text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Soạn bài: Ôn tập truyện dân gian
Hướng dẫn
Soạn bài Ôn tập truyện dân gian lớp 6
Soạn bài: Ôn tập truyện dân gian được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 giúp các bạn học sinh ôn tập, từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài: Ôn tập truyện dân gian
Câu 1 + 4:
Xem lại định nghĩa thể loại truyền thuyết ở bài “Con Rồng, cháu Tiên”
Xem lại định nghĩa thể loại truyện cổ tích ở bài “Sọ Dừa”
Xem lại định nghĩa thể loại truyện ngụ ngôn ở bài “Ếch ngồi đáy giếng”
Xem lại định nghĩa thể loại truyện cười ở bài “Treo biển”
Câu 2: HS đọc lại các truyện dân gian trong SGK.
Câu 3:
TT
Truyền thuyết
Cổ tích
Truyện ngụ ngôn
Truyện cười
1
Con Rồng cháu Tiên
Sọ dừa
Ếch ngồi đáy giếng
Treo biển
2
Bánh chưng, bánh giầy
Thạch Sanh
Thầy bói xem voi
Lợn cưới, áo mới
3
Thánh Gióng
Em bé thông minh
Đeo nhạc cho mèo
4
Sơn Tinh Thủy Tinh
Cây bút thần
Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
5
Sự tích Hồ Gươm
Ông lão đánh cá và con cá vàng
Câu 5: So sánh thể loại truyền thuyết và cổ tích
– Giống nhau:
Đều có những yếu tố kỳ ảo.
Nhiều chi tiết giống nhau như sự ra đời thần kỳ và tài năng phi thường của các nhân vật.
– Khác nhau:
STT
Truyền thuyết
Cổ tích
1
Kể về các nhân vật, các sự kiện lịch sử trong quá khứ.
Kể về cuộc đời, số phận của một số kiểu nhân vật trong đời thường.
2
Thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử.
Thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân: Thiện thắng ác.
3
Bên cạnh tính chất tưởng tượng kì ảo còn có cái lõi của sự thật lịch sử.
Giàu yếu tố hoang đường, mang tính tưởng tượng bay bổng.
So sánh thể loại truyện ngụ ngôn và truyện cười
– GIống nhau: Đều có yếu tố gây cười.
– Khác nhau:
Truyện ngụ ngôn
Truyện cười
Mượn chuyện loài vật, đồ vật hay chính chon người để nói bóng gió chuyện con người.
Kể về hiện tượng đáng cười trong cuộc sống.
Nêu ra bài học nhằm khuyên nhủ, răn dạy.
Mua vui, phê phán, châm biếm.
Dưới đây là bài soạn Ôn tập truyện dân gian bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 6: Ôn tập truyện dân gian
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn bài_ Ôn tập truyện dân gian | 472 | |
Soạn bài: Ôn tập văn nghị luận
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 7 Ôn tập văn nghị luận
Soạn bài: Ôn tập văn nghị luận được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình. mời các bạn tải và tham khảo bài viết dưới đây
Soạn bài: Ôn tập văn nghị luận
Câu 1: Các bài văn nghị luận đã học:
TT
Tên bài
Tác giả
Đề tài nghị luận
Luận điểm chính
Phương pháp lập luận
1
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Hồ Chí Minh
Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta.
Chứng minh
2
Sự giàu đẹp của tiếng Việt
Đặng Thai Mai
Sự giàu đẹp của tiếng Việt
Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
Chứng minh (kết hợp với giải thích)
3
Đức tính giản dị của Bác Hồ
Phạm Văn Đồng
Đức tính giản dị của Bác Hồ
ở mọi phương diện, Bác Hồ đều giản dị. Sự giản dị hoà hợp với đời sống tinh thần phong phú, với tư tưởng và tình cảm cao đẹp.
Chứng minh (kết hợp với giải thích, bình luận)
4
ý nghĩa văn chương
Hoài Thanh
Nguồn gốc, nhiệm vụ, công dụng của văn chương trong lịch sử nhân loại
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, là lòng vị tha; văn chương là hình ảnh của sự sống đa dạng; văn chương sáng tạo ra sự sống, gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm sẵn có; cho nên: Không thể thiếu văn chương trong đời sống tinh thần của nhân loại.
Giải thích (kết hợp với bình lu
Câu 2: Những nét đặc sắc nghệ thuật của mỗi bài:
– Tinh thần yêu nước của nhân dân ta: Mẫu mực về lập luận, bố cục và cách dẫn chứng
– Sự giàu đẹp của tiếng Việt:
+ Bố cục mạch lạc.
+ Chứng minh kết hợp giải thích.
+ Luận cứ xác đáng, giàu sức thuyết phục.
– Đức tính giản dị của Bác Hồ
+ Dẫn chứng cụ thể, xác thực.
+ Chứng minh kết hợp giải thích và bình luận, biểu cảm.
– Ý nghĩa văn chương
+ Trình bày những vấn đề phức tạp một cách ngắn gọn, giản dị, sáng sủa.
+ Giải thích kết hợp với bình luận.
+ Văn giàu hình ảnh.
Câu 3:
a. Các yếu tố có trong văn bản tự sự, trữ tình và nghị luận:
b. Đặc điểm nổi bật của văn nghị luận là việc sử dụng các yếu tố luận điểm, luận cứ để lập luận. Tuy nhiên, trong văn nghị luận người ta có thể sử dụng miêu tả, kể chuyện, biểu cảm để làm tăng sức thuyết phục.
c. Các câu tục ngữ trong Bài 18, 19 là nghị luận. Căn cứ vào đặc trưng của từng loại văn để nhận diện đặc điểm của các câu tục ngữ về phương thức biểu đạt. Nếu cho rằng các câu tục ngữ này là một loại văn bản nghị luận thì phải chứng minh được rằng chúng mang những đặc điểm cơ bản của văn nghị luận.
Dưới đây là bài soạn Luyện tập viết đoạn văn chứng minh bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 7: Luyện tập viết đoạn văn chứng minh
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn bài_ Ôn tập văn nghị luận | 630 | |
Soạn bài: Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)
Hướng dẫn
Soạn bài Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) lớp 6
Soạn bài: Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 giúp các bạn học sinh ôn tập, từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình
Soạn bài: Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)
I. Công dụng
Câu 1: Đặt dấu phẩy
a.Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt (,) roi sắt (,) áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy (,) vươn vai một cái (,) bỗng biến thành một tráng sĩ.
b.Suốt một đời người (,) từ thuở lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay (,) tre với mình sống có nhau, chết có nhau, chung thủy.
c.Nước bị cản văn bọt tứ tung (,) thuyền vùng vằng cứ chực trụt xuống.
Câu 2: Giải thích
a.
– Hai dấu phẩy đầu: Đánh dấu giữa các từ ngữ có cùng chức vụ trong câu.
– Hai dấu phẩy sau: Đánh dấu giữa các phần cùng làm vị ngữ (cho chủ ngữ Chú bé)
b.
– Dấu phẩy thứ nhất: Đánh dấu giữa hai thành phần phụ có cùng chức vụ trong câu.
– Dấu phẩy thứ hai: Đánh dấu vào (hai) trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ.
c.
– Dấu phẩy đánh dấu giữa chủ ngữ với vị ngữ (hai vế trong một câu ghép).
a.Chào mào (,) sáo sậu (,) sáo đen… đàn lũ lũ bay đi bay về (,) lượn lên lượn xuống. Chúng nó gọi nhau (,) trò chuyện (,) trêu ghẹo và tranh cãi nhau (,) ồn ào mà vui không thể tưởng được.
b.Trên những ngọn cơi già nua cổ thụ (,) những chiếc lá vàng còn sót lại cuối cùng đang khua lao xao trước khi từ giã thân mẹ đơn sơ. Nhưng những hàng cau làng Dạ thì bất chấp tất cả sức mạnh tàn bạo của mùa đông (,) chúng vẫn còn y nguyên những tàu lá, vắt vẻo, mềm mại như cái đuôi én.
III. Luyện tập
Câu 1: Đặt dấu phẩy
a.Từ xưa đến nay (,) Thánh Gióng luôn là hình ảnh rực rỡ về lòng yêu nước (,) sức mạnh phi thường và tinh thần sẵn sàng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam ta.
b.Buổi sáng (,) sương muối phủ trắng cành cây, bãi cỏ. Gió bấc hun hút thổi. Núi đồi (,) thung lũng (,) làng bản chìm trong biển mây mù. Mây bò trên mặt đất (,) tràn vào trong nhà (,) quấn lấy người đi đường.
Câu 2: Điền chủ ngữ
a.Vào giờ tan tầm, xe ô tô, (xe máy, xe đạp) đi lại nườm nượp trên đường phố.
b. Trong vườn, (hoa cúc, hoa mẫu đơn), hoa hồng đua nhau nở rộ.
c.Dọc theo bờ sông, những (vườn ổi, vườn mận, vườn nhãn) xum xuê, trĩu quả.
Câu 3: Điền vị ngữ
b.Mỗi dịp về quê, tôi đều (được bà cho ăn ngon, được ông dẫn đi thăm họ hàng).
c. Lá cọ dài, (thẳng, xòe ra như cánh quạt).
d.Dòng sông quê tôi (thơ mộng, hiền hòa).
Câu 4: Cách dùng dấu phẩy
Dấu phẩy trong câu văn của Thép Mới được dùng với mụ đích tu từ. Nhờ hai dấu phẩy, câu văn được ngắt thành các đoạn cân đối, diễn tả nhịp quay đều đặn, chậm rãi và nhẫn nại của chiếc cối xay.
Dưới đây là bài soạn Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 6: Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn bài_ Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) | 673 | |
Soạn bài: Ôn tập về phần tập làm văn
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 7 Ôn tập về phần tập làm văn
Soạn bài: Ôn tập về phần tập làm văn được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình. Mời các bạn cùng tải bài Luyện tập làm văn bản đề nghị và báo cáo dưới đây.
Soạn bài: Ôn tập về phần tập làm văn
I. Về văn biểu cảm
Câu 1: Các bài văn biểu cảm được học và đọc trong ngữ văn 7
– Cổng trường mở ra của Lý Lan
– Trường học của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi
– Mẹ tôi của Ét-môn-đô đỡ A-mi-xi
– Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài
– Thư cho một người bạn hiểu về đất nước mình của I-ri-na Ki-xlô-va
– Tấm gương của Băng Sơn
– Tản văn Mai Văn Tạo của Mai Văn Tạo
– Cây sấu Hà Nội của Tạ Việt Anh
– Sấu Hà Nội của Nguyễn Tuân
– Cây tre Việt Nam của Thép Mới
– Người ham chơi của Hoàng Phủ Ngọc Tường
– Những tấm lòng cao cả của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi
– Mõm Lũng Cú tột Bắc của Nguyễn Tuân
– Cỏ dại của Tô Hoài
– Quà bánh tuổi thơ của Đặng Anh Đào
– Tuổi thơ im lặng của Duy Khán
– Kẹo mầm của Băng Sơn
– Một thứ quà của lúa non: Cốm của Thạch Lam
– Sài Gòn tôi yêu của Minh Hương
– Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng
Câu 2: Đặc điểm của văn biểu cảm:
– Văn biểu cảm chủ yếu viết ra để bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của người viết với đối tượng biểu cảm (con người, cây cối, con vật, đồ vật, tác phẩm văn học,… )
+ Mở bài: Nêu đối tượng biểu cảm, khái quát cảm xúc ban đầu
+ Thân bài: Nêu cảm nghĩ về đối tượng
+ Kết bài: Khẳng định lại cảm xúc mà mình dành cho đối tượng
– Tình cảm thể hiện phải trong sáng, rõ ràng, chân thực.
Câu 3: Vai trò của yếu tố miêu tả trong văn biểu cảm
Trong bài văn biểu cảm, yếu tố miêu tả cảnh vật, đồ vật, con người chủ yếu là để bộc lộ tư tưởng, tình cảm. Do đó, ta không miêu tả cụ thể, hoàn cảnh chính mà chỉ chọn những chi tiết, thuộc tính, sự việc nào có khả năng gợi cảm để biểu hiện cảm xúc, tư tưởng mà thôi.
Câu 4: Ý nghĩa của yếu tố tự sự trong văn biểu cảm
Yếu tố tự sự có tác dụng gợi cảm rất lớn, nhất là khi kể các hành động cao cả, nghĩa khí, vị tha hoặc các hành vi thiếu đạo đức. Trong văn biểu cảm, cái quan trọng là ý nghĩa sâu xa của sự việc buộc người ta nhớ lâu và suy nghĩ, cảm xúc về nó.
Câu 5: Cách biểu đạt tình cảm trong bài văn biểu cảm
Để bày tỏ tình thương yêu, lòng ngưỡng mộ, ngợi ca đối với một con người, sự vật, hiện tượng, ta phải nêu lên tính chất, đặc điểm cơ bản, nổi bật của con người, sự vật, hiện tượng đó. Ta có thể chọn một hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng để gửi gắm tình cảm, tư tưởng, hoặc biểu đạt bằng cách thổ lộ trực tiếp những nỗi niềm, cảm xúc trong lòng. Tình cảm trong bài phải rõ ràng, trong sáng, chân thực.
Câu 6: Ngôn ngữ biểu cảm
Ngoài cách biểu cảm tình cảm trực tiếp như tiếng kêu, lời than, văn biểu cảm còn sử dụng các biện pháp tự sự, miêu tả để khêu gợi tình cảm, nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, điệp từ…
Câu 7:
Nội dung văn bản biểu cảm
Biểu đạt một tư tưởng tình cảm, cảm xúc về con người, sự vật kỉ niệm…
Mục đích biểu cảm
Khêu gợi sự đồng cảm của người đọc, làm cho người đọc cảm nhận được cảm xúc của người viết
Phương tiện biểu cảm
Ngôn ngữ và hình ảnh thực tế để biểu đạt tư tưởng, tình cảm. Phương tiện ngôn ngữ bao gồm từ ngữ, hình thức câu văn, vần, điệu, ngắt nhịp, biện pháp tu từ…
Câu 8: Bố cục bài văn biểu cảm (xem lại câu 2 ở trên)
II. Về văn nghị luận
Câu 1: Các bài văn nghị luận đã học và đọc trong Ngữ văn 7
– Chống nạn thất học của Hồ Chí Minh
– Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội của Bằng Sơn
– Hai biển hồ
– Học thầy, học bạn của Nguyễn Thanh Tú
– Ích lợi của việc đọc sách của Thành Mĩ
– Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh
– Học cơ bản mới có thể thành tài lớn của Xuân Yên
– Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai
– Tiếng Việt giàu và đẹp của Phạm Văn Đồng
– Đừng sợ vấp ngã
– Không sợ sai lầm của Hồng Diễm
– Có hiểu đời mới hiểu văn của Nguyễn Hiến Lê
– Đức tính giản dị của Bác Hồ của Phạm Văn Đồng
– Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc của Phạm Văn Đồng
– Ý nghĩa của văn chương của Hoài Thanh
– Lòng khiêm tốn của Lâm Ngữ Đường
– Lòng nhân đạo của Lâm Ngữ Đường
– Óc phán đoán và óc thẩm mĩ của Nguyễn Hiến Lê
Câu 2:
– Trên báo chí, văn bản nghị luận xuất hiện dưới những dạng bài xã luận, diễn đàn, bàn về…
– Trong sách giáo khoa, văn bản nghị luận xuất hiện dưới những dạng bài làm văn nghị luận, hội thảo chuyên đề…
Câu 3: Yếu tố cơ bản trong bài văn nghị luận
– Luận điểm là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội.
– Luận cứ là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm. Luận cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới giúp cho luận điểm có sức thuyết phục.
– Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có sức thuyết phục.
Câu 4:
– Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức cau khẳng định (hay phủ định). Luận điểm phải đúng đắn, chân thực, đáp ứng nhu cầu thực tế, mới có sức thuyết phục.
Câu a và câu d là luận điểm.
Câu b là câu cảm thán.
Dưới đây là bài soạn Ôn tập về phần tập làm văn bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 7: Ôn tập về phần tập làm văn
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn bài_ Ôn tập về phần tập làm văn | 1,197 | |
Soạn và viết nội dung báo cáo về phong trào đội
Hướng dẫn
A. MỤC TIÊU
– Học sinh biết báo cáo về phong trào đội (bài làm miệng).
B. NỘIDUNG
1.Em hãy đóng vai trò chi đội trưởng, báo cáo với thầy (cô) Tổng phụ trách kết quả tháng thi đua “Xây dựng Đội vững mạnh”.
Nội dung báo cáo: Học sinh viết phần chuẩn bị.
a. Về học tập.
b. Về lao động.
c. Về công tác khác.
BÀI LÀM
BÁO CÁO KẾT QUẢ THÁNG THI ĐUA
“XÂY DỰNG ĐỘI VỮNG MẠNH” CỦA CHI ĐỘI TRẦN QUỐCTOẢN
Nội dung báo cáo:
a) Về học tập:
• Chuyên cần: 100% học sinh lớp 3A – chi Đội Trần Quốc Toản đi học đông đủ, không bạn nào vắng mặt.
• Điểm học tập các bạn đạt được:
– 25 điểm 9, 10.
– 40 điểm 7, 8.
– 2 điểm 5.
– 4 điểm 3 (môn Toán, các bạn: Chi, Sơn, Hùng). Tổ 1 phân công các bạn Dũng, Ngọc Lý giúp đỡ 3 bạn bị điểm kém.
• Không có bạn nào không thuộc bài. Toàn chi đội thực hiện bài kiểm tra, tiết toán nghiêm túc, không quay cóp.
• Toàn chi đội chấp hành đúng nội quy nhà trường, không vi phạm kỉ luật nhà trường.
b) Về lao động:
• Lớp hoàn thành việc tổng vệ sinh lớp học và chăm sóc tốt các bồn hoa trước lớp.
c) Về các công tác khác:
• Kếhoạch nhỏ:
– Lớp quyên góp giúp đỡ bạn Thái (hoàn cảnh gia đình khó khăn), đóng góp tự nguyện: tổng quyên góp: 400.000đ + Vở: 10 quyển.
– 100% đội viên tham gia vẽ tranh “An toàn giao thông” và “Bông hoa điểm 10 dâng tặng mẹ và cô giáo” (lễ 8/3 Quốc tếphụ nữ).
d) Đề nghị:
• Khen thưởng:
– Nguyễn Dũng: học tốt, tích cực tham gia phong trào.
– Lê Kim Ngọc: học tốt, tích cực tham gia phong trào.
• Phê bình:
– Bạn Lý Thị Kim Chi: chưa cốgắng trong học tập.
Trên đây là nội dung báo cáo những hoạt động của chi đội Trần Quốc Toản trong tháng qua.
Thay mặt chi đội Trần Quốc Toản – lớp 3A.
Chi đội trưởng.
VIẾT NỘI DUNG BÁO CÁO VỀ PHONG TRÀO ĐỘI
A. MỤC TIÊU
Học sinh hoàn thành bản báo cáo về phong trào Đội.
B. NỘI DUNG
Dựa vào bài làm miệng ở Tiết 3, hãy viết báo cáo gửi thầy (cô) Tổng phụ trách theo mẫu sau (học sinh đọc mẫu sách Tiếng Việt 3 tập 2, trang 75).
BÀI LÀM
ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG Hồ CHÍ MINH
….,ngày… tháng… năm…
BÁO CÁO KẾT QUẢ THÁNG THI ĐUA
“XÂY DỰNG ĐỘI VỮNG MẠNH”
Đơn vị: Chi đội Trần Quốc Toản.
Lớp: 3A.
Kính gửi: Cô Tổng phụ trách.
Chúng em xin báo cáo kết quả hoạt động của chi đội 3A – Trần Quốc Toản trong tháng 3 vừa qua:
Các mặt hoạt động
Thành tích
1) Học tập:
a. Chuyên cần:
– 100% học sinh đi học đều, không
vắng.
b. Điểm học tập các môn
– Giỏi (9, 10): 25 điểm.
tồng cộng:
Khá (7, 8): 40 điểm.
Trung bình (5, 6): 2 điểm.
Yếu (dưới 5): 4
c. Thái độ và hành vi
– Chấp hành đúng nội quy.
đạo đức trong học tập:
– Thực hiện kiểm tra nghiêm túc, tự giác, không quay cóp.
– Chấp hành tốt nội quy.
2) Lao động:
a. Tổng vệ sinh lớp học.
– 100% học sinh tham gia.
b. Chăm sóc bồn hoa.
-100% học sinh tham gia.
3) Các công tác khác:
a. Kếhoạch nhỏ.
– Nộp đủ số lượng quy định: 30 vỏ lon bia + lkg giấy vụn/1 bạn.
b. Đoàn kết giúp đỡ bạn.
– Quyên góp tự nguyện giúp bạn Hồng Thái 400.000đ + 10 tập vở.
c. Phong trào ngoại khoá.
– 100% đội viên tham gia vẽ tranh “An toàn giao thông” và “Bông hoa
4) Đề nghị:
điểm mười dâng tặng mẹ và cô giáo”.
a. Khen thưởng
– Nguyễn Dũng: học tập tốt, hoàn thành mọi nhiệm vụ phong trào.
– Lê Kim Ngọc: học tập tốt, hoàn thành mọi nhiệm vụ phong trào.
b. Phê bình
– Bạn Lý Thị Kim Chi: chưa cốgắng nỗ lực học tập.
c. Phân công
– Dũng giúp đỡ Kim Chi học Toán.
Chi đội trưởng
Nguyễn Mạnh Lâm
>> CÒN NHIỀU BÀI VĂN HAY NỮA! | Soạn và viết nội dung báo cáo về phong trào đội | 664 | |
Soạn văn 10 bài: Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh
Hướng dẫn
Soạn văn lớp 10 ngắn gọn
VnDoc mời bạn đọc tham khảo tài liệu Soạn văn 10 bài: Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh, với nội dung bài soạn rất chi tiết và ngắn gọn sẽ là nguồn thông tin hữu ích giúp các bạn học sinh học tốt hơn môn Ngữ văn 10. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo.
Soạn văn lớp 10 Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh
Câu 1 (trang 62 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):
a. Đoạn văn là một phần của văn bản, được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng. Đoạn văn có tính trọn vẹn về nội dung và hình thức.’
b. Một đoạn văn cần đảm bảo các yêu cầu:
– Tập trung làm rõ một ý chung, một chủ đề chung thống nhất và duy nhất.
– Liên kết chặt chẽ với các đoạn văn đứng trước và sau nó.
– Diễn đạt chính xác và trong sáng.
– Gợi cảm và hấp dẫn.
Câu 2 (trang 62 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Điểm giống và khác của đoạn văn tự sự và đoạn văn thuyết minh:
– Giống nhau: đảm bảo cấu trúc của một đoạn văn, thống nhất về nội dung chủ đề, tính liên kết với các đoạn văn khác.
– Khác nhau (sự khác nhau xảy ra bởi vì mục đích khi viết đoạn văn):
+ Đoạn văn thuyết minh: chủ yếu cung cấp tri thức, không có các yếu tố miêu tả và biểu cảm, nặng về tư duy khoa học.
Câu 3 (trang 62 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):
– Một đoạn văn thuyết minh có thể gồm 3 phần chính: mở, thân, kết. Mở đoạn giới thiệu chung, thân đoạn phát triển ý, kết đoạn tổng kết nội dung của đoạn.
– Các ý trong đoạn có thể được sắp xếp theo trình tự thời gian, không gian, nhận thức, phản bác – chứng minh để tăng tính hấp dẫn và lôi cuốn cho đoạn văn.
II. Viết đoạn văn thuyết minh
Câu 1 (trang 62 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Dàn ý đại cương cho bài viết:
a. Về một nhà khoa học:
– Giới thiệu khái quát tên tuổi, quê quán, lĩnh vực chuyên ngành nghiên cứu.
– Quá trình đến với khoa học dễ dàng hay đầy gian nan thử thách.
– Những đóng góp của nhà khoa học đó cho nền khoa học.
– Giới thiệu vài nét về cuộc sống đời tư.
b. Về một tác phẩm văn học:
– Tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, thể loại.
– Nội dung tư tưởng.
– Đặc sắc nghệ thuật.
– Đánh giá, tổng kết về giá trị, tầm ảnh hưởng của tác phẩm.
Câu 2 (trang 62 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Diễn đạt một ý thành một đoạn văn:
Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, nét đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu nhất phải kể đến là yếu tố kì ảo. Ngô Tử Văn vốn là người trần mắt thịt mà có thể chiến thắng hồn ma của tên giặc, xuống một thế giới ngoài trần gian. Nguyễn Dữ đã sử dụng yếu tố kì ảo xen kẽ yếu tố hiện thực làm tăng thêm sắc màu huyễn hoặc và sức hấp dẫn ma lực của thể truyền kì, đồng thời còn thể hiện được vị trí của con người trong vũ trụ và đời sống tâm linh người Việt xưa, thế giới cõi âm là sự phản chiếu đời thực.
* Khi viết một đoạn văn thuyết minh cần:
– Xác định được vị trí và nội dung của đoạn văn đó.
– Có câu chuyển ý, chuyển đoạn để tạo sự liên kết với đoạn khác và với toàn bài
. – Các ý phải sắp xếp hợp lí, rõ ràng, rành mạch.
– Có vận dụng đúng, sáng tạo các phương pháp thuyết minh để đoạn văn cụ thể, sinh động, hấp dẫn
Luyện tập
Câu 1 (trang 63 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Đoạn văn nối tiếp đoạn văn trong phần II.2 là đoạn đánh giá, tổng kết giá trị và ảnh hưởng của tác phẩm:
Như vậy, có thể thấy Chuyện chức phán sự đền Tản Viên vừa đề cao tinh thần khảng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn, một người trí thức Việt, vừa thể hiện niềm tin công lí của nhân dân – chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà. Đồng thời tác phẩm còn mang nét nghệ thuật đặc trưng của lối truyền kì là yếu tố kì ảo.
Đề bài Giới thiệu về một danh lam thắng cảnh, xem lại bài Viết bài làm văn số 5 – Văn thuyết minh.
————————————
Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Soạn văn 10 bài: Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu phân tích bài Đề thi học kì 2 lớp 10, Thi thpt Quốc gia môn Văn, Thi thpt Quốc gia môn Địa lý, Thi thpt Quốc gia môn Lịch sử mà VnDoc tổng hợp và đăng tải. | Soạn văn 10 bài_ Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh | 866 | |
Soạn văn 10: Vận nước (Quốc tộ) – Pháp Thuận
Hướng dẫn
Soạn văn 10: Vận nước
Soạn bài lớp 10: Vận nước (hay Quốc tộ) do Đỗ Pháp Thuận sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn học sinh nắm rõ kiến thức về ý thức trách nhiệm và niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai đất nước của nhà thơ, đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của con người thời đại bấy giờ và truyền thống yêu chuộng hoà bình của dân tộc Việt Nam để từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ
Soạn bài lớp 10: Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng
Soạn bài lớp 10: Cảm xúc mùa thu
VẬN NƯỚC
(Quốc tộ)
ĐỖ PHÁP THUẬN
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Đỗ Pháp Thuận (915 – 990) không rõ tên thật và quê quán, là một nhà sư thuộc dòng thiền Nam phương, từng giữ những công việc cố vấn quan trọng dưới triều Lê.
2. Bài thơ nói lên ý thức trách nhiệm và niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai đất nước của nhà thơ, đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của con người thời đại bấy giờ và truyền thống yêu chuộng hoà bình của dân tộc Việt Nam.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Trong câu thơ đầu, nhà thơ đã mượn hình tượng thiên nhiên để nói về vận nước (vận nước như dây leo quấn quýt). Nghệ thuật so sánh ấy vừa nói lên sự bền chặt, lại nói lên sự dài lâu, sự phát triển thịnh vượng của nước mình. Câu thơ vừa khẳng định vận may của đất nước (Quốc tộ là vận may của quốc gia) đồng thời nói lên niềm thin của tác giả vào vận nước.
2. Qua hai câu thơ đầu, ta có thể cảm nhận được:
Hoàn cảnh đất nước: Sau nhiều năm chiến tranh loạn lạc (loạn mười hai sứ quân và sự xâm lược của nhà Tống năm 981) đất nước ta bắt đầu bước vào thời kì ổn định. Nhà vua (Lê Đại Hành) muốn xây dựng một vương triều phong kiến vững mạnh, một quốc gia hùng cường. Trong khí thế đi lên của dân tộc, mọt vận hội mới như đang mở ra trước mắt.
Tâm trạng: Nhà thơ rất tin tưởng vào tương lai của đất nước. Hai câu thơ phản ánh một tâm trạng phơi phới vui tươi, đầy lạc quan và tự hào của tác giả.
