện chưa định hình hẳn trong tâm hồn Liên khi con tàu đêm lướt qua, ước mơ về Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua Một thế giới khác hẳn, đối với Liên khác hẳn với các vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tôi vẫn bao bọc xung quanh, đêm của đất quê và ngoài kia, đồng ruộng mênh mông và yên tĩnh. Sự tương phản giữa ước mơ và thực tế không làm tan vỡ ước mơ, trái lại cái mênh mang và yên tĩnh trong đêm tối và đồng ruộng như kéo dài các ước mơ chập chờn kia khiến cho nó khó quên cả đốì với người trong truyện và người đọc truyện.
Khi tả cảnh, ngòi bút Thạch Lam tả ít, gợi nhiều và ẩn ở chiều sâu của câu, chữ là thái độ lâm trạng của tác giả. Nét đặc trưng bao trùm cả cảnh vật trong Hai đứa trẻ là sự êm ả nhưng đượm buồn. Thời gian trôi đi từ chiều đến đêm được miêu tả trong những nhận xét giàu cảm xúc: Chiều, chiều rồi, một chiều êm ả như ru văng văng tiếng ếch nhái kêu ngoài đồng theo gió nhẹ đưa vào. Trời đã bắt đầu đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát. Không gian phố ngày càng chìm sâu vào đêm khuya tĩnh mịch và đầy bóng tối. Màu sắc sinh vật nhòa đi trong ánh sáng chập chờn lúc chiều tà, hoặc sẫm lại trong bóng đêm nên không có màu nào sáng, màu nào chóe, màu nào rực rỡ. Cái màu Bè những đóm than bay tung trên đường sắt, cùng với màu sáng rực của ánh đèn trên những toa sang trọng, lấp lánh ánh kền xà cửa kính lướt qua sân ga, cũng không thay đổi được gam màu xám của cảnh vật. Trái lại sự xuất hiện thoáng qua của chúng lại làm tăng thêm độ sẫm, độ buồn của màu sắc xung quanh. Âm thanh động của con người trong khung cảnh thiên nhiên ấy cũng rời rạc, chậm rãi, khẽ khàng. Tóm lại sự miêu tả cảnh vật mà con người thống nhất trong sự êm ả, buồn đó tạo nên một vẻ riêng của truyện.
Hai đứa trẻ là một truyện ngắn hay của Thạch Lam. Không hấp dẫn người đọc bằng những tính cách sắc nét, những tình huống li kì hoặc ướt át. Nó lại hấp dẫn người đọc bằng chính vẻ đẹp của cuộc sống bình thường đã được khám phá cũng chính ngòi bút tinh tế và giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả. Truyện ngắn hai đứa trẻ không đi sâu vào những chuyện áp bức bóc lột, cũng không kể tỉ mỉ lại cảnh ngộ thương tâm, mà chỉ lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng bức tranh đời sống nghèo trong truyện ngắn một mặt rất mực chân thực, đồng thời chan chứa niềm cảm thương, chân thành của tác giả đối với những người lao động khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. | Phân tích ấn tượng khi đọc truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam | 1,363 | |
Phân tích – Bình luận đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích – Bình luận đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trích truyện Kiều của Nguyễn Du.
Trích đoạn chia làm ba phần rõ rệt, nhất quán trong phong cách ngôn từ, và thi pháp tả tình, tả cảnh. Cho nên nếu cho rằng chỉ ở phần thứ ba, nghệ thuật biểu hiện mới là tả tình qua tả cảnh thì tuy có đúng nhưng không đủ, nhất là không thấy dược tính nhất quán của Nguyễn Du. Để đảm bảo tính ổn định khách quan này, nên chăng cần một cách đặt tên:
–Nỗi buồn hiện tại ;
–Lòng thương nhớ người thân ;
–Tương lai vô vọng và vô định của kiếp người?
Cả ba phần tuy có hướng đến những khía cạnh khác nhau, song đều quy tụ vào "cái tôi" chù thể: nàng Kiều. "Cái tôi" ở đây là "cái tôi" tâm trạng.
Trước hết, ở sáu câu thơ đầu của bài thơ, tâm trạng của Kiều là một nỗi niềm khắc khoải triền miên trong nỗi buồn vô hạn. Nhưng buồn như thế nào, nếu phải cụ thể hơn, thì có đến hai quan điểm. Cách nhìn nhận thứ nhất cho rằng cả sáu câu đầu gợi tả hoàn cảnh cô đơn với những căn cứ ngôn từ có trong văn bản, chẳng hạn như: "khoá xuân" thực chất là bị giam lỏng, nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông hoang vắng (mênh mang trời nước, dãy núi mờ xa, cồn cát bụi mù, không một bóng người), Kiều sống trong một thời gian tuần hoàn khép kín (mây sớm đèn khuya, V.V.). Cách hiểu ấy rõ ràng là có cơ sở nhưng dường như đã bỏ quen (hay là bỏ qua?) hai câu thơ vô cùng quan trọng là:
Bẽ bànq mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh, như chia tấm lòng.
Ở câu lục, ý kiến nhận xét trên không đả động gì đến hai chữ "bẽ bàng" còn ở câu bát hoàn toàn không được nhắc tới. Bởi vậy chúng tôi cho rằng, nên hiểu đoạn thơ theo cách thứ hai. Cách hiểu này lấy hai câu dẫn làm căn cứ mới có khả năng phát hiện được tâm trạng đích thực của nhân vật nàng Kiều. Trong cách hiểu này, ta phải tách đối câu sáu:
Bẽ bàng / mây sớm đèn khuya
Đây là một câu thơ hai đối tượng: "bẽ bàng" thuộc về Thuý Kiều còn "mây sớm đèn khuya" thuộc về thiên nhiên. Soi vào thiên nhiên, Kiều nhận ra một thứ chân dung biến dạng của bản thân mình. Thiên nhiên ấy là gì, "mây sớm" thì tinh khôi, trong sạch, "đèn khuya", phải chăng chính là lương tâm? Sự trong sạch "mây sớm" gợi cái tương phản nhớp nhơ, còn "đèn khuya" gợi sự giày vò của chính con người đau khổ ấy. Cái nhìn phản cảm này không phải bây giờ mới có. Ngay lần gặp Mã Giám Sinh, tên lừa đảo buôn người, Thuý Kiều dã vô cùng ngượng ngập:
Ngại ngùng dợn gió e sương,
Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày
Bởi đây là hai thế giới khác hẳn nhau, hai hạng người khác nhau mà Kiều phải nhắm mắt đưa chân làm con mồi cho chúng. Nhưng lần này thì khác. Cái xấu không còn ở đối phương, nó đã thuộc về chính mình, một con người đã có một thời không phải thế, một thời phong nhuỵ màn che, trướng rủ. Bởi thế mới dẫn đến "bẽ bàng". "Bẽ bàng" là sự tủi, thẹn cho chính người đang có nó. Bởi nó đang hiện diện nơi nàng nên mới có sự phân đôi: một tấm lòng chia làm hai nửa: nửa tình, nửa cảnh. Tình và cảnh ở trong văn chương trung đại dường như đồng hành, một tiếng hát bè đôi theo nguyên tắc "Người buồn cảnh có vui dâu bao giờ". Nhưng ở đây một nghịch lí xuất hiện phá vỡ nguyên tắc chủ quan hoá khách quan. Sự vò xé trong tâm trạng bởi không đồng hoá được giữa khách thể và chủ thể này dã làm giàu thêm yếu tố hiện thực ở trong thơ. Cảnh rất đẹp, rất trong, đầy ắp tiềm năng cho thi hứng, nhưng đối diện với nó, một hồn thơ không the cất bút làm thơ như những lần trước đó và sau này. Tâm hồn ấy bị trọng thương. Con chim nhìn bầu trời thèm khát không còn đủ sức bay lên. Nó đã bị mũi tên nhằm trúng đích.
Từ đó ta mới thấy bốn cầu mở đầu là một bức hoạ. Bức tranh trời như dệt gấm thcu hoa, ẩn hiện với "Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung". Ở câu thơ này còn có cái bất ngờ của cảm giác lạ. Khoảng xa, độ gần về vật lí, do nhận biết bằng tâm lí mà chúng dổi chỏ cho nhau. Trăng vốn xa bỗng chốc nên gần (tấm trăng gần) và ngược lại cái xa lại thuộc về núi.
Câu thơ mờ tó "Sen vàng lãng đãng như gần như xa". Hai cảm giác thực và mộng đan gài vào nhau như hiện ra từ một giấc chiêm bao. Có người hiểu câu thơ đó tiếp nối với hai câu sau tạo thành một sự bủa vây, tạo nên sự rợn ngợp trong tâm trạng của người nhìn cảnh là chưa đúng. Bởi nếu thế thì ở đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích có đến hai lớp bao vây: một của Tú Bà (khoá xuân), một là của thiên nhiên vô tội (?). Mà làm sao có thể hiểu hai câu thơ rất đẹp rất tho là sự bủa vây:
Bốn bê bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
"Xa trông" là trông thêm một tầm của mắt, rộng hơn, thoáng đãng hơn, thấy những dặm đường, cồn cát. Chúng chỉ là những chi tiết đời thường rất dễ bị lãng quên, nhưng cát ớ đó là "cát vàng" bụi đường quẩn lên là "bụi hồng", bụi đỏ, thì đâu còn cái vô giá trị, cái tẻ nhạt? Nó đã nên thơ. Đúng ra là cuộc sống bình thường có chất thơ riêng của nó, khi con người không bị áp bức, không rơi vào cảnh ngộ đường cùng (mà Kiểu lúc này đây đang trải nghiệm). Bởi thế cái dẹp thuộc về "nửa cảnh", còn đối lập với cái dẹp thuộc phía "nửa tình". Câu thơ và cả đoạn thơ (sáu câu) mới bề bộn ngổn ngang, giằng xé. Chỉ có điều bể bộn mà vẫn như không. Cái "động" ở đáy sâu chứ không phải nổi trên bề mặt nước tĩnh tại, yên bình. Những cặp câu thơ lục bát rất nhịp nhàng đăng đối vừa diễn tả cái lặng lẽ bên ngoài, vừa rất nên thơ. Phép đối trong câu, hoặc trong một vế câu rất dụng công của tác giả đã nâng tầm cái thực lên thành cái đẹp mà không đẽo gọt, cầu kì, rất dung dị, tự nhiên.
Với phần hai của đoạn trích gồm tám câu tiếp theo diễn tả lòng thương nhớ người thân của Thuý Kiểu, đặc sắc nghệ thuật ở đây là ngồn ngữ nội tâm độc thoại. Tất cả là nội tâm, là độc thoại. Vấn đề là cách độc thoại khác nhau chứ không hẳn là phần có, phần không một cách rõ ràng tách bạch. Vậy nên chăng định hướng cho phần này chỉ đi vào nỗi nhớ người thân. Cái khó ở đây chưa phải là cái khó của việc khai thác hình tượng, ngôn ngữ mà là ở ý thơ và giọng điệu. Về ý thơ có hai câu chưa rõ nói về ai:
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
"Tấm son", theo cách hiểu thứ nhất thuộc về Thuý Kiều. Có thể đó là tấm lòng nhớ thưong Kim Trọng không bao giờ nguôi quên, hoặc cũng có thể là tấm lòng trong trắng của Kiều bị dập vùi hoen ố biết bao giờ gột rửa. Chúng tôi xin đề xuất một cách hiểu thứ hai: "tấm son" ấy thuộc vé Kim Trọng với ba lí do.
–Xét về hình tượng thơ, phần này nói về Kim Trọng, lòng thương nhớ Kim Trọng của nàng Kiều. Vậy nó phải nhất quán, chứ không phải hai câu trước nói về Kim Trọng rồi hai câu sau nói đến Thuý Kiều. Chỉ có nền tảng cảm xúc nhớ thương là của nàng Kiều, để từ đó mà chỉ một nhân vật Kim Trọng hiện lên duy nhất. Nếu so sánh phần nói về cha mẹ (bốn câu tiếp theo) ta thấy mạch thơ, hình tượng thơ vẫn là như thế. Nếu cho rằng "tấm son" là của Thuý Kiều thì hai câu thơ đó sẽ rơi vào tình trạng non tay, lạc phong cách, và điều này không thể chấp nhận được ở Nguyễn Du.
–"Tấm son" có liên quan đến khái niệm chân trời góc bể ("Bên trời góc bể bo vơ"). Ai trong số hai người đang lạc loài nơi ấy? Là Thuý Kiều thì điều này ai cũng hiểu. Nhưng sao không thể hiểu người ấy là Kim Trọng, bởi vì yêu nhau mà phải xa nhau thì người nọ cũng xem người kia là góc bể, chân mây nghĩa là một độ xa mà người ta không đo được (về tâm lí chứ không phải về địa lí). Vì trên đời này, ai có thể đến nơi tận cùng vô định bằng nỗi nhớ thương?
–Điều đáng kể hơn cả, "tấm son" là lòng chung thuỷ sắt son, trong tình yêu, nó dành cả cho hai người, về phía Thuý Kiều, nó còn đâu nguyên vẹn nữa nếu hiểu theo cách thông thường (khác với sau này khi Kim – Kiều gặp lại "Như nàng lấy hiếu làm trinh"). Một con người tự trọng như Kiều làm sao còn nhận mình là kẻ vẫn giữ được "tấm son" trong cảnh ngộ buộc phải làm vợ kẻ khác? Và ngược lại, về phía chàng Kim, Kiều biết chàng vẫn chung tình dù đang ở góc bể chân mây. Ân hận của nàng Kiều là mình không còn xứng đáng với chàng. Vậy chỉ còn một cách làm sao cho "tấm son" ấy ở chàng Kim phai nhạt di, đừng đinh ninh chờ đợi và Kiều lại thêm một lần mang tội. Hiểu như thế câu thơ không những nhất quán, liền mạch mà còn giàu ý nghĩa biết bao.
Bốn câu thơ nói về cha mẹ không có gì đặc biệt với cách nói ước lệ, sách vở rất quen thuộc về đạo hiếu thời xưa. Có chăng theo cách nói của người khác như thế, nhưng tâm trạng thổn thức là của riêng nàng, nó mới xót xa, thấm thía đến rưng rưng. Thành công của Nguyễn Du là làm mới lại một cái gì tưởng như đã cũ.
Tám câu thơ cuối là những cảm nhận phù du vể tương lai vô vọng và vô định, vô nghĩa của kiếp người. Điều này không phải ngẫu nhiên.Vì bản thân đang là con mồi cho tạo hoá vùi dập. Vì lòng thương (với Kim Trọng và cha mẹ) của nàng bất lực. Cuộc đời đó đối với nàng còn có nghĩa gì đâu. Cảnh ở đây hoàn toàn khác so với cảnh đầu, không phải mây sớm trăng khuya, núi đồi, gò đống mà là cảnh biển, một mặt biển mênh mông đúng vào lúc chiều buông "mặt trời gác núi". Còn cái khác thứ hai là ở trạng thái xúc cảm. Có đến bốn cụm từ "buồn trông" đặt ở đầu câu mở ra bốn cặp câu lục bát như mở ra một nỗi buồn chất chứa tầng tầng lớp lớp lâu nay nén chặt trong lòng. Đây là lúc nàng được giãi bày với trời, với biển. Vậy tâm trạng ấy là tâm trạng gì? Tâm trạng ấy bây giờ đồng hành cùng cảnh vật, với ngọn nước, cánh buồm, bông hoa, ngọn cỏ, v.v. Ngọn nước là "ngọn nước mới sa" nó đục chứ không trong ("Đục như tiếng suối mới sa nửa vời"), cánh buồm như một ảo ảnh gợi sự chia li, bông hoa trôi dạt, ngọn cỏ rầu rầu không còn sức sống tựa như ngọn cỏ trên mộ Đạm Tiên.
Những cảnh ấy gõ cửa và tâm hồn Kiều mở ra, đồng điệu. Để từ đó có sự hoà thanh, hoà âm về nổi bất hạnh của con người. Những câu thơ này không chi có cảnh, có tình, nó còn mang một hàm ý triết học trong sự giải đáp cho kiếp người, ở nơi "trăm nãm trong cõi”. | Phân tích – Bình luận đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích | 2,131 | |
Phân tích “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” của Cao Bá Quát
Hướng dẫn
Phân tích “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” của Cao Bá Quát
Bài làm
Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng,
Phía nam núi Nam, sóng dào dạt
Anh đứng làm chi trên bãi cát?
Cao Bá Quát là một nhà nho nổi tiếng học giỏi và viết chữ đẹp nhưng rất lận đận về đường công danh. Sống trong cảnh chính quyền phong kiến hà khắc, chuyên chế, áp bức dân lành, ông cũng như những người khác thuộc tầng lớp trí thức, dù có tài nhưng cũng không được coi trọng. Khí phách, bản lĩnh và hoài bão lớn lao của ông đã khiến ông trở nên chán ghét những khuôn khổ bó hẹp của chế độ phong kiến hủ bại. Các tác phẩm của ông thể hiện sự bất mãn đối với những bất công, ngang trái trong cuộc đời và đối với chế độ đương thời. “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” là một tác phẩm được sáng tác sau khi tác giả đi qua miền Trung, nhìn những bãi cát dài trắng chạy dài vô tận. Đó là bãi cát – hay cũng chính như cuộc đời, như đương công danh mà những người trí thức lúc bấy giờ vẫn đang theo đuổi, nhọc nhằn, mờ mịt.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh người đi khó nhọc trên bãi cát:
“Bãi cát lại bãi cát dài,
Đi một bước như lùi một bước.”
Những bãi cát dài cứ nối tiếp nhau không bao giờ ngững nghỉ, tựa như chẳng thấy điểm kết thúc. Bốn bề đều là một màu cát trắng, núi và biển. Chỉ thấy màu nắng, màu cát mà thôi. Trong khung cảnh vắng lặng ấy, có một người đang lê từng bước khó nhọc, “đi một bước như lùi một bước”. Giữa thiên nhiên mênh mông, giữa bốn bề cát trắng, con người thật nhỏ bé, cô độc biết bao.
Lữ khách trên đường nước mắt rơi”
Mặt trời đã lặn, nhưng làm sao có thể dừng bước vì giữa biển cát, biết tìm đâu ra chỗ ngủ cho đêm nay. Một con đường đi, cứ đi, đi mãi mà chẳng thể dừng lại, mà tiếp cũng chẳng biết bao giờ sẽ tới nơi.
Hình ảnh con đương trên cát bất tận, hình ảnh người lữ khách nhỏ bé bất lực giữa thiên nhiên, hay đó chính là con đường công danh mà Cao Bá Quát, cũng như rất nhiều những trí sĩ đương thời đang dấn thân vào. Một con đường đầy gian nan, thử thách, cay đắng, mệt nhọc. Ngay chính nhà thơ, cũng rất lận đận với con đường thi cử, công danh, rất nhiều lần bị đánh tụt hạng, đánh trượt trong các khoa thi nhưng cũng chỉ biết chấp nhận.
Bất lực, bế tắc, nhà thơ chỉ biết tự oán:
“Không học được tiên ông phép ngủ,
Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!
Xưa nay, phường danh lợi,
Tất tả trên đường đời.
Đầu gió hơi men thơm quán rượu,
Người say vô số, tỉnh bao người?”
Nhà thơ chỉ tiếc mình không thể học được phép ngủ của tiên ông, cứ sống mà mặc kệ mọi danh lợi, mọi oán hận của thế gian. Mắt không thấy thì tâm không đau. Nhìn người, nhìn mình. Biết con đường công danh là gian nan, là phải “tất tả” ở nơi phường danh lợi, thế nhưng vẫn cứ dấn thân vào. Rồi càng đi vào, càng thấy hoang mang, không biết lối ra cũng chẳng thể dừng lại. Vì công danh phải vất vả. Vì công danh phải cố bước. Bởi công danh như hơi men rượu, lôi cuốn, hấp dẫn người ta, như hơi men trong gió từ quán rượu, cũng đủ làm người ta say trong mê muội. Vô số người tìm đến rượu, bị rượu hấp dẫn, rồi say trong đó không biết lối ra. Có biết bao người say, có được bao nhiêu người tỉnh táo để không bị cái danh lợi mê hoặc? Nhà thơ tỉnh, nhưng rồi tỉnh vói nỗi băn khoăn không biết con đường này có nên đi tiếp hay không?
Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!
Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt,
Đường ghê sợ còn nhiểu, đâu ít?
Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”
Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng,
Phía nam núi Nam, sóng dào dạt
Anh đứng làm chi trên bãi cát?”
Người lữ khách loay hoay, cô độc, chỉ biết hỏi nơi bãi cát vô tri xem phải tính sao với con đường khó khăn này. Đường bằng thì mờ mịt, mà đường gập ghềnh ghê sợ thì cũng đâu phải ít. Đường công danh là thế, biết bao chông gai, cạm bẫy luôn rình rập. Làm thế nào để được sống như mình muốn trên con đường ấy đây? Một cảm giác tuyệt vọng, bất lực trào dâng trong lòng người khách độc hành, chỉ biết cất lên khúc hát “đường cùng” để bày tỏ tâm trạng.
Nhìn bốn bề, chỉ thấy sóng, thấy núi, chưa có một con đường nào để người lữ khách có thể bước đi cả. Nhưng chẳng lẽ đứng mãi nơi cồn cát ấy? Anh còn đứng làm gì trên bãi cát ấy. Hãy đi đi, băng qua núi, băng qua biển, có gian truân, có vất vả nhưng có lẽ sẽ không còn mờ mịt như việc anh đi cứ hoài trên bãi cát kia. Câu hỏi cuối, như dự báo một hành động dứt khoát lựa chọn rời khỏi đường công danh, mà lựa chọn một con đường, một lí tưởng cho riêng mình. | Phân tích “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” của Cao Bá Quát | 929 | |
Đề bài: Phân tích “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ
Bài làm
Nhà thơ Đỗ Phủ là một nhà thơ lớn của nền thi ca Trung Quốc thời kỳ cổ đại. Ông đã để lại nhiều tác phẩm hay có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, chạm vào trái tim người đọc. Thơ của ông miêu tả thiên nhiên, cuộc sống con người vô cùng sinh động, tái hiện những mảnh đời người nông dân, những số phận cơ cực, có cuộc sống bình thường, giản dị nhưng có sức khơi gợi cảm xúc vô cùng mãnh liệt
Tác phẩm “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” là một tác phẩm hay được tác giả Đỗ Phủ sáng tác khi ông đã từng trải, đã nếm quá đủ mọi hỷ nộ ái ố của cuộc đời, bài ca này thể hiện sự thật tàn khốc của xã hội phong kiến và tình yêu thương của tác giả với con người đồng loại của mình.
Đỗ Phủ đã đi qua những năm tháng tuổi thơ và tuổi trưởng thành nhiều nghèo khó, đau khổ, bần hàn. Cuộc sống gia đình thiếu thốn đủ mọi thứ, cơm không đủ no áo không đủ ấm. Ông và những người thân sống trong một căn nhà tranh ở phía Tây Thành Đô.
Mùa hè khi mưa xuống thì nhà dột nát, ẩm ướt khắp nơi, tới mùa thu gió heo may thổi lùa vào khiến cho căn nhà tranh bị tốc mái, rét buốt. Có lẽ chính những cơ hàn, khốn khổ này đã thành nguồn cảm hứng giúp tác giả sáng tác ra những vần thơ vô cùng lay động lòng người.
Cuộn mất ba lớp tranh nhà ta
Tranh bay sang sông rải khắp bờ
Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa
Mảnh thấp quay lộn vào mương xa”
Chỉ vài câu thơ nhưng sự tàn khốc, ác liệt của thiên nhiên được tác giả miêu tả vô cùng chân thực “Gió thét gào” thể hiện sự phẫn nộ, của cơn cuồng phong vô cùng ghê gớm. Những cơn gió cuốn bay những lớp nhà tranh được lớp sơ sài, những mảnh lá tránh bay khắp nơi văng xuống bờ sông gần đó, mỗi nơi một ít, khiến cho ngôi nhà tranh trở nên hoang sơ, đã nghèo lại còn nghèo hơn. Những cơn gió, trận mưa cứ thế thi nhau trút xuống làm ướt sũng ngôi nhà, biến những người trong nhà phải co cụm lại với nhau để tìm nơi trú ẩn.
“Môi khô, miệng cháy gào chẳng được
Quay về chống gậy lòng ấm ức”
Trong hoàn cảnh thiên nhiên giận giữ, xã hội thì binh đao loạn lạc, con người dù có thét gào khô môi khản giọng cũng chẳng có ai cứu giúp được, bởi hoàn cảnh của những người dân khác trong xã hội lúc bấy giờ cũng đang khó khăn không kém gì gia đình tác giả.
“Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ
Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ”
Ở quê hương thì thiên nhiên gào thét, thiên tai đổ xuống đầu người dân lầm than đói khổ. Ở vùng biên cương thì chiến tranh liên miên, cảnh đầu rơi máu chảy, người chết chất cao như núi thể hiện sự loạn lạc trong thời binh đao. Qua hai câu thơ này tác giả Đỗ Phủ cũng muốn tố cáo xã hội, tố cáo tham vọng của nhà vua thời đó khi muốn mở rộng bờ cõi, gây ra những cuộc chiến tranh phi nghĩa nhằm phục vụ lòng tham thống trị của mình. Nhà vua đã không ngần ngại đưa binh lính đi chiến đấu, chiếm đất của những nước láng giềng, gây thiệt hại về người và của.
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan
Gió mưa chẳng núng vững vàng như thạch bàn
Than ôi bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt
Riêng lều ta nát chịu chết rét cũng được.
Trong khổ thơ này tác giả đã thể hiện giá trị nhân văn, nhân đạo vô cùng cao thượng, thể hiện nội tâm đầy yêu thương của nhà thơ Đỗ Phủ dành cho những người dân, những đồng bào của mình.
Tác giả mong muốn có một căn nhà rộng, nhưng không phải để ở một mình hưởng vinh hoa phú quý, mà để chia sẻ cùng với trăng ngàn kẻ sĩ, những con người khốn khổ khác.
Một căn nhà vững trãi cứng như đá thạch dù mưa gió, sấm chớp cũng không lung lay, không bị tốc mái sụp đổ. Nếu có một căn nhà như vậy ngay trước mắt để dành cho những người tác giả thương yêu, dành cho những người dân khốn khổ thì một mình tác giả chịu ở trong căn nhà tranh nghèo nàn, lụp sụp cũng cam lòng. Ước nguyện này thể hiện sự cao thượng, hy sinh vì người khác riêng mình có thể thiệt thòi cũng không sao, không có vấn đề gì.
Qua những câu thơ này ta thấy được tấm lòng nhân hậu, vị tha của tác giả dù chịu “chết rét” tác giả cũng cam tâm tình nguyện mang lại cuộc sống ấm áp, bình yên cho nhân dân, cho đồng bào xung quanh ông. | Phân tích “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ | 866 | |
Phân tích “thú lâm tuyền” của Bác Hồ trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó
Hướng dẫn
-“Thú lâm tuyền” là niềm vui thú được sống với rừng, suối. Đây là một nét thanh cao, một nét đẹp cao quý có truyền thống từ xa xưa.
-Niềm vui thú được sống với rừng, suối thể hiện trong Tức cảnh Pác Bó:
+ Câu thơ đầu nói về nơi ở của người chiến sĩ: nhịp 4/3 (sáng ra bờ suối I tối vào hang), nhịp điệu tạo thành hai vế sóng đôi. Câu thơ toát lên một cảm giác về sự nhịp nhàng, nề nếp: sáng ra, tối vào. Không gian: suối – hang, thời gian: sáng – tối, hoạt động: vào – ra. Nghệ thuật đối làm nổi bật thiên nhiên hoang sơ, nếp sống hài hòa, gắn bó với thiên nhiên của Bác. Giọng điệu cấu thơ rất thoải mái cho thấy sự ung dung, sự hòa nhịp của Bác Hồ với núi rừng nơi đây. Cuộc sống đều đặn với khung cảnh bờ suối bình dị, với nơi ở là hang tối.
+ Câu thơ thứ hai nói về việc ăn uống của người chiến sĩ: lương thực, thực phẩm đầy đủ, sẵn sàng. Đó chỉ là những thứ rất dân dã, sẵn có của núi rừng như cháo bẹ, rau măng. Câu thơ sử dụng nghệ thuật liệt kê, tái hiện chân thật cuộc sống của người chiến sĩ Cách mạng. Giọng thơ đùa vui, hóm hỉnh; câu thơ vẫn tiếp tục mạch cảm xúc hòa nhịp với cuộc sống núi rừng. Cuộc sống nơi đây nhiều gian khổ, khó khăn nhưng Người luôn vui thích, bằng lòng với cuộc sống ấy. Thậm chí Người còn cảm thấy rất thoải mái, rất sảng khoái.
+ Câu thơ thứ ba nói về nơi làm việc của người chiến sĩ: vẫn là một thứ tự nhiên của núi rừng nơi đây: bàn đá. Từ láy chông chênh vừa tạo hình, vừa gợi cảm. Đó là thế không vững chãi vì không có chỗ dựa. Bàn làm việc là tảng đá không chắc chắn nhưng Người vẫn làm việc say sưa, khỏe khoắn với công việc: dịch sử Đảng. Phép đối (đối ý, đối thanh) cho thấy điều kiện làm việc rất đơn sơ nhưng công việc rất lớn lao. Câu thơ mang giọng điệu mạnh mẽ, khắc họa chân thực, sinh động phong thái ung dung, lạc quan của người chiến sĩ.
+ Ba câu thơ đầu thể hiện một cách đầy đủ niềm vui thú được sống với ‘ùng, suôi của Bác Hồ. Cuộc sống của Bác nhiều gian khổ, khó khăn nhưng Bác hoa nhịp với cuộc sống núi rừng ấy, với suôi, với hang, với cháo bẹ, với rau măng, với bàn đá. Cuộc sông đó với Người không những không nghèo khổ, thiếu thốn mà còn dư thừa, sang trọng. Có được điều đó là do tinh thần lạc quan của Bác. Vì thế, cuộc đời cách mạng với Bác thật là sang.
– Học sinh thấy rõ sự giống và khác nhau giữa “thú lâm tuyền” của người xưa và của Hồ Chí Minh. Đó đều là sự thích thú được sống cùng thiên nhiên. Nhưng người xưa gặp lúc thời thế đảo lộn, cảm thấy bất lực trước thời thế thường tìm đến chốn ẩn dật làm bạn cùng núi rừng, hoa cỏ để giữ tâm hồn trong sạch. Đó là lôi sông “lánh đục về trong”, “an bần lạc đạo”. Còn Hồ Chí Minh sông hòa nhịp với núi rừng để hoạt động cách mạng. Cuộc sống lâm tuyền là một biểu hiện của cuộc đời cách mạng, cuộc đời của một chiến sĩ (chứ không phải cuộc đời của một ẩn sĩ như người xưa). Vì thế, “thú lâm tuyền” của Bác Hồ thể hiện cốt cách cao đẹp của một người chiến sĩ cách mạng. | Phân tích “thú lâm tuyền” của Bác Hồ trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó | 647 | |
Phân tích, cảm nghĩ bài Ôn dịch thuốc lá – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Nguyễn Khắc Viện là một trí thức Tây học, đỗ bác sĩ tại Pháp trong thập niên bốn mươi của thế kỉ XX. Ông là nhà hoạt động văn hóa, nhà hoạt động xã hội rất nổi tiếng ở nước ta.
Bài “Ôn dịch, thuốc lá” thể hiện cái tâm là cách viết, cách nói sắc sảo, độc đáo của Nguyễn Khắc Viện.
Nhan đề rất độc đáo: “Ôn dịch, thuốc lá”. Độc đáo ở hai chữ “Ôn dịch”; độc đáo về cách dùng dấu phẩy ở đây, dấu phẩy tạo nên ngữ điệu, gợi lên một tình huống nguy cấp, phải báo động, gây ấn tượng mạnh cho người đọc, người nghe. Cách dùng dấu phẩy ở nhan đề đã thể hiện một lối nói, lối viết theo văn phong châu Âu hiện đại. Nếu viết: “Ôn dịch thuốc lá” hoặc “Thuốc lá là một loại ôn dịch” đều được, nhưng khi viết như thế thì “bằng phẳng quá”, “hiền lành quá” không hấp dẫn, không phù hợp với nội dung văn bản (chú ý, ở cuối bài tác giả có viết: “… Lại còn thêm ôn dịch thuốc lá này”.
Mở đầu tác giả dùng phép so sánh – đối chiếu để lôi kéo, thu hút người đọc: Dịch hạch, thể tả, những dịch bệnh khủng khiếp từng gây ra và làm chết hàng vạn, hàng triệu người. Nhờ tiến bộ y học mà những dịch khủng khiếp ấy “đã diệt trừ được”. Cuối thế kỉ XX, loài người lại “lo âu về nạn AIDS” mà “chưa tìm ra giải pháp” thì “ôn dịch thuốc lá đang đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”. Sự thật khủng khiếp được nhiều nhà bác học, sau mấy chục năm và hơn năm vạn công trình nghiên cứu lớn tiếng báo động. Đúng là con số biết nói!
Khói thuốc lá rất độc, chất hắc ín sẽ “làm tê liệt” những lông rung, lông mao của những tế bào niêm mạc ở nơi vòm họng, ở phế quản, ở nang phổi; chất hắc ín ấy “tích tụ lại” gây ho hen, đờm dãi và sau nhiều năm gây viêm phế quản.
Người nghiện thuốc là sẽ bị chất ô-xít các-bon trong khói thuốc lá thấm vào máu… làm cho sức khỏe “ngày càng sút kém”.
Tác giả nêu lên những số liệu chứng minh “ôn dịch thuốc lá” rất đáng sợ. 80% bệnh nhân ung thư vòm họng và ung thư phổi ở bệnh viện K là do thuốc lá. Các bệnh huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim đều do chất ni-cô- tin của thuốc lá gây ra. Những cái chết đột xuất về nhồi máu cơ tim, những khối ung thư ghê tởm của con bệnh đều cho thấy “tác hại ghê gớm của thuốc lá”. Hàng triệu người bị viêm phế quản làm mất bao nhiêu ngày lao động và tổn hao sức khỏe đều do thuốc lá gây ra. Những số liệu ấy đều sức thuyết phục vì đó là căn cứ khoa học, là ý kiến của bác sĩ Viện trưởng Bệnh viện K, của bác sĩ Viện trưởng Viện Nghiên cứu các bệnh tim mạch nêu lên.
Về mặt đạo đức, người lớn (bố, anh, chú, bác…) nghiện thuốc lá “không những đầu độc con em mà còn nếu gương xấu”. Cho nên câu nói: “Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” chỉ là lời lẽ gàn bướng của con nghiện!
Phần cuối, tác giả cho biết nghiện thuốc lá là nguyên nhân của các tệ nạn khác như ma túy, trộm cắp. Ở Việt Nam ta, một nước thuộc diện “nghèo” mà tỉ lệ thanh thiếu niên hút thuốc ở các thành phố lớn “ngang với tỉ lệ các thành phố Âu – Mĩ”.
Ở châu Âu, chiến dịch chống thuốc lá rất quyết liệt cấm hút thuốc lá ở những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm (như ở Bỉ), cấm quảng cáo thuốc lá trên báo chí, vô tuyến. Cuối năm 1990, có thể nêu lên những khẩu hiệu: “Một châu Âu không còn thuốc lá”.
Trái lại, ở Việt Nam, một nơi có nhiều bệnh như sốt rét, bệnh phong, lao, ỉa chảy chưa thanh toán được, “lại ôm thêm ôn dịch, thuốc lá này”. Tệ nạn ấy “nghĩ đến mà kinh”. Bằng tấm lòng của người thầy thuốc, Nguyễn Khắc Viện thiết tha kêu gọi mọi người Việt Nam “phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch” thuốc lá.
Bài văn đã nâng cao nhận thức cho mỗi chúng ta nhất ỉà các bạn trẻ biết về những tác hại ghê gớm về thuốc lá. Và hãy coi chừng ôn dịch, thuốc lá!
Tags:Văn 8 | Phân tích, cảm nghĩ bài Ôn dịch thuốc lá – Đề và văn mẫu 8 | 803 | |
Phân tích, cảm nhận truyện Cô Bé Bán Diêm của An đéc xen
Hướng dẫn
Ánh lửa diêm, và biến mất khi ánh diêm tắt.
Mộng tưởng nào của em, bé hán diêm cũng gắn với thực tế. Lạnh thì mộng tưởng đến lò sưởi,…, sắp chết thì mộng tưởng gặp hà. Và “Họ đã về chầu thượng đế”. Thực tế là cô bé… đã chết!
– An-đéc-xen sinh năm ỉ805 tại Ồ-đen-xơ, mất năm 1875 tại Cô-pen-ha-gơ, Đan-Mạch.
I. Xưa nay vẫn có những cảnh đời tuổi thơ bất hạnh ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Những cảnh đời mồ côi, hoặc mất cha hay mất mẹ không chỉ có trong truyện cổ mà còn được đưa vào những trang văn hiện đại. Ngay trong chương trình Ngữ văn lớp 8, chúng ta biết nỗi bất hạnh của cậu bé Hồng trong Những ngày thơ ấu(đoạn trích Trong lòng mẹ)thì nay chúng ta lại gặp một cảnh đời bất hạnh khác ở xứ sở Đan Mạch trong truyện Cô bé bán diêmcủa An-đéc-xen để cảm thông với những ước mơ đẹp, và ngậm ngùi trước cái chết vì giá rét trong đêm giao thừa của cô.
II. Truyện kể về đêm giao thừa, trời rét mướt, một cô bé bán diêm nhà nghèo, mồ côi mẹ, đầu trần, chân đi đất, bụng đói, đang dò dẫm trong bóng tối. Suốt cả ngày em không bán được bao diêm nào. Nhà văn đã miêu tả hình ảnh của era lúc đêm về càng lúc càng rét buốt, “em ngồi nép trong một góc tường… thu đôi chân vào người…”.Miêu tả ngắn thôi, chỉ 12 từ, nhưng người đọc thấy rõ trong trí tưởng tượng của mình dáng cô bé ngồi co ro, cố thu mình lại càng gọn càng tốt để ngăn bớt cơn lạnh. Cô bé đang ở ngoài đường, sát tường hai ngôi nhà đóng kin cửa, giữa cái lạnh cắt da của đêm giao thừa. Mắt cô nhìn lên “Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn”,mũi cô ngửi “trong phố sực nức mùi ngỗng quay”.Hình ảnh ấm cúng ấy, mùi vị thơm tho ấy, gợi lại trong KÝ ức cô bé hoàn cảnh sống ngày trước của mình “Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội hiền hậu của em còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng Thần Chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán, và gia đình em phải lìa ngôi nhà xinh xắn”.An-đéc-xen đặt nỗi nhớ của cô bé vào đúng lúc, đúng chỗ vừa giới thiệu được hai hoàn cảnh sống đối nghịch vừa giải thích nguyên nhân của sự đổi thay khiến em phải sống đời bất hạnh hiện tại: Thần Chết!Thần Chết đã cướp đi người bà hiền hậu. Thần Chết đã đuổi cha con cô ra khỏi ngôi nhà xinh xắn đến ở căn gác xép sát mái nhà không ngăn nổi gió sương. Và bất hạnh lớn nhất là Thần Chết đã biến đổi tính nết của người cha, thay vì thương yêu và chăm sóc con cái thì lại buộc con gái nhỏ dại đi bán diêm, “nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đêm về; nhất định là cha em sẽ đánh em”.Sự việc diễn ra như thế nào thì kể lại như thế chứ không hề chen vào một lời oán trách hay kết tội người cha đúng với hoàn cảnh sống và tính cách phụ thuộc của tuổi thơ.
sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng dồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng”.Dòng mơ tưởng này đã chi phối hành vi của em. Em hành động theo “Em tưởng chừng như’ Bởi vậy, “em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn”.Dòng mơ tưởng về lò sưởi tỏa hơi nóng dịu dàng kia đã biến mất theo ngọn lửa cháy nhanh và chóng tàn của que diêm. Hiện thực giá rét kéo em về cùng nỗi lo “bị cha mắng”, Đêm tối với cái lạnh cắt da, que diêm với ánh sáng và hơi ấm. Hai hình ảnh tương phản ấy đã được nhà văn đặt cạnh nhau như muốn khơi thêm nguồn ao ước ở trong em. Nếu quẹt que diêm lần thứ nhất, ánh sáng của nó khiến em “tưởng chừng như…”thì khi quẹt que diêm thứ hai “em nhìn thấy vào tận trong nhà” và thấy một bàn ăn sang trọng đã được dọn sẩn, có cả một con ngỗng quay. “Nhưng điều kì diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sét cắm trên lưng, tiến về phía em bé Mộng tưởng lúc này đã có tính huyền ảo. Tội nghiệp cô bé bán diêm. Có lẽ lúc này cô đói lắm rồi. Mơ ước được no khiến hiện thực “sực nức mùi ngỗng quay” ởkhu phố biến thành con ngỗng như trong mộng tưởng của cô bé bán diêm. Nhưng khi “que diêm vụt tắt” thì “ngỗng ta” cũng biến mất khi đang tiến về phía cô bé bán diêm, hiện thực khắc nghiệt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt’”và mấy người khách quần áo ấm áp nhưng lãnh đạm tình người xuất hiện trước mắt em.
Sức cô bé đã cùng, lực cô bé đã kiệt. Thông thường, trong hoàn cảnh đó, chỉ có tình thương yêu cha mẹ, anh em… giúp cô bé thêm sức mạnh để quay về. Nhưng thực tế thì cô không có động lực ấy, ngược lại có thể là nỗi sợ hãi ngày càng lớn càng nặng nề hơn. Bởi vậy mà em sống với ảo ảnh và không muốn rời xa nó. Em đã quẹt tất cả những que diêm còn lại ở trong bao để thấy bà, gần bà, cho tới lúc “Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa dọ nữa. Họ đã về chầu Thượng đế”.Đọc hai câu văn ấy ai cũng nhận ra cô bé bán diêm đã chết. Cô bé đã chọn cái chết cùng một ảo giác đẹp, dù ở phần thể xác em chết vì đói và lạnh. Và nhà văn đã tô điểm cho nét đẹp của em bằng hình ảnh đối nghịch giữa cảnh và người: “Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường, người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười”.Cô bé bán diêm đã chết theo cách của người đang thiếp ngủ trong giấc mơ đẹp. Nhìn hình ảnh những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẩn, người ta có thể đoán đúng hành vi của cô bé trước khi chết: “Chắc nó muốn sưởi choấm/”, nhưng hình ảnh “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười” kia thì khó có thể đoán ra điều gì khiến khuôn mặt cô bé biểu hiện nên hình ảnh có vẻ vui sướng và thỏa nguyện ấy. | Phân tích, cảm nhận truyện Cô Bé Bán Diêm của An đéc xen | 1,204 | |
Phân tích,cảm nghĩ Vào nhà ngục Quảng Đông – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Phan Bội Châu (1867 – 1940) biệt hiệu là Sào Nam, quê ở Nam Đàn, Nghệ An. Ông là chiến sĩ cách mạng vĩ đại của dân tộc ta hơn hai mươi năm đầu của thế kỉ XX. Ông còn là một nhà thơ, nhà văn lớn để lại nhiều kiệt tác chứa chan tinh thần yêu nước chống xâm lăng. Ông sáng tác nhiều tác phẩm bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ gồm có: “Hải ngoại huyết thứ”. “Sào Nam thi tập”. “Ngục trung thư”. Phan Bội Châu niên biểu”, “Trùng quang tâm sử”, “Việt Nam vong quốc sử”.
Năm 1913, chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) đã bắt giam Phan Bội Châu. Với cuộc mua bán chính trị bẩn thỉu này, chúng định trao nhà cách mạng Việt Nam cho thực dân Pháp, trong khi tòa án Pháp ở Đông Dương đã kết án tử hình vắng mặt Phan Bội Châu.
“Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” là chùm thơ hai bài, đây là bài thơ thứ nhất được Phan Bội Châu viết trong ngày đầu bị bắt giam.
Bài thơ thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất và phong thái ung dung của người chiến sĩ yêu nước cách mạng trước cảnh tù đày, nguy hiểm.
1.Hai câu đề nói lên một tâm thế đẹp của người chiến sĩ cách mạng:
“Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”.
Điệp từ “vẫn” làm cho ý thơ được khẳng định, biểu lộ lòng tự hào về nhân cách cao đẹp: hào kiệt, phong lưu. Một con người có tài cao, chí lớn trong mưu đồ đại sự cứu nước, cứu dân. Một nhà nho trang nhã, ung dung, đường hoàng. “Chạy mỏi chân” là cách nói hóm hỉnh về sự hoạt động sôi nổi của Phan Bội Châu lúc ở Nhật, lúc sang Thái Lan, lúc ở Trung Quốc. Bốn tiếng “thì hãy ở tù” vừa chấp nhận cảnh ngộ tù đày, vừa là sự thách đố, thể hiện một thái độ rất bình tĩnh, rất chủ động trước tai ương hoạn nạn.
Phải xa gia đình, quê hương đất nước, bôn ba hải ngoại, phải nếm trải mọi thử thách gian truân, chịu cảnh tù tội “hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót” (Bài ca chúc Tết thanh niên). “Khách không nhà” đối với “người có tội” (bị tù), “bốn bể” đối với “năm châu” – ngôn ngữ thơ cân xứng, thể hiện một tâm hồn cao đẹp, giàu đức hi sinh, một chí lớn tung hoành mang tầm vóc lớn lao được đo bằng “năm châu” và “bốn bể”. Giọng thơ thanh thoát phơi phới:
Đã khách không nhà trong bốn biển
Lại người có tội giữa năm châu.
Sau này, trong bài thơ “Từ giã bạn bè lần cuối cùng” viết năm 1940 trước lúc qua đời, ý thơ trên được tác giả nhắc lại:
Những ước anh em đầy bốn biển
Nào ngờ trăng gió nhốt ba gian.
3.Hai câu luận
Hai câu 5 và 6 đối nhau, ngôn ngữ trang trọng diễn tả một chí khí hiên ngang, một chí lớn phi thường của người anh hùng muốn làm nên sự nghiệp vĩ đại. Thơ mang cốt cách anh hùng:
“Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù”.
“Bủa tay”, “ôm chặt” nói lên một tư thế hào hùng, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi, một lí tưởng sáng ngời: Giúp đời cứu nước! “Cuộc oán thù” là cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước. Hai chữ “cười tan” thể hiện một ý chí, nung nấu căm thù. Giọng thơ hào hùng. Thủ pháp nghệ thuật được sử dụng đặc sắc: Hình ảnh thậm xưng kì vĩ, các động từ gợi tả mạnh mẽ (ôm chặt, cười tan) đã dựng nên hình ảnh một đấng nam nhi, một trang anh hùng, một bậc trượng phu, hào kiệt… trong tù đày vẫn lạc quan, bất khuất, ngạo nghễ.
Hai câu kết khẳng định một niềm tin chói sáng qua hai vế tiểu đối: “Thân ấy hãy còn / / còn sự nghiệp”. Chữ “còn” được điệp lại hai lần và làm cho ý thơ được nhấn mạnh: con đường cách mạng cứu nước, cứu dân là con đường vinh quang sáng ngời chính nghĩa. Con đường chiến đấu vì chính nghĩa đang mở rộng phía trước. Câu thơ thứ 8 nói lên một chấp nhận,một thách thức, một tinh thần coi thường hiểm nguy, gian truân:
“Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu”.
Vần thơ mang tính hướng nội vang lên như một lời động viên khích lệ mình. Nó biểu hiện một dũng khí hiên ngang của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại: “Uy vũ bất khuất”. Đó là niềm tự tin, lạc quan, bất khuất, làm chủ hoàn cảnh, mang cốt cách “hào kiệt, phong lưu”.
Đây là bài thơ viết theo thể thơ Đường luật, thất ngôn bát cú. Giọng điệu hào hùng mạnh mẽ. Cảm hứng anh hùng dào dạt suốt bài thơ. Bút pháp khoa trương, lối đối và sử dụng điệp ngữ rất đặc sắc đã làm hiện lên cốt cách của “Bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” (Nguyễn Ái Quốc). “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu là bài ca yêu nước, bài ca tự do. | Phân tích,cảm nghĩ Vào nhà ngục Quảng Đông – Đề và văn mẫu 8 | 928 | |
Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc
Hướng dẫn
Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc
Tháng 10/1954, Trung ương Đảng chính phủ rời “ Thủ đời gió ngàn Việt Bắc” về với thủ đô hoa và nắng Ba Đình. Nhân sự kiện thời sự có tính chất lịch sử này Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc gồm 150 câu lục bát để nói lên nghĩa tình sâu nặng, nhắc nhở những người chiến thắng giữ tấm lòng thủy chung ân nghĩa với mảnh đất con người quê hương Việt Bắc đã đùm bọc mình trong những ngày gian khó. Đặc biệt, tám câu mở đầu là lời giao duyên đằm thắm của kẻ ở người đi thắm đượm ân tình cách mạng.
Bài thơ là một hoài niệm lớn, là những hồi tưởng đầy xúc động về những chặng đường kháng chiến ân tình găn bó thủy chung. Những hoài niệm thiết tha đã làm sống dậy những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình với thiên nhiên con người Việt Bắc với cuộc sống kháng chiến gian khổ và hào hùng. Tố Hữu đã khéo léo sáng tạo một tình huống đặc biệt đậm chất trữ tình để bộc lộ tình cảm, cảm xúc. Đó là một cuộc chia tay lưu luyến có kẻ ở người đi, có lời giao duyên tỏ bày tình cảm hoài niệm, ân nghĩa, ước vọng và tin tưởng. Tám câu mở đầu chính là những lời giao duyên gói trọn cảm xúc chủ đạo của bài thơ.
Bốn câu đầu bài là lời ướm hỏi tình tứ ngọt ngào của người ở lại:
“ Mình về …
… nhớ nguồn”.
Thể thơ lục bát, cùng với lời xưng hô mình ta tạo nên những vần thơ kháng chiến lại giống những lời đối đáp giao duyên mặn nồng tình lứa đôi quen thuộc trong những khúc dân ca. Ở đây ta là núi rừng, con người Việt Bắc, mình là cán bộ, chiến sỹ về xuôi. Chia tách là vậy nhưng thực ra tuy hai là một, ta và mình chỉ là sự phân thân của một chủ thể trữ tình mà thôi. Cách cấu tứ đặc biệt, đối thoại là kết cấu bề thực chất là lời độc thoại, bộc lộ tâm trạng nhớ thương ân tình gắn bó mà Tố Hữu thay mặt những người khánh chiến bày tỏ với quê hương cách mạng.
Câu hỏi thứ 2 “nhìn sông nhớ núi nhìn cây nhớ nguồn” thành ngữ dân gian nhắc nhở đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Từ “nhớ” được lặp lại tha thiết “ có nhớ ta, có nhớ không, nhớ núi, nhớ nguồn”. Đó vừa là lời nhắn nhủ về ân nghĩa cội nguồn vừa khẳng định tình cảm nhớ thương gắn bó của người ở lại. Hai câu hỏi 1 hướng về thời gian, một hướng về không gian gói trọn một vùng dân tộc, một vùng kháng chiến. Thắm đượm bao ân tình thủy chung gắn bó bền lâu. Tình cảm cách mạng ấy cũng thiết tha mặn nồng như tình duyên đôi lứa.
Bốn câu tiếp theo là tấm lồng của người ra đi, người cán bộ, chiến sỹ về xuôi đã cảm nhận được biết bao gắn bó nghĩa tình trong lời ướm hỏi của Việt Bắc nếu người ở lại hỏi về 15 năm thiết tha mặn nồng.
Tâm trạng người đi cũng tràn đầy nỗi nhớ câu thơ tách thành 2 vế đối. Bâng khuâng trong dạ/ Bồn chồn bước đi. Bâng khuâng lưu luyến trong nội tâm nhưng ngập ngừng bối rối trong hành động. Tố Hữu đã diễn tả thật tinh tế trạng thái tâm lí phức hợp trong lòng người ra đi. Chia tay vơi vùng đất gắn bó sâu nặng bao năm trời, lòng người kháng chiến không tránh khỏi sự bịn rịn lưu luyến. Nhưng cuộc chia tay này lại diễn ra trong bối cảnh kháng chiến thắng lợi nên lòng người cũng náo nức thấp thỏm khôn nguôi. Chân bước đi mà lòng ai ngược về chốn cũ một đảo ngữ nhỏ mà mật độ rất lớn từ láy gợi cảm xúc khiến cả không gian nhòa đi trong sự bịn rịn lưu luyến. Nhịp thơ đột ngột chuyển sang nhịp lẻ 3/3; 3/3/2 diễn tả thần tình một tình huống ngập ngừng những nghẹn ngào không muốn nói. Chút lằng lặng giữa dòng thơ ấy có sức gợi tả rất lớn.
“ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” tay trong tay biết bao lời muốn nói mà không nói được, nhưng tâm trạng bồn chồn bang khuânng đã thể hiện sâu sắc tình cảm của người đi. Nỗi nhớ cảu tác giả: “ Tiếng ai tha thiết bên cồn”, nhớ tình, nhớ cảnh, “ áo chàm đưa buổi phân li” càng khắc sâu thêm tấm lòng thủy chung son sắc của người kháng chiến với quê hương cách mạng.
Thơ xưa nói cảnh phân li thường viện dẫn sắc tím hoàng hôn hay màu vàng li biệt “ Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san” những cuộc chia tay này là sắc áo cahmf lại là màu chủ đạo. Áo chàm là biểu tượng cho con ngườii Việt bắc bình dị, chân chất, thắm đượm nghĩa tình sắc son, chung thủy sẽ không bao giờ phai nhạt. Từ Hán Việt phân li đem lại hương vị cổ điển cho cuộc chia tay.
Không phải ngẫu nhiên Tố Hữu lấy tên Việt Bắc để đặt nhan đề cho tập thơ kháng chiến của mình. Việt Bắc không chỉ là một bản hùng ca mà còn là một khúc tình ca thể hiện những găn bó sâu nặng với con người, quê hương cách mạng. Có lẽ những ân nghĩa cội nguồn và hình thức biểu hiện giàu tính dân tộc đậm màu sắc dân gian và hương vị cổ điển đã thành sức sống bền lâu của bài thơ trong lòng bạn độc muôn thế hệ.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc | 1,001 | |
Phân tích Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
Hướng dẫn
Phân tích Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
Khát khao cống hiến cho nghệ thuật, khát khao đi tìm và thể hiện những cảm giác mạnh mẽ, dữ dội, cộng với chất nghệ sĩ ưa phóng túng, tự do đã thúc đẩy Nguyễn Tuân đến với sông Đà. Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người, với tư tưởng, tình cảm gắn bó với quê hương đất nước. Có thể khẳng định rằng với Người lái đò sông Đà, ngòi bút của Nguyễn Tuân đã đạt đến độ chín mới về tư tưởng và nghệ thuật.
Người lái đò sông Đà trước hết là một tác phẩm viết về một con người và một dòng sông. Bằng sự tiếp cận, quan sát và khả năng mô tả cùng với một kho chữ nghĩa vô cùng giàu có, chuẩn xác, Nguyễn Tuân đã dựng lên những bức tranh hết sức sống động, những hình tượng kì vĩ giàu sức hấp dẫn trong thiên tùy bút độc đáo này.
Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà thực sự trở thành một loài thuỷ quái khổng lồ. Tiếng gầm gào của nó qua những con thác dữ, từ xa nghe đã dễ sợ: “tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại nhừ là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Khi đến gần, tiếng nó bỗng “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Con thuỷ quái không chỉ hung hãn. Nổ còn hết sức xảo quyệt. Trong cuộc vật lộn với ông lái đò, nó đã trổ ra đủ mưu ma chước quỷ để lừa người ta vào thế trận đã bày sẩn và hướng người ta vào cửa tử. Chỗ ngoặt sông thì đánh phục kích. Dụ được vào sâu thì đánh khuýp vu hồi. Giáp lá cà thì giở đủ ngón hiểm ác: đòn âm, đòn dương, đá trái, thúc gối, túm thắt lưng, lật nửa người, bóp chặt hạ bộ,… Vừa đánh vừa hò la vang trời dậy đất để áp đảo tinh thần đối phương,…
Nhưng vượt qua được con thác dữ thì sông nước lại trở nên rất đỗi êm ả thanh bình. Nguyễn Tuân gọi thế là tính cách trữ tình của con sông Đà. Sông Đà lúc này lại như một tiên nữ giáng trần. Nó “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”. Đẹp biết bao khi được ngắm nhìn những làn mây mùa xuân bay trên sông Đà. Nước sông Đà cũng thay đổi theo mùa: mùa xuân là dòng xanh ngọc bích, mùa thu thì lừ lừ chín đỏ như da mặt người say rượu… Cảm hứng dạt dào, nhà tuỳ bút cũng muốn trở thành thi sĩ. Ồng thấy “lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”. Từ những chạm khắc gân guốc, bạo khoẻ, từ những màu sắc gây ấn tượng dữ dằn, Nguyền Tuân chuyển sang những đường nét thanh thoát, dịu dàng thơ mộng. Ọuả thật nhiều khi ông đã đạt tới khả năng gợi tả của ngôn ngữ thơ, nghĩa là nói được những điều khó nói bằng văn xuôi: ấy là cái mà ông gọi là “màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”” – thoáng hiện lên trên sóng nước sông Đà ; ấy là cái bâng khuâng ngẩn ngơ của dòng nước lững lờ trôi xuôi như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Có một cái gì tựa như nỗi thương nhớ mênh mang mơ hồ của thi sĩ Tản Đà gửi “một người tình nhân chưa quen biết” – “Dải sông Đà bọt nước lênh bênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”. Nói chung qua cảm nhận của Nguyễn Tuân, chất thơ của phong cảnh sông Đà thường đậm đà màu sắc cổ điển: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người, cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiên sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Có thể gọi đấy là những dòng thơ văn xuôi của nhà tuỳ bút.
Trên cái nền của con sông vừa “hung bạo” vừa “trữ tình” ấy hiện lên lừng lững hình tượng người lái đò sông Đà. Thực ra ông lái này chủ yếu xuất hiện trong cuộc vật lộn với một con thác dữ, nghĩa là ở cái phía hung bạo của sông Đà. Giả sử tác giả đặt ông trong khung cảnh khác – khung cảnh thơ mộng trữ tình – chắc hẳn ông sẽ trở thành một anh chàng Trương Chi si tình trong cổ tích. Nhưng ở đây, đối dầu với con sông dữ, với một loài thuỷ quái, ông lái đò nhất thiết phải trở thành một dũng sĩ kiên cường – một nhân vật sử thi trong thiên trường ca leo ghềnh vượt thác… Nói đến nhân vật của Nguyễn Tuân, không thể không lưu ý đến cách tiếp cận riêng của ông đối với con người. Ấy là cách tiếp cận từ phương diện tài hoa nghệ sĩ. Ở Nguyễn Tuân khái niệm này có một nghĩa rất rộng: không chỉ thu hẹp ở những người làm nghệ thuật như thi sĩ, hoạ sĩ hay đào nương, kép hát,… mà gồm bất cứ ai đã đẩy được cái công việc mình thường làm lên đến độ caọ siêu, trác việt, dù công việc ấy chỉ là uống trà, ăn phở, giã giò, giã cốm, thậm chí công việc của tên đao phủ chém đầu người… Ở đây, ông lái đò cũng được tiếp cận như vậy. Đúng là ông lái đò của Nguyễn Tuân. Lái đò như thế thì không còn là chuyện nghề nghiệp thông thường nữa mà đã sang hẳn phạm trù của nghệ thuật, nghệ sĩ – nói như tác giả – là “tay lái ra hoa”. Tất cả nghệ thuật của ông lái đò là nắm chắc “quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà”. Làm chủ được quy luật thì có nghĩa là đạt tới tự do và nghệ thuật. Có điều đây là một quy luật hết sức khắc nghiệt. Chỉ một chút thiếu chính xác, một tích tắc thiếu bình tĩnh, loá mắt lơ tay là phải trả giá bằng sinh mạng của mình.
Cảm ơn nhà văn Nguyễn Tuân đã cho chúng ta thưởng thức một công trình nghệ thuật đầy sáng tạo. Ngoài việc cung cấp cho chúng ta những kiến thức và tri thức về cuộc sống, về văn hóa và lịch sử, địa lí, về ngôn ngữ… tác phẩm còn là một khối kiến trúc thẩm mĩ độc đáo, giúp ta cảm thụ được cái đẹp một cách sâu sắc, cái đẹp của con người lao động người lái đò sông Đà. Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy trong việc ngợi ca những con người lao động gian lao nguy hiểm nhưng đầy vinh quang. | Phân tích Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) | 1,394 | |
Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ỷ kiến trên?
Hướng dẫn
“Người chê ta mà chê phải là thầy ta; người khen ta mà khen phải là bạn ta; những kẻ vuốt ve nịnh bợ ta chính là kè thù của ta vậy”.
(Tuân Tử)
Trong cuộc sống, việc khen chê có một ý nghĩa vô cùng quan trọng: nếu khen chỉ là “bạn” vì nó động viên, khuyến khích những mặt tốt đẹp, thánh thiện của con người, thì phê phán, chê trách những mặt tồn tại, mặt dở lại là “thầy” vì nó giúp ta tiến bộ, từ người xấu trở thành người tốt. Chính vì thế mà có lời nhận xét: “Phê phán thái độ thờ ơ ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”.
Vậy thế nào là “phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người”?
Phê phán là vạch ra cái sai trái đế tỏ thái độ không đồng tình hoặc lên án. Còn “thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người” là thái độ của những người tỏ ra lạnh nhạt vô cảm, không hề quan tâm đến hoặc không hề chút tình cảm gì với con người, mà ở đây là những con người có số phận nghiệt ngã, rơi vào cảnh bi thảm. Tóm lại, sông thờ ơ, ghẻ lạnh là thái độ sống vô tâm, vô cảm trước nỗi đau của người thân, đồng loại, không biết thông cảm, quan tâm, chia sẻ với những cảnh đời bất hạnh xung quanh mình, chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân, chỉ biết đề cao cái tôi riêng mình. Đó là lối sống ích kỉ, vô lương tâm, cần phải lên án.
Còn thế nào là “ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”?
Ca ngợi là nêu lên để khen và tỏ lòng yêu quý cái hay, cái đẹp. Sống vị tha là sống vì người khác, là biết cảm thông, chia sẻ và yêu thương con người bằng một tình cảm y chân thành. Lòng vị tha sẽ giúp con người vượt lên trên mọi hận thù, mọi ganh ghét cá nhân để cùng sống vì lợi ích chung.
Vì sao “phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”? Vì theo lẽ thường, con người ta ai cũng thích được khen, từ đó nảy sinh tâm lí chung là chỉ thiên về biểu dương, ca ngợi những mặt tốt đẹp của con người mà m ngại phê phán những mặt còn hạn chế, yếu kém của họ. Ý kiên trên muốn nhân mạnh đến sự cần thiết của tinh thần đấu tranh, phê phán thái độ I thờ ơ, ghẻ lạnh đôi với con người trước hết là vì thế. Trong cuộc sống, không thê chỉ có một chiều ca ngợi những điều tốt đẹp mà thiếu đi tiếng nói đấu tranh, phê phán những thói hư tật xấu, những lôi sống không đẹp trong xã hội. Bởi xét đến cùng, bản chất của hai sự việc trên đều cùng chung mục đích: hướng con người đến sự hoàn thiện nhân cách và có cuộc sống tốt đẹp hơn, muốn con người được sống trong biển đời giàu tình yêu thương.
Hạnh phúc của tôi là đây, là chính cái giây phút mà tôi được nhìn thấy đồng bào tôi ai củng có cơm no áo ấm, ai củng được học hành”. Lúc sinh thời, Bác thương yêu con người hết mực. Người đã hi sinh hạnh phúc của mình để mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta là những thế hệ con cháu của Bác, tại sao lại không noi gương Bác, một con người luôn có tình thương yêu bao la rộng lớn?
“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người”.
(Tố Hữu)
Qua ý kiến trên, ta có thể rút ra một bài học quý giá: phải sống có trách nhiệm, biết yêu thương con người, không chỉ có lợi ca ngợi một chiều mà cùng với lời ngợi ca, mỗi người cần phải có tiếng nói đấu tranh, phê phán những biểu hiện còn lệch lạc, cách sống vô trách nhiệm, thiếu tình thương trong cuộc đời. Tuy nhiên, cần phải có thái độ khen chê rõ ràng, đúng mức, đúng lúc, đúng nơi. Tất cả phải xuất phát từ thiện tâm, thiện ý của mình. Không gì có sức thuyết phục và lay động mạnh mẽ trái tim mọi người hơn là cách sống chan hoà, giàu tình yêu thương của bạn trong cuộc sống hằng ngày đối với người thân và cộng đồng.
Trong cuộc đời, nếu lời ca ngợi được ví như đường thì lời phê phán được ví như muối. Lẽ nào cuộc sống chỉ cần đến vị ngọt ngào của đường mà không cần dến cái mặn của muối? Bản chất của con người là thánh thiện “Nhân chi sơ tính bản thiện” (Khổng Tử) và ai ai cũng đều mong muốn có một cuộc sống ngập tràn tình yêu thương. Nhưng để có một cuộc sống “Người yêu người sống để yêu nhau", mỗi người cần phải sống chân thành, chân thành trong cả lời khen và lời chê. Câu nói trên không phải là một tư tưởng mới mẻ nhưng nó có ý nghĩa thực tế vô cùng sâu sắc.
“Kẻ mất đi của cải là kẻ mất ít, mất bạn là kẻ mất nhiều, nhưng đánh mất đi cái “tình” là mất tất cả”.
Nguồn: | Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên_ | 965 | |
Đề bài: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Bạn suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
Bài làm
Trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tư tưởng lạc hậu để xây dựng con người mới, nếp sống văn hóa mới, nhiều người thường nhắc đến câu nói sau đây: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”.
Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người
Trước hết, phải hiểu đúng nghĩa các từ ngữ: thờ ơ, ghẻ lạnh, lòng vị tha, tình đoàn kết.
Cuốn Từ điển tiếng Việt in năm 2008, Hoàng Phê chủ biên đã giải nghĩa như sau:
Thờ ơ: tỏ ra lạnh nhạt, không hề quan tâm, để ý tới, không hề có chút tình cảm gì.
Ghẻ lạnh: tỏ ra lạnh nhạt đối với người lẽ ra là thân thiết, gần gũi.
Vị tha: có tinh thần chăm lo đến lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình.
Đoàn kết: kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung.
Qua đó, ta hiểu thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh là tính xấu; người sống thờ ơ, ghẻ lạnh là người không tốt, là kẻ vô cảm, vô tình với đồng loại. Lòng vị tha, tình đoàn kết là tính tốt; người giàu lòng vị tha và có tình đoàn kết là người tốt.
Câu nói trên đây chỉ ra mối quan hệ và tầm quan trọng giữa việc phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người và sự ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết.
Con người có nhân hậu, sống trong tình người mới có lòng vị tha, tình đoàn kết, mới biết “thương người như thể thương thân”. Nhân dân ta giàu lòng vị tha và tình đoàn kết nên tâm hồn Việt Nam rất đẹp, sức mạnh Việt Nam vô địch, có thể chiến thắng thiên tai, địch họa, đánh đuổi thù trong, giặc ngoài. Chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mĩ là nhờ tinh thành đại đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân ta. Xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam, cứu giúp đồng bào vùng bị lũ lụt bão tố, quan tâm săn sóc các em nhỏ mồ côi, những học sinh nghèo… làm tất được các việc đó là do sức mạnh của lòng vị tha, tình đoàn kết của đồng bào, chiến sĩ, của hơn hai triệu Việt kiều đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài. Chính vì có lòng vị tha, tình đoàn kết mà nhân dân ta hiểu một cách sâu sắc: chia rẽ là chết; thờ ơ, ghẻ lạnh với bà con, với đồng loại là vô tình, vô tâm, bạc bẽo, nhẫn tâm.
Trong công cuộc xây dựng con người mới, nếp sống mới, việc ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt đối với con người.
Sống giữa người thân, sống giữa tập thể, giữa cộng đồng mà thờ ơ, ghẻ lạnh đối với mọi người thì kẻ ấy thật đáng chê. Chỉ biết bản thân mình, chẳng hề quan tâm đến ai. Một tiếng kêu rên của người bất hạnh, giọt nước mắt của người khốn khổ cơ hàn, đối với họ cũng chẳng quan tâm. Vì kẻ sống thờ ơ, ghẻ lạnh, trái tim đã bị đóng băng, tâm hồn đã bị khô héo, sống không chút tình người. Đáng thương hại thay, những kẻ thờ ơ, ghẻ lạnh là những Bê-li-cốp, loại “Người trong bao" mà nhà văn Nga Sê-khốp đã nói đến. Các câu tục ngữ: “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”, “Đèn nhà ai rạng nhà ấy’’ đã nói lên bản chất loại người có thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với mọi người. Loại người này đã tự tách rời với mọi người xung quanh, sống cô đơn, khép kín, mũ nỉ che tai!
Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lanh đối với con người là để xây dựng tính tập thể, tính cộng đồng, lòng vị tha, tính đoàn kết; là để làm cho con người gần gũi người hơn; là để xây dựng tình tương thân tương ái, là để xây dựng con người mới, xã hội mới. nếp văn hóa mới. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống trong tình thương; tình thương của gia đình, của bạn bè, của đồng bào, đồng chí.
Tuổi trẻ bước vào đời sẽ tìm thấy sức mạnh và hạnh phúc trong tình nhân ái, lòng vị tha, tình đoàn kết của cộng đồng. Hơn bao giờ hết, ta cang thấm thìa ý kiến: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. | Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết | 850 | |
Phải bán chó, lão Hạc mắt “ầng ậng nước”, rồi “hu hu khóc”. Ông giáo thì “muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc”. So sánh vả chỉ ra ý nghĩa của tiếng khóc cùng những giọt nước mắt này
Hướng dẫn
-Lão Hạc khóc, trước tiên, vì bán “cậu Vàng” lão đã mất đi chỗ dựa của tình thần — một chút an ủi cho tuổi già cô độc. Đây là tiếng khóc than thân tủi phận. Sau nữa, lão khóc vì: “[…] tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó…” — tiếng khóc của nỗi ân hận trước một việc mà mình thấy là không nên làm. Tiếng khóc cho thấy ý thức rất cao về nhân phẩm của lão Hạc.
-ông giáo muốn “òa lên khóc”, trước tiên là vì thông cảm cho cảnh tình của lão Hạc. Sau nữa, đấy còn là tiếng khóc của người có cùng cảnh ngộ. Chẳng phải là ông giáo (cũng như lão Hạc phải bán con chó thân thiết) đã phải bán đi những cuốn sách gắn với kỉ niệm của một thời “đầy những say mê đẹp và cao vọng” đó sao?
-Giọt nước mắt của các nhân vật ở đây đều được chắt ra từ những khổ nhục, cay cực trong cuộc đời nhưng cũng mênh mang tình thương và là biểu hiện thật đẹp đẽ của phẩm cách làm người. Đặc biệt là ông giáo. Ông không chỉ biết khóc cho mình mà còn biết khóc cho nỗi đau của kẻ khác. Trong truyện, Nam Cao đã ngậm ngùi triết lí về một lẽ đời: “Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa”. Cảnh ngộ của ông giáo cũng chẳng khác gì lão Hạc. Nhưng những khổ — nhục đó không khiến trái tim ông giáo trở nên lạnh lùng, chai sạn. Trái lại, dường như nó lại càng trở nên nhạy cảm trước nỗi đau của đồng loại. | Phải bán chó, lão Hạc mắt “ầng ậng nước”, rồi “hu hu khóc”. Ông giáo thì “muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc”. So sánh vả chỉ ra ý nghĩa của tiếng khóc cùng những giọt nước mắt này | 332 | |
Bàn về phẫu thuật thẩm mĩ, trong chương tình truyền hình “Mảnh ghép hoàn hảo”, đạo diễn Lê Hoàng cho rằng: “Phẫu thuật thẩm mĩ là nhân văn, nó giúp thay đổi ngoại hình con người”.
Cùng bàn về đề tài đó, tiến sĩ Đặng Hoàng Giang trong bài viết “Cơ thể giả, khát vọng thật” đã cho rằng: “Phẫu thuật thẩm mĩ là một sự hủy hoại bản thân, xuất phát từ sự chối bỏ cơ thể mình, chạy trốn những năm tháng mình đã sống, phần đời mình đã trải qua”.
Anh chị suy nghĩ như thế nào về khát vọng của con người qua hai ý kiến trên.
Bài làm
“Hãy sống và ước vọng để thấy đời mênh mông” (Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn), tôi xin được trích lời bài hát trong nhạc phẩm “Khát vọng” của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn. Chẳng biết từ bao giờ, câu hát ấy cứ văng vẳng trong tâm trí tôi, nhắc nhở tôi về cách sống của tôi hôm nay và cả mai sau này. Sống là phải khát khao, phải nuôi hi vọng, sống với khát vọng. Vâng, tôi luôn tin rằng, ai trong chúng ta đều có những khát khao, đều có những mơ ước của riêng mình. Khát vọng về cái đẹp là điều con người luôn hướng tới, nhưng khát khao có một ngoại hình đẹp nhờ phẫu thuật thẩm mĩ, có phải là điều con người muốn hướng đến? Bàn về đề tài này,trong chương tình truyền hình “Mảnh ghép hoàn hảo”, đạo diễn Lê Hoàng cho rằng:”Phẫu thuật thẩm mĩ là nhân văn, nó giúp thay đổi ngoại hình con người”. Cùng bàn về đề tài đó, tiến sĩ Đặng Hoàng Giang trong bài viết “Cơ thể giả, khát vọng thật” đã cho rằng: “Phẫu thuật thẩm mĩ là một sự hủy hoại bản thân, xuất phát từ sự chối bỏ cơ thể mình, chạy trốn những năm tháng mình đã sống, phần đời mình đã trải qua”.
Vậy “phẫu thuật thẩm mĩ” là gì? Nói đến phẫu thuật thẩm mỹ người ta nghĩ ngay tới chuyện làm đẹp. Tuy vậy, đây vẫn là một thuật ngữ khá chung để nói về các phẫu thuật tạo hình liên quan đến việc sửa chữa, tái tạo lại phần hình thể của con người. Với ý kiến của đạo diễn Lê Hoàng: “Phẫu thuật thẩm mĩ là nhân văn”, tức là ông cho rằng phẫu thuật thẩm mĩ là thứ “vũ khí đắc lực”, hướng về những gì tốt đẹp cho con người, “nó giúp thay đổi ngoại hình con người”. Còn tiến sĩ Đặng Hoàng Giang lại cho rằng: “Phẫu thuật thẩm mĩ là một sự hủy hoại bản thân”, “hủy hoại” là sự phá hủy, “tàn phá” cơ thể chính mình, “xuất phát từ sự chối bỏ cơ thể mình, chạy trốn những năm tháng mình đã sống, phần đời mình đã trải qua”, tiến sĩ cho rằng, nguyên nhân dẫn đến phẫu thuật thẩm mĩ là do không thừa nhận bản thân, không chấp nhận ngoại hình của mình, muốn chạy trốn quá khứ, từ chối nghĩ tới phần đời mình đã trải qua. Cùng xoay quanh chủ để phẫu thuật thẩm mĩ, quan điểm của mỗi người là không giống nhau, chẳng ai có quyền phán xét phẫu thuật thẩm mĩ là đúng hay sai, nên hay không nên. Đặc biệt là đối với tôi- một cô bé 18 tuổi chưa trải nhiều sự đời, làm sao có thể khẳng định ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai? Cả đạo diễn Lê Hoàng, và cả tiến sĩ Đặng Hoàng Giang đều là những người tri thức, hiểu biết nhiều, hai quan điểm của họ tạo ra hai luồng ý kiến, nó chính là hai mặt của một vấn đề, tưởng như đối lập mà lại bổ sung cho nhau.
Thật ra, sinh ra trong xấu xí cũng đã là một dạng thiệt thòi. Tác giả cuốn sách “Bơ đi mà sống”, đã dành cả một chương sách để nói về “Gái xấu”- những người đồng cảnh ngộ như cô. Cô từng nói: lớp một không một đứa con trai nào dám ngồi gần cô vì đơn giản là cô xấu. Tôi chắc chắn rằng, “xấu người” không đồng nghĩa với “xấu nết”, nhưng trong cái xã hội này, chỉ cần không xinh đẹp, ưa nhìn, đôi ba lần cũng từng bị tổn thương về tâm hồn. Ở những quốc gia khắt khe về ngoại hình như Hàn Quốc, chế giễu ngoại hình không còn xa lạ. Um Ji (G-Friend) từng bị dẫn đầu bảng xếp hạng thần tượng nữ xấu nhất vào năm ngoái, khiến cô bị gắn mác “Thần tượng nữ xấu nhất lịch sử Kpop”. Khi tìm kiếm thông tin về Um Ji trên trang Naver, các từ khóa đi cùng luôn là “xấu xí”, “mặt to”,… Điều này khiến cô chịu tổn thương nặng nề và sinh ra tâm lí mặc cảm. Miệt thị ngoại hình cũng không còn là xa lạ đối với những cô gái Hàn Quốc. Người Hàn Quốc quan niệm “mặt tiền” là tất cả đối với họ. Đó không phải là hình thức đơn thuần, mà là hình ảnh bản thân và danh tiếng cá nhân. Mức độ người Hàn coi trọng ngoại hình của mình cũng như người Trung Quốc đề cao thể diện của con người. Các nước khác không hẳn là khắt khe như ở Hàn Quốc, nhưng những người không xinh đẹp vẫn thường bị chế giễu, họ sẽ có những “vết sẹo tâm hồn”.
Body-shaming (miệt thị ngoại hình) vốn là cụm từ không còn xa lạ. Cũng chính bởi những lời miệt thị kia, đã có rất nhiều người tự kết liễu bản thân. Chẳng ai mong muốn mình sở hữu một gương mặt xấu xí, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi điều đó dựa trên một mục đích chính đáng. Phẫu thuật thẩm mĩ đã ra đời, thay đổi biết bao số phận con người. Phẫu thuật thẩm mĩ đem đến biết bao khát vọng chính đáng cho con người. Khát vọng muốn sống một cuộc sống khác, không phải sống trong vòng luẩn quẩn của những lời chê bai, miệt thị đã khiến họ tìm đến phẫu thuật thẩm mĩ bởi “Phẫu thuật thẩm mĩ là nhân văn”.
Ngoại hình là yếu tố cần nhưng không phải là yếu tố quan trọng nhất. Vẻ đẹp ngoại hình sẽ phai tàn theo thời gian chỉ có vẻ đẹp của tâm hồn mới trường tồn mãi mãi. Phẫu thuật thẩm mĩ giúp con người có một diện mạo xinh đẹp hơn, nhưng phẫu thuật thẩm mĩ không thể giúp con người thay đổi được tâm hồn. Phẫu thuật thẩm mĩ với mục đích chính đáng thì sẽ nhân văn, nhưng lạm dụng thì sẽ “hủy hoại bản thân”. Chúng ta sinh ra vốn đã không được lựa chọn nhan sắc, nhưng thay đổi nhiều đến mức chính mình cũng không nhận ra bản thân mình là ai thì đó là điều đáng buồn. Đứng trước gương đâu phải là mình nữa, chỉ là một con người đang “chối bỏ bản thân mình”. Khi ấy, đừng lấy “khát khao cái đẹp” để biện hộ cho bản thân. Khát vọng được có một khuôn mặt đẹp là điều đúng, nhưng quan trọng phải phù hợp với điều kiện bản thân. Thay đổi không được thì ta hãy học cách chấp nhận, chấp nhận với ngoại hình ấy nhưng quan trọng là phải giữ được một tâm hồn đẹp. Ngoại hình kia chỉ là “giả” còn khát vọng sâu trong tâm hồn kia mới là “thật”. Nhà viết truyện Mèo Xù, tác giả cuốn sách “Bơ đi mà sống” mà tôi đã nhắc đến ở trên luôn tự nhận thức mình không được ưu ái ngoại hình nhưng chị không nghĩ đến chuyện phẫu thuật thẩm mĩ bởi chị quan niệm rằng: “Thân thể này là do ba mẹ cho, khổ cực thể nào cũng mong muốn giữ lấy. Đó là một cách để tôn trọng bản thân và tôn trọng cả quá khứ”. Điều quan trọng là khát khao hoàn thiện mình mỗi ngày, có sức khỏe, có trí tuệ và nhân cách, ngoại hình có thể sửa đổi, nhưng khao khát sống đẹp chính là nội lực bên trong, điều đó mới có thể giúp bạn thực sự thành công. Chính ý kiến của tiến sĩ Đặng Hoàng Giang giúp ta nhận ra những điều này.
Đáng buồn cho những ai lạm dụng phẫu thuật thẩm mĩ quá mức. Đừng chạy trốn năm tháng mình đã sống, phần đời mình đã trải qua bởi dẫu sao đó cũng là quá khứ, buồn hay vui thì cũng là kỉ niệm, cất giấu vào một ngăn trái tim, thỉnh thoảng nhớ lại thì sẽ mỉm cười. Đáng thương cho những ai quá khắt khe với bản thân mình. Hãy luôn tin rằng, dù mình có là ai, ngoại hình như thế nào thì mình vẫn xứng đáng được hưởng hạnh phúc.
Bản thân tôi không bao giờ đem ngoại hình người khác ra làm trò cười. Đôi khi chỉ là một câu nói vô tình của người khác thôi cũng khiến họ cảm thấy mình xấu xí, không xứng đáng được yêu thương. Bạn sẽ không hiểu được rằng: trong đêm đó, họ đã đau thế nào, đã nghĩ đến tự tử bao lần. Tôi sẽ sẵn sàng ủng hộ họ phẫu thuật thẩm mĩ nếu đó là điều mà họ muốn, từ trong sâu thẳm trái tim, họ cho rằng, phẫu thuật thẩm mĩ sẽ đau, nhưng nỗi đau thể xác luôn dễ lành hơn nỗi đau tinh thần. Nói cho cùng, phẫu thuật thẩm mĩ sinh ra với mục đích nhân văn, để giúp đỡ con người, nhưng lạm dụng quá mức thì đó là “sự hủy hoại bản thân” một cách không thương tiếc.
Vân Trang – CTV Văn học của | Phẫu thuật thẩm mĩ là một sự hủy hoại bản thân, xuất phát từ sự chối bỏ cơ thể mình, chạy trốn những năm tháng mình đã sống, phần đời mình đã trải qua | 1,667 | |
Phố em còn nhiều người thiếu ý thức giũ gìn vệ sinh môi trường. Em đã làm gì để thay đổi điều đó
Gợi ý
Mưa xuống, đường phố nhà em lại ngập tràn một màu nước hến. Trôi trên “dòng sông” đó nào là túi bóng, nào là gốc rau, một thế giới rác. Chúng thi nhau bơi lượn như một cuộc thi đang tìm kẻ vô địch. Điều đó là do phố em còn có nhiều người xả rác bừa bãi mặc dù vẫn có các cô chú công nhân môi trường hàng ngày đi gom rác. Nhà trên đổ xuống nhà dưới, nhà dưới đổ xuống nhà dưới nữa. Cứ như vậy rác tha hồ mà đi du lịch. Bao cuộc cãi lộn cũng diễn ra tại đây. Em chỉ là một học sinh tiểu học, chẳng biết phải làm sao bây giờ nhưng cũng cố thử một lần xem sao. Ngày chủ nhật được nghỉ học, các gia đình cũng không phải đi làm, em liền mạnh dạn đến từng nhà nhắc mọi người bỏ rác đúng giờ và đúng nơi quy định. | Phố em còn nhiều người thiếu ý thức giũ gìn vệ sinh môi trường. Em đã làm gì để thay đổi điều đó | 185 | |
Py-ta-go: “Hoa quả của đất chỉ nở một hai lần trong năm, còn hoa quả của tình bạn thì nở suốt bốn mùa” – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Câu châm ngôn của Py-ta-go
Bài làm
Một trong những hạnh phúc lớn nhất ở trên đời này là tình bạn. Một người bạn đúng nghĩa có thể chia sẻ những buồn vui, làm cho cuộc sống của mỗi người tốt hơn, đẹp hơn. Vì thế, Py-ta-go đã nói: “Hoa quả của đất chỉ nở một hai lần trong năm, còn hoa quả của tình bạn thì nở suốt bốn mùa”.
Câu châm ngôn mang nhiều ý nghĩa. “Hoa quả của đất” là những thứ tạo hóa ban tặng. Hoa mang một hương thơm nồng nàn, một vẻ đẹp kiều diễm. Quả do hoa mà thành. Quả có nhiều mùi vị, vẻ ngoài khác nhau. Cả hai đều sinh ra nhờ Mẹ Đất, đều làm đẹp cho đời và quan trọng như nhau. Tuy vậy, hoa quả phải tuân theo quy luật tự nhiên. Cây chỉ cho hoa, kết quả vào mùa nhất định. Nhưng hoa quả của đất vẫn không phải là điều quý giá nhất. “Hoa quả của tình bạn” là tình cảm cao quý mà tạo hóa ban tặng cho con người. Tình bạn không tuân theo bất cứ quy luật nào của tự nhiên. Tình bạn phụ thuộc vào con người. Tình bạn được so sánh với “hoa quả” vì tình bạn cũng có vẻ đẹp và tầm quan trọng như hoa quả. Nhưng tình bạn khác hoa quả ở chỗ tình bạn bền vững suốt bốn mùa và tình bạn không có mùa riêng biệt nào cả. Tình bạn đến, ngự trị ở trái tim con người suốt cuộc đời họ.
Nhà văn Amerson đã từng viết: “Một ngày cho công việc cực nhọc, một giờ cho thể thao, cả cuộc đời cho bạn bè vẫn còn quá ngắn ngủi”. Thật vậy, tình bạn là một trong những tình cảm thiêng liêng, cao đẹp nhất đối với mỗi con người. Tình bạn rất gần gũi, giản dị. Tình bạn gắn kết con người với nhaụ và làm cho mối quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp. Trong tiếng Anh, tình bạn là “friendship”, “friend” nghĩa là bạn bè, “ship” nghĩa là con thuyền. Tinh bạn cũng giống như một đoàn thuyền vậy, lênh đênh giữa biển khơi, mỗi lần cập bến, mỗi lần đến một vùng đất mới lại thu nạp thêm một chiếc thuyền mới và một vài chiếc thuyền lại ra đi theo đoàn thuyền khác. Trong đời sống, có rất nhiều tình bạn đẹp. Chẳng hạn như tình bạn của Lưu Bình và Dương Lễ ngày xưa. Khi Dương Lễ là một thư sinh nghèo khổ, Lưu Bình không những không chê bai mà còn kết giao bạn hữu và tạo điều kiện cho Dương Lễ ăn học. Đến khi Dương Lễ công thành danh toại, Lưu Bình thi trượt, rượu chè bê tha. Nhớ đến nghĩa tình bạn bè, Dương Lễ đã nhờ vợ mình giúp nuôi và đốc thúc việc học của Lưu Bình. Nhờ đó, Lưu Binh đỗ đạt làm quan. Hay tình bạn vô cùng tốt đẹp và sâu sắc của hai nhà chính trị lớn là Các Mác và Ăng-ghen. Tinh bạn của hai ông bắt nguồn từ việc có cùng chung mục đích và lí tưởng. Trong suốt thời gian nghiên cứu và làm việc, hai ông đã không ngừng viết thư cho nhau và vô cùng vui sướng khi gặp lại nhau. Có lần Ăng-ghen bị bệnh, Các Mác đã bỏ ra rất nhiều thời gian và tâm huyết nghiên cứu sách vở để tự tìm ra cách trị bệnh cho bạn. Đó mới chính là tình bạn chân thành và cao quý. Những câu chuyện về tình bạn đó đã khiến bao người xúc động. Nhưng không chỉ con người, loài vật cũng có tình bạn cao đẹp. ở Nhật Bản xảy ra một câu chuyện có thực 100% như thế này: “Có một người vì muốn sửa lại nhà nên dỡ tường ra; tường nhà kiểu kiến trúc Nhật thường để một tấm gỗ ở giữa, hai bên trát xi măng, nhưng thực chất bên trong để rỗng. Khi anh ta dỡ tường ra, phát hiện có một chú thạch sùng đang ngủ ở trong đó, đuôi nó bị đọng vào tường bởi một chiếc đinh được đóng từ ngoài vào trong. Anh này thấy tình cảnh đó, vừa thấy thương thạch sùng vừa thấy tò mò, anh ta chăm chú quan sát chiếc đinh, đây là chiếc đinh được đóng khi xây nhà mười năm trước. Rút cục là có chuyện gì thế này nhỉ? Chú thạch sùng này đã mắc kẹt trên tường mà vẫn sống được trọn mười năm! Sống được mười năm trong bức tường tối, thật không đơn giản chút nào. Anh ta tiếp tục nghĩ ngợi, đuôi nó bị đóng chặt, không thể xê dịch được, thế nó đã sống được nhờ vào điều gì mười năm qua? Anh ta quyết định chưa sửa công trình của mình vội, muốn quan sát xem chú thạch sùng này đã ăn gì? Anh muốn nghiên cứu, tìm hiểu xem sao. Một lát sau, không biết từ đâu bò ra một chú thạch sùng khác, miệng nó ngoặm miếng thức ăn… Anh ta lặng người đi. Vì một bạn thạch sùng bị đinh đóng vào đuôi không thể đi lại được, một bạn thạch sùng khác đã kiếm tìm thức ăn mớm cho bạn trong suốt mười năm qua”.
Qua các câu chuyện trên, ta phần nào hiểu được điều thiêng liêng, cao quý ở tình bạn giữa người với người, giữa các con vật. Tình bạn không giới hạn ở tuổi tác, địa vị, lúc nào tình bạn cũng đẹp, cũng cần thiết cho cuộc sống. Thời thơ ấu, đó là những người bạn nhỏ bé, hồn nhiên và trong sáng. Lớn hơn chút nữa, đó là những người cùng chung trang sách dưới một mái trường. Ta không thể nào quên những đồng nghiệp, những người bạn mà cuộc sống trao tặng. Đối với tuổi già, những người bạn ấm áp hơn bao giờ hết. Họ không chỉ chia sẻ niềm vui, nỗi buồn mà còn xua tan mùa đông lạnh lẽo. Hãy thử tưởng tượng nếu như trên đời này không còn tình bạn nữa, thì cuộc sống sẽ như thế nào? Có thể ví von thế giới lúc ấy như một ngày mưa phùn gió bấc, không có ánh mặt trời; như đêm đen dày đặc không tinh tú, không ánh trăng; và dĩ nhiên là lòng người cô đơn. Tình bạn vô cùng quan trọng đối với con người. Và khúc ca về tình bạn vẫn mãi vang vọng trong tâm trí của mỗi con người qua hàng thế kỉ đến tận bây giờ và dư âm của nó vẫn miệt mài ngày đêm tô vẽ thêm vẻ ngọt ngào, quyến rũ của cuộc sống đầy bão táp này.
“Hoa quả của đất chỉ nở một hai lần trong năm, còn hoa quả của tình bạn thì nở suốt bốn mùa” là một chân lí hay về tình bạn. Tinh bạn là thứ quý giá mà cuộc sống trao tặng cho con người. Bởi vì, một người bạn tốt giúp ta vươn tới những điều tươi đẹp trong cuộc sống, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
(Trường PTDL Lương Thế Vinh)
>> Xem thêm Nói “không” với tệ nạn xã hội tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Câu châm ngôn của Py-ta-go | Py-ta-go _ “Hoa quả của đất chỉ nở một hai lần trong năm, còn hoa quả của tình bạn thì nở suốt bốn mùa” – Bài văn hay lớp 8 | 1,275 | |
Qua bài Hịch tướng sĩ, em cảm nhận như thế nào về vị anh hùng dân tộc, danh tướng Trấn Quốc Tuấn?
Hướng dẫn
Con người tác giả không chỉ hiện ra trực tiếp ở doạn bộc bạch nỗi lòng, mà còn được thể hiện trong toàn bộ bài hịch, ở nhiều phương diện, đặc biệt là ở thái độ và giọng điệu nói với các tướng sĩ. Em có thể nêu cảm nhận của mình về hình ảnh người anh hùng dân tộc, vị danh tướng Trần Quốc Tuân ở các phương diện: một tâm hồn cao đẹp, với lòng yêu nước sâu sắc, lòng căm thù giặc mãnh liệt, tấm lòng với các tướng sĩ vừa chân tình vừa nghiêm khắc; một trí tuệ sắc sảo với sự hiểu biết tâm lí con người, có nghệ thuật tác dộng, thuyết phục, khích lệ rất tài tình.
Hịch tướng sĩ là một trong những áng văn yêu nước tiêu biểu của thời đại nhà Trần nói riêng, của mọi thời đại nói chung. Áng văn ấy được kết tinh từmột trái tim yêu nước nồng thắm của bậc anh hùng hào kiệt văn võ song toàn: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Với lòng căm giận sục sôi, Trần Quốc Tuấn đã vạch trần bản chất và tội ác tàn bạo của kẻthù. Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứgiặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉmắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tềphụ, đểthỏa lòng tham không cùng, giảhiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, đểvét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổđói, sao cho khỏi tai vạvềsau. Thật là tội ác trời không dung, đất không tha!
Thái độcủa Trần Quốc Tuấn đối với bọn giặc là thái độkhinh bỉcao độ. Lòng căm giận và khinh bỉtrào ra ngòi bút khiến ông mô tảsứgiặc như những loài cầm thú xấu xa, bỉổi nhất: cú diều, dê chó, hổđói. Thái độấy là thái độquyết không đội trời chung, thềsống chết cùng quân thù.
Bày tỏ thái độcủa mình với quân giặc, Trần Quốc Tuấn muốn ba quân tướng sĩ cũng nuôi dưỡng lòng căm thù và ý chí giết giặc như ông. Nhớlại thực tếlich sử: năm 1277 Sài Xuân đi sứ, buộc ta lên tận biên giới đón rước, năm 1281 Sài Xuân đi sang sứ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cổng chính của kinh thành, quân sĩ canh cổng ngăn lại, bịhắn đánh toạc cảđầu. Vua sai thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải ra đón tiếp, Xuân nằm khểnh không dậy. So sánh với thực tếlịch sửấy sẽthấy tác dụng của lời hịch như đổthêm dầu vào ngọn lửa căm hờn của nhân dân ta.
Sau khi vạch rõ tội ác và bản chất của kẻ thù, Trần Quốc Tuấn trực tiếp bày tỏnhững tình cảm của mình. Đây là đoạn văn biểu hiện tập chung nhất, cao độnhất cho lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn, cũng là đoạn văn tiêu biểu cho lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Càng đọc kĩ đoạn văn ta càng thấm thía nỗi đau xót chân thành và mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn trước vận mệnh Tổquốc lâm nguy. Tất cảcác trạng thái tâm lí, các khía cạnh tình cảm trong ông đều được đẩy tới cực điểm: Đau xót đến quên ăn, vỗgối, tới mức ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, căm giận sục sôi đến độmuốn được xảthịt lột da nuốt gan uống máu quân thù. Càng đau xót bao nhiêu thìcàng căm giận bấy nhiêu. Và càng căm giận bao nhiêu thì càng quyết tâm chiến đấu hi sinh, xảthân vì nước bấy nhiêu, dù có phải chết trăm ngàn lần đau đớn, phơi thân ngoài nội cỏ, xác gói trong da ngựa cũng vẫn cam lòng. Thật cao đẹp và xúc động biết bao tinh thần và nghĩa cử ấy!
Càng yêu nước sâu sắc, hơn ai hết Trần Quốc Tuấn càng lo lắng cho sựan nguy của đát nước. Sáu mươi vạn quân Mông Cổtinh nhuệvới thếmạnh như chẻtre, đã làm mưa làm gió khắp Á-Âu đang lăm le ngoài biên ải. Vận mệnh dân tộc đang ngàn cân treo sợi tóc, thếmà lại có những tư tưởng hoặc dao động cầu hòa, hoặc bàng quan vô trách nhiệm, hoặc lo vun vén cá nhân. Trong tình thếnước sôi lửa bỏng ấy, ruột gan vịchủtướng như có lửa đốt. Người anh hùng yêu nước đã biến hành động cho đất nước. Ông khéo tìm cách khích lệ, động viên tướng sĩ. Ông nhắc lại ân tình sâu nặng của mình đối với tướng sí đểnhắc nhởhọvềsựđền ơn, đáp nghĩa vềtrách nhiệm của kẻlàm tôi. Ông nêu gương các trung thần nghĩa sĩ đểkích thích họtheo gương người xưa mà hành động. Ông chỉra cho họthấy nỗi nhục của chủquyền đất nước bịchà đạp: Triều đình bịgiặc sỉmắng, tướng triều đình phải hầu giặc, nhạc Thái thường thì bịđem ra đểđãi yến ngụy sư…đểkích động lòng tựtrọng, tựtôn dân tộc…
Đứng trên cương vịmột vịchủsoái, Trần Quốc Tuấn vừa chân tình chỉbảo vừa nghiêm khắc phê phán thái độbang quan, thờơ của tướng sĩ: Nay các ngươi nhìn chủnhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà ko biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đểđãi yến ngụy sứmà không biết căm…
Cũng đứng trên cương vịcủa một vịchủsoái, Trần Quốc Tuấn vừa chân tình chỉbảo vừa nghiêm khắc phê phán những thói ăn chơi hưởng lạc tầm thường của tướng sĩ, vui trọi gà, cờbạc, thích rượu ngon, mê tiếng hát, ham săn bắn, lo làm giàu, quyến luyến vợcon… Theo quan niệm của Trần Quốc Tuấn, thái độbàng quan không chỉlà sựthờơ nông cạn mà còn là sựvong ân bội nghĩa trước mối ân tình của chủtướng. Sựham chơi hưởng lạc không chỉlà vấn đềnhân cách mà còn là sựvô trách nhiệm khi vận mệnh đất nước đang ngàn cân treo sợi tóc. Trần Quốc Tuấn cũng chỉrõ cho họthấy hậu quảtai hại khôn lường: nước mất nhà tan, thanh danh mai một, tiếng xấu đểđời, đó là cảnh đau xót biết chừng nào.
Sựphê phán nghiêm khắc của Trần Quốc Tuấn bắt nguồn sâu xa từlòng yêu thương chân thành với tướng sĩ và từtình yêu Tổquốc thiết tha cháy bỏng của ông. Tất cảlà nhắm đểđánh bạt những tư tưởng dao động, bàng quan giành thếáp đảo cho tinh thần quyết chiến quyết thắng. Quyết chiến quyết thắng kẻthù chính là tư tưởng chủđạo của bài Hịch, là thước đo cao nhất, tập trung nhất tư tưởng yêu nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. | Qua bài Hịch tướng sĩ, em cảm nhận như thế nào về vị anh hùng dân tộc, danh tướng Trấn Quốc Tuấn_ | 1,140 | |
Qua bài thơ Bánh trôi nước và Tự tình II của Hồ Xuân Hương anh chị hiểu gì về người phụ nữ Việt Nam thời trước
Hướng dẫn
Qua bài thơ Bánh trôi nước và Tự tình II của Hồ Xuân Hương anh chị hiểu gì về người phụ nữ Việt Nam thời trước
Bài làm
Trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, người phụ nữ là đối tượng của áp bức bất công của nhiều rằng buộc khắt khe đến phi lí. Thấu hiểu, đồng cảm, thương xót cho họ, không ít nhà văn, nhà thơ thời Trung đại đã lên tiếng ca ngợi và bênh vực.
Có thể nói ngày nay, vị trí của người phụ nữ đã được đề cao, tôn avinh hình ảnh, người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc sống và đã để lại nhiều hình ảnh bóng sắc trong văn học hiện đại. Nhưng thật đáng tiếc thây, trong xã hội thời trước người phụ nữ phải chịu một số phận đầy bi kịch và đáng thương.