4. Điểm then chốt của bài thơ là hai chữ “thái bình”. Vận nước xoay quanh hai chữ “thái bình” mà đường lối trị nước cũng hướng tới hai chữ ấy. Nguyện vọng của con người thời đại bấy giờ là mơ ước một nền “thái bình muôn thủa”. Hai câu thơ cuối phản ánh một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta. Đó là truyền thống yêu chuộng hoà bình. | Soạn văn 10_ Vận nước (Quốc tộ) – Pháp Thuận | 513 | |
Soạn văn 12 bài Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
Soạn văn 12 bài Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học giúp các bạn biết cách làm một bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, hi vọng sẽ giúp các bạn chuẩn bị cho các tiết học Ngữ văn 12 được hiệu quả nhất. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Việt Bắc
Tuyển tập các bài văn nghị luận xã hội lớp 12 (Phần 1)
Soạn bài lớp 12: Luật thơ
Soạn bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
I. Cách viết bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
1. Giới thiệu đề
Đề 1. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng, nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước” (Dẫn theo Trần Văn Giàu tuyển tập, NXB Giáo Dục, Hà Nội). Hãy bình luận ý kiến trên.
Đề 2. Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh cho rằng: “Thái độ toàn tâm toàn ý vì cách mạng là nguyên nhân chính đưa đến sự thành công của thơ anh” (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn Học). Hãy bình luận ý kiến trên.
2. Cách làm bài
Tìm hiểu đề ở đây là tìm hiểu nội dung của ý kiến đối với văn học (câu văn trích) và yêu cầu của đề. Nội dung của ý kiến đối với văn học.
Đề 1:
Làm rõ nghĩa các từ, cụm từ: phong phú, đa dạng, chủ lưu, quán thông kim cổ.
Xác định nội dung cơ bản của ý kiến (chú ý cụm từ: “nhưng nếu cần xác định…”. Có thể xác định ý kiến như sau: Tuy phong phú, đa dạng, nhưng dòng chính xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam là văn học yêu nước. (Ý trước là ý phụ, ý sau là ý chính mà người viết muốn nhấn mạnh).
Đề 2.
Chú ý làm rõ các cụm từ: toàn tâm toàn ý, nguyên nhân chính.
Xác định nội dung cơ bản của ý kiến: Nguyên nhân chính đưa đến sự thành công của thơ Tố Hữu là thái độ toàn tâm toàn ý vì cách mạng của nhà thơ. Như vậy, bên cạnh nguyên nhân chính còn có những nguyên nhân khác nữa như năng khiếu thơ ca, tình thương, sự từng trải của nhà thơ…, nhưng ý kiến của Hoài Thanh là nhấn mạnh nguyên nhân chính đó.
* Yêu cầu của đề:
Cả hai đề đều có cùng một yêu cầu là bình luận ý kiến trên. Như vậy, bài làm không chỉ dừng lại ở giải thích, chứng minh các ý kiến đó, mà còn cần bàn luận và mở rộng thêm về ý kiến đó. (Ý kiến đó đúng, sai như thế nào? Có ý nghĩa ra sao? Giá trị và tác dụng đối với hiện nay?).
2.2. Lập dàn bài
Trên cơ sở của việc tìm hiểu đề, các em tiến hành lập dàn bài, tức là xác định lại các luận điểm và những luận cứ; từ đó xây dựng một lập luận theo suy nghĩ, chủ kiến của mình bằng các thao tác lập luận phù hợp với từng bài làm. Dàn bài cần co đủ cả ba phần: mở bài, thân bài và kết bài. Các em có thể tham khảo những gợi ý về lập dàn bài của đề 1 trong SGK.
2.3. Viết bài
Dựa vào dàn bài để viết thành bài văn hoàn chỉnh. Cần chú ý đây là bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, vì vậy cách viết cần có màu sắc văn học, và sự hài hòa, nhuẫn nhị giữa hai mặt, đó là yêu cầu cần đạt được để tăng thêm sức thuyết phục cho bài nghị luận thuộc dạng này.
II. Luyện tập
1. Gợi ý bình luận ý kiến của Thạch Lam về văn chương
Có thể sơ đồ hóa cách hiểu ý kiến của Thạch Lam để tiến hành bình luận như sau: Văn chương là một thức khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có:
Tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác.
Làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn. Ý kiến đó đúng đắn và sâu sắc như thế nào, có giá trị và tác dụng đối với văn học hiện nay ra sao?
2.1. Mở bài
Nêu ý kiến của Thạch Lam về văn chương.
2.2. Thân bài
Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực, có nghĩa văn chương là công cụ nghề nghiệp hoàn hảo của nhà văn, là vũ khí có thể giúp nhà văn hoàn thành nhiệm vụ của mình. Nó không bị sử dụng vào mục đích xấu mà luôn hướng đến cái đẹp.
Tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn, có nghĩa là:
Văn chương vạch trần, phê phán những cái xấu xa của xã hội và đòi hỏi phải thay thế, diệt trừ những cái xấu xa đó.
Văn chương cũng bồi đắp tinh thần, xây dựng đời sống tâm hồn, thanh lọc tình cảm của con người.
Bình luận:
Nhận xét đúng đắn, khái quát, xác thực.
Ý thức được sức mạnh và sự nghiệp cao cả của văn chương.
Thấy được cách tác động đặc thù của văn chương vào cuộc sống.
Xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ của văn chương.
Thể hiện niềm tin ở văn học trong việc cải tạo tâm hồn con người.
2.3. Kết luận
Khẳng định quan niệm của Thạch Lam về văn chương là hoàn toàn đúng đắn. Ý nghĩa của quan niệm trên. | Soạn văn 12 bài Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học | 980 | |
Soạn văn 6 bài Luyện nói kể chuyện
Hướng dẫn
Soạn bài Luyện nói kể chuyện
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 6 học kì 1: Luyện nói kể chuyện được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các em học sinh tham khảo hiểu rõ về khái niệm về cách nói chuyện và luyện tập nói chuyện giúp học tốt môn Ngữ văn lớp 6 và chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
LUYỆN NÓI KỂ CHUYỆN
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Chuẩn bị: Lập dàn ý theo bố cục ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài
2. Luyện nói:
a) Trên lớp:
Chia tổ luyện nói theo dàn bài đã chuẩn bị
Nói trước lớp theo dàn bài sau khi đã luyện nói ở tổ
b) Ở nhà:
Lập dàn bài theo đề cho trước
Lập dàn bài theo chủ đề mà mình thích
Tập nói một mình hoặc theo nhóm tự học
II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Tham khảo các đề sau:
a) Tự giới thiệu về bản thân
b) Giới thiệu về một người bạn
c) Kể về gia đình mình
d) Kể về một ngày hoạt động của mình
2. Tham khảo một số dàn bài
3. Lập dàn bài theo đề tự chọn
4. Đọc bài nói tham khảo
5. Tóm tắt lại thành dàn bài
6. So sánh với dàn bài của mình, tự sửa để hoàn chỉnh bước chuẩn bị
7. Tập nói, lưu ý:
Nói to, rõ để mọi người đều nghe thấy
Tập nói diễn cảm, nói kết hợp với điệu bộ, cử chỉ
Rèn khả năng bình tĩnh, tự tin, tự điều chỉnh giọng nói cho phù hợp với nội dung muốn nói.
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn văn 6 bài Luyện nói kể chuyện | 337 | |
Soạn văn bài Kể chuyện tưởng tượng
Hướng dẫn
Soạn bài: Kể chuyện tưởng tượng
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 6 học kì 1: Kể chuyện tưởng tượng được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các em học sinh tham khảo. Bài soạn văn lớp 6 này sẽ giúp các em hiểu rõ về khái niệm, cách kể một câu chuyện tưởng tượng từ đó giúp học tốt môn Ngữ văn lớp 6 và chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 6: KỂ CHUYỆN TƯỞNG TƯỢNG
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Kể chuyện tưởng tượng là gì?
a) Kể tóm tắt truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng và cho biết những gì được tưởng tượng trong câu chuyện này?
Gợi ý:
Tóm tắt câu chuyện: Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai tị với lão Miệng rằng lão chẳng làm gì mà lại được ăn ngon. Họ quyết định không làm gì nữa, để lão Miệng không có gì ăn cả. Qua ba ngày, cả bọn thấy mệt mỏi, rã rời. Đến ngày thứ bảy, không thể chịu được nữa, Chân, Tay, Tai, Mắt mới vỡ lẽ ra là lão Miệng có ăn thì chúng mới khoẻ khoắn được. Cuối cùng, chúng cho lão Miệng ăn và cả bọn lại sống với nhau gắn bó, hoà thuận như xưa.
Từ các bộ phận của cơ thể, người ta tưởng tượng thành những nhân vật có tên riêng, biết đi lại, nói năng như những con người hoàn chỉnh, có nhà ở. Câu chuyện tị nạnh giữa Chân, Tay, Tai, Mắt với Miệng cũng không thể có thật.
b) Hư cấu, tưởng tượng chỉ có giá trị khi nó nhằm thể hiện điều gì đó có ý nghĩa đối với cuộc sống thực, làm rõ sự thật nào đó của cuộc sống con người. Em hãy chỉ ra điều này trong truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.
Gợi ý: Từ câu chuyện bịa đặt, tưởng tượng dựa trên sự thực các bộ phận trong cơ thể là một thể thống nhất, tất cả các bộ phận đều liên quan, phụ thuộc lẫn nhau, người ta muốn khẳng định rằng: trong cuộc sống, con người phải nương tựa lẫn nhau, không thể sống mà tách rời với những người khác.
c) Như vậy, kể chuyện tưởng tượng là dựa trên một phần sự việc có thật, có ý nghĩa nào đó người kể dùng trí tưởng tượng của mình sáng tạo ra câu chuyện mới mẻ, không có thực nhưng hợp lí, thú vị, có ý nghĩa đối với cuộc sống.
Nhìn chung, kể chuyện bao giờ cũng cần đến trí tưởng tượng. Tuy nhiên, tuỳ theo từng chủ đề cụ thể, với dụng ý cụ thể mà tưởng tượng, hư cấu được sử dụng với mức độ khác nhau.
a) Đọc truyện Sáu con gia súc so bì công lao và cho biết:
Người ta đã tưởng tượng những gì trong truyện này?
Dựa trên cơ sở sự thật nào để tưởng tượng?
Tưởng tượng như vậy để làm gì?
Gợi ý:
Yếu tố tưởng tượng: sáu con gia súc nói được tiếng người, chúng kể công và kể khổ.
Câu chuyện tưởng tượng dựa trên sự thực: đặc điểm riêng về cuộc sống, hoạt động của mỗi giống gia súc.
Câu chuyện tưởng tượng về sự so bì của các giống gia súc nhằm: khẳng định về ích lợi riêng của mỗi giống gia súc đối với cuộc sống con người; ngầm khuyên răn con người không nên cho mình là quan trọng hơn người khác, trong cuộc sống mỗi người mỗi việc, không nên so bì.
b) Các truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, Sáu con gia súc so bì công lao, Giấc mơ trò chuyện với Lang Liêu có bố cục như thế nào, có giống với một bài tự sự thông thường không?
c) Như vậy, kể chuyện tưởng tượng, người kể một mặt vẫn phải đảm bảo bố cục ba phần của một bài văn tự sự; mặt khác, dựa trên một phần sự thực nhất định nào đó, phát huy trí tưởng tượng để sáng tạo ra nhân vật, sự việc, câu chuyện không có thực nhằm hấp dẫn người đọc (người nghe), thể hiện ý nghĩa nào đó đối với con người trong đời sống thực.
II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Đọc bài Giấc mơ trò chuyện với Lang Liêu và thực hiện yêu cầu sau:
a) Tóm tắt những sự việc chính của bài văn;
b) Tác giả đã tưởng tượng ra những gì trong bài văn này?
c) Tưởng tượng như vậy nhằm mục đích gì?
2. Tham khảo một số đề văn, lập dàn ý cho một đề tuỳ chọn.
Lưu ý:
Bố cục của bài văn: bố cục ba phần (Mở bài, Thân bài, Kết bài)
Tưởng tượng ra các nhân vật.
Tưởng tượng ra câu chuyện: các sự việc, diễn biến các sự việc, kết quả.
Chủ đề của câu chuyện mà mình tưởng tượng: nhằm khẳng định điều gì, phê phán điều gì, ca ngợi ai, cái gì?
Yêu cầu chung: mặc dù có thể phát huy tối đa khả năng tưởng tượng nhưng vẫn phải đảm bảo sự hợp lí, chẳng hạn: trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn thì không thể biết nói tiếng người (người kể đã tưởng tượng ra) nhưng rõ ràng mỗi con vật đã thể hiện đúng đặc điểm thực của chúng như chúng ta vẫn thấy hàng ngày (ví dụ đặc điểm cuộc sống của trâu: Sớm tinh mơ đã bị gọi dậy đi cày, đi bừa, ách khoác lên vai, dây chão sâu đằng mũi,…)
Đề bài: Trong nhà em có ba phương tiện giao thông: xe đạp, xe máy và ô tô. Chúng cãi nhau, so bì hơn thua kịch liệt. Hãy tưởng tưởng và kể lại cuộc cãi nhau đó.
Bài làm
Trong nhà tôi có ba phương tiện giao thông là bác ô tô, chú xe máy và anh xe đạp. Một hôm, trời nóng bức, tôi leo lên người bác ô tô mở tung hết cánh cửa xe ra để nằm cho mát. Tôi chợt nghe thấy có tiếng rên rỉ của bác ô tô: “Kít! Kít! Đau quá! Đau quá!”.
Nghe thấy tiếng bác ô tô rên rỉ, anh xe đạp ở bên cạnh thì thầm với chú xe máy:
– Bác ô tô sướng thật, suốt ngày nằm ở nhà, chẳng vất vả gì. Thỉnh thoảng, nhà chủ phải đi bốc hàng thì mới phải đi còn những ngày thường thì được tắm rửa sạch sẽ, có khi còn được mua quần áo mới cho nữa. Chẳng bù cho tôi, tôi là người khổ nhất, người tôi gầy gò, ốm yếu nhất trong ba người, thế mà ngày nào cũng phải cùng ông chủ tập thể dục vào buổi chiều, ngày nào cũng phải đi bốn, năm cây số chứ ít gì đâu. Chân tay tôi lúc nào cũng ra rời. Có lần chân tay còn bị chảy máu vì dẫm phải đinh hay vấp hòn đá nhọn giữa đường, ông chủ phải mang tôi đi băng bó vết thương cho lành lại. Bác ô tô mới có thế mà đã kêu toáng cả lên.
Bác ô tô nghe thấy nhưng vẫn lờ đi, coi như không có chuyện gì cả. Được thể, chú xe máy lên tiếng:
– Ừ, chẳng bù cho tôi suốt ngày phải làm việc, luôn chân luôn tay, chẳng mấy khi được nghỉ ngơi. Buổi sáng thì chở cô chủ đến trường, trưa về lại cùng bà chủ ra chợ, đến chiều bà chủ lại bắt mang hàng đi cất. Đợt vừa rồi, chắc làm việc quá sức nên tôi bị ốm, ông chủ bà chủ không mang hàng đi cất được, buộc phải chờ tôi khoẻ hẳn. Tuy tôi to hơn anh thật đấy nhưng lại phải làm việc nặng hơn, nhiều hơn. Trong số chúng ta, tôi mới là người khổ nhất.
Bác ô tô nghe thấy hết, không chịu được nữa, định cho mỗi người một cái bạt tai nhưng may là bác ấy trấn tĩnh lại được, chứ không thì… Bác nghĩ mình là người có tuổi, không nên làm như vậy, chi bằng giải thích để mọi người hiểu. Bác ô tô cất giọng từ tốn và nghiêm khắc nói:
– Các anh vừa nói gì với nhau tôi đều đã nghe thấy cả. Nhưng tôi thắc mắc là, chẳng hiểu các nhà nghiên cứu đã phát minh ra chúng ta làm gì cơ chứ? Họ bỏ công sức và tiền của làm ra chúng ta là để làm cảnh hay sao? Chẳng nhẽ chúng ta lại là một lũ vô tích sự?
Sau những câu hỏi của ô tô đưa ra, xe đạp và xe máy liếc nhìn nhau, mặt người nào người nấy đỏ bừng, không nói được câu nào. Bác ô tô lại nói tiếp:
– Các nhà nghiên cứu phát minh ra chúng ta để phục vụ cho cuộc sống con người, giúp con người thuận tiện hơn khi đi lại, mua bán, giao tiếp. Còn bản thân tôi, tôi cũng phải làm việc, thậm chí là những công việc nặng nhọc, nhiều hơn các anh. Mà nào tôi có hé răng kêu ca với ai, thỉnh thoảng có đau mỏi quá thì kêu lên một mình đấy thôi! Phải biết rằng con người vất vả lắm mới kiếm ra được hạt cơm hạt gạo chứ chẳng ai không dưng lại có mà ăn!
Nói xong, bác ô tô ho lấy ho để. Thấy thế, anh xe đạp và chú xe máy vội chạy lại xoa bóp cho bác ô tô và xin lỗi rối rít.
Từ đó họ không còn kêu ca, phàn nàn nữa, ai cũng cố gắng làm việc.
(Nguyễn Thị Như Nguyệt)
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn văn bài Kể chuyện tưởng tượng | 1,684 | |
Soạn văn bài thơ về tiểu đội xe không kính
Hướng dẫn
Soạn văn bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
I.Đọc – hiểu văn bản
Câu 1.
a.Điểm khác biệt trong nhan đề bài thơ:
–Nhan đề dài, tạo sự độc đáo.
–Nhan đề làm nổi bật hình ảnh những chiếc xe không có kính. Đó là một phát hiện thú vị của tác giả, thể hiện sự gắn bó am hiểu hiện thực khốc liệt của chiến tranh trên tuyến đường Trường Sơn.
–Từ “bài thơ” đặt ở đầu tiên đề nhằm tạo ấn tượng về chất thơ của hiện thực ấy. Cuộc chiến đấu khốc liệt là một bài thơ, cuộc đời người chiến sĩ cũng là một bài thơ.
b.Hình ảnh những chiếc xe không có kính là một sáng tạo độc đáo:
Chiếc xe ô tô bình thường phải có kính chắn gió, chắn bụi: có mui che nắng, che mưa; có đèn để soi đường trong đêm tối. Những chiếc xe đưa vào trong thơ thì được “mỹ lệ hóa”. Vậy mà chiếc xe trong bài thơ là chiếc xe không bình thường. Nó là chiếc xe của thời chiến tranh. Nó không chỉ có một cái mà là cả tiểu đội xe không kính. Đó là một hình ảnh rất thực, rất trần trụi của những chiếc x era chiến trường: “khôn có kính”. Cách giải thích nguyên nhân không có kính cũng rất thực như một câu nói thường ngày:
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.
Chỉ vì bom giật bom rung mà chiếc xe không có kính rồi không có đèn, không có mui xe, thùng xe có nước. Chiến tranh ngày càng khốc liệt thì chiếc xe càng biến dạng trơ trụi. Nhưng thật lạ, những chiếc xe ấy vẫn bon bon vào chiến trường không gì ngăn cản nổi.
Câu 2. Hình ảnh người chiến sĩ lái xe.
a.Qua hình anh những chiếc xe không có kính đang bon bon trên đường ra trận, ta nhận thấy phẩm chất nổi bật ở người chiến sĩ lái xe là tư thê hiên ngang, tinh thần dũng cảm, coi thường gian khổ hiểm nguy. Trong bom đạn các anh vẫn ngẩng cao đầu:
Ung dung buồn lái ta ngồi
Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng.
Thái độ bất chấp khó khăn gian khổ, hiểm nguy đã trở thành một nét đẹp rất độc đáo của người lính thời chống Mỹ. Trong bài thơ cấu trúc lặp lại “không có”, “ừ thì” góp phần khắc tạc chân dung những con người đứng cao hơn hoàn cảnh, đứng trên bom đạn. Coi nguy hiểm là dịp để thử sức, để chứng tỏ bản lĩnh chiến sĩ:
“Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay lái trăm cây số nữa…”
b.Không phải chỉ có tư thế ung dung lạc quan, thái độ bất chấp khó khăn nguy hiểm mà người lính còn là những chàng trai trẻ, sôi nổi, vui nhộn, lạc quan. Trên con đường vào miền Nam chiến đấu chúng ta đã thấy biết bao gương mặt hồn nhiên của:
“Mấy chàng lính trẻ măng tơ
Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi”
(Tố Hữu – Nước non ngàn dặm)
Hay những chàng trai, cô gái:
“Xôi nắm cơm đùm
Ríu rít theo nhau”
Trong thơ của Chính hữu. Nhưng hình ảnh người lính đầy chất lính và hết sức tinh nghịch thì phải tìm trong thơ Phạm Tiến Duật. Những nụ cười “ha ha”, những cái bắt tay vội vàng qua ô “cửa kinh vỡ”, những bữa cơm “chung bát đũa” giữa trời bom đạn đã gắn kết những người lính lại với nhau, tạo thành một gia đình lớn, gia đình chiến sĩ Trường Sơn thời chống mỹ. Cái gì đã tạo nên sức mạnh để người chiến sĩ coi thường gian khổ, bất chấp nguy nan. Đó chính là vì miền Nam yêu dấu. Khổ thơ cuối bài là linh hồn của bài thơ, nó thể hiện vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn người chiến sĩ:
“Không có kính rồi xe không có đèn
Không có múi xe, thùng xe có nước”
Cuộc chiến ngày càng ác liệt, chiếc xe ngày càng bị tàn phá nhưng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”.
Nhà thơ đã dùng những hình ảnh hoán dụ để miêu tả vẻ đẹp tâm hôn của người chiến sĩ lái xe. Lấy “trái tim” để nói tình cảm, tình yêu của người chiến sĩ. Tình yêu miền Nam, tình yêu tổ quốc có sức mạnh to lớn giúp họ vượt qua mọi khó khăn tiến về giải phóng miền Nam.
Câu 3. Ngôn ngữ giọng điệu của bài thơ đã góp phần quan trọng trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe Trường Sơn. Giọng thơ ngang tàng có cả chất nghịch ngợm phù hợp với đối tượng miêu tả là những chàng trai trong chiếc xe không có kính.
“Không có kính không phải vì xe không có kín
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”.
Giọng điệu ấy làm cho lời thơ gần với lời văn xuôi, lời đối thoại, rất tự nhiên nhưng vẫn rất thú vị, rất thơ.
Câu 4. Cảm nghĩ về thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ.
–Khâm phục những con người hiên ngang dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm, luôn tiến lên phía trước vì mục đích và lý tưởng cao đẹp.
–Yêu mến tính sôi nôi, vui nhộn, tinh nghịch lạc quan, dễ gần, dễ mến, dễ gắn bó giữa những người lính trong chiến tranh. | Soạn văn Bài thơ về tiểu đội xe không kính | 948 | |
Soạn văn Bài toán dân số
Hướng dẫn
I.Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Xác định bố cục của đoạn văn, nêu nội dung chính của mỗi phần. Riêng về phần Thân bài, hãy chỉ ra các ý lớn:
Bố cục của văn bản, nội dung mỗi phần và các ý lớn trong phần Thân bài.
– Mở bài: Từ đầu đến “sáng mắt ra”.
Tác giả đặt vấn đề bài toán dân số và kế hoạch hóa gia đình dường như đã được đề ra từ thời cổ đại.
– Thân bài: Từ “Đó là câu chuyện từ một bài toán cổ” đến “sang ô thứ 31 của bàn cờ”.
Phần này tác giả tập trung làm sáng tỏ vấn đề: Tốc độ gia tăng dân số của thế giới là hết sức nhanh chóng.
Tác giả nêu lên ba ý chính:
+ Ý 1: Từ “Đó là câu chuyện…” đến “kinh khủng biết nhường nào!”.
Qua bài toán cổ dẫn đến kết luận “mỗi ô của bàn cờ lúc đầu chỉ có vài hạt thóc, tưởng là ít, nhưng sau đó cứ gấp đôi theo cấp số nhân thì số thóc của bàn cờ là một con số khủng khiếp (rải đều khắp mặt đất).
+ Ý 2: Từ “Bây giờ nếu ta…” đến “không quá 5%”.
Tác giả so sánh sự gia tăng dân số giống như số lượng thóc trong các ô bàn cờ. Ban đầu chỉ có 2 người, nhưng đến năm 1995 đã là 5,63 tỉ người và bàn cờ mới đủ cho ô thóc thứ 30.
+ Ý 3: Từ “Trong thực tế…” đến “ô thứ 31 của bàn cờ”.
Thực tế, mỗi phụ nữ lại có thể sinh rất nhiều con (lớn hơn 2 rất nhiều) vì thế chỉ tiêu mỗi gia đình chỉ có một đến hai con là rất khó thực hiện.
– Kết bài: Từ “Đừng để cho mỗi con người” đến hết bài.
Tác giả vừa kêu gọi, vừa khuyến cáo loài người cần hạn chế sự bùng nổ về dân số. Đó là con đường tồn tại của chính loài người.
-Vấn đề chính mà tác giả muốn đặt ra trong văn bản này là “thấy được việc hạn chế gia tăng dân số là đòi hỏi tất yếu cho sự phát triển của loài người”.
-Điều làm tác giả “sáng mắt ra” là vấn đề dân số mới đặt ra gần đây. Nhưng sau khi nghe xong bài toán cổ, bỗng thấy dường như nó đã được đặt ra từ thời cổ đại.
Câu 3. Câu chuyện kén rể của nhà thông thái có vai trò và ý nghĩa như thế nào trong việc làm nổi bật vấn đề chính mà tác giả muốn nói tới?
-Câu chuyện kén rể của nhà thông thái gây nên sự tò mò, hấp dẫn đối với người đọc và mang lại một kết luận bất ngờ: tưởng số lượng thóc ấy rất ít, ai ngờ có thể phủ kín cả trái đất. Câu chuyện làm tiền đề để tác giả đi và việc so sánh với sự bùng nổ về gia tăng dân số.
-Từ sự so sánh này, tác giả giúp người đọc hình dung ra tốc độ gia tăng dân số hết sức nhanh chóng. Đó là vấn đề trọng tâm mà tác giả muốn nêu lên.
Câu 4. Việc đưa ra những con số về tỉ lệ sinh con của phụ nữ ở một số nước theo thôn báo của Hội nghị Cai-rô nhằm mục đích gì? Tron số các nước kể trên trong văn bản thì nước nào thuộc châu Phi, còn nước nào thuộc châu Á? Em có nhận xét gì về sự phát triển dân số ở hai châu lục này? Rút ra kết luận về mối quan hệ giữa dân số và sự phát triển xã hội.
-Việc đưa ra tỉ lệ sinh con của phụ nữ theo thông báo của Hội nghị Cai-rô để mọi người thấy thực tế phụ nữ có thể sinh rất nhiều con.
-Trong số các nước kể trên thì Nê-pan, Ru-an-đa, Ta-đa-ni-a, Ma-da-gát-xca thuộc châu Phi, còn Việt Nam và Ấn Độ thuộc châu Á. Hai châu lục này phát triển dân số rất mạnh. Có thể thấy đây là những nước chưa phát triển, kinh tế còn yếu kém mà dân số lại bùng nổ rất cao. Thật khó mà cải thiện đời sống, đảm bảo cho cuộc sống no ấm.
Câu 5. Văn bản này đem lại cho em những hiểu biết gì?
-Văn bản này đem lại cho em nhiều hiểu biết rất quan trọng.
+ Sự phát triển dân số hiện nay đang quyết định đế số phận con người, loài người trong tương lai.
+ Nước ta cũng là nước phát triển dân số nhanh, nếu không có biện pháp hạn chế thì không thể “xóa đói giảm nghèo” được vì đây là một phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân.
Câu 6. Nghệ thuật.
Với phong cách ngôn ngữ báo chí, bằng phương pháp liệt kê, phân tích, chứng minh… văn bản đã làm sáng tỏ, đầy sức thuyết phục về nguy cơ bùng nổ và gia tăng dân số của thế giới, nhất là các dân tộc chậm phát triển.
Văn bản Bài toán dân số vừa kêu goi, vừa khuyến cáo loài người cần hạn chế sự bùng nổ về dân số.
Câu 7. Ý nghĩa:
Chủ đề bao trùm mà tác giả muốn làm nổi bật là thế giới đang đứng trước nguy cơ bùng nổ dân số quá nhanh. Đó là hiểm họa cần phải báo động vì đó là con đường “tồn tại hay không tồn tại” của chính loài người.
II.Luyện tập
Câu 1. Tìm câu trả lời: Con đường nào là con đường tốt nhất để hạn chế sự gia tăng dân số? Vì sao?
-Con đường tốt nhất để hạn chế sự gia tăng dân số là “đẩy mạnh giáo dục cho phụ nữ”. Bởi vì sinh đẻ là quyền của phụ nữ, không thể cấm đoán bằng mệnh lệnh và các biện pháp thô bạo.
-Chỉ bằng con đường tuyên truyền, giáo dục mới giúp mọi người hiểu ra nguy cơ và tác hại của sự bùng nổ dân số: Vấn đề dân số gắn liền với đói nghèo hay no ấm hạnh phúc.
Câu 2. Hãy nêu các lí do chính để trả lời câu hỏi: Vì sao dân số gia tăng có tầm quan trọng hết sức to lớn đối với tương lai nhân loại, nhất là đối với các dân tộc nghèo nàn, lạc hậu?
-Dân số gia tăng có tầm quan trọng hết sức to lớn đối với tương lai nhân loại, nhất là đối với các dân tộc nghèo nàn, lạc hậu vì:
+ Dân số phát triển quá nhanh ảnh hưởng nhiều đến con người ở các phương diện nhà ở, lương thực nuôi sống con người, môi trường chật hẹp, thiếu việc làm, giáo dục không kịp phát triển với đà tăng dân số.
+ Các nước còn nghèo nàn lạc hậu lại càng nghèo nàn lạc hậu hơn, vì hạn chế phát triển giáo dục.
Câu 3. Dựa vào số liệu về sự gia tăng dân số thế giới (trong phần đọc thêm) tính từ năm 2000 đến tháng 9 – 2003 xem số người trên thế giới đã tăng bao nhiêu và gấp khoảng bao nhiêu lần dân số Việt Nam hiện nay?
-Dân số thế giới ở vào thời điểm 2000: 6.080.141.683 người.
-Dân số thế giới ở vào thời điểm 30-9-2003: 6.320.815.650 người.
-Từ năm 2000 đến 30-9-2003 số người trên thế giới đã tăng 241.673.967 người, gấp 3 lần số dân Việt Nam hiện nay. | Soạn văn Bài toán dân số | 1,258 | |
Soạn văn bài: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Hướng dẫn
Ngữ văn lớp 12: Soạn văn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
VnDoc mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Soạn văn bài: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, với bộ tài liệu đã được VnDoc tổng hợp chi tiết và ngắn gọn để phục vụ các bạn học sinh học tập hiệu quả hơn môn Ngữ văn 12.
Học tốt Ngữ văn lớp 12: Soạn văn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
I. Tác giả & tác phẩm
1. Tác giả
Trần Đình Hượu (1926 – 1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông chuyên nghiên cứu các vấn đề lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam trung cận đại.
Các tác phẩm chính: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 (1988), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Đến hiện đại từ truyền thống (1996), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông (2001),v.v…
Năm 2000 ông được Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.
2. Tác phẩm
Văn bản dưới đây trích từ phần II, bài Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, in trong cuốn Đến hiện đại từ truyền thống. Nhan đề do người biên soạn đặt.
II. Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 162 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):
Trong đoạn trích, tác giả Trần Đình Hượu đã đề cập đến những đặc điểm của văn hóa truyền thống Việt Nam trên các cơ sở: tôn giáo, nghệ thuật (kiến trúc, hội họa, văn học), ứng xử (giao tiếp cộng đồng, tập quán), sinh hoạt (ăn, ở, mặc). Những mặt tích cực và hạn chế của mỗi đặc điểm được trình bày đan xen tạo cho bài văn có sự uyển chuyển, nhẹ nhàng.
→ Đoạn trích đã nêu được những nét đặc thù của vốn văn hóa Việt Nam để tiếp tục những giá trị đó trong thời kì hiện đại.
Đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tạo văn hóa của Việt Nam: giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hòa trên mọi phương diện (tôn giáo, nghệ thuật, ứng xử, sinh hoạt) với tinh thần chung: thiết thực, linh hoạt và dung hòa.
“Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ…Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.
Đặc điểm này nói lên thế mạnh của vốn văn hóa dân tộc: tạo ra cuộc sống thiết thực bình ổn, lành mạnh với những vẻ đẹp dịu dàng thanh lịch sống có tình nghĩa có văn hóa trên một cái nền nhân bản.
Các ví dụ:
– Các công trình kiến trúc nổi tiếng: Chùa Một Cột, kiến trúc Cung đình Huế, Hoàng thành Thăng Long…
– Chiếc áo dài nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam.
– Các câu tục ngữ, ca dao: “Người thanh nói tiếng cũng thanh / Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu”, “Lời chào cao hơn mâm cỗ”…
Câu 3: (trang 162 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):
Hạn chế của vốn văn hóa dân tộc:
– Tôn giáo, nghệ thuật: Ít quan tâm đến tôn giáo nên tôn giáo không phát triển, không có các công trình kì vĩ, tráng lệ.
– Quan niệm về lí tưởng: không có khát vọng và sáng tạo lớn trong cuộc sống, chấp nhận cái gì vừa phải, không ca tụng trí tuệ mà đề cao sự khôn khéo.
Câu 4: (trang 162 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):
Những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa truyền thống của Việt Nam: Phật giáo, Nho giáo.
Người Việt Nam đã tiếp nhận những tư tưởng tôn giáo này trên cơ sở chọn lọc những tư tưởng tiến bộ, nhân văn của những tôn giáo đó để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.
Ví dụ trong văn học:
Quan niệm về vấn đề nhân nghĩa của Nguyễn Trãi:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Câu thơ của Nguyễn Trãi có sự kế thừa từ tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Tử.
Câu 5: (trang 162 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):
Nhận định “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa”nhằm nêu lên mặt tích cực của văn hóa Việt Nam. Đó không phải là sự sáng tạo, tìm tòi, khai phá nhưng nó khẳng định được sự khéo léo, uyển chuyển của người Việt trong việc tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo nên những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam.
Câu 6: (trang 162 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):
Có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác chân chính dân tộc đó… là dân tộcViệt Nam có bản lĩnh” bởi: dân tộc ta đã trải qua một thời gian dài bị đô hộ, áp bức, đồng hóa nên chúng ta không thể trông cậy vào khả năng tạo tác (sự sáng tạo của dân tộc).
Chúng ta tiếp thu nhưng không hề rập khuôn máy móc văn hóa của quốc gia khác. Thực tế lịch sử, văn hóa và văn học đã chứng minh:
– Chữ viết: Sáng tạo chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán để khẳng định bản sắc dân tộc.
– Văn học: Sáng tạo các thể thơ dân tộc đi đôi với việc vận dụng, Việt hóa các thể thơ Đường luật của Trung Quốc, thể thơ tự do, phóng khoáng của phương Tây…
Chọn một trong các vấn đề để viết bài luận.
Gợi ý đề 1: Anh (chị) hiểu thế nào là truyền thống “tôn sư trọng đạo” – một nét đẹp của văn hóa Việt Nam? Trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về truyền thống này trong nhà trường và xã hội hiện nay?
– Giải thích ý nghĩa của câu thành ngữ: tôn sư trọng đạo.
– Tôn sự trọng đạo là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
+ Từ xưa nhân dân ta rất quý trọng việc học hành. Thầy giáo được cả xã hội quý trọng và được đặt vào vị trí cao nhất.
+ Trải qua các thời kì lịch sử nhân dân ta vẫn giữ gìn truyền thống cao đẹp này.
+ Dẫn chứng: các tấm gương thầy giáo mẫu mực: Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm.
– Ngày nay truyền thống đó đang được phát huy một cách tốt đẹp.
+ Đảng và nhà nước có nhiều chính sách tích cực để khuyến khích Giáo dục.
+ Người thầy vẫn được đề cao và coi trọng: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” ( thủ tướng Phạm Văn Đồng).
+ Bên cạnh đó, vẫn còn một số hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc: vô lễ với thầy cô, học chống đối với thầy cô…
– Liên hệ bản thân: giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
————————————
Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Soạn văn bài: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu soạn bài văn mẫu bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Đề thi học kì 2 lớp 12, Thi thpt Quốc gia môn Văn mà VnDoc tổng hợp và đăng tải. | Soạn văn bài_ Nhìn về vốn văn hóa dân tộc | 1,265 | |
Soạn văn Bánh chưng bánh giày của cô giáo Ngọc Anh chuyên văn
Hướng dẫn
Soạn văn Bánh chưng bánh giày sẽ cung cấp lời giải và những hướng dẫn cụ thể để người học tìm hiểu có hiệu quả nhất văn bản này. Các bạn hãy cùng tham khảo để có thêm những thông tin chi tiết nhé!
I. Tìm hiểu về truyền thuyết Bánh chưng bánh giày
Câu 1: Vua Hùng chọn người nối ngôi trong hoàn cảnh nào, với ý định ra sao và bằng hình thức gì?
– Hoàn cảnh:
+ Bờ cõi nước nhà được yên, không còn giặc giã xâm phạm, giờ là lúc để xây dựng đất nước, đảm bảo cuộc sống ấm no cho người dân. Muốn làm được điều đó, trước hết phải phát triển nông nghiệp.
+ Vua đã già, muốn truyền ngôi cho người xứng đáng, có thể “nối chí của ta”.
– Ý định của vua: Người nối ngôi phải có tài năng, đức độ, cụ thể là có thể kế thừa chí hướng của vua: đảm bảo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người nối ngôi không cần phải là con trưởng
– Hình thức: Vua đặt ra một yêu cầu: Trong ngày lễ Tiên vương, các lang ai dâng lễ vật vừa ý nhà vua sẽ được truyền ngôi báu. Thực chất đây là một thử thách với các hoàng tử để xem ai là người hiểu được “chí” của vua.
Câu 2: Vì sao trong các con vua, chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ?
Chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ vì:
– Lang Liêu là hoàng tử chịu thiệt thòi: sống ở ngoài cung vua trong cảnh nghèo, quanh năm chỉ gắn bó với ruộng đồng. Trong khi các lang khác tìm của ngon vật lạ khắp trên rừng dưới biển để dâng vua, thì Lang Liêu nhìn quanh khắp nhà chỉ có những lúa, ngô, khoai, sắn.
– Tuy nhiên, vì quanh năm gắn bó với ruộng đồng nên Lang Liêu là người yêu lao động, cần cù, chịu thương, chịu khó và cũng là người gần gũi nhất với nghề nông.
– Chính vì vậy, chỉ từ một lời mách bảo của thần mà Lang Liêu đã nghĩ ra việc làm ra hai thứ bánh. Điều đó chứng tỏ Lang Liêu còn là người thông minh, tháo vát, hiểu được ý thần mách bảo.
Câu 3: Vì sao hai thứ bánh của Lang Liêu được vua cha chọn để tế trời, đất, Tiên vương và Lang Liêu được chọn nối ngôi vua?
– Hai thứ bánh được chọn để tế trời, đất, Tiên vương vì:
+ Hai thứ bánh đã hàm chứa những ý nghĩa sâu xa: biểu thị triết lý Trời – Đất hoà hợp và nhắc nhở con người biết đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau.
+ Hai thứ bánh được làm từ những nguyên liệu: thịt lợn, đậu xanh, lá dong, gạo – những thành quả lao động nông nghiệp nên biểu thị được ý nghĩa đề cao nghề nông, đề cao nông sản giúp nuôi sống con người. Điều đó chính là chí hướng của vua: phát triển nông nghiệp đảm bảo đời sống ấm no cho người dân.
– Lý do Lang Liêu được truyền ngôi: Hai thứ bánh của Lang Liêu đáp ứng được yêu cầu của vua: “nối chí của ta” (đề cao nghề nông, phát triển nông nghiệp để đảm bảo đời sống ấm no cho con người). Lang Liêu đã chứng tỏ mình có tài trí, đức độ (tấm lòng hiếu thảo, lòng thành kính với tổ tiên) và xứng đáng được kế thừa ngôi báu.
Câu 4: Hãy nêu ý nghĩa của truyền thuyết “Bánh chưng, bánh giầy”.
Ý nghĩa của truyền thuyết “Bánh chưng, bánh giầy”:
– Truyện đã giải thích nguồn gốc của bánh chưng, bánh giầy – hai thứ bánh đã trở thành đặc sản, tinh hoa của dân tộc.
– Truyện ca ngợi sức lao động của con người, ca ngợi nghề nông và những thành tựu rực rỡ của nền văn minh nông nghiệp thời đại Hùng Vương.
Ca ngợi phẩm chất của người lao động Việt Nam: cần cù, yêu lao động, chịu thương, chịu khó, thông minh, tháo vát.
– Giải thích vì sao người Việt có phong tục làm bánh chưng, bánh giầy để thờ cúng tổ tiên.
II. Luyện tập | Soạn văn Bánh chưng bánh giày của cô giáo Ngọc Anh chuyên văn | 717 | |
Soạn văn Bánh chưng bánh giày đầy đủ chi tiết
Hướng dẫn
Bánh chưng bánh giày là truyền thuyết dân gian nổi tiếng lí giải về nguồn gốc và ý nghĩa của bánh chưng và bánh giày. Bài soạn Bánh chưng bánh giàysẽ cung cấp thêm những thông tin bài học thú vị, các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
Câu 1. Vua hùng chọn người nối ngôi trong hoàn cảnh nào, ý định ra sao và bằng hình thức thế nào?
– Vua hùng chọn người nối ngôi trong hoàn cảnh: thiên hạ thái bình và vua cũng đã có tuổi.
– Ý định: “Người nối ngôi phải nối được chí ta (vua Hùng), không nhất thiết phải là con trưởng”
– Hình thức: “nhân lễ Tiên Vương, ai làm vừa ý vua sẽ được vua truyền ngôi cho”
Câu 2. Vì sao trong các con vua, chỉ có Lang Liêu là được thần giúp đỡ?
Trong các con vua, chỉ có Lang Liêu là được thần giúp đỡ vì:
– Lang Liêu chịu nhiều thiệt thòi do mẹ Lang Liêu không được vua cha yêu quý
– Xuất thân là con vua nhưng chàng lại ra ngoài sống tự lập, sử dụng sức lực của mình để lao động.
– Lang Liêu sau khi nghe được sự gợi ý của thần, chàng tự mày mò tạo nên thứ bánh của chính mình.
Câu 3. Vì sao hai thứ bánh của Lang Liêu được vua chọn để tế Trời, Đất, tiên vương và Lang Liêu được chọn để nối ngôi vua?
– Bánh thể hiện sự kết tinh của Trời và đất
– Bánh mang ý biểu tượng cho kết quả của sự lao động, đáng trân trọng, để kính gửi lên bề trên
Lang Liêu được chọn để nối ngôi vua cho thấy vua Hùng trọng người tài đức: thông minh sáng tạo nhưng cũng đầy hiếu kính với tổ tiên, trân trọng công sức lao động làm nên các sản vật
Câu 4. Hãy nêu ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng bánh giầy?
Ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng Bánh giầy:
– Nói lên nguồn gốc Bánh chứng, Bánh giầy
– Nền văn minh lúa nước thuở ban đầu của nước ta.
– Nêu cao tinh thần lao động, làm ra lương thực
– Thể hiện sự thành kính đối với cội nguồn đối với trời, đất | Soạn văn Bánh chưng bánh giày đầy đủ chi tiết | 381 | |
Soạn văn Chiến thắng Mtao – Mxây trích sử thi Đăm Săn đầy đủ chi tiết nhất 2018
Hướng dẫn
Chiến thắng Mtao- Mxay là một trong những đoạn trích đặc sắc nhất trong sử thi Đăm Săn nói về cuộc chiến giữa hai người tù trưởng là Đăm Săn và Mtao- Mxay. Soạn văn Chiến thắng Mtao- Mxây dưới đây sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị trong việc tiếp cận và tìm hiểu văn bản của người học, các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
I. Tìm hiểu về đoạn trích Chiến thắng Mtao- Mxay
Câu 1: Hãy tóm tắt diễn biến trận đánh để so sánh tài năng và phẩm chất của hai tù trưởng
Gợi ý:
Đăm Săn khiêu chiến và thái độ của Mtao Mxây.
Hiệp đấu thứ nhất
– Hai bên lần lượt múa khiên:
+ Mtao Mxây múa trước: tỏ ra kém cỏi.
+ Đăm Săn múa sau: tỏ ra tài giỏi hơn hẳn.
– Kết quả hiệp đấu…
Trả lời:
Diễn biến trận đánh giữa Đăm Săn và Mtao Mxây:
– Đăm Săn đến nhà Mtao Mxây khiêu chiến, ban đầu Mtao Mxây tỏ ra ngạo nghễ nhưng sau đó cảm thấy lo sợ trước lời đe dọa của Đăm Săn. Hắn chấp nhận lời khiêu chiến của Đăm Săn trong trạng thái lo âu.
* Hiệp đấu thứ nhất:
– Hai bên lần lượt múa khiên:
+ Mtao Mxây múa trước: mặc dù rất kiêu ngạo nhưng múa khiên lại vô cùng kém cỏi “Khiên hắn kêu lạch xạch như quả mướp khô”.
+ Đăm Săn giữ thái độ thản nhiên, bình thản rồi rung khiên múa như vũ bão: “vượt một đồi tranh” rồi “vượt một đồi lồ ô”.
– Kết quả hiệp đấu: Dù Đăm Săn đâm trúng Mtao Mxây nhưng không thủng.
* Hiệp đấu thứ hai: nhờ ông Trời mách bảo, Đăm Săn sực tỉnh và lấy một cái chày mòn ném trúng vành tai Mtao Mxây. Cái giáp của Mtao Mxây tức thì rơi loảng xoảng, hắn tháo chạy và ngã lăn quay ra đất. Mặc dù Mtao Mxây van xin nhưng sau đó Đăm Săn đâm Mtao Mxây và cắt đầu bêu ngoài đường.
Trả lời:
Những câu nói và hành động của đông đảo dân làng:
– Dân làng của Mtao Mxây: Sau khi tù trưởng của họ thất bại, họ đều nghe theo lời kêu gọi của Đăm Săn: “Không đi sao được! Tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai”. Và sau đó họ đi theo Đăm Săn “đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân”. Thái độ và hành động này cho thấy họ luôn mơ ước đi theo một vị tù trưởng tài giỏi và dũng mãnh, và hướng tới một tập thể giàu có và hùng mạnh.
– Dân làng của Đăm Săn: Dân làng vui mừng, hồ hởi đánh chiêng chúc mừng. Họ không chỉ vui mừng trước chiến thắng của tù trưởng mà còn tiếp đãi những dân làng mới.
Câu 3. Phần cuối đoạn trích chú ý nhiều đến việc miêu tả cảnh chết chóc hay cảnh ăn mừng chiến thắng? Hãy phân tích ý nghĩa của sự lựa chọn ấy để làm rõ thái độ, cách nhìn nhận của tác giả về ý nghĩa thời đại của cuộc chiến tranh bộ tộc và về tầm vóc lịch sử của người anh hùng trong sự phát triển của cộng đồng
Trả lời:
Mặc dù nội dung đoạn trích miêu tả về một cuộc chiến nhưng phần cuối đoạn trích chú ý đến cảnh ăn mừng chiến thắng. Điều này đã cho thấy thái độ, cách nhìn nhận của tác giả về ý nghĩa thời đại của cuộc chiến tranh bộ tộc và về tầm vóc lịch sử của người anh hùng trong sự phát triển của cộng đồng:
– Tác giả dân gian nhìn nhận tính tất yếu của cuộc chiến giữa các thị tộc mặc dù cuộc chiến tranh có kẻ thắng người thua nhưng không hề kìm hãm sự phát triển của cộng đồng. Ngược lại sẽ xây dựng được một tập thể lớn mạnh hơn từ những thị tộc lẻ tẻ, rời rạc.
– Cách miêu tả của tác giả dân gian cũng cho thấy sự ngợi ca và ủng hộ của họ đối với sứ mệnh của người anh hùng trong việc đem đến cuộc sống phồn vinh, bình yên của thị tộc.
Câu 4: Hãy phân tích giá trị miêu tả và biểu cảm của các câu văn có dùng lối so sánh, phóng đại khi miêu tả nhân vật và khung cảnh diễn ra sự việc
Trả lời:
Trong đoạn trích có rất nhiều câu văn có dùng lối so sánh, phóng đại khi miêu tả nhân vật và khung cảnh diễn ra sự việc, chẳng hạn như cảnh miêu tả nhân vật Đăm Săn múa khiên: “Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc”, những câu văn miêu tả khung cảnh: “Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối”, “Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”.
Các hình ảnh, sự việc so sánh đều là những hình ảnh kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ có giá trị rất lớn trong việc miêu tả vị thế, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng và thể hiện thái độ trân trọng, cảm phục, ngưỡng mộ của tác giả.
II. Luyện tập
Theo | Soạn văn Chiến thắng Mtao – Mxây trích sử thi Đăm Săn đầy đủ chi tiết nhất 2018 | 917 | |
Soạn văn Chương trình địa phương (phần Tiếng Việt) rèn luyện chính tả
Hướng dẫn
Soạn văn Chương trình địa phương(phần Tiếng Việt) rèn luyện chính tả sẽ cung cấp những gợi ý thú vị nhằm hỗ trợ tốt nhất cho người học trong quá trình tìm hiểu bài Chương trình địa phương rèn luyện chính tả.
I. Nội dung luyện tập
III. Một số hình thức luyện tập
1. Điền tr/ ch, s/ x, r/ d / gi, l/n vào chỗ trống:
-Trái cây, chờ đợi, chuyển chỗ, trải qua, trôi chảy, trơ trụi, nói chuyện, chương trình, chẻ tre.
-Sấp ngửa, sản xuất, sơ sài, bổ sung, xung kích, xua đuổi, cái xẻng, xuất hiện, chim sáo, sâu bọ.
-Rũ rượi, rắc rối, giảm giá, giáo dục, rung rinh, rùng rợn, giang sơn, rau diếp, dao kéo, giao kèo, giáo mác.
-Lạc hậu, nói liều, gian nan, nết na, lương thiện, ruộng nương, lỗ chỗ, lén lút, bếp núc, lỡ làng.
2. Lựa chọn từ điền vào chỗ trống:
a. Vây, dây, giây
Vây cá, sợi dây, dây điện, vây cánh, dây dưa, giây phút, bao vây
b. Viết, diết, giết
Giết giặc, da diết, viết văn, chữ viết, giết chết.
c. Vẻ, dẻ, giẻ
Hạt dẻ, da dẻ, vẻ vang, văn vẻ, giẻ lau, mảnh dẻ, vẻ đẹp, giẻ rách
3. Chọn s hoặc x để điền vào chỗ trống cho thích hợp:
Bầu trời xám xịt như sà xuống sát mặt đất. Sấm rền vang, chớp lóe sáng rạch xé cả không gian. Cây sung già trước cửa xổ trút lá theo trận lốc, trơ lại những cành xơ xác, khẳng khiu. Đột nhiên, trận mưa dông sầm sập đổ, gõ lên mái tôn loảng xoảng.
4. Điền từ thích hợp có vần “uôc” hoặc “uôt” vào chỗ trống:
Thắt lưng buộc bụng, tuột miệng nói ra, cùng một ruột, con bạch tuộc, thẳng đuồn đuột, quả dưa chuột, bị chuột rút, trắng muốt, con chẫu chuộc.
5. Viết hỏi hay ngã ở những chữ in nghiêng:
Vẽ tranh, biểu quyết, dè bỉu, bủn rủn, dai dẳng, hưởng thụ, tưởng tượng, ngày giỗ, lỗ mãng, cổ lỗ, ngẫm nghĩ,…
6. Chữa lỗi chính tả có trong những câu sau:
-Tía đã nhiều lần căn dặn rằng không được kiêu căng.
-Một cây tre chắn ngang đường chẳng cho ai vô rừng chặt cây, đốn gỗ.
-Có đau thì cắn răng mà chịu nghen. | Soạn văn Chương trình địa phương (phần Tiếng Việt) rèn luyện chính tả | 381 | |
Soạn văn con hổ có nghĩa hay nhất năm 2018
Hướng dẫn
Hướng dẫn soạn văn Con hổ có nghĩasẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết và đầy đủ nhất nhằm hỗ trợ tốt nhất cho quá trình tìm hiểu và phân tích văn bản của người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
I. Hướng dẫn học bài
1. Văn bản này thuộc thể văn gì? Có mấy đoạn? Mỗi đoạn nói gì?
-Văn bản “Con hổ có nghĩa” thuộc thể loại văn trung đại.
-Văn bản được chia thành hai đoạn:
+ Đoạn 1: Câu chuyện về sự báo đáp của con hổ với bà đỡ Trần.
+ Đoạn 2: Sự báo ơn của con hổ với bác tiều ở Lạng Giang.
2. Với văn bản này, biện pháp nghệ thuật cơ bản, bao trùm được sử dụng là biện pháp gì? Tại sao lại dựng lên chuyện “Con hổ có nghĩa” mà không phải là “Con người có nghĩa”?
-Với văn bản này, biện pháp nghệ thuật cơ bản, bao trùm được sử dụng là biện pháp nhân hóa, mượn hình ảnh con hổ có nghĩa để nói về con người có nghĩa.
-Câu chuyện “Con hổ có nghĩa” chứ không phải “Con người có nghĩa” bởi vì:
+ Con hổ là một con vật hung dữ mà sống có tình có nghĩa thì không có lẽ gì con người lại sống vô ơn được.
+ Đó là một cách diễn giải gián tiếp về con người.
3. Chuyện gì đã xảy ra giữa bà đỡ Trần (người huyện Đông Triều) với con hổ thứ nhất và giữa bác tiều (ở huyện Lạng Giang) với con hổ thứ hai? Trong mỗi chuyện, chi tiết nào em cho là thú vị? Chuyện con hổ với bác tiều so với chuyện con hổ với bà đỡ Trần có thêm ý nghĩa gì?
-Câu chuyện giữa con hổ vói bà đỡ Trần: bà đỡ Trần giúp hổ cái đang khó sinh, bà đã giuos hổ sinh được con và con hổ vui mừng, đào bạc lên trả ơn cho bà, đưa bà ra tận cửa rừng.
-Câu chuyện giữa con hổ với bác tiều ở Lạng Giang: bác tiều phu giúp con hổ lấy chiếc xương bò mắc trong cổ họng, hổ đã săn nai về cảm tạ ơn. Lúc bác tiều mất, hổ xót thương, cứ tới dịp giỗ lại mang lễ vật về.
-Các chi tiết thú vị:
+ Bà đỡ Trần được hổ đực cảm tạ bằng nén bạc.
+ Con hổ nghe lời bác tiều nằm phục xuống, há miệng với vẻ cầu cứu.
-Chuyện con hổ với bác tiều so với chuyện con hổ với bà đỡ Trần có thêm ý nghĩa, đó là thể hiện tư tưởng nhân nghĩa, sự trả ơn suốt đời.
4. Truyện Con hổ có nghĩa đề cao, khuyến khích điều gì cần có trong cuộc sống con người?
-Truyện đề cao, ca ngợi lối sống tình nghĩa, biết giúp đỡ kẻ gặp nạn.
-Người được nhận ơn, được giúp đỡ phải biết ghi nhớ và biết báo đáp ân nghĩa cho ân nhân.
II. Luyện tập
1. Em hãy kể về một con chó có nghĩa với chủ. Nếu chưa biết kể thì hãy nhờ bố mẹ hoặc ai đó kể cho nghe và từ đó viết vài lời cảm nghĩ
Gợi ý:
-Tính khôn, hiểu ý chủ nói, biết nghe lời chủ của chú chó.
-Hay chơi đùa, vẫy đuôi mừng quýnh, chạy ra tận cổng khi chủ đi về.
-Quấn quýt với mọi người, không có thói cắn người.
-Chú chó dũng cảm cứu chủ trong hoạn nạn: khi trộm vào nhà với ý định trộm đồ, chú chó kêu sủa báo hiệu cho chủ biết… | Soạn văn con hổ có nghĩa hay nhất năm 2018 | 602 | |
Soạn văn Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn
Hướng dẫn
Soạn văn Hứng trở về sẽ cung cấp gợi ý cho hệ thống câu hỏi từ đơn giản đến nâng cao trong sách giáo khoa. Hãy tham khảo để có thêm những thông tin hữu ích cho quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
I. Hướng dẫn tìm hiểu
1. Nỗi nhớ quê hương ở hai câu thơ đầu có gì đặc sắc? (Lưu ý: Bài thơ sử dụng những hình ảnh dân dã, quen thuộc nhưng làm xúc động lòng người: lí giải vì sao)
Nỗi nhớ quê hương ở hai câu thơ đầu có nhiều điểm đặc sắc:
-Tác giả đã sử dụng những hình ảnh hết sức quen thuộc, gần gũi của làng quê để nói về tấm lòng yêu thương quê hương tha thiết của mình. Đó là những rặng dâu tằm, những con tằm chín vừa béo vừa ngậy, những bông lúa chín, những con cua béo,…-> những hình ảnh hết sức gần gũi, giản dị và thân thuộc ở làng quê.
-Tất cả những hình ảnh ấy gợi trong tâm hồn tác giả những cảm xúc nhớ thương về một thời đã từng gắn bó, những hình ảnh thân thương đó đã tạo nên một không gian gần gũi, gắn bó với con người, gợi nên những cảm xúc thật khó quên.