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Câu thơ trên đã hơn một lần xuất hiện trong sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du nó giống như một điệp khúc, một lời ca lời thán, nói ra cũng chẳng ai hay, chẳng ai hiểu. “Thân em như con bọ ngựa chao chược mà thôi”, “thân em như con ong con kiến”, thân phận phụ nữ thật nhỏ bé, cứ lam lũ qua ngày này đoạn tháng. Đây là những câu ca thán khá phổ biến trong văn học Việt Nam. Trong “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương. Ta có thể thấy rõ được số phận của người phụ nữ xưa. Số phận phải phó mặc, không thể nắm giữ trong tay mình. Tất cả là do những hũ tục, những quan niệm xưa cũ thời phong kiến trọng nam khinh nữ đã tạo ra những xiềng xích, những bất công oan trái mà người phụ nữ cứ bị ảnh hưởng, không biết làm gì để thoát khỏi, trở nên chỉ biết cam chịu. Ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh đó trong các tác phẩm văn học dân gian. Người phụ nữ ngày xưa thường có một vẻ đẹp đoan chính, mang đủ phẩm chất công dung ngôn hạnh. Họ đẹp nhất là từ sâu trong tâm hồn. Mỗi người thường mang một vẻ đẹp khác nhau, và trong các tác phẩm mỗi tác giả sẽ khắc họa vẻ đẹp đó theo những cảm nhận riêng biệt. Như trong tác phẩm của Hồ Xuân Hương, hình ảnh người con gái trong “Bánh trôi nước”.Cả bài thơ là một hình ảnh nhân hóa, Hồ Xuân Hương đã nhìn và phát hiện ra nhiều nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi với cuộc đời người phũ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều với thân hình vừa trắng lại vừa tròn, mang một vẻ đẹp đầy đặn, dân dã. Đây là một vẻ đẹp mộc mạc tự nhiên nhất của người con gái nhưng không kém phần duyên dáng khỏe mạnh, đây chính là hình tượng hay lam hay làm, người con gái lao động ở chốn thôn quê. Hay ở trong tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, đây là những tiểu thư mang trong mình vẻ đẹp hoa gen nguyệt thẹn, mai cốt cách tuyết tinh thần. Mang nét đẹp nhẹ nhàng, thoát tục, yếu đuối như cành mai. Mỗi người đều có một lựa chọn cho hình tượng người con gái, người phụ nữ. Nhưng tất cả đều có một số phận bảy nổi ba chìm với nước non. Họ đều là nhưng người phụ nữ, những cô gái có tâm hồn cao quý, trong trắng như băng tuyết thanh cao….Nhưng…cuộc đời họ lại chìm, nổi, lênh đênh giữ dòng nước cũng chính là dòng đời, họ không thể tự mình làm chủ được số phận của mình. Hồng nhan bạc mệnh là thế, càng xinh đẹp họ lại phải chịu số phận thăng trầm, đau khổ tột cùng, chịu quá nhiều sự bất công trên đời. Đớn đau thay thân phận người phụ nữ.
Thân em như hạt mưa xa
Hạt vào đài cát, hát ra ruộng cày
Thân em như tâm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Số phận của họ vào thế bị động, phải phụ thuộc vào người khác, những gã đàn ông chỉ lấy phụ nữ làm trò mua vui. Nắm giữ số phận của chính mình là một niềm khát khao, nhưng quá mù mịt vì xã hội phong kiến đã trói buộc họ quá chặt. Trong tác phẩm Tự tình của Hồ Xuân Hương, ta dễ dàng thấy được sự cô đơn, buồn tủi đang bủa vây. Số phận người phụ nữ trở nên quá hẩm hiu, rẻ mạc như một món hàng nhưng người phụ nữ cũng đầy bản lĩnh khi dám đem ra để thách thức với xã hội. Đây cũng chính là mong muốn lay tĩnh tất cả người phụ nữ bấy giờ, Hồ Xuân Hương mong muốn, người phụ nữ phải có ý thức rõ về cuộc sống, về phẩm chất của mình. Phải cố gắng kiên trì để gìn giữ tấm lòng son, dù “rắn nát mặc dù tay kẻ nặn- mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Đây cũng chính là lời khẳng định giá trị đáng quý của người phụ nữ. dù tình duyên hay số phận của họ đều không được thuận lợi.
Số phận người phụ nữ thời xưa đều phải chịu bao nhiêu oan khuất, bất hạnh. Ngày nay, chúng ta được sống trong một xã hội văn minh, tiến bộ hơn. Người phụ nữ cũng được đề cao coi trọng. Bên cạnh đó cũng còn biết bao người phụ nữ vẫn phải chịu bất hạnh. Vì vậy, chúng ta không chỉ cần phải biết để sẽ chia thông cảm, mà còn cần phải chiêm nghiệm và suy nghĩ. Từ đó, ta càng thấy trân trọng và đồng cảm hơn cho những người phụ nữ kém may mắn. | Qua bài thơ Bánh trôi nước và Tự tình II của Hồ Xuân Hương anh chị hiểu gì về người phụ nữ Việt Nam thời trước | 1,022 | |
Qua bài thơ “Sông núi nước Nam” hãy làm sáng tỏ nội dung tinh thần yêu nước của thơ ca trung đại Việt Nam
Bài viết văn của bạn Sơn Tùng đến từ Đà Nẵng gửi đến ban biên tập website.
Bài làm
Ở nước ta , thời trung đại đã có một nền thơ rất phong phú và hấp dẫn . Thơ trung đại Việt Nam có rất nhiều tác phẩm thơ văn có giá trị lớn và được ông cha ghi lại và lưu truyền cho đến tận thời nay . Trong đó chủ đề về tinh thần yêu nước hay tình cảm nhân đạo rất phổ biến . Và bài thơ “Sông núi nước Nam” là một trong những thi phẩm xuất sắc trong giai đoạn này . Bài thơ đã thể hiện được tinh thần dân tộc , tình yêu nước và lòng tự hào trước những chiến công hào hùng của quân dân ta .
Trong nền văn học nói chung và thơ trữ tình trung đại Việt Nam nói riêng , tinh thần hay cảm hứng yêu nước từ lâu đã là một nội dung lớn và tiêu biểu . Gắn bó với một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt , thời đại hào hùng đấu tranh chống ngoại xâm dường như đất nước và dân tộc là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn , nhà thơ. Do đó , tình cảm yêu nước và tự hào dân tộc đã trở thành cảm hứng chủ đạo cho các sáng tác văn chương thời kì này . Có thể nói nội dung yêu nước được thể hiện rất phong phú . Nó thể hiện ở lòng tự hào của dân tộc hay tinh thần quyết chiến quyết thắng ..v.v.. Nhìn lại các sáng tác thời Lý – Trần , tuy tình cảm đất nước bộc lộ ở những khía cạnh khác nhau , trong những thời điểm khác nhau nhưng đều rất sâu sắc .Đa số các tác phẩm với tinh thần yêu nước của thơ trung đại Việt Nam đều khẳng định chủ quyền về lãnh thổ , nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước .
Sông núi nước Nam
Cụ thể ở trong bài thơ “Sông núi nước Nam ” của Lý Thường Kiệt chúng ta đã từng thấy dõng dạc vang lên trong bài thơ là tiếng nói đầu tiên như âm vang từ khí thiêng sông núi dội về :
” Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở “
Trong bản nguyên tác , tác giả đã sử dụng từ “đế” thay từ “vương” để khẳng định quyền bình đẳng ngang hàng với phương Bắc . Trời , đất , nước Nam là của vua Nam , do vua Nam cai trị lãnh đạo chứ không phải là một mảnh đất vô chủ mà những nước khác có thể tự ý sang xâm chiếm . Một mảnh đất có vua nước Nam , có người dân nước Nam thì cớ gì lại để cho người khác chiếm lấy ? Muốn khẳng định đây không phải là lời nói suông , tác giả đã đưa ra dẫn chứng ở câu thứ hai :
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư “
( Vằng vặc sách trời chia xứ sở )
Dùng từ “tiệt nhiên” có ý biểu thị một nội dung theo lẽ vô cùng tự nhiên , mà điều tự nhiên ấy lại là việc mà đã nói ở câu trên được sách trời ghi lại . Ta hiểu rằng ranh giới lãnh thổ nước Nam đã được sách trời bao nhiêu đời nay định sẵn , sông núi nước Nam phải là của vua nước Nam , lãnh thổ nước Nam không ai có quyền xâm lấn , định đoạt ngoại trừ vị vua Nam trị vì . Ngoài ra tác giả còn nhận định rằng : nước đã có chủ thì nên sống và cai trị nước đó thật tốt chứ không nên tranh giành , xâm chiếm đất nước của người khác . Mọi người chỉ có thể nên giúp đỡ nhau chứ không tranh giành để gây ra chiến tranh . Bởi chiến tranh làm cho cuộc sống con người ta trở nên khổ cực , gây nên đau khổ và chia ly .
Chúng mày nhất định phải tan vỡ”
Nếu hai câu thơ đầu khẳng định chủ quyền lãnh thỗ thì hai câu sau nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước .
Câu thơ thứ ba là một câu hỏi tu từ hướng đến bọn giặc . Nó thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ . Ngạc nhiên bởi chủ quyền nước Nam đã ghi rõ trên sách trời vậy mà một đất nước tự xưng là con trời lại dám phạm đến , trái lệnh trời . Khinh bỉ vì chúng chỉ là lũ giặc ngỗ ngược, ngang tàn. Như vậy, tác giả đã đặt dân tộc ta vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa , chủ quyền độc lập của dân tộc .
Câu thơ cuối cùng là lời cảnh báo bọn giặc . Một khi lũ giặc bỏ ngoài sự răn đe , bất chấp quy định mang tính tất yếu ấy , cố tình phạm đến chủ quyền Đại Việt cũng là lúc đôi chân chúng bước vào lầm lỗi không chỉ với toàn thể người Nam mà còn đắc tội , xúc phạm tới tôn nghiêm về đạo trời . Chúng hành động ngông cuồng , chúng chọn cuộc chiến phi nghĩa cũng là chọn kết cục bi thảm của bản thân . Ở đây tác giả đã đanh thép khẳng định kết cục bi thảm , ê chề , nhục nhã , bi đát của kẻ cướp nước , dẫm đạp lên luật trời , coi thường đạo lý . Sức mạnh chính nghĩa , lòng tự tôn dân tộc sẽ là rào cản lớn nhất , tấm áo giáp bền bỉ nhất để người Nam trừng phạt những kẻ xâm lăng . | Qua bài thơ “Sông núi nước Nam” hãy làm sáng tỏ nội dung tinh thần yêu nước của thơ ca trung đại Việt Nam | 1,018 | |
Qua ca dao, người bình dân Việt Nam đã thể hiện được những tình cảm thiết tha và cao quý của mình. Lấy dẫn chứng là những bài ca dao đã được học, em hãy làm sáng tỏ nhận xét trên
Hướng dẫn
Ca dao không những là tiếng nói của khối óc mà chủ yếu còn là tiếng nói trái tim của nhân dân ta. Thật vậy, trong hàng ngàn năm sống, làm việc và chiến đấu đã qua, cha ông ta đã bày tỏ tình cảm buồn vui của mình trong vô vàn câu ca dao gợi cảm. Qua đó, chúng ta cảm nhận được những tình cảm thiết tha và cao quý của người Việt Nam mình thật rõ rệt.
Đầu tiên, tiếng nói trái tim ấy thể hiện khá sinh động tình yêu quê hương đất nước của cha ông ta. Đó là niềm tự hào, gắn bó khăng khít với bao danh lam thắng cảnh của nơi chôn nhau cắt rốn.
Điều này dễ hiểu. Thời xưa, điều kiện đi lại khó khăn, hiểu biết của mỗi người đều có hạn, ít ai hình dung được hết một dải gấm vóc non sống trải dài từ Bắc chí Nam của đất nước mình. Do vậy, mỗi người, ai cũng gắn bó máu thịt với làng mạc quê hương, ruộng lúa, bờ tre, ngọn rau, tấc đất của mình. Chính vì lẽ đó mà người dân xứ Lạng tự hào:
Đồng Đăng có phố Kì Lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bỏ công bác mẹ sinh thành ra em.
Người con của mảnh đất xứ Nghệ cũng hãnh diện về quê hương mình: Đường vô xứ nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Xưa kia hay ngay cả bây giờ, trong hàng triệu người Việt Nam, có biết bao người chưa một lần đặt chân đến Kinh Kì (Đông Đô, Thăng Long, Hà Nội), mảnh đất trái tim Tổ quốc. Thế nhưng ai lại không xúc động tâm hồn khi nghe thấy những lời ca thắm thiết:
Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Dù yêu một cây đa bến nước vô danh, hay yêu bức “họa đồ” của một vùng “non xanh nước biếc” hữu danh nào đó, thì đấy cũng là khởi điểm của tình yêu đất nước, là tình cảm cao quý, thiêng liêng đối với hồn thiêng sống núi Việt Nam.
Chính từ tình yêu cao cả ấy mà mỗi người Việt Nam xác định được một thái độ tình cảm đúng đắn, đối xử với nhau, “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách”, hỗ trợ nhau trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Khi ấy, lòng yêu nước thể hiện ra ở tình cảm đồng bào máu thịt:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Bầu và bí tuy là khác giống, nhưng vẫn là nghĩa chị tình em, vì cùng sinh trưởng chung trên một giàn. Con người đâu khác. Tuy nguồn gốc, hoàn cảnh và địa vị xã hội khác nhau, nhưng mọi người vẫn tồn tại trong cùng chung một đất nước. Trong quá trình dài lâu sống chung với nhau như thế, tình cảm hình thành, phát triển, trong ngôn ngữ Việt Nam chúng ta có từ đồng bào để chỉ “người trong một nước”. Từ đó, một câu ca dao đầy gợi cảm đã nảy sinh từ nghìn xưa, đến nay ai ai cũng nhớ nằm lòng:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Trong ca dao Việt Nam, tình yêu đất nước đồng bào thiết tha, nồng thắm bao nhiêu thì tình cảm gia đình càng thiết tha nồng thắm bấy nhiêu. Điều này đã rõ. Gia đình từ nghìn xưa vốn là đơn vị cơ bản của đất nước. Gia đình thuận hòa, êm ấm là góp phần làm nền một xã hội phồn vinh hạnh phúc. Aicũng biết trong tình cảm gia đình, cao quý nhất là tình cảm của con cái đối với các bậc sinh thành. Ca dao có biết bao câu tuyệt đẹp về mối quan hệ này:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kinh cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đặc biệt, ca dao có những câu tuyệt đẹp về tình cảm mẹ con:
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.
Vì thế, khi chia xa, phải rời mẹ, có người con nào không khỏi bâng khuâng đau xót:
Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.
Trân trọng tình cảm gia đình, nhân dân ta đề cao tình yêu vợ chồng gắn bó nồng thắm, thủy chung. “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”. Cả trong cảnh ngộ đói nghèo, khổ cực, người bình dân vẫn yêu đời:
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.
Bởi lẽ họ nghĩ là:
Thà rằng ăn bát cơm rau
Còn hơn cá thịt nói nhau nặng lời.
Trong cuộc sống, nhân dân phải làm việc vất vả, thường xuyên va chạm với biết bao trở ngại chông gai, hiểm nguy, cùng cực, nhưng từ nghìn xưa, người lao động vẫn luôn giữ được lòng son sắt với cuộc đời, Có gì nhọcnhằn hơn công việc một nắng hai sương, dầm mưa dãi gió, để mong sao có được “dẻo thơm một hạt”. Thế mà họ làm nên được bao khúc hòa ca lao động:
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Mỗi thành viên một việc làm, kể cả con trâu nữa chứ! Đủ thấy đối với nhà nông, thật đúng “con trâu là đầu cơ nghiệp”, nên được họ yêu thương biết mấy. Thử nghe lời họ thủ thỉ với con trâu:
Trâu ơi! Ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Gắn bó khắng khít với thiên nhiên, hơn ai hết, người nông dân cảm thấy yêu mến, hãnh diện trước bức tranh thiên nhiên hào phóng, tươi đẹp, có cả phần xương máu, mồ hôi của cha ông bao đời, của cả chính mình góp phần tô điểm:
Đứng bên niđồng, ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng bát ngát mênh mông
Thân em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Chính lòng yêu đời, niềm lạc quan, đã giúp người lao động vượt lên mọi gian khổ để vui sống, vững tin:
Công lênh chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Cho dù phải lâm vào cảnh đời đau thương tủi cực, phải lỡ bước sa chân, người nông dân hướng thiện, trước sau vẫn giữ vẹn một tấm lòng nhân hậu thủy chung, nào khác con cò trong câu ca dao gợi cảm: dù chết vẫn muốn được chết trong sạch, thanh cao:
Có xáo thời xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Bởi vậy, có người so sánh vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân với hoa sen:
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Là phương tiện để bày tỏ tiếng nói trái tim, nói chung, ca dao đã thể hiện khá sinh động, tuy chưa phải là đầy đủ và toàn diện những sắc thái tình cảm thiết tha và cao quý của nhân dân lao động, nhưng cũng đủ cho ta thấy một đời sống tinh thần phong phú, đa dạng của những người đã sản sinh ra nó.
Ngày nay đọc lại, ai cũng thấy ngoài giá trị nghệ thuật văn chương, ca dao còn có giá trị nhân văn to lớn.
Cảm nhận về bài ca dao sau:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Bài làm
Hình ảnh quê hương đất nước được nói đến nhiều trong ca dao, dân ca. Có “đường vô xứ Nghệ quanh quanh – Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Nơi ải Bắc xa xôi là “Đồng Đăng có phô" Kì Lừa – Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”, Huế đẹp mộng mơ có “Núi Truồi ai đắp mà cao – Sống Hương ai bới, ai đào mà sâu?…”. Và có cảnh sáng sớm mùa thu trên Hồ Tây, nơi kinh thành Thăng Long “ngàn năm văn vật”:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Bài ca dao mang màu sắc một bài thơ cổ điển, đẹp như một bức tranh thuỷ mặc.
Cảnh vật Hồ Tây được miêu tả thật nên thơ: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh hài hòa, sống động. Những khóm trúc ven hồ, cành lá um tùm rậm rạp, đeo nặng sương mai “la đà” sát mặt nước, sát mặt đất, rung rinh, đu đưa trước làn gió nhẹ. Từ láy tượng hình “la đà” – một nét vẽ thoáng và gợi cảm, đầy ấn tượng:
Gió đưa cành trúc la đà,
Cây tre, cây trúc rất gần gũi, thân thuộc với con người Việt Nam. Tre, trúc là cảnh sắc làng quê. Tre, trúc là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn người thiếu nữ quê ta:
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh.
Sau khi tả cành trúc, tác giả nói về âm thanh gần, xa:
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Câu ca dao ngắt thành hai nhịp chẵn 4-4, hai vế tiểu đối cân xứng, hòa hợp như âm thanh tiếng chuông đền Trấn Vũ và tiếng gà gáy sang canh từ làng Thọ Xương vọng tới. Đền Trấn Vũ còn gọi là đền Quan Thánh nằm cạnh Hồ Tây là nơi thờ đức Huyền Thiên Trấn Vũ. Tiếng chuông Trấn Vũ ngân lên trong sương sớm như ru hồn người vào huyền thoại, lắng hồn núi sống ngàn năm, để ta yêu hơn non nước quê nhà: “Quán Trấn Vũ nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam Rùa” (Tụng Tây Hồ phú – Nguyễn Huy Lượng). Tiếng gà gáy sang canh… lại làm ta tỉnhmộng, song lại nhịp sống đời thường dân đã “Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày, tay dắt con trâu…”.
Cùng với tiếng gà gáy báo sáng là nhịp chày giã đó làm giấy ở phường Yên Thái vang lên rộn rã, nhịp nhàng. Lụa làng Trúc, giấy Yên Thái là sản phẩm nức tiếng kinh kì Thăng Long từ thời nhà Lí xa xưa, là niềm tự hào của những người thợ thủ công tài hoa:
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
May áo chàng cùng sóng áo em.
(Ca dao)
Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co
Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ
Thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm…
(Tụng Tây Hồ phú)
Tiếng gà gáy, tiếng chày giã đó đã diễn tả nhịp sống lao động cần mẫn của nhân dân ta nơi ba mươi sáu phố phường. Qua âm thanh ấy, ta cảm nhận được cuộc sống sôi nổi của nhân dân ta một thời thanh bình, no ấm và yên vui.
Nhà thơ dân gian như đang đứng trầm ngâm, lặng ngắm cảnh Hồ Tây lúc sáng sớm.
Mùa thu, sáng sớm cảnh vật phủ mờ sương khói. Phốphường, làng mạc, cảnh vật, cỏ cây “mịt mờ” trong “ngàn sương” và “khói tỏa”. Sương phủ trắng bao la; mênh mông và mịt mù. Huyền ảo và thơ mộng quá. Câu thơ cổ kính, chứa chan thi vị:
Mịt mù khói tỏa ngàn sương.
Từ láy tượng hình “mịt mờ” và hình ảnh ẩn dụ “ngàn sương” đã làm cho câu ca dao mang màu sắc cổ điển, dẫn dắt cảm xúc người đọc liên tưởng đến những vần cổ thi.
Cuối bài ca dao là hình ảnh Hồ Tây trong sương sớm được ví với “mặt gương”. Biện pháp tu từ ẩn dụ được vận dụng thần tình, vẽ lên một cảnh sắc tuyệt đẹp: “Mặt gương Tây Hồ”. Hồ Tây yên tĩnh mênh mông và bao la, nước trong xanh, phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ. Hồ Tây, qua hàng nghìn năm là một thắng cảnh của thành Thăng Long cốđô của các triều đại Lí, Trần, Lê, chói lọi trong sử sách, biểu tượng thiêng liêng của hồn nước nghìn năm. Ngày nay, nó là Hà Nội, thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bài ca dao làm đẹp tâm hồn mỗi con người Việt Nam, nó làm ta thêm yêu Hà Nội. Nhớ Thăng Long nghìn xưa, lòng ta bồi hồi tự hào về nền văn hiến Đại Việt.
Cảm nghĩ vềbài ca dao:
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông.
Thân em nhưchẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Bài làm
Bài ca dao này có hai cái đẹp: cái đẹp của cánh đồng và cái đẹp của cô gái thăm đồng. Cả hai cái đẹp đều được miêu tả rất hay. Cái hay ỗ đây là cái hay riêng của bài ca dao này, không thấy có ở bất kì một bài ca dao nào khác.
Phân tích bài ca dao này, nhiều người thường chia ra hai phần: phần trên (hai câu đầu) là hình ảnh cánh đồng; phần dưới (hai câu cuối) là hình ảnh cô gái thăm đồng. Thực ra không hoàn toàn như vậy. Bởi vì, ngay từ hai câu đầu, hình ảnh cô gái thăm đồng đã xuất hiện hết sức rõ nét và sống động. Cụm từ “mênh mông bát ngát” được đặt ở vị trí cuối cùng. Trước đó, trước khi nói đến sự mênh mông bát ngát của cánh đồng, cô gái đã tự miêu tả và giới thiệu rất cụ thể về chỗ đứng cũng như cách quan sát cánh đồng của mình. Hình ảnh cô gái thăm đồng hiện lên với tất cả dáng điệu của một con người năng nổ, tích cực. Đứng “bên ni” rồi lại đứng “bên tê” để ngắm nhìn, quan sát cánh đồng từ nhiều phía, dường như cô muốn thâu tóm, nắm bắt, cảm nhận cho thật rõ tất cả cái mênh mông bát ngát của đồng lúa quê hương.
Cả hai câu đầu đều không có chủ ngữ, khiến cho người nghe, người đọc rất dễ đồng cảm với cô gái, tưởng chừng như đang cùng cô gái đi thăm đồng, đang cùng cô “đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng…” và ngược lại. Nhờ vậy mà cái cảm giác về sự mênh mông, bát ngát của cánh đồng cũng lan truyền sang ta một cách tự nhiên và ta cảm thấy như chính mình đã trực tiếp cảm nhận, rút ra và nói lên điều đó.
Nếu như ở hai câu đầu, cô gái phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ cánh đồng lúa quê hương để chiêm ngưỡng sự “bát ngát mênh mông” của nó, thì ở hai câu cuối, cô gái lại tập trung ngắm nhìn, quan sát và đặc tả riêng một “chẽn lúa đòng đòng” và liên hệ so sánh với bản thân mình một cách rất hồn nhiên:
Em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ giữa ngọn nắng hồng buổi mai.
Từ “em” ở đầu câu trên có người ghi là “thân em”. Trong ca dao truyền thống, nhất là trong ca dao tình yêu, những từ “em” và “thân em” được dùng khá phổ biến. Nói chung đó là những từ có nghĩa khác nhau, nhưng riêng trong bộ phận ca dao than thân, hai từ đó lại được dùng và được coi là đồng nghĩa. Ví dụ:
Thân em như con cá rô thia
Ra sống mắc lưới, vào đìa mắc câu.
Em như con hạc đầu đình
Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay.
Ở bài ca dao này, dùng từ “em” thích hợp hơn cụm từ “thân em”. Vì đây không phải là ca dao than thân. Hơn nữa, hai câu đầu của bài ca dao này đã được làm theo thể thơ tự do (mỗi câu kéo dài trên mười tiếng), nếu câu thứ ba dùng từ “em” thì hai câu cuối sẽ trở về với thể thơ lục bát chính thức, nghiêm chỉnh, như thế hiệu quả thẩm mĩ sẽ cao hơn.
Hình ảnh “chẽn lúa đòng đòng” tượng trưng cho cô gái đang tuổi dậy thì căng đầy sức sống. Hình ảnh “ngọn nắng” thật độc đáo. Có người cho rằng đã có “ngọn nắng” thì cũng phải có “gốc nắng”và “gốc nắng” chính là mặt trời vậy.
Bài ca dao quả là một bức tranh tuyệt đẹp và giàu ý nghĩa.
Bình giảng bài ca dao sau:
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bẽn ni đồng, cũng bát ngát mênh mông
Thân em như chẽn lúa đòng đòng.
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Bài làm
Có câu hát nào đẹp như ca dao dân ca? Ca dao dân ca đã hòa nhập một cách hồn nhiên, kì diệu vào tâm hồn tuổi thơ của mỗi người. Ca dao dân ca Việt Nam giàu bản sắc, vô cùng đẹp đẽ và phong phú. Nó là tiếng hát tâm tình nơi bờ xôi ruộng mật, nơi bến cũ đò xưa., lưu truyền trong dân gian, phản ánh cuộc sống và ước mơ của nhân dân ta từ bao đời nay. Có những khúc hát ru ngọt ngào chứa chan tình nghĩa. Có những bài hát giao duyên say đắm lòng người. Có những bài ca nói về đất nước quê hương, với nương dâu, ruộng lúa, với hình ảnh người dân quê một nắng hai sương, cần mẫn, hiền lành, đáng yêu. Cánh cò “bay lả bay la”, có đầm sen “lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”. Cô thôn nữ tát nước đêm trăng “múc ánh trăng vàng để đi”,… tất cả đều đem đến cho lòng ta biết bao niềm thương nỗi nhớ. Ấy là ca dao. Ấy là tuổi thơ của mỗi chúng ta.
Cánh đồng làng quê và hình ảnh cô thôn nữ được nói đến trong bài ca dao sau đây là hình ảnh thân thuộc đáng yêu đối với mỗi người Việt Nam từ ngàn xưa:
Đứng bên ni đồng ngó bên tể đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Ca dao thường được viết bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài ca dao này, nhà thơ dân gian đã viết bằng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ. Cô thôn nữ không làm chuyện văn chương thơ phú như ai, mà cô chỉ nói lên những rung động, những cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên của lòng mình khi ngắm nhìn cánh đồng lúa thân yêu của làng mình. Trước mắt là cánh đồng lúa “bát ngát mênh mông… mênh mông bát-ngát”, thẳng cánh cò bay, càng trông càng “ngó”, càng thích thú tự hào. Câu ca dài mãi ra cũng với chân trời, với sóng lúa:
Đứng bên ni đồng ngó bên têđồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên têđồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông.
“Ngó” gần nghĩa với với nhìn, trông, ngắm nghía… Từ “ngó” rất dân dã trong văn cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn không chán mắt, một cách quan sát kĩ càng. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng”, dù ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước sự “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” của cánh đồng thân thuộc. Hai tiếng “bên ni” và “bên tê” vốn là tiếng nói của bà con Thanh, Nghệ dùng để chỉ vị trí “bên này”, “bên kia”, được đưa vào bài ca thể hiện đức tính mộc mạc, chất phác của cô thôn nữ, của một miền quê. Nghệ thuật đảo từ ngữ “mênh mông bát ngát // bát ngát mênh mông” góp phần đặc tả cánh đồng lúa rộng bao la, tưởng như không nhìn thấy bến bờ “lúa hai mùa cuộn sóng, đến chân trời”… Có yêu quê hương tha thiết mới có cái nhìn đẹp, cách nói hay như thế!
Tục ngữ có câu: “Ngắm núi, nhìn sống, trông đồng, trông chợ”. Nghĩa là ngắm nhìn sống núi để biết xứ lạ ít hay nhiều nhân tài; trông đồng, trông chợ mà biết miền quê giàu hay nghèo. Cánh đồng lúa là cảnh sắc của làng quê ta. Cánh đồng “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” nói lên sự giàu có của quê “em”. Bằng tấm lòng yêu mến, tự hào nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mảnh đất đã thấm biết bao máu và mồ hôi của ông bà tổ tiên, của đồng bào từ bao đời nay thì nhà thơ dân gian mới có thể viết nên những lời ca mộc mạc mà đằm thắm nghĩa tình đọc lên làm xao xuyến lòng người như vậy. Câu ca không hề nói đến màu xanh và hương thơm của lúa, sắc trắng của cánh cò “chớp trắng” trên nền trời xanh bao la, mà ta vẫn cảm thấy cái ngào ngạt của “hương lúa nếp thơm nồng”, “mùa thu hương cốm mới”, nơi bờ ruộng mật quyện lấy tâm hồn ta. Nhờ thế, ta yêu thêm đất mẹ quê cha, với hoài niệm tuổi thơ:
Đất hiền như tuổi thơ,
Cánh cò bay trong sắc trời lá mạ.
(Lê Anh Xuân)
. Hai câu tiếp theo nói về cô thôn nữ ra thăm đồng. Niềm vui sướng trào dâng trong lòng. Nhìn lúa tốt tươi rồi cô nghĩ về mình. Cô không mặccảm thân phận mình là “hạt mưa sa”, “là tấm lụa đào”, là “củ ấu gai”… như ai đó, thân phận vui ít buồn nhiều. Trái lại, cô đã so sánh mình với chẽn lúa đòng đòng trên cánh đồng quê hương. “Chẽn lúa” còn gọi là dảnh lúa, một bộ phận của khóm lúa. “Chẽn lúa đòng đòng" nói lên sự trưởng thành, sinh sôi nẩy nở, hứa hẹn một mùa nặng hạt, trĩu bông. Hình ảnh so sánh “Thân em như chẽn lúa đòng đòng” gợi tả một vẻ đẹp duyên dáng, xinh tươi, một sức lực căng tràn hứa hẹn. Đây là một hình ảnh trẻ trung, khỏe khoắn, hồn nhiên nói về cô gái Việt Nam trong ca dao, dân ca:
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
“Phất phơ” là nhẹ nhàng đung đưa, uốn lượn… “Chẽn lúa đòng đòng” phất phơ nhẹ bay trước làn gió trên đồng nội một buổi sớm mai hồng tuyệt đẹp. “Em” sung sướng hân hoan thấy hồn mình phơi phới niềm vui trước một bình minh đẹp. Có thể dùng hình ảnh “tia nắng”, “làn nắng” mà ý câu ca dao vẫn không thay đổi. Nhưng “ngọn nắng” hay hơn, sát nghĩa hơn, vì đó là làn nắng, tia nắng đầu tiên của một ngày nắng đẹp, ánh hồng rạng đông đang nhuốm hồng ngọn lúa đòng đòng xanh ngào ngạt.
Hai câu cuối bài ca hội tụ bao vẻ đẹp nói lên một tình quê vơi đầy. Vẻ đẹp màu xanh của lúa, màu hồng của nắng ban mai… vẻ đẹp duyên dáng, xinh tươi của cô thôn nữ và vẻ đẹp căng tràn nhựa sống của chẽn lúa đòng đòng trên cánh đồng bát ngát mênh mông. Qua đó, ta cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ chính xác, hình tượng và biểu cảm. Giá trị thẩm mĩ của bài ca là ở cách nói mộc mạc, bình dị mà hồn nhiên, đáng yêu. Hai tiếng “thân em” gợi ra trong lòng người thưởng thức ca dao, dân ca một trường liên tưởng về hình ảnh cô gái làng quê: trinh trắng, dịu dàng, cần mẫn, thuỷ chung… những nàng “môi cắn chỉ quết trầu”, rất đáng yêu, đáng nhớ? Đọc bài ca dao này có người tự hỏi: buổi sớm mai hồng của mùa xuân hay mùa thu? Mùa xuân mới có “ngọn nắng hồng ban mai” đẹp rực rỡ như thế. Vả lại đã có thiếu nữ thì phải có mùa xuân. Người đọc xưa nay vẫn cảm nhận là cô thôn nữ vác cuốc ra thăm đồng một sáng sớm mùa xuân đẹp.
Tóm lại, bài ca dao nói về mùa xuân, đồng xanh và thôn nữ. Cảnh và người rất thân thuộc, đáng yêu. Cảnh vừa có diện vừa có điểm, câu ca đồng hiện không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật “đơn sơ mà lộng lẫy”. Thơ lục bát biến thể sống động, lối so sánh ví von đậm đà, ý vị. “Thơ ca là sự chắt lọc tâm hồn, là tình yêu ta mơ ước…”. Đọc bài ca dao “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng…”, ta cảm thấy như thế, hương quê và tình quê làm vương vấn tâm hồn ta, đem đến cho ta “tình yêu và mơ ước”.
Bình giảng bài ca dao Bài ca chàng thợ mộc.
Bài làm
Tiếng hát giao duyên, tỏ tình của trai gái làng quê xưa được thể hiện trong ca dao, dân ca rất hay, rất đậm đà: “Gặp đây Mận mới hỏi Đào…”, “Hôm qua em đi hái dâu..”. “Tát nước đầu đình…”, và “Bài ca chàng thợ mộc”.
Với 20 câu lục bát đi liền một mạch, qua ánh mắt và nụ cười, chàng thợ mộc tài hoa và đa tình mượn chuyện chạm trổ của mình để tỏ tình với cô thônnữ.
Bốn câu đầu ấm áp với bao tình quê vơi đầy. Chàng trai đã xưng danh, xưng nghề, xưng quê hương bản quán. Cũng như nhiều thiếu nữ khác đã bẽn lẽn nói về mình: “Em là cô gái đồng trinh…”, “Em là con gái kẻ Mơ…”, chàng trai thật đàng hoàng tự tin nói với cô thôn nữ:
Anhlà thợ mộc Thanh Hoa
Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay!
Lựa cột anh dựng đòn tay,
Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề.
Tục ngữ có câu: “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Kinh Kì”, hoặc: “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Thuận Quảng”. Thợ mộc dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ được gọi là phó cả. Chỉ có thợ mộc làm cung điện vua chúa mới được gọi là thợ cả. Xây cung điện thời Lê – Trịnh, thời Nguyễn sau này, phần lớn là thợ mộc Thanh Hoa. Câu đầu của bài ca dao này có dị bản ghi là “Anh làm thợ mộc Thanh Hoa”, vì quen miệng theo đà ba chữ “làm” trong câu ca thứ hai nên mới nhầm lẫn như vậy! Một chữ “là” biểu lộ biết bao tự hào về quê hương bản quán, về nghề nghiệp truyền thống của mình. Không phải là một tay “đục đẽo” tầm thường, mà anh chính là thợ mộc Thanh Hoa từng xâydựng cung điện, nổi danh tài ba. Ba câu tiếp theo, anh tự khẳng định mình là một người làm ăn giỏi, một thợ mộc giỏi toàn diện, nổi danh tài ba, biết “Làm cầu, làm quán, làm nhà”, biết “lựa cột dựng đòn tay”, biết “bào trơn đóng bén”. Hai chữ “khéo thay” là tự khen, tự khoe tài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên rất dễ thương và được chúng ta đồng tình. Vả lại, thói đời xưa nay vẫn thế “Gái tham tài, trai tham sắc”. Câu 3, 4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài cán gì ở cái việc “bào trơn, đóng bén…” mà khoe?
Mười câu ca dao tiếp theo, bằng biện pháp liệt kê, anh thợ mộc Thanh Hoa nói với cô thiếu nữ về nghệ thuật chạm trổ về những con giống. Mỗi con vật được chạm trổ đều có đôi, có đàn; con nào cũng đều mang một hình thù, một dáng vẻ khác nhau, trong trạng thái động. Nghệ thuật chạm trổ đạt đến trình độ cực kì điêu luyện, sáng tạo, đẹp mắt và hấp dẫn.
Đình đền, cung điện… mới chạm rồng; vật linh thiêng trong nhóm tứ linh: long, li, quy, phượng. “Long vân giao hội”… là những bức thêu, bứcchạm đã được nghệ thuật cổ phương Đông quy phạm, làm biểu tượng cho cái đẹp, cho uy quyền của đế vương. Anh thợ mộc Thanh Hoa cũng chạm rồng, nhưng chỉ là “Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo”. Con rồng dưới bàn tay chạm trổ của anh đã được cách điệu đậm đà màu sắc nghệ thuật dân gian, và trong một chừng mực nào đó, nó gợi ra một khát vọng sống trong sinh sôi nảy nở, trong hạnh phúc tròn đầy, tươi vui.
Bốn cửa anh chạm bốn dê,
Bốn con dê đực chầu về tổ tông.
Dân gian quan niệm con quạ và con dê là hai loài vật tình nghĩa nhất. Đã từng có lời ca truyền tụng:
Quạ còn mớm mồi lại,
Dêcòn giữ lễ quỳ,
Khuyên ai đạo làm con,
Đọc sách nên có hiểu.
Bức chạm “Bốn con dê đực chầu về tổ tông” biểu lộ một cách kín đáo về một tấm lòng ân nghĩa thuỷ chung, thoáng hiện chất hóm hĩnh, tinh nghịch, phong tình. Sau lời giới thiệu chạm bốn con dê đực là một tiếng cười khẽ đưa duyên…
Anh khoe tài, không chỉ biết chạm dê, chạm rồng mà còn biết chạm những con vật gần gũi với đời sống dân dã, gắn bó với mọi người nơi đồng nội, trong vườn tược của mỗi gia đình chốn quê:
Bốn cửa anh chạm bốn hoa,
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.
Bốn cửa anh chạm bốn đèn,
Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ.
Mèo bắt chuột, gà gáy… con vật nào cũng đáng yêu, có ích, sống động, biểu tượng cho đức tính chăm chỉ, cần mẫn, hay lam hay làm. Bức chạm lươn thật kì lạ! “Thân lươn bao quản lấm đầu” ấy đã được chàng thợ mộc Thanh Hoa chạm trổ rất bay bướm và có thần:
Bốncửa anh chạm bốn lươn,
Con thì thắt khúc, con trườn bò ra.
“Thắt khúc” và “trườn bò ra” là hai nét chạm cực khéo, làm cho con vật đơn sơ, bình dị được nghệ thuật “thổi hồn vào”. Có thể nói, năm bức chạm dê, chạm rồng, chạm mèo, chạm gà, chạm lươn, bức nào cũng sống động, khéo léo, tài ba. Qua những bức chạm ấy, anh thợ mộc Thanh Hoa kín đáo thổ lộ với người bạn tình một nỗi ước mong về cuộc đời có âm dương, có đôi lứa, có no đủ sung túc, có hòa hợp yên vui, được sống hạnh phúc trong một mái ấm gia đình do tài năng anh tự vun đắp nên.
Nói xa rồi anh nói gần, anh đã làm cho thiếu nữ “Lặng nghe lời nói như ru..”, Chàng thợ mộc giới thiệu bức chạm hoa:
Bốn cửa anh chạm bốn hoa,
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.
Có hoa thì hương thơm ngào ngạt như hoa sói. Có hoa thì rực rỡ “Nhị vàng, bông trắng, lá xanh – Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” như hoa sen. Bức chạm này cũng gởi gắm bao nét tài hoa, thơ mộng, bởi lẽ “Lòng đời chắc nặng lắm – Hoa sói hoài không thôi” (Hoa về – Huy Cận).
Sau bức chạm hoa là bức chạm đèn. Mỗi cây đèn soi tỏ một nét tâm tình dưới tổ ấm gia đình hạnh phúc. “Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ” hướng về cô nàng khéo tay hay làm. Cây đèn thứ ba: “Một đèn đọc sách ngâm thơ” chiếu sáng một tâm hồn thanh cao nho nhã. Cây đèn thứ tư là “cây đèn thần”, cây đèn ước hẹn chờ mong “đèn thương nhớ ai – mà đèn không tắt”,… Lời tỏ tình thật hồn nhiên, chân tình, duyên dáng:
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.
Đó là một tiếng nói yêu thương, nồng nàn, dịu ngọt, một tiếng nói có mùi thơm của hương hoa, có ánh sáng của lửa đèn và chứa chan hi vọng về ngày mai hạnh phúc.
Tóm lại, bài ca dao Bài ca chàng thợ mộc là một trong những bài ca dao tỏ tình hay nhất, ý vị nhất. Tất cả 20 câu lục bát là lời độc thoại của chàng thợ mộc về quê quán, nghiệp nghề, về tài hoa.. Anh thợ mộc Thanh Hoa khoe tài để tỏ tình. Con người tài hoa, đa tình ấy mới đáng yêu làm sao!
Cấu trúc vần thơ, câu thơ cân xứng kết hợp với các biện pháp điệp ngữ, liệt kê làm cho lời tỏ tình trở nên duyên dáng, hồn nhiên, dung dị như tấm lòng hồn hậu, chan chứa yêu thương và khát khao hạnh phúc lứa đôi của chàng thợ mộc Thanh Hoa. Câu ca nào cũng ngọt ngào đằm thắm để thương để nhớ trong lòng người bao lâu nay một vẻ đẹp tình tứ, duyên dáng cân xứng, hài hòa. Cuộc sống vốn thế, tình yêu vốn thế:
Trên thì rồng ấp / /dưới thì rồng leo
Con thì bắt chuột / / con leo xà nhà
Đêm thì nó gáy // ngày ra ăn vườn
Con thì thất khúc / / con trườn bò ra
Trên là hoa sói / / dưới là hoa sen
Một đèn dệt cửi / / một đèn quay tơ.
Bài ca chàng thợ mộc còn là một bài hát ngành nghề đậm đà ý vị mang tình quê hương. Con người có bàn tay vàng ấy đã đem tài nghệ, tài hoa làm đẹp cuộc đời, xây đắp hạnh phúc cuộc đời trong tình yêu và hi vọng: Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.
Có thực tài và dám đàng hoàng đem tài hoa ra để tỏ tình, để giao duyên như chàng thợ mộc Thanh Hoa mới thật đáng yêu.
Trình bày cảm nhận về bài ca dao:
Đất Quảng Nam chưa mưa đà nhấm
Rượu hồng đào chưa thấm đã say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Hỏi nơi mô ơn trượng, nghĩa dày bằng ta.
Bài làm
Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao là‘ những viên ngọc quý. Kho tàng ca dao đất Quảng nói riêng cũng có nhiều bài tiêu biểu, được các nhà sưutầm nghiên cứu đánh giá cao. Bài ca dao dưới đây là một ví dụ:
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Hỏi nơi mô ơn trượng, nghĩa dày bằng ta.
Trước tiên phải nói rằng bài ca dao này có những dị bản, đó là đặc tính của văn học truyền miệng, về âm tiết, cũng có nhiều dị biệt, mà lâu nay đã có nhiều bài viết và bàn luận các từ chưa mưa đà (dấu huyền) thấm (chữ â)hay chưa mưa đã (dấu ngã) thắm (chữ ă) và “chưa nhấm (chữ â) đà (dấu huyền) say hay chưa nhắm(chữ ă)đã(dấu ngã) say.
Nội dung bài ca dao nói lên tình cảm đậm đà chung thủy của con người xứ Quảng đối với tao nhân mặc khách nói chung và tình cảm nam nữ nói riêng.
Cho dù một số từ có khác nhau về chữ, về dấu, một phần có thể do ngữ điệu phát âm từng vùng, nên kí tự có thể sai lệch. Nhưng hai câu đều nói lên một vùng đất màu mỡ, dù chưa mưa đất cũng đã đủ độ ẩm cho việc cấy trồng (chưa mưa đà thấm) hoặc đã cấy trồng rồi, trời chưa mưa cây cối vẫn đủ độ ẩm để xanh tốt (chưa mưa đã thấm).
Bài ca dao dùng chữ nhấm là chính xác. Ý nghĩa câu thơ đều nhằm nói lên thứ rượu ngon của địa phương đem đãi khách quý. Ởđây rượu ngon đến mức mới ngửi thấy hơi đã say. Câu thơ nói lên trọn tình trọn nghĩa với khách, mà ở đây là người bạn tình.
Hai câuđầu, các tác giả dân gian đã vận dụng các thể hứng, tỉ, phú… của thơ ca dân gian truyền thống để mở ra một không gian tình cảm nhằm chuyển đến đỉnh điểm của nội dung bài thơ cho hai câu tiếp theo.
Tình ta như chất đất đồng quê màu mỡ, như rượu quý quê hương thơm ngon. Hay nói một cách khác, tình ta như “bát nước đầy” dang tay mở rộng lòng ra đón mà bạn lại chưa hiểu hết cho. Hai câu thơ như nhắn gửi, như hờn dỗi của sự thầm trách đáng yêu:
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Hỏi nơi mô ơn trượng, nghĩa dày bằng ta.
Lời thơ mang sắc thái khuyên nhủ, giãi bày (bạn về nằm nghĩ gác tay) suy xét chín chắn và so sánh cân nhắc kĩ càng để đừng nhầm lẫn tình cảm của người “ơn trượng, nghĩa dày” với người vô ơn bạc nghĩa.
Tóm lại, bài ca dao mới đọc tưởng như chỉ nhằm đề cập cảnh giàu dẹp và tình người chung chung của đất Quảng. Nhưng thực ra, đây là một bài ca dao về tình bạn thủy chung, tình yêu nồng thắm của một đôi traigái, cụ thể hơn, đó là tình cảm của một chàng trai đất Quảng. Đây là một bài ca dao hay, giàu tính chân thực, một viên ngọc quý trong kho tàng ca dao, dân ca chẳng những của đất Quảng mà là của cả nước.
Suy nghĩ về câu ca dao:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Bài làm 1
Trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi chúng ta vẫn còn gặp những hiệntượng con cái bất hiếu, vô lễ với cha mẹ. Những hành vi vô đạo đực đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống đạo đức của dân tộc, xúc phạm đến tình mẫu tử thiêng liêng. Để khuyên răn, giáo dục họ về đạo làm con, ông cha ta từ xưa đã có một bài ca dao rất nổi tiếng mà không một người Việt Nam nào không thuộc:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Công cha nghĩa mẹ thật là to lớn và vô tận biết bao! Sự to lớn của công cha được ca ngợi, được sự so sánh với hình ảnh cao vời vợi của núi Thái Sơn, một ngọn núi cao nổi tiếng ở Trung Quốc, mà ngày xưa trong thơ văn, các nhà văn nhà thơ thường mượn hình ảnh này để nói lên cái lớn lao của sự vật. Và nước trong nguồn là dòng nước chảy không bao giờ cạn là hình ảnh được dùng để thể hiện sự vô tận, vô cùng của nghĩa mẹ, của công mẹ. Ca ngợi công lao vừa to lớn, vừa bất tận của cha mẹ, bài ca dao muốn nhắc nhở mọi người về bổn phận làm con, đạo làm con phải thờ mẹ kính cha, phải cho tròn chữ hiếu. Đạo là đường lối phải theo cho phù hợp với luân lí xã hội. Hiếu là lòng kính yêu của con cái đối với cha mẹ. Thờ, kính là sự yêu mến, sự tôn trọng và chăm lo một cách tôn kính. Toàn bài ca dao đã phản ánh một vấn đề đạo đức là làm con phải có hiếu với cha mẹ. Đó là hành vi đạo đức được bao đời ca ngợi.
Tại sao con cái phải có hiếu với cha mẹ? Đó chính là vì cái công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ đối với con cái. Không có cây thì không có quả, không có người sinh thành thì không có bản thân mỗi người chúng ta. Công đức sinh thành của cha mẹ ta thật không gì sánh bằng. Biết ơn cha mẹ trước tiên và sâu xa nhất là biết đến công ơn này. Cha mẹ là người sinh ra ta, đồng thời cha mẹ cũng là có công nuôi dưỡng ta bao năm tháng, từ một đứa trẻ ngây thơ trở thành một trang thiếu niên có hiểu biết. Cơm ăn, áo mặc hàng ngày, thuốc thang chữa trị khi ta đau cán và biết bao vật dụng cho ta, tất cả đều do công sức lao động gian lao, vất vả và tấm lòng bao la của cha mẹ. Ta hiểu biết điều hay lẽ phải, biết cách cư xử trong gia đình, trong xã hội cũng nhờ công lao dạy bảo, giáo dục của cha mẹ. Rồi ta được đi học mở mang kiến thức, cũng là nhờ công lao và tình thương của cha mẹ. Thật đúng là cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể. Để đáp lại sự sinh thành và dưỡng dục ấy, đạo làm con phải giữ tròn chữ hiếu. Đó chính là đền đáp xứng đáng của người con đối với cha mẹ. Và đây cũng là một tiêu chuẩn đạo đức của con người trong xã hội, trong cuộc sống.
Ngoài ra, câu ca dao còn rất đúng vì nó là một giá trị đạo đức to lớn, đem lại nhiều lợi ích trong cuộc sống, nhất là nó không bị phai mờ mà còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, chúng ta vẫn còn gặp những câu tục ngữ mang ý nghĩa tương tự:
Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông.
Những lí lẽ và dẫn chứng trên đã một lần nữa khẳng định sự đúng đắn của câu ca dao trên, khẳng định đó cũng chính là một chân lí của cuộc sống, một cơ sở đạo đức của xã hội, của con người.
Tuy nhiên, hiếu với cha mẹ đồng thời phải hiếu với nhân dân như Bác Hồ đã dạy: Trung với nước, hiếu với dân. Một người con có hiếu với cha còn phải là một người con của nhân dân, có hiếu với nhân dân, một lòng phục vụ nhân dân. Khi Tổ quốc và nhân dân yêu cầu, người con có hiếu đó vẫn có thể tạm gác việc nuôi dưỡng chăm sóc cha mẹ để lo việc dân, việc nước. Trong trường hợp đó, hiếu với dân cũng là hiếu thảo với cha mẹ. Biết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng đã phải gác lại tình cha nghĩa mẹ để dấn thân vào cuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù mà lòng vẫn canh cánh rằng chữ hiếu vẫn chưa tròn. Họ không phụng dưỡng được cha mẹ lúc tuổi già nhưng vẫn một lòng thờ mẹ kính cha, họ vẫn là người con chí hiếu.