2. Phân tích nét riêng của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bài thơ qua những hình tượng thơ độc đáo
Nét riêng của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bài thơ qua những hình tượng thơ độc đáo:
-Nhà thơ nhớ da diết về nơi mình đã sinh ra. Những hình ảnh thơ độc đáo đó là những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên nơi làng quê, gợi nhắc tác giả phải nhớ đến quãng thời gian mình đã và đang sống ở đó. Đó là những hình ảnh thơ bình dị và thân thuộc của quê hương, nó có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn của tác giả.
-Mặc dù sống ở nơi phồn hoa nhưng tác giả luôn nhớ khôn nguôi về khoảng thời gian đã từng sống ở quê.
-Qua những hình ảnh bình di, thân thuộc và gần gũi, gắn bó với con người, tác giả đã thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
-Nhà thơ tự hào về nơi mình đã sinh ra, đó là biểu hiện của lòng tự tôn dân tộc.
-Ở hai câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện nỗi nhớ của mình với thiên nhiên, sau đó ở những câu thơ tiếp theo những tâm trạng thầm kín của tác giả dần được bộc lộ.
-Cuộc sống ở quê hương dù không đủ đầy,còn nhiều khó khăn nhưng ấm áp tình người, con người vẫn luôn bươn trải và sống nơi đất khách phồn hoa. Nhưng tác giả lại muốn sống ở nơi mình sinh ra bởi nó yên tĩnh, thanh bình và gần gũi với tâm hồn của tác giả.
-Trong tâm hồn trong sáng của nhà thơ, cái nghèo vẫn luôn bủa vây xung quanh cuộc sống của nhà thơ, nhà thơ đang hình dung và tự hào về một vùng đất dù nghèo khó nhưng nhà thơ thấy ấm áp, bình yên khi sống ở đó.
-Tình yêu quê hương, đất nước đã được nhà thơ thể hiện ngay từ nhan đề. “Hứng trở về” – nhan đề cho thấy tình cảm to lớn của tác giả với quê hương đất nước.
Theo | Soạn văn Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn | 591 | |
Soạn văn lớp 7: Cách làm bài văn lập luận giải thích
Hướng dẫn
Soạn văn lớp 7: Cách làm bài văn lập luận giải thích
Bài soạn môn Ngữ văn lớp 7 học kì II dưới đây: Cách làm bài văn lập luận giải thích được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các em học sinh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình.
CÁCH LÀM BÀI VĂN LẬP LUẬN GIẢI THÍCH
I. HƯỚNG DẪN CHUNG
1. Các bước làm bài văn lập luận giải thích
a) Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý
Đề yêu cầu giải thích vấn đề gì?
Có khi vấn đề cần giải thích được nêu ra một cách trực tiếp (ví dụ: giải thích về “lòng nhân đạo”, giải thích về “lòng khiêm tốn”,…) nhưng cũng có khi đề bài gián tiếp đưa ra vấn đề bằng cách mượn hình ảnh, câu văn, câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ,…, ví dụ: Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy giải thích nội dung câu tục ngữ đó. Trước những đề bài dạng này, khi xác định vấn đề (luận điểm) chính cần giải thích phải lưu ý:
Cắt nghĩa được hình ảnh, câu văn, câu tục ngữ, thành ngữ,… nêu ra ở đề bài. Nghĩa là phải tiến hành giải thích từ ngữ, nghĩa gốc, nghĩa chuyển,… của hình ảnh, câu văn… để nắm được nội dung của chúng từ đó mới xác định được chính xác vấn đề cần giải thích.
Liên hệ với thực tế đời sống, với những ý kiến trong sách vở,… khác để xác định những biểu hiện cụ thể của vấn đề. Ví dụ, với yêu cầu giải thích câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, một mặt cần tìm những ví dụ cụ thể trong thực tế (đi tham quan để hiểu biết thêm những điều mới lạ, những khám phá của con người trước những miền đất mới, em đã từng thất bại khi làm một việc gì đó nhưng vì thế mà em có được kinh nghiệm để bây giờ có thể làm tốt được việc ấy,…), mặt khác cần liên hệ với những câu ca dao, tục ngữ tương tự (Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng; Đi cho biết đó biết đây, Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn;…) thậm chí liên hệ đến những dẫn chứng có ý nghĩa tương phản: Ếch ngồi đáy giếng,…
Lập dàn bài theo bố cục ba phần:
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần giải thích hoặc giới thiệu câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao, câu văn,… và nêu ra nội dung của nó.
Ví dụ: Giới thiệu câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” và ý nghĩa về sự đúc kết kinh nghiệm và thể hiện mơ ước đi nhiều nơi để mở mang hiểu biết.
Thân bài: Giải thích vấn đề (luận điểm) đã giới thiệu ở phần Mở bài
Giải thích các từ ngữ, khái niệm, ví dụ: Đi một ngày đàng nghĩa là gì? Một sàng khôn nghĩa là gì? “nhân đạo” là gì? “khiêm tốn” là thế nào? “phán đoán” là gì? “thẩm mĩ” là gì?
Giải thích các ý nghĩa mở rộng của vấn đề, liên hệ với thực tế, với các dẫn chứng khác
Giải thích ý nghĩa khái quát của vấn đề đối với cuộc sống của con người, lí giải sâu vấn đề
Chú ý cân nhắc cách sắp xếp các ý giải thích để làm sáng rõ, nổi bật vấn đề
Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của vấn đề vừa làm sáng tỏ
c) Bước 3: Viết bài
Mở bài: Có thể viết theo các cách:
Giới thiệu thẳng vào vấn đề cần giải thích, ví dụ: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn là câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm học tập của nhân dân ta, qua đó thể hiện ước mơ vươn tới những chân trời mới để mở mang hiểu biết.
Đi từ vấn đề có ý nghĩa đối lập, dẫn tới vấn đề cần giải thích, ví dụ: Em cứ nhớ mãi hình ảnh một chú ếch không huênh hoang, kiêu ngạo, không chịu mở rộng tầm mắt để dẫn tới hậu quả bị chết bẹp dưới chân trâu. Thế mới thấy thấm thía lời răn dạy của cha ông ta: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Còn gì thú vị hơn khi được đi đến những chân trời mới, ở những nơi cho ta bao điều mới lạ, kì thú.
Đi từ cái chung đến cái riêng, dẫn dắt vào vấn đề, ví dụ: Cha ông ta để lại cho con cháu muôn đời cả một kho tàng ca dao, tục ngữ. Đó cũng là cả một kho tàng kinh nghiệm quý báu. Ta có thể tìm thấy ở đó những lời khuyên răn bổ ích về việc phải mở mang tầm hiểu biết, đi đây đi đó để trau dồi vốn sống, vốn tri thức.
Kết bài: Cách Kết bài phải hô ứng với cách Mở bài; thâu tóm được những ý chính đã triển khai trong phần Thân bài.
II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
Với đề bài: Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy viết thêm những cách kết bài khác.
Gợi ý: Tham khảo hai đoạn kết bài sau:
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn là một chân lí sống sâu sắc và tiến bộ không chỉ trong thời trước mà cả trong thời đại ngày nay nữa. Khi thế giới đang ngày càng có xu hướng mở rộng giao lưu thì với mỗi cá nhân việc đi để mà học lấy những cái khôn lại càng trở nên cần thiết, nhất là đối với những người trẻ tuổi. Hơn bao giờ hết, ngày nay, chúng ta cành cần phải “đi cho biết đó biết đây” để mà giao lưu, mà học hỏi, để học tập và làm việc tốt hơn.
Nói một cách công bằng thì bài học đã được nhân dân ta đức kết trong câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là một chân lí không bao giờ cũ. Ngày xưa người ta mong ước được đi đây, đi đó để vượt ra khỏi cái không gian chật trội của làng của xã. Ngày nay, trong một xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, con người lại càng nhất thiết phải học hỏi, giao lưu. Đi nhiều “ngày đàng” để học lấy nhiều “sàng khôn” hơn nữa nếu không muốn đất nước mình tụt hậu, đó là trách nhiệm của mọi người và của bản thân mỗi chúng ta.
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn văn lớp 7_ Cách làm bài văn lập luận giải thích | 1,198 | |
Soạn văn lớp 8 (cho cả năm)
Hướng dẫn
Văn mẫu lớp 8 xin chia sẽ các bạn bộ bài soạn văn lớp 8 đầy đủ và chi tiết cho cả năm. Bạn chỉ cần nhấp vào tiêu đề để vào bài soạn chi tiết, chúc các bạn học giỏi.
Hãy cảm ơn nếu cảm thấy bổ ích nhé các bạn
Tuần 1:
–Soạn bài tôi đi học của Thanh Tịnh
–Soạn bài cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ
–Soạn bài tính thống nhất về chủ đề của văn bản
Tuần 2:
–Soạn bài trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu)
–Soạn bài trường từ vựng
–Soạn bài bố cục của văn bản
Tuần 3:
–Soạn bài tức nước vỡ bờ (trích Tắt đèn)
–Soạn bài xây dựng đoạn văn trong văn bản
Tuần 4:
–Soạn bài lão hạc của Nam Cao
-Soạn bài từ tượng hình, từ tượng thanh
-Soạn bài liên kết các đoạn văn trong văn bản
Tuần 5:
-Soạn bài từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội
-Soạn bài tóm tắt văn bản tự sự
-Soạn bài luyện tập tóm tắt văn bản tự sự
Tuần 6:
-Soạn bài cô bé bán diêm (trích)
-Soạn bài trợ từ, thán từ
-Soạn bài miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự
Tuần 7:
-Soạn bài đánh nhau với cối xay gió (Trích Đôn Ki-hô-tê)
-Soạn bài tình thái từ
-Soạn bài luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
-Soạn bài chiếc lá cuối cùng (trích)
-Soạn bài chương trình địa phương (phần Tiếng Việt)
-Soạn bài lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Tuần 9:
–Soạn bài hai cây phong (trích Người thầy đầu tiên)
–Soạn bài nói quá
Tuần 10:
–Soạn bài ôn tập truyện kí Việt Nam
–Soạn bài thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000
–Soạn bài nói giảm nói tránh
–Soạn bài luyện nói: kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Tuần 11:
-Soạn bài câu ghép
-Soạn bài tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh
Tuần 12:
-Soạn bài ôn dịch, thuốc lá
-Soạn bài câu ghép tiếp theo
-Soạn bài phương pháp thuyết minh
Tuần 13:
-Soạn bài bài toán dân số
-Soạn bài dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm
-Soạn bài đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh
Tuần 14:
-Soạn bài chương trình địa phương (phần Văn)
-Soạn bài dấu ngoặc kép
-Soạn bài luyện nói: Thuyết minh về một thứ đồ dùng
Tuần 15:
-Soạn bài vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác
-Soạn bài đập đá ở Côn Lôn
-Soạn bài ôn luyện về dấu câu
-Soạn bài thuyết minh về một thể loại văn học
Tuần 16:
-Soạn bài muốn làm thằng Cuội
-Soạn bài ôn tập và kiểm tra phần tiếng Việt
-Soạn bài trả bài tập làm văn số 3
Tuần 17:
-Soạn bài hai chữ nước nhà (trích)
-Soạn bài hoạt động ngữ văn: làm thơ bảy chữ
Tuần 18:
-Soạn bài nhớ rừng của Thế Lữ
-Soạn bài ông đồ
-Soạn bài câu nghi vấn
-Soạn bài viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh
Tuần 19:
-Soạn bài quê hương của Tế Hanh
-Soạn bài khi con tu hú của Tố Hữu
-Soạn bài câu nghi vấn tiếp theo
-Soạn bài thuyết minh về một phương pháp (cách làm)
Tuần 20:
-Soạn bài tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh
-Soạn bài câu cầu khiến
-Soạn bài thuyết minh một danh lam thắng cảnh
-Soạn bài ôn tập về văn bản thuyết minh
Tuần 21:
-Soạn bài ngắm trăng (vọng nguyệt)
-Soạn bài đi đường (tẩu lộ)
-Soạn bài câu cảm thán
-Soạn bài câu trần thuật
Tuần 22:
-Soạn bài chiếu dời đô (thiên đô chiếu)
-Soạn bài câu phủ định
-Soạn bài chương trình địa phương (phần Tập làm văn)
Tuần 23:
-Soạn bài hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hịch văn)
-Soạn bài hành động nói
Tuần 24:
-Soạn bài nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo)
-Soạn bài hành động nói tiếp theo
-Soạn bài ôn tập về luận điểm
Tuần 25:
-Soạn bài bàn luận về phép học (luận học pháp)
-Soạn bài viết đoạn văn trình bày luận điểm
-Soạn bài luyện tập xây dựng và trình bày luận điểm
Tuần 26:
-Soạn bài thuế máu (Trích bản án chế độ thực dân Pháp)
-Soạn bài tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận
Tuần 27:
-Soạn bài đi bộ ngao du (Trích Ê-min hay về giáo dục)
-Soạn bài hội thoại tiếp theo
-Soạn bài luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận
Tuần 28:
-Soạn bài kiểm tra văn
-Soạn bài lựa chọn trật tự từ trong câu
-Soạn bài tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận
Tuần 29:
-Soạn bài ông Giuốc-đanh mặc lễ phục (Trích Trưởng giả học làm sang)
-Soạn bài luyện tập lựa chọn trật tự từ trong câu
-Soạn bài luyện tập đưa các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận
Tuần 30:
-Soạn bài chương trình địa phương (Phần Văn)
-Soạn bài chữa lỗi diễn đạt (lỗ lô-gic)
Tuần 31:
-Soạn bài tổng kết phần văn
-Soạn bài ôn tập và kiểm tra phần Tiếng Việt
-Soạn bài văn bản tường trình
-Soạn bài luyện tập làm văn bản tường trình
Tuần 32:
-Soạn bài ôn tập và kiểm tra phần Tiếng Việt tiếp theo
-Soạn bài văn bản thông báo
Tuần 33:
-Soạn bài tổng kết phần văn tiếp theo
-Soạn bài chương trình địa phương (phần Tiếng Việt)
Tuần 34:
-Soạn bài tổng kết phần văn tiếp theo
-Soạn bài luyện tập làm văn bản thông báo
-Soạn bài ôn tập phần tập làm văn | Soạn văn lớp 8 (cho cả năm) | 863 | |
Soạn văn lớp 8 bài Tóm tắt văn bản tự sự
Hướng dẫn
Soạn bài: Tóm tắt văn bản tự sự
Soạn văn bài Tóm tắt văn bản tự sự được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn học sinh nắm rõ kiến thức về khái niệm, cách sừ dụng từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội để từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tóm tắt văn bản tự sự là gì?
Tóm tắt văn bản nói chung, tóm tắt văn bản tự sự nói riêng là việc làm xuất phát từ nhu cầu thực tế. Trong cuộc sống, nhiều trường hợp chúng ta muốn thông báo ngắn gọn nội dung một sự việc, một câu chuyện nào đó đã được biết cho người khác. Khi ấy, chúng ta cần đến thao tác tóm tắt.
Để thông báo những nội dung chính của một văn bản tự sự nào đó đến người khác, chúng ta cần đến thao tác tóm tắt văn bản tự sự.
Có thể hiểu ngắn gọn: Tóm tắt văn bản tự sự là ghi lại một cách ngắn gọn, trung thành những nội dung chính của văn bản tự sự.
2. Cách tóm tắt văn bản tự sự
a) Văn bản tóm tắt phải đảm bảo những yêu cầu nhất định
Văn bản sau đây kể lại nội dung của văn bản nào?
Vua Hùng thứ mười tám có người con gái đẹp tên là Mị Nương. Nhà vua muốn kén một chàng rể xứng đáng. Sơn Tinh và Thuỷ Tinh cùng một lúc đến cầu hôn. Cả hai người đều có tài, vua Hùng không biết gả con cho ai, bèn ra điều kiện thách đố để dễ bề lựa chọn. Sơn Tinh thắng cuộc, cưới Mị Nương rồi đưa về núi. Thuỷ Tinh tức giận dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng bị thua. Từ đó hằng năm Thuỷ Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng đều thất bại.
Gợi ý: Văn bản trên kể lại nội dung của văn bản Sơn Tinh, Thuỷ Tinh;
So sánh văn bản trên với văn bản Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và tự rút ra nhận xét về đặc điểm của văn bản tóm tắt.
So sánh nội dung của văn bản trên với nội dung của văn bản gốc.
So sánh về độ dài, lời văn, số lượng nhân vật, sự việc,… giữa văn bản trên với văn bản gốc.
Văn bản tóm tắt phải đảm bảo giữ được nội dung chính của văn bản gốc: nhân vật chính, sự việc chính. Lời văn của văn bản tóm tắt là lời văn của người tóm tắt; lời văn của văn bản tóm tắt phải ngắn gọn. Tóm lại, văn bản tóm tắt truyền tải trung thành nội dung (sự việc, nhân vật) chính của tác phẩm trong một dung lượng ngắn hơn nhiều so với dung lượng của văn bản gốc.
b) Các bước tóm tắt một văn bản tự sự:
Đọc văn bản, xác định chủ đề (việc xác định chủ đề văn bản sẽ quyết định việc lựa chọn nhân vật, sự việc,…)
Xác định nội dung chính cần tóm tắt:
Nhân vật chính;
Sự việc chính;
Sắp xếp nhân vật, sự việc theo trật tự nhất định, phản ánh trung thành câu chuyện được kể trong văn bản gốc;
Viết bằng lời văn của mình nội dung cần tóm tắt.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Kiểm tra xem những sự việc dưới đây đã đảm bảo đầy đủ những sự việc chính của truyện ngắn Lão Hạc chưa?
(1) Con trai lão Hạc đi phu đồn điền cao su, lão chỉ còn lại “cậu Vàng”.
(2) Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó vàng.
(3) Lão mang tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn.
(4) Vì muốn để lại mảnh vườn cho con, lão phải bán con chó.
(5) Một hôm lão xin Binh Tư một ít bả chó.
(6) Cuộc sống mỗi ngày một khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và bị ốm một trận khủng khiếp.
(7) Lão bỗng nhiên chết – cái chết thật dữ dội.
(8) Ông giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy.
(9) Cả làng không hiểu vì sao lão chết, trừ Binh Tư và ông giáo.
Gợi ý: Đọc lại truyện ngắn Lão Hạc. Ghi lại những sự việc chính của câu chuyện. Các sự việc đã được liệt kê đầy đủ ở trên.
2. Trật tự sắp xếp các sự việc từ (1) đến (9) như trên đã chính xác chưa? Nếu chưa, hãy sắp xếp lại cho đúng.
Gợi ý: Một trong những thao tác quan trọng khi tóm tắt văn bản tự sự là khi đọc văn bản ta phải lưu ý ghi lại những sự việc của cốt truyện theo đúng trình tự xuất hiện của nó trong câu chuyện. Trình tự diễn biến của câu chuyện được kể chứ không phải là trình tự của các sự việc trong lời kể. Như vậy, trình tự hợp lí của các sự việc trong câu chuyện về số phận lão Hạc sẽ là Nếu là trình tự sự việc theo lời kể thì mở đầu truyện đã là sự việc (4), truyện ngắn này được kể theo lời kể của ông giáo – nhân vật của truyện và theo hồi ức của lão Hạc.
3. Dựa theo trình tự các sự việc chính đã xác định được, bằng lời văn của mình, hãy viết văn bản tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc.
4. Hãy tóm tắt văn bản trích Tức nước vỡ bờ.
Gợi ý: Thực hiện theo trình tự các bước: đọc lại đoạn trích, ghi lại những nhân vật, sự việc chính và sắp xếp theo trật tự hợp lí, viết thành văn bản tóm tắt bằng lời văn của mình.
Các nhân vật chính: chị Dậu, anh Dậu, cai lệ, người nhà lí trưởng.
Các sự việc chính:
Chị Dậu vừa múc bát cháo lên cho chồng ăn, anh Dậu còn chưa kịp ăn thì tên cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào đòi bắt trói;
Chị Dậu khẩn thiết van xin hai tên tay sai vì chồng mình vừa ốm nặng nhưng không được mà còn bị cai lệ đánh;
Tức quá, chị Dậu vùng lên quật ngã cả hai tên tay sai.
5. Văn bản Tôi đi học của Thanh Tịnh và Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng rất khó tóm tắt. Em hãy thử tóm tắt hai văn bản này và cho biết tại sao lại như vậy.
Gợi ý: Hai văn bản Tôi đi học và Trong lòng mẹ tuy là văn bản tự sự nhưng giàu tính trữ tình. Đối với văn bản tự sự, sự việc là quan trọng, kể chuyện là kể những sự việc và nhân vật trong sự việc. Đối với văn bản trữ tình, tình cảm, cảm xúc là quan trọng, sự việc chỉ là cái cớ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc. Trong hai văn bản trên, vẫn có những sự việc và hành động của nhân vật nhưng nhà văn đã dồn nhiều vào việc diễn tả dòng cảm xúc, những suy nghĩ của nhân vật. Hơn nữa, trong lời kể, các sự việc lại xuất hiện không theo như câu chuyện xảy ra trong thực tế, thời gian liên tục đảo ngược theo mạch hồi ức của nhân vật, các sự việc của hiện tại và quá khứ đan cài, hoán đổi trình tự nên rất khó sắp xếp cho đúng mạch diễn biến. Điều này là bình thường đối với tác phẩm tự sự hiện đại, nhất lại là những tác phẩm giàu tính trữ tình.
Dưới đây là bài soạn Tóm tắt văn bản tự sự bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Tóm tắt văn bản tự sự
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn văn lớp 8 bài Tóm tắt văn bản tự sự | 1,393 | |
Soạn văn Nghĩa của từ ngắn gọn chi tiết
Hướng dẫn
Tiếng Việt vô cùng phong phú và giàu có, vì vậy để việc giao tiếp được hiệu quả mỗi người cần trau dồi thêm vốn từ cũng như nắm bắt được ý nghĩa của những từ ngữ đó. Vậy ý nghĩa của từ là gì? Hãy cùng tìm hiểu trong bài Soạn văn Nghĩa của từ dưới đây nhé!
1. Nghĩa của từ là gì?
Dưới đây là một số chú thích trong những bài văn các em đã học
– tập quán: thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc,v.v…) được hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo
– lẫm liệt: hùng dũng, oai nghiêm
– nao núng: lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa
Em hãy cho biết:
Câu 1. Mỗi chú thích trên gồm mấy bộ phận?
-Mỗi chú thích trên gồm 2 bộ phận: bộ phận 1: từ và bộ phận 2: ý nghĩa của từ
Câu 2.Bộ phận nào trong chú thích nêu lên nghĩa của từ?
-Bộ phận 2 trong chú thích nêu lên nghĩa của từ.
Câu 3. Nghĩa của từ ứng với phần nào trong mô hình dưới đây?
Hình thức/ Nội dung
-Nghĩa của từ ứng với: Nội dung
Cách giải thích nghĩa của từ
Câu 1. Đọc lại các chú thích đã dẫn ở phần I
Đọc chú thích
Câu 2. Trong mỗi chú thích trên nghĩa của từ được giải thích bằng cách nào?
– Đưa ra khái niệm về từ đó (chú thích 1)
– Đưa ra từ đồng nghĩa (chú thích 2)
– Đưa ra từ trái nghĩa (chú thích 3) | Soạn văn Nghĩa của từ ngắn gọn chi tiết | 262 | |
Soạn văn Sự việc và nhân vật trong văn tự sự
Hướng dẫn
Soạn văn Sự việc và nhân vật trong văn tự sự sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị giúp người học có quá trình giao tiếp hiệu quả nhất.
1. Đặc điểm của sự việc và nhân vật trong văn tự sự
Câu 1. Sự việc trong văn tự sự
a, Xem các sự việc trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh
(1) Vua Hùng kén rể
(2) Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn
(3) Vùa Hùng ra điều kiện chọn rể
(4) Sơn Tinh đến trước, được vợ
(5) Thủy Tinh đến sau: tức giận, dâng nước đánh Sơn Tinh
(6) Hai bên giao chiến hàng tháng trời, cuối cùng Thủy Tinh thua, rút về
(7) Hằng năm Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng đều thua
Em hãy chỉ ra sự việc khởi đầu, sự việc phát triển, sự việc cao trào và sự việc kết thúc trong các sự việc trên và cho biết mối quan hệ nhân quả của chúng?
– Sự việc khởi đầu: (1)
– Sự việc phát triển: ( 3)
– Sự việc cao trào: (4) (5) (6)
– Sự việc kết thúc: (7)
Mối quan hệ nhân quả: nguyên nhân từ việc kén rể, điều kiện kén rể, sau đó là do đến chậm nên Thủy Tinh không lấy được vợ, dẫn đến cuộc giao trang giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, kết quả là hàng năm Thủy Tinh dâng nước trả thù
b, Sự việc trong văn tự sự phải được kể cụ thể: do ai làm, việc xảy ra ở đâu, lúc nào, nguyên nhân, diễn biến, kết quả. Có sáu yếu tố thì truyện mới cụ thể, sáng tỏ. em hãy chỉ ra sáu yếu tố trên trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Theo em, có thể xóa bỏ yếu tố thời gian và địa điểm trong truyện này được không? Vì sao? Việc giới thiệu Sơn Tinh có tài có cần thiết không? Nếu bỏ sự việc vua Hùng ra điều kiện kén rể đi có được không? Việc Thủy Tinh nổi giận có lí hay không? Lí ấy ở những sự việc nào?
Sáu yếu tố trên trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh
– Ai làm: Sơn Tinh Thủy Tinh làm
– Sự việc xảy ra: thời Hùng Vương thứ mười tám
– Lúc: vua Hùng kén rể
– Nguyên nhân: hai người cầu hôn nhưng vua chỉ có một con gái, chỉ chọn 1 trong 2 mà thôi
– Diễn biến: Sơn Tinh đến trước nên lấy được vợ, Thủy Tinh không lấy được vợ,Thủy Tinh hô mưa gọi gió đánh Sơn Tinh nhưng đều thất bại
– Kết quả: hàng năm Thủy Tinh đều dâng nước đánh Sơn Tinh trả thù nhưng đều thất bại
Không thể xóa thời gian và địa điểm trong truyện được vì sẽ làm mất đi yếu tố li kì, kỳ ảo của truyện cũng nhưng không lí giải được vì sao cứ vào thời điểm đó lại có nước dâng
Việc giới thiệu Sơn Tinh có tài có cần thiết vì mọi người sẽ thấy được tài năng của Sơn Tinh chứ không phải do may mắn. Nếu bỏ sự việc vua Hùng ra điều kiện kén rể đi thì không được vì sẽ mất đi tính khách quan của câu chuyện.
Việc Thủy Tinh nổi giận là có lí? Lí ấy ở những sự việc: Thủy Tinh đến chậm do sống ở vùng sông nước nên không làm được yêu cầu của vua khi điều kiện sính lễ lại toàn đồ trên cạn
c, Sự việc và chi tiết trong văn tự sự được lựa chọn cho phù hợp với chủ đề tư tưởng muốn biểu đạt. Em hãy cho biết sự việc nào thể hiện mối thiện cảm của người kể đối với Sơn Tinh và vua Hùng? Việc Sơn Tinh thắng Thủy Tinh nhiều lần (em hãy trình bày cụ thể mấy lần) có ý nghĩa gì? Có thể để cho Thủy Tinh thắng Sơn Tinh được không? Vì sao? Có thể xóa bỏ sự việc “Hằng năm Thủy Tinh lại dâng nước…” được không? Vì sao?
– Sự việc nào thể hiện mối thiện cảm của người kể đối với Sơn Tinh và vua Hùng: Sơn Tinh được nói về tài năng của mình trước; điều kiện sính lễ toàn trên cạn (Sơn Tinh sẽ thuận lợi tìm kiếm sản vật hơn)
– Việc Sơn Tinh thắng Thủy Tinh nhiều lần (đầu tiên diễn ra mấy tháng trời-sau này là hàng năm) có ý nghĩa: con người chế ngự được những thiên tai từ thiên nhiên.
– Không thể để cho Thủy Tinh thắng Sơn Tinh được vì: như thế con người đã chịu bị khuất phục trước những khó khăn, trướng những thiên tai bão lũ, nhịt ý chí người đọc người nghe.
– Không thể xóa bỏ sự việc “Hằng năm Thủy Tinh lại dâng nước…” được vì: đây chính là những thiên tai, bão lũ mà mỗi năm nhân dân ta phải phòng chống và khắc phục
Câu 2. Nhân vật trong văn tự sự
a, Nhân vật trong văn tự sự vừa là kẻ thực hiện các sự việc, vừa là kẻ được nói tới, được biểu dương hay bị lên án. Em hãy kể tên các nhân vật trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh và cho biết:
– Ai là nhân vật chính, có vai trò quan trọng nhất?
– Ai là kẻ được, nói tới nhiều nhất?