Vậy chúng ta phải hiếu với cha mẹ như thế nào? Người con có hiếu là người yêu thương kính trọng cha mẹ, vâng lời cha mẹ, biết tuân theo những lời chỉ bảo đúng đắn của cha mẹ. Người con có hiếu phải biết làm cho cha mẹ vui lòng bằng cách chăm chỉ học tập, bằng những lời nói và việc làm cóđạo đức như đi thưa, về trình và luôn giúp đỡ cha mẹ trong công việc gia đình. Nhất là khi cha mẹ già yếu, ốm đau, người con càng phải hết lòng chăm sóc, phụ dưỡng với tất cả tình cảm quý trọng của mình. Hành động hiếu thảo này chính là lời khuyên mang ý nghĩa sâu sắc của bài ca dao.
Với lòng hiếu thảo đó đã giúp cho gia đình đầm ấm, hạnh phúc. Người con hiếu thảo trong gia đình và đồng thời cũng trở thành một trò giỏi trong nhà trường, một công dân tốt, biết làm tròn nghĩa vụ, giúp ích cho nước nhà, tạo cho xã hội ngày càng phát triển. Đó cũng chính là một kết quả. Một tác dụng to lớn mà chúng ta phải kế thừa và càng phát huy lòng hiếu thảo để cho truyền thống tốt đẹp này được tồn tại mãi mãi.
Bài ca dao vừa là lời ca ngợi một đạo lí tốt đẹp của dân tộc, vừa là lời khuyên bảo thật cao quý. Giá trị to lớn của bài ca dao là một nghệ thuật độc đáo, ở tài sử dụng nghệ thuật so sánh, với cách nói ngắn gọn dễ hiểu giúp cho mọi người dễ nhớ một nội dung đạo đức cao quý, đó là lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Đây cũng chính là mong ước của cha ông ta ngày trước muốn cho con cái đời sau luôn luôn sống có nhân nghĩa, biết nhớ đến công của cha mẹ:
Núi cao biển rộng mênh mông.
Cù lao chín chữ, ghi lòng con ơi!
Bài làm 2
Ca dao, dân ca là cây đàn muôn điệu của người dân quê Việt Nam. Tiếng đàn ngọt ngào vời vợi từng lan xa theo hương lúa và cánh cò trầm bổng ngân nga trên sóng nước theo nhịp chèo của con thuyền xuôi ngược thiết tha âu yếm qua lời ru của mẹ hiền nhịp nhàng theo tiếng võng kẽo kẹt trưa hè… Khúc hát tâm tình của quê hương đã thấm sâu vào tâm hồn tuổi thơ của mỗi chúng ta mà năm tháng không thể phai mờ. Ta nhớ mãi lời ru của bà, của mẹ…
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Bài ca ca dao chứa chan nghĩa tình. Nó ca ngợi công cha nghĩa mẹ vô cùng to lớn, sâu nặng và nhắc nhở đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu.
Giọng điệu của bài ca dao sao thân thương thế! Hai câu đầu nói về công cha nghĩa mẹ. Nhà thơ dân gian đã sử dụng biện pháp ví von để tạo ra hai hình ảnh cụ thể, sóng đôi nhau: công cha đi liền với nghĩa mẹ, câu trên nói về núi Thái Sơn thì câu dưới mượn nước trong nguồn…, tạo ra một sự đăng đôi hài hòa, lời thơ sâu bền thấm sâu vào hồn dân tộc.
Núi Thái Sơntheo quan niệm của dân gian là ngọn núi cao nhất, hùng vĩ nhất trong những ngọn núi. Nước trong nguồn… không bao giờ vơicạn, vừa trong mát ngọt lành như dòng sữa mẹ, thầm lặng mà caocả! Lấy núi Thái Sơn và nước trong nguồn chảy ra để ví với công cha, nghĩa mẹ, ca ngợi công ơn cha mẹ to lớn, sâu nặng, đó là một cách nói sâu sắc thấm thìa vô cùng. Có con người Việt Nam nào không thuộc cầu ca dao này? Nhớ, thuộc từ lâu, nhưng mỗi lần ngâm lên, ta vẫn thấy mới mẻ, xúc động:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Cha mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng, dạy bảo con nên người. Cha thức khuya dậy sớm, làm lụng vất vả, lo cho con có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Dòng sữa ngọt ngào, lời ru của mẹ, ngời con nào có thể quên? Lúc con ốm đau tật bệnh…, cha mẹ lo lắng; lúc con ngoan ngoãn, lớn khôn…, cha mẹ vui sướng, tự hào. Thật vậy, công ơn của cha mẹ không thể nào kể xiết. Vì thế nhân dân ta có biết bao câu ca, bài hát ca ngợi công ơn cha mẹ:
Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp mật, như đường mía lau.
Hai câu ba và bốn nói về đạo làm con. Nhân dân ta muốn nhắc nhở mọi người một bài học về chữ hiếu. Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ; phải thể hiện bằng hành động cụ thể, tình cảm cụ thể là phải thờ mẹ, kính cha nghĩa là săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, cả về tinh thần lẫn vật chất. Đó là sự đền ơn đáp nghĩa. Hai chữ một lòng nói lên sự đinh ninh, sắt son, không thay đổi. Chữ tròn diễn tả sự trọn vẹn, con cái ăn ở thuỷ chung, tình nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ. Mỗi câu, mỗi chữ chứa đựng bao tình cảm:
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Có làm tròn chữ hiếu mới xứng đáng là đạo làm con. Hiếu thảo là cái đức của con cháu. Đạo lí của dân tộc ta đề cao chữ hiếu và chữ trung. Kẻ bất hiếu, bất trung bị nhân dân nguyền rủa, lên án. Bài học về đạo lí được diễn tả một cách ngắn gọn, bình dị mà sâu sắc, thấm thía. Câu ca dao có tính giáo dục rất cao, làm ta cảm động.
Bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn… cũng như phần lớn hàng nghìn bài ca dao, dân ca khác đã được sáng tác bằng thể thơ lục bát của dân tộc. Nghệ thuật so sánh ví von, sát hợp và gợi cảm, cách dùng từ chọn lọc, chính xác, lời thơ cân xứng hài hòa, giọng thơ êm ái nhẹ nhàng… đã tạo nên bản sắc của bài thơ dân gian này. Có thểnói đây là một trong những bài ca dao đặc sắc nhất nói về tình cảm gia đình. Nó xứng đáng là viên ngọc của thơ ca dân gian. Tính truyền cảm, nội dung giáo dục của bài ca daotạo nên giá trị nhân bản và tính nhân văn lâu bền, sống mãi qua hàng ngàn năm với đất nước và con người Việt Nam.
Bàn luận câu ca dao về truyền thống văn hóa của người kinh đô Thăng Long xưa:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dầu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Bài làm
Ngày nay, trong thanh niên đang hình thành lối sống ăn chơi đua đòi. Họ chạy theo những thị hiếu nhất thời, những màu sắc lòe loẹt lạ mắt của nếp sống xô bồ mà lầm tưởng là hiện đại. Họ quên đi những truyền thông tốt đẹp của dân tộc. Họ thường đánh giá con người bằng vẻ bề ngoài mà không nghĩ đến phẩm chất tâm hồn bên trong. Để nhắc nhở con cháu biết sống đẹp, các bậc cao niên ở Thủ đô nước ta thường hay nói tới câu ca dao xưa với lòng tự hào:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Nói rằng chẳng thơm, nói rằng không thanh lịch chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người Thăng Long — Hà Nội: nét thanh lịch.
Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc, với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng, và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức nồng nàn mà chỉ thoang thoảng, nhưng lâu bền.
Còn Tràng An, vốn là kinh đô xưa của mười hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kinh kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi hội tụ kết tinh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kinh kì, được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kinh kì, kinh đô nói chung của cả nước, vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ người Tràng An trong câu ca dao có nghĩa là người kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối sống rất tao nhã, thanh tao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lốisống đó đã trở thành bản sắc, dù có đi xuôi đi ngược, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu người ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa rừng hương.
Ởđất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục thanh nhã, dáng đi nhẹ nhàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang, dịu hiền mà vẫn lanh lợi, tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp, lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém.
Ngày nay, tiếp thu nhiều luồng ánh sáng văn minh trên thế giới, người Hà Nội đích thực vừa vẫn thanh lịch, vừa thông minh, sắc sảo hơn.
Nhưng trong quá trình mở cửa cũng không ít những văn hóa đồi trụy du nhập vào Thủ đô ta, làm xuất hiện không ít những lối sống kém văn hóa, xóa đi nét đẹp của con người kinh thành.
Vậy để gìn giữ những truyền thống tốt đẹp mà cha ông ta để lại, mỗi chúng ta phải làm gì?
Điều này tùy thuộc vào bản thân mỗi người, tùy thuộc vào sự cố gắng đểtrở thành người Tràng An thanh lịch. Trong gia đình, chúng ta cần kính trọng người trên, nhường nhịn kẻ dưới. Trong quan hệ với hàng xóm, láng giềng, mỗi người đều cần tôn trọng lẫn nhau, cần cư xử đúng mực, ăn nói hành động lịch sự, nhã nhặn. Có việc gì xích mích xảy ra cũng phải bình tĩnh giải quyết, không nên cãi cọ, chửi bới, ẩu đả. Ra ngoài thì ăn mặc sao cho đứng đắn. Đi làm, đi học thì nên mặc theo quy định của cơ quan, nhà trường. Ngày nghỉ, đi chơi, đi dự lễ hội hoặc theo lễ phục dân tộc, hoặc theo y phục mới nhưng cần lựa chọn cho thích hợp với dáng người lứa tuổi… Tránh đua đòi, ăn chơi theo mẫu mốt không thích hợp.
Chúng ta thếhệ con cháu cần phải giữ gìn nét thanh lịch của cha ông ta để lại và hơn thếnữa là những truyền thống, phong tục tốt đẹp, không để chúng phôi phai dần theo ngày tháng. Chúng ta cần cố gắng tự rèn luyện để đất nước có thể tự hào với truyền thông mà qua chặng đường lịch sử dài vẫn giữ được và lấy đó làm cơ sở để xây dựng một xã hội tươi đẹp hạnh phúc, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.
Bài làm của học sinh Đào Lan Hương
Cảm nhận về bài ca dao sau:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồhôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi, bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Bài làm
Ca dao là khúc hát tâm tình của người dân quê Việt Nam lưu truyền qua năm tháng thời gian, lan tỏa theo hương lúa đồng nội quê hương. Ngọt ngào biết bao những vần thơ dân dã ấy đã thấm sâu vào tâm hồn thơ bé mỗi chúng ta qua điệu ru của mẹ, tiếng hát của bà. Chúng ta yêu vô cùng những bài ca dao nói về công việc nhà nông “hai sương một nắng”, ca ngợi đức tính cần cù, lòng kiên nhẫn của người dân cày quê ta. Hình ảnh người nông dân cày ruộng sao mà đáng yêu thế:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi, bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Hai câu đầu miêu tả cảnh cày ruộng. Câu ca dao gợi lên trước mắt chúng ta hình ảnh người nông dân đang lội bùn, tay cầm cày, theo sau con trâu, dưới ánh nắng “ban trưa” chang chang mùa hạ. Người và con trâu phải làm việc vô cùng vất vả. Mồ hôi tuôn ra như mưa. Từ tượngthanh “thánh thót” gợi tả mồ hôi rơi xuống từng giọt… từng giọt liên tiếp, gieo vào không gian âm thanh “thánh thót”. “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” là hình ảnh so sánh bằng phương pháp thậm xưng gợi tả công việc cày đồng vất vả, cực nhọc không thể nói hết. “Mưa” làm cho lúa xanh tươi, cũng như “mồ hôi” đổ xuống luông cày làm cho đất đai thêm màu mỡ. Nghệ thuật so sánh “mồ hôi” với “mưa” thật là sáng tạo, làm cho người đọc, người nghe thấm thía, cảm thông với bao cực nhọc của nhà nông. Thật vậy, bà con dân cày đã đổ biết bao mồ hôi, công sức vào luống cày, sá bừa, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, để làm ra bông lúa, củ khoai nuôi sống xã hội. Vần ca dao đã vẽ lên một hình ảnh tuyệt đẹp về người nông dân trên cánh đồng quê hương. Đó là một con người khỏe mạnh dẻo dai, cần mẫn và chịu khó:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Hai tiếng cảm thán “ai ơi!” vang lên một cách tha thiết, đã tạo nên ầm điệu êm ái, ngọt ngào. Nhà thơ dân gian nhắn gửi mọi người gần xa một ý nghĩ với bao tình cảm đẹp. Mỗi khi “bưng” bát cơm đầy chúng ta ghi nhớ công ơn khó nhọc của người nông dân đã cuốc bẫm cày sâu, sản xuất ra lúa gạo cho nhân dân no ấm. Câu ca sâu lắng, thấm thìa:
Ai ơi, bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Câu cuối bài ca dao được tạo nên bằng nghệ thuật tương phản đặc sắc. Câu tám chữ chia làm hai vế tiểu đôi cân xứng: “Dẻo thơm một hạt // đắng cay muôn phần”. Tính từ “dẻo thơm” đối chọi với tính từ “đắng cay”, “một hạt” đối lập với “muôn phần”, làm nổi bật sức lao động sáng tạo của nhà nông. Câu ca dao đã nâng nhận thức và cảm xúc cho mọi người về giá trị của bông lúa, hạt gạo, bát cơm dẻo thơm mà ta được hưởng thụ hàng ngày thật đáng quý vô ngần. Cho nên, nhân dân ta mới gọi hạt gạo là “hạt vàng”, “hạt ngọc” với tất cả lòng tự hào, trân trọng. “Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no” (Nguyễn Duy).
Cũng như phần lớn ca dao, dân ca, bài “Cày đồng đang buổi ban trưa..” được viết bằng thể thơ lục bát quen thuộc. Giọng thơ nhẹ nhàng thấm thía. Ngôn từ chọn lựa tinh tế, vừa giàu sức biểu hiện vừa đậm đà sắc thái biểu cảm: thánh thót, dẻo thơm, đắng cay, bát cơm đầy,… Các biệnpháp tu từ: ví von so sánh, tương phản đối lập được vận dụng sáng tạo, đểviết nên những vần thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu.
Nước ta là một nước nông nghiệp, trên 80% dân số sống bằng nghề nông. Người nông dân Việt Nam cần cù, chất phác, hiền lành, dũng cảm và giàu lòng yêu nước. Nhà nông quê ta tượng trưng cho sức sống bền vững của dân tộc qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Với đức tính cần mẫn, dẻo dai và sáng tạo, nhà nông đã làm nên những mùa vàng bát ngát, đem đến sự ấm no cho xã hội. Mọi gia đình có bát cơm dẻo thơm, đất nước có nhiều lương thực xuất khẩu là nhờ vào công sức nhà nồng. Thời điểm chiến tranh, hạt gạo mang nặng tình hậu phương, ai mà quên được: “Hạt gạo làng ta – Gửi ra tiền tuyến – Gửi về phương xa – Em vui em hát – Hạt vàng làng ta” (Trần Đăng Khoa). Yêu kính và biết ơn nhà nông, mỗi một chúng ta khắc vào tâm hồn lời nhắn gọi thiết tha đã mấy ngàn năm vang lên sau lũy tre xanh:
Ai ơi, bưng bát cơm đầy
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng!
Cảm nhận về hai câu ca dao:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Bài làm
Kho tàng ca dao dân gian Việt Nam vô cùng phong phú và đẹp đẽ. Nó rực rỡ và thơm ngát như bông sen trong đầm. Nó thân thuộc với người dân cày Việt Nam như lũy tre xanh bao bọc làng quê, như cánh cò “bay lả bay la” trên đồng lúa.. Nó gắn bó với tâm hồn nhân dân ta từ bao đời nay. Trong đó, những bài ca dao nói về tình cảm gia đình sao hồn hậu, thắm thiết thế. Tình cha, nghĩa mẹ, tình yêu thương anh chị em, tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng,… những giai điệu tâm tình ấy từng làm say đắm hồn người xưa, nay… Nhiều câu ca dao “sống” với ta như một kỉ niệm đẹp không bao giờ quên. Bài ca dao nói về tình thương nỗi nhớ của người con gái đối với mẹ già là một ví dụ làm cho ta cảm động:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Thơ lục bát vốn nhịp nhàng, êm đềm. Hai câu ca dao này cũng vậy, nhịp hai cân đối hài hòa, với chín thanh bằng quá bán, với ba tiếng “chiều – chiều – chiều” đứng ở đầu và cuối câu tạo nên nhạc điệu, giai điệu nhè nhẹ, buồn thương. Điệu tâm hồn của câu ca dao là vô cùng đặc sắc, nó quyện lấy người đọc người nghe. Sức hấp dẫn trước hết ở giọng điệu tâm tình.
Câu thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính không gian buổi chiều tà, nhất là lúc hoàng hôn, ngày tàn, màn đêm dần buôngxuống, là thời điểm gợi nhớ, gợi sầu man mác cho những người tha hương. “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Tràng giang – Huy Cận). Bài ca dao cũng nói về buổi chiều, không chỉ một buổi chiều mà là nhiều buổi chiều rồi: “chiều chiều”. Sự việc cứ diễn ra, cứ lặp lại “ra đứng ngõ sau”… “Ngõ sau” là nơi vắng vẻ. Câu ca dao gợi lên một chút tâm tình cô đơn. Câu ca dao không nói ai “ra đứng ngõ sau”, ai trông về quê mẹ…”, nhân vật trữ tình không được giới thiệu cụ thể về dáng hình, diện mạo… nhưng người đọc, người nghe xưa nay tinh lắm, vẫn cảm nhận được đó là cô gái xa quê hương, xa gia đình… (đi lấy chồng xa?). Nhớ lắm, nỗi nhớ vơi đầy, nên chiều nào cũng như chiều nào, nàng một mình “ra đứng ngõ sau”, lúc hoàng hôn để nhìn về quê mẹ phía chân trời xa:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau.
Càng trông về quê mẹ, người con càng thây lẻ loi nơi quê người, nỗi thương nhớ da diết không nguôi:
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Quê mẹ khuất sau lũy tre xanh, có cây đa, bến nước, sân đình, có con đò nhỏ và dòng sống xanh uốn quanh, có cánh đồng “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” ngào ngạt bốn mùa hương lúa, có bà con chất phác, hiền lành và lam lữ sớm hôm, có ngôi nhà gianh nhỏ bé thân yêu, nơi người con gái sinh ra với bao kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ, của thời thiếu nữ. “Năm gian nhà cỏ thấp le te…” (Nguyễn Khuyến). Quê mẹ là nơi anh chị em ruột thịt quây quần xung quanh mâm cơm dẻo thơm có “canh rau muống… cà dầm tương”. Quê mẹ giờ đây có người mẹ già tóc bạc phơ đang tựa cửa thương nhớ đứa con gái đi xa.. Chính trong cảnh hoàng hôn, nghe tiếng chim vịt gọi bầy, kẻ tha hương lại càng bâng khuâng nhớ mẹ hiền khôn xiết kể:
Vẳng nghe chim vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.
Ca dao nói ít, tả ít mà gợi nhiều bởi nó là “cây đàn muôn điệu” của dân gian. Chỉ hai chữ “Quê mẹ” thôi mà đã đem đến cho người dọc một trường liên tưởng chứa chan tình quê hương.
Người con “trông về quê mẹ”, càng trông càng nhớ day dứt, tha thiết, nhớ khôn nguôi. Bốn tiếng “ruột đau chín chiều” diễn tả cực hay nỗi nhớ đó. Nhà thơ dân gian không sử dụng một bổ ngữ, một trạng ngữ mà lại dùng sốtừ “chín chiều” để biểu lộ tâm trạng, thật là độc đáo. Tục ngữ, thành ngữ có “chín nhớ mười thương” thì ở câu ca dao này lại có “ruột đau chín chiều”. Buổi chiều nào cũng thấy nhớ thương, đau đớn. Đứng trông về chiều hướng nào, phương hướng nào, người con tha hương cũng buồn đau tê tái, nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ người thân thương vơi đầy dâng lên, nên càng thấy cô đơn lẻ loi vô cùng.
Tình mẹ con, tình yêu quê hương được nói đến trong bài ca dao trên đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn mỗi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn của người con gái đi xa đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình, sâu lắng dàn trải khắp vần thơ, một nỗi buồn đẹp khơi dậy trong lòng người đọc bao liên tưởng về quê hương yêu dấu, về tuổi thơ. Có thể nói đây là một trong những bài ca dao trữ tình hay nhất nói về tình thương nhớ mẹ già, một đóa- hoa đồng nội tươi thắm mãi với thời gian và con người quê ta.
Cảm nhận về bài ca dao sau:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Bài làm
Đất nước Việt Nam thân yêu có muôn vàn cây lá khác nhau, hoa thơm quả ngọt bốn mùa. Một màu xanh bát ngát bao trùm sông núi. Cảnh trí thiên nhiên tuyệt vời “non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Lòng người hồn hậu, giàu tình yêu thương. Những khúc dân ca, những bài ca dao cùng với sữa mẹ, lời ru của bà đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi chúng ta. Con trâu, con cò, con bông, hoa sen, hoa bưởi, hoa cà… cùng với lời ca tình nghĩa đem đến cho ta men say cuộc đời, làm vơi đi ít nhiều lam lũ, vất vả. Tiếng hát của ai đã từng làm xúc động, tự hào: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Tiếng ca của ai đã từng làm ta bâng khuâng:
Hoa thơm thơm lạ thơm lùng
Thơm cành, thơm rễ, người trồng cũng thơm.
Và còn hoa sen trong đầm đã làm ta say mê từ thuở ấu thơ qua lời ru của mẹ. Năm tháng đã trôi qua, hồi tưởng lại, ta càng cảm thấy lòng mẹ ngạt ngào hương sen:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Cảnh đầm sen đẹp quá. Và lòng người cũng đẹp như sen. Sen là loại cây, loại hoa đẹp nhất trong đầm. Hoa súng, hoa lục bình, hoa muống màu tím biếc đã đẹp, nhưng không thể so sánh với sen. Bằng cách nói so sánh “gì đẹp bằng”, tác giả tự hào khẳng định: “trong đầm gì đẹp bằng sen”. Câu thứ hai giới thiệu cụ thể vẻ đẹp của đầm sen. Nhà thơ dân gian đang cùng chúng ta say mê ngắm đầm sen một ngày hè đẹp:
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
Trên mặt hồ trong vắt, lá sen xanh xòe ra như những chiếc lọng xinh xinh, những bông sen trắng, sen hồng nở xòe ra, nhị hoa màu vàng tươi, tỏa hương thơm ngào ngạt. Lá, hoa, nhị, xanh, trắng, vàng, bấy nhiêu nét vẽ chấm phá trong một câu thơ tám từ mà làm nổi bật vẻ đẹp của sen với màu sắc hài hòa. Sự thần diệu của lời ca là chẳng nói đến hương sen mà người đọc vẫn cảm thấy hương sen tỏa ngát, tâm hồn lâng lâng.
Câu thứ ba đổi vần một cách kì lạ. Hai hình ảnh “lá xanh” và “nhị vàng” được giao hoán cho nhau. Câu thứ ba hầu như khép lại câu thứ hai (giản lược) hai chữ “lại chen”. Nghệ thuật đổi vần ở đây chứng tỏ một bút pháp già dặn, điêu luyện của một nghệ sĩ cao tay, tạo nên một ấn tượng đặc biệt. Ta như cảm thấy có một bàn tay thon thả, xinh xinh của thiếu nữ đang lật di lật lại từng lá sen xanh, nâng niu từng bông sen trắng, ngắm nghía trầm trồ nhị vàng của búp sen.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh.
Vẻ đẹp của đầm sen, của hoa sen cũng là vẻ đẹp của làng quê, của thiên nhiên đất nước. Tác giả miêu tả vẻ đẹp rực rỡ của đầm sen với tình yêu cỏ hoa tạo vật, với tất cả niềm tự hào dân tộc, và tự hào về đất mẹ quê cha.
Câu cuối bài ca dao mang một hàm nghĩa, một ẩn ý sâu sắc, đẹp đẽ. Lời thơ được cấu trúc bằng biện pháp tương phản “gần bùn”, “mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Bùn hôi tanh. Sen mọc từ sự hôi tanh của bùn nhưng sen rực rỡ, thơm ngát thế! Câu ca dao đã đưa ta đến một liên tưởng thú vị. Cuộc đời của nhân dân ta ngày xưa, dưới ách thống trị của vua quan, địa chủ, cường hào, sưuthuế nặng nề, trải qua nhiều khó nhọc, thiếu thốn. Cuộc đời vật lộn giữa bùn đen hôi tanh, nhưng tâm thế của nhân dân ta rất vững vàng “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Có thể tác giả bài ca dao này là một nhà thơ nghèo, từ chiêm nghiệm cuộc đời mà nêu lên một triết lí nhân sinh cao đẹp của nhân dân ta, ca ngợi bản lĩnh dân tộc: Sống thanh cao, sống trong sạch.
Ca dao, dân ca có biết bao bài đặc sắc nói về hoa lá. Có bài nói về dáng trúc mang tiết tháo người hiền “trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Có bài nói về hoa nhài tinh khiết, trong trắng. Dân ca quan họ có bài nói về trăm loài chim, trăm loài hoa.. Qua đó ta thấy tâm hồn nhân dân ta rất đẹp, biết yêu mến quý trọng hoa thơm cỏ lạ mà thiên nhiên ban tặng cho con người.
Với lòng yêu hoa lá, chúng ta cảm thấy thú vị được thưởng thức cái hay, cái đẹp của bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen… này. Ta yêu thêm vẻ đẹp đồng quê, yêu thêm tâm hồn và tâm thế cao quý của con người Việt Nam:
Rủnhau ra tắm hồ sen,
Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình.
Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh
Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay…
Trong chúng ta, ai đãcó lần được ngắm sen Hồ Tây, sen hồ Tĩnh Tân: (Huế), sen Đồng Tháp Mười…? Nghĩ về đầm sen, hương sen, chúng ta tựhào biết bao về người con vĩ đại của làng Sen thân thuộc như nhà thơ BảoĐịnh Giang đã ngợi ca:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen,
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.
Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao:
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này,
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.
Bài làm
Ca dao, dân ca là điệu tâm hồn của nhân dân ta từ bao đời nay. Nó trong trẻo như giếng làng, thơm mát như hương đồng gió nội, làm say đắm lòng người. Tiếng hát tâm tình trong ca dao, dân ca vời vợi cùng với sữa mẹ, lời ru êm ái dịu ngọt của bà đã nuôi dưỡng tâm hồn mỗi chúng ta tự thuở nằm trong nôi. Có không ít bài ca dao nói về đạo lí, về tình người đẹp hơn mọi bài ca. Mãi mãi những lời ru, câu hát ấy là những kỉ vật trong hành trang của một đời người trên lộ trình đi tới tương lai tươi sáng và hạnh phúc. Trong mỗi chúng ta, ai mà không xúc động nhắc lại bài ca dao:
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này.
Cơm cha áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.
Đây cũng là bài học về tình nghĩa. Qua bài ca, nhân dân ta khuyên bảo mọi người hãy khắc sâu vào trái tim mình công ơnto lớn của mẹ cha và thầy cô giáo.
Hai câu đầu nói lên một quá trình trưởng thành của em, đứa con trong gia đình, người học trò dưới mái trường. Câu ca như một lời tâm tình. Em đang thổ lộ tâm sự cùng chúng ta:
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này.
Bằng sự tương phản ngôn ngữ và hình ảnh: ngày nào với bây giờ, bé cỏn con với lớn khôn thế này, em lại nhớ một chặng đường đã qua, từ ngày còn thơ ấu đến hiện tại đã lớn khôn, trưởng thành. Bé cỏn con nghĩa là rất bé. Ngôn từ bình dị, đậm đà màu sắc dân dã. Tác giả không dùng từ ngữ: bé tí hon, bé tí xíu mà lại nói bé cỏn con. Bé cỏn con không chỉ là rất bé nhỏ mà còn gợi lên tính ngây thơ, hồn nhiên của một em bé. Qua đó, ta thấy cách lựa chọn từ ngữ của nhân dân rất chính xác, tinh tế và giàu biểucảm. Hai chữ thế này là từ để trỏ, em bé tự chỉ về mình và nói về mình nên đã làm cho lời ca, niềm tâm sự được bộc lộ một cách chân thành. Năm tháng đã trôi qua, trên bước đường trưởng thành, em bé hồi tưởng lại, mới ngày nào đó còn bé cỏn con thế mà nay đã lớn khôn thế này… Thân hình cao lớn thêm, mặt mũi rạng rỡ thêm, có văn hóa, mỗi năm lên một lớp, trí tuệ phát triển, sự hiểu biết được mở mang, có nhân cách, biết sống theo đạo lí… Càng nghĩ lại, hồi tưởng lại, em càng thấy xúc động, tự hào. Đại từ em trong bài ca dao được điệp lại hai lần cho thấy nhân vật trữ tình tuy đã khôn lớn, đã có những ý nghĩ sâu sắc nhưng vẫn còn trong tuổi học trò, sống hồn nhiên. Nếu trong câu thứ hai, từ em được thay thế bằng từ tôi (Bây giờ tôi đã lớn khôn thế này) thì ý nghĩa và màu sắc biểu cảm của lời ca không còn như trước nữa.
Hai câu tiếp theo nói rõ nguyên nhân nào đem đến sự lớn khôn của em, đâu chỉ là năm tháng thời gian?
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.
Câu ca đẹp: Đẹp về đạo lí làm người, đẹp về suy tư sâu sắc. Câu lục thứ ba chia làm ba vế, mỗi vế hai từ, tạo nên sự cân xứng hài hòa: cơm cha- áo mẹ – chữ thầy. Nhịp thơ như những nốt nhấn vào cõi sâu thẳm của tâm linh, công ơn của mẹ cha, của thầy như đinh ninh, như khắc cốt ghi tâm, có bao giờ có thể quên được? Biện pháp liệt kê được vận dụng sáng tạo, mỗi vế câu là một sự ân tình nặng nghĩa đối với cuộc đời của em, một đứa con trong gia đình, một người học trò ngoài xã hội. Câu ca đọc lên, lúc nào ta cũng thấy nhiều rung động, thấm thìa: Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy.
Cơm, áo, chữlà ba hình ảnh cụ thể mang tính chất điển hình ca ngợi công ơn trời biên của mẹ cha và thầy cô giáo. Một lối nói ít mà gợi nhiều. Công ơn cha mẹ đâu chỉ là cơm và áo? Cơm và áo mang tính chất tượng trưng cho công cha nghĩa mẹ. Mẹ mang nặng đẻ đau, bú mớm nâng niu, nuôi con khôn lớn với tất cả tình yêu thương, lòng mẹ bao la như biển cả. Cha thức khuya dậy sớm, làm lụng vất vả để nuôi con, dạy bảo con nên người. Con là hạnh phúc và hi vọng của mẹ cha. Công cha nghĩa mẹ không thể nào kể xiết. Bởi vậy mới có câu ca:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
dạy chữ, dạy văn hóa, khoa học kĩ thuật, dạy đạo đức… Nhờ có sự dạy dỗ của thầy mà ra.
Trên đời này, cổ kim, đông tây có người nào khôn lớn, trưởng thành mà không có sự giáo dục của ông thầy? Người thầy là nhân vật trung tâm của nền giáo dục. Thầy học sinh, thế hệ trẻ của đất nước mới trở nên tài giỏi, có nhân cách văn hóa biết đem tài năng góp phần xâydựng Tổ quốc phồn vinh sánh vai các cường quốc năm châu. Không thầy đố mày làm nên.
Đây là bài ca dao cổ, ra đời khá sớm trong xã hội phong kiến. Trung hiếu, ân nghĩa là cơ sở, nền tảng của đạo lí xã hội. Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập đã viết:
Nợ cũ trước nào báo bổ,
Ơn thầy, ơn chúa liễn ơn cha.
(Tự thán – Bài số 24)
Thế nhưng, trong bài ca dao này, không nói đến ơn vua chúa mà lại khẳng định công ơn của mẹ cùng với công ơn của cha, của thầy, điều đó nói lên quan điểm của nhân dân lao động về ân nghĩa, tình nghĩa ở đời.
Câu cuối như một lời thề nguyền, như một điều tâm niệm. Em nói với em, lòng tự dặn lòng, thủ thỉ, tâm tình mà sâu lắng:
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.
Cho bõ, từ cổ nghĩa là cho xứng đáng. Ước ao là sự trông mong, đợi chờ vô cùng tha thiết. Câu ca được diễn đạt dưới hình thức câu hỏi tu từ trở nên lắng đọng sâu sắc. Câu ca dao mang tính đa nghĩa. Ai ước ao? Cha mẹ ước ao con khôn lớn, trung hiếu vẹn toàn, làm rạng rỡ mẹ cha và dòng họ. Thầy cô giáo ước ao học trò trở nên tiến bộ, giỏi giang làm vẻ vang cho nhà trường. Và em ước ao, mỗi chúng ta ước ao trở thành con ngoan trò giỏi, để đền đáp một cách xứng đáng công ơn của mẹ cha và thầy cô giáo. Chỉ một từ ước ao mà nói lên được ba tấm lòng; tấm lòng nào cũng đẹp, giàu yêu thương và tình nghĩa. Thế mới hay rằng tâm hồn đẹp mới có hi vọng đẹp (Vôn – te).
Kho tàng thơ ca dân gian Việt Nam có rất nhiều câu, nhiều bài tuyệt hay nói về lòng biết ơn của con cái đối với cha mẹ, học trò đối với thầy giáo. Cách diễn đạt tuy có khác nhau nhưng tất cả đều khẳng định, ngợi ca, chứa chan nghĩa tình.
Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy.
Muốn sang thì bắc cẩu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.
Gia đình là tế bào của xã hội. Trường học là cái nôi đào tạo nhân tài cho đất nước. Cha, mẹ và thầy là ba hình ảnh gần gũi, thân thiết nhất đối với mỗi con người, nhất là thế hệ trẻ. Ơn sinh thành của cha mẹ, ơn giáo hóa của thầy cô giáo đối với chúng ta vô cùng sâu nặng.
Đây là bài ca dao hay nhất trong những bài ca dao nói về chủ đề tình nghĩa và lòng biết ơn. Tình cảm gia đình gắn liền với tình cảm xã hội. Ngôn từ giản dị, dễ hiểu, tình cảm chân thành sâu sắc. Âm điệu của vần thơ lục bát ngọt ngào, êm ái như lời ru, điệuhát tâm tình. Nhà thơ dângian đã đề cao chữ hiếu và sự tôn sư trọng đạo để giáo dục chúng ta. Lòng hiếu thảo là cái gốc của đạo lí làm người. Tôn sư trọng đạo là truyền thống cao đẹp của dân tộc ta. Điều đó cho thấy vẻ đẹp nhân văn tỏa sáng trong bài ca dao này bởi lẽ, tính giáo dục của nó rất sâu sắc. Nó bồi đắp tâm hồn ta về đạo hiếu, đạo học. Lời tâm sự của em cũng là của mỗi chúng ta vì đó là nỗi lòng, điều tâm sự. Nó mãi mãi như một thông điệp màu xanh gửi đến mọi đứa con, gửi đến mỗi người học trò… Nó như một kỉ vật đẹp trong hành trang của tuổi thơ trên lộ trình đi tới mọi chân trời xa xôi và hi vọng.
Cảm nghĩ về bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm:
Con cò mà đi ăn đêm,
Dậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Bài làm
Cánh cò trong ca dao sao đẹp thế! Màu xanh của lúa điểm trắng cánh cò sớm sớm chiều chiều. Concò bay lả bay la – Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng…Con cò là người bạn thân thiết, hiền lành của nhà nông. Con cò trong ca dao là hiện thân của người dân cày quê ta: chấtphác, siêng năng, cần mẫn, vất vả, gieo neo. Cánh cò từ ngàn năm xa xưa đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ qua lời ru êm ái, ngọt ngào của mẹ;
Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Bài ca dao mượn tiếng kêu thương của con cò lâm nan đểnói lên thân phận vất vả, bất hạnh của nhà nông, ca ngợi một tâm thế đẹp, thà chết trong còn hơn sống đục.
Câu đầu nói về một cuộc đời, về một thân phận. Câu đầu đọc lên nghe nhiều thương cảm, ai oán: Con cò mà đi ăn đêm. Vạc mới đi ăn đêm, chứ cò thì kiếm ăn ban ngày. Cò phải đi ăn đêm, đó là một nghịch lí trong cuộc đời. Cuộc sống của cò nhiều lận đận, vất vả. Chữ mà trong câu ca làm nổi bật cấu trúc tương phản, gợi lên nhiều xót xa cảm thương cho một đời cò! Tục ngữ, ca dao của Vũ Ngọc Phan ghi là: Con cò mày đi ăn đêm.
Cần cù, chịu khó kiếm ăn tưởng sẽ được ấm no, hạnh phúc? Bầy cò con chắc sẽ được mẹ tha mồi về tổ nhiều hơn? Cuộc đời vất vả gian truânthế, cò còn phải trải qua nhiều bất hạnh đắng cay, nhiều hoạn nạn đau đớn không thể nào kể xiết! Cò đã đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Cò có cánh, cò bay giỏi, cò có rơi xuống ao thì vẫn bay lên được. Hai từ lộn cổ nói lên tai họa mà cò gặp phải. Cò không thể nào thoát hiểm được khi bị lộn cổ xuống ao. Tiếng cò cất lên trong đêm khuya sao mà thảm thương thế. Câu cảm thán diễn tả tiếng kêu cứu, lời phân trần của cò:
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Ba từ ông, hai từ tôi được điệp lại như nốt nhấn bi thảm của bài ca. Cò mong ông cứu vớt, đoái thương. Tôi có lòng nào… là lời phân trần: cò đi ăn đêm… nhưng cò không phải là kẻ bất lương, mà cò hiền lành, lương thiện.
Con cò trong bài ca dao là hình ảnh ẩn dụ, là biểu tượng về người nông dân hai sương một nắng. Đó là những con người hiền lành, chất phác cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó trong cuộc đời. Bất hạnh của con cò lộn cổ xuống ao cũng là những bất hạnh, hoạn nạn của nhà nông đứng trước mọi thế lực thống trị và áp bức trong xã hội. Sưu cao thuế nặng. Ách thống trị nặng nề của bọn vua quan. Nạn áp bức, bòn rút của bọn địa chủ, cường hào. Phần thuế quan Tây, phần trả nợ – Nửa công đưa ở, nửa thuê bò(Nguyễn Khuyến). Trải qua hàng ngàn năm, người nông dân Việt Nam đã đổ mồ hôi vất vả làm ra củ khoai, hạt gạo nuôi sống nhân dân, nhưng cuộc đời của họ có khác gì thần phận con cò trong bài ca dao này. Tiếng kêu thương của con cò đã vọng vào cuộc đời theo thời gian năm tháng. Bài ca dao đã gieo vào lòng sự xót thương, đồng cảm với bao nạn nhân trong xã hội, nhất là đối với sốphận người nông dân Việt Nam đêm trước Cách mạng tháng Tám.
Bài ca dao càng trở nên sâu sắc và thấm thìa khi chúng ta đọc đến hai câu cuối:
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Gặp tai họa chưa chắc đã thoát hiểm: tính mạng nghìn cân treo sợi tóc. Trước cái chết cầm chắc trong tay, thế mà cò chỉ nghĩ đến bầy con thơ, thương bầy con nhỏ tội nghiệp. Cò giàu tình thương yêu, giàu đức hi sinh và vị tha. Cò cam chịu số phận. Những phẩm chất ấy của cò cũng là những đức tính của nhà nông quê ta.
Cái đặc sắc của bài ca dao là ngoài tình cảm nhân đạo còn hàm chứa tư tưởng rất đẹp. Đã có câu tục ngữ nêu lên cách ứng xử đói cho sạch, rách cho thơm. Đã có bài ca dao ca ngợi một tâm thế thanh cao gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đã có một thế đứng cao đẹp như dáng trúc trước hoạn nạn: Trúc dâu cháy, đốt ngay vẫn thẳng. Ởđây cũng vậy, qua thânphận con cò, nhà thơ dân gian đã nêu lên một triết lí nhân sinh tuyệt đẹp, ca ngợi tâm hồn trong sáng, hồn hậu: thà chết trong còn hơn sống đục! Hai chữ trong và đục tương phản nhau, lời nguyền của kẻ tử nạn trở nên thống thiết, khẳng định một lẽ sống đẹp. Chữ xáo được điệp lại bốn lần, ý thơ được nhấn mạnh diễn tả sự định của người bất hạnh trong cảnh ngộ đáng thương.
Cuộc đời của anh Pha, chị Dậu, lão Hạc… có khác gì cuộc đời và thân phận con cò lộn cổ xuống ao trong bài ca dao này? Lão Hạc thà chết trong còn hơn sống đục; trước lúc kết thúc cuộc đời bằng cái bả chó, lão đã gửi lại ông giáo mảnh vườn cho đứa con tra tha hương chưa về, gởi lại tiền cho ông giáo để lo việc tang ma.. Người nhà quê tuy nghèo khổ nhưng tâm thế của họ đẹp lắm, đáng tự hào lắm.
Bài ca dao này cũng như phần lớn các bài ca dao dân ca đều được viết bằng thể thơ lục bát. Bốn câu đầu, cách gieo vần rất sáng tạo độc đáo. Chữ cuối câu lục không vần với chữ thứ sáu câu tám như thường lệ mà lại vần với chữ thứ tư câu bát. Người ta gọi đó là lục bát biến thể.
Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao.
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng…
Âm điệu bài ca như tiếng nấc, đọc lên nghe thật là ai oán, cay đắng nghẹn ngào. Các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, điệp từ và cảm thán đã góp phần làm tăng tính thẩm mĩ và biểu cảm của bài thơ dân gian này.
Thương con cò lâm nạn lộn cổ xuống ao…, thương con cò đi đón cơn mưa…, thương con cò chết rủ trên cây…, chúng ta nghìn lần thương yêu, kính phục người dân cày Việt Nam. Phần đông dân số nước ta làm nghề nông. Nghề nông là nghề căn bản của dân tộc. Trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, người dân cày Việt Nam đã từng dùng gộc tre đánh giặc, siêng năng cày bừa cấy hái để làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm: Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc,
(…) Cái kèo cái cột thànhtên,
Hạt gạo phải một nắng hai sương
Xay giã giần sàng,
Đất nước có từ ngày đó…
(Nguyễn Khoa Điềm)
Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh vừa qua, anh bộ đội cụ Hồ là người nông dân mặc áo lính, cần cù, dũng cảm, yêu nước, chất phác… là phẩm chất cao quý của nhà nông quê ta… Học bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm ta thêm thương yêu kính phục họ. Bài học thà chết trong còn hơn sống đục mà nhà thơ dân gian gửi cho đến nay vẫn còn có nhiều ý nghĩa đối với thế hệ trẻ chúng ta.
Hãy phân tích cái hay, cái đẹp, cái sáng tạo qua lời tỏ tình của chàng trai trong bài ca dao Tát nước đầu đình.
Bài làm
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có những bài ca dao tri tình rất hay thuộc chủ đề tình yêu nam nữ, hôn nhân hay gia đình. Nhữngvần ca dao này được truyền tụng trong dân gian đời này qua đời khác vớinhiều mến chuộng.
Trong tình yêu trai gái, có lẽ cái khó khăn nhất là lời nói đầu tiên.Khó lắm mới được dịp trực tiếp gặp người con gái mình thầm yêu trộm nhớ. Với những dịp gặp nhau như thế, người con trai phải tìm ngay ra mộtcớ nào đó để mở lời đầu tiên này.
Trong bài ca dao “Tát nước đầu đình”, tình yêu chân thật đã giúp chàng trai tìm ra một cớ, đó là xin lại chiếc áo bỏ quên. Nhờ cái áo mà chàng trai nói được lời khó khăn đầu tiên ấy.
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái do trên cành hoa sen.
Nghe chàng trai nói như thế, thoạt đầu cô gái cũng tin ngay. Vì không tin sao được, vì từ thời gian (hôm qua), nơi chôn (đầu đình) cho đến vị trí (trên cành hoa sen), tất cả đều được xác định và đều phù hợp với công việc của chàng trai tát nước ở đó nên mới quên. Nhưng rồi cô gái bỗng có một chút nghi ngờ. Phải rồi, sen làm gì có cành và sen vốn mảnh mai mềm yếu ai lại có thể vắt áo lên đó được. Cô gái hiểu ngay việc cái áo bỏ quên chỉ là cái cớ để chàng trai vào đề mở lời tỏ tình với mình. Ánh mắt nàng long lanh kèm theo nụ cười thông cảm như muôn nói: “biết tẩy anh rồi“, vì cô ta đã hiểu được tâm trạng thực ý muốn tỏ tình của chàng trai. Chàng trai vẫn ngọt ngào tha thiết: Em được thì cho anh xin.
Lời nói gọn gàng, mạch lạc: được thì cho xin. Nhưng tiếp theo đó chàng trai lại lấp lửng vừa như muôn thăm dò vừa như muôn thắt buộc, đưa cô vào cuộc và nói tiếp ngay: Hay là em để làm tin trong nhà.
Người đẹp chưa kịp trả lời, chàng trai đã đưa ra một câu hỏi vô lí (làm tin cái gì mới được chứ? Vả lại nàng đâu có lượm được chiếc áo để chàng xin). Chính chàng cũng biết rõ việc bỏ quên chiếc áo là không có thật. Nhưng anh chàng vẫn tảng lờ tiếp tục nói như muôn gợi tình thương yêu trong lòng thiếu nữ cho nên trước sự thiết tha chân tình đó, cô gái đang trong tâm trạng bàng hoàng của giây phút đầu tiên nhắp men say tình ái thì lại nghe thảnh thót bên tai những lời kể lể chân tình:
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Ao anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Bốn câu nói chân thật nói liền một mạch không khỏi làm cho cô gái xao xuyến, cô nghĩ rằng xin áo thì cứ việc xin, việc gì phải kể lể hoàn cảnh gia đình của anh ra làm gì? Nhưng đối với chàng trai thì cho rằng nhờ nói như thế anh đã chuyển tới cô một tỏ bày quan trọng là mẹ anh đã già, anh chưa có vợ: “Áo anh sứt chỉ đã lâu” rất cần một người kết giúp lại. Lời nói chân thành không khỏi làm rung động trái tim người thiếu nữ, nhất là đường kim mũi chỉ trong gia đình vốn là thiên chức của người phụ nữ.
Thổ lộ được tâm sự của mình, chàng trai liền khéo chuyển lại cách xưng hô một cách tế nhị: Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Cô ấy? Lại cô nào nữa ngoài người đang đốidiện với anh. Tuy nhiên người đối thoại với anh cũng có thể hiểu là một cô nào khác. Anh chàng vẫn dùng lôi xưng hô lấp lửng “cô ấy” thay vì một tiếng “em” thân mật vội vàng có thể làm cho cô gái thẹn thùng bỏ đi thì việc tỏ tình sẽ thất bại. Danh xưng “cô ấy” đã chuyển bài ca sang hướng mới.
Khâu rồi anh lại trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo.
Giúp em quan tâm tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
“Cô ấy”không còn là cô gái được áo để chàng xin mà đã trở thành người thiếu nữ khâu giúp áo cho chàng. Trả lại áo chỉ là ơn nhưng khâu giúp áo mới là tình. Mà đã là tình yêu chân thật tất phải đi đến hôn nhân, vì vậy chàng nói ngay đến chuyện đồ sính lễ để diễn tả với cô gái một lễ cưới chu tất với những đồ sính lễ hậu hĩnh. Cô gái nào nghe vậy lại không xao xuyến hãnh diện, lòng đầy mĩ cảm. Đến đây, từ “cô ấy” đã nhẹ nhàng chuyển sang từ “em” thân mật nồng nàn:
Giúp cho đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo.
Trong câu “đến khi lấy chồng” chàng trai vẫn lấp lửng không nói lấy ai, nhưng cô gái thông minh suy nghĩ chỉ nhận khâu giúp một đường tà sút chỉ mà lại được trả công hậu hĩnh bằng cả đồ sính lễ. Với linh cảm nhạy bén cô gái nhận ra cái anh chàng này thành thật muôn kết duyên vợ chồng cùng mình.
Bài “Tát nước đầu đình” đã diễn tả cuộc giao duyên hồn nhiên chân thành nơi thôn dã, qua những lời lấp lửng tài hoa duyên dáng của những người sống nơi đồng nội. Tứ thơ lại đặc sắc tài tình với các mạch thơ đầy uyển chuyển bất ngờ. Bài “Tát nước đầu đình” tuy là một câu chuyện được tạo dựng nhưng vẫn đầy đủ dí dỏm ý vị và hấp dẫn.
Bình giảng bài ca dao Tát nước đầu đình.
Bài làm
Tát nước đầu đìnhcòn được nhiều người gọi là Bài ca xin áo. Đây là bài ca tỏ tình, là tiếng hát giao duyên của anh trai cày sau lũy tre xanh thuở nào. Trai gái làng quê xưa đã tình tự, đã giao duyên, đã hát ghẹo nhau nơi sân đình, nơi gốc đa., để rồi “chín nhớ mười thương”, đế rồi “Yêu nhau cởi áo cho nhau – Về nhà dốimẹ, qua cầu gió bay”. Có ngàn vạn mối tình thì cũng có ngàn vạn cách tỏ tình “dịu ngọt”:
Gặp đây Mận mới hỏi Đào,
Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa?
Đôi ta được gặp nhau đây,
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng.
Tình yêu làm cho trái tim biết hát, làm cho “con mắt có đuôi”, để rồi cùng “xe chỉ luồn kim”. Anh trai cày trong bài ca dao Tát nước đầu đìnhđã từ chuyện “hôm qua” mà nói chuyện “hôm nay” và chuyện trăm năm “sau này”. Chuyện hôm qua là chuyện anh mải miết làm ăn mà đãng trí nên mới để…, thật chàng đáng trách mà lại rất dễ thương:
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin…
Cái cớ mà chàng trai cày bịa ra thật đậm đà, đáng yêu. Cô thôn nữ mà anh gặp “xin áo”hôm nay chính là người từng “để thương, đế nhớ, để u” cho anh đã bao lâu rồi. Anh lấy cớ “mất áo” đế bắt chuyện. Sen làm gì có cành, đó chỉ là một cách duyên cho đậm đà, cho tình tứ. Cô thôn nữ xinh giòn ấy đã bị buộc vào một cảnh ngộ “khó xử”:
Em được thì cho anh xin,
Haylà em để làm tin trong nhà.
Đã từ lâu lắm rồi, từ những ngày xửa ngày xưa, cái áo từng được trai gái yêu nhau dùng “để làm tin trong nhà”, một chút kỉ vật của mối tình đầu đẹp:
Anh về để áo lại đây,
Đêm khuya em đắp, gió tây lạnh lùng.
hoặc:
Áo xông hương của chàng vắt mắc,
Đêm em nằm em đắp lấy hơi.
Chiếc áo đã trở thành “cái cầu” thương nhớ, giao duyên. Thật là hồn nhiên, tự nhiên: quên áo sau khi tát nước, chuyện mới xảy ra hôm qua ở đầu đình. Cô thôn nữ chắc là đã “Lặng nghe lời nói như ru – Chiều thu dễ khiến nét thu ngại ngùng” (Truyện Kiều). “Em được thì… hay em để…”, nhẹ nhàng thế thôi, dịu ngọt thế thôi, em bỏ đi sao đành? ơ cái tuổi hoa, tuổinụ, cô thôn nữ sao mà chẳng “xôn xao” trong lòng trước ánh mắt, tấm lòng đầy tin cậy của chàng trai? “Em” làm sao nỡ bỏ đi khi nghe “anh” thổ lộ gia cảnh: áo anh không rách, nó chỉ “sứt chỉ đường tà”, nhưng “áo anh sứt chỉ đã lâu”, bởi lẽ “vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu”.
Không phải thổlộ để cầu xin một chút thương hại. Anh đã gợi lên trong lòng thiếu nữ một tình thương. Cô xúc động khi nghe anh nồi. Anh đang cần một người như cô để săn sóc mẹ già, cần một người đẹp đôi như “em” để xây dựng một tổ ấm gia đình. Chàng trai đã đến với thiếu nữ bằng tất cả tấm lòng tin yêu chân thành, chân thật, với tất cả nỗi lòng khao khát tình yêu hạnh phúc gia đình. Anh là một con người siêng năng chịu khó. Anh là một đứa con hiếu thảo. Anh là một trai tơ “vợ anh chưa có”. Tiếng nói của anh, gia cảnh của anh “đánh thức” trong lòng thiếu nữ biết bao tình yêu thương “trong buổi mới lạ lùng” ấy. Và cô hiểu rằng, anh không thể thiếu cô trong cuộc đời và cô phải đến với anh bằng tất cả tấm lòng yêu thương.
Cái áo “sứt chỉ đường tà” đã đi trọn “một vòng đời” khi anh nhẹ nhàng, nửa kín nửa hở nói: “Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng”. “Cô ấy” là cô nào, một cách nói bóng gió dễ nghe. Chữ “cùng” là cách nói “buông”, nghĩa là cùng ăn, cùng ở, cùng nên vợ nên chồng. Anh đang chăn đơn gối chiếc, thiếu kẻ sửa túi nâng khăn. Anh còn mẹ già: “mẹ già bằng ba lần cửa”, “Mẹ già như chuối ba hương – Như xôi nếp mật, như đường mía lau”. Từ chỗ gọi bằng “em” khi xin áo, chàng trai cày đã chuyển sang nói bóng gió: “cô ấy” khi mượn khâu áo “sứt chỉ đường tà”:
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Anh là một con người chu tất, trọn vẹn trong ứng xử. Anh sống nhân hậu, tình nghĩa thuỷ chung. Chàng trai nói về chuyện “trả công”, nói về chuyện “giúp cho”. Rất hậu hĩnh. Chỉ khâu cái áo sứt chỉ đường tà mà anh sẽ “giúp cho”: “một thúng xôi vò”, “một con lợn béo”, “một vò rượu tăm”. Cùng với lời nói, đến đây khóe mắt, đuôi mày, nụ cười, mái tóc… như đều biết thổ lộ tâm tình, đều cùng tham dự vào cuộc tỏ tình, giao duyên. Mỗi lúc một hé lộ, cánh cửa tâm tình mở rộng dần ra. Từ “một” đã thành “đôi” tự bao giờ rồi”:
Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi tràm em đeo.
Bài ca dao – bức thông điệp cầu hôn — đã thấm sâu vào tâm hồn thiếu nữ khi bên tai nàng một tiếng nói chân tình ngân lên:
Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Trả công khâu áo băng một lễ cưới to tát, sang trọng, có cheo cưới đàng hoàng. Anh đã nói rất dễ thương một điều “rất khó nói” xưa nay. Anh trai cày đã đến với thiếu nữ bằng một nỗi ước mong chân thành. Các điệp ngữ: “giúp cho… giúp cho… giúp cho…” tạo nên một ngữ điệu nồng nàn, ý vị, thiết tha, biểu lộ một ước mơ tốt đẹp nên vợ nên chồng mà anh trai cày đang hướng tới.
Con chim khoe giọng hót – Hoa thì khoe sắc khoe hương. Anh thợ mộc Thanh Hoa khoe tài chạm trổ… “một đèn anh để đợi chờ nàng đây”. Còn anh trai cày lại mượn chuyện bỏ quên cái áo “sứt chỉ đường tà”… Trai gái làng quê xưa đã tỏ tình, đã giao duyên… đậm đà như vậy. Lao động, hạnh phúc lứa đôi, cuộc sống êm ấm hạnh phúc “chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”… là ước mong, khát vọng muôn đời của họ. “Bài ca xin áo” đâu chỉ là chuyện “Tơ tằm đã vấn thì vương – Đã trót dan díu thì thương nhau cùng”, mà còn cho thấy: cheo cưới là thuần phong mĩ tục, là nét đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc. Chân thành, tế nhị… trong tỏ tình, ước mong nên vợ nên chồng của anh trai cày trong bài ca dao Tát nước đầu đình thật đáng yêu, đáng trân trọng.
Cảm nhận về bài ca dao Thằng Bờm.
Bài làm
Tiếng cười trong văn học dân gian vô cùng phong phú và đa dạng. Có nụ cười mỉm, có tiếng cười hả hê. Có tiếng cười giễu cợt, châm biếm sâu cay. Có tiếng cười đả kích sắc nhọn… Thật là đủ cung bậc, biểu lộ mọi thái độ ứng xử của nhân dân lao động trong cuộc đời. Tiếng cười là vũ khí chiến đấu tinh thần của những con người bị áp bức, nó tựa như làn roi quất vào mặt bọn thống trị xấu xa, đồi bại nhưng lúc nào cũng lên mặt đạo đức giả. Tiếng cười không chỉ để mua vui, xua tan mọi ngột ngạt mà còn biểu thị một thái độ, một tâm thế của người lao động. Cho nên nó giàu chất trí tuệ, có giá trị vạch trần và tốcáo hiện thực xấu xa, thối nát của xã hội cũ.
Ngoài truyện tiếu lâm, truyện cười, văn học dân gian còn có nhiều bài ca dao trào phúng, hóm hỉnh, sâu sắc, thú vị. Bài Thằng Bờm là một ví dụ tiêu biểu. Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã xếp bài ca dao Thằng Bờm vào loại ca dao trào phúng chống phong kiến mang ý nghĩa như một truyện ngụ ngôn độc đáo:
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu.
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm ràng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười.
Cấu trúc của bài ca dao như một chuyện vui, dựng lại cuộc đối thoại, đổi chác đầy tính giễu cợt. Một bên là Phú ông, một bên là thằng Bờm. Phú ông là bọn nhà giàu nứt đố đổ vách trong nông thôn ngày xưa. Thằng Bờm thuộc tầng lớp khô" rách áo ôm trong xã hội cũ. Trong ý niệm của người đời thì thằng Bờm không phải là loại người thông minh, sắc sảo, mà có chút gì đó hơi “ngớ ngẩn”. Vì thế câu chuyện được kể lại trong bài ca dao mang tính kịch một cách hóm hỉnh, hấp dẫn.
Câu đầu giới thiệu thằng Bờm có cái quạt mo. Tám câu tiếp theo kể lại chuyện đổi chác giữa Phú ông và thằng Bờm. Câu cuối: cuộc đổi chác đã ngã giá – Bờm cười!
Cái quạt mo thật không đáng giá một đồng kẽm, nó chỉ là chiếc quạt làm bằng mo cau, của người nghèo. Thế nhưng tại sao phú ông lại tha thiết đến thế? Tuổi ấu thơ, lần đầu tiếp cận với bài ca dao này, nhiều em bé cứ ngỡ là chiếc quạt mo của thằng Bờm là một báu vật, có nhiều phép lạ tựa như chiếc chìa khóa bằng vàng trong truyện cổ. Thế nhưng đâu phải, chiếc quạt mo vẫn chỉ là quạt mo mà thôi. Càng đọc, đi sâu tìm hiểu ta càng thấy thú vị.
Cuộc đổi chác kéo dài. Phú ông năm lần đem những tài sản quý giá nhất của tên nhà giàu để gạ đổi. Có điều vật đổi cứ bị giảm giá dần dần. Bọn nhà giàu nông thôn ngày xưa vốn keo bẩn và hách dịch. Phú ông cũng vậy thôi. Thế nhưng thái độ của hắn lại tỏ ra rất nhún nhường, trước sau vẫn cứ nài nỉ “xin đổi… xin đổi…”. Nghệ thuật liệt kê tiệm thoái được sử dụng tạo nên tình huống và tính kịch của cuộc đổi chác, đồng thời kín đáo hé mở tâm địa của Phú ông:
Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu…,
Phú ông xin đổi ao sâu, cá mè…,
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim…,
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi…,
Phú ông xin đổi nắm xôi…
Thông thường trong mua bán đổi chác bao giờ cũng “thuận mua, vừa bán”. Nếu bên bán chưa đồng ý với giá mua, thì người mua cứ trả giá tăng dần lên cho đến lúc ngã giá. Nhưng ở đây, Phú ông cứ giảm giá dần, giọng nói thì vẫn tha thiết, ngọt ngào “xin đổi”, ngược lại giá trị vật đổi từ “ba bò chín trâu” sau năm lần “xin đổi” chỉ còn lại “nắm xôi” bé nhỏ! Thái độ của Bờm cũng rất lạ! “Ba bò chín trâu”, Bờm chẳng lấy! Ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, con chim đồi mồi – Bờm cũng chẳng lấy! Thế rồi Bờm cười khi
được Phú ông xin đổi nắm xôi… Phải chăng Bờm ngớ ngẩn, dại khờ trong cuộc đổi chác?
Bài ca dao Thằng Bờm ẩn chứa một nụ cười hóm hỉnh, một thái độ ứng xử sắc sảo của người dân cày Việt Nam. Trong cuộc đổi chác này, Phú ông hiện nguyên hình là một kẻ xấu xa, đê tiện. Rất tham lam, thấy người nghèo có thứ gì cũng tìm đủ mọi mánh lới mua chuộc, dụ dỗ, bòn rút. Oái quạt mo của thằng Bờm có giá trị gì mấy, thế mà hắn vẫn cứ khẩn khoản “xin đổi”! Không chỉ có thế, Phú ông cứ ngỡ rằng thằng Bờm ngớ ngẩn nên đem của ra “dứ”. Thái độ hợm hĩnh, khoe giàu, khoe của, nhạo báng người nghèo của Phú ông đã bị thằng Bờm chơi cho một vố. “Bờm cười” đâu phải Bờm đã đồng ý, cuộc mua bán ngã giá? “Bờm cười” đâu phải là người nghèo tham ăn, lấy miếng ăn làm đầu, coi miếng ăn bằng trời “dĩ thực vi thiên”? Bờm “ngố” nên đã coi nắm xôi to tát hơn, giá trị hơn “ba bò chín trâu… ao sâu cá mè…”? Bờm cứ nhẩn nha, đủng đỉnh “Bờm rằng… chẳng lấy”. Bờm đã “giăng bẫy”, Bờm chỉ lắc dầu “chẳng lấy” bởi vì Bờm đã hiểu rõ tâm địa của Phú ông – tên nhà giàu tham lam định giở trò lòe Bờm, nhạo Bờm! Lúc đầu, người đọc, cứ tưởng Phú ông đã lừa được Bờm, nhưng ai ngờ hắn đã bị giễu cợt lại. Thật chẳng khác nào “kẻ cắp bà già gặp nhau” hoặc “vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn” như dân gian đã nói.
Bài ca dao Thằng Bờm còn đề cao triết lí sống của người nông dân: sống thiết thực, có đầu óc thực tế. Họ cũng như thằng Bờm không bị lóa mắt trước núi của, trái lại họ tỉnh táo biết cái quạt mo không thể nào đổi được “ba bò chín trâu… con chim đồi mồi”. Nó chỉ đáng giá nắm xôi mà thôi! Bờm cười là vì thế! Trong mua bán, đổi chác phải ngang giá.
Cái hay, cái độc đáo của bài Thằng Bờm là ở tình huống bất ngờ. Người chiến thắng trong cuộc đọ trí không phải là người giàu, kẻ hợm của. Trái lại, người chiến thắng là anh cu Bờm vừa nghèo, vừa “ngô"”. Phú ông đã bị Bờm giáng cho một đòn sâu cay. Tâm địa đen tốibản chất xấu xa của Phú ông đã bị lật tẩy. Thằng Bờm tiêu biểu cho đầu óc thực tế, lối sống thiết thực, khôn ngoan, cách ứng xử kín đáo, thông minh, sắc sảo của nhân dân lao động.
Tóm lại, bài ca dao Thằng Bờm có giá trị nhân bản vì trước hết nó là tiếng cười dân gian, ca ngợi sự khôn ngoan, tỉnh táo của người lao động, đồng thời nó đã vạch trần bộ mặt xấu xa, hợm hĩnh của bọn nhà giàu ở nông thôn ngày xưa. Thằng Bờm là tiếng cười dân gian chống phong kiến sáng giá nhất.
Bài ca dao gồm có mười câu lục bát được viết dưới hình thức đối thoại. Có hai nhân vật, hai lớp người giàu, nghèo trong xã hội phong kiến. Nhà thơ dân gian đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ, phép liên hoàn và liệt kê tiệm thoái để làm nổi bật nghịch lí trong cuộc đời và tình huốnghấp dẫn trong câu chuyện. Ngôn ngữ thơ bình dị nhưng nội dung tư tưởng hàm chứa trong bài ca dao khá sâu sắc. Một cách ứng xử đẹp. Một triết lí sống lành mạnh, hồn nhiên. Tiếng cười trong bài ca dao Thằng Bờm là tiếng cười hài hước, vui vẻ. Nó vẫn rất cần cho cuộc sống, tựa như cơn gió mát thổi vào tâm hồn mỗi chúng ta. Nhân dân lao động đã kí thác bao tinh ý, ước mơ vào bài ca dao này. Tiếng ru của mẹ, của bà không thể thiếu tiếng võng kẽo kẹt, không thể vắng bóng bài ca Thằng Bờm. Kì diệu thay ca dao, dân ca Việt Nam.
Suy nghĩ về bài ca dao sau:
Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khôn, tháng nạn,
Đi vay đi tạm được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên mua được một con gà mái
Về nuôi hắn đẻ ra mười trứng.
Một trứng: ung
Hai trứng: ung
Ba trứng: ung
Bôn trứng: ung
Năm trứng: ung
Sáu trứng: ung
Bảy trứng: ung
Còn ba trứng nở ra ba con
Con: diều tha
Con: quạ bắt
Con: cắt xơi
Chớ phận khó ai ơi!
Còn da: lông mọc, còn chổi: nẩy cây.
(Dân ca Bình – Trị – Thiên)
Gợi ý viết bài
1. Về văn bản
Bài ca dao này xuất phát từ vùng Trung Bộ, nơi có những bài ca dao có cùng một kiểu câu tứ (câu mở đầu giống nhau), thểhiện cùng một chủ đề (than thân). Vì thế, bài ca dao có thể có nhiều dị bản, hoặc những bài “gần nhau”. Ngoài văn bản trên (sách giáo khoa Văn học 10, tập I, NXB Giáo dục, tái bản lần thứ tư, 2004), ở sách giáo khoa thí điểm ngữ văn 10, tập I, Ban Khoa học Xã hội và Nhân văn (NXB Giáo dục, 2003) còn có hai bài sau:
Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khôn, tháng nạn
Đi vay đi tạm được tám quan hai
Xuống dưới đi chợ mai
Mua một cái đó
Vác đó đi đơm.
Chạy vô ăn cơm
Chạy ra mất đó!
Kể từ ngày ai lấy đó, đó ơi
Răng (sao) đó không phân qua nói lại đôi lời cho ai hay?
Và:
Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn
Đi vay đi tạm được một quan tiền
Ra chợ Kể Diên
Mua một vác tre
Về che cái quán
Ai thù ai oán
Đốt quán tôi đi
Tôi thương cái cột
Tôi nhớ cái kèo
Tôi thương cái đòn tay
Tôi nhớ cái cửa
Bạn bè nghèo gặp nhau.
2. Về cấu tứ
Bài ca dao có cách cấu tứ đặc biệt, từ việc kể lại một câu chuyện không may trong cuộc sống đốivới một người nghèo: vay tiền mua gà nhưng chẳng đem lại kết quả như mong muốn. Nhưng đây không phải là bài ca dao tự sự. Câu chuyện được kể rất rõ ràng, chi tiết, cặn kẽ chỉ là cái cớ để người nghèo giãi bày tâm sự của mình.
3. Về nghệ thuật
Cấu tứ chỉ là một phần trong hình thức nghệ thuật ở bài ca dao này. Như đã nói, bài ca dao nhằm giãi bày tâm trạng nên tất cả các yếu tốnghệ thuật khác đều góp phần bộc lộ tâm trạng, ý thức của nhân vật trữ tình, cũng là người kể chuyện:
– Thời gian: Bài ca dao bắt đầu từ việc đếm thời gian (tháng Giêng, tháng Hai…) nhưng cách đếm lại thể hiện về ý thức của một thời gian khổ nạn. Dù không kể đủ cả mười hai tháng (một năm), song qua cách kể, người nghe cảm nhận được tính chất kéo dài của sự khốn khó. Vả lại, đây không phải là thời gian vật lí, thời gian sinh học mà là thời gian của sự vấtvả, khôn cùng. Tháng không chỉ là sốngày của nó. Tháng còn là sự vất vả, rủi ro trong đó nữa. Do đó, sau tháng bốn lẽ ra phải là tháng năm thì anh chàng người nghèo đã buộc miệng than: tháng khốn, tháng nạn. Thì ra, tháng nào cũng thế cả, cũng đều rủi ro, khốn khó như nhau.
– Cách kể: Khi đếm bước đi của thời gian, tác giả sử dụng những đơn vị tính lớn (tháng), còn khi kể về trình tự của sự việc, lại dùng những đơnvị nhỏ. Vì sao vậy? Trước hết, sự việc ấy diễn ra trong thời gian dài (ít nhất là năm tháng), mua gà về nuôi chỉ là một việc thôi, còn cuộc sống túng quẫn kéo dài, hết tháng này sang tháng khác, cũng có thể hết năm này sang năm khác. Con gà, quả trứng quả là nhỏ thật, song, với một anh chàng nhà nghèo, nó như một gia tài, một cơ hội để thay đổi cuộc đời. Thế mà, trứng ung, gà mất. Đau khổ biết nhường nào. Cách đếm chi li, từng quả trứng một, từng chú gà mới nở kia vừa nói lên giá trị của nó đối với người nông dân, càng cho thấy sự hẩm hiu, đau đớn của người nghèo khi bị mất của. Vì thế, sự trùng điệp (trùng điệp từ, trùng điệp kết cấu) ở đây mang tính nghệ thuật. Nó kéo dài nỗi thất vọng, bực tức của con người khốn khổ kia.
4. Lời kết
Từ lúc được một quan tiền mua con gà mái về nuôi, sau bao ngày chờ đợi, cuối cùng mất cả chì lẫn chài, lẽ ra bài ca dao kết thúc ở chỗ vẻ mặt thất vọng, bực tức của người nghèo khó kia, nhưng thật bất ngờ ca dao cất lên:
Chớ than phận khó ai ơi!
Còn da: lông mọc, còn chồi: nẩy cây.
Lời ca an ủi này rất có thể không phải của con người khôn khổ đó. Nó được một người khác thêm vào để an ủi, bảo ban con người bất hạnh ấy: thôi, đừng than vãn nữa, “Còn da: lông mọc, còn chồi: nẩy cây”. Hư bảy quả trứng, mất ba con gà, khổ đấy, nhưng anh vẫn còn sức lực, vẫn còn đôi tay của mình, nhất định sẽ khác. Lời an ủi ấy rất có thể của một người bạn hàng xóm, cũng nghèo khó, nhưng đồng cảm, an ủi bạn cũng là một cách an ủi mình. Trường hợp thứ hai là lời an ủi kia là của chính anh chàng nọ. Anh ta than phận khó như thế là đủ rồi. Anh sẽ quyết tâm làm lại. Thua keo này, bày keo khác. Một lời tự thương, có chút gì chua xót, song lại thể hiện tinh thần lạc quan của người lao động. Nhờ tinh thần lạc quan ấy, con người vững tin, đi tiếp trên con đường gian truân, đầy rủi ro của cuộc đời!
Phân tích một sốbài ca dao hay về tình yêu nam nữ và giao duyên trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Bài làm
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có những bài ca dao trữ tình rất hay thuộc chủ đề tình yêu nam nữ, hôn nhân hay gia đình. Những vần ca dao này được truyền tụng trong dân gian đời này qua đời khác với nhiều mến chuộng.
Thời gian qua mau, hàng năm mọi người đều cảm thấy mình tăng thêm tuổi đời. Trai trưởng thành phải lo lấy vợ, gái thành niên phải nghĩ đến việc lấy chồng. Nhưng lấy ai và ai lấy vẫn là một vấn đề. Tuy rằng ngày xưa những hội hè đình đám không thiếu cơ hội cho những cuộc gặp gỡ trai gái vìcái khó vào thời đó là làm thế nào để tỏ tình, phải ăn nói làm sao để có thểphóng cho người mình mến chuộng cái tín hiệu giao duyên khởi đầu.
Tuy rằng trong thi ca cũng đôi lần có diễn tả:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
hoặc:
Đêm qua mận mới hỏi đào
Vườn xuân đã có ai vào hái hoa?
hay là:
Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.
Ngoài ra, còn có những câu ca dao rất hay, tuy mộc mạc nhưng vẫn đầy vẻ trữ tình bóng bẩy:
Đường xa thì thật là xa,
Mượn mình làm mối cho ta một người.
Một người mười tám đôi mươi,
Một người vừa đẹp vừa tươi… như mình.
Cái anh chàng này thật là dí dỏm. Khởi đầu còn dè dặt ấp úng mượn cớ đường xa và làm mối để sau đó vào ngay việc chính nói rõ ngay ước muốn của mình là có được một người yêu cỡ mười tám đôi mươi, vừa trẻ vừa tươi đẹp như cô gái mà chàng ta đang nói chuyện. Tuy không có vẻ tỏ tình nhưng thật sự chàng ta đã tỏ tình. Cô gái tất nhiên phải hiểu là chàng thật sự muốn tỏ tình với mình nhưng ngại ngùng nên nói vòng vo vì ngại gặp những lời cự nự nếu chẳng may bị từ chối. Trong mọi cuộc tỏ tình như đã nói ở trên đây, cái khó khăn nhất là lời nói đầu tiên. Khó lắm chàng mới được dịp trực tiếp gặp nàng. Với những dịp như thế, chàng phải tìm ngay ra một cớ nào đó để mở lời đầu tiên này. Trong bài ca dao “Tát nước đầu đình”, tình yêu chân thật đã giúp chàng trai tìm ra một cớ, đó là xin lại chiếc áo bỏ quên. Nhờ cái áo mà chàng trai nói được lời khó khăn đầu tiên ấy.
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xỉn.
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh lại trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Bài “Tát nước đầu đình” đã diễn tả cuộc giao duyên hồn nhiên chân thành nơi thôn dã, qua những lời lấp lửng tài hoa duyên dáng của những người sông nơi đồng nội. Tứ thơ lại đặc sắc tài tình với các mạch thơ đầy uyển chuyển bất ngờ. Bài “Tát nước đầu đình” tuy là một câu chuyện được tạo dựng nhưng vẫn đầy đủ dí dỏm ý vị và hấp dẫn.
Nhưng những cuộc giao duyên không phải khi nào cũng có kết cuộc tốt đẹp cả. Trong kho tàng văn học dân gian còn lắm ca dao trữ tình diễn tả tình yêu nam nữ mà trong đó những thương mến, nhớ nhung, than thở, oán trách đều tràn đầy thiết tha say đắm:
Anh đến tìm hoa, thì hoa đã nở,
Anh đến bến đò, thì đò đã sang sông.
Cô gái này đã mượn lời ca dao trên đây để biện minh việc nàng phải lấy chồng, không thể chờ đợi vì chàng trai quá chậm trễ.
Anh đến tìm hoa nhưng hoa đến ngày thì hoa phải nở. Anh đến bến đò nhưng đò đầy thì phải sang sông. Duyên em đến thì em phải lấy chồng! Biết anh khi nào đến mà đợi! Anh không thể chê trách nàng được. Nàng cũng không có gì phải nuôi tiếc ân hận!
Bài Trèo lên cây bưởi hái hoa là lời thổ lộ về mối tình tan vỡ, chuyện không thành:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Emđilấy chồng anh tiếc lắm thay!
Ngày trước từng có yêu thầm, nhớ trộm chàng trai, nàng ngỏ lời tráchmóc:
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Một mớ trầu cay chỉ đáng giá ba đồng, vả lại gia đình em đâu có đòi hỏi gì cho cam. Chỉ tại anh hay gia đình anh không đến hỏi, nên bây giờ em mới phải lâm vào cảnh đau khổ hiện tại.
Lời nói của nàng tuy nhẹ nhàng nhưng buồn thấm thìa, chứa đựng bao tiếc nuối ngậm ngùi:
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Để rồi như phẫn uất vì tình cảm dồn nén mấy lâu, nàng thổn thức nói những lời như trách móc:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?
Hình ảnh “cá cắn câu” và “chim vào lồng” như diễn tả kiếp đọa đày hiện tại của cô gái, dầu nay không có hạnh phúc cũng phải chung thủy với người chồng hiện tại. Lời than thảm thiết của cô gái khiến ai nghe được không khỏi bàng hoàng xao xuyến.
Một câu ca dao khác diễn tả tâm sự một chàng trai nọ rời làng xóm mình ra đi để tạo điều kiện thực hiện mộng ước lứa đôi với người anh hằng ấp ủ thương yêu. Nhưng lúc anh thành đạt trở về làng cũ thì cảnh cũng như người đều đã đổi thay:
Ngày đi lúa chửa chia vè,
Ngày về lúa đã đỏ hoe đầy đồng.
Ngày đi em chửa có chồng,
Ngày về em đã tay bồng tay mang.
Thật là phũ phàng khi gặp lại nàng, nàng chẳng những đã có chồng mà đã trở thành một thiếu phụ hai con với nhan sắc tàn phai tiều tụy, khiến nỗi buồn thất vọng của chàng trai càng não nề khôn tả, và người thiếu phụ cũng không khỏi chạnh lòng than thở:
Tay lau nước mắt ướt nhèm,
Tại anh chậm bước nên em… có chồng.
Những bài ca dao trên đây nói về những cuộc giao duyên, dầu có được thể hiện dưới nhiều tình huống tâm trạng có khác nhau đi nữa, nhưng cũng đều tuyệt vời diễn tả nỗi khát vọng tình yêu lứa đối với những lời tỏ tình có khi xa xôi bóng bẩy, lấp lửng, có khi mộc mạc bộc trực hoặc những thở than oán trách. Đó chính là cái hay, cái đẹp trong ca dao về tình yêu nam nữ và giao duyên trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Bình giảng bài ca dao sau:
Làng ta phong cảnh hữu tình,
Dân cư giang khúc như hình con long.
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cây vun trồng tốt tươi.
Vụ năm cho đến vụ mười,
Trong làng kẻ gái người trai đua nghề.
Trời ra: gắng; trời lặn: về,
Ngày ngày, tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên…
Bài làm
Ca dao dân ca nói nhiều đến quê hương đất nước. Hình ảnh làng quê thân thuộc hiện lên thấp thoáng, hữu tình qua những vần thơ dân dã, mộc mạc đáng yêu. Con người Việt Nam, người dân cày cần cù lao động, tự hào và yêu tha thiết làng quê yêu dấu. Suốt một đời người gắn bó với quê hương, họ đã nghĩ và nói về nơi chôn nhau cắt rốn của mình bằng những vần thơ đẹp nhất:
Làng ta phong cảnh hữu tình,
Dân cư giang khúc như hình con long.
Trời ra: gắng; trời lặn: về,
Ngày ngày, tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên…
Mở đầu bài ca dao, hai tiếng “làng ta” cất lên sao nghe tha thiết, bồi hồi thế. Phong cảnh “làng ta” hữu tình nên thơ và đáng yêu lắm! Vì đó là nơi chôn nhau cắt rốn của ta, nơi mà tâm hồn ta gắn liền với mái nhà yên ấm của mẹ cha, được sống trong tình yêu thương của ông bà, cha mẹ, anh chị em… Làng ta có giếng nước, gốc đa, sân đình, mái trường, con đường đi học và tình bạn tuổi thơ. Niềm vui, nỗi buồn, tình thương, nỗi nhớ, cuộc sống và ước mơ… của mỗi chúng ta gắn bó với “làng ta”,… “Phong cảnh hữu tình” vì làng ta có dòng sông nước chảy êm đềm, đẹp tựa con rồng đang uốn lượn. Một hình ảnh tuyệt đẹp được sáng tạo bằng biện pháp tu từ so sánh:
Dân cư giang khúc như hình con long.
Có yêu quê hương tha thiết thì mới cảm nhận “làng ta” đẹp và hữu tình như thế! Lũy tre, mái nhà vườn tược, cây trái, ruộng đồng… được dòng sông như con rồng chở che, ôm ấp. Chính trên dòng sông thơ ấu ấy, con đò nhỏ đêm trăng, cánh buồm nâu chở nắng xuôi ngược, làn nước trong xanh và con cá bạc… đã mang nặng hồn ta. Chính đôi bờ dòng sông thân thuộc như hình con long ấy bát ngát màu xanh của lúa ngô khoai, ngào ngạt hoa chanh hoa bưởi, thấp thoáng mái rạ và ngọn khói lam chiều, lao xao tiếng gà gáy, con trâu hiền lành và tiếng sáo diều vi vu… đã để thương để nhớ trong lòng ta, "… Đời đang vui đồng quê yêu dấu, bóng cau với khoang thuyền một dòng sông…” (Văn Cao) – Tiếng hát “Làng tôi” vẫn ngân nga mãi trong lòng ta. Hai câu tiếp theo nói lên ước mơ nghìn đời của người dân “làng ta”, của người nông dân Việt Nam:
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi.
Họ cầu mong mưa thuận gió hòa, “chân cứng đá mềm” để “cày cấy vun trồng”, lúa khoai “tốt tươi”, làm nên những mùa màng bội thu, no ấm. Họ “nhờ trời” với tất cả niềm tin và hi vọng. Lời cầu mong ấy cho thấy tâmhồn người dân quê rất hồn hậu, chất phác. Nhiều câu ca dao có hai tiếng “nhờ trời”, bởi lẽ công việc mùa màng phụ thuộc vào thời tiết:
Nhờ trời mưa thuận gió hòa,
Nào cày, nào cấy trẻ già đua nhau…
Nhờ trời… mùa màng bội thu, cuộc sống sung túc giàu có:
Tháng năm gặt hái đã xong,
Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy,
Năm nong đầy, em xay em giã,
Trấu ủ phân cám bã nuôi heo,
Sang năm lúa tốt tiền nhiều…
Bốn câu cuối giới thiệu về con người và cuộc sống lao động nơi thôn dã của quêta.Chiêm, mùa nôi vụ, cày bừa cấy hái quanh năm:
Vụ năm cho đến vụ mười,
Trong làng kẻ gái người trai đua nghề….
Câu thơ đăng đối, cân xứng hài hòa: Vụ năm – vụ mười, kẻ gái – người trai, trời ra – trời lặn, gắng – về. Nhịp sống lao động theo nông lịch đã đi vào nề nếp từ bao đời nay. Các động từ: “đua, gắng, về” – diễn tả những phẩm chất tốt đẹp như như tinh thần chịu khó, cần cù, đức tính hay lam hay làm, lạc quan… của bà con nông dân “làng ta”. Lao động là niềm vui sáng tạo của họ:
Trời ra: gắng; trời lặn: về,
Ngày ngày, tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên…
“Truân chuyên” nghĩa là vất vả, khó nhọc. Chữ “ngày” và “tháng” được lặp lại hai lần “ngày ngày, tháng tháng”, đó là một lối nói của người dân quê lấy thời gian để ca ngợi đức tính bền bỉ dẻo dai, cần mẫn của họ. Chính người dân cày Việt Nam đã đem mồ hôi tưới xuống luống cày mới làm ra lúa gạo, những bát cơm dẻo thơm nuôi sống xã hội và làm cho làng ta ngày thêm trù phú.
“Kẻ gái người trai đua nghề”, lo làm ăn vì một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Hình ảnh ấy làm ta liên tưởng đến những bức tranh sinh hoạt của đồng quê:
Bao giờ cho đến tháng hai,
Con gái làm cỏ, con trai be bờ…
hoặc: Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Hình ảnh làng ta với con sông xanh mang vẻ đẹp bình dị đáng yêu. Con người làng ta chất phác và cần mẫn được nói đến trong bài ca dao tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân Việt Nam. Có thể nói đây là một trong những bài ca dao mộc mạc, trong sáng nói về làng quê Việt Nam. Yêu màu xanh của bờ tre ruộng lúa, tự hào về người dân cày, ta yêu thêm đất nước và con người Việt Nam.
Cảm nhận về bài ca dao sau:
Trâu ơi, ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Bài làm
Ca dao, dân ca Việt Nam vô cùng phong phú, đẹp đẽ.Nó là điệu tâm hồn của người dân quê Việt Nam. Từ bao đời nay, ca dao dân ca cùng với dòng sữa ngọt ngào của mẹ thấm sâu vào lòng tuổi thơ. Bài hát của bà, lời ru của mẹ theo nhịp võng kẽo kà kẽo kẹt qua năm tháng thời gian, dào dạt nỗi thương nhớ vơi đầy trong tâm hồn chúng ta. Con cò, con bông, hoa bưởi, hoa sen, con trâu, con gà, bờ tre, mái rạ với ruộng lúa, nương dâu… hiện lên thấp thoáng sau nhiều bài ca dao, dân ca. Nhà nông quê ta vốn hiền lành, chất phác đáng yêu như lời bài hát của họ:
Trâu ơi, ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Đây là lời an ủi, vỗ về của người nông dân với tất cả tấm lòng yêu thương, quý mến và biết ơn sâu sắc đốivới con trâu của gia đình mình.
Mở đầu bài ca dao là tiếng gọi trâu trìu mến. Hai tiếng cảm thán “trâu ơi” vang lên tha thiết ngọt ngào. Mối quan hệ giữa người với trâu là “bạn bè”, bình đẳng và cảm thông. Công việc đồng áng tuy vất vả nhưng vốn cần cù nên người nông dân không ngại phải chân lấm tay bùn mà còn phấn khởi làm ăn. Đã yêu lao động, yêu quý nghề nông, nên đối với công cụ sản xuất, đối với con trâu người nông dân cũng biểu lộ tất cả sự chăm sóc, yêu thương của họ. Con trâu là cánh tay đắc lực của nhà nông, đồng cam cộng khổvới nhau, tin cậy “trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta”. Nêu thay chữ “với” bằng chữ “cho” (trâu cày cho ta) thì mối quan hệ chân tình sẽ bị phá vỡ, đâu còn nữa! Trâu với người cùng chung chịu gian truân, thức khuya dậy sớm, một nắng hai sương:
Lao xao gà gáy rạng ngày Vai vác cái cày tay dắt con trâu…
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa…
Và những buổi cày đồng dưới ánh nắng chang chang, trâu với người “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”. “Trâu cày với ta” là tiếng nói động viên, vỗ về, tin cậy và yêu thương.
Cấy cày là công việc nhà nông, là “nghiệp nông gia”. Chữ “vốn” gợi lên sự lâu đời của một nền nông nghiệp. Dân ta vốn có nghề trồng lúa nước lâu đời. Con trâu đã được thuần dưỡng, trở thành vật nuôi trong gia đình, đứng đầu hàng lục súc. Con trâu là tài sản quý giá. Con trâu là đầu cơ nghiệp. Trâu đã giúp nhà nông cấy cày, làm nên những hạt gạo trắng thơm, những mùa vàng bát ngát. “Ta đây trâu đấy, ai mà quản công” vang lên xiết bao ân tình đã lưu truyền trên đồng xanh từ bao đời nay:
Cánh đồng ta năm đôi ba vụ,
Trâu với người vất vả quanh năm.
Vất vả quanh năm như thế, nhưng người với trâu chia ngọt sẻ bùi, luôn luôn bên nhau, “ta đây trâu đấy” nên chẳng bao giờ “ai mà quản công”. Người chăm sóc nuôi nấng trâu. Trâu giúp người cày bừa. Tình bạn, tình thương đã được hình thành qua mấy nghìn năm dằng dặc.
Hai câu cuối như một lời thề, rất chân thành cảm động, chứa chan tình nghĩa thuỷ chung:
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Ý thơ đăng đối: Lúa còn thì cócòn, người được hạnh phúc, ấm no thì trâu cũng được ấm no. Người và trâu cùng trường tồn bên nhau. Cấu trúc vần thơ “Bao giờ còn…thì còn…”, ý thơ được nhấn mạnh, lời thề nguyền trở nên sắt đá. Chân lí cuộc sống và chân lí nghệ thuật hòa quyện trong một lời thề nguyền đẹp.
Nói về bài ca dao này, nhà văn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam đã viết: “Tình cảm của người nông dân Việt Nam đối với con trâu thật là thắm thiết (…). Lòng yêu quý công cụ, yêu thương loài vật thể hiện trong một chữ “ai”, bình đẳng và thông cảm…”.
Bài ca dao chứa chan tình nghĩa. Nó phản ánh tấm lòng đôn hậu, hiền lành và chất phác của người dân cày Việt Nam. Trên đồng ruộng quê ta đã mấy ngàn năm chưa bao giờ vắng bóng con trâu. Có thể một ngày mai tươi đẹp ca hát, nền nông nghiệp Việt Nam sẽ được hiện đại hóa, cơ giới hóa, nhưng con trâu vẫn có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế, trong tâm hồn nhân dân ta.
Bình giảng bài ca dao sau:
Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Bài làm
Ca dao dân ca Việt Nam tràn ngập ánh trăng vàng. Có vầng trăng thề nguyền, ước hẹn; có vầng trăng thương nhớ, đợi chờ; có vầng trăng li biệt, man mác bâng khuâng:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?
Có vầng trăng chênh chếch ngọn tre làng. Có cảnh tát nước đêm trăng. Vầng trăng và thôn nữ sao mà đẹp và đáng yêu thế:
Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Biết bao lần chúng ta được nghe vần ca dao bát ngát ánh trăng ấy. Vần ca dao ngọt ngào và dào dạt ánh trăng đã tắm mát và tỏa sáng tâm hồn ta. Tâm hồn con người Việt Nam phong phú, tươi đẹp, đậm đà hương sắc hoa bưởi, hoa cà, hoa sen và tỏa sáng vầng trăng. Câu ca dao Hỡi cô tát nước bên đàng… đã làm đẹp thêm tâm hồn vốn rất yêu trăng của nhân dân ta.
Thơ cổ đã ghi lại những vị chơi trăng. Có tao nhân “đăng sơn vọng nguyệt”; có mặc khách “lên lầu thưởng trăng”; có trăng Tầm Dương trong tiếng Tì bà; có “thi tiên” uống rượu và nằm ngủ dưới trăng… Trăng, rượu, hoa là thú vui tao nhã ở đời. Trăng được nói đến trong bài ca dao này là trăng đồng quê, vầng trăng với thiếu nữ, là cảnh tát nước đêm trăng.
Một cặp thơ lục bát đậm đà gió nội hương đồng đã làm hiện lên trước mắt chúng ta cảnh vật đồng quê một đêm trăng tuyệt vời. Đó là vẻ đẹp của một cánh đồng quê bát ngát màu xanh và ngào ngạt hương lúa tràn ngập ánh trăng vàng. Đó là vẻ đẹp duyên dáng, khỏe đẹp của một thiếu nữ đang cần mẫn tát nước dưới trăng. Suối tóc, cánh tay, nét mặt và toàn thân cô gái như tắm ánh trăng vàng. Đó là vẻ đẹp của con kênh xanh xanh ngời ngời ánh trăng. Gầu nước vục xuống, mặt nước xao động, muôn ánh trăng vàng tan ra, lung linh huyền ảo. Cô thôn nữ tát nước một mình mà chẳng lẻ loi vì đã có vầng trăng làm bạn và còn có chàng trai làng từng thầm yêu trộm nhớ đang say mê ngắm “nàng tiên” tát nước dưới trăng. Cảnh vật và con người, lao động và tình yêu, dòng nước và con đường… đều tràn ngập ánh trăng. Câu ca dao mười bốn từ chỉ có một từ “trăng” mà người đọc thấy mát rượi ánh trăng. Nhà thơ dân gian đã sống nhiều với vầng trăng nơi thôn dã, đã yêu trăng với một tình yêu bao la, đã phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn trai gái làng quê, nên mới nói thật hay, thật đẹp cảnh thiếu nữ tát nước đêm trăng như vậy.
Một câu hỏi bâng quơ mà tinh nghịch “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?” Chàng trai làng đa tình lấp ló dâu đây? Một câu hỏi ngạc nhiên, một lời trầm trồ khen ngợi, hay một lời tỏ tình tế nhị, kín đáo của chàng trai? Tất cả đều có thể. Chân lí cuộc đời và chân lí nghệ thuật vốn đa âm và phức điệu. Trong cảm nhận của nhiều người xưa và nay là đằng sau sự miêu tả cảnh tát nước đêm trăng còn là tiếng hát giao duyên chứa chan tình thương nỗi nhớ.
Cái hay cái đẹp của câu ca dao là tả ít mà gợi nhiều. Cảnh ngụ tình đầy thơ mộng. Chàng trai say mê ngắm thiếu nữ tát nước. Cảnh đẹp, người đẹp, đãlàm tôn lên chất thi vị, hữu tình. Dòng nước ngập ánh trăng. Mỗi một gầu nước múc lên, thiếu nữ đổ đi biết bao ánh trăng vàng. Trăng tan vào nước bạc như giọt mồ hôi thiếu nữ tắm mát đồng lúa nương dâu, dệt nên bao mộng đẹp. Vì yêu người nên chàng trai thêm yêu trăng. Cảnh tát nước đêm trăng hay là sự hò hẹn của những cô Tấm anh Điền trong làng quê? Một tình yêu trọng sáng, lành mạnh gắn liền với lao động có sự chứng kiến của vầng trăng.
Đèn tà thấp thoáng bóng trăng Ai đem người ngọc thung thăng chốn này?
Có cảm được vẻ đẹp nguyên sơ của vầng trăng ca dao dân ca thì mới có thể cảm được cái hay của vầng trăng trong cổ thi – trăng trong thơ Lí Bạch, trăng trong thơ Nguyễn Trãi, trăng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, trăng thu trong thơ Nguyễn Khuyến và “trăng xưa, hạc củ với xuân này” trong thơ Bác Hồ kính yêu.
Hỡi cô tát nước bên đàng… vốn là hai câu thơ của Bàng Bá Lân đã được ca dao hóa hơn nửa thế kỉ nay. Vinh dự thay một hồn thơ đồng quê mặn mà đáng yêu.
Cảm nhận về bài ca dao sau:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân,
Nụ tầm xuân nởra xanh biếc,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cau,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?
Bài làm
Trèo lên cây bưởi hái hoa…là một bài ca dao độc đáo gồm mười câu song thất lục bát. Theo giai thoại văn học do giáo sư Vũ Ngọc Khánh sưu tầm, đây là lời đối đáp giữa chúa Trịnh Tráng và Đào Duy Từ trong thế kỉ XVII. Khi Đào Duy Từ đã trở thành bề tôi đắc lực của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Trịnh Tráng gửi thư muốn lôi kéo Đào Duy Từ ra Đàng Ngoài, nhưng việc bất thành. Đó là giai thoại. Trên một ý nghĩa khác, bài Trèo lên cây bưởi hái hoa… được lưu truyền và cảm nhận là một bài ca dao tình yêu mang tính bi kịch “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”. Duyên xưa dù lỡ hẹn nhưng vẫn “để thương, để nhớ, để sầu cho ai…”.
Năm tháng đã trôi qua, tuổi xuân trinh trắng đâu còn. Chuyện trăm năm không thể có được nữa rồi, nhưng chàng trai vẫn không nén nổi tình cảm, đành phải thốt lên than thở. Nuối tiếc bao nhiêu thì lại đau buồn bấy nhiêu. Hái hoa bưởi… rồi lại hái nụ tầm xuân, anh đã “trèo lên” rồi anh lại “bước xuống”, khác nào anh đã “cầm vàng mà lội qua sông…”.
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Mùa xuân đã qua rồi, hoa bưởi đã kết trái, thời con gái son trẻ đâu còn nữa, giờ đây “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc”. Một cách nói, một ẩn dụ biểu lộ một ý tứ tế nhị, dịu dàng. Trước thực tế phũ phàng, chàng trai chỉ còn biết thở dài ngao ngán:
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
Anh tiếc lắm thay!Bởi lẽ “Vàng rơi chẳng tiếc, tiếc công cầm vàng”. Sao anh chẳng buồn chẳng tiếc?
Từ phen ra tới giang tân,
Sớm theo dặm tuyết, đêm lần ngàn mưa.
Tiếc công chứa nước đan lờ,
Để cho con cá vượt bờ nó đi…
Em xinh em giòn như nụ tầm xuân, em trinh trắng như hoa bưởi, bởi thế trước nông nỗi này “Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!”. Đó là lời than, là nỗi đau muôn đời, nỗi hận khôn nguôi. Tâm trạng ấy của anh trai cày cũng là tâm trạng của chàng Trương Chi ngày xửa ngày xưa:
Kiếp này đã dở dang nhau,
Thì xin kiếp khác duyên sau lại thành…
Sáu câu ca tiếp theo là lời phân trần của cô gái. Cô trách “cố nhân” ngập ngừng, chậm trễ. Em đã trải qua chín đợi mười chờ: “Chờ chàng xuân mãn hè qua – Bông lan đã nở, sao mà vắng tin!”
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Còn có dị bản: Vẻ chi một mớ trầu cay, đọc lên nghe ý vị hơn. Chuyện trăm năm đành dang dở. Hai tiếng hỏi “Sao anh” vừa trách móc vừa an ủi. Tình yêu phải đi đến hôn nhân. Phải dạm trầu bỏ ngõ. “Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?”. “Ngày còn không” là ngày còn con gái, còn ở với mẹ cha. Tục ngữ có câu: Gái có chồng như gông đeo cổ – Trai có vợ như lỗ tiền chôn. Gái về nhà chồng đâu còn tự do nữa. Lễ giáo và đạo đức (tam tòng, tứ đức), anh có hiểu cho chăng?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?
Hai so sánh liên tiếp: “Như chim vào lồng, như cá cắn câu” diễn tả chân thật về cảnh ngộ bó buộc, chật hẹp của gái “đã có chồng”. Hai câu hỏi tu từ xuất hiện thểhiện một bi kịch trong tình yêu: vẫn còn quyến luyến “người xưa” nhưng không thể vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo lí, của lễ giáo. Những vần trắc (gỡ – thuở) của hai câu thất ngôn cuối đoạn làm cho âm diệu câu thơ bị thắt lại, bị nén lại như nỗi đau chứa chất trong lòng. Như một tiếng thở dài ngao ngán. Bài ca dao buông lửng. Lứa đôi chỉ còn biết an bài theo duyên phận, bởi lẽ “cá biết đâu mà gỡ” khi đã cắn câu? “Chim biết thuở nào ra” khi đã vào lồng? Lứa đôi tuy chẳng đưa được con thuyền tình cặp bến hạnh phúc, nhưng chút nghĩa cũ càng đâu dễ nguôi, dễ quên? Cả bài ca dao là nỗi buồn, nỗi tiếc nhớ cho mối tình xưa. Tuy còn nhiều lưu luyến nhưng đã có điểm dừng và khoảng cách hợp lí của anh và em khi đối diện với bi kịch tình yêu.
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam đã xếp bài ca dao này vào mục “Hôn nhân và gia đình”. Bài ca dao diễn tả thật cảm động tâm trạng của trai gái làng quê xưa trong bi kịch tình yêu: “Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!”. Và bây giờ em đã có chồng như chim vào lồng, như cá cắn câu. Nội dung đích thực của bài ca dao Trèo lên cây bưởi hái hoa là giá trị nhân bản sâu sắc. Nó là nỗi buồn trong những mốì tình lỡ hẹn trong cuộc đời. Cô gái được nhắc đến trong bài ca dao thật đáng thương và đáng trọng.
LUYỆN TẬP
Đề1. Phân tích giá trị của lời khuyên trong câu ca dao:
Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Đề 2. Cảm nghĩ của em về thân phận người của phụ nữ trong xã hội phong kiến qua bài ca dao:
Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
Đề 3. Từ bài ca dao sau, em hãy nói vềvai trò của người nông dân trong việc làm ra hạt gạo nuôi sống con người:
Cày đồng đang buổi ban trưa Mồhôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Đề 4. Phát biểu cảm nghĩ của em vềcông cha, nghĩa mẹ, ơn thầy qua bài ca dao:
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này,
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.
Đề 5. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết thể hiện như thế nào qua câu ca dao:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Đề 6. Em hãy phân tích nội dung cơ bản của câu ca dao:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Đề 7. Phân tích tâm trạng của người con gái trong câu ca dao:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Đề 8. Vận dụng các yếu tố tự sự và miêu tả để nêu ý kiến về vẻ đẹp của bài ca daoTrong đầm gì đẹp bằng sen.
Đề9. Trình bày ý kiến của em về câu ca dao:
Sang sông phải bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy.
Đề10. Cảm nhận về hai bài ca dao sau:
Em nghiêng vành nón Gò Găng
Để anh sửa lại vầng trăng đêm rằm.
(Ca dao Trung Bộ)
Đưa tay ngắt một ngọn ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ!