– Ai là nhân vật phụ? Nhân vật phụ có cần thiết không? Có thể bỏ được không?
Trả lời:
=> Trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh:
– Nhân vật chính: Sơn Tinh và Thủy Tinh, cả hai đều có vai trò quan trọng
– Cả Sơn Tinh và Thủy Tinh đều được nhắc đến nhiều.
– Nhân vật phụ: vua Hùng, Mị Nương. Nhân vật phụ có cần thiết. Không thể bỏ được.
b, Nhân vật trong văn tự sự được kể như thế nào?
– Được giới thiệu lai lịch, tính tình, tài năng
– Được kể các việc làm, hàng động, ý nghĩ, lời nói.
– Được miêu tả chân dung, trang phục, trang bị, dáng điệu
Hãy cho biết các nhân vật trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh được kể thế nào?
Nhân vật
Cách gọi
Lai lịch, tính tình, tài năng
Chân dung, trang phục, trang bị, dáng điệu
Việc làm, hành động, lời nói
Sơn Tinh
Sơn Tinh
Đến từ vùng núi Tản Viên, nhiều phép lạ, vẫy tay là núi đồi mọc lên
Không nhắc đến
Đến cầu hồn, đến sớm lấy được vợ
Dời núi, dựng lũy chống lại nước dâng của Thủy Tinh
Thủy Tinh
Thủy Tinh
Không nhắc đến
Không nhắc đến
Đến cầu hồn, đến chậm không lấy được vợ
Hô mưa gọi gió, dâng nước đánh Sơn Tinh
Vua Hùng
Vua Hùng
Hùng vương thứ mười tám
Không nhắc đến
Kén rể, ra điều kiện sính lễ
Mị Nương
Mị Nương
Con gái vua Hùng
Không nhắc đến
Không nhắc đến
Lạc hầu
Lạc hầu
Không nhắc đến
Không nhắc đến
Bàn bạc chọn rể cho vua | Soạn văn Sự việc và nhân vật trong văn tự sự | 1,133 | |
Đề bài: Soạn Văn Thuyết Minh Về Một Phương Pháp Cách Làm Lớp 8
Bài làm
I. Giới thiệu một phương pháp (cách làm)
– Khi cần thuyết minh cách làm một đồ vật (hay cách nấu món ăn, may quần áo…) người ta thường nêu những nội dung sau:
+ Nguyên vật liệu
+ Cách làm
+ Yêu cầu thành phẩm.
– Cách làm được trình bày theo một trình tự nhất định: Tức là cái nào làm trước thì trình bày trước, cái nào làm sau thì trình bày sau.
II. Luyện tập
Câu 1:
a. Trò chơi trốn tìm
* Số người chơi: Không hạn định (Từ hai người trở lên)
* Cách chơi:
– Người chơi cử 1 bạn đi tìm ( có thể xung phong), nhắm mắt thật kĩ ( có nơi dùng khăn hoặc miếng vải để bịt mắt); các bạn còn lại tản ra xung quanh đi trốn.
– Khi bạn bịt mắt hỏi: “Xong chưa?” (hoặc bạn đi tìm có thể đọc: “5-10-15-20-….. -100); một bạn trốn đại diện trả lời: “Xong!”. Bạn đi tìm mở mắt đi tìm.
* Luật chơi:
– Trong khoảng thời gian quy định, bạn đi tìm tìm thấy bạn nào bạn ấy thua cuộc, không tìm thấy bạn đi tìm chịu phạt.
– Bạn đi tìm trong thời gian quy định tìm thấy hết các bạn chơi bạn đi tìm thắng cuộc.
* Yêu cầu của trò chơi: Người chơi phải trung thực.
b. Cách làm diều giấy
* Nguyên liệu:
– 2 thanh tre dài 40-50cm
– 6 tờ dấy khổ 30.30cm
* Cách làm:
– Vuốt hai nan tre dài khoảng 40-50 cm.
– Cắt một miếng giấy hình vuông khoảng 20 x 20 cm hoặc hơn.
– Cắt hai dải giấy có đầu nhọn dài khoảng 30-30 cm làm cánh hay tai, đầu to chỉ khoảng 2-3 cm.
– Cắt dãi và làm 2 dải giấy dài khoảng 200-300 cm để làm đuôi. Bề ngang khoảng 2-3 cm.
– Đặt miếng giấy hình vuông lên bàn; dùng một nan tre làm xương sống đúng bằng cạnh xéo của hình vuông; dùng giấy nhỏ dán xương sống đó vào giấy.
– Hai bên xương sống có hai đầu vuông, gấp hai bên lại một ít và bôi hồ vào.
– Dùng nan tre còn lại làm hình cung; bẻ hình cung cho khéo và hai đầu cung đó dán vào hai phần đã gấp ở trên; giữ phần gấp đó cho đến khi khô.
– Dùng các miếng giấy nhỏ dán lại nan hình cung vào miếng giấy vuông.
– Cột cọng dây phía dưới bụng vào xương sống và nối vào sợi dây dài để neo chiếc diều khi bay.
– Dán hai dải hai tai vào 2 đầu của nan hình cung.
– Dán hai dải đuôi vào phía đuôi.
* Yêu cầu thành phẩm:
– Diều làm ra có sự cân đối, hài hòa giữa các bộ phận, màu sắc đẹp mắt, có thể thả bay trên trời khi có gió.
Câu 2:
– Cách đặt vấn đề đi khái quát đến cụ thể, có số liệu chứng minh, lập luận chặt chẽ: “ Ngày nay … giải quyết được vấn đề “: Yêu cầu thực tiễn cấp thiết buộc phải tìm cách đọc nhanh.
Đọc thành tiếng là các từ các chữ ta đọc thành vần, nhiều vần thành từ, nhiều từ thành câu và khi đọc phải phát âm.
Có hai phương pháp đọc thầm: đó là phương pháp đọc theo dòng và phương pháp đọc ý.
– Nội dung và hiệu quả của phương pháp đọc nhanh được nêu trong bài:
+ Về nội dung, phương pháp đọc nhanh là cách đọc không theo từng câu mà thu nhận ý chung trong bài viế qua các từ ngữ chủ yếu.
+ về hiệu quả, đây là cách đọc cho phép ta thu nhận thông tin cần thiết trong một đoạn văn, một trang sách, lược bỏ những thông tin không cần thiết, thu nhận thông tin nhiều mà tốn ít thời gian đặc biệt cơ mắt ít mỏi.
– Những số liệu trong bài có ý nghĩa chứng minh, tăng sức thuyết phục đối với việc giới thiệu phương pháp đọc nhanh. Từ đó khuyến khích chúng ta làm theo phương pháp này. | Soạn Văn Thuyết Minh Về Một Phương Pháp Cách Làm | 681 | |
Soạn văn Thánh Gióng của bạn Ngọc Vân chuyên văn Thái Bình
Hướng dẫn
Thánh Gióng là truyền thuyết ca ngợi người anh hùng chống giặc ngoại xâm, qua đó thể hiện được niềm tự hào của nhân dân đối với sức mạnh và tài năng của dân tộc mình. Để có thêm những định hướng tìm hiểu văn bản Thánh Gióng đúng đắn và hiệu quả nhất, các bạn hãy cùng tham khảo bài soạn văn Thánh Gióng mà giới thiệu dưới đây nhé!
I. Tìm hiểu văn bản Thánh Gióng
Câu 1: Trong truyện “Thánh Gióng” có những nhân vật nào? Ai là nhân vật chính? Nhân vật chính này được xây dựng bằng rất nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo và giàu ý nghĩa. Em hãy tìm và liệt kê ra những chi tiết đó
Trả lời:
Trong truyện “Thánh Gióng” có các nhân vật sau: hai vợ chồng ông lão ở làng Gióng (bố mẹ của Thánh Gióng), Thánh Gióng, sứ giả, nhà vua, dân làng và giặc Ân xâm lược. Trong đó Thánh Gióng là nhân vật chính. Thánh Gióng được xây dựng bằng rất nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo và giàu ý nghĩa, cụ thể:
– Sự ra đời thần kì của Thánh Gióng: bà mẹ ra đồng trông thấy một vệt chân to và đặt chân mình ướm thử, về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau sinh ra Thánh Gióng.
– Thánh Gióng sinh ra cho đến năm lên ba vẫn không biết nói, không biết cười, không biết đi.
– Tiếng nói đầu tiên Thánh Gióng cất lên là xin đi đánh giặc.
– Từ sau khi gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi.
– Gióng ra trận giết hết giặc Ân, sau đó cởi áo giáp sắt và bay thẳng lên trời.
Câu 2: Theo em, các chi tiết sau đây có ý nghĩa như thế nào?
-Tiếng nói đầu tiên của chú bé lên ba là tiếng nói đòi đánh giặc.
-Bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé.
-Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai trở thành tráng sĩ.
đ. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc.
-Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng về trời.
Trả lời:
Ý nghĩa của các chi tiết:
Tiếng nói đầu tiên của chú bé lên ba là tiếng nói đòi đánh giặc.
– Thể hiện tinh thần yêu nước của Gióng. Chính lòng yêu nước đã tạo cho chú bé khả năng khác thường là bỗng nhiên cất tiếng nói đầu tiên.
– Ca ngợi ý thức chống giặc ngoại xâm của chú bé nói riêng và của nhân dân nói chung: khi đất nước gặp hiểm nguy thì sẵn sàng xung phong đối mặt tiêu diệt kẻ thù.
Gióng đòi ngựa sắt, roi sắt giáp sắt để đánh giặc.
Thể hiện rõ sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi ra trận giết giặc ngoại xâm.
– Bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé.
Gióng lớn lên như thổi nhờ vào sự nuôi dưỡng của bà con làng xóm, như vậy Gióng Là đại diện cho sức mạnh của nhân dân.
– Thể hiện lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta.
Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai trở thành tráng sĩ.
Khi đất nước đối mặt với hiểm họa xâm lăng sẽ xuất hiện người anh hùng với tầm vóc, vĩ đại để đánh đuổi giặc ngoại xâm.
đ. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc.
Người anh hùng không chỉ sử dụng vũ khí được chuẩn bị sẵn mà còn nhanh trí sử dụng cây cỏ để làm vũ khí giết giặc.
– Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng về trời.
Sự ra đi hết sức phi thường này cho thấy sự biết ơn của nhân dân đối với Thánh Gióng. Vì thế họ đã bất tử hóa người anh hùng để Thánh Gióng sống mãi và trở thành biểu tượng bất hủ của non sông đất nước. | Soạn văn Thánh Gióng của bạn Ngọc Vân chuyên văn Thái Bình | 662 | |
Soạn văn Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh
Hướng dẫn
Qua truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh, nhân dân ta không chỉ lí giải được hiện tượng lũ lụt, thiên tai mà còn thể hiện sức mạnh cũng như khát vọng mãnh liệt muốn chế ngự thiên tai, làm chủ cuộc sống của nhân dân. Soạn văn Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh sẽ là nguồn tham khảo thú vị cho người học khi tiếp cận và phân tích tác phẩm này.
Câu 1. Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh gồm mấy đoạn? Mỗi đoạn thể hiện nội dung gì? Truyện được gắn với thời đại nào trong lịch sử Việt Nam?
– Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh gồm 3 đoạn:
+ Đoạn 1: Từ đầu cho đến… “mỗi thứ một đôi”: điều kiện sinh lễ của vua Hùng
+ Đoạn 2:Tiếp theo cho đến… “thần Nước đành rút quân”: Sơn Tinhvà Thủy Tinh giao tranh
+ Đoạn 3: đoạn còn lại: Thủy Tinh hằng năm dâng nước trả thù
– Truyện được gắn với thời đại Hùng vương trong lịch sử Việt Nam
Câu 2. Trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh nhân vật chính là ai? Các nhân vật chính được miêu tả bằng những chi tiết nghệ thuật tưởng tượng, kì ảo như thế nào? Ý nghĩa tượng trưng của các nhân vật đó?
– Trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh có hai nhân vật chính: Sơn Tinh và Thủy Tinh
– Các nhân vật chính được miêu tả bằng những chi tiết nghệ thuật tưởng tượng, kì ảo:
+ Sơn Tinh: “vẫy tay về phía tây thì phía tây nổi đồi núi; rời từng dãy núi dựng thành lũy”
=>Ý nghĩa tượng trưng: tinh thần chống lại thiên tai của nhân ta
+ Thủy Tinh: có tài hô mưa gọi gió, dâng nước lên cao, ngập nhà cửa,…
=> Ý nghĩa tượng trưng: các thảm họa thiên tai mà nhân ta gặp phải: bão, lũ,…
Câu 3. Hãy nêu ý nghĩa của truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh
– Lí giải được các hiện tượng thiên tai xảy ra hàng năm ở nước ta
– Ước muốn chống lại những thảm họa thiên nhiên và cách khắc phục. | Soạn văn Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh | 351 | |
Soạn văn Truyền thuyết Thánh Gióng
Hướng dẫn
Soạn văn Truyền thuyết Thánh Gióng nhằm cung cấp những gợi ý thú vị trong việc tìm hiểu nội dung bài học, qua đó định hướng đúng đắn để người học có hướng tiếp cận sâu và hiệu quả nhất đối với từng đơn vị của bài học.
Câu 1. Trong truyện Thánh Gióng có những nhân vật nào? Ai là nhân vật chính? Nhân vật chính này được xây dựng bằng rất nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo và giàu ý nghĩa. Em hãy tìm và liệt kê ra những chi tiết đó
– Trong truyện Thánh Gióng có những nhân vật: Thánh Gióng, cha mẹ Gióng, nhà vua, xứ giả, quân giặc Ân.
– Nhân vật chính: thánh Gióng
– Nhân vật chính này được xây dựng bằng rất nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo và giàu ý nghĩa:
+ Cha mẹ Gióng mãi mà chưa có con, mẹ Gióng ướm chân vào vết chân to, sau đó sinh ra Gióng.
+ Lên ba nhưng chưa biết đi biết nói biết cười, khi nói thì câu đầu tiên là xin đánh giặc
+ Xin áo giáp, roi sắt, ngựa sắt,…
+ Được dân làng góp gạo, Gióng lớn như thổi, vươn vai trở thành tráng trĩ cao hơn trượng
+ Roi gẫy, nhổ bụi tre, đánh thắng giặc bây lên trời
Câu 2. Theo em, các chi tiết sau đây có ý nghĩa như thế nào?
a,Tiếng nói đầu tiên của chú bé lên ba là tiếng nói đòi đánh giặc
– ý thức được cần phải chống giặc ngoại xâm dù là đứa bé
b, Gióng đòi ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt để đánh giặc
– Muốn đánh giặc cần có vũ khí
c, Bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé
– Sự đoàn kết, tương thân tương ái cùng nhau đánh giặc của nhân dân ta
d, Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ
– Sức mạnh to lớn trong một thời ngắn, ý chí đáng giặc sôi sục
đ, Gãy gậy sắt, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc
– Sử dụng tất cả mọi thứ, linh hoạt để đánh giặc
e, Gióng đánh giặc xong, cởi áp giáp sắt để lại và bay thẳng lên trời
– Xoa dịu nỗi đau phần nào đó về sự hi sinh của vị anh hùng cho người ở lại.
Câu 3. Hãy nêu ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng
Ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng:
– Thể hiện cho ý chí tự lực tự cường, quyết tâm đánh đuổi giặc xâm lăng của nhân dân ta
– Tinh thần yêu nước bất khuất, sức mạnh to lớn tựa thần của toàn dân khi có giặc ngoại xâm
– Ca ngợi vị anh hùng cứu nước
Câu 4. Truyền thuyết thường liên quan đến sự thật lịch sử. Theo em, truyện Thánh Gióng có liên quan đến sự thật lịch sử nào?
Truyền thuyết thường liên quan đến sự thật lịch sử. Truyện Thánh Gióng có liên quan đến sự thật lịch sử: đó chính là việc giặc phương Bắc luôn có ý định xâm lăng nước ta (vào thời Hùng vương), và Thánh Gióng chính là biểu tượng nhân dân ta chống giặc phương Bắc xâm lược (giặc nhà Ân-hình tượng nói chung cho giặc phía Bắc) | Soạn văn Truyền thuyết Thánh Gióng | 539 | |
Soạn văn Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy chi tiết nhất
Hướng dẫn
Soạn văn Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy cung cấp lời giải chi tiết cho hệ thống câu hỏi từ cơ bản đến nâng cao trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, qua đó giúp người học có định hướng tiếp cận bài học đơn giản và hiệu quả nhất. Hãy tham khảo để có thêm những thông tin hữu ích cho quá trình học tập của mình nhé!
I. Tìm hiểu về truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy
Câu 1. Dựa theo cốt truyện, tìm những chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương. Trên cơ sở các chi tiết đã liệt kê, anh (chị) hãy phân tích:
a. Do đâu mà An Dương Vương được thần linh giúp đỡ? Kể về sự giúp đỡ thần kì đó, dân gian muốn thể hiện cách đánh giá như thế nào về nhà vua?
b. Sự mất cảnh giác của nhà vua biểu hiện như thế nào?
c. Sáng tạo những chi tiết về Rùa Vàng, Mị Châu, nhà vua tự tay chém đầu con gái… nhân dân muốn biểu lộ thái độ, tình cảm gì đối với nhân vật lịch sử An Dương Vương và việc mất nước Âu Lạc?
Trả lời:
Những chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương:
– An Dương Vương là vua nước Âu Lạc, xây thành nhưng đều thất bại.
– An Dương Vương lập đàn trai giới, được Rùa Vàng giúp đỡ xây thành và chế tạo ra chiếc nỏ thần để tiêu diệt giặc ngoại xâm.
– Với chiếc nỏ thần, vua đã đánh tan quân Triệu Đà lần thứ nhất.
– Vua chủ quan gả con gái mình cho Trọng Thủy- con trai Triệu Đà.
– Triệu Đà đem quân đánh, vua mất cảnh giác nên thất bại.
– Vua chém chết Mị Châu và đi theo Rùa Vàng xuống biển.
a. An Dương Vương được thần linh giúp đỡ bởi nhà vua có được tầm nhìn xa trông rộng đối với vận mệnh đất nước, quyết định xây thành đắp lũy để bảo vệ cuôc sống yên bình của nhân dân. Kể về sự giúp đỡ thần kì đó, dân gian đã thể hiện lòng biết ơn đối với công lao của nhà vua và tự hào về sự phát triển của dân tộc thời bấy giờ.
b. Sự mất cảnh giác của nhà vua biểu hiện đầu tiên ở việc vô tình gả con gái của mình cho Trọng Thủy- con trai của kẻ địch và chấp nhận để Trọng Thủy ở rể mà không hề hay biết âm mưu và lẫy thần- vuốt Rùa Vàng bị đánh tráo. Sự chủ quan còn thể hiện ở việc vì cậy vào nỏ thần, khi quân giặc đưa binh sang đánh, vua không hề chuẩn bị mà vẫn điềm nhiên đánh cờ.
c. Sáng tạo những chi tiết về Rùa Vàng, Mị Châu, nhà vua tự tay chém đầu con gái… nhân dân cách đánh giá về “công” và “tội” của nhân vật lịch sử An Dương Vương. Nhà vua có công lớn trong việc xây thành, nhưng lại phạm sai lầm khi quá chủ quan, không đề cao cảnh giác đối với quân địch. Chi tiết nhà vua chém đầu Mị Nương cho thấy đến cuối cùng, An Dương Vương vẫn là vị vua đặt lợi ích quốc gia lên trên tình thân.
Câu 2. Về việc Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần, có hai cách đánh giá như sau:
– Mị Châu làm vậy chỉ là thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước.
– Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp lí
Ý kiến riêng của anh (chị) thế nào?
Trả lời:
Về việc Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần, cả hai cách đánh giá đều chưa thỏa đáng, bởi vì:
– Nếu đánh giá theo cách thứ nhất, cho rằng Mị Châu làm vậy chỉ là thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước thì tội của Mị Châu sẽ rất lớn, lúc này nàng sẽ trở thành một con người vì cuộc sống cá nhân mà quên đi sự tồn vong của đất nước.
– Nếu đánh giá theo cách thứ hai, cho rằng Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp lí phù hợp với quan niệm của người xưa về số phận của người phụ nữ: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con trai).
Cả hai cách đánh giá này đều phiến diện và mang tính một chiều. Bởi Mị Châu chỉ là một nạn nhân đáng thương của chiến tranh những mưu đồ chính trị. Nàng nhẹ dạ cả tin và yêu thương thật lòng đối với người chồng nên phạm phải sai lầm. Tuy nhiên, sai lầm đó không phải xuất phát từ việc nàng là một người không quan tâm đến đất nước (chi tiết lời nguyền đã thể hiện điều đó), nên dù là người có tội thì Mị Châu vẫn đáng thương nhiều hơn đáng trách.
Câu 3. Mị Châu bị Rùa Vàng kết tội là giặc, lại bị vua cha chém đầu, nhưng sau đó, máu nàng hóa thành ngọc trai, xác nàng hóa thành ngọc thạch. Hư cấu như vậy, người xưa muốn bày tỏ thái độ và tình cảm thế nào đối với nhân vật Mị Châu và muốn gửi gắm gì đến thế hệ trẻ muôn đời sau.
Trả lời:
Mị Châu bị Rùa Vàng kết tội là giặc, lại bị vua cha chém đầu cho thấy thái độ kiên quyết, dứt khoát của nhân dân khi trị tội Mị Châu- người vô tình giúp quân địch thực hiện dễ dàng mưu đồ chính trị.
Tuy nhiên, sau đó, máu nàng hóa thành ngọc trai, xác nàng hóa thành ngọc thạch thể hiện thái độ cảm thông, bao dung của nhân dân đối với nàng. Nàng cũng chỉ là một nạn nhân đáng thương của chiến tranh, bị lợi dụng niềm tin và tình yêu để phục vụ mục đích chính trị. Dân gian đã để lời nguyền của nàng trở thành hiện thực như một cách “giải oan” cho nàng.
Hư cấu như vậy, người xưa muốn gửi gắm đến thế hệ trẻ muôn đời sau bài học về việc giải quyết và xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa cái riêng với cái chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân và cộng đồng.
Câu 4. Trọng Thủy gây nên sự sụp đổ cơ đồ Âu Lạc và cái chết cho Mị Châu. Vậy anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”?
Trả lời:
Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là một hình ảnh biểu trưng và giàu ý nghĩa biểu tượng. Trước hết, đó là lời “giải oan” cho lời kết tội của Rùa Vàng về Mị Châu, cho rằng nàng là kẻ bán nước. Chi tiết trai sò ăn phải máu nàng đều biến thành hạt châu đã thể hiện rõ điều đó. Việc Trọng Thủy tưởng nhớ Mị Châu, lao đầu xuống giếng mà chết cho thấy sự hối hận của chàng. Đây là mối tình đầy bi kịch và gợi lên nhiều sự thương xót.
Câu 5. Từ những điều đã phân tích, anh (chị) hãy cho biết đâu là “cốt lõi lịch sử” của truyện và cốt lõi lịch sử đó được dân gian thần kì hóa như thế nào?
Trả lời:
– Cốt lõi lịch sử của truyện là việc vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa và sự kiện quân Triệu Đà xâm lược nước Âu Lạc.
– Cốt lõi lịch sử đó được dân gian thần kì hóa bằng việc sáng tạo nhiều chi tiết thần kì như lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần và được sự giúp đỡ của Rùa Vàng trong việc xây thành, chế nỏ; chuyện An Dương vương theo Rùa Vàng xuống nước và cái chết của Mị Châu cùng hình ảnh “ngọc trai- giếng nước”. Những yếu tố này làm tăng thêm sức hấp dẫn của câu chuyện, đồng thời cho thấy cách nhìn nhận đầy bao dung của nhân dân ta đối với lịch sử.
II. Luyện tập
Theo | Soạn văn Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy chi tiết nhất | 1,393 | |
Soạn văn Tìm hiểu chung về văn tự sự
Hướng dẫn
Văn tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự vật, sự việc nhằm cung cấp thông tin cho người đọc, người nghe. Để có thêm những kĩ năng viết văn tự sự, các bạn hãy cùng theo dõi bàiSoạn văn Tìm hiểu chung về văn tự sựmà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé!
1. Ý nghĩa và đặc điểm chung của phương thức tự sự
Câu 1. Trong đời sống hàng ngày ta thường nghe những yêu cầu và câu hỏi như sau:
– Bà ơi, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe đi!
– Cậu kể cho mình nghe, Lan là người như thế nào.
– Bạn An gặp chuyện gì mà lại thôi học nhỉ?
– Thơm ơi, lại đây tớ kể cho nghe câu chuyện này hay lắm.
a, Gặp trường hợp như thế, người nghe muốn biết điều gì và người kể phải làm gì?
-Người nghe muốn biết:
+Truyện cổ tích
+Tính cách của Lan
+Vấn đề An gặp phải
+Câu chuyện mà bạn muốn kể
-Người kể phải:
+Kể một câu chuyện cổ tích
+Kể và miêu tả về tính cách, hình dạng của Lan
+Nêu vấn đến An gặp phải, liên quan trực tiếp đến An
+Kể câu chuyện chi tiết, đầy đủ và có nghĩa
b, Trong những trường hợp trên, chuyện phải có một ý nghĩa nào đó. Ví dụ nếu muốn cho bạn biết Lan là một người bạn tốt, người được hỏi phải kể những chuyện như thế nào về Lan? Vì sao? Nếu người trả lời kể về một câu chuyện về An mà không liên quan tới việc thôi học của An thì có thể coi là câu chuyện có ý nghĩa được không? Vì sao?
+ Thành tích học tập của Lan như thế nào? Tốt hay không tốt
+Tính cách của Lan: khiêm tốn hay không, có hay giúp đỡ bạn bè hay không?
+ Hoặc có thể là nói về sở thích của Lan, bạn thân của Lan,…
– Vì: khi liệt kê ra như thế ta sẽ biết Lan là có phải một người bạn tốt hay không.
– Nếu người trả lời kể về một câu chuyện về An mà không liên quan tới việc thôi học của An thì có thể coi là câu chuyện có ý nghĩa được, vì không liên quan đến câu hỏi và nhu cầu cần biết của người hỏi | Soạn văn Tìm hiểu chung về văn tự sự | 394 | |
Soạn văn Từ mượn chương trình Ngữ văn lớp 6
Hướng dẫn
Trong tiếng Việt, để làm phong phú hơn cho vốn từ cũng như cách biểu đạt khi giao tiếp, bên cạnh những từ ngữ thuần Việt còn có những từ vay mượn từ tiếng Hán, tiếng Pháp… Soạn văn Từ mượn dưới đây sẽ mang đến những thôn tin bài học cụ thể nhất cho bạn.
1. Từ thuần việt và từ mượn
Câu 1. Dựa vào chú thích ở bài Thánh Gióng hãy giải thích các từ: trượng, tráng sĩ trong câu sau:
Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng (…)
(Thánh Gióng)
– trượng: một đơn vị đo của Trung Quốc (1 trượng = 10 thước)
– tráng sĩ: người có sức khỏe phi thường, ý chí kiên định, mạnh mẽ
Câu 2. Theo em, các từ được chú thích có nguồn gốc từ đâu?
Các từ được chú thích có nguồn gốc từ: tiếng Hán
Câu 3. Trong số các từ dưới đây, những từ nào được mượn từ tiếng Hán? Những từ nào được mượn từ ngôn ngữ khác?
sứ giả, ti vi, xà phòng, buồm, mít tinh, ra-đi-ô, gan, điện, ga, đơm, xô viết, giang sơn, in-tơ-nét
– Từ nào được mượn từ tiếng Hán: Sứ giả, buồm, giang sơn, gan
– Những từ nào được mượn từ ngôn ngữ khác: Xà phòng, mít tinh, ra- đi- ô, xô viết, ti vi, in- tơ- nét
Câu 4. Nêu nhận xét về cách viết các từ mượn nói trên?
Các từ mượn thường được viết ngắn gọn, cho mọi người dễ định nghĩa dễ hiểu.
2. Nguyên tắc mượn từ
Em hiểu ý kiến sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh như thế nào?
Đời sống xã hội ngày càng phát triển và đổi mới. Có những chữ ta không có sẵn và khó dịch đúng, thì cần phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: “độc lập”, “tự do”, “giai cấp”, “cộng sản”, v.v….. Còn những chữ tiếng ta có,vì sao không dùng, mà mượn chữ nước ngoài? Ví dụ:
Không gọi xe lửa mà gọi “hỏa xa” ; máy bay gọi là “phi cơ”[…]
Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng báu vật dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại sao?
(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10
NXB chính trị quốc gia Hà Nội, 2000, tr.615)
– “Đời sống xã hội ngày càng phát triển và đổi mới”. Vốn từ ta không đủ thì ta cần linh hoạt mượn từ.
– Từ mượn, cần dùng đúng nơi đúng lúc không được sử dụng tùy tiện và sai mục đích sử dụng.
– Cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, việc mượn từ là cần thiết và hoàn toàn có thể chấp nhận nếu sử dụng đúng cách | Soạn văn Từ mượn chương trình Ngữ văn lớp 6 | 491 | |
Soạn văn Từ và cấu tạo từ tiếng Việt
Hướng dẫn
Từ và cấu tạo từ của tiếng Việt như thế nào, các bạn hãy cùng tham khảo bài Soạn văn Từ và cấu tạo từ tiếng Việt dưới đây để có thêm những thông tin bài học bổ ích nhé!
1. Từ là gì?
Câu 1. Lập danh sách các tiếng và danh sách các từ trong câu sau, biết rằng mỗi từ đã được phân cách với từ khác bằng dấu gạch chéo:
Thần/ dạy/ dân/ cách/ trồng trọt,/ chăn nuôi/ và/ cách/ ăn ở.
(Con Rồng cháu Tiên)
– Các tiếng: Thần; dạy; dân; cách; và; cách
– Các từ: Thần; dạy; dân; cách; trồng trọt; chăn nuôi; và; cách; ăn ở
Câu 2. Các đơn vị được gọi là tiếng và từ có gì khác nhau?
Gợi ý:
-Mỗi loại đơn vị được dùng làm gì?
-Khi nào một tiếng được coi là một từ?
+Tiếng được dùng để cấu tạo nên từ
+Từ dùng để cấu tạo câu
->Một tiếng được coi là một từ: khi có khả năng tham gia cấu tạo câu.
2. Từ đơn và từ phức
Câu 1. Dựa vào những kiến thức đã học ở bậc Tiểu học, hãy điền các từ trong câu dưới đây vào bảng phân loại
Từ / đấy / nước / ta / chăm / nghề / trồng trọt / chăn nuôi / và / có/ tục / ngày / Tết / làm / bánh chưng,/ bánh giầy.
(Bánh chưng, Bánh giầy)
Bảng phân loại
Kiểu cấu tạo từ
Ví dụ
Từ đơn
Từ, đấy, nước, ta, chăm, nghề, và, có, tục, ngày, Tết, làm
Từ phức
Từ ghép
chăn nuôi, bánh chưng, bánh giầy
Từ láy
trồng trọt
Câu 2. Cấu tạo của từ ghép và từ láy có gì giống và có gì khác nhau?
Khác nhau:
– Từ ghép: các tiếng cấu tạo có quan hệ về nghĩa với nhau
– Từ láy: tạo ra bởi các tiếng có quan hệ láy về âm giữa các tiếng. | Soạn văn Từ và cấu tạo từ tiếng Việt | 312 | |
Soạn văn Uy-lít-xơ trở của cô giáo Ngọc Anh chuyên văn Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Soạn văn Uy-lít-xơ trở về cung cấp những hướng dẫn, lời giải chi tiết cho hệ thống câu hỏi sách giáo khoa. Để có quá trình học tập và tiếp cận tác phẩm được hiệu quả nhất, các bạn hãy cùng tham khảo bài soạn nhé!
I. Tìm hiểu về đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Câu 1: Đoạn trích có thể chia thành mấy phần? Nội dung của mỗi phần là gì?
Đoạn trích có thể chia làm hai phần:
– Phần I: Từ đầu … “người kém gan dạ’’: Nhũ mẫu Ơ-ri-cờ-lê báo tin Uy-lít-xơ trở về và tâm trạng “rất đỗi phân vân” của Pê-nê-lốp.
– Đoạn 2: Còn lại: Thử thách bí mật chiếc giường, vợ chồng Uy-lít-xơ nhận ra nhau.
Câu 2: Tâm trạng của Uy-lít-xơ khi gặp lại vợ mình biểu hiện như thế nào? Cách ứng xử của chàng bộc lộ phẩm chất gì?
Nhẫn nại chờ đợi:
+ Đối diện với thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của vợ, Uy-lít-xơ vẫn “cao quý và nhẫn nại”.
+ Khi Tê-lê-mác lên tiếng trách cứ Pê-nê-lốp vì không nhận ra bố, chàng vẫn rất bình tĩnh giải thích cho con hiểu về sự nghi ngờ tất yếu của mẹ.
Tin tưởng vợ và lo lắng:
+ Tin tưởng: Khi nhận ra ý muốn thử thách của Pê-nê-lốp, Uy-lit-xơ mỉm cười:
Nụ cười đó như một dấu hiệu kín đáo để chấp nhận thử thách của vợ, đồng thời cũng như một lời nhắn nhủ tới vợ: chàng luôn tin tưởng vợ, tin vào tài năng cũng như trí tuệ của vợ.
Uy-lit-xơ mỉm cười cũng vì chàng tin vào trí tuệ của bản thân, tin rằng mình nhất định sẽ vượt qua được thử thách.
+ Lo lắng:
Trước hết, chàng đi tắm rửa để rũ bỏ bộ dạng của một người hành khất. Đây là bước đầu tiên để Uy-lit-xơ chiếm lại lòng tin của vợ.
Sau khi tắm rửa xong và lúc này Uy-lít-xơ “đẹp như một vị thần” nhưng Pê-nê-lốp vẫn không thay đổi thái độ với chồng, Uy-lít-xơ liền đau khổ và cất lời trách vợ “sắt đá”, đồng thời yêu cầu nhũ mẫu để mình ngủ riêng.
Lời trách của chàng như một chìa khoá gợi mở để hai người cùng nhận ra nhau. Đồng thời, đây cũng là một phép thử với Pê-nê-lốp: Liệu rằng chiếc giường kiên cố do chính chàng đóng kia trong ngày cưới của hai người có bị chuyển dời, và liệu Pê-nê-lốp có còn giữ nguyên vẹn sự chung thuỷ với chàng? Chỉ một lời trách cứ nhưng cũng thể hiện thái độ trân trọng của Uy-lít-xơ với hạnh phúc gia đình.
Khi Pê-nê-lốp đã nhận ra chàng và khẳng định người trước mặt đúng là Uy-lít-xơ: Uy-lít xơ hạnh phúc tột cùng, chàng “ôm lấy vợ, khóc dầm dề” sau hai mươi năm đoàn tụ → Niềm hạnh phúc khi được cảm nhận một tình yêu thuỷ chung, được tận hưởng hạnh phúc gia đình.
Câu 3: Vì sao Pê-nê-lốp lại “rất đỗi phân vân”? Việc chọn cách thử “bí mật của chiếc giường” cho thấy vẻ đẹp gì về trí tuệ và tâm hồn nàng?
– Pê-nê-lốp “rất đỗi phân vân” vì:
+ Thứ nhất, Uy-lít-xơ lúc này còn đang ở trong bộ dạng của một người hành khất, chàng chưa trở về hình dạng đẹp đẽ, cao quý để vợ nhận ra.
+ Sau 20 năm trời chờ đợi đằng đẵng, Pê-nê-lốp đã hết hẳn hy vọng vào việc Uy-lít-xơ trở về. Vì thế, khi nghe tin từ nhũ mẫu rằng Uy-lít-xơ đã trở về, Pê-nê-lốp chỉ cho rằng đó là một vị thần giả dạng để lừa nàng.
– Việc chọn cách thử “bí mật của chiếc giường” cho thấy vẻ đẹp về trí tuệ và tâm hồn nàng: Cách thử thách của Pê-nê-lốp càng khẳng định sự khôn ngoan, thận trọng của nàng, bởi việc dùng một bí mật riêng tư giữa hai người sẽ kiểm chứng được đó có đích thực là không, mặt khác cũng sẽ kiểm chứng được tình yêu thuỷ chung của Uy-lít-xơ. Cách thử thách này cũng rất phù hợp với Uy-lít-xơ, bởi chàng là người khôn ngoan với trí tuệ phi thường.
Câu 4: Cách kể chuyện của Hô-me-rơ qua đoan trích tạo ra hiệu quả gì? Biện pháp nghệ thuật nào thường được sử dụng để khắc hoa phẩm chất nhân vật? Biện pháp nào được sử dụng ở khổ cuối của đoan trích?
Cách miêu tả nhân vật qua hành động, lời nói, cử chỉ song có chiều sâu, mang tính điển hình cho phẩm chất thời đại.
Ngôn ngữ trong sáng, giọng kể chuyện chậm rãi, tha thiết.
Lối so sánh đuôi dài đặc sắc.
II. Luyện tập
Theo | Soạn văn Uy-lít-xơ trở của cô giáo Ngọc Anh chuyên văn Nguyễn Trãi | 783 | |
Suy nghĩ câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Kho tàng văn hóa Việt Nam vô cùng phong phú, đa dạng và có giá trị to lớn. Đi vào kho tàng văn hóa dân tộc, chúng ta có thể tìm thấy một trang sử hào hùng, một câu chuyện li kì, một câu ca dao, tục ngữ ngắn gọn mà mang nhiều ý nghĩa. Những câu tục ngữ, ca dao đó từ cuộc sống lao động bình dị hàng ngày của nhân dân. Nó ngắn gọn nhưng chứa đựng những chân lí hết sức sáng ngời, những phẩm chất cao quý, lưu truyền trong nhân dân ta từ đời này sang đời khác. Câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn đã biểu hiện sinh động lòng biết ơn đối với người mang lại cho ta hạnh phúc. Câu tục ngữ được chúng ta nhớ đến không chỉ vì nó ngắn gọn, dễ thuộc mà vì nó chứa đựng một ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Vậy ta hiểu câu tục ngữ đó thế nào cho đúng?
Lẽ bình thường, nước rất cần cho sự sống, không những cho con người mà còn cho tất cả mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này. Có nước thì mới có những bãi mía nương dâu, những mùa màng bội thu trên khắp miền quê. Cuộc sống của con người vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn cũng là nhờ những dòng nước đó. Dùng những giọt nước mát, chúng ta cần phải nhớ đến nơi sinh ra nó, đó chính là nguồn đã tạo ra nước và mang đi khắp nơi. Đó là nghĩa đen, còn nghĩa bóng của câu tục ngữ là gì?
Uống nước nhớ nguồn, đó chính là tâm niệm, khát vọng muôn đời của con người Việt Nam ân nghĩa, thủy chung. Có thể nói lời nhắn nhủ của cha ông ta gửi vào câu tục ngữ rất nhiều ý nghĩa. Câu tục ngữ khuyên chúng ta phải biết nhớ ơn những người đã làm nên thành quả cho chúng ta hôm nay. Công ơn của những người đi trước không thể không kể đến ơn sinh thành của cha mẹ:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Công cha nghĩa mẹ được so sánh với tất cả những gì cao cả và lớn lao nhất. Cha mẹ đã mang nặng đẻ đau sinh ra ta, nuôi nấng dạy dỗ ta nên người, tất cả hi sinh cho chúng ta. Những gì cha mẹ dành cho ta biết lấy gì so sánh cho vừa và ta làm gì để đền đáp lại công ơn đó? Câu tục ngữ Uống nước ngớ nguồn nhắc chúng ta phải biết ơn và kính yêu cha mẹ, ông bà, sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh và tấm lòng bao la như trời biển của cha mẹ, ông bà.
Phải biết rằng, ta khôn lớn, hiểu biết như ngày hôm nay là nhờ vào công lao dạy dỗ của những người thầy, người đã không quản ngại khó khăn dạy dỗ ta nên người. Ngoài ra, ta được sống trong một đất nước hòa bình, tự do như thế này là nhờ những người đã hi sinh xương máu của mình, những người đã cống hiến của tuổi thanh xuân và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng dân tộc. Biết ơn, ghi khắc công lao của những người thương binh, liệt sĩ, những bà mẹ Việt Nam anh hùng chính là những gì câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn muôn nhắn nhủ chúng ta.
Nước ta đang thực hiện phong trào đền ơn đáp nghĩa những người có công với Tổ quốc, phong trào này thể hiện qua những việc làm như tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm sóc thương binh, ghi công liệt sĩ, tặng nhà tình nghĩa cho những người có công cách mạng, chăm sóc những người neo đơn, quy tập mộ liệt sĩ… Chúng ta, người được hưởng những thành quả to lớn cần phải hướng về nguồn và bày tỏ sự biết ơn sâu sắc’đối với những người đã xả thân vì nước, đồng thời tích cực tham gia phong trào đền ơn đáp nghĩa.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta được êm ấm, an vui, hưởng một cuộc sống bình yên chính là nhờ vào những chiến sĩ công an, biên phòng ngày đêm canh giữ biên cương đất nước. Chính vì vậy, khi chúng ta an vui cần phải nhớ đến sự hi sinh không kém phần cao cả của những chiến sĩ công an, những anh bộ đội cụ Hồ.
Câu tục ngữ uống nước nhớ nguồn là một bài học sâu sắc, bổ ích cho mỗi chúng ta, là một lời khuyên chân thành, nhắc nhở chúng ta sống có đạo đức, biết cống hiến cho đất nước, biết nhớ về nguồn cội của dân tộc, nhớ về công lao của tất cả những người đã nuôi nấng và dạy bảo ta nên người.
Với tất cả những giá trị ấy, câu tục ngữ không chỉ được mọi người biết đến mà còn sông mãi với tất cả mọi người hôm nay và mai sau.
Tags:Văn 8 | Suy nghĩ câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn – Đề và văn mẫu 8 | 883 | |
Suy nghĩ của anh chị về bài thơ Đường tắt của Đặng Chân Nhân
Hướng dẫn
Suy nghĩ của anh chị về bài thơ Đường tắt của Đặng Chân Nhân
Các nhà thơ hiện đại với những tâm tư cảm xúc của mình đã đào sâu vào cuộc sống vào những triết lí chiêm nghiệm về một cuộc sống đầy rầy những cạm bẫy của cuộc đời. và khi ta nhắc tới Đặng Chân Nhân thì ta cũng không thể quên con người ấy thông qua những quan niệm triết lí về Đường tắt mà tác giả muốn gửi gắm
Bài thơ đường tắt khiến cho con người ta như cũng lờ mờ đoán ra nhiều thứ ẩn chứa trong câu chuyện của nó. và chúng ta có thể vén màn lên thông qua những câu thơ mở đầu của tác phẩm:
“Luôn có một con đường ở trước bạn
Con đường dài mà bạn đang đi, hướng tới đích
Có một con đường ngắn hơn, cũng ở đó
Con đường nhỏ, ngắn và dễ đi hơn
Nó không dài, không tốn thời gian và không có một chướng ngại vật nào”
Để thể hiện những gì mình muốn nói tới tác giả đã chọn cho mình thể thơ tư do nhằm dễ dàng biểu đạt những suy nghĩ của mình. Và chủ thể được nói tới ở đây là con đường. nói như vậy nhắc tới con đường mỗi người trong cuộc sống đều mong muốn có một con đường ít chông gia ít hiêm nguy nhưng lại thành công rực rỡ còn con đường còn lại tuy an nhàn hơn nhưng lại khó thành công hơn. Nói như vậy để chúng ta có thể so sánh quan niệm của các nhà văn nhà thơ cũng như những con người bình thường về quan niệm con đường và đường tắt
“Nhưng
Con đường nhỏ ấy
Nó bỏ qua rất nhiều thứ
Nó không cho bạn một tí kinh nghiệm nào
Nó không làm cho bạn mạnh mẽ hơn
Nó không làm cho bạn tốt hơn
Và nó luôn là con đường sai. ”
Nhắc tới con đường ngắn khiến cho chúng ta có thể bước nhanh hơn nhưng lại khiến cho chúng ta mất mát nhiều thứ. Đó chính là kinh nghiệm sự mạnh mẽ hay chính là bản lĩnh của người đi trên con đường đó. Nhắc tới đây chúng ta càng thêm khẳng định rằng không một con đường ngắn nào mang lại cho chúng ta những thành công hay suôn sẻ với những thứ mà ta không trải qua. Và chính tác giả cũng khẳng định rằng con đường này luôn là con đường sai.
Nó không chỉ không đem lại cho con người những kinh nghiệm mà còn khiến cho chúng ta gặp phải những hậu quả khó lường, nhà thơ như thấy được muôn mặt của cuộc sống và quy luật của con người. ngay chính bây giờ con người chúng ta vẫn chọn cách đi theo con đường tắt ấy
“Nhưng
Con người vẫn đi con đường nhỏ ấy
Những kẻ lừa dối đi con đường ấy để trở nên thành công
Chúng dễ dàng đạt được những thứ người khác đạt được một cách khó nhọc
Chúng trở nên thành công với nhưng ý nghĩ vô học
Liệu chúng có thể tồn tại?”
Lại một chữ nhưng nữa lại vang lên và ở đây tác giả muốn thể hiện sự đối lập giữa sự ý thức và hoạt động của con người. Con người chúng ta vẫn quyết định bước trên con đường ấy dù không nhận được những điều tốt đẹp sau này. Con đường ấy chính là dấu chân của những kẻ lừa dối nịnh nọt để trở nên thành công. Những thứ như thế trong cuộc sống ngày một tràn lan khiến cho con người sống xô bồ chỉ chăm chăm vào cái lợi trước mắt mà quên đi những thứ thuộc về bền vững hay phát triển cho sau này.
Tuy rằng biết con đường ngắn con đường tắt luôn là một con đường dễ dàng tới đích nhưng chính những suy nghĩ đó khiến cho con người rơi vào lối sống ỷ lại không có chí tiến thủ và thúc đẩy bản thân phát triển hơn nữa. bài thơ như vừa là một lời khuyên cũng là một lời cảnh tĩnh cho những ai đang đi trên con đường ấy
Nguồn: Bài văn hay | Suy nghĩ của anh chị về bài thơ Đường tắt của Đặng Chân Nhân | 719 | |
Suy nghĩ của anh chị về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.
Hướng dẫn
Suy nghĩ của anh chị về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.
Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta có từ ngàn đời nay. Dân tộc ta luôn gìn giữ và phát huy truyền thống đó. Tuổi trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước, vậy họ đã thể hiện lòng yêu thương con người của mình như thế nào, tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc hay có những biểu hiện lệch lạc, sống thờ ơ, vô cảm thiếu trách nhiệm với mọi người.
Vậy ta hiểu lòng yêu thương là gì? Yêu thương tức là nói đến phạm trù tư tưởng tình cảm tốt đẹp của con người. Lòng yêu thương được biểu hiện ở sự đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia và gắn bó giữa con người với con người, từ suy nghĩ và còn thể hiện qua cả hành động tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn hoạn nạn.
Lòng yêu thương được thể hiện ở tấm lòng biết sẻ chia, gắn bó giữa người với người: giọt nước mắt nóng hổi lăn trên gò má khi xem một bộ phim khiến ta xúc động, có khi đó là nỗi niềm trắc ẩn trước số phận bất hạnh của những cảnh đời éo le, một ánh mắt trìu mến cảm thông, một cái nắm tay siết chặt tình bạn bè hay những hành động cử chỉ giản đơn hơn. Đó chính là biểu hiện của lòng yêu thương.
Lòng yêu thương có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với những người được nhận mà còn khiến những người cho đi cảm thấy hạnh phúc hơn. Như Tố Hữu đã viết:
“Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”
Hay có một câu châm ngôn rất ý nghĩa như: “Khi ta tặng bạn hoa hồng thì tay ta còn vương mùi hương”. Hạnh phúc của mình cũng chính là khi ta đem lại hạnh phúc cho người khác.
Lòng yêu thương mang mọi người đến gần nhau hơn, làm cho các mối quan hệ xã hội càng thêm tốt đẹp. Tuy vậy, trong giới trẻ hiện nay vẫn còn một số người không hiểu được tầm quan trọng của nó với cuộc sống hiện nay. Biểu hiện của điều này là thái độ sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với mọi người xung quanh. Trái tim của họ lạnh lùng như băng giá, khô cằn như sa mạc cát mênh mông. Nhìn thấy một người già loay hoay tìm cách sang đường, họ làm ngơ như không thấy. Bạn bè gặp hoạn nạn đang cần họ giúp đỡ để vượt qua khó khăn họ làm như không biết, cố tình lảng tránh.
Hãy thử tưởng tượng, trong một xã hội mà không một ai quan tâm, giúp đỡ ai, mỗi người một cuộc sống thì xã hội đó sẽ như thế nào. Chắc chắn sẽ rất lạnh lẽo và cô đơn như có một người đã từng nói: “Nơi lạnh nhất của Trái Đất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu tình thương”. Còn có nhiều người lại lãng phí tuổi trẻ của mình để lao vào các tệ nạn xã hội mà không nghĩ đến tương lai và cha mẹ mình. Họ đâu biết rằng, số tiền mà họ đốt cháy vào ma túy, sòng bạc, vũ trường…có thể giúp bao người nghèo khổ có cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc hơn.
“Tình yêu thương cũng như cơ thể của chúng ta là dòng chảy bất tận”
(Jean Jacques Rousseau)
“Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người với người sống để yêu nhau”
(Tố Hữu)
Lòng yêu thương chính là một trong những hành trang cần thiết và quan trọng trong trên con đường đi của mỗi người. Chúng ta hãy mang lòng yêu thương của mình vun đắp cho cuộc sống này ngày càng tốt đẹp hơn. Hãy để ngọn lửa ấm áp của lòng yêu thương soi sáng và sưởi ấm tất cả mọi nơi, kể cả những nơi tăm tối nhất trên Trái Đất này. | Suy nghĩ của anh chị về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay. | 725 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết một đoạn văn nói về suy nghĩ của anh chị về việc ô nhiễm môi trường hiện nay.
Bài làm
Tầm quan trọng của môi trường tự nhiên đối với cuộc sống của chúng ta là như thế đó, nhưng chính con người chúng ta lại hủy hoại môi trường của chúng ta, hủy hoại cuộc sống của chúng ta. Thật đáng trách những ai thiếu ý thực bảo vệ môi trường.
Từ xưa đến nay, cuộc sống hàng ngày của con người chúng ta luôn gắn bó và chịu tác động rất lớn của môi trường sống chung quanh. Vì vậy mà chúng ta phải quan tâm đến việc bảo vệ môi trường sống. Quan tâm đến việc bảo vệ môi trường là quan tâm đến chính cuộc sống của mỗi con người chúng ta và cho cả xã hội.
Bình luận về tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay
Trước tiên, ta phải hiểu cho thật đúng, cho thật toàn diện về hai từ: “môi trường". Môi trường được chia ra làm hai loại là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên đó là không khí hàng ngày chúng ta hít thở, là nguồn nước, là lương thực, thực phẩm mà chúng ta dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Môi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến sức khỏe của chúng ta hàng ngày. Sống trong một không gian khoáng đãng, không khí trong lành; được uống những dòng nước sạch không bị ô nhiễm, ăn những thức ăn tự nhiên, không bị nhiễm hóa chất như thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng, hàn the,… thì sức khỏe của chúng ta sẽ rất tốt, ít đau ốm, ít mắc phải những bệnh nan y và đặc biệt là tuổi thọ của chúng ta sẽ được kéo dài. Và ngược lại, sống trong một môi trường quá ô nhiễm, ăn uống những lương thực, thực phẩm bị nhiễm chất độc thì sức khỏe của chúng ta sẽ không tốt, chúng ta sẽ mắc nhiều bệnh tật, nhất là những bệnh nan y như ung thư, chúng ta không thể sống lâu được.
Tầm quan trọng của môi trường tự nhiên đối với cuộc sống của chúng ta là như thế đó, nhưng chính con người chúng ta lại hủy hoại môi trường của chúng ta, hủy hoại cuộc sống của chúng ta. Thật đáng trách những ai thiếu ý thực bảo vệ môi trường. Nạn chặt phá rừng bừa bãi đã dẫn đến lũ lụt ngày càng kinh hoàng, núi lở, đất chuồi, cướp đi biết bao sinh mạng của con người. Nạn các nhà máy thải nước thải chưa qua xử lí trực tiếp xuống những dòng sông, những kênh hồ đã làm nên những dòng sông chết, những kênh rạch chết. Còn đâu dòng nước trong xanh, từng đàn cá lội như ngày xưa nữa, đất đai ven những con sông nay không còn trồng trọt được. Chúng ta cần lên án, cần đòi hỏi luật pháp trừng trị thích đáng những kẻ chỉ vì cái lợi nhỏ cho cá nhân, gia đình mà đang tâm dùng những hóa chất độc hại cho vào thức ăn, gieo rắc bệnh tật và chết chóc cho hao nhiêu người khác.
Bên cạnh môi trường tự nhiên, môi trường xã hội cũng tác động không nhỏ lên đời sống con người. Nếu sống trong môi trường xã hội lành mạnh, công nằng, trong sáng thì cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Và ngược lại nếu sống trong một môi trường xấu xa, đầy rẫy những cái ác, cái xấu thì cuộc sống của chúng ta, nhất là tuổi trẻ sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, dễ bị sa ngã, đánh mất cuộc đời mình.
Tóm lại, môi trường hiện nay là một vấn đề lớn, được cả thế giới quan tâm. Mỗi con người chúng ta phải có ý thức bảo vệ môi trường, luôn giữ cho môi trường tự nhiên và môi trường xã hội luôn được trong sạch, vì bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta vậy. | Suy nghĩ của anh chị về việc ô nhiễm môi trường hiện nay | 699 | |
Đề bài: Suy nghĩ của bạn về lời dạy của Đức Phật "Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi"
Bài làm
Có một lần, trên một chương trình truyền hình, tôi đã nhìn thấy hình ảnh những con linh cẩu sống thành bầy đàn hợp tác, hộ trợ nhau để săn bắt được những con mồi to lớn hơn. Khi đấy, tôi đã tự hỏi “Điều gì sẽ xảy ra, nếu một con linh cẩu ko sống với bầy đàn mà chỉ sống riêng lẻ”. Và để rồi một lần khác, tôi đã tự tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó khi nghe thấy một lời dạy bảo của Đức Phật “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi”.
Lời dạy ấy của ngày thật giản dị mà sâu sắc bằng những hình ảnh rất cụ thể là “giọt nước” và “biển cả”. Giọt nước nhỏ bé và sẽ trở nên khô cạn đi nhanh chống nếu chỉ lẻ loi một mình nó, nhưng khi nó hòa vào biển lớn mênh mông, hòa vào hàng triệu, hàng tỉ giọt nước khác thì nó không bao giờ biến mất.
Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi
Và trong cuộc sống cũng thế, con người không thể nào chỉ sống mỗi một mình mà có thể sống được, tồn tại được. Khi sống chỉ biết đến mình, không quan tâm đến mọi người, không có trách nhiệm với cộng đồng, vô tâm với xã hội,…thì tất nhiên, ta sẽ ko phải nhận dc những phiền toái do người khác, do cộng đồng, xã hội mang lại. Nhưng khi đó, ta cũng đã tự đánh mất những cơ hội nhận được sự giúp đỡ, quan tâm từ người khác. Và cũng có thể, ta đang tự làm hại chính bản thân ta một cách gián tiếp, vì ta là một phần trong cộng đồng, trong xã hội đó.
Hơn tất cả, “Con người là động vật có tinh thần” và cái “tinh thần” ấy bao gồm cả tính cộng đồng, đoàn kết bởi nhờ cái đoàn kết ấy mà từ thời xa xưa đến nay, con người mới có thể chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt mà tồn tại, phát triển. Nếu ta sống một lối sống “không cộng đồng, không xã hội”, tức là ta đã tự vứt bỏ đi phần “người” trong “con người” mình.
Ngược lại, nếu sống một cuộc sống hòa nhập, có trách nhiệm với cộng đồng, gắn kết với xã hội thì có thể ta sẽ phải cho đi rất nhiều, nhưng những thứ mà ta nhận được lại càng nhiều hơn. “Đoàn kết là sức mạnh”, chỉ có sự đoàn kết, sự gắn kết với nhau với cho ta sức mạnh để ta tồn tại, để ta phát triển trong thế giới này. Có những thứ một mình ta sẽ không làm được, nhưng một cộng đồng, một xã hội sẽ làm được.
Xã hội, cộng đồng là những cái mà ta không thể tách rời được cũng như “giọt nước” nếu tách rời “biển cả” thì sẽ nhanh chóng bị cạn khô. Thế nên khi ta sống, thì ta phải biết đến cộng đồng, phải có trách nhiệm với xã hội, phải biết hòa nhập với mọi người.
Lời dạy “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi” của Đức Phật là một lời dạy thật đơn giản những lại cho ta một bài học có giá trị suốt cả cuộc đời. Để học được bài học ấy không phải là điều dễ dàng, nhưng tôi tin tất cả chúng ta sẽ làm được, bởi vì chúng ta là con người. | Suy nghĩ của bạn về lời dạy của Đức Phật “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi” | 619 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
Bài làm
Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” được Thanh Hải sáng tác năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ là tiếng lòng thiết tha, yêu mến và gắn bó với đất nước,với cuộc đời và thể hiện chân thành một ước nguyện hiến dâng.
Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét chấm phá:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc,
Ơi! con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời.