(Ca dao Nam Bộ)
Nguồn: | Qua ca dao, người bình dân Việt Nam đã thể hiện được những tình cảm thiết tha và cao quý của mình. Lấy dẫn chứng là những bài ca dao đã được học, em hãy làm sáng tỏ nhận xét trên | 24,981 | |
Đề bài: Qua cuộc đời hai nhân vật Mị và A Phủ, hãy làm rõ giá trị hiện thực nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Bài làm
Văn xuôi giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) thực sự là một quá trình thí nghiệm, kiếm tìm sự phù hợp mới giữa nghệ thuật và đời sống. Thời gian ngắn, số lượng tác phẩm còn lại được đến hôm nay không nhiều, nhất là ở hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Chúng ta đặc biệt trân trọng những phẩm kết tinh được bước phát triển của chặng đường văn học đặc biệt này, trong đó có truyện ngắn xuất sắc Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Vợ chồng A Phủ vừa là thành tựu tương đối hiếm hoi của văn xuôi kháng chiến, vừa ghi dấu sự trưởng thành của ngòi bút Tô Hoài trong sự chiếm lĩnh mảng đề tài miền núi, một đề tài tới nay vẫn còn nhiều mới lạ với bạn đọc. Truyện được tổ chức chặt chẽ, dẫn dắt rất dung dị, tự nhiên, không cần chạy theo những chi tiết li kì rùng rợn mà vẫn có sức hút mạnh mẽ. Có được điều đó chính là nhờ ở cái nhìn hiện thực sắc bén và chủ nghĩa nhân đạo tích cực của nhà văn. Sự thể hiện cuộc đời hai nhân vật trung tâm từ bóng tối đau khổ, ô nhục vươn ra ánh sáng của tự do và nhân phẩm, đã chứng minh rất rõ điều đó.
Giá trị hiện thực nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Cô Mị xinh đẹp, chăm làm nhưng nghèo khổ, có thể nói "khổ từ trong trứng". Bố mẹ nghèo, cưới nhau không có tiền phải vay nợ nhà thông lí. Nợ chưa trả hết, người mẹ đã qua đời. Bố già yếu quá, món nợ truyền sang Mị. Thống lí Pá Tra muốn Mị làm con dâu "gạt nợ”. Mà quan trên đã muốn, kẻ dưới làm sao thoát được! Pá Tra xảo quyệt, lợi dụng tục lệ của người Mèo, cho cướp Mị về. Thế là không có cưới hỏi, không cần tinh yêu mà vẫn hoàn toàn hợp lẽ. Có ai dám bênh vực Mị! Ngòi bút hiện thực tỉnh táo của Tô Hoài đã phanh trần bản chất bóc lột giai cấp ẩn sau những phong tục tập quán. Cô Mị, tiếng là con dâu nhưng thực sự là một nô lệ, thứ nô lệ người ta không phải mua mà lại được tha hồ bóc lột, hành hạ. Mị ở nhà chồng như ở giữa địa ngục. Không có tình thương, không sự chia sẻ vợ chồng; chỉ có những ông chỉ độc ác, thô bạo và những nô lệ sống âm thầm, tăm tối. Dần dần rồi Mị cũng quên luôn cả mình là người nữa.
Suốt ngày “Mị lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào cũng có mặt, thế giới của Mị thu hẹp trong một cái ô cửa sổ “mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Kết quả của hoàn cảnh sống thật chua xót: “ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi”, cố nhẫn nhục, cam chịu đến thành tê liệt ý thức: “là con trâu con ngựa phải đổi từ cái tàu ngựa nhà này sang ở cái tàu ngựa nhà khác, con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết làm mà thôi”. Ai có thể ngờ cô gái trẻ trung, yêu đời ngày nào thổi sáo hồi hộp chờ đợi người yêu, đã từng hái lá ngón định ăn để không chịu nhục, giờ đây lại chai lì, u mê đến thế. Quả thật hoàn cảnh quyết định tính cách. Nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa hiện thực đã được nhà văn tuân thủ nghiêm ngặt. Sự yếu đuối của kẻ nô lệ, sự vùi dập tàn bạo của bọn bóc lột tất sẽ dẫn đến cảnh ngộ bi đát ấy. Nỗi khổ nhục của cô gái Mèo này that đã có ihể so sánh với nỗi nhục của Chí Phèo khi “đánh mất cả nhân tính lẫn nhân hình" (Thật ra, Chí Phèo còn có lúc nghênh ngang, còn doạ nạt được người khác). Nếu xem xét giá trị hiện thực của một tác phẩm như là sự phản ánh chân thực cuộc sống, thì Vợ chồng A Phủ quả là bản cáo trạng hùng hồn về nỗi thống khổ của người phụ nữ miền núi, vừa chịu gánh nặng của chế độ bóc lột phong kiến, vừa bị trói chặt trong xiềng xích của thần quyền. Tâm lí nơm nớp lo “con ma nhà thống lí” đã nhận mặt mình từ buổi bị bắt về “cúng trình ma” một ám ảnh ghê gớm đè nặng suốt cuộc đời Mị (ngay cả đến khi cô đã trốn thoát khỏi Hồng Ngài). Xem thế đủ thấy bọn thống trị cao tay đến nhường nào trong nghệ thuật “ngu dân” để dễ trị.
Có thể nói nhà văn đã không hà tiện cung cấp cho người đọc những chi tiết có giá trị bóc trần bản chất xã hội vô nhân đạo. Ở đó thân phận người nghèo mới mong manh bất ổn làm sao! Ta sững sờ trước cảnh cô Mị lặng lẽ ngồi hơ lửa trong những đêm đông buốt giá, thằng chồng đi chơi về khuya ngứa tay đánh Mị ngã dúi xuống đất. Lại còn cái hình ảnh nhức nhối phũ phàng người con gái bị trói đứng vào cột trong buồng tối, bị trói chỉ vì muốn đi chơi như bạn bè. Sự bất lực của Mị trang ra theo dòng nước mắt chát trên má trên môi mà không có cách gì lau đi được.
Những chi tiết như vậy làm cho bức tranh hiện thực nới rộng thêm dung lượng và sinh động thêm. Sự xuất hiện của nhân vật chính A Phủ tạo thêm tình huống để hoàn chỉnh bức tranh đó. Cuộc đời nô lệ của A Phủ thật ra là sự lặp đi lặp lại với ít nhiều biến thái chính cuộc dời Mị. Lí do mà thông lí Pá Tra bắt Phủ phải thành người ở không công, không phải vì cuộc ẩu đả thường tình đám đám trai làng. Vân đề là ở chỗ: pháp luật trong tay ai? Khi kẻ phát đơn kiện cũng đồng thời là kẻ ngồi ghế quan toà thì nói gì tới công lí nữa! Vậy nên mới có cái cảnh xử kiện quái gở nhât trên đời mà chúng ta được chứng kiến tại nhà thống lí. Kết quả là người con trai khoẻ mạnh phóng khoáng vì lẽ công bằng mà phải đem cuộc đời mình trả nợ nhà quan.
Cảnh ngộ của hai nhân vật Mị và A Phủ ít nhiều gợi đến những Chí Phèo, chị Dậu, những chú AQ và những thím Tường Lâm… Đó là những hình tượng nghệ thuật được cô đúc từ chính cuộc đời đau khổ trong xã hội cũ.
Nhưng, nếu nói giá trị hiện thực của lác phẩm Vợ chồng, A Phủ mà chỉ phân tích khía cạnh phơi bày, tố cáo, phê phán thông qua những cảnh ngộ bi thảm của người dân lao động là còn chưa đủ. Nhiều tác phẩm hiện thực phê phán sâu sắc vẫn bị xem như có hạn chế trong tầm nhìn và bởi thế, giá trị hiện thực sẽ không được toàn vẹn. Tô Hoài, trong khi đào sâu vào hiện thực đã phát hiện ra con đường tất yếu mà các nhân vật của ông đi tới. Sự đè nén quá nặng nề, những đau khổ chồng chất mà bọn thống trị gây ra tất sẽ dồn những kẻ khốn cùng ấy tới sự chống trả. Và nếu gặp được ánh sáng soi đường, họ sẽ đến được thắng lợi (Tô Hoài có cái may mắn là viết Vợ chồng A Phù sau Cách mạng tháng Tám). Tất nhiên nhà văn phải có con đường riêng cho sự thể hiện chân lí đơn giản ấy. Lấy việc miêu tả tâm lí làm điểm tựa vững chắc, Tô Hoài đã tìm ra được sự phát triển lôgich của các tính cách. Chúng tôi nghĩ đây mới thực sự là giá trị hiện thực độc đáo của tác phẩm, và là chỗ có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất. Tô Hoài đã chỉ ra sự hợp lí của quá trình tha hoá nhân cách ở Mị thời kì đầu. Mị làm việc nhiều quá, bị đày đoạ khổ ải quá, mãi rồi Mị phải “quen", phải cam chịu, Lúc trước Mị không được quyền tự tử vì sợ liên lụy tới bố; giờ bố đã chết, nhưng Mị không còn muốn tự tử nữa. Mị như một cái máy không ý thức, không cảm xúc, ước ao… Liệu cô ta có thể tỉnh thức được nữa không? Nhà văn trả lời: có. Nếu đã có một hoàn cảnh làm tê liệt lâm hồn con người thì cũng sẽ có một hoàn cảnh đánh thức được nó. Hoàn cành nào đây? Phép màu nào đây? Kì diệu thay và cũng giản đơn thay, đó chính là tiếng sáo Mị tình cờ nghe được giữa một ngày mùa xuân đầy hương sắc. Tất cả chợt sống đậy. Mị thấy lòng “thiết tha bồi hồi” và lập tức nhớ lại cả quãng đời niên thiếu tươi đẹp. Có gì lạ đâu nhỉ? Thanh niên Mèo ai chả yêu tiếng sáo, mà Mị lại là cô gái thổi sáo giỏi. Hơn nữa, tiếng sáo đang dập dờn ngoài kia lại nhắc đến tình yêu, “gọi bạn yêu”, nó thức dậy trong sâu thẳm lòng cô khát vọng yêu đương và hạnh phúc. Như vậy tiếng sáo lay động chính cái sức mạnh bền vững, bất diệt nhất của luổi trẻ. Mị nhớ lại rành rõ “mình vẫn còn trẻ lắm”, rằng “bao nhiêu người có chồng vẫn đi chơi xuân”. Và bên tai Mị cứ “lững lờ” tiếng sáo! Sự bừng tỉnh từ sâu xa trong tâm hồn ấy biểu hiện bên ngoài bằng hành động mới nhìn rất lạ: “Mị lén lấy hũ rượu cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đầy”. Có ngọn lửa nào đang cần phải khơi lên hay cần phải dập tắt đi bằng hơi men vậy? Chỉ biết rằng cô gái đã quả quyết thay váy áo để đi chơi, điều mà bao nãm rồi, cô không nhớ đến. Có thể coi đây là một bước đột biến tâm lí nhưng là kết quả hợp ư của toàn bộ quá trình tác động qua lại giữa cảnh với tính cách nhân vật. Sự “vượt rào” của Mị tuy bị đàn áp ngay (A Sử tắt đèn, trói đứng cô vào cột), nhưng chí ít thì ý thức về quyền sống, khát vọng về hạnh phúc đã trở lại. Mị lại biết khóc, lại muốn tự tử. Và những giọt mắt trong cái ngày tàn nhẫn này sẽ lưu giữ trong lòng Mị như một vết bỏng rát để đến khi bắt gặp những dòng nước mắt chảy “lấp lánh” trên gò má hốc hác của A Phủ, nó đã biến thành sự đồng cảm sâu sắc giữa những người cùng khổ. Toàn bộ ý thức phản kháng của Mị hiện hình qua một câu hỏi sáng rõ: “Người kia việc gì phải chết?”. Mị quyết định trong khoảnh khắc: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ. Và tất nhiên, Mị cũng bỏ trốn, tự giải thoát chính mình. Hai kẻ chạy trốn chịu ơn nhau, cảm thông nhau, dựa vào nhau để tạo lập hạnh phúc, nhưng khi cái đồn Tây lù lù xuất hiện và lại có cha con thống lí Pá Tra về ở trong đồn, thì họ thật sự bị dồn đến chân tường. Trước mắt họ, chỉ còn sự lựa chọn cuối cùng: trở lại kiếp nô lệ hay chống kẻ thù. Chắc chắn họ thà chết còn hơn lại sống như cũ. Nhưng muốn chống kẻ thù, họ trông cậy vào ai? Cách mạng đã đến với họ đúng giây phút ấy. Mị và A Phủ đi theo cách mạng, sẽ thủy chung với cách mạng như một lẽ tất yếu!
Bằng sự am hiểu cuộc sống và khả năng phân tích những vấn đề xã hội sắc bén, nhất là bằng ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, Tô Hoài đã tái hiện chân thật và sinh động cuộc hành trình từ đau khổ, tối tăm ra phía ánh sáng cách mạng của những người dân lao động dưới chế độ cũ. Tác phẩm đem lại cho bạn nhận thức đúng đắn về con đường cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta. Ngoài ra, giá trị hiện thực của truyện còn được gia tăng bằng màu sắc địa phương rất đậm nét với cảnh sắc, phong tục, sinh hoạt của người Mèo, bằng bản sắc tâm hồn độc đáo của các nhân vật. Cùng một số phận, một cảnh ngộ, những diễn biến tâm lí của Mị rất khác A Phủ. A Phủ mạnh mẽ, bộc trực, dứt khoát dường như chín chắn hơn nhưng lại yếu đuối hơn…
Bất cứ tác phẩm văn học nào cũng chứa đựng thái độ của nhà văn đối với cuộc sống, trước hết là với con người. Ngay giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ đã để lại ra cái nhìn nhân đạo, ưu ái của Tô Hoài. Khi cô đúc nỗi cùng khốn vào hai thân phận nô lệ với ý thức làm một bản cáo trạng về xã hội cũ, Tô Hoài đã gợi lên trong chúng ta sự căm phẫn, sự đau xót, sự cảm thông. Khi miêu tả buổi lễ ăn thề giữa A Châu và A Phủ như là cuộc nhân duyên giữa quần chúng và cách mạng, ông đem lại niềm tin về một tương lai sáng sủa cho những người bị áp bức.
Thật ra cũng khó tách bạch đâu là giá trị hiện thực, đâu là giá trị nhân đạo một tác phẩm như Vợ chồng A Phủ. Hiện thực và nhân đạo nhiều khi hoà trộn với nhau. Không thể không nói đến tính chân thực, chính xác, lôgic ở những đoạn mô tả tâm lí. Nhưng rõ ràng phải biết thông cảm, biết trân trọng nâng niu người lắm mới có thể xét đoán tâm hồn người ta tinh tế như vậy. Tôi cứ nhớ mãi hình ảnh cô Mị lần tìm về quỳ lạy trước mặt bố mà khóc nức nở. Đứa con chưa kịp nói gì, người cha đã biết: “Mày về quỳ lạy lao để mày chết đấy à? Không được đâu con ơi”. Mị ném nắm lá ngón xuống đất, quay trở lại chốn địa trần gian. Phải, cô gái ấy vốn có một nhân cách đáng trọng. Cô thà chết khỏi sống khổ sống nhục, nhưng lại phải chấp nhận sống khổ nhục còn hơn bất hiếu với cha. Chính Mị, khi còn rất trẻ đã biết xin bố: “Con nay đã lớn rồi, sẽ thay bố làm nương trả nợ. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Đó là con người biết yêu quý tự do, biết khẳng định quyền sống. Ngay cả lúc bị hoàn cảnh vùi dập đến mê mụ, trong tro tàn của lòng cô vẫn còn âm ỉ đốm than hồng của niềm ham sống, khát khao thương yêu. Nếu nhà văn chỉ tuân theo một thứ hiện thực khách quan lạnh lùng thì làm sao ông có thể đón đợi và nắm bắt tài tình giây phút sống lại bất ngờ và mãnh liệt đến thế của cô gái. Không, trước sau ông vẫn tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghiệt đến mấy, cũng không thể tiêu diệt hoàn toàn nhân tính. Mị đã sống lại băng luổi trẻ, bằng nổi day dứt về thân nhân của mình. Chính cái khát vọng sống mãnh liệt không thể chết được ở Mị, làm cho Mị đồng cảm với cảnh ngộ của A Phủ và đi đến quyết định giải thoát cho A Phủ, giúp Mị tự giải thoát khỏi cái chốn địa ngục để làm lại cuộc đời, để được sống như một con người.
Tô Hoài đã trân trọng từng bước trưởng thành của Mị và A Phủ. Cái nhìn của ông về hai nhân vật này là một cái nhìn nhân đạo tích cực. Ông cảm thông nỗi đau của Mị và A Phủ. Cái nhìn của ông về hai nhân vật này là một cái nhìn tích cực. Ông cảm thông nỗi đau của Mị và A Phủ, mặt khác ông trân trọng ý thức nhân phẩm, khát vọng giải phóng và tin ở khả năng tự làm chủ trước cuộc đời của hai con người đau khổ này. Phải chăng, chính cái nhìn đó đã tạo nên giá trị của tác phẩm?. | Qua cuộc đời hai nhân vật Mị và A Phủ, hãy làm rõ giá trị hiện thực nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ | 2,847 | |
Qua các bài thơ về quê hương đã học làm sáng tỏ nhận định quê hương chiếm khoảng rộng trong trái tim tình yêu của Thơ mới – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ đến Cách mạng tháng Tám 1945 là bộ phận khá quan trọng trong nền văn học nước nhà. Thời kì này xuất hiện nhiều mảng văn học với nhiều trào lưu khác nhau. Nổi bật lên là sự ra đời của phong trào Thơ mới. Thơ mới đã mở ra cả một thời đại thi ca và làm xuất hiện nhiều nhà thơ tài năng. Bên cạnh các giá trị nghệ thuật, Thơ mới cũng đạt nhiều giá trị nội dung mang tính dân tộc. Một trong những nội dung đó là tình yêu đất nước, chính nội dung này “đã chiếm một khoảng rộng trong trái tim tình yêu của Thơ mới”. Nội dung trên được phản ánh sâu sắc qua các tác phẩm Quê hương của Tế Hanh, Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ, Nắng mới của Lưu Trọng Lư và Nhớ rừng của Thế Lữ.
Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước nhà mất chủ quyền, dân làm nô lệ, đất nước quằn quại trong đau thương, chìm ngập trong bóng tối, các nhà Thơ mới chán ghét thực tại, tìm đến những cảnh đẹp của quê hương đất nước để bày tỏ tấm lòng yêu nước thầm kín của mình.
Tế Hanh tìm về làng chài yêu dấu thân thương của mình trong bài “Quê hương”. Quê hương của nhà thơ là một làng chài ven biển êm vui, đầm ấm với những buổi sáng trong xanh, gió nhẹ, trời êm, dân trai tráng đua nhau bơi thuyền ra khơi đánh cá. Nổi lên trên nền trời nước mênh mông là những cánh buồm trắng đang rướn mình mạnh mẽ “vượt trường giang”, là những cánh tay trai làng vạm vỡ, khỏe mạnh:
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
Cảnh những buổi dân làng sung sướng đón thuyền trở về cũng rạng rỡ trong tâm hồn nhà thơ. Cảnh có cái thanh thản của con thuyền trở về nằm nghỉ nồng nàn hơi thở mặn mòi của biển, cái mùi vị đặc biệt mà chỉ làng chài mới có. Làng chài êm ả, thanh bình đã làm cồn lên nỗi nhớ tha thiết trong lòng nhà thơ. Nhà thơ nhớ da diết từ con cá bạc, chiếc buồm vôi đến cái vị nồng nồng mằn mặn của quê hương. Phải yêu quê hương tha thiết, sâu nặng lắm, nhà thơ mới khắc họa được một bức tranh quê hương đầy đủ, sông động và tươi đẹp đến vậy.
Yêu quê hương đất nước, Đoàn Văn Cừ đã hướng tâm hồn mình về với những nét đẹp truyền thông văn hóa của dân tộc với cuộc sống sinh hoạt dân dã của quê hương. Một phiên chợ Tết vui tươi, sống động, rực rỡ màu sắc hàng hóa, của trang phục những người đi chợ Tết bừng sáng trong tâm hồn nhà thơ. Bức tranh chợ Tết có đủ gương mặt mọi người: già trẻ, gái trai, người mua kẻ bán đông vui, tấp nập. Nổi lên là hình ảnh cụ đồ nho “khoan khoái vuốt râu cằm, miệng nhẩm đọc vài ba câu đối đỏ” biểu hiện nét đẹp truyền thông văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Người vui, cảnh vật cũng vui, thiên nhiên mang tâm hồn người, cùng hòa vui vào tâm hồn người:
Sương trắng đỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nhảy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Thiên nhiên đang mang hồn sông của quê hương trong những ngày giáp Tết. Cảnh vật đẹp và sông động như vậy, nhà thơ không yêu mến sao được.
Lưu Trọng Lư trở về với dòng hoài niệm tuổi thơ, những ngày còn mẹ. Hình ảnh mẹ hiện lên giữa khung cảnh thiên nhiên sáng màu nắng mới:
Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Cả hai hình ảnh mẹ và thiên nhiên đã tạo nên gương mặt đẹp của quê hương, lúc này đang xôn xao thức dậy bừng sáng trong tâm hồn nhà thơ, khơi gợi lên bao nỗi nhớ, tình yêu quê hương tha thiết.
Thế Lữ đã gửi gắm tâm sự yêu nước thầm kín của mình vào lời con hổ trong bài thơ “Nhớ rừng”. Nhà thơ để con hổ quằn lòng nuôi tiếc quá khứ vàng son, oanh liệt:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những đêm mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu.
Phải chăng tâm trạng tiếc nuối quá khứ vàng son oanh liệt của con hổ cũng chính là tâm trạng tiếc nuôi quá khứ anh hùng của dân tộc trong nhà thơ?
Tags:Văn 8 | Qua các bài thơ về quê hương đã học làm sáng tỏ nhận định quê hương chiếm khoảng rộng trong trái tim tình yêu của Thơ mới – Đề và văn mẫu 8 | 906 | |
Qua các kì thi học sinh giỏi quốc tế, em có suy nghĩ gì về trí tuệ Viêt Nam – Ngữ văn 9
Hướng dẫn
Suy nghĩ về trí tuệ của Việt Nam
Đề bài: Qua các kì thi học sinh giỏi quốc tế, em có suy nghĩ gì về trí tuệ Viêt Nam.
1. Yêu cầu
– Vấn đề cần bàn luận là trí tuệ Việt Nam.
– Bài viết đặt ra việc tìm hiểu và thâm nhập thực tế cuộc sống, việc tích luỹ kiến thức qua sách báo, qua các phương tiện truyền thông.
– Quá trình nghị luận ngoài vốn kiến thức, người viết phải có sự kết hợp khéo léo, hợp lí với các phương thức miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh.
– Cần thể hiện rõ niềm tự hào và niềm tin tưởng các tài năng của thế hệ trẻ Việt Nam để từ đó càng thấy rõ trách nhiệm và vai trò của bản thân đối với việc học hỏi, rèn luyện ý chí vươn lên.
2. Gợi ý
– Nên tìm đọc các tài liệu nói về các kì thi học sinh giỏi quốc tế, thi sáng tạo robot.
– Tham khảo các cuộc thi “Thắp sáng tài năng trẻ Việt Nam”, “Trí tuệ Việt Nam”, thi chế tạo Rôbôtcon do đài truyền hình Trung ương tổ chức và phát hình trực tiếp.
– Theo dõi cuộc họp mặt của thành phố Hà Nội sắp tới với học sinh đã đạt giải kì thi quốc tế trong 5 năm trở lại đây (2000 – 2005).
– Cần thuyết phục người đọc tin tưởng, tự hào về trí tuệ Việt Nam qua những gương mặt tài năng trẻ.
3. Lập dàn ý
a. Mở bài
– Truyền thống hiếu học và truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc (hoặc trích dẫn lời Nguyễn Thiếp, hoặc văn thơ).
– Học sinh đạt giải trong các kì thi quốc tế luôn là niềm tự hào của thế hệ trẻ nói riêng và cả nước nói chung.
b. Thân bài
– Các kì thi học sinh giỏi quốc tế là một sân chơi trí tuệ cho những người trẻ tuổi.
– Học sinh Việt Nam được đánh giá như thế nào trong các cuộc thi này?
(Dự thi các môn? Thành tích đạt được? Thứ hạng và những giải đặc biệt.)
– Suy nghĩ của bản thân (trọng tâm)
Xúc động sâu sắc, tự hào khi quốc kì và quốc ca Việt Nam cất lên ở lễ trao giải (theo dõi truyền hình)
Suy nghĩ về truyền thống cần cù, chăm chỉ tạo nên trí thông minh linh hoạt và sáng tạo của dân tộc Việt Nam – đặc biệt thanh niên học sinh Việt Nam. (liên hệ với với văn bản Chuẩn bị hành trang uào thế kỉ mới của Phó Thủ tướng Vũ Khoan)
Suy nghĩ về việc tham gia các kì thi học sinh giỏi quốc tế, vượt qua muôn ngàn khó khăn khách quan, chủ quan bởi hoàn cảnh của học sinh nước ta.
Suy nghĩ về thành tích đạt được: vui mừng, sung sướng, tự hào.
– Những đề bạt mong muốn
Nhà nước quan tâm tạo điều kiện cho thế hệ trẻ được bộc lộ tài năng và có chính sách đãi ngộ thoả đáng.
Mong cuộc thi quốc tế viết thư UPU có giải cao. Đây thực chất là một dạng thi học sinh giỏi văn quốc tế.
4. Bài làm minh hoạ
Việt Nam được biết đến không phải chỉ là đất nước anh hùng với bao chiến công lẫy lừng, với những con người cần cù chịu thương chịu khó mà bạn bè năm châu còn trân trọng chúng ta vì tài năng, trí tuệ. Biết bao công trình khoa học, bao phát minh, sáng chế, bao thành tích đáng vị nể, bao huy chương đã đưa dân tộc ta bước lên “đài vinh quang” để “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đặc biệt, thành tích của học sinh, sinh viên ta đạt được trong các kì thi học sinh giỏi quốc tế là niềm kiêu hãnh và tự hào cho mỗi chúng ta.
Hằng năm đều có rất nhiều các cuộc thi quốc tế được tổ chức trên thế giới với các bộ môn khoa học tự nhiên như: Toán, Lí, Hoá, Tin,… thu hút các bạn trẻ thuộc nhiều độ tuổi tham dự. Việt Nam cũng là một đất nước đã có khá nhiều học sinh ưu tú dự thi và giành được những thành công đáng kể.
Chúng ta có bao nhiêu hào kiệt, nhân tài làm rạng danh cho đất nước, khiến cho các quốc gia khác phải nể phục, kính trọng.
Xưa kia, đi sứ sang Trung Quốc, Lương Thế Vinh, nổi tiếng với bài toán cân voi khiến triều đình Trung Hoa phải lắc đầu nể phục. Mạc Đĩnh Chi với bài phú Hoa sen giếng ngọc thể hiện cốt cách thanh tao của một người con đất Việt. Tuy vẻ bề ngoài xấu xí nhưng tài năng của ông đã khiến cho sứ thần Trung Quốc phải kinh ngạc và e dè. Cậu bé Nguyễn Hiền là người đã đỗ Trạng nguyên khi mới 13 tuổi và là ông Trạng trẻ nhất trong lịch sử dân tộc ta. Đây chỉ là một vài tên tuổi tiêu biểu, đại diện cho trí tuệ mẫn tiệp của người Việt Nam xưa. Họ đã làm nên những điều đủ cho ta thấy được trí tuệ Việt Nam từ lâu đời đã tạo nên danh tiếng cho nước Việt Nam nhỏ bé, làm cho bạn bè yêu quý, nể phục còn kẻ thù thì khiếp sợ.
Ngày nay, thế hệ trẻ Việt Nam vẫn luôn tiếp bước ông cha xưa, nỗ lực vươn lên học tập không ngừng nhằm đem vinh quang cho Tổ quốc. Thanh thiếu niên ở mọi lứa tuổi đang liên tục giành được các huy chương vàng, bạc, đồng, các giải thưởng của các cuộc thi uy tín trên toàn thế giới tô thêm màu son chói lọi vào bảng vàng thành tích của dân tộc ta.
Hẳn chúng ta vẫn còn nhớ hình ảnh những em học sinh tiểu học rạng rỡ bước ra từ trên máy bay ùa vào vòng tay người thân trước cửa sân bay Tân Sơn Nhất sau khi tham gia cuộc thi Toán quốc tế tháng 9 năm 2004 từ Ấn Độ trở về. Với 20 huy chương, trong đó 14 huy chương vàng, đoàn học sinh Việt Nam đã giành giải nhất toàn đoàn. Những con số đã từng khiến ta thấy sung sướng và tự hào khi nghĩ về những giây phút ấy. Trí tuệ Việt Nam quả thật đã toả sáng trên đất bạn. Chúng ta có thể tự hào hình dung được những cái nhìn đầy bất ngờ, đầy khâm phục của bè bạn năm châu. Những thành công mà các bạn học sinh gặt hái hôm nay sẽ là nền tảng cho những bước tiến sau này của đất nước. Những chiếc huy chương quý giá ấy sẽ là một sự tôn vinh của tài năng người Việt Nam ta trên con đường chinh phục những đỉnh cao tri thức của nhân loại.
Ba học sinh của khối chuyên trường Đại học Khoa học tự nhiên đã đoạt giải nhì AGAMES một cuộc thi sáng tạo lập trình do Liên minh công nghệ truyền thông – thông tin Châu Á (AIC) tổ chức. Đây là một cuộc thi có đẳng cấp quốc tế vì có sự góp mặt của các cường quốc công nghệ thông tin sừng sổ như Xin-ga-po, An Độ, Nhật Bản, Hồng Kông, In-đô-nê-xi-a,… Giải nhì này cùng với giải ba của các anh chị đội Học viện Bưu chính Viễn thông giành được trong nội dung Micro Mouse đã giúp đoàn Việt Nam vượt qua những cường quốc công nghệ thông tin khác. Thật đáng tự hào biết bao!
Nếu so sánh Việt Nam với những đất nước như Nhật Bản hay Ấn Độ về cơ sở vật chất và nền giáo dục tân tiến thì có thể nhận thấy rõ sự chênh lệch rất bất lợi của ta, vậy mà những thanh thiếu niên học sinh ưu tú đó không ngần ngại vượt qua bao khó khăn, trắc trở để đến với những đình cao tri thức mới. Chúng ta thật tâm đắc với câu nói: “Nhân tài là do 99% của sự cần cù chăm chỉ còn 1% của sự thông minh”. Những học sinh Việt Nam đã thấm nhuần câu nói đó và hơn thế nữa đã biết kết hợp hai yếu tố chăm chỉ và thông minh một cách hợp lí để đạt được thành tích ngày càng cao trong các kì thi quốc tế góp phần tôn vinh trí tuệ Việt Nam với bạn bè năm châu bốn bể.
Có được người tài đã là khó nhưng sử dụng và phát huy được tài năng của họ là việc không đơn giản. Chế độ, chính sách, đãi ngộ,… là những việc làm trước mắt cần được quan tâm đúng mực hơn nữa. Riêng cuộc thi viết thư UPU, về thực chất là một dạng thi học sinh giỏi văn quốc tế, cũng cần được quan tâm để tim ra những giải pháp hữu hiệu hơn nữa trong việc giành giải cao. Mong rằng, trong cuộc thi Olimpic các môn tự nhiên vào tháng tám này tại Mê-xi-cộ, đội tuyển Việt Nam sẽ tiếp tục đứng lên bậc cao nhất làm rạng danh non sông đất nước ta. Cũng mong rằng ánh sáng bất diệt của trí tuệ Việt Nam sẽ toả ngời trong cuộc gặp gỡ các gương mặt đoạt giải quốc tế trong 5 năm trở lại đây của Thành phố Hà Nội. Đây là sự tụ hội của các anh tài, là sự bày tỏ niềm tự hào và tin tưởng của thành phố cũng như cả nước đối với các anh chị.
Hãnh diện và tự hào, khâm phục và ước mơ… Đó chính là cảm xúc của mỗi chúng ta trước các thành tích đáng quý đó.
(Vũ Ngọc Trâm, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
⇒ Nhận xét
Bài viết bàn về một vấn đề lớn “trí tuệ Việt Nam”, nhưng chỉ giới hạn trong các kì thi quốc tế. Bạn đã dành một số dòng cần thiết điểm lại một vài danh nhân đất Việt xưa để khẳng định rằng trí tuệ mẫn tiệp của người Việt là một dòng chảy không ngừng. Về các cuộc thi quốc tế, người viết đã cập nhật thông tin dẫn ra kì thi tiểu học và gương cô gái Việt trên đất Mĩ, ba sinh viên khối chuyên Đại học Khoa học tự nhiên. Tuy vậy, các con số về thi Toán quốc tế mà đội tuyển Việt Nam luôn đứng ở tốp đầu, Lê Bá Khánh Trình đạt điểm tuyệt đối và là người có lời giải đẹp nhất (lần thi ở Vương quốc Anh) ; các huy chương Vàng của cuộc thi Vật lí, Hoá học, Sinh học, Tin học chỉ được nhắc sơ lược trong một câu là một điều đáng tiếc.
Một đề bài khó, nhưng bạn đã vượt qua được bằng một bài viết khá. | Qua các kì thi học sinh giỏi quốc tế, em có suy nghĩ gì về trí tuệ Viêt Nam – Ngữ văn 9 | 1,860 | |
Đề bài: Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, hãy nêu giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Bài làm
Vợ chồng A Phủ là một trong ba tập trong Truyện Tây Bắc (in năm 1954) của nhà văn Tô Hoài. Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi vợ chồng trẻ người Mèo là Mị và A Phủ. Mị bị bắt về làm con dâu trừ nợ cho nhà thông lí. A Phủ vì dám đánh A Sử, con trai thống lí nên phải làm đày tớ đế trừ tiền phạt vạ. Cùng cảnh ngộ đau khổ, Mị đã cứu A Phủ. Hai người trốn khỏi nhà Pá Tra, tìm đến tận Phiềng Sa, thành vợ, thành chồng, cùng nhau xây dựng cuộc đời mới. Được cán bộ cách mạng giác ngộ, Mị cùng A Phủ trở thành du kích bảo vệ khu giải phóng.
Đây là tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể. Thông qua số phận Mị và A Phủ, nhà văn đã dựng lại quãng đời đau khổ, tối tăm của người dân miền núi trước cách mạng và phản ánh quá trình đến với cách mạng của họ.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Dưới thời thực dân phong kiến, bọn lang bạo chúa đất ở vùng cao mặc sức làm mưa làm gió. Chúng nắm trong tay quyền lực của hành chính, tập tục và thần linh. Chúng có quyền sinh, quyền sát. Bởi thế tính mạng người dân bị coi như cỏ rác. Điển hình cho tầng lớp thống trị miền núi được miêu tả trong truyện là cha con tên thông lí Pá Tra với tính cách bạo ngược và lối sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người nghèo.
Cũng như bao tên chúa đất khác, thông lí Pá Tra có đủ mọi thủ đoạn hiểm độc trong việc áp bức, bóc lột dân chúng, đẩy họ vào cảnh bần cùng để rồi mặc nhiên trở thành nô lệ của hắn. Mị và A Phủ là nạn nhân trong bao nạn nhân khác của cha con hắn.
Mị vốn là một cô gái mang đầy đủ phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ vùng cao. Đẹp người, đẹp nết, Mị được nhiều trai bản yêu mến. Cuộc sống, tuổi thanh xuân, hứa hẹn với cô bao điều tốt lành. Nhưng chi vì món nợ của cha mẹ cô vay thống lí từ ngày cưới cho đến lúc mẹ cô chết vẫn chưa trả được nên Mị phải đem thân làm con dâu trừ nợ cho nhà thống lí. Là người nhưng cô bị coi như một thứ đồ vật vô tri, vô giác đế tính ra tiền trừ vào số nợ.
Những ngày Mị sống với cha con tên thông lí là chuỗi dài đau thương vất vả. Danh nghĩa là dâu nhà quan nhưng thực chất cô là đầy tớ không công, bị coi rẻ hơn cả con trâu, con ngựa. Suốt ngày nai lưng ra làm quần quật, đêm đến cô lại phải thức hầu hạ thằng chồng tàn ác.
Đau khổ, cực nhọc đã cướp mất tuổi xuân của Mị, biến cô thành kẻ nhẫn nhục, cam chịu. Cô gái Mèo xinh đẹp, hồn nhiên, đa tình, đa cảm thuở nào đã chết. Chi còn lại người đàn bà “lúc nào cũng vậy… cũng cúi mặt buồn rười rượi… ngồi ngay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa…”. Mị âm thầm “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa".
Mị không những bị đọa đày về thể xác mà còn bị đè nén về tinh thần, Mị chán sống nhưng không được chết. Vì có chết thì món nợ truyền kiếp kia vẫn còn là người cha già càng đau khổ hơn. Cuộc đời Mị bị ràng cột bằng quyền lực, bị trói buộc bằng tập tục mê tín lâu đời của người dân miền núi.
Cách đối xử bất công, tàn bạc của cha con tên thống lí làm cho Mị ngập chìm trong đau khổ triền miên. Cô lặng lẽ ra vào như một cái bóng, không một người bạn chia sẻ tâm tình. Cô chi còn biết làm bạn với ngọn lửa “trong những đêm đông dài và buồn”. Thân xác Mị, tâm hồn Mị lạnh lẽo, trống vắng, “nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết kéo".
Ngọn lửa là người bạn duy nhất giúp cô xua bớt phần nào bóng tối u ám đang vây phủ cuộc đời cô. Không có bạn bè cảm thương với nỗi khổ của mình, phải tìm đến ngọn lửa, coi nó là bạn. Khổ biết chừng nào!.
Bao năm qua, Mị bị đọa đày trong nhà thông lí, mọi cảm xúc của cô hầu như tê liệt. Tinh thần phản kháng cũng vậy. Bây giờ Mị đã nghĩ rằng minh là con trâu, con ngựa của nhà giàu, chỉ biết ăn cỏ và đi làm thôi. Con trâu, con ngựa nhà giàu đêm còn được nghi, còn cô không lúc nào ngớt việc. Trước kia. cô phản kháng dữ dội bằng cách định ăn lá ngón tự tử, giờ cô không nghĩ đến chuyện chết nữa vì quá quen với cái khổ rồi, vì cho rằng sống mà như chết. Đời Mị cứ thế lặng lẽ trôi đi. Với Mị, cuộc sống chẳng còn nghĩa lí, không còn gợi cho cô ý thức gì về quá khứ, hiện tại, tương lai. Cái ác cùa bọn thống lí là đã giết chết phần tốt đẹp của con người.
Cuộc đời A Phủ, người con trai Mèo cũng không kém phần chua xót. Khỏe mạnh, ngang tàng, phóng khoáng, làm nương giỏi, săn thú tài, A Phủ được bao cô gái say mê, ao ước. Nhưng hạnh phúc không dến với chàng trai nghèo khổ mồ côi ấy. Vì dám đánh bại trăm đồng bạc trắng, phải đi ở trừ nợ làm ngựa cho nhà thống lí: "Đời mày, đời con, đời cháu mày tao củng bắt thể, giờ hết nợ tao mới thôi”.
Ngày này qua tháng khác, A Phủ phải làm việc cật lực, chăn dắt bầy bò đông máy chục con. Không may một con bò bị hổ ăn thịt. A Phủ bị trói đứng vào cột chờ chết, không được ăn, không được uống.
Con người khi phách ngang tàng như A Phủ mà phổi lặng lẽ khóc cho thân phận tủi nhục cua mình: "hai mắt A Phủ cũng vừa mở. Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Chút ý thức phản kháng trong anh đã bị hiện thực phũ phàng dập tắt.
Ngòi bút nhà văn tỏ ra sắc sảo trong việc miêu tả con người và cuộc sống vùng cao. Cha con tên thống lí và lũ tay sai là hiện thân của giai cấp thống trị tàn ác, vô nhân đạo. Bọn lý dịch, quan làng, thống quản… lợi dụng chuyện A Phủ đánh A Sử để kéo đến nhà thống lí xử kiện và ăn cỗ “suốt từ trưa cho đến hết đêm". Mấy chục người “hút thuốc phiện rào rào”. Cứ mỗi đợt chúng hút xong A Phủ lại phải quỳ ra giữa nhà để người nhà thống lí xô đến đánh: “cứ như thế suốt chiều, suốt đêm, càng hút càng tỉnh, càng đánh càng chửi, càng hút..".
Giá trị hiện thực của truyện ngoài việc tái hiện đoạn đời khô ải của những người nô lệ còn nói lên một sự thật xót xa: người dân bị áp bức, đè nén quá lâu sẽ bị tê liệt tinh thần phản kháng, sẽ bị đầu độc bởi tâm lí nô lệ. Bạo lực cấu kết với thần quyền, với mê tín dị đoan làm cho họ không cất đầu dậy nổi.
Nhưng trong cuộc đời, mọi cái đều có giới hạn. Có áp bức, có đấu tranh Mị và A Phủ cũng như bao người khác sẽ vùng lên tự giải phóng, giành quyền làm người tự do. Đoạn đời sau cùa vợ chồng A Phủ chứng minh qua luật muôn đời ấy.
Trong giá trị hiện thực của tác phẩm đã ẩn chứa giá trị nhân đạo sâu xa. Có căm thù giai cấp thông trị và xã hội bất công, tác giả mới lên tiếng tố cáo mãnh liệt. Có cảm thương số phận đau khổ của con người, tác giả mới viết nên những trang sách gây xúc động mạnh mẽ như vậy.
Nhưng nhà văn không để nhân vật của mình bị dồn vào thế tuyệt vọng. Điều kì diệu là dẫu trong cùng cực thế nào chăng nữa thì mọi thế lực tội ác cũng không hủy diệt được sức sống con người. Cách nhìn nhận của Tô Hoài trong tác phẩm này hết sức nhân bản. Lay lắt, đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt. Từ trong sâu thẳm tâm hồn người con gái bị đọa đày kia vẫn âm ỉ, le lói một ngọn lửa yêu đời, ham sống. Mùa xuân về, Mị lén uống rượu và “lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng… Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ,Mị muốn đi chơi.. ”. Nhưng rồi thực tại đen tối đã cố tình dập tắt tiếng sáo thiết tha và hình ảnh mùa xuân rực rỡ. Phản ứng tự phát ban đẩu của Mị không thể giải phóng được cuộc đời có nhưng những giây phút trỗi dậy ấy có ý nghĩa thức tỉnh. Giống như đốm lửa âm ỉ trong đám tro than, có ngày sẽ bùng cháy dữ dội.
Ngày ấy đã đến với Mị trước cảnh A Phú bị trói, “Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trời đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này… Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi, người kia việc gì mà phải chết thế.. ".
Mị không cầm lòng được trước cảnh con người sắp bị hủy diệt. Mị động lòng thương, thương người, thương thân, Mị nhớ đến những khổ sở, hãi hung mà mình đã phải chịu đựng suốt mấy năm qua. Giọt nước mắt đau khổ của A Phủ như giọt nước làm tràn bình nước đã đầy. Nó thức tỉnh nỗi đau lắng chìm trong lòng Mị. Cảm thương số phận A Phủ, lòng căm thù cha con tên thống lí độc ác bùng lên, lấn át nỗi sợ hãi, dẫn Mị đến hành động táo bạo ngoài ý thức: Cắt dây trói cứu A Phủ.
Đây là hành động bộc phát song nó là kết quả tất yếu của một quá trình dồn nén, bức xúc về mặt tinh thần, bây giờ đã đến lúc giải thoát. Mị cắt dây trói cho A Phủ cũng là cắt đứt những dây trói vô hình đã cột chặt cô vào quãng đời tủi nhục bấy lâu nay. Cô vụt chạy theo A Phủ bởi cô ý thức được sự sống còn của minh: “Ở đây thì chết mất". Mị đã chạy theo tiếng gọi mãnh liệt của tự do, giải phóng mình ra khỏi nanh vuốt cha con tên thống lí.
Hai con người cùng cảnh ngộ đã “lẳng lặng díu nhau lao chạy xuống núi” bỏ thật xa cái địa ngục giam cầm, đày đọa họ mấy năm trời. Từ trong chết, họ vùng dậy tìm lẽ sống, làm lại cuộc đời.
Chạy trốn khỏi Hồng Ngài, thoát khỏi ách áp bức của thống lí Pá Tra. Vợ chồng A Phủ lại gặp phải kẻ thù mới không kém phần nguy hiểm là giặc Pháp. Chúng là lũ cướp nước đồng thời cướp cả mọi thứ và quyền tự do sống làm người, chẳng khác gì bọn cường hào ác bá miền núi.
Chúng càn lên núi cao, đốt nhà, cướp của, bắt người. A Phủ bị chúng cướp mất đôi heo, bị đánh, bị đi phu khiêng đá xây đồng… A Phủ căm thù, chửi bới giặc Pháp và đã nhận thức được rằng mình là người tự do, của cải bị chúng cướp đi là mồ hôi, nước mắt cùa mình. Phải nhớ lấy để mà trả thù.
Sống ở Phiềng Sa, vợ chồng A Phủ mới thực sự được làm người. Họ được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, từ một chàng trai nghèo khổ, nô lệ, A Phủ đã trở thành một du kích dũng cảm, tự tin. Anh thực sự trở thành chỗ dựa tinh thần của Mị. Sống bên A Phủ, Mị dần dần hết lo sợ, cô vững tin vào cuộc sống mới vào kháng chiến. Được đứng lên đánh lại kẻ thù áp bức mình trong tư cách mình là con người, ý thức ấy mới thực sự có ý nghĩa nhân đạo.
Quá trình giác ngộ cách mạng cùa vợ chồng A Phủ tiêu biểu cho con đường đến với Đảng, với cách mạng của đồng bào các dân tộc ít người ở miền núi ta. Qua tác phẩm, nhà văn gián tiếp khẳng định chỉ có cách mạng mới phóng con người ra khói ách áp bức, bất công, giúp con người vươn tới cuộc tự do, hạnh phúc, cuộc sống làm người. Tô Hoài khi tái hiện bức tranh hiện thực với những bản chất của nó không thể không miêu tả quá trình vận động, quy luật của cuộc sống. Đấy là giá trị nhân đạo sâu xa của tác phẩm.
Qua việc miêu tả sô phận của hai nhân vật Mị và A Phủ, nhà văn đã sống lại trước mắt người đọc cả quãng đời tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã man của bọn quan lại, chúa đất phong kiến. Đồng thời khẳng định chỉ có sự vùng dậy của bản thân theo dẫn dắt của cách mạng giải phóng được con người ra khỏi kiếp ngựa trâu, nô lệ. Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn của tác phẩm. Giá trị này giúp truyện đứng vững trước thử thách của thời gian và vẫn được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích. | Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, hãy nêu giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ | 2,472 | |
Đề bài: Qua hai tác phẩm Tức nước vỡ bờ và Lão Hạc, chứng minh rằng: mặc dù gặp nhiều đau khổ bất hạnh, người nông dân trước cách mang tháng Tám vẫn giữ trọn những phẩm chất tốt đẹp của mình
Bài làm
Việt Nam, đất nước nông nghiệp, cái nôi của nền văn minh lúa nước. Trước cách mạng tháng Tám hơn 90% dân số sống bằng nghề nông. Và từ buổi đầu khi văn học ra đời và phát triển, đề tài người nông dân đã trở thành mảnh đất tốt để ươm lên những mầm cây văn học với những tác phẩm đặc sắc. "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố và "Lão Hạc" của Nam Cao là hai tác phẩm như vậy. Đọc những sáng tác này ta thấy vẻ đẹp toả sáng trong tâm hồn của tầng lớp lao động: "Mặc dù gặp nhiều đau khổ bất hạnh nhưng người nông dân trước cách mạng tháng Tám vẫn giữ trọn phẩm chất tốt đẹp của mình".
Trước hết đọc hai văn bản điều làm ta ấn tượng về người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám chính là cuộc sống đau khổ, bất hạnh với cảnh lầm than khổ cực.
Chị Dậu trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố là một hình tượng tiêu biểu. Chị Dậu đầu tắt mặt tối không dám chơi ngày nào mà vẫn "cơm không đủ no, áo không đủ mặc". Gia đình chị đã "lên đến bậc nhì, bậc nhất trong hạng cùng đinh". Chồng chị ốm đau, vụ thuế đến cùng biết bao tai hoạ… Nào là phải chạy đôn, chạy đáo để cho đủ số tiền nộp sưu cho chồng mà không có một hạt cơm nào vào bụng. Chị như phải mò kim dưới đáy bể, như lạc vào cái sa mạc cát nóng bỏng, gió thổi tạt vào người như lửa. Trong cảnh "nửa đêm thuế thúc trống dồn" không có tiền nộp sưu cho chồng, vay mượn thì đều là bạn nghèo ai cũng không có, kẻ nhà giàu địa chủ thì đòi trả lãi với giá cắt cổ, chị đành phải bán đứa con ngoan ngoãn bé bỏng mà chị đã mang nặng đẻ đau, mà đã đến lúc nó có thể giúp chị rất nhiều. Chúng ta có thể cảm nhận được nỗi đau như đứt từng khúc ruột của chị khi bán cái Tý. Cái cảnh chị nuốt nước mắt vào trong mà van lạy cái Tý, thằng Dần để chúng đồng ý cho chị dẫn cái Tý sang nhà Nghị Quế làm người đọc không cầm lòng được. Cuộc đời chị bất hạnh này lại nối tiếp khổ đau kia. Sau khi bán con và đàn chó mới đẻ, cóp nhặt đem tiềm nộp sưu cho chồng xong tưởng chừng nạn kiếp đã xong mà cố gắng sống những ngày bình yên bên người chồng ốm yếu, nhưng bọn lý trưởng, chánh tổng trong làng lợi dụng thuế má muốn đục nước béo cò bắt chị phải nộp thêm suất sưu cho em chồng đã chết từ năm ngoái. Người đã chết, đã đi vào cõi hư vô, còn đâu mà bắt người ta đóng thuế, thật quá bất công. Rồi chị còn phải chứng kiến cảnh chổng ốm đau bệnh tật, rũ rượi như một chiếc lá héo khô bị ném vào nhà, chị chăm sóc cho anh chưa kịp hoàn hồn thì bọn cai lệ và người nhà lý trưởng xông vào định bắt trói anh điệu ra đình vì thiếu sưu của em mình. Trong hoàn cảnh ấy không thể chịu đựng được nữa, tình yêu thương chồng và nỗi tức giận bị đè nén bấy lâu đã thôi thúc chị hành động. Chị đã xông vào bọn chúng đánh trả quyết liệt sau những lời van xin thiết tha không hiệu nghiệm để rồi kết quả là cả hai vợ chồng chị bị bắt giải ra đình để quan tư phủ xử tội vì đã chống lại "người nhà nước". Những khổ cực mà chị Dậu phải chịu cũng như những tâm lý uất ức trào dâng bột phát thể hiện thành hành động phản kháng của chị chính là hình ảnh chân thực về cuộc sống của người nông dân trước cách mạng tháng Tám.