Chỉ bằng vài nét đơn sơ mà đặc sắc,với những hình ảnh nho nhỏ, thân quen, bình dị, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh xuân thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế.Bức tranh có không gian thoáng đãng,sắc màu tươi tắn, hài hoà và âm thanh rộn rã tươi vui của tiếng chim chiền chiện. Cách lựa chọn hình ảnh “dòng sông xanh”, “bông hoa tím”, cách sử dụng các từ ngữ “ơi”,“chi” đi liền sau động từ “hót” khiến người đọc liên tưởng đến quê hương xứ Huế và cả tâm trạng say đắm hân hoan của tác giả. Dường như thấp thoáng đâu đó trong câu thơ là màu xanh của dòng Hương Giang mềm mại và những tà áo dài tím biếc của những cô gái Huế mộng mơ, cùng với âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng chim chiền chiện, khiến mùa xuân của cố đô trầm mặc, chợt trở nên rực rỡ, rộn ràng.Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân còn được miêu tả ở chi tiết rất tạo hình:
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Giọt âm thanh của tiếng chim thật trong,thật tròn,vang ngân giữa không gian,đọng lại thành từng giọt hữu hình long lanh như hạt ngọc,nhà thơ đưa tay hứng với tất cả sự trân trọng, đắm say. Sự chuyển đổi cảm giác khiến hình ảnh thơ trở nên lung linh, đa nghĩa góp phần diễn tả trọn vẹn hơn niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất vào xuân.
Từ mùa xuân của thiên nhiên, trời đất nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước. Tác giả hướng tình cảm của mình tới những con người đang làm đẹp mùa xuân:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc dắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ.
Những câu thơ tạo ra hình ảnh sóng đôi đẹp như hai vế của câu đối mừng xuân nói về những người chiến sỹ bảo vệ và những người lao động dựng xây đất nước.“Lộc” theo bước chân người cầm súng ra trận,theo bàn tay người lao động ra đồng và gieo mùa xuân đến khắp mọi miền đất nước. Có lẽ bởi vậy mà không khí khẩn trương,rộn ràng, náo nức lan toả khắp tứ thơ:
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.
Điệp từ “tất cả”,từ láy “hối hả”, “xôn xao ” tạo nên nhịp điệu mùa xuân hối hả,hào hùng,mở ra những cảm nhận chan chứa tự hào về đất nước:
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
Hình ảnh so sánh đẹp: “đất nước như vì sao” toả sáng, luôn vận động và phát triển không ngừng, có ý nghĩa định hướng,giục giã mọi người hăng say cống hiến xây dựng quê hương.
Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng:
Ta làm con chim hót
Ta làm một canh hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả những hình ảnh làm đẹp thêm,tô điểm thêm cho mùa xuân là âm thanh náo nức vang trời của tiếng chim chiền chiện và sắc màu tím biếc dịu dàng của cánh lục bình nhỏ trên sông thì ở đây tứ thơ được lặp lại, tạo ra sự đối ứng chặt chẽ. Tác giả mong muốn được làm bông hoa toả ngát hương,con chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi nét riêng của mỗi người.Đó thực sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm nhường và khát khao được cống hiến phần tinh tuý nhất của mình làm đẹp thêm mùa xuân của quê hương, xứ sở mà không bị giới hạn bởi thời gian, tuổi tác:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
“Mùa xuân nho nhỏ” là một sáng tạo bất ngờ,độc đáo mà tự nhiên, hợp lý của nhà thơ, bởi mùa xuân vốn là một khái niệm chỉ thời gian thế mà ở đây “ mùa xuân” lại có khối,có hình,một hình hài nho nhỏ thật xinh xắn. Mùa xuân đã trở thành một ẩn dụ nói về khát vọng, một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp sức mình làm đẹp thêm mùa xuân của thiên nhiên,đất nước.Điệp từ “dù là” đặt ở đầu hai câu thơ liên tiếp có ý nghĩa khẳng định cho khát vọng dâng hiến miệt mài, không mệt mỏi của tác giả.
Thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết,gần gũi với dân ca nhiều hình ảnh đẹp, giản dị,gợi cảm,những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ.
Bài thơ kết thúc khi đã làm lay động trái tim mỗi người bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương và ước nguyện thiết tha chân thành của tác giả.Dường như ước nguyện nhỏ bé khiêm nhường ấy không còn là của riêng Thanh Hải mà đã trở thành tiếng lòng chung của nhiều người.Bởi vậy mà đọc xong bài thơ em muốn tự hỏi mình một điều giản dị:
“Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn?
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình!”
(Tố Hữu) | Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải | 1,005 | |
Đề bài; Suy nghĩ của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Bài làm
Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên,nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà, đồng điệu.Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế,sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu”.
Bài thơ là những cảm nhận,những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa.Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se,
Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ.Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm.Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm, hương thơm lựng, vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê.Và không chỉ có thế,cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng,thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn:
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sương thu đã được nhân hoá,hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu. Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu,gió thu, thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi:Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu.
Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn,cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại,những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái, hữu tình và chứa chan thi vị, đặc biệt là hình ảnh:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ,trắng xốp,kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi, nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”.Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian: thu bắt đầu sang, hạ chưa qua hết, mùa thu vừa chớm, rất nhẹ, rất dịu, rất êm, mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới …
Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất trời:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây, song chỉ là “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến.Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió, thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ, bị động.Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa.
Hình ảnh thơ đẹp, ngôn từ tinh tế, giọng thơ êm đềm và những rung động man mác,bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả. Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha, nồng hậu của quê nhà. | Suy nghĩ của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh | 735 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em về Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Bài làm
Truyền kì mạn lục là một công trình nghệ thuật văn xuôi của nhà văn Nguyễn Dữ. Đúng như tên gọi truyền kì, nó đã ghi chép lại nhiều câu chuyện lạ kì trong cổ tích, trong dã sử và lịch sử Việt Nam. Chuyện người con gái Nam Xương chính là một trong những câu chuyện lạ kì như thế và đây cũng là câu chuyện vốn đã được lưu truyền rộng rãi trong, dân gian, rất quen thuộc với mọi người. Để nhào nặn, biến Chuyện người con gái Nam Xương từ một truyện cổ dân gian thành một tác phẩm mang dấu ấn thời đại phong kiến, tác giả đã phải tìm tòi, ghi chép, thêm vào đó những yếu tố kì ảo và ngày nay nó đã trở thành một tác phẩm rất lôi cuốn và được nhiều bạn đọc đón nhận và tôn vinh.
Chuyện người con gái Nam Xương là một tác phẩm viết về một người phụ nữ mang đầy đủ những phẩm chất cao quý như công, dung, ngôn, hạnh nhưng lại bị người chồng nghi oan và cuối cùng nàng đã phải chọn cái chết đế tự minh oan. Mở đầu câu chuyện, Nguyễn Dữ đã giới thiệu: Vũ Nương tính đã thuỳ mị nết na, lại có thêm tư dung tốt đẹp. Điều đó có nghĩa là nàng không những có nhan sắc bề ngoài mà còn có bản tính tốt đẹp bên trong. Khi chung sống với Trương Sinh, nàng luôn giữ gìn, vun vén cho hạnh phúc của gia đình, luôn làm hết phận sự của người vợ hiền, dâu thảo, luôn là người biết mình, hiểu chồng, giữ gìn khuôn phép và không để vợ chồng phải đi đến bất hoà. Tới đây, Vũ Nương đã bắt đầu chiếm được nhiều cảm tình của người đọc bởi sự đức hạnh của nàng. Và phẩm hạnh của nàng còn được thể hiện rõ hơn khi nàng tiễn chồng đi lính. Vũ Nương không mong vinh hoa phú quý, tiền tài danh vọng mà chỉ mong chồng bình an trở về. Nàng còn quan tâm, cảm thông trước nỗi gian lao, vất vả mà người chồng phải chịu đựng. Từ xưa đến nay, mối quan hệ mẹ chồng, nàng dâu ít khi lại hoà thuận, vì thế mà những lời khen ngợi Vũ Nương được nói ra từ chính miệng mẹ chồng nàng lại càng có ý nghĩa gấp bội, lại càng khẳng định được phẩm chất của nàng. Khi xa chồng, nàng luôn khắc khoải, nhớ mong chồng, lo cho chồng nơi xa xôi không biết sống chết thế nào. Nàng đã phải một mình gánh vác, lo toan việc nhà, sinh con, nuôi con, chăm sóc, thuốc thang lúc mẹ chồng đau ốm. Mẹ chồng nàng vì nhớ con trai nên sinh bệnh nặng và qua đời. Nàng đã ma chay tế lễ cho mẹ chồng chu đáo như mẹ đẻ của mình, không để bà con làng xóm phải chê trách nửa lời. Do đó mà mẹ chồng nàng trước khi mất đã ghi nhận và đánh giá cao những công lao của nàng đối với nhà chồng. Quả là một gia đình êm ấm, đề huề, phúc lộc, đáng lẽ phải là sự đền bù xứng đáng cho người phụ nữ chung tình và tận tụy ấy. Thế nhưng Vũ Nương chẳng phụ ai, để rồi lại bị người phụ. Trong thời gian Trương Sinh đi vắng, nàng thường nói đùa con rằng cái bóng của nàng trên tường chính là bố của nó. Có lẽ nàng không biết đối với nàng thì cái bóng chỉ đơn thuần là một cái bóng được tạo bởi ánh đèn nhưng đối với một đứa trẻ ngây thơ thì cái bóng đó đã in sâu vào tiềm thức của nó và cái bóng giả chính là một người bố thực. Và ngày mà Trương Sinh đi lính trở về cũng chính là ngày mà tai hoạ đổ lên đầu nàng. Trương Sinh đi lính trở về với nỗi đau nặng trĩu khi nghe tin mẹ mất và lời nói bi bô của đứa con trai đã được đặt không đúng chỗ. Do vậy đã làm bùng lên sự tức giận, tính ghen tuông, đa nghi của Trương Sinh. Chàng đã tin rằng con mình đã có một người cha khác, vợ mình đã có một người chồng khác. Bao nhiêu lời la lối, mắng nhiếc dã trút lên đầu Vũ Nương. Trương Sinh chỉ biết mắng nhiếc cho hả giận, không tin vợ, không tin hàng xóm và đã đánh đuổi vợ đi. Trương Sinh quả là một kẻ vũ phu, hồ đồ, có cách xử sự độc đoán, không đủ bình tĩnh để phân tích, phán đoán, không tin vào các nhân chứng, bỏ ngoài tai những lời phân trần, không nói ra nguyên cớ để rồi phải hối hận về sự nóng vội của mình. Trong lúc bị chồng nghi oan, Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng, tình nghĩa vợ chồng, khẳng định lòng chung thuỷ của mình và cầu xin chồng đừng nghi oan để cố hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ. Nhưng Trương Sinh đã không nghe những lời giải thích của nàng. Trong lòng nàng lúc đo tràn trề sự thất vọng, đau đớn, nàng không hiểu tại sao mình lại bị đối xử như vậy và nàng cũng chẳng có quyền tự bảo vệ mình, kể cả khi có họ hàng, làng xóm bênh vực. Nàng càng thất vọng hơn khi không thể giãi bày lòng mình với chồng và nàng đã mượn dòng nước sông Hoàng Giang để chứng minh sự trong sạch của mình. Nhưng tấm lòng sắt son, thuỷ chung của người thiếu phụ chưa dừng lại ở đó. Khi nàng nhảy xuống sông tự vẫn, Linh Phi vì cảm động trước tấm lòng của nàng mà đã cứu nàng thoát chết. Dù ở chốn trần gian hay chốn làn mây cung nước thì nàng vẫn nặng tình với cuộc đời, vẫn lo lắng, quan tâm đến chồng, đến con, đến phần mộ tổ tiên, nàng vẫn luôn khát khao, mong mỏi chồng nàng sẽ luôn nhớ đến nàng và sớm giải oan cho nàng. Quả là đáng tiếc cho Vũ Nương bởi một người phụ nữ có tấm lòng đẹp như nàng lại có một cuộc đời đầy đau khổ như vậy chỉ vì nàng có một người chồng quá đa nghi. Hơn nữa, trong chế độ nam quyền của xã hội phong kiến xưa thì người chồng mới là người quyết định mọi việc. Do vậy mà ngay đến cả số phận của mình mà Vũ Nương cũng không thể nắm trong tay. Nhưng chúng ta cũng không thể nào phủ nhận được một nguyên nhân khác, đó là chiến tranh. Nếu không có chiến tranh thì Trương Sinh sẽ không phải đi lính, sẽ không phải xa rời Vũ Nương để rồi sinh ra sự hiểu lầm tai hại dẫn đến cái chết của Vũ Nương. Cái chết oan uổng của nàng không chỉ mang tính chất tự minh oan mà còn là sự giải thoát đối với nàng. Bởi nếu Vũ Nương còn sống trên trần gian thì có lẽ nàng sẽ phải sống trong cảnh gia đình bất hoà, trong sự ngờ vực của chồng và trong sự oan uổng chưa được giãi bày.
Nhưng chừng ấy chi tiết cũng không đủ tạo nên sự kì ảo của câu chuyện mà sự kì ảo đó đã được tác giả thể hiện thật nhiều ở phần kết với những yếu tố trong truyện cổ tích. Đó là chi tiết Phan Lang – người cùng làng với Vũ Nương nằm mộng thả rùa và khi Phan Lang chạy nạn bị chết đuối đã được thần rùa Linh Phi cho uống thuốc tiên sống lại, cho trở về trần gian. Đó là chi tiết Vũ Nương dược Trương Sinh lập đàn giải oan. trên bờ Hoàng Giang và trở về trên chiếc kiệu hoa lấp lánh giữa dòng lúc ẩn, lúc hiện. Đây cũng là những chi tiết làm hoàn thiện nét đẹp tâm hồn của Vũ Nương: vẫn luôn khát khao được phục hồi danh dự, vẫn mong muốn được chăm lo cho chồng con, nhà cửa. Và đồng thời đây cũng là một kết thúc có hậu, thể hiện được ước mơ ngàn đời cùa nhân dân ta về sự công bằng trong cuộc đời: người tốt dù có bị nghi oan rồi cũng được đền trả xứng đáng và cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.
Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương khép lại đã cho thấy cái tài của Nguyễn Dữ khi ông đã xây dựng một nhân vật Vũ Nương hiền lành, đảm đang, chung thuỷ, một nhân vật Trương Sinh hay ghen tuông, ba phải. Đặc biệt hơn nữa, ông đã xây dựng nên một phần kết khiến chúng ta khi đọc xong phải bâng khuâng để rồi phải mông lung suy ngẫm và tự đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi: liệu rằng Vũ Nương sẽ mãi mãi không quay trở lại? Cuộc sống ở thế giới bên kia của nàng sẽ ra sao? Cuộc sống đó liệu có đem lại hạnh phúc cho nàng không? Nhưng có một điều chắc chắn rằng: dù ở thời đại nào đi chăng nữa thì một con người đẹp đẽ như nàng sẽ luôn được biết đến với lòng tôn kính. | Suy nghĩ của em về Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ | 1,616 | |
Suy nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao- Văn lớp 8
Hướng dẫn
Suy nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao- Văn lớp 8
Bài làm
Nam Cao là một nhà thơ nổi tiếng của nền văn học hiện thực của nước ta những năm trước và sau cách mạng tháng Tám. Trong mỗi tác phẩm của mình Nam Cao đều thể hiện sự trăn trở của mình với những số phận con người nghèo khổ, bị xã hội bần cùng, bức bách tới chân tường không lối thoát.
Tác phẩm “Lão Hạc” thể hiện sự bần cùng, không lối thoát phải tìm tới cái chết cay đắng tủi nhục của một người nông dân chân chất, hiền lành thật thà. Nhưng lại có những phẩm chất vô cùng tốt đẹp, đáng quý.
Thông qua tác phẩm “Lão Hạc” Nam Cao muốn tố cáo tội ác của chế độ phong kiến đã tàn ác bóc lột người nông dân tới tận cùng, khiến họ không còn lối thoát phải tìm tới cái chết.
Trong tác phẩm này Nam Cao đã xây dựng thành công hình ảnh lão Hạc với những phẩm chất cao quý, thương yêu con trai của mình,hiền lành, phúc hậu, có lòng tự trọng hơn người.
Hình ảnh cái chết của lão Hạc ở cuối truyện ngắn khiến người đọc vừa đau xót, xúc động vừa trào dâng sự căm phẫn bởi chế độ xưa quá tàn ác, đã khiến cho một ông lão nghèo khó, hiền lành phải tự mình tìm tới cái chết trong tức tưởi để bảo toàn được những gì mình đang có.
Hình ảnh lão Hạc một người đàn ông già nua khắc khổ, bị góa vợ từ khi còn trẻ, cuộc sống nghèo khó chung. Cả làng nghèo khổ không riêng gì lão, nhưng hoàn cảnh lão có chút đặc biệt hơn đôi chút.
Lão không có người thân bên cạnh, lão mất vợ đã lâu có một người con trai nhưng xin đi đồn điền cao su từ lâu. Nên lão chỉ sống có một mình cùng với con chó mà con trai lão đã mua và để lại nhà trước khi đi xa.
Con chó là người bạn, người tâm giao tri kỷ duy nhất của lão. Ngày ngày lão ăn gì nó ăn nấy, lão thương nó như con trai mình vậy.
Ngày ngày lão chăm sóc con chó nói chuyện, tâm sự với nó như lão đang nói chuyện tâm sự với con trai mình vậy. Lão vẫn thầm mong con trai mình sẽ về, và lão sẽ để lại mảnh vườn này để sau này con trai lão về có lấy vợ còn có chỗ mà sinh sống.
Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước lâm nguy, nạn đói hoành hành, nhiều lúc lão phải ăn củ mài, củ chuối cho qua bữa. Sống cơ cực lay lắt như ngọn đèn trước gió, không biết sẽ tắt lúc nào.
Nhưng điều đó cũng không làm cho lão nghĩ tới cái chết, lão vẫn cố gắng cầm cự, chống chọi lại với những khó khăn trong cuộc sống. Nhưng chỉ tới khi lão Bá Kiến nhăm nhe muốn cướp mảnh vườn của nhà lão, thì lão thật sự hoang mang.
Lão luôn muốn để dành mảnh vườn cho con trai mình, nhưng lão Bá Kiến suốt ngày gạ mua rồi không được. Lão Bá Kiến mưu toan cài bẫy để cướp lấy mảnh vườn của lão. Chúng đang âm mưu để cho lão vào tù, nếu lão không muốn vào tù thì phải gán nợ mảnh vườn làm cứu cánh.
Lão Hạc là người thông minh, nên đã linh cảm thấy điều chẳng lành đang chờ đợi mình phía trước, để bảo toàn mảnh vườn tài sản duy nhất của con lão thì lão buộc lòng đi trước một bước. Chỉ có khi lão chết thì bọn Bá Kiến mới buông tha cho cuộc sống của lão được yên ổn, thanh thản.
Nghĩ vậy lão quyết định bán con chó đi, người bạn duy nhất, người tâm giao tri kỷ đi. Rồi sau đó lão đi sang nhà Binh Tư xin bả chó. Thấy lão xin bả chó Binh Tư ngạc nhiên lắm tưởng lão bần cùng sinh đạo tặc, không còn giữ được phẩm chất cao quý của mình nữa.
Nên hắn còn đùa nếu ông kiếm được gì nhớ chia cho hắn với nhé. Lão Hạc chỉ cười buồn bảo hắn trưa mai qua nhà lão uống rượu, ăn thịt chó. Rồi lão qua nhà thầy giáo, người hàng xóm thân thiết cũng là người lão vô cùng kính trọng bởi nhân cách sống đúng mực của thầy giáo.
Một người đàn ông lo lắng chu toàn, và có lòng tự trọng cao độ. Lão biết trong thời buổi này không nên làm phiền hàng xóm về tiền bạc bởi ai cũng nghèo khổ cả. Chính vì vậy, lão chết đi rồi còn gửi tiền trước nhờ người làm ma chay cho mình.
Trưa hôm sau, Binh Tư sang nhà thầy giáo gọi thầy giáo sang nhà lão Hạc uống rượu thịt chó, tới nơi thì thấy lão Hạc đang quằn quại trong cơn đau. Lão đã ăn bả chó tự tử, một cái chết đau đớn.
Chính cái chết của lão Hạc là sự minh chứng cho những bế tắc của thời đại. Đồng thời giải phóng chính bản thân lão ra khỏi những khó khăn. Lão chết đi vì mong ước muốn để dành những gì tốt đẹp nhất cho người con trai duy nhất của mình. Một tình cảm của người cha thương con vô bờ bến, bao la bát ngát.
Truyện ngắn “Lão Hạc” kết thúc với bi kịch là cái chết của nhân vật chính, nhưng lại gợi mở trong lòng người vô cùng nhiều cảm xúc, nghẹn ngào, cho số phận của một người nông dân chân chất, hiền lành, có lòng tự trọng cao quý. | Suy nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao- Văn lớp 8 | 995 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên
Bài làm
Nam Cao là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam trước và sau cách mạng tháng 8 năm 1945. Tác phẩm của ông đều gắn liền với số phận, hình ảnh của người nông dân khốn khổ.
Tác phẩm “Lão Hạc” là một tác phẩm hay thể hiện cái nhìn nhân văn nhân đạo của tác giả Nam Cao dành cho nhân vật của mình, những người nông dân nghèo khổ, bần cùng của xã hội phong kiến.
Khi đọc xong truyện ngắn này nhiều người không khỏi bị ám ảnh bởi cái chết đau đớn, nhiều ám ảnh của nhân vật chính. Những suy nghĩ của ông lão đã khiến nhiều người đọc phải bật khóc cảm thương cho một người cha yêu con, sống đạo đức chuẩn mực không bị cái xấu, cái ác làm hoen ố đi danh dự và nhân phẩm của mình.
Lão Hạc là người nông dân nghèo, dưới đáy xã hội lão “góa” vợ sớm có người con trai thì bị bắt đi làm tại đồn điền cao su của giặc. Một nơi nổi tiếng tàn ác “Cao su đi dễ khó về. Khi đi trai tráng khi về bủng beo”
Lão có một mảnh vườn là của nả, hương hỏa bao năm cha ông để lại là tài sản duy nhất mà lão có thể để dành cho con trai mình khi tới tuổi lập gia đình có chỗ nương thân. Lão không có gì nữa ngoài con chó, người bạn thân tri kỷ chia sẻ mọi vui buồn với lão. Lão coi con chó như con trai mình vậy đặt tên cho nó là cậu “Vàng”
Một tài sản lão quý hơn cả tính mạng mình. Năm lần bảy lượt chúng tìm cách gạ gẫm không được chúng bèn bày mưu hãm hại lão để có thể chiếm được mảnh vườn.
Không còn cách nào khác lão nghĩ tới cái chết. Chỉ có cái chết mới giải thoát lão khỏi cuộc sống cô độc, nghèo đói, khốn khổ này. Chỉ có cái chết mới giúp hắn giữ được mảnh đất tổ tiên hương hỏa này cho con trai lão.
Nghĩ thế hắn bèn tìm cách hành động. Trước tiên lão phải bán con Vàng người bạn thân thiết của mình đi, bởi khi lão chết rồi thì ai chăm sóc nó, rồi nó cũng sẽ chết đói hoặc bị bọn bắt trộm chó làm thịt mà thôi.
Lão bán con Vàng như bán đi một phần linh hồn của mình vậy, lão đau đớn vô cùng.Rồi lão đi sang Binh Tư xin bả chó. Binh Tư là một tay chuyên trộm cắp vặt trong làng, và thường xuyên bắt trộm chó nhà khác bán lấy tiền nên trong nhà hắn lúc nào cũng sẵn thứ này.
Khi thấy Lão Hạc sang xin bả cho Binh Tư tưởng mình có thêm đồng nghiệp làm nghề thất đức như mình nên cười ha hả còn chọc lão có vụ gì ngon thì chia cho hắn với.
Trước khi chết lão cũng lo lắng rất chu toàn. Lão sang nhà thầy giáo Thứ rồi nhờ thầy giữ hộ giấy tờ nhà, gửi tiền để nếu chẳng may lão có mệnh hệ nào thì lấy tiền đó lo ma chay, mua quan tài, bởi lão biết trong cảnh cả nước nghèo khổ, đói kém làm phiền hàng xóm cũng là cái tội. Lão cũng không muốn sau khi mình chết đi rồi không được chôn cất tử tế.
Một người nông dân ít học hành nhưng lại vô cùng nhiều văn hóa, lão ứng xử chuẩn mực, lương thiện, đạo đức hơn rất nhiều kẻ tưởng có học có chức có quyền trong xã hội mà vô đạo đức, bất lương.
Rồi lão về nhà tự mình ăn bả chó để tìm tới cái chết. Một cái chết đau đớn, khiến cho người đọc cảm thấy nghẹn ngào theo từng trang viết.
Nam Cao đã vô cùng thành công khi khắc họa nhân vật Lão Hạc vô cùng thánh thiện, thanh bạch, một người nông dân nghèo nhưng lương thiện tử tế, một người cha thương con vô bờ bến. | Suy nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên | 704 | |
Suy nghĩ của em về câu tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.
Hướng dẫn
DÀN Ý
1. Mở bài
– Giới thiệu tính chất, sức mạnh của tục ngữ.
– Giới thiệu câu tục ngữ: “Gần mực thì đen, gần đền thì rạng”, – nêu ý nghĩa khái quát của câu tục ngữ: khẳng định vai trò lớn của môi trường sống đến con người.
2. Thân bài
– Giải thích câu tục ngữ:
Từ hình ảnh cụ thể, có thực: “Gần mực thì đen, gần đền thì rạng” -> ý nghĩa ẩn dụ sâu xa: sống gần cái xấu xa, đen tối thì cũng dễ bị xấu xà, đen tối theo; sống gần cái sáng sủa, lương thiện thì cũng sẽ lương thiện, tốt dẹp.
– Nêu quan điểm và chứng minh:
+ Câu tục ngữ đã nêu lên một thực tế trong cuộc sống: con người sống ở những môi trường nhất định dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường đó.
+ Vì sao?
• Vì con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội -> chịu tác động từ các mối quan hệ đó.
• Vì con người dễ chịu ảnh hưởng của một quy luật tâm lí: bắt chước.
+ Chứng minh: Trẻ con được sinh ra trong một gia đình cha mẹ yêuthương, hạnh phúc, có giáo dục dễ phát triển về tinh thần, tâm lí theo chiều hướng tích cực hơn so với trẻ sinh ra trong gia đình cha mẹ li hôn hoặc không hạnh phúc. Khi đi học, kết bạn với bạn tốt thường học hỏi được những điều hay; kết bạn với kẻ xấu thì dễ bị xúi giục, làm những việc xấu… Sống ở một đất nước có nhiều chiến tranh, bạo lực thì con người cũng dễ bị những tổn thương về tâm lí.
– Bàn bạc, mở rộng: không nên hiểu câu tục ngữ theo kiểu phiến diện, cực đoan. Có những trường hợp con người sống trong môi trường xấu,hoặc khốn khó nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp, vẫn vươn lên, thành đạt và giúp đỡ người khác (Lấy dẫn chứng chứng minh).
—>Cái quyết định là bản lĩnh cá nhân, là sự rèn luyện của mỗi con người để có cách ứng xử và lối sống tốt nhất.
3. Kết bài:
– Tóm lại ý nghĩa của câu tục ngữ.
– Nêu bài học rút ra cho bản thân.
Tục ngữ được coi là “túi khôn” của nhân loại, là kho kinh nghiệm phong phú và quý giá về thiên nhiên, lao động sản xuất, về con người và xã hội của nhân dân lao động qua các thế hệ. Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, có thể bắt gặp khá nhiều những câu tục ngữ nói về mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, môi trường sống. Tiêu biểu là câu tục ngữ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.
Câu tục ngữ đã khẳng định vai trò to lớn, có tính chất quyết định của môi trường sống đến con người.
Câu tục ngữ gồm hai vế câu có ý nghĩa đối sánh nhau. Mỗi vế thể hiện một mối quan hệ nhân – quả, xuất phát từ thực tế đời sống: nếu ta lỡ bị “mực” dây vào tay chân, quần áo thì sẽ bị bẩn, bị đen quần áo, chân tay; còn nếu ta ngồi gần ngọn đèn thì sẽ được hưởng ánh sáng của nó.
Từ hình ảnh cụ thể, thực tế ấy, câu tục ngữ thể hiện ý nghĩa ẩn dụ sâu xa: nếu ta sống gần cái xấu xa đen tối thì cũng dễ bị xấu xa, đen tối theo; sống gần cái sáng sủa, lương thiện thì cũng sẽ trở nên lương thiện, tốt đẹp. Suy rộng ra, câu tục ngữ khẳng định rằng môi trường sống, hoàn cảnh sống dễ ảnh hưởng hoặc có khi có vai trò quyết định đến tính cách, phẩm chất của con người.