Nếu đọc "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, ta cảm thương cho thân phận của người phụ nữ nông dân dưới chế độ phong kiến thực dân bao nhiêu thì khi đọc "Lão Hạc" của Nam Cao ta lại càng thương cảm và xót xa cho số phận của người nông dân với cuộc sống mòn mỏi trong chờ đợi và hy vọng mong manh mà cuộc sống cô đơn gặm nhấm tâm hồn và thể xác già nua của lão Hạc. Lão phải sống cô đơn buồn tủi, trong những ngày xa con, lão chỉ có "cậu Vàng" làm bạn. "Vàng" là kỷ niệm thiêng liêng của đứa con để lại, càng thương nhớ con lão càng quý mến con Vàng. Lão âu yếm trò chuyện với nó như người ông hiền hậu ân cần với đứa cháu ngoan. Yêu thương cậu vàng như vậy nhưng bị dồn vào nước đường cùng, lão đành làm một việc nhẫn tâm là phải bán nó đi. Khi kể lại với ông giáo, lão đau đớn xót xa tột cùng: "Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những nếp nhăn xô lại ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít…”. Lão khổ tâm dằn vặt vì chuyện bán chó. Và cái đói cứ đeo đẳng làm cho lão dù đã phải bòn củ chuối, rau má, sung luộc để kiếm bữa cho qua ngày mà vẫn không xong. Cuối cùng lão phải kết liễu cuộc đời bằng liều bả chó xin được của Binh Tư. Ôi cái chết thật đau đớn và dữ dội, lão "vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, áo quần xộc xệch, lão tru tréo, bọt mép sùi ra…". Hình ảnh lão Hạc gợi trong ta ký ức buồn đau của thảm cảnh 2 triệu người chết đói năm 1945 trước khi cách mạng tháng Tám nổ ra.
Người nông dân trong xã hội cũ gặp nhiều đau khổ bất hạnh là thế nhưng vượt lên trên những đau khổ bất hạnh đó, họ vẫn luôn giữ trọn những phẩm chất cao đẹp của mình mà đọc tác phẩm dù hiện thực có buồn thương nhưng nhân cách và phẩm chất cao quý của họ vẫn ngời sáng trong đêm tối khiến ta thêm tin yêu con người, tin yêu cuộc sống.
Ngay trong hoàn cảnh bất hạnh khổ cực vì bị hà hiếp bóc lột chị Dậu vẫn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ yêu thương chồng con đảm đang tháo vát. Trong văn bản "Tức nước vỡ bờ" hình ảnh chị dùng những lời lẽ van xin thảm thiết và dám xông vào chống trả quyết liệt tên cai lệ và người nhà lý trưởng để cứu chồng là biểu hiện sâu sắc nhất tình cảm yêu thương hy sinh vì chồng con của chị Dậu. Cử chỉ bê bát cháo đến bên chồng với những lời nói tự nhiên như tấm lòng chân thành của chị đối với chồng Thầy em cố dậy húp ít cháo cho đỡ mệt…" đã làm người đọc xúc động thực sự trước tấm lòng thơm thảo, vẻ đẹp nữ tính dịu dàng với tình cảm mộc mạc của người phụ nữ ấy. Ở chị là sự hội tụ những vẻ dẹp tự nhiên của người phụ nữ.Việt Nam mà Ngô Tất Tố muốn ngợi ca.
Cũng xuất phát từ tình yêu chồng mà chị đã vùng lên quật ngã tên cai lệ và người nhà lý trưởng để bảo vệ chồng. Hành động của chị dù là bột phát nhưng suy nghĩ đầy ý thức "Thà ngồi tù, để cho nó làm tình làm tội mãi thế tôi không chịu được". Ý thức đó phải chăng là ý thức phản kháng tiềm tàng trong người nông dân mà Ngô Tất Tố dường như đang "xui người nông dân nổi loạn" (theo nhận xét của Nguyễn Tuân) để nhằm phản ánh quy luật: có áp bức có đấu tranh, "Tức nước vỡ bờ".
Nếu như chị Dậu tiêu biểu cho người phụ nữ nông dân trong những vẻ đẹp nhân ái vị tha và tiềm tàng sức sống, sự phản kháng mãnh liệt thì ở nhân vật lão Hạc ta lại cảm nhận được tâm hồn và tình yêu tha thiết, niềm tin cháy bỏng và một nhân cách cao thượng đáng nể trọng của người nông dần già nua nghèo hèn phải tìm đến cõi chết. Nếu nói lão Hạc chết vì đói nghèo quả là hoàn toàn chưa hiểu hết ý đồ của nhà văn. Nam Cao đã khơi vào "luồng chưa ai khơi" trong hiện thực lúc bấy giờ là tinh thần trách nhiệm, tình yêu thương nhân ái, đức hy sinh cao cả của người cha trong hoàn cảnh vật lộn với cái đói. Lão Hạc chết là để bảo toàn danh dự và nhân cách, để giữ trọn tình yêu cho con, để thanh thản ra đi sau những gửi gắm về mảnh vườn, tiền cưới vợ cho con, tiền lo ma chay để khi ra về nơi miền cực lạc xa xôi còn có hàng xóm lo cho. Chính sự chất phác lương thiện đã giúp lão có những hành động đầy tự trọng ấy, lão không muôn liên luỵ đến ai mà chỉ âm thầm chịu khổ một mình.
Lão Hạc còn là người rất đôn hậu và cao cả, lão đã khóc hu hu, đã xót xa đến tột cùng khi phải bán con chó, lão ân hận, lão khóc như người có tội, lương tâm lão bị dày vò, cắn dứt chỉ vì không thuỷ chung với một con chó. Lòng nhân ái của lão khiến ta cảm động biết nhường nào.
Những đức tính khiến chúng ta phải cảm phục nhất ở lão Hạc đó là lòng yêu thương con bao la, đức hy sinh cao cả. Chính tình yêu con đã giúp lão ngăn con không bán vườn. Lúc khoẻ lão cố cày thuê cuốc mướn, đồng áng từ lúc bình minh đến khi hoàng hôn buông xuống, tất cả chỉ để dành dụm cho con ít tiền. Nhưng sau trận ốm, lão đã chẳng còn gì, thương con nên lão không muốn tiêu phạm vào một đồng tiền nào dành cho con. Lão nhịn ăn, nhịn mặc, một lòng vì con: để rồi lão đã chọn con đường quyên sinh để giữ trọn mảnh vườn cho con. Cái chết dữ dội và kinh hoàng lắm. Lão thương con ngay đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời, nhưng lòng lão thanh thản đến êm dịu.
Cảm ơn Ngô Tất Tố, cảm ơn Nam Cao! Họ đã cho chúng ta hiểu rõ cái cuộc sống cùng quẫn, bi thảm của người nông dân, làm chúng ta càng cảm phục trước những phẩm chất cảo quý, đẹp đẽ và trong sáng của họ. Giữa bùn đen nhưng tâm hồn họ vẫn toả hương thơm ngát như đoá hoa sen đồng nội. Nhìn vào cuộc sống của người nông dân ngày nay ta càng xót xa cho cha ông thuở trước và thêm tin yêu cuộc sống mới. | Qua hai tác phẩm Tức nước vỡ bờ và Lão Hạc, chứng minh rằng_ mặc dù gặp nhiều đau khổ bất hạnh, người nông dân trước cách mang tháng Tám vẫn giữ trọn những phẩm chất tốt đẹp của mình | 1,919 | |
Qua những ảnh hưởng tàn bạo của cai lệ và người nhà lí trưởng, nêu “hành động phản ứng” của chị Dậu – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Gợi ý viết bài
1.Hình ảnh tàn bạo của cai lệ và người nhà lí trưởng
– Đặc điểm chung: tàn bạo, mất hết tính người. Sự xuất hiện của chúng đồng nghĩa với báo họa. Chúng là hiện thực của trật tự xã hội tàn nhẫn, đày đọa con người.
– Hình ảnh tên người nhà lí trưởng: là một tên tay sai đáng ghét. Tuy nhiên cũng có lúc hình như hắn “không dám hành hạ một người ốm nặng”. So với cai Lệ thì người nhà lí trưởng, dù độc ác cũng chỉ mới là sự độc ác mức “đàn em”.
-Hình ảnh tên cai lệ: là một tên tay sai chuyên nghiệp. Nghề của hắn là đánh người, trói người. Hắn mẫn cán và thành thạo. Mất hết tính người, hắn là một dã thú. Đây là sản phẩm của chế độ xã hội ấy đào tạo và trở thành một nhân vật đại diện cho bản chất, trật tự của chế độ tàn bạo ấy.
2.Tức nước vỡ bờ
Tình thế đặt chị Dậu trước sự lựa chọn: hoặc là để yên cho chúng giày xéo, hoặc đứng lên chống lại chúng. Một cách tự phát của diễn biến, chị đã vùng dậy quyết liệt.
-Lúc đầu, chị “cô” thiết tha” van xin. Van xin là cách duy nhất để “mong” hai tay sai tha cho anh Dậu. Đây là sự nhịn nhục của kẻ dưới.
+ Không còn van xin (mà có van xin thì cũng vô ích), chị đấu lí: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ”. Cách xưng hô thấy chị không còn “nằm yên” trong tư cách kẻ dưới mà ngang hàng.
+ Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem. Chị Dậu đã chuyển sang một tư thế khác: bà – mày. Đó là tư thế của kẻ bề trên. Sự căm giận, khinh bỉ kẻ thù đã lên đến tột độ. Trong màn đấu lực, chị đã thắng.
– Hành động của chị Dậu xuất phát từ một qui luật: “Con giun xéo lắm cũng quằn”. Mặc dù tự phát, song hành động của chị cho thấy sức mạnh tiềm tàng của người nông dân. Sức mạnh ấy bắt nguồn từ ý thức nhân phẩm, từ tình yêu thương. Đây là đoạn văn sảng khoái nhất trong hơn một trăm trang Tắt đèn.
3.Một số thành công về phương diện nghệ thuật
-Một đoạn văn giàu kịch tính. Mâu thuẫn được đẩy dần lên và kết thúc là một hài kịch: cai Lệ “ngã chỏng quèo trên mặt đất”, “miệng lảm nhảm”, người nhà lí trưởng thì “ngã nhào ra thềm”. Những kẻ đại diện cho chính quyền, thật không ngờ, lại thảm hại đến thế trước sự tức giận, trước cái “nghiến răng” của một người đàn bà!
Nhân vật chị Dậu được miêu tả sinh động, các biến thái tâm lí được khắc họa chính xác và tự nhiên.
-Bút pháp linh hoạt trong một mạch truyện căng, đầy kịch tính. Đặc biệt, chất hài hước đã tạo cho đoạn văn thêm sảng khoái: Nhà văn cũng triệt để khai thác tính đối lập để tạo thêm sự sắc nét cho nhân vật: chị Dậu nhún nhường mà quyết liệt, cai Lệ hống hách, tàn ác mà lẻo khẻo, hèn yếu.
Tags:Văn 8 | Qua những ảnh hưởng tàn bạo của cai lệ và người nhà lí trưởng, nêu “hành động phản ứng” của chị Dậu – Đề và văn mẫu 8 | 573 | |
Qua truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày, anh chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về tệ nạn tham nhũng
Hướng dẫn
Đề bài: Qua truyện cười dân gian Nhưng nó phải bằng hai mày, anh chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về tệ nạn tham nhũng trong xã hội hiện đại.
I. Dàn ý chi tiết cho đề trình bày suy nghĩ về nạn tham nhũng qua truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề: Những câu chuyện dân gian trào phúng bên cạnh đem lại tiếng cười thì ẩn sâu bên trong tiếng cười đó còn là sự đả kích, lên án sâu sắc về một vấn đề tiêu cực trong xã hội, Truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày” là câu chuyện đại diện cho điều đó, câu chuyện phản ảnh một xã hội thiếu đi sự công bằng từ trên xuống dưới, phản ảnh một bộ phận tham nhũng trong xã hội
2. Thân bài
-Giới thiệu nội dung câu chuyện “Nhưng nó phải bằng hai mày”
Mâu thuẫn giữa Ngô và Cải, đưa nhau đi kiện
Cải và Ngô cùng đút lót thầy Lí với mong muốn được xử nhẹ tội
Cải dở khóc dở cười khi vừa mất tiền vừa bị đánh
-Vấn nạn tham nhũng trong xã hội cũ
Đồng tiền là thước đo công lí
Dùng đồng tiền làm vỏ bọc bên ngoài
Người lãnh hậu quả là nhân dân nghèo
-Vấn nạn tham nhũng trong xã hội ngày nay
Tồn tại từ trước đến nay, là vấn nạn không thể dập tắt
Vấn đề xoay quanh nhà đất, cầu cống, đường xá
Những hậu quả để lại: Xin việc khó khăn, lương ít ỏi, một bộ phận cán bộ không biết làm việc…
3. Kết bài
Nhận thức của bản thân và những việc cần làm: Mỗi chúng ta nên có nhận thức rõ ràng nhất về vấn đề này, để một xã hội không còn có Thầy Lý, không còn anh Ngô, anh Cải là cả một quãng đường dài phía trước, mỗi chúng ta hãy góp phần nhỏ bé của mình vào việc đẩy bớt những vấn nạn, đặc biệt là tham nhũng ra khỏi xã hội này.
Theo | Qua truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày, anh chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về tệ nạn tham nhũng | 362 | |
Qua đoạn trích Trong lòng mẹ hãy chứng minh Nguyên Hồng giàu chất trữ tình
Hướng dẫn
Hồi kí là một thể loại văn học tái hiện câu chuyện mà bản thân người viết đã trải qua hoặc là chứng nhân trực tiếp của những sự việc đó. Trong câu chuyện đó, những sự việc để lại ấn tượng sâu đậm nhất được kể lại. Hồi kí của các nhà văn thường gắn với cuộc đời, với tiểu sử của nhà văn. Đoạn trích Trong lòng mẹ rất giàu chất trữ tình và chất trữ tình này được bộc lộ, trước hết, qua tình huống và nội dung câu chuyện được kể.
Nhân vật người kể chuyện – chú bé Hồng – đang ở trong một hoàn cảnh rất khó khăn: mồ côi bố, bé Hồng phải sông một mình côi cút giữa đám họ hàng đang tìm mọi cách đùn đẩy trách nhiệm nuôi nấng và xa lánh chú. Còn người mẹ phải đi làm ăn xa, phải chịu nhiều tai tiếng gắn với những thành kiến tàn nhẫn của gia đình (thể hiện rõ nhất qua việc đơm điều đặt chuyện của bà cô). Câu chuyện “nghe đâu” được thể hiện qua cửa miệng của những người ngồi lê đôi mách mang lại cho bé Hồng hình ảnh một người mẹ khốn khó đang phải nuôi con nhỏ mà cũng chẳng tô”t đẹp gì. Câu chuyện “nghe nói” ấy trở thành nỗi đau trong tâm hồn chú bé, tạo thành phản xạ tự vệ ở chú. Chú không chỉ nghe, không chỉ biết trả lời những câu hỏi của bà cô mà chú còn biết nhận xét thái độ biểu lộ qua nét mặt, giọng nói, cử chỉ….để nhận ra cái thật, cái giả trong những lời nói của bà cô. Chú không thể chịu được sự nhục mạ của bà cô đối với người mẹ của mình nhưng là phận cháu, lại đang trong cảnh ăn nhờ ở đậu, chú chỉ biết dùng nước mắt để tự vệ và phản kháng.
Nhưng, những gì mà bà cô nói hoàn toàn không phải là sự thật. Người mẹ của bé Hồng đã trở về vào “ngày giỗ đầu” của chồng mình mà chẳng cần chú bé phải “viết thư”. Người mẹ ấy vẫn nhớ con, nhớ người chồng đã mất cho dù đối với bà đó là một mối tình bất hạnh nhưng bà không chối bỏ trách nhiệm làm vợ, làm mẹ. Trước hết, người mẹ hiện ra như trong giấc mơ nhưng là giấc mơ có thật của Hồng. Mẹ “không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội”, “gương mặt” mẹ “tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má”. Người mẹ ấy khác hoàn toàn với hình ảnh mà bà cô, qua lời kể của người họ nội, miêu tả bằng tâm địa ác độc. Và tiếp theo đó là cảm giác sung sướng, hạnh phúc của chú bé sau những chuỗi ngày phải sống xa mẹ, sống trong những định kiến, thành kiến tàn ác. Hồng đã hiểu được ý nghĩa sâu xa và vai trò của người mẹ trong cuộc đời chú: “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gâi ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Đó là một cảm giác tràn trề hạnh phúc, xóa đi tất cả mọi khổ đau trước đó: “Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”. Những cảm nhận của chú bé về người mẹ qua các giác quan (thị giác, xúc giác, khứu giác, thính giác…) đã làm tôi sống dậy tình mẫu tử bất diệt qua những câu văn đậm chất trữ tình.
Cách kể theo hình thức hồi kí, vừa kế vừa bộc lộ cảm xúc, kết hợp với các hình ảnh thể hiện tâm trạng, các hình thức bộc lộ tình cảm qua nét mặt, tiếng khóc thổn thức…đều cho thấy tình cảm của bé Hồng đối với người mẹ. Lời văn, nhất là ở đoạn cuối của đoạn trích, cũng tràn đầy cảm xúc của niềm vui, niềm hạnh phúc khi bé Hồng gặp lại mẹ mình. | Qua đoạn trích Trong lòng mẹ hãy chứng minh Nguyên Hồng giàu chất trữ tình | 781 | |
Đề bài: Quan niệm của bạn về lối sống giản dị của một con người có văn hóa
Bài làm
Sống giản dị là một lối sông đẹp. Đơn giản và bình dị một cách tự nhiên trong phong cách sống là lối sống giản dị.
Lối sống giản dị của một con người được biểu hiện từ tâm hồn đến ngoại hình, từ cử chỉ hành động, cách sống, lời ăn tiếng nói, cách sinh hoạt đến cách ăn mặc. Mở rộng tấm lòng, cởi mở tâm hồn, thành thật với mọi người, không cầu cạnh, không xum xoe, bợ đỡ, không coi thường ai, được mọi người quý mến là sống giản dị. Áo quần không diêm dúa, lòe loẹt, sạch sẽ, nụ cười luôn nở trên môi, gần gũi, chan hòa với chúng bạn, với mọi người xung quanh là sống giản dị.
Quan niệm của bạn về lối sống giản dị
Một con người sống giản dị còn được thể hiện ở cử chỉ, hành động, ngôn ngữ. Khiêm nhường và lễ phép với mọi người. Nói năng từ tốn. Sinh hoạt không có gì khác người, tỏ ra hơn người. Biết lắng nghe, biết san sẻ, biết tương trợ… là sống giản dị. Sống giản dị không có nghĩa là sống lập dị. Sống giản dị cũng không có nghĩa là cách sống quê mùa, thô kệch. Nguyễn Trãi có câu:
Bửa ăn dầu có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là.
Đó là lối sống giản dị của kẻ sĩ chân chính ngày xưa.
Chúng ta đang sống trong thời đại kinh tế thị trường, đất nước đang đổi mới, cuộc sống của nhân dân ngày một được cải thiện và nâng cao, người sống giản dị vẫn mực thước trong lối sống, trong cách ứng xử.
Ở phường em có bác Quân là thương binh, nhân viên đưa báo, đưa thư của bưu điện. Bác thường mặc bộ quần áo xanh, hút thuốc lào, hay cười… thế mà ai cũng mến. Ở lớp em có bạn Tiến, bố mẹ là giáo viên, nhưng lối sống giản dị của bạn được thầy yêu, bạn mến. Cái cặp sách cũ nhưng sạch sẽ, bộ quần áo đồng phục tươi tắn, gọn gàng, đôi giày vải bình dị… như con nhà lao động. Bạn khiêm tốn và hết lòng giúp đỡ bạn bè. Ai cũng muốn gần gũi, chuyện trò.
Quan niệm của em về lối sống giản dị của một con người là như thế. Em thấy không hợp với lối sống đua đòi ăn chơi. Em cố gắng học tập bạn Tiến về cách sống giản dị, về ý chí vươn lên học giỏi. | Quan niệm của bạn về lối sống giản dị của một con người có văn hóa | 440 | |
Quan niệm của em về lối sống giản dị của một con người
Hướng dẫn
Quan niệm của em về lối sống giản dị của một con người
Bài làm
Mỗi một người trong chúng ta, ai sinh ra cũng mang trong mình một tính cách, một lối sống khác biệt hẳn nhau. Có người đẹp người xấu, người cao người thấp, hay có những người thích sự xa hoa, người lại thích sự giản dị. Lối sống giản dị là điều mà chúng ta cần bàn đến, cần có nhất trong xã hội hiện nay.
Một lối sống giản dị là khi những người đó luôn biết cách hài lòng với những gì mình đang có, không phô trương. Ngay từ trong lời ăn tiếng nói, những người giản dị cũng thể hiện sự mộc mạc, chân thành. Họ nói thật những gì họ nghĩ, những gì họ muốn truyền đạt với người đối diện, không dùng những từ ngữ hoa mỹ, phô phang. Họ không ăn nói những lời khó nghe, ra vẻ ta đây, hơn người, trịch thượng trước người đối diện, để người nghe có thể hiểu được sự chân thành, tình cảm trong câu chuyện họ đang muốn hướng đến.
Lối sống giản dị ở một người, nếu nhìn vẻ bề ngoài, thì sự thể hiện rõ nết nhất là ở trong cách ăn mặc, trưng diện. Nếu là người không có lối sống giản dị, thì ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, họ cũng trưng diện làm sao cho bắt mắt, thu hút người đối diện nhất có thể. Ngay cả khi chỉ là đi làm, ra ngoài giải quyết công việc, họ cũng tìm cách ăn mặc làm sao để hơn người khác…Rồi trong cách ăn uống, chi tiêu, họ cũng không biết cách làm sao để cho hợp lý, tiết kiệm nhất. Lối sống hoang phí, phô trương đó, dần dần đang không được ủng hộ trong xã hội ngày nay, bởi bên cạnh chúng ta, vẫn còn rất nhiều những mảnh đời, những hoàn cảnh bất hạnh hơn cần đc giúp đỡ. Còn đối với những người giản dị thì khác. Họ luôn ăn mặc đúng người, đúng hoàn cảnh, đảm bảo tính lịch sự, nhưng không khoa trương, hào nhoáng. Họ luôn biết cách ăn mặc phù hợp. Nhưng giản dị cũng không có nghĩa là xuề xòa quá. Nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa giản dị và xuề xòa, đó là không đúng. Xuề xòa quá đôi khi thể hiện sự thiếu tôn trọng người đói diện. Người giản dị thì không thế, họ biết cách ăn mặc, trang điểm làm sao để phù hợp với hoàn cảnh mà không cầu kỳ, trang trọng quá.
Sống giản dị là yếu tố cần thiết, cần có của một con người. Chúng ta cần rèn luyện bản thân thường xuyên. Nếu là trẻ nhỏ, thì học cách tiết kiệm cho bố mẹ, cho gia đình, không đua đòi, a dua theo những bạn bè cùng trang lứa, có điều kiện hơn mình. Hình thành đức tính giản dị từ thuở nhỏ là điều nên làm. Giúp mỗi người lớn lên hoàn thiện được nhân cách, có thể sống có ích với những người xung quanh.
Còn với những người đã trưởng thành, trước tiên tính cách giản dị sẽ thể hiện rõ trong cuộc sống hàng ngày. Phải luôn luôn rèn giũa, tôi luyện bản thân. Nếu trong gia đình thì làm gương cho con cái về đức tính giản dị. Còn ra ngoài xã hội, thì là một người giản dị, chân thật, được mọi người yêu quý. Cũng có những trường hợp, khi khó khăn thì giản dị,chi tiêu tiết kiệm, nhưng đến lúc có điều kiện hơn, thì họ bắt đầu hoang phí, khoa trương, thay đổi con người, đó là điều không nên. Đức tính giản dị phải luôn luôn được hiện hữu trong tiềm thức. Dù giàu có nhưng cũng cần giản dị, học cách chi tiêu hợp lý, lối sống sạch sẽ, đẹp đẽ, có ích, để có thể giúp đỡ được một phần nào đó cho những người xung quanh mình.
Với người dân Việt Nam ta, tấm gương to lớn nhất về đức tính giản dị chính là Bác Hồ kính yêu. Dù trong bất cứ cương vị nào, là người lãnh đạo hay dân thường, Bác cũng luôn thể hiện cho chúng ta thấy sự giản dị, đơn sơ, mộc mạc đến đáng quý của con người Bác. Mỗi chúng ta, ai ai cũng nên học tập, rèn luyện những đức tính tốt của những người đi trước, mà ở đây là lối sống giản dị, để có thể ngày một hoàn thiện mình hơn. | Quan niệm của em về lối sống giản dị của một con người | 785 | |
Quan niệm của em về thơ hay – văn lớp 10
Hướng dẫn
Quan niệm của em về thơ hay – văn lớp 10
Bài làm
Thơ là một khái niệm vô cùng quen thuộc với mọi người, ở đó có vần có nhịp, có ý nghĩa mà khi đọc lên mỗi con người sẽ có cảm nhận khác nhau. Mỗi người có quan niệm khác nhau về thơ hay, có người thì cho rằng chỉ cần ý thơ hay, nội dung thơ diễn tả được nội tâm, tâm hồn của người đọc thì đó là một tác phẩm hay. Thơ hay theo em là một sản phẩm thơ có vần có dịp, có ý nghĩa để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của mỗi nhà thơ với tác phẩm thơ đó của mình.
Mỗi người có một quan niệm khác nhau về thơ hay tùy thuộc vào cách mà họ cảm nhận về bài thơ đó như thế này. Có người rất thích thơ Tố Hữu vì nó gần gũi với con người, có mang dịp điệu của dân gian có những người lại thích thơ Xuân Diệu vì thơ Xuân Diệu đầy lưu luyến và chan chứa cảm xúc yêu say đắm trong tâm hồn. Có những người lại thích dòng thơ cách mạng, có người lại thích dòng thơ hiện đại… sở thích của mỗi người khác nhau nên quan niệm và cách nhìn về thơ khác nhau.
Thơ hay là một tác phẩm thơ có vần có nhịp. Ví như:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
-Tố Hữu-
Đoạn thơ trên có vần, có nhịp. Vần chân câu một xứng với vần chân câu ba, vần chân câu hai xứng với vần chân câu bốn làm cho bài thơ như có vần, có nhịp, có phách khiến cho người đọc như bị thu hút và gợi trí tò mò vần nhịp trong những khổ thơ tiếp theo.
Thơ hay là phải có màu sắc, có ngôn từ tượng hình, liên tưởng giúp người đọc hình dung, mường tượng ra nhân vật.
“Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Hình ảnh của chị em Thúy Kiều hiện lên một cách trang trọng dưới ngòi bút của Nguyễn Du. Câu thơ lục bát như một lời kể chuyện rủ rỉ, ngọt ngào, khơi gợi trí tò mò của người đọc với hai nhân vật trong tác phẩm của mình.
Hình ảnh phải nổi bật, phải đặc sắc nhưng cũng phải đảm bảo sự gần gũi với người đọc, người nghe bằng các biện pháp ẩn dụ trong chính câu thơ
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
-Huy Cận-
Hình ảnh đẹp mà gần gũi với người dân làng chài, chính câu thơ của tác giả cho người đọc cảm nhận được cảnh hoàng hôn trên biển, cảnh mặt trời lặn không còn là khuất sau ngọn tre hay khuất sau ngọn núi nữa mà từ từ đi xuống phía chân trời và giống như chìm dần xuống biển. Hình ảnh ở đoạn thơ này rất đẹp, rất trong sáng, rất gần gũi khiến cho người ta cảm nhận tình yêu thương thiên nhiên với phong vị thường ngày mà họ vẫn nếm trải.
Thơ thì phải có ý nghĩa, dù không vần, không dịp nhưng không thể xa rời ý nghĩa và thông điệp được nhắn gửi phía sau nó. Có những bài thơ ở thể loại tự do, không một chút vần chút nhịp nào cả nhưng khi đọc lên lại có những xao xuyến nhất định ở trong lòng. Đó chính là việc đánh vào cảm xúc của người đọc.
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết tròng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó… “
-Nguyễn Khoa Điềm”
Một bài thơ về đất nước rất hay và ý nghĩa mặc dù bài thơ không có vần, có nhịp nhưng phần nào đã khơi lên khát vọng của tình yêu đất nước, yêu quê hương, yêu Tổ quốc.
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
-Xuân Diệu-
Thơ hay là đẹp về tư tưởng, đẹp về tình cảm, là thơ chiếm được cảm xúc của độc giả qua mỗi tác phẩm thơ của tác giả. Thơ hàm súc, mang ý nghĩa và có giá trị cao.
Đối với tôi, thơ hay là thơ dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi sâu vào cảm xúc của con người, có vần có nhịp, có thanh, có hình ảnh và đặc biệt là có ý nghĩa. Còn rất nhiều những quan niệm khác nhau nữa về thơ hay vì đó là tùy thuộc vào cảm nhận của mỗi người. | Quan niệm của em về thơ hay – văn lớp 10 | 912 | |
Đề bài: Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước có điểm gì mới về tư tưởng và hình thức biểu hiện
Bài làm
Đất nước chính là nguồn cảm hứng vô tận của thi ca, của tâm hồn người nghệ. Từ xa xưa, ta bắt gặp hình ảnh đất nước trong những cánh cò trắng trên cánh đồng làng vào những chiều quê yên ả. Rồi ta bắt gặp đất nước “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”, trong thơ Chế Lan Viên, một đất nước “rũ bùn đứng dậy sáng loà", đất nước của những mùa thu xưa và nay trong thơ Nguyễn Đinh Thi. Và khi đọc Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm ta lại gặp hình ảnh “đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại” ở toàn bộ chương Đất nước của bản trường ca này.
Hình ảnh “đất nước của nhân dân, của ca dao thần thoại” được tác giả thể hiện bằng hình thức thơ trữ tình, chính luận. Đậm đà cảm xúc mà cũng giàu chất triết lý sâu xa, vừa đem đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ về đất nước vừa giúp mỗi người yêu hơn, thương hơn đất nước mình.
Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước
Theo Nguyễn Khoa Điềm, đất nước không là của riêng ai mà là của toàn nhân dân. Hàng triệu người vô danh từ thế hệ này sang thế hệ khác đã đổ mồ hôi và xương máu để bảo vệ và xây dựng đất nước.
Có biết bao người con gái, con trai,
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết.
Giản dị và bình tâm,
Không ai nhớ mặt đặt tên,
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.
Trong suốt bốn nghìn năm dựng nước, nhân dần ta đã chiến đấu, lao động tạo nên bộ mặt lãnh thổ, nền văn hoá dân tộc, những mối quan hệ gia đình, làng xóm, tổ tiên, quan hệ với thiên nhiên, lịch sử…
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi,
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy,
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.
Đất Nước không phải là những gì xa xôi trừu tượng mà thật cụ thể, gắn bó thân thiết với tình cảm và sinh hoạt hằng ngày của chúng ta:
Đất là nơi anh đến trường,
Nước là nơi em tắm,
Đất Nước là nơi ta hò hẹn,
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Và hiện hữu ngay trong bản thân mỗi người chúng ta:
Trong anh và em hôm nay.
Đều có một phần Đất Nước,
Khi hai đứa cầm tay,
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm.
Quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm có điểm khác với quan niệm phong kiến ngày xưa – đất nước là của nhà vua.
Nam quốc Sơn hà nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
(Lí Thường Kiệt)
niệm của Nguyễn Khoa Điềm cũng có điểm khác với quan niệm của nhà yêu nước ở đầu thế kỉ XX – đất nước là của những bậc anh hùng làm nên lịch sử:
Nợ thuở trước đánh Tàu mấy lớp,
Cõi trời Nam cơ nghiệp mở mang .
Sông Đằng lớp sóng Trần Vương,
Núi Lam rẽ khói mở đường nhà Lê.
Quang Trung để từ khi độc lập,
Khí anh hăng đầy lấp giang Sơn.
(Phan Bội Châu)
Về hình thức biểu hiện đất nước, bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm cũng có mới mẻ, sáng tạo. Thơ ca cổ điển thường dùng tiếng cuộc kêu tượng trưng cho lòng nhớ thương nước nhà:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
(Bà Huyện Thanh Quan)
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ.
(Nguyễn Khuyến)
Chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây vào những năm 20 của thế kỉ này, Tản Đà đã dùng hình ảnh bức dư đồ để tượng trưng cho đất nước:
Nọ bức dư đồ thư đứng cui,
Sông sông, núi núi khéo bia cười
Khi Cách mạng tháng Tám thành công, Xuân Diệu viết Ngọn quốc kì ca ngợi đất nước:
Việt Nam! Việt Nam! Cờ đồ sao vàng!
Những ngực nén hít thở "Ngày độc lập"!
Riêng Nguyễn Khoa Điềm sử dụng những hình ảnh trong ca dao, tục ngữ truyền thuyết muôn màu, muôn vẻ, trải dài trong không gian, xuyên suốt cả thời gian, lắng đọng trong tâm tưỏng ta qua những liên tưởng kì thú để tượng trưng cho đất nước. Trước hết, đất nước đã có từ lâu đời, qua Sự tích trầu cau, truyền thuyết Thánh Gióng.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn,
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Qua những mĩ tục thể hiện lối sông giàu tình nặng nghĩa:
Tóc mẹ thì bới sau đầu,
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
Qua đời sống lao động thật vất vả để lo cái ở, để lo cái ăn:
Cái kèo, cái cột thành tên,
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay. giã, giần, sàng.
Đất nước được coi là phần hay nhất của trường ca Mặt đường khát vọng. Nó tạo nên những tinh cảm tha thiết sâu lắng, những ngân rung trong lòng người đọc. Bài thơ còn tạo nên một tượng đài về Tổ quốc Việt Nam bằng thơ, tượng đài ấy vĩnh hằng qua thời gian, năm tháng và trong lòng mỗi người dân Việt Nam yêu đất nước mình. | Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước có điểm gì mới về tư tưởng và hình thức biểu hiện | 909 | |
Đề bài: Quan niệm của về một lối sống giản dị của con người
Bài làm
Theo quan niệm của tôi, lối sống giản dị là biết chấp nhận cuộc sống hiện tại nhưng vẫn có những ước mơ. Ước mơ đó chỉ là những điều mà khả năng của ta có thể làm được. Trong cuộc sống, ta luôn khiêm nhường, hòa đồng với mọi người cả về phong cách và lối sống. Không kiêu ngạo, bon chen, ghen tị hay sống xa hoa, đua đòi những của cải vật chất vô nghĩa. Ta không nghĩ nhiều cho bản thân và luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác khi cần thiết.
Theo quan niệm của một số người khác: Đa số lối sống giản dị, mộc mạc thể hiện rỏ nét nhất ở người dân nông thôn. Ở họ quanh năm với tấm áo nâu sồng, chân đất, họ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời nhưng vẫn vui vẻ bên điếu cày, bát nước chè xanh khi nghĩ ngơi. Hay đêm về, với mảnh chiếu thô sơ, bạn bè người thân quay quần bên ấm trà bàn chuyện thời tiết, cầu mong mưa thuận gió hòa để mùa màng bội thu. Trong cuộc sống, họ không cầu kỳ xa hoa, không kiêu căng hợm hỉnh mà họ lấy chân chất, hiền hòa, trung thực để đối nhân xử thế, họ giúp đỡ lẫn nhau hoặc thăm viếng nhau khi có người thân quen bị hoạn nạn, ốm đau. Trái lại, ở thành phố, nơi đô thị đông đúc, cuộc sống bon chen, vội vã, thời gian rượt công việc, công việc đuổi theo con người. Họ sống vội sống vàng, đôi khi không kịp thở. Chỉ có một ít người già cả hay những người về nghĩ hưu, cuộc sống của họ tuy giản dị nhưng không thoải mái như không khí trong lành ở miền quê. Họ bị bao bọc bởi những bức tường cao ngất hay ồn ào bụi bặm, hoặc bị đinh tai nhức óc bởi những âm thanh hỗn tạp nơi đô thị. Đa số họ ao ước có một cuộc sống đơn sơ giản dị nơi miền thôn dã tĩnh lặng với bầu không khí trong lành.
Quan niệm của về một lối sống giản dị của con người
Nhưng tóm lại, lối sống giản dị luôn là điều cần có ở mỗi con người, đó là một đức tính tốt đẹp, ko nhất thiết chỉ có người ở nông thôn mới sống giản dị hay người ở thành phố thì ko thể sống giản dị. Lối sống đó là một cách sống ko khoa trương, ko chú trọng quá nhiều ở hình thức bên ngoài. Nói như thế cũng ko có nghĩa là cứ ăn mặc luộm thuộm lôi thôi rồi tự xưng là người sống giản dị được. Giản dị trong mỗi điều kiện, hoàn cảnh lại có những cách biểu hiện khác nhau. Có người sống giản dị chân chính đúng với bản chất của mình và tất nhiên cũng có người sống giản dị một cách giả tạo. Nhưng “bản chất rồi sẽ lộ ra”, nếu giản dị ko phải là đức tính của họ thì họ sẽ ko thể sống mãi với cái vỏ bọc đó được. Lối sống giản dị ko phải là cuộc sống đơn giản, cứ lặp đi lặp lại, nhàm chán như nhiều người đã nghĩ. Trái lại, sống giản dị giúp người ta có thể thoải mái, thư thái về mặt tâm hồn. Bởi lẽ khi ta đã sống đơn giản thì sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ cho nhiều vấn đề khác quan trọng hơn trong cuộc sống. Ngoài ra, ta còn được nhiều người yêu mến, kính trọng. Lối sống giản dị bao gồm nhiều phương diện khác nhau: ăn mặc, giao tiếp, sở thích cá nhân, cách cư xử…
Giản dị trong cách ăn mặc là không bận những trang phục quá cầu kì hay trở nên khác người khi đi ra đường. Ăn mặc đúng theo thời đại và đơn giản như quần jean, áo thun hay quần tây, áo sơ mi. Trang phục ấy phải luôn hòa hợp với mọi người xung quanh. Giản dị trong cách ăn mặc cũng không có nghĩa là trở nên quá bê tha, cẩu thả và lôi thôi. Khi giao tiếp hay cư xử với người khác, ta luôn dùng từ ngữ dễ hiểu và lời lẽ đầy thiện cảm. Cư xử một cách đúng đắn và chuẩn mực đạo đức. Không nên “trọng phú khinh bần” hay cư xử một cách thô bạo. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình như ông bà, cha mẹ, thầy cô thì nên “gọi dạ bảo vâng” cũng như khi nói chuyện với bạn bè, những người đồng trang lứa hay những người nhỏ hơn mình thì nên chọn từ ngữ và cách cư xử thích hợp nhất…Từ xưa ông cha ta cũng đã có nhiều câu ca dao, tục ngữ hay danh ngôn nói về điều này như:
Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Khi nói đến lối sống giản dị thì không ai lại không nghĩ tới chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì thế ta có thể học tập rất nhiều ở Bác kính yêu lối sống ấy. Nói về sự giản dị của Bác, có lẽ ấn tượng nhất phải kể đến đôi dép cao su và bộ quần áo ka ki. Đôi dép cao su được Bác dùng hơn 20 năm đến khi mòn gót phải lấy một miếng cao su khác vá vào, các quai hay bị tuột phải đóng đinh giữ lại. Còn bộ quần áo ka ki Bác mặc đến khi bạc màu, sờn cổ áo. Những người giúp việc xin Bác thay bộ quần áo mới thì Bác bảo: “Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của dân, của nước, không cần phải thay”. Thế đấy, cuộc sống giản dị của Bác tuy rất đơn sơ, mộc mạc nhưng toát lên vẻ thanh thoát, lịch lãm mà không kiểu cách của một con người sống vì dân vì nước suốt cả cuộc đời. Và Bác cũng rất xưng đáng là một tấm gương sáng cho mọi người ngày hôm nay.
Người xưa có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.” dùng để chỉ hình thức bên ngoài không quan trọng bằng bản chất bên trong của con người. Sống khiêm tốn, thật thà, giản dị hay sống xa hoa, bon chen, đua đòi theo vật chất, danh lợi là tùy cách nhận thức của mỗi người. Nhưng sống sao cho đẹp lòng người, sống có ích và không cảm thấy hối tiếc thì thật sự là một điều rất khó. Bởi thế chúng ta hãy chọn cho mình một cách sống tốt nhất bằng cách cùng tạo dựng cho bản thân một “lối sống giản dị” riêng. | Quan niệm của về một lối sống giản dị của con người | 1,154 | |
Quan sát một bức ảnh lễ hội và tả lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội
Hướng dẫn
Bức ảnh 1: Chơi đu
Mùa xuân là mùa của những lễ hội. Hôm nay, mới sáng sớm sân đình đã chật ních người. Không biết mọi người ở đâu mà đổ vể đông thế. Họ đến với những bộ quần áo đủ màu sắc khiến cho sân đình càng thêm rực rỡ. Lá cờ ngũ sắc được treo ở chính giữa sân đang bay phần phật trong gió. Bước vào cổng đình, mọi người đều nhận thấy một hàng chữ được cắt bằng giấy vàng Chúc mừng năm mới nổi bật trên băng rôn màu đỏ.
Hình trên tấm ảnh là cảnh hai anh thanh niên đang chơi đu tre. Họ đu rất cao, phối hợp với nhau nhịp nhàng khéo léo. Người nhún, người đẩy. Trên khuôn mặt của họ ánh lên niềm sung sướng..
Nhìn cảnh chơi đu em có cảm giác người chơi đu phải can đảm lắm bởi các thanh đu được làm bằng các ống tre, giá đu do ba cây tre chụm lại hình chân kiềng không lấy gì làm chắc chắn cho lắm.
Dưới sân, mọi người chăm chú theo dõi với nét mặt hân hoan rạng rỡ.
Bài làm 2
Đây là cảnh lễ hội đang diễn ra ở làng quê Bắc bộ khi mùa xuân đến.
Người người tấp nập trên sân với nhiều lứa tuổi khác nhau: trẻ có, già có, ai cũng mặc áo đẹp, ai cũng vui mừng phấn khởi.
Cổng đinh là một mái ngói đỏ tươi được kiến trúc hình mái cong giống như mái của các ngôi chùa trông thật cổ kính. Trước cổng là một tấm biểu ngữ với hàng chữ vàng Chúc mừng năm mới nổi bật trên nền vải màu đỏ.
Giữa sân có một lá cờ ngũ sắc với tua màu đỏ đang tung bay trong gió.
Bao trùm bức tranh là cảnh hai anh thanh niên đang chơi đu tre. Đu của các anh bay rất cao khiến cho chiếc áo được bỏ trong quần căng phồng lên chẳng khác nào một chiếc phao bơi. Các anh chơi có vẻ vui lắm, hai người phối hợp với nhau thật nhịp nhàng uyển chuyển. Trên khuôn mặt họ ánh lên niềm sung sướng.
Phía dưới, mọi người đang vui vẻ trò chuyện. Nhiều người tập trung vào theo dõi cảnh chơi đu. Mỗi khi đu bay vút lên cao thì tràng vỗ tay lại nổi lên ra chiều đổng ý và cổ vũ cho họ.
Quang cảnh sân đình thật là náo nức!
BỨC ẢNH 2: ĐUA THUYỀN
Bài làm 1
Hàng năm cứ vào dịp xuân đến, ở làng quê Việt Nam lại diễn ra cảnh đua thuyền.
Không khí của buổi lễ hội thật là náo nức. Mới sáng sớm, người dân địa phương và người ở tứ xứ đổ ra hai bên bờ sông. Tiếng trống ếch vang dội khắp nơi. Từng đoàn thuyền cũng bắt đầu chuẩn bị vào chỗ tập kết. Giữa sông là một chùm bong bóng bay VỚI dải lụa mang hàng chữ Chúc mừng chiến thắng. Trên thuyền các tay đua đang cầm chắc mái chèo.
Hiệu lệnh bắt đầu nổi lên, các tay đua gò lưng ra đẩy thuyền theo nhịp trống của người chỉ huy. Mỗi thuyền có khoảng mười tay đua, ai nấy đều to khỏe, cánh tay rắn chắc, mồ hôi nhễ nhại nhưng trên gương mặt người nào, người nấy đều lộ vẻ phấn khởi.
Những con thuyền rẽ nước lao băng băng trên sông, ở hai bên bờ sông, tiếng reo hò, tiếng trống, tiếng chiêng làm náo động cả một vùng sông nước.
Bài làm 2
Đây là quang cảnh lễ hội đua thuyền trên sông. Phía xa là một chùm bong bóng bay rực rỡ với nhiều màu sắc khác nhau. Phía dưới là một dải lụa màu xanh với hàng chữ Chúc mừng chiến thắng ôang phất phơ bay theo chiều gió.
Trên sông, hơn mười chiếc thuyền đang rẽ nước lao đi vun vút với các tay đua khỏe mạnh. Họ đang cầm chắc tay lái, gò lưng chèo thuyền theo nhịp trống của người chỉ huy. Mồ hôi nhễ nhại nhưng trên gương mặt mọi người đều ánh lên sự vui sướng vì chiến thắng.
Hai bên bờ sông, những cổ động viên đến rất đông, tay trống, tay chiêng đang hò reo cổ vũ. Không khí của buổi lễ hội đua thuyền diễn ra thật sôi động.
Nguồn: | Quan sát một bức ảnh lễ hội và tả lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội | 747 | |
Quan sát một bức ảnh về lễ dâng hương, kể lạỉ quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội
Gợi ý
Bức ảnh chụp rằm tháng giêng ở đình làng em, với lễ dâng hương. Đó là một bức ảnh nhỏ nhưng bao quát được toàn cảnh dâng hương của hội làng em. Năm nào cũng vậy, lễ dâng hương được tổ chức rất long trọng tại đình làng. Quan khách khắp mọi nơi cùng người làng tề tựu rất đông vui. Làng em cờ cắm rợp trời từ ngoài đường cái lớn vào đình, người dự hội ăn mặc cũng rất lộng lẫy. Các cô, các chị thì mặc áo tứ thân, mớ ba mớ bảy. Những tà áo mỏng bay phấp phới trong làn. gió nhẹ, như những chú bướm sắc màu sặc sỡ. Các ông, các chàng thì khăn xếp áo the, guốc mộc theo dòng người thành kính vào dâng hương, cầu mong một năm bình yên, no đủ. | Quan sát một bức ảnh về lễ dâng hương, kể lạỉ quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội | 165 | |
Quan sát một bức ảnh về lễ tắm Phật, kể lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội
Gợi ý
Trong ảnh, từng đoàn người kéo nhau và ngôi chùa Ân Hoà để dự lễ hội tắm Phật. Lễ Phật đản được tổ chức vào ngày 8/4 (ÂL) hàng năm. Phía trên khán đài linh thiêng là một bức tượng Phật to thể hiện sự thành kính của các phật tử. Xung quanh là một số những bức tượng Phật nhỏ khác. Tất cả đều được đặt trên những đoá hóa hồng rực rỡ và những đài hoa sen thơm ngát. Các Phật tử thành kính trong bộ trang phục màu nâu, áo của nhà Phật. Lần lượt từng người một bước lên khán đài. Thành kính cúi lạy và múc nước tắm Phật. Cứ như vậy hết dòng người này đến dòng.người khác nối tiếp nhau như một dòng suối chảy mãi không thôi. Mỗi người về đây đều như được sống trong vòng tay ôm ấp của Đức Phật từ bi. | Quan sát một bức ảnh về lễ tắm Phật, kể lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội | 176 | |
Quan sát một bức ảnh về trò chơi đu trong hội làng, kể lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia trò chơi ấy
Gợi ý
Trung thu năm ngoái, em được bố mẹ cho đi chơi ở Viện bảo tàng dân tộc, ở đó có rất nhiều trò chơi và nhiều bức ảnh chụp kỉ niệm, em thích nhất bức ảnh chụp hình của các cô thiếu nữ đang chơi đu, một trò chơi truyền thống trong một hội làng. Nhìn trò chơi thật đơn giản. Chỉ có hai chiếc cột hai bên néo nhau bằng sợi dây thừng bền và chắc đồng thời là chỗ cho ngưỡi đứng. Những cô thiếu nữ trong trang phục truyền thông, những chiếc áo mớ ba mớ bảy đầy màu sắc tung bay trong làn gió. Những nụ cười rạng rỡ trên môi làm ửng hồng đôi má lúm đồng tiền trông thật duyên dáng, đăng yêu. | Quan sát một bức ảnh về trò chơi đu trong hội làng, kể lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia trò chơi ấy | 156 | |
Quan sát tranh (tr 30, Tiếng Việt 3, tập 2), Nói những người trí thức
Gợi ý
1. Bức tranh 1: Bác sĩ
Hôm qua bạn Thành lớp em bị cảm nắng; Cả lớp nháo nhác lên và cô giáo đã đưa bạn Thành đến trạm y tế gần đó. Bạn Thành được các cô y tá đưa vào phòng, đặt nằm trên giường. Có một cô bác sĩ còn rất trẻ yà xinh lại gần hỏi han, khám. Một lúc sau cô đi lấy kim và tiêm cho bạn Thành. Cô bảo tiêm một mũi sẽ khỏi ngay.
2. Bức tranh 2: Các kĩ sư xây dựng
Đây là những kĩ sư xây dựng củà thành phố chúng ta. Họ đang cùng nhau nghiên cứu về vấn đề xây dựng một cây cầu lớn, sao cho đẹp và tiện lợi nhất đối với cuộc sống của người dân.
3. Bức tranh 3: Cô giáo
Hôm nào cũng vậy, cô đều mặc bộ quần áo dài truyền thống để lên lớp. Bộ quần áo màu trắng rất giản dị nhưng nhìn cô lại nổi bật trong bộ trang phục đó. Giờ tập đọc của cô cả lớp chúng em ai cũng rất thích. Cô có giọng nói rất truyền cảm, bước chân nhẹ nhàng, uyển chuyển. Cô giảng cho chúng em những bài học đầy bổ ích và quý báu từ những bài tập đọc đó.