Trước hết, vì bản chất con người “là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Các – Mác) nên mỗi cá nhân thường xuyên chịu tác động từ các mối quan hệ đó. Trong quán trình tương tác giữa các cá nhân với nhau, tất yếu mỗi cá nhân sẽ chịu ảnh hưởng hoặc sự tác động từ cá nhân khác và từ môi trường hình thành nên mối quan hệ đó.
Hơn nữa, con người lại dễ chịu ảnh hưởng của một quy luật tâm lí là bắt chước. Do đó, ông cha ta cũng có câu nói về những kẻ đua theo bạn bè, bắt chước để giống nhau: “ngưu tầm ngưu, mã tâm mã”.
Thực tế đã chứng minh tính thực tế của câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Những đứa trẻ được sinh ra trong một gia đình mà chamẹ yêu thương nhau, sống hạnh phúc và được giáo dục tốt thường phát triển về tinh thần, tâm lí theo chiều hướng tích cực hơn so với trẻ sinh ra trong một gia đình mà cha mẹ li hôn hoặc không hạnh phúc. Khi đi học, nếu kết bạn với bạn tốt, chúng ta sẽ thường học hỏi được những điều hay; trái lại, nếu kết bạn với kẻ xấu thì dễ bị xúi giục, làm những việc xấu… Nhìn rộng ra, sống ở một đất nước có nhiều chiến tranh, bạó lực thì con người cũng dễ bị những tổn thương về tâm lí, tinh thần.
Khẳng định câu tục ngữ trên đã nêu lên một thực tế khá phổ biến, tuy nhiên chúng ta cũng không nên hiểucâu tục ngữ một cách phiến diện, cực đoan. Không phải lúc nào cũng “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Trong cuộc sống, có không ít những trường hợp thanh thiếu niên được sinh ra và lớn lên từ một môi trường gia đình có điều kiện kinh tế tốt, được giáo dục từ khi còn nhỏ, nhưng lớn lên, chúng lại trở nên hư hỏng, thậm chí sa vào cờ bạc, may tuý. Lại có những con người dù sống trong môi trường xấu, hoặc trong hoàn cảnh khốn khó nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp, thậm chí còn vươn lên, thành đạt và giúp đỡ người khác. Như loài hoa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, có những con người dù sống giữa “bùn nhơ” vẫn tỏa sáng vẻ đẹp của phẩm cách, ý chí cao đẹp. Có những con người không bị “cái khó bó cái khôn” mà lại biết tạo ra sự xoay chuyển tình thế trong cảnh gian khó và làm nên thành công. Trong văn học Việt Nam, ta có thể bắt gặp hình ảnh nàng Thúy Kiều trong tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du – một người con gái tài sắc vẹn toàn, mặc dù bị xã hội đen tốiđẩy vào cảnh “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần ” mà vẫn giữ trọn vẹn lòng hiếu nghĩa, thủy chung.
Như vậy, ở đây, cái quyết định không phải là hoàn cảnh sống mà chính là bản lĩnh cá nhân, là sự rèn luyện của mỗi con người để có cách ứng xử và lối sống tốt nhất. Không phải ta cứ gặp cái xấu, gặp người từng có quá khứ không lương thiện là ta kì thị và phải tránh xa. Một cách ứng xử đúng mực và phù hợp chính là biết dung hòa và bao dung, biết giúp đỡ lẫn nhau vươn lên trong cuộc sống.
Giống với câu tục ngữ “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” đã nêu lên một thực tếkhách quan có tính phổ biến trong xã hội. Câu tục ngữ một mặt giúp chúng ta có cái nhìn thận trọng, tỉnh táo khi “chọn bạn mà chơi” hoặc lựa chọn môi trường sống trong lành để phát triển; mặt khác cũng gợi ra trong mỗi chúng ta những suy nghĩ về bản lĩnh cá nhân trong những hoàn cảnh sống khác nhau, về việc nâng cao ý thức trách nhiệm với bản thân mình ở mỗi con người. Chính vì thế, những câu tục ngữ như thế có giá trị nhận thức và giáo dục sâu sắc, đáng được gìn giữ và lưu truyền qua các thế hệ.
BÀI LÀM 2
Nếu ca dao là tiếng nói của tình cảm nồng nàn thì tục ngữ chính là sản phẩm của trí tuệ, kinh nghiệm phong phú của cha ông chúng ta để lại cho con cháu nhằm mục đích khuyên răn lớp người sau gần điều lành, lánh điều dữ để trở thành người tốt. Chẳng hạn, đế khuyên nhủ thanh thiếu niên học sinh phải chọn bạn mà chơi, tục ngữ ta có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Sau đây, chúng ta tìm hiểu ý nghĩa câu tục ngữ này xem có đúng như vậy không và từ đỏ rút ra cho bản thân mình một bài học bổích cho việc xử thế.
Nghĩa đen của câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng?” thật quá rõ ràng. Người học trò thường xuyên tiếp xúc với mực thì trướí sau gì nhất định là mực cũng sẽ dây vào quần áo, chân tay nghĩa là bị lấm lem vì mực, gần mực thì đen là như vậy. Ngược lại, bất cứ ai, khi đến gần ngọn đèn đang thắp sáng thì nhất định ánh đèn sẽ làm rạng rỡ thêm khuôn mặt vì được đèn chiếu sáng.
Thếnhưng, ý nghĩa chủ yếu của câu tục ngữ này là ở nghĩa bóng. Trong sinh hoạt học tập, nếu ta chỉ chung đụng, gần gũi, tiếp xúc với những người xấu thì ta cũng sẽ dễ tiêm nhiễm thói hư tật xấu Trái lại, nêu ta chỉ gần gũi, tiếp xúc với những người tốt thì ta cũng đễ học tập những phẩm chất tốt đẹp. Suy rộng ra, sống trong xã hội, nếu ta thường xuyên chỉ tiếp xúc với những người xấu, môi trường và hoàn cảnh xấu xa là ta dễ bị tiêm nhiễm những tật xấu thói hư. Trái lại, nếu ta sống gần gũi với những người tốt, môi trường và hoàn cảnh tốt thì ta cũng sẽ dễhọc tập được những lề hay lối tốt.
Suy nghiệm lại thì thấy quả đúng như vậy thật. Vì sao? Vì con người nói chung, đặc biệt tuổi thiếu niên học sinh còn non trẻ, chưa có bản lĩnh vững vàng nói riêng, dễ bắt chước lẫn nhau, một cá nhân thường dễ bị đám đông lôi cuốn và cảm hóa. Do đó, sống trong hoàn cảnh xấu như người bên cạnh lúc nào cũng không hay biết. Đãvậy, sống trong hoàn cảnh, môi trường ấy, có điều tốt cũng không ai ủng hộ, làm điều xấu thì cũng không ai chê bai lại còn được khen ngợi và kích thích nữa. Rốt cùng mình không phân biệt được tốt xấu, nghĩ xấu là tốt, nghĩ tốt là xấu. Thế nhưng, sống với người tốt, giữa môi trường tốt thì chính việc tốt của họ là tấm gương để mình noi theo, những ý kiến hay, lời nói tốt của họ giúp mình biết cái đúng để theo, cái xấu để tránh. Từ đó cái đúng, cái tốt của mình ngày sẽ nhiều thêm, còn cái xấu, cái hư cũng sẽ ngày một ít dần đi để mỗi ngày một thành người tốt hơn.
Thấy rõ ảnh hưởng, tác động vô cùng to lớn và quan trọng của môi trường xung quanh đặc biệt môi trường bè bạn, thanh thiếu niên học sinh chúng ta, hơn ai hết, nên gần gũi, học tập các bạn tốt, không nên a dua, đua đòi theo các bạn xấu. Từ đó, chúng ta càng quan tâm hơn nữa đến việc tự rèn luyện bản thân, tu dưỡng, tạo cho mình một bản lĩnh để phân biệt được đúng sai, tốt xấu để bảo vệ và phê phán khi cần thiết.
Ngoài ra, cũng cần hiểu vấn đề một cách toàn diện hơn. Xưa nay, trong xã hội cũng có những người gần mực nhưng vẫn không đen. Tuy sống trong môi trường xấu, nhưng họ vẫn là người tốt, vẫn là “sen trong bùn” “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Chu Văn An, Trần Bình Trọng, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thái Bình… là minh chứng cụ thể. Trái lại, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống… dẫu có gần đèn nhưng vẫn tối om.
Đủ thấy trong đời sống, bản lĩnh của mỗi người là điều hệ trọng, thêm vào đó cần tự chủ và cẩn thận khi tiếp xúc với sự việc, với con người. Xa lánh cái xấu chứ không xa lánh con người, xa lánh các bạn có khuyết điểm.
Là học sinh hiểu được ý nghĩa câu tục ngữ trên, ta phải làm gì? “Chọn bạn mà chơi” ta phải biết gần gũi khiêm tốn để học tập các bạn tốt đồng thời phải chân thành thẳng thắn giúp đỡ bạn chưa tốt để cùng nhau tiến bộ trong học tập và rèn luyện.
Cũng nên lưu ý rằng sách báo, phim ảnh, các trò chơi cũng là người bạn gần gũi với ta trong cuộc sống. Do đó, ta nên thận trọng trong việc tiếp xúc. Hơn thếnữa, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn hiện nay, trong xã hội còn nhiều tệ nạn, thì câu tục ngữ này là phương châm hành động thiết thực cho tuổi trẻ. | Suy nghĩ của em về câu tục ngữ_ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. | 2,263 | |
Suy nghĩ của em về câu “Không có chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do cuộc sống viết nên” – Ngữ văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận xã hội về cuộc sống
Đề bài:
Nhà văn Đan Mạch Andersen – người viết truyện cổ tích nổi tiếng thế giới – cho rằng: “Không có truyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do cuộc sống viết nên”.
Anh (chị) có đồng tình với ý kiến trên đây không? (Hãy trình bày quan điểm của mình trong một bài văn khoảng 600 chữ).
Hướng dẫn làm bài:
Với đề bài này, người viết phải hiểu đúng ý của nhà văn Andersen, cụ thể, phải trả lời các câu hỏi: Câu chuyện do cuộc sống viết nên nghĩa là thế nào? Đâu là cái đẹp trong cổ tích? Tại sao nói không có truyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do cuộc sống viết nên. Trả lời thoả đáng các câu hỏi đó cũng là cơ sở để bày tỏ thái độ đồng tình hay không đồng tình với ý kiến của Andersen.
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Truyện cổ tích của bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng đều là sản phẩm sáng tạo của dân gian. Nhưng ở xứ sở Đan Mạch xa xôi, có một nhà văn viết truyện cổ tích nổi tiếng thế giới: Những nhân vật, những câu chuyện được ông viết nên đã sống mãi với bao thế hệ độc giả trên khắp hành tinh này.
Trong truyện cổ tích, ta bắt gặp những người hiền, kẻ ác, những kẻ giàu, người nghèo, những người sang, kẻ hèn… Truyện cổ tích cũng nói đến những xung đột gay gắt, có khi dẫn đến cái chết. Thế nhưng, cổ tích bao giờ cũng kết thúc có hậu: cái ác bị trừng trị, cái thiện được lên ngôi. Nói chung, cổ tích là thế giới của ước mơ, khát vọng, thế giới của trí tưởng tượng lấp lánh màu sắc kì diệu, huyền ảo. Vậy mà, theo nhà văn Andersen – người viết truyện cổ tích nổi tiếng – những câu chuyện do cuộc sống viết nên còn đẹp hơn mọi truyện cổ tích.
– “Câu chuyện do cuộc sống viết nên” là cách nói có hình ảnh nhằm chỉ những gì được tạo ra bởi bàn tay, khối óc con người. Thế giới cổ tích dẫu hết sức phong phú, nhưng vẫn không thể sánh nổi cuộc sống thực tế với muôn vàn sắc màu khác nhau. Trong cổ tích có hình ảnh lâu đài, thành quách lộng lẫy, thì ngay trên mặt đất này, nhân loại đã tạo nên những công trình kiến trúc sừng sững với thời gian như Kim tự tháp Ai Cập, Vạn Lí Trường Thành ở Trung Quốc, đền Angkor Wat ở Campuchia… Trong cổ tích có những chuyện cải tử hoàn sinh, thì với thành tựu của y học ngày nay, biết bao người đã thoát khỏi những căn bệnh hiểm nghèo một cách kì diệu, cổ tích kể về những con người có tấm lòng cao thượng, thì đây, trong thế giói của chúng ta không thiếu những người quên mình để cứu giúp những kẻ khổ đau, bất hạnh. Khoa học công nghệ hiện nay có thể làm nên những chuyện thần kì, vượt xa cả trí tưởng tượng của con người khi sáng tạo truyện cổ tích: mạng internet toàn cầu, sức mạnh hạt nhân, tàu vũ trụ, khám phá mặt trăng và các hành tinh của hệ Mặt trời, công nghệ gen, sinh sản vô tính…
– Ngay giữa đời thường, chúng ta cũng gặp không ít điều kì diệu hơn cả cổ tích. Đó là những câu chuyện cảm động về tình cảm thiêng liêng, nghĩa cử cao đẹp giữa người với người. Đó là những tấm gương vượt lên hoàn cảnh ngặt nghèo của số phận để sống xứng đáng với hai tiếng “con người”. Đó là những con người miệt mài lao động và cống hiến mà không bao giờ nghĩ đến sự thụ hưởng cá nhân.
– Cũng như cổ tích, cuộc sống không thiếu những nhân vật phản diện. Xung quanh ta vẫn còn bao nhiêu kẻ xấu xa, bao nhiêu mặt khuất tối. Tuy nhiên nhìn chung, mảng sáng vẫn chiếm ưu thế. Cuộc sống vẫn không ngừng phát triển theo chiều hướng tích cực. Đó thực sự là truyện cổ tích đang được viết ra từng ngày bởi công sức của biết bao người. Trên tinh thần đó, ta thấy câu nói của Andersen xứng đáng được xem là lời ca tôn vinh cuộc sống, tôn vinh giá trị lao động của con người. | Suy nghĩ của em về câu “Không có chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do cuộc sống viết nên” – Ngữ văn 12 | 782 | |
Suy nghĩ của em về câu “Nhìn đâu, đi đâu cũng thấy người đang nói vào điện thoại di động hoặc dán mắt vào smartphone” – Ngữ văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận xã hội về sử dụng điện thoại
Đề bài:
Nhìn đâu, đi đâu cũng thấy người đang nói vào điện thoại di động hoặc dán mắt vào smartphone.
Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng trên.
Hướng dẫn làm bài
Câu hỏi nêu một hiện tượng xã hội, đòi hỏi thí sinh phải thể hiện ý kiến nhận xét, đánh giá của mình. Trước hết, cần chứng minh đây là hiện tượng có thật, phổ biến, tiếp đó có thể cắt nghĩa nguyên nhân và chỉ ra những khía cạnh tiêu cực của nó. Bài bác hay ủng hộ, câu hỏi không có định hướng cụ thể. Thí sinh có quyền đưa ra lựa chọn của mình, với điều kiện phải lập luận chặt chẽ nhằm thuyết phục người đọc rằng mình có đủ căn cứ để đánh giá như thế. Sẽ rất tốt nếu người làm bài nêu được các giải pháp tích cực cho vấn đề.
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
Người ta thường nói thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ thông tin (IT – Information Technology), thời đại chứng kiến những tiến bộ vượt bậc của công nghệ chế tạo máy tính, chế tạo các thiết bị điện tử phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin ngày càng lớn của con người.
– Trước hết, không nên xem hiện tượng chúng ta đang bàn là một cái gì quá bất thường và chỉ mang tính tiêu cực. Nhờ điện thoại di động, chúng ta có thể thực hiện được những kết nối với mọi người một cách nhanh chóng, bất kể mình hay người mình có nhu cầu trao đổi thông tin đang đi đâu, ở đâu. Trong xã hội ngày nay, trừ những trường hợp quá đặc biệt, rất ít người từ chối việc sở hữu một chiếc điện thoại di động-sản phẩm trí tuệ của con người, có thể giúp chúng ta có một cuộc sống tiện nghi, dễ chịu. Tất nhiên, bên cạnh chức năng nghe – gọi “cổ điển”, chiếc điện thoại ngày càng được cải tiến đẹp hơn, nhiều chức năng hơn. Với một chiếc smartphone, người ta có thể truy cập internet, đăng nhập vào các ứng dụng như facebook, twitter,… để post những bức ảnh mới chụp hay gửi một dòng status mong tìm được sự chia sẻ ở cộng đồng mạng rộng khắp thế giới. Đây chính là lí do tạo nên cơn “nghiện” điện thoại, “nghiện” smartphone phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc, không loại trừ những vùng nông thôn lạc hậu hay những vùng núi cao hẻo lánh.
– Mọi thiết bị dù hoàn hảo đến đâu cũng chỉ là công cụ phục vụ cho cuộc sống của con người. Không nên để công cụ trở thành “ông chủ” của mình, chi phối mình trong cuộc sống. Lạm dụng, để thiết bị chi phối và chiếm quá nhiều thòi gian dễ khiến ta đánh mất vai trò của một chủ thể tích cực trong cuộc sống. | Suy nghĩ của em về câu “Nhìn đâu, đi đâu cũng thấy người đang nói vào điện thoại di động hoặc dán mắt vào smartphone” – Ngữ văn 12 | 542 | |
Suy nghĩ của em về câu: Biết tự khẳng định mình là một đòi hỏi bức thiết đối vói mỗi con người trong cuộc sống hôm nay – Ngữ văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận xã hội về vấn đề tự khẳng định mình
Đề bài
Biết tự khẳng định mình là một đòi hỏi bức thiết đối vói mỗi con người trong cuộc sống hôm nay.
Anh (chị) hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề trên.
Hướng dẫn làm bài:
Đề này đòi hỏi người viết trình bày suy nghĩ về một vấn đề liên quan đến đời sống của mọi cá nhân trong xã hội: vấn đề tự khẳng định mình. Phải tập trung trả lời những câu hỏi: Thế nào là tự khẳng định mình? Khẳng định mình bằng cách nào? Tại sao trong cuộc sống hôm nay, khẳng định mình trở nên một đòi hỏi bức thiết? Có thể có những sai lạc trong việc tìm cách khẳng định mình hay không?
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Khẳng định mình là phát huy cao nhất năng lực, in dấu ấn cá nhân trong môi trường và lĩnh vực hoạt động của mình. Trong cuộc sống, con người không thể tách khỏi mối quan hệ với cộng đồng. Mỗi cá nhân chỉ là một đơn vị trong tổng thể, có ý nghĩa hay không là tuỳ thuộc vào vai trò đối với tổng thể. Khẳng định mình, vì thế, là tự xác định được giá trị của bản thân giữa cộng đồng, là cất lên tiếng nói đầy tự tin: tôi đã có mặt giữa cuộc đời này! Nếu không biết khẳng định mình, con người sẽ bị chìm lẫn vào số đông, mờ mờ như một bản sao, sống theo kiểu tầm gửi, vô vị, nhạt nhẽo.
Ở các thời đại và xã hội khác nhau, con người tự khẳng định mình theo những tiêu chuẩn và lí tưởng không giống nhau. Thời phong kiến, con người bị chi phối bởi lí tưởng trung quân. Những tiêu chuẩn đạo đức thời đó đòi hỏi con người hạn chế tối đa nhu cầu thể hiện bản ngã. Đó là những trở lực không nhỏ ngăn cản việc tự khẳng định mình của mọi người. Ý thức hệ tư sản ra đời, yêu cầu giải phóng cái tôi cá nhân được đặt lên hàng đầu. Nó cho rằng, cá nhân là một giá trị. Cuộc sống con người chỉ thực sự có ý nghĩa khi tự khẳng định được mình. Thậm chí, sự cổ xuý ấy đã có lúc đẩy con người đến cực đoan cá nhân chủ nghĩa: Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất / Không có chi bè bạn nổi cùng Ta (Xuân Diệu).
– Trong thời đại ngày nay, tự khẳng định mình là một yêu cầu bức thiết. Xã hội hiện đại phát triển về nhiều mặt, và ở bất cứ lĩnh vực nào, nó cũng đòi hỏi ở con người khả năng, trình độ cao. Sự cạnh tranh gay gắt về công ăn việc làm khiến con người không thể không cố gắng thể hiện tối đa năng lực của mình. Biếng nhác, thụ động, thiếu tinh thần tự chủ, thiếu sáng tạo đồng nghĩa vói việc tự đào thải. Thời gian qua, một số cơ quan đã tổ chức thi tuyển để chọn nhân sự vào một số vị trí chủ chốt. Trong những cuộc thi sòng phẳng, chiến thắng tất yếu sẽ thuộc về những ai biết cách tự khẳng định mình.
– Muốn khẳng định mình, truớc hết cần có lí tưởng đúng. L. Tolstoi cho rằng: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Có lí tưởng, con ngưòi sẽ hướng mọi hoạt động của mình tới mục đích nhất định, nhờ đó, niềm tin vào những gì tốt đẹp của cuộc sống sẽ trở nên mạnh mẽ hơn.
Khẳng định bản thân là biết đặt kế hoạch rèn luyện để có được những phẩm chất xứng đáng, đáp ứng tốt những yêu cầu của lĩnh vực hoạt động mà mình tham gia, có thể khiến cộng đồng phải tôn trọng. Mọi kết quả đều phụ thuộc vào năng lực của chính mình. Bởi thế, rèn luyện tư duy, bồi đắp năng lực, gắn nhận thức với hành động, sống có trách nhiệm… là con đường tự khẳng định mình phù họp và đúng đắn. Mọi sự chủ quan, ngộ nhận, thiếu căn cứ không phải là sự tự khẳng định mình đúng nghĩa.
Lưu ý. Người viết có thể trình bày vấn đề bắt đầu bằng việc phân tích chính trường hợp cá nhân của mình, cần nêu được cách tự khẳng định phù hợp với điều kiện sống và học tập, lao động của bản thân. | Suy nghĩ của em về câu_ Biết tự khẳng định mình là một đòi hỏi bức thiết đối vói mỗi con người trong cuộc sống hôm nay – Ngữ văn 12 | 823 | |
Suy nghĩ của em về câu: “Lao động ít nhất cũng giúp con người thoát khỏi ba tai hoạ: khổ cực, buồn chán, tội lỗi” – Ngữ Văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận về ý nghĩa của lao động
Đề bài
Anh (chị) hãy viết một bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của mình về câu nói của nhà văn Voltaire: “Lao động ít nhất cũng giúp con người thoát khỏi ba tai hoạ: khổ cực, buồn chán, tội lỗi”.
Hướng dẫn làm bài
Câu nói của nhà văn Voltaire đã nêu ý nghĩa thiết thực của lao động đối với cuộc sống con người. Ý kiến của nhà văn tự nó đã hình thành ba luận điểm rõ ràng. Người viết phải đặt ra những câu hỏi thích hợp: Thế nào là khổ cực. Vì sao lao động có thể giúp con người thoát khỏi khổ cực? Điều kiện nào để con người thoát khỏi khổ cực bằng lao động? Những câu hỏi như thế cũng cần được đặt ra với hai luận điểm: lao động giúp con người thoát khỏi buồn chán; lao động giúp con người thoát khỏi tội lỗi. Phải kết hợp giữa giải thích, chứng minh và bình luận thì bài viết mới có sức thuyết phục.
Bài viết tham khảo:
Trên thế gian này, bất cứ ở quốc gia, dân tộc nào, con người đều tạo lập cuộc sống của mình bằng lao động. Biết bao thành quả vĩ đại được tạo ra xưa nay bởi khối óc và bàn tay lao động kì diệu. Vì thế, với mỗi cá nhân cũng như với cộng đồng, xã hội, lao động là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Suy tư về điều này, Voltaire – đại văn hào Pháp thế kỉ XVII – đã rút ra nhận xét: “Lao động ít nhất cũng giúp con người thoát khỏi ba tai hoạ: khổ cực, buồn chán, tội lỗi”. Với cách diễn đạt rõ ràng, câu nói của Voltaire nêu thẳng vai trò của lao động đối với cuộc sống con người. Ba mối hoạ mà con người có thể tránh được nhờ lao động, theo cách nói của Voltaire, ai cũng có thể trải nghiệm.
Trong những sự khổ cực mà con người phải nếm trải, khổ vì thiếu thốn vật chất là hết sức đáng sợ. Miếng com manh áo bao giờ cũng là nhu cầu tối thiểu. Thiếu chúng, cuộc sống rơi vào thảm cảnh. Muốn thoát khỏi tình trạng đói cơm rách áo, không có con đường nào khác ngoài lao động. Chỉ có lao động mới đem lại của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu về cái ăn, cái mặc, nhu cầu tiêu dùng của con người. Đây là một chân lí hiển nhiên. Cha ông ta từng đúc rút kinh nghiệm này qua ca dao, tục ngữ: ‘“Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”; “Có làm thì mới có ăn / Không dưng ai dễ đem phần đến cho”. Nguyễn Trãi cũng từng chiêm nghiệm “Nên thợ nên thầy vì có học / No ăn no mặc bởi hay làm”.
Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu về mọi mặt của con người cũng ngày càng cao. Giờ đây, con người không chỉ cần được thoả mãn về cái ăn cái mặc…, mà còn cần có các phương tiện vật chất thiết yếu cho sinh hoạt, học tập, làm việc. Một học sinh hiện nay muốn có chiếc laptop để truy cập thông tin, phục vụ cho việc học, không còn là đòi hỏi quá cao. Thiếu những phương tiện ấy, cuộc sống vẫn có thể bị xem là khổ theo quan niệm mới. Để khỏi phải chịu đựng cái khổ của sự thiếu thốn, lchôrig có cách nào khác là phải làm việc kiếm tiền. Như vậy, nếu có một thứ tai hoạ được gọi là “khổ cực”, thì lao động là phương cách duy nhất giúp con người thoát khỏi tai hoạ đó.
Không ít người giàu có, thành đạt hiện nay như Phạm Nhật Vượng – nhà đầu tư bất động sản, Đặng Lê Nguyên Vũ – ông chủ của hãng cà phê Trung Nguyên, hoặc chủ hãng ô tô Trường Hải… đều là những tấm gương mẫu mực về lao động. Chính sự phấn đấu không mệt mỏi của họ đã cho ta bài học: phải làm việc để thoát khỏi khổ cực, đói nghèo, vươn lên cuộc sống khá giả, sung túc.
Không chỉ giúp thoát khỏi đói nghèo, theo Volltaire, lao động còn có khả năng giải toả những buồn chán trong tâm hồn con người.
Buồn vui là trạng thái tâm lí thường tình của con người. Nhưng sự vui buồn nào cũng đều có nguyên cớ sâu xa của nó. Người buồn chán là người cảm thấy mình lạc lõng giữa cộng đồng, thấy cuộc đời không có ý nghĩa, giống như một đời thừa. Thường, đó là tình trạng của những người nhàn rỗi, không biết làm việc gì, chỉ chìm đắm trong những ý nghĩ chán chường, tiêu cực. Liều thuốc hữu hiệu nhất để chữa căn bệnh ấy là lao động. Khi bị cuốn vào công việc, đòi hỏi phải tập trung cao độ, không còn thời gian để nảy sinh những ý nghĩ vẩn vơ nào đó, buồn chán cũng vì thế mà dần dần tiêu tan. Đó là chưa nói, lao động giúp con người trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát, xua tan sự ủ rũ, uể oải vốn là những lí do khiến con người dễ sinh chán nản.
Lao động còn kết nối con người với nhau trong một tập thể, một cộng đồng. Sự giao hoà giữa cá nhân với tập thể trong lao động giúp con người thoát khỏi cô đon, giải toả những nguyên nhân sinh ra sầu muộn. Một nhóm nông dân cày cấy trên đồng, một tốp thợ miệt mài trong xưởng máy, một tập thể viên chức làm việc trong cơ quan…, tất cả họ đều bị cuốn vào công việc chung, mỗi cá nhân trong đó khó mà có khoảnh khắc riêng tư để u buồn, chán nản. Không phải ngẫu nhiên, người nông dân xưa mặc dù sống một đời gian lao, khó nhọc, nhưng qua những vần ca dao, dân ca, ta vẫn thấy toát lên tinh thần lạc quan, yêu đời.
Lao động còn có một ý nghĩa lớn lao: giúp con người thoát khỏi tội lỗi.
Tội lỗi sinh ra hởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là sự lười biếng. Nhiều kẻ do không chịu làm việc mà vẫn muốn ăn ngon mặc đẹp, muốn có đủ mọi thứ, mới nảy sinh nạn cờ bạc, trộm cắp, cướp bóc, lừa đảo. Những câu ngạn ngữ, danh ngôn như: “Ở không là cha mẹ của thói hư tật xấu” hay: “Nhàn cư vi bất thiên” (Nhàn rỗi dễ làm điều xấu) thể hiện quan niệm rất