4. Bức tranh 4: Những nhà nghiên cứu
Trong một phòng thí nghiệm có hai nhà nghiên cứu đang làm việc. Họ đang nỗ lực nghiên cứu để tìm ra một loại thuốc có thể ngăn chặn và chữa được một dịch bệnh nguy hiểm, ví dụ cúm H1N1 hoặc cũng có thể họ đang cố gắng dể tìm ra một loại gen nào đó… | Quan sát tranh (tr 30, Tiếng Việt 3, tập 2), Nói những người trí thức | 292 | |
Quan sát tả các đặc điểm ngoại hình của con mèo (hoặc con chó)
Hướng dẫn
Quan sát tả các đặc điểm ngoại hình của con mèo (hoặc con chó)
Bài làm 1
(Tả ngoại hình con mèo)
Hôm ba mới đưa về, chị chỉ bằng cái quả dưa chuột lớn. Mỗi bữa chị chỉ ăn vài hạt cơm và một miếng cá hoặc miếng thịt nhỏ rồi tìm chỗ ấm leo lên nằm. Có lần chị ốm hai ngày liền, không ăn một hạt cơm vào bụng. Người mềm nhũn, bước đi không vững, em phải liên tục mớm cơm cho chị. Những tưởng chị sẽ “ra đi vĩnh viễn”. Thế mà giờ đây, chị đã trở thành một thiếu nữ khỏe khoắn và xinh đẹp nữa. Bộ lông ba sắc màu, vàng, đen, trắng xen kẽ nhau mượt mà như những sợi tơ nhuộm màu, đem lại cho chị một bộ y phục tuyệt diệu. Cái đầu thì tròn tròn bằng nắm tay người lớn được điểm sáng bằng cái mũi nhỏ nhỏ, xinh xinh với hai cái lỗ ươn ướt màu hồng nhạt. Hai bên khóe miệng những sợi râu mép trắng như cước lúc nào cũng cử động liên tục. Cái miệng xinh xinh được viền bằng một nét kẻ màu hồng phấn, cứ tưởng chị ta vừa mới trang điểm chuẩn bị cho một cuộc “khiêu vũ” đâu đó. Cái đuôi ước chừng độ hai gang tay của em, tròn lẳn với ba sắc quấn tròn. Lúc thì cuộn hình xoáy trên ốc, lúc thì duỗi thẳng đườn đượt, ngoe nguẩy trông đến là ngộ. Bộ móng vuốt của chị thì thật lợi hại, vừa cong vừa nhọn như một lưỡi dao quắm và sắc bén chẳng khác gì lưỡi dao bào. Đó là thứ vũ khí mà kẻ thù của chị phải kinh hoàng bạt vía mỗi lần đụng độ với chị.
Bài làm 2
(Tả ngoại hình con chó)
Lili có hai màu trắng và nâu sẫm. Đầu chú như quả đu đủ nhỏ. Hai tai luôn dỏng lên nghe ngóng. Hai mắt Lili tròn xoe, đen láy, rất tinh nhanh. Mũi chú đen bóng lúc nào cũng ươn ướt nước như người bị cảm cúm. Lưỡi chú thường vắt sang một bên, màu đỏ hồng, để lộ mấy cái răng nanh nhỏ, nhọn, trắng tinh ở hai bên mép. Thân chú được khoác một chiếc áo màu trắng, điểm thêm những đốm màu nâu trông rất duyên dáng. Đuôi chú có lông dày, tròn như củ cải đường lúc nào cũng rung rung thật ngộ nghĩnh. Ngực chú nở nang, bốn chân chạy nhanh thoăn thoắt.
Bài làm 3
(Tả ngoại hình con gà)
Là một chú gà trưởng thành, toàn thân chú được bao phủ bằng một lớp lông màu vàng rực pha lẫn những chiếc lông màu đen óng ánh như rắc các hạt kim tuyến. Bao quanh cổ là một lớp lông mịn và mềm như nhung thẫm. Đôi chân vừa to lại vừa cao được bao bọc bởi một lớp vảy sừng màu vàng sậm. Bộ lông đuôi của chú mới rực rỡ làm sao. Những chiếc lông ba màu: vàng, đen, trắng pha lẫn, dài thượt, cong vút về sau, vừa tạo cho chú một dáng vẻ khỏe khoắn cân đối lại vừa tăng thêm nét bảnh bao của một thanh niên vừa mới lớn. | Quan sát tả các đặc điểm ngoại hình của con mèo (hoặc con chó) | 557 | |
Quan sát và miêu tả các hoạt động thường xuyên của con mèo (hoặc con chó, con gà…)
Hướng dẫn
Quan sát và miêu tả các hoạt động thường xuyên của con mèo (hoặc con chó, con gà…)
Bài làm
(Tả hoạt động của con mèo)
Những ngày nắng ấm, chị mèo thường hay ra sân nằm cạnh gốc cau, phưỡn cái bụng trắng hồng ra đón nắng. Đôi mắt lúc nào cũng ra vẻ lim dim ngắm nhìn những tàu cau đong đưa giữa vòm trời cao xanh lồng lộng, đếm từng cánh hoa cau lả tả rụng trắng có sân nhà trong một cảm giác thích thú hiếm có. Thỉnh thoảng chị cũng hay đùa nghịch với chú cún con. Vật lộn đuổi bắt chán, chị lại phóng mình bám vào cây cau, thoăn thoắt trèo. Nhoáng một cái đã thấy chị ở tít trên ngọn cau, ngoái đầu nhìn chú cún con đứng tưng hửng dưới gốc léo nhéo kêu.
Bài làm 2
(Tả hoạt động con chó)
Hàng ngày, con Lai ở nhà với em vào buổi sáng. Mỗi lần có người lạ đến, chú thường phóng ra trước, đứng chắn ở cổng, sủa ầm ĩ, đợi em bước ra mới ngưng lại, thăm dò thái độ của chủ đối với khách. Thấy con chó vằn vện, to cao ai cũng ngán. Nhưng con Lai hiền và biết điều lắm. Khách lạ thì chẳng bao giờ chú cho lọt qua cửa, đứng chặn lại, đợi chủ nhà ra, chú mới chịu nhường lối. Còn khách thân quen, Lai nhảy cẫng lên, cái đuôi thì ngoe nguẩy, miệng kêu ư ử. Có lúc nó đi bằng hai chân sau, rồi đưa chân trước cho khách cầm rung rung một cách điệu nghệ. Y hệt như kiểu bắt tay của người lớn khi gặp nhau vậy. Ai cũng bảo: “Con Lai khôn như người đấy!” Nghe khách khen Lai mà em thấy mát cả lòng. Cái điệu bộ đón khách ấy, em cũng tập cho Lai mỗi khi em đi học về. Và bây giờ cũng vậy. Hễ em về đến cổng đã thấy chú phóng từ bậc cửa chạy ào đến bên em, vẫy đuôi rối rít, rồi đưa “tay” cho em bắt. Đi đâu nó cũng muốn kèm cặp bên em không muốn rời. Chỉ trừ những buổi đến trường, Lai tiễn em ra đến ngõ, đứng nhìn theo em cho đến lúc em khuất dạng mới trở vào nhà.
Bài làm 3
(Tả hoạt động con gà trống)
Em thức dậy ra sân tập thể dục, nhìn về phía gốc mận đầu hồi nhà đã thấy chú ta vỗ cánh phành phạch, dướn cao đầu ca bài “vọng cổ” chào buổi bình minh. Từ trên gốc mận, chỉ một cái nhún chân chú đã đáp xuống sân một cách nhẹ nhàng. Em vội chạy vào nhà lấy mấy nắm thóc vãi ra sân. Chú lượm được mấy hạt rồi ngẩng đầu nhìn ngó xung quanh, cất lên mấy tiếng “Tục! Tục!” trong cổ họng. Biết ý, em chạy lại mở toang cửa chuồng gà. Cả một đàn vài chục con gà mái, gà lứa, gà con… dang cánh chạy ùa ra sân. Tiếng mổ thóc rào rào như mưa đổ. Bấy giờ chú mới chịu gõ mỏ xuống sân tìm những hạt thóc vàng.
Hôm ngồi học ở sau vườn, thấy chú đang lững thững cùng một cô mái mơ dạo gót quanh gốc xoài. Bỗng, chú phát hiện hai chú trống vàng và đen đang quần nhau. Được một lúc thì chú trống đen hớt hơ hớt hải chạy dọc theo hàng rào tìm đường thoát chạy. Phía sau chú trống vàng đuổi gấp. Thấy vậy, chú trông nhà em phóng đến ngáng đường. Chỉ qua hai ba chiêu thử sức, chú trống vàng đã vội “cao chạy xa bay” không dám ngoảnh đầu lại. | Quan sát và miêu tả các hoạt động thường xuyên của con mèo (hoặc con chó, con gà…) | 639 | |
Quan sát và viết một đoạn văn miêu tả ngoại hình con vật mà em yêu thích
Hướng dẫn
Quan sát và viết một đoạn văn miêu tả ngoại hình con vật mà em yêu thích
Bài làm 1
(Tả ngoại hình con lợn)
Chú có một bộ lông trắng như cước lại được lớp da trắng mịn làm nền, trông chú vốn đã trắng lại càng trắng hơn. Mỗi lần chú sục vào máng cám ăn y như một ông hút khổng lồ làm sôi lên những bọt nước như bong bóng mưa mùa hạ. Cái bụng của chú mới bệ vệ, nặng nề làm sao. Từ máng cám đến góc chuồng chừng hai mét mà chú phải ì à ì ạch một lúc sau mđi lết tới được rồi ngã bịch xuống nền chuồng, mũi miệng thi nhau thở. Còn hai cái tai thì như hai cái lá mít phất qua, phất lại như cám ơn mọi người đã cho chú một bữa chén no say.
Bài làm 2
(Tả ngoại hình con gà chọi)
Con trống tía nhà em chừng độ ba ký rưỡi, nó được liệt vào hạng nhất nhì trong xã. Nhìn nó thật oai vệ. Cả thân hình nó trùm lên một màu đỏ tía pha lẫn những vệt xanh đen bóng mượt. Trên đầu, cái mào đĩa xôi hình bầu đục đỏ như màu cờ, ôm sát lấy đầu. Đấy cũng là một lợi thế của những chàng gà chọi khi giao đấu. Hai con mắt tròn xoe như hai hạt cườm trông vừa lanh lợi vừa điển trai. Cái đuôi nhỏ nhưng dài cong vút về sau, tôn thêm vẻ oai phong của chú. Mỗi lần chú đứng ở thế “tấn”, hai chiếc cánh dang rộng và lông cổ xù ra đẽ lộ lớp da cổ, da ngực đỏ như màu máu. Hai cái chân như hai thanh thép mười hai li, được bọc bằng những miếng vảy sừng vàng óng xếp lại như hình của những chiếc áo giáp. Cách từ bàn chân lên độ ba phân, hai cái cựa chòi ra như hai mũi dao Thái. Cũng chính nhờ hai cái cựa này mà trống tía đã chiến thắng đối phương bằng những miếng võ cực kì điêu luyện.
(Tả ngoại hình con vịt)
Một con vịt đang đứng rỉa cánh ở mép đầm. Nó khá to con, chắc cũng nặng gần hai ký. Cái mỏ vàng nhạt, dẹp và dài đang xỉa xỉa vào cái bầu cánh. Đôi mắt hiền ngơ ngác nhìn bâng quơ đây đây. Cái đầu mượt mà ngoắt qua ngoắt lại trên cái cổ dài màu xám có một khoang trắng lớn. Bộ lông xám pha đen úp dài theo thân mình mập mạp. Lông đuôi xòe ra, phần dưới sề sệ. Rõ ràng, chị ta không còn son trẻ nữa mà ít ra cũng đã qua một mùa đẻ trứng. Cặp chân mập và lùn màu vàng nhạt, bàn chân có màng dẹt như cái bơi thuyền. Cái mỏ dẹp hếch qua hếch lại rồi cắm đầu xuống nước chống phao câu và hai chân lên trời.
Bài làm 4
(Tả ngoại hình con chó)
Hồi Vàng từ nhà nội “nhập hộ khẩu” về gia đình em cậu chỉ nhỉnh hơn chai nước khoáng “Yes” nhưng nhanh nhẹn và láu lỉnh lắm. Ăn uống rất hỗn mà lại háu đói nữa. Có lẽ cái ham ăn của chú mà giúp chú tăng trọng trông thấy. Mới có sáu tháng mà chú đã thành một “chàng trai khôi ngô tuân tú”. Cái đầu thì to bằng cái mặt nạ “Tôn Ngộ Không”. Hai cái tai như hai cái lá mận cụp xuống phía trước, thỉnh thoảng vểnh lên nghe ngóng. Cái lưỡi màu hồng nhạt lúc nào cùng thè ra liếm láp. Đôi mắt của chú trông như hai viên bi màu nâu sẫm và rất tinh tường. Toàn thân chú là một màu vàng như màu vàng của rơm rạ ngày mùa”.
(Tả ngoại hình con mèo)
Đó là con mèo của nội em đem từ quê lên cho em. Lông nó đen tuyền, mượt như nhung. Em đặt luôn tên cho nó là Nhung. Vuốt tay lên người nó bàn tay như dịu đi bởi cài mượt mà của bộ lông dày. Hai con mắt trong vắt, lồ lộ, óng ánh như hòn thủy tinh màu lam. Mũi nó đen bóng như láng mỡ. Hai mép tua tủa những hàng ria. Mồi lần nó ngáp ngủ, cái lưỡi thè dài ra ngoài miệng, đỏ hồng như trái ớt chín. Lúc ấy bốn chân nó choãi ra, lưng uốn cong cong như cái vòng, đuôi dựng lên như cái cần câu. Nhung có bộ vuốt cực sắc. Nó có thể bấm vào cây cau leo lên thoăn thoắt đến gần ngọn rồi buông người nhảy xuống mà cứ êm ru bởi dưới các bàn chân là một nệm thịt như nệm “Kim đan”. | Quan sát và viết một đoạn văn miêu tả ngoại hình con vật mà em yêu thích | 814 | |
Đề bài: Quan điểm của em về vấn đề tự lực cánh sinh, cần cù lao động
Bài làm
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông)
Hẳn chúng ta rất nhiều người thuộc hai câu thơ trên. Bản thân tôi, mỗi khi đọc hai câu thơ trên tôi lại có những suy nghĩ về vấn đề tự lực cánh sinh, cần cù lao động. Quả thực là, sẽ không thể có một thành quả lao động nào vững bền nếu không tự mình cần cù lao động, tự tạo lập bằng chính sức lao động của mình. Và với sự cần cù lao động chắc chắn chúng ta sẽ thu được nhiều thành quả vĩ đại.
Ngàv bé, đọc truyện Mai An Tiêm, tôi rất vui khi tưởng tượng ra Mai An Tiêm vững vàng trên cánh đồng dưa hấu bạt ngàn với câu nói “Của biếu là của lo, của cho là của nợ”. Sự nghiệp gây dựng từ bàn tay lao động đã trở thành hình tượng sống cao đẹp của người lao động Việt Nam tự tin, cần cù vượt khó, thông minh và dũng cảm kiên cường.
Không thể có thành quả nào vững bền nếu không tạo lập bằng chính sức mình, bằng công lao của chính bản thân phải đổ mồ hôi, phải vượt gian khó mà có. Muốn sung sướng thì phải tự lực cánh sinh, cần cù lao động.
Tự lực cánh sinh có nghĩa là biết tự chủ lao động bằng trí tuệ và bàn nay để tạo lập đời sống và phát triển. Không phải với chính bàn tay và ý chí vượt khó, An Tiêm đã tạo dựng cuộc sống ngoài đảo hoang? Tư lực cánh sinh là ý chí tiềm tàng trong huyết quản, trở thành niềm tự hào của người nông dân “bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu” ở cuộc đời lam lũ mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”.
Tinh thần tự lực, tự chủ và cần cù lao động đã được khẳng định hùng hồn hơn cả trong những năm cả nước chống đế quốc Mĩ. Kẻ thù không đội trời chung tưởng tượng được rằng với những tấn bom rải xuống hằng ngày. Vì sự phong tỏa kinh tế, với chất độc hóa học cùng hàng triệu quân chư hầu mà một dân tộc trên một đất nước nhỏ bé, nghèo nàn vẫn vững vàng để đối phó và chiến thắng.
Nhặt chút phân rơi, dọn từng ngọn lá (…)
(…) Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ!
Trong những năm chiến tranh, anh em bầu bạn năm châu đã nhiệt tình giúp đỡ ta trên tinh thần quốc tế vô sản với lương tâm của thời đại. Nhưng thực tế sức mạnh để chiến thắng là lòng yêu nước và sự tự lực của nhân dân ta, điều ấy vô cùng vĩ đại. Cho nên, ngày nay sự hợp tác quốc tế với nhân dân ta trong xây dựng đất nước vẫn là cần thiết, nhưng nếu ta không tự lực cánh sinh – bằng sự cần cù lao động và ý chí tự chủ vượt khó thì không thể thay đổi đất nước!
Đất nước ta còn nghèo, lực lượng lao động tuy đông đảo nhưng chúng ta còn lạc hậu về cơ sở vật chất. Lao động trong hoàn cảnh hiện nay chắc chắn là phải biết dựa trên tinh thần làm chủ, tiết kiệm, đoàn kết và sáng tạo. Việc học tập không ngừng để tiếp thu khoa học kĩ thuật tiên tiến rất cần thiết. Tinh thần cần cù lao động, lao động “vì mọi người” và xây dựng một lực lượng người lao động có trình độ khoa học kĩ thuật là then chốt của sức bật trong lao động.
Có làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ đem phần đến cho.
Thời kì đầu đổi mới, sáng tạo trong lao động xây dựng đất nước đang còn nghèo, chắc chắn còn không ít kẻ tạo cơ hội sống phè phởn trên sư khắc khổ của nhân dân, dựa vào những khe hở của chính sách Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng tư. Chúng ta sẽ dần dần làm trong sạch xã hội đó giúp người lao động nói chung được hưởng sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ lao động. Cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Lao động “là vẻ vang, cần thiết cho bản thân, cho dân, cho nước. Lao động là nghĩa vụ.”
Thế hệ trẻ chúng ta hiểu sâu sắc nhiệm vụ học tập và lao động đó làm cho dân giàu, nước mạnh. Và chắc chắn tinh thần tự lực và sự cân cù lao động của nhân dân ta từ xưa càng được nâng cao trong cuộc sống, trên bước đường cải tạo đất nước của chúng ta hôm nay. Muốn tự lực cánh sinh, cần cù lao động, trước hết phải đoàn kết để cùng lao động, chia sẻ sự cống hiến và giữ được đạo đức cách mạng. | Quan điểm của em về vấn đề tự lực cánh sinh, cần cù lao động | 844 | |
Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh coi văn học nghệ thuật là vũ khí chiến đấu lợi hại, phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn – chiến sĩ “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”)
Hồ Chí Minh luôn coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học. Phải miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn hiện thực phong phú của đời sống cách mạng và phải giữ gìn tình cảm chân thật, chú ý phát huy cốt cách dân tộc. Về nghệ thuật, Người có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, viết giản dị, dễ hiểu, không cầu kì, xa lạ, nhưng phải đề cao tính sáng tạo của người nghệ sĩ.
Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quy định nội dung và hình thức tác phẩm: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?”, “Viết cái gì?”, “Viết như thế nào?”. Người đã vận dụng phương châm đó theo nhiều cách khác nhau, vì thế những tác phẩm của Người chẳng những có tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực mà còn có hình thức nghệ thuật sinh động, đa dạng. Ở mỗi thể loại, Hồ Chí Minh luôn tạo ra những nét phong cách riêng, độc đáo, và hấp dẫn.
Truyện và kí rất hiện đại. Thể hiện tính chất mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. Tiếng cười trào phúng tuy nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay. Còn thơ ca rất sâu sắc, tinh tế, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn. Có những bài thơ mang phong cách giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang màu sắc dân gian nhằm mục đích truyền bá cách mạng, lại có những bài viết theo cảm hứng thẩm mỹ, phong cách phương Đông cổ điển kết hợp với bút pháp hiện đại.
Nhìn chung, phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng và thống nhất, thể hiên sự hài hòa của người cầm bút. | Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh | 398 | |
Quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Mở bài:
Sự nghiệp văn thơ của Hồ Chí Minh là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử dân tộc. Lúc sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh không tự nhận mình là nhà văn, nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ, một người yêu văn nghệ. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử thôi thúc, nhiệm vụ Cách mạng yêu cầu cộng thêm với một tài năng nghệ thuật, một tâm hồn nhạy cảm, Người viết khá nhiều thơ văn. Chính qua sự nghiệp thơ văn của Người cũng hình thành những quan điểm sáng tác văn chương khá độc đáo.
Thân bài:
Chưa bao giờ Bác Hồ xem văn chương là sự nghiệp chính của đời mình. Đối với Bác, công việc Cách mạng cứu nước, cứu dân mới là sự nghiệp suốt đời Bác theo đuổi. Người đã từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nhà nước được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Nhưng trên bước đường hoạt động Cách mạng của mình, Người đã nhận ra vai trò và sức mạnh to lớn của văn chương. Chính vì vậy, Người đã sử dụng văn chương như một phương tiện, một vũ khí chiến đấu.
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống gia đình, môi trường văn hoá, hoàn cảnh sống, hoạt động cách mạng, cá tính và quan điểm sáng tác của Người. Là một nhà văn Cạch mạng chính trị, dù rất yêu văn chương, Hồ Chí Minh chưa bao giờ đặt văn chương lên vị trí hàng đầu, không để cảm hứng lãng mạn lấn át cảm hứng chính trị Cách mạng. Trong hoàn cảnh có thể và cần thiết phải viết văn, người không hề coi nhẹ vũ khí văn chương. Với Hồ Chí Minh, văn chương là một hành vi chính trị, hành vi Cách mạng. Người đã từng khẳng định “Nay ở trong thơ có thép” và “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, văn nghệ sĩ là một chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
Bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên Gia Thi”:
Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết
Thi gia dã yếu hội xung phong.
dịch:
“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.
Bài thơ thể hiện hết sức rõ ràng quan điêm nghệ thuật của Hồ Chí minh. Đối với người, thơ ca phải ca ngợi cái đẹp, mà ở đó chính là cái đẹp của thiên nhiên, vũ trụ. Thơ xưa lấy cái đẹp của thiên nhiên làm đối tượng phản ánh, thể hiện lối sống thanh cao, tâm hồn trong sạch của người xưa. nay trong thời đại cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương thơ ca không phải chỉ có chất lãng mạn, mà còn có cả chất thép (tính cứng rắn) và nhà thơ không chỉ là người ngâm vịnh phong, hoa, tuyết, nguyệt mà còn là một người chiến sĩ (tính chiến đấu)
Do quan niệm văn chương nghệ thuật như trên, Hồ Chí Minh đắc biệt chú ý đến đối tượng tiếp nhận, để tìm ra hình thức viết tốt nhất cho mình. Đó là lí do tại sao thời gian hoạt động Cách mạng ở Pháp, người viết văn bằng tiếng Pháp; khi bị giam giữ ở Trung Quốc người viết thơ bằng tiếng Hán. Người nghệ sĩ phải luôn ý thức rõ mình viết cho ai và viết để làm gì để nội dung của tác phẩm không bao giờ đi chệch hướng, hoặc uổng công vô ích, thậm chí là có hại cho xã hội nếu nhà văn không xác định rõ ràng đề tài phản ánh và đối tượng tiếp nhận nghệ thuật.
Hồ Chí Minh quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thực, phải hấp dẫn. Người khuyên các nghệ sĩ phải bớt đi chất thơ mộng, tăng thêm chất hiện thực. Phải miêu tả cho hay, cho chân thật cuộc sống mới, con người mới. vì thế, Người yêu cầu văn nghệ sĩ phải miêu tả “cho hay, cho chân thực, cho hùng hồn” những đề tài phong phú của Cách mạng, của cuộc sống hằng ngày. văn chương không nên ủy mị hay xót thương một cách vô ích. Văn chương phải đi vào nỗi đau khổ con người, đi vào cuộc chiến đấu của dân tộc, phát hiện và ngợi ca những tấm gương anh hùng, cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến chống kẻ thù.
Kết bài: | Quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh | 789 | |
Đề bài: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước cuộc vận động “Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục".
Bài làm
Cuộc vận động “nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục" mới được hơn hai năm và đã thu được một số kết quả bước đầu đáng khích lệ.
Đã từ nhiều năm về trước có một câu nói khuyết danh được lưu truyền trong ngành giáo dục: "Trường cho ra trường, lớp cho ra lớp, thầy cho ra thầy, trò cho ra trò, dạy cho ra dạy, học cho ra học”. Có lẽ câu nói ấy muốn nói đến sự quy củ, vẻ khang trang của nhà trường, chất lượng của việc dạy và học.
"Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục"
Nếu ngoài xã hội có hiện tượng tiêu cực như chạy chức, chạy khen thưởng, tệ nạn tham nhũng… thì trong ngành giáo dục có nhiều chuyện tiêu cực trong thi cử như lộ đề thi, bán đề thi, thi hộ, mang tài liệu vào phòng thi để sao chép, dùng điện thoại di động vào phòng thi để nhận đáp án từ ngoài gọi vào. Một số giám thị ngang nhiên vi phạm quy chế thi. Còn có chuyện chạy điểm trong các kì thi tốt nghiệp THPT để được xếp loại giỏi, sẽ được cộng thêm điểm khi thi đại học, cao đẳng. Có nhiều chuyện nực cười như: trường A, trường B… tinh H, tỉnh Q… thi tốt nghệp đỗ 100%, nhưng thi đại học, cao đẳng tỉ lệ hỏng thì thật là thảm bại. Thậm chí có khá nhiều học sinh được xếp loại giỏi trong kì thi tốt nghiệp nhưng điểm trung bình môn thi đại học chỉ mới được 2 hoặc 3!
Thầy giáo chủ nhiệm lớp tôi có lần đã hỏi: “Có nghìn lẻ một chuyện cười thời hiện đại về thi cử”. Lúc nào kết thúc một chuyện vui cười ra nước mắt, thầy lại nhỏ nhẹ nhắc: “Thi cử là chuyện khó, chuyện nghiêm túc. Các em cần phải chăm chỉ và nỗ lực học tập…”.
Tại sao những tiêu cực trong thi cử lại kéo dài nhiều năm và trở thành “bệnh”? Đó là bệnh thành tích trong giáo dục. Dạy và học chấm chớ, đại khái như tỉ lệ tốt nghiệp cao tít cung mây. “Thành tích” được đăng báo, tỉnh và huyện tuyên dương, thầy hiệu trưởng vẻ vang, các thầy cô giáo rạng rỡ. Phụ huynh nở mày nở mặt: học sinh mừng vui. Bằng khen, phần thưởng, liên hoan lu bù… Đó đây cũng có người sớm nhận ra tệ nạn đó, nhưng không dám nói ra, hoặc không được phép nói ra. Vì thế, bệnh thành tích trong giáo dục “ngày một thêm trầm trọng”.
Là một học sinh lớp 12, với học lực chỉ trên trung bình. Kì thi tốt nghiệp, thi cao đẳng, thi trung cấp chuyên nghiệp là một thử thách to lớn đối với tôi đang ở gần phía trước. Tôi luôn tự nhắc nhở mình phải chăm chỉ và cố gắng học tập, ôn tập, giảm bớt chơi đùa, dành nhiều thời gian cho việc học. Tôi hi vọng cuộc vận động “nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” của Bộ Giáo dục và Đào tạo là một cuộc vận động sẽ làm trong sạch ngành giáo dục, có tác dụng đẩy mạnh cuộc thi đua dạy tốt, học tốt trong nhà trường. Đẩy lùi được căn bệnh trầm kha ấy, chắc chắn chất lượng học tập và thi cử của thế hệ trẻ sẽ được đánh giá đúng, thực chất hơn. | Quan điểm về cuộc vận động “Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” | 634 | |
Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến
Hướng dẫn
Giới thiệu nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây tiến
Quang Dũng bước vào con đường sáng tác văn học nghệ thuật từ trước Cách mạng tháng Tám. Nhưng phải đến thời kì kháng chiến chống Pháp ông mới thực sự khẳng định được tài năng và phong cách sáng tạo của mình. Là một người tài hoa, Quang Dũng đã thể hiện ngòi bút của mình trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Dù hội họa, âm nhạc, văn chương và ở những lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp nhất định.
Nói đến Quang Dũng trước hết là nói đến nhà thơ có chất thơ hào hoa lãng mạn. Thơ Quang Dũng không những dồi dào trong những bài thơ trữ tình mà còn đi vào trong văn, bản nhạc, bức tranh của ông. Quang Dũng sáng tác không nhiều. Ông chỉ để lại năm tập thơ và một vài bức tranh. Nhưng những bài thơ của ông để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc không thể phai mờ. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cahcs thơ Quang Dũng là bài thơ Tây Tiến.
Tây Tiến được Quang Dũng viết vào năm 1948. Tác phẩm được in lần đầu tiên trong tập “thơ” của nhà xuất bản Vệ quốc dân liên khu III (1949). Lúc đó bài thơ có nhan đề: “Nhớ Tây Tiến”. Năm 1957, bài thơ được in lại trong tập “Rừng biển quê hương”. Lúc này tên của bài thơ được tác giả đổi thành “Tây Tiến”.
Tây Tiến là tên một đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947. Địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền rừng núi phía Tây của tổ quốc và vùng Đông Bắc của nước bạn Lào.
Thành viên của đơn vị Tây Tiến phần đông là những học sinh, sinh viên Hà Nội. Chính điều này đã tạo nên một nét hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến. Điều này khác hẳn người lính xuất thân từ nông dân của bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu). Quang Dũng vốn là đại đội trưởng của đơn vị Tây Tiến.
Năm 1948, Quang Dũng được chuyển sang đơn vị mới. Từ mảnh đất Phù Lưu Chanh, ông hồi nhớ về những đồng đội cũ và những miền đất đã đi qua. Chính những cảm xúc ấy đã giúp Quang Dũng viết thành công bài thơ Tây Tiến.
Thơ Quang Dũng mang một vẻ đẹp rất riêng. Trong thời đại của mình, Quang Dũng dường như đã tự tách biệt mình ra với hướng đi của các nhà thơ lãng mạn khác. Thơ ông vừa phóng khoáng vừa hồn hậu, lại rất tài hoa. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã thừa nhận điều đó trong buổi toạ đàm: “Quang Dũng đứng riêng một ốc đảo. Đặc biệt với bài thơ Tây Tiến, ông không có điểm gì chung với những nhà thơ khác. Ông đứng biệt lập như một hòn đảo giữa các nhà thơ kháng chiến”.
but-tich-quang-dung | Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến | 507 | |
Rút ra kết luận về mối quan hệ giữa dân số và phát triển xã hội qua Bài toán dân số – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Gợi ý viết bài
Điểm nhấn của văn bản Bài toán dân số chính là những số liệu theo thống kê của hội nghị Cai-rô (Ai Cập) họp ngày 5 tháng 9 năm 1994 đưa ra. Những số liệu này cho thấy tỉ lệ sinh con của phụ nữ khắp các nơi trên thế giới là rất lớn, phụ nữ Ấn Độ là 4,5; Nê-pan là 6,3…, tính chung toàn châu Phi là 5,8; phụ nữ Việt Nam là 3,7. Như vậy, phấn đấu để mỗi gia đình có từ một đến hai con là một chỉ tiêu rất khó khăn. Với tỉ lệ hằng năm tăng 1,73 % như mười lăm năm trước và 1,57% năm 1990 thì dân số hành tinh của chúng ta năm 2015 sẽ là hơn 7 tỉ người. Một vấn đề cần được quan tâm là phụ nữ ở những nước nghèo lại có khả năng sinh nhiều con. Những nước kém phát triển ở hai châu lục là châu Phi và châu Á lại là những nước có tốc độ gia tăng dân số nhiều nhất. Chính sự phát triển dân số ào ạt này ảnh hưởng đến khả năng phát triển xã hội của những nước đó. Sự bùng nổ dân số luôn đi kèm với nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế kém phát triển, văn hóa, giáo dục không được cải thiện… Ngược lại, khi kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục không được nâng cao thì thì không thể khống chế được tình trạng gia tăng dân số. Hai mặt trên có liên quan với nhau và tác động trực tiếp lên nhau, ở những nước có nền kinh tế phát triển cao như Nhật, Đức, Mĩ… tỉ lệ sinh của họ rất thấp; trong khi đó những nước nghèo đói nhất lại có tỉ lệ sinh cao nhất.
Từ thực trạng trên, muốn giải quyết vấn nạn bùng nổ dân số cần phải cải thiện trước tiên về kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa., cần có sự trợ giúp của các nước phát triển trong sự nghiệp ngăn chặn sự gia tăng dân số quá mức.
Tags:Văn 8 | Rút ra kết luận về mối quan hệ giữa dân số và phát triển xã hội qua Bài toán dân số – Đề và văn mẫu 8 | 388 | |
Rừng khuya Việt Bắc và tấm lòng người nghệ sĩ, chiến sĩ – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bác Hồ muôn vàn kính yêu – được nhân dân ta và thế giới suy tôn là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá. Trong hoạt động và lãnh đạo cách mạng, mỗi khi gặp một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, Người thường hứng khởi sáng tác thơ ca. Mỗi bài thơ của Bác là một mảnh tâm hồn trong sáng, cao đẹp hài hoà chất nghệ sĩ và chiến sĩ. Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp – từ năm 1947 đến 1954 – Bác đã sáng tác một số bài thơ như thế. Trong số thơ kháng chiến, cảnh khuya là một bài thơ khá đặc sắc được Bác viết năm 1947, vào một đêm trăng rừng Việt Bắc đẹp, gợi biết bao nỗi niềm:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Bài thơ được làm theo thể thơ tứ tuyệt Đường thi, bốn câu, mỗi câu bảy tiếng mang thanh điệu, vần điệu, bố cục tương tự những bài tứ tuyệt Đường thi và thơ ca trung đại Việt Nam mà chúng ta từng biết. Điều thú vị là tác giả – Hồ Chí Minh – đã sáng tạo khi ngắt nhịp ở câu 1 và câu 4. Trong các câu thơ làm theo luật thơ Đường, các nhà thơ thường ngắt nhịp 4/3. Ở câu 1, bài cảnh khuya ngắt 3/4 (“Tiếng suối trong/ như tiếng hát xa”) và ở câu 4 là 2/5 (“Chưa ngủ/ vì lo nỗi nước nhà”). Điều đó vừa làm cho nhạc thơ được mới lạ vừa thể hiện chính xác cung bậc cảm xúc của tác giả lúc bấy giờ.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Câu thứ nhất tả âm thanh tiếng suối trong vắt vẳng từ xa lại. Nghe tiếng suối, nhà thơ ngỡ như nghe tiếng ai đó đang hát. Nghệ thuật so sánh ở đây thật đặc sắc. Trước kia, Nguyễn Trãi trong Bài ca Côn Sơn cũng tả tiếng suối, cũng dùng phép so sánh: “Côn Sơn suối chảy rì rầm – Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”. Cách so sánh của người xưa tuy hay nhưng dù sao vẫn là từ âm thanh của tự nhiên liên tưởng tới âm thanh vẫn của tự nhiên. Còn Bác Hồ – trong thời đại ngày nay – đã so sánh tiếng suối, âm thanh của tự nhiên với tiếng người hát, âm thanh phát ra từ con người. Điều ấy khiến cho tiếng suối của rùng Việt Bắc trở nên gần gũi với con người hơn và mang sức sống trẻ trung hơn. Sống giữa thiên nhiên, Bác Hồ luôn cảm thấy như được sống với con người. Hay nói khác đi, Bác luôn coi thiên nhiên là bè bạn, tri kỉ, tri âm biết chia sẻ buồn vui với mình. Câu thơ thứ hai: “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa” tiếp tục tả cảnh thiên nhiên, một bức tranh thiên nhiên dạt dào sức sống. Đây là bức tranh có nhiều tầng lớp, nhiều đường nét, hình khối và lung linh ánh sáng. Có nét đậm là dáng hình của vòm cổ thụ ở trên cao lấp loáng ánh trăng. Có nét thanh mảnh ảo huyền là bóng lá, bóng trăng in vào khóm hoa, in lên mặt đất hay trên sàn nhà lấp lánh, xao động như những hình hoa thêu dệt. Bức tranh chỉ dùng hai màu sáng tối mà tạo nên vẻ đẹp lung linh chập chờn và ấm áp, hoà hợp giữa các chi tiết của thiên nhiên, tạo vật. Điều đó được nhà thơ biểu hiện tập trung ở điệp từ “lồng”: “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”. Đọc thơ, ta ngỡ trăng, cổ thụ và hoa, ba vật thể cách nhau ngàn trùng, cao thấp, lớn bé cũng rất khác nhau, vậy mà vẫn “lồng” vào nhau, soi sáng cho nhau, nâng đỡ nhau, cùng nhau hoạ nên bức tranh tuyệt mĩ. Bức tranh ấy do thiên nhiên vẽ ra, hay chính là do tài năng và sự cảm nhận tinh tế của tác giả – Hồ Chí Minh – tạo dụng? Thiên nhiên thì bao giờ, ở đâu chẳng thế. Điều quyết định vẻ đẹp tươi (hay sự xấu xa buồn thảm) của bức tranh thiên nhiên là ở lòng người. Nói khác đi, Hồ Chí Minh đã thổi vào cảnh rừng đêm Việt Bắc một linh hồn để dựng lại thành một bức tranh lung linh, sống động.
Đến hai câu cuối, cảnh đêm rừng Việt Bắc vừa được khẳng định đẹp như tranh vừa gợi biết bao nỗi niềm tâm trạng của người ngắm cảnh:
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Đối với một tâm hồn nhạy cảm mang phong thái thi sĩ thì Bác Hồ của chúng ta khẳng định cảnh đêm rừng Việt Bắc đẹp như một bức tranh là điều rõ ràng.
Trước cảnh đẹp như thế, Người, đã say sưa thưởng thức đến độ quên cả giấc ngủ. Chưa ngủ được, vì cảnh đẹp quá, đáng yêu quá. Nếu chỉ dừng bài thơ ở đây, tâm hồn tác giả cũng đã rất đáng trân trọng rồi. Bởi vì, yêu cảnh đẹp thiên nhiên, đất nước đến độ không ngủ được chính là tấm lòng yêu quê hương, đất nước thiết tha vậy. Song hồn thơ của Bác vẫn tiếp tục xao động. Hai chữ chưa ngủ không chỉ sơ kết ba dòng thơ, biểu hiện tấm lòng nhà thơ với cảnh đẹp mà còn mở ra một cung bậc cảm xúc mới nữa. Chưa ngủ được điệp lại và dẫn dắt theo một dòng thơ, dòng tình cảm bất ngờ, khơi sâu cảm xúc cả bài thơ: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Điệp từ chưa ngủ như cái bản lề khép mở hai phía tâm trạng của một con người: càng say mê, yêu mến cảnh Việt Bắc bao nhiêu thì Người càng thao thức nghĩ suy, lo lắng về sự nghiệp kháng chiến, về việc nước, việc dân bấy nhiêu. Hai nét tâm trạng ấy thống nhất trong Bác, thể hiện sự hài hoà phong thái thi sĩ và cốt cách chiến sĩ của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh.
Xem lại bài bình giảng Thơ Đường – những tiếng nói xa xưa, những tâm hồn cao đẹp | Rừng khuya Việt Bắc và tấm lòng người nghệ sĩ, chiến sĩ – Bình giảng văn 7 | 1,108 | |
Đề bài: Rừng xà nu cho ta thấy rõ sức sống bất diệt của thiên nhiên và con người Tây Nguyên
Dàn bài
I. MỞ BÀI
– Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành đã phản ánh được cuộc sống chiến đâu anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của đồng bào Tây Nguyên.
– Hai đoạn văn đầu và cuối của truyện ngắn này gây được ấn tượng mạnh vì đã nêu bật được sức sống mãnh liệt của thiên nhiên và con người Tây Nguyên.
Rừng xà nu cho ta thấy rõ sức sống bất diệt của thiên nhiên và con người Tây Nguyên
II. THÂN BÀI
1. Với những tình tiết đặc sắc, túc giả đã miêu tả được hình ảnh rừng xà nu vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa tượng trưng
a) Tình tiết “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão… ở chỗ vết thương nhựa ứa ra…rồi dần dần bầm lại và đặc quện lại thành từng cục máu lớn”- là hình ảnh rừng xà nu bị tàn phá bởi đạn đại bác của giặc Mỹ. Đây cũng chính là một hiện thực khắc nghiệt trong cuộc chiến tranh. Giặc Mĩ điên cuồng bắn phá thiên nhiên, con người gây ra bao nhiêu nước mắt. Với Tnú, với dân làng Xô-man, với người Tây Nguyên – thì đó là món nợ phải trả băng máu.
b) Sức sống mãnh liệt của rừng xà nu cũng là sức sống bất diệt của dân làng Xô-man, của con người Tây Nguyên: “Trong rừng có ít loại cây sinh sôi nảy nở nhanh như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. “Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho dân làng Xô-man luôn khao khát vươn tới cuộc sống tự do, cuộc sống độc lập. “Nhưng cũng có những cây vượt lên được ngang quá đầu người… Đạn đại bác không thể giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng… thay thế những cây đã già”. Sự vươn lên mạnh mẽ của cây xà nu cũng chính là sự tiếp nối của các thế hệ trong cuộc đấu tranh một mất một còn với giặc Mỹ của dân làng Xô- của con người Tây Nguyên (tiêu biểu là hình tượng Dít, bé Heng…).
2. Hai đoạn văn tạo nên một kết cấu nhất quán trong tác phẩm
Mặc dù tác giả chỉ xen vào trong truyện những đoạn miêu tả, những cây xà nu – rừng xà nu là hình ảnh xuyên suốt tác phẩm có ý nghĩa tượng trưng lớn.
a) Cây xà nu gắn bó mật thiết với dân làng Xô-man, có thể nói đó là một phần cuộc sống của họ. (Từ cụ Mết được miêu tả: “ngực cáng như một cây xà nu lớn” cho đến lũ trẻ mặt mũi “lem luốc khói xà nu” đến ánh lửa từ mất cây xà nu Tnú soi cho Dít gằn gạo. xà nu xông đen tấm bảng để Tnú và Mai học chữ …bọn giặc đốt cháy mười ngón tay của Tnú cũng lại bằng nhựa cây xà nu. Vì thiên nhiên ở đây như hoà vào cuộc sống, con người: “Rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”.
b) Đoạn văn cuối truyện ngắn – hình ảnh rừng cây xà nu bị đạn đại bác chặt ngã được miêu tả, được nhắc lại, kể cả hình ảnh:
“Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những lưỡi lê”- Hình ảnh này làm người đọc liên tưởng tới lời cụ Mết: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già người trẻ, mỗi người phải tìm một cây giáo, một cây mác…”. Nỗi đau, niềm căm thù sôi sục đã đánh thức họ. Họ không còn cách nào khác là phải tự đứng lên, nghe tiếng gọi của Đảng, để tự giải phóng mình. Hình ảnh những cây xà nu nhọn hoắt như những lưỡi lê – cùng với dân làng Xô-man và giáo mác, chông của họ là lời tuyên chiến với kẻ thù, là lời thách thức sống chết với giặc.
c) Cùng với cách sắp xếp thời gian độc đáo trong truyện, cùng với việc xây dựng rất tài tình những phẩm chất điển hình ở những nhân vật điển hình – hai đoạn văn miêu tả rừng xà nu ở đoạn văn đầu và cuối tác phẩm đã góp phần tạo nên thành công của truyện ngắn này. Cũng thấy được nguyên nhân sâu xa bên trong: đó chính là sự gắn bó, tình cảm thương yêu của nhà văn dành cho đồng bào Tây Nguyên.
III. KẾT BÀI
– Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã kết thúc, những dấu vết chiến tranh không còn nữa trên những cánh rừng xà nu của Tây Nguyên.
– Các thế hệ tương lai phải sống xứng đáng với nỗi đau, sự kiên trung bất khuất. sức sống mãnh liệt của con người Tây Nguyên anh hùng. | Rừng xà nu cho ta thấy rõ sức sống bất diệt của thiên nhiên và con người Tây Nguyên | 910 | |
Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành xuống thủy cung Trọng Thủy tìm gặp Mị Châu
Hướng dẫn
Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành xuống thủy cung Trọng Thủy tìm gặp Mị Châu
Câu chuyện tình đau buồn cho cả một dân tộc của Mị Châu- Trọng Thủy đã để lại những trăn trở về “một trái tim lầm lỡ để trên đầu”. Dẫu vậy, mọi lỗi lầm cũng đâu phải do hai người họ, vậy mà họ là những sinh linh trả giá cho lòng tham và âm mưu. Sau khi Mị Châu chết, Trọng Thủy sinh đau lòng mà tự tử ở Giếng Loa Thành, xuống thủy cung, vì vẫn nặng nghĩa trần nên nhất quyết đi tìm Mị Châu, sau bao nhiêu cố gắng, chàng tìm được nàng trong động tiên trai ngọc.
Mị Châu sau khi chết, máu chảy xuống biển, trai ăn vào thì sinh ra ngọc quý, linh hồn nàng cũng xin gửi gắm tại động trai để thanh lọc hồn mình. Tuy mọi chuyện xảy ra đã lâu nhưng nàng không lúc nào không day dứt về những việc xưa kia, ngỡ nó mới chỉ như ngày hôm qua vậy. Nàng cho mình chính là nguyên nhân của việc nước mất, nhà tan, nhân dân chịu cảnh đao binh, vua cha phải lưu lạc chân trời. Nàng là ai? Nàng là một công chúa, đối với vua cha, nàng nhận mình là đứa con bất hiếu, với đất nước không phủ nhận mình bất trung. Tất cả những suy nghĩ ấy luôn chiếm trọn lòng nàng khiến nó nặng trĩu nỗi buồn, cùng sự ân hận khôn xiết. Nàng cho rằng một đao của vua cha không đủ lòng nàng thanh thản, tội nàng tạo ra không bao giờ có thể chuộc lại được. Những ngày ở động tiên trai, có đêm nào mà nước mắt nàng không tuôn khóc thương dân, nhớ nước, lo cho cha và ân năn tội mình. Nay nỗi để lại sẹo mà tấy lên hàng đêm lại như bị ai đó cầm dao rạch sâu thêm khi mà Trọng Thủy tìm tới, đứng trước mặt nàng. Nàng tuy có chút cảm động vô bờ khi biết nguyên nhân chàng tự tử là vì nàng nhưng ranh giới mang tên nợ nước thù nhà không cho phép nàng mủi lòng. Trọng Thủy biết mình làm cho Mị Châu phải gánh tội danh thiên cổ, quỳ xuống nắm lấy đôi bàn tay nàng nhưng nàng lập tức rút lại, lùi ra xa, chàng chỉ còn biết nói trong nước mắt:
Mị Châu nghe chàng nói những lời này thì yên lặng hồi lâu rồi ngước lên đôi mắt phượng đượm buồn:
– Nếu chàng đến đây xin lỗi vì thấy day dứt cho cái chết của ta thì xin chàng hãy về đi vì ta không trách chàng điều ấy. Cái mạng này của ta có đáng là bao, một mạng nhỏ bé của ta mà đổi được mạng của cả giống nòi ta thì ta lấy gì mà oán trách. Ta là một công chúa, mạng của một công chúa đáng ra nên hiến trọn vẹn cho con dân Loa Thành, nhưng ta chết lại vì sự phản bội. Đó mới chính là điều mà chàng gây tội cho ta. Năm ấy, khi ngồi sau ngựa vua cha, ta tự hỏi tại sao mình ngu ngốc thế khi vẫn còn tin vào sự vô can của chàng trong trận đánh ác liệt ấy, vẫn tin chàng sẽ giữ lời hứa, đến giải cứu ta và cha. Nghĩ lại ta thấy mình quá ngu ngốc, nếu không phải tại ta, dân tộc đâu bị giày xéo, nước đâu có mất, nhà đâu có tan, vua cha cũng không mất tích lâu như vậy.
– Chúng ta đã không thể trở lại như xưa nữa rồi, ta biết, mọi chuyện không phải lỗi thuộc về một mình chàng nhưng chàng chính là hiện thân của đất nước bị mất của ta, thấy chàng, ta thấy cả Loa Thành chìm trong biển máu, thấy nước mắt của vua cha, thấy con dân lầm than, thấy quê hương lửa thiêu đốt, mọi chuyện chỉ càng làm cho ta không quên được mình là đứa con bất hiếu, một công chúa bất trung.
Trọng Thủy hoảng hốt:
– Xin nàng đừng như vậy, đừng tự trách mình khi ta mới là kẻ tội đồ chân chính. Ta biết quá khứ đau thương kia không thể đổi thay nhưng nàng ơi, chúng ta đã không còn liên quan gì tới trần thế nữa rồi, tạo sao không rũ bỏ mọi phiền lo mà trở về như xưa? Ta tin vua cha ở nơi nào đó cũng không mong nàng ra đi mà vẫn không thanh thản trong lòng.
– Không! Ta không thể rũ bỏ được, nợ nước, thù nhà là bức tường lớn mà chúng ta không thể nào phá vỡ. Nếu đã rời xa chốn trần thế, ta coi như không còn xem chàng là kẻ thù nhưng mãi mãi sẽ không có chuyện chúng ta ở bên nhau. Loa Thành còn đó, nỏ thần còn đó, ta không cho phép mình tha thứ cho cả ta và cả chàng.
– Xin chàng từ nay, chúng ta mãi đừng gặp nhau, nếu có gặp cũng coi như người lạ.
Những lời ấy cũng thái độ quả quyết của nàng làm cho Trọng Thủy đau đớn khôn cũng, đứng giữa vạn vật mà hét lên một tiếng đau thương. Họ mãi mãi không còn ở bên nhau.
Trên dương thế, họ phải vì chiến tranh, âm mưu, lòng tham vô đáy mà đánh mất hạnh phúc và cả mạng sống nhưng khi thác xuống, cũng lại vì những quá khứ cùng cảm giác tội lỗi, mối thù nước nhà không thể dung hòa mà họ mãi mãi không còn được bên nhau. Tất cả đều chỉ do chiến tranh loạn lạc cùng dã tâm lớn của những người tàn nhẫn đã để lại đau đớn cho biết bao nhiêu người. Có lẽ, đã không còn có thể phán xét Mị Châu- Trọng Thủy sai hay đúng vì suy cho cùng, họ cũng chỉ là những nạn nhân khổ hạnh của chiến tranh mà thôi. | Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành xuống thủy cung Trọng Thủy tìm gặp Mị Châu | 1,041 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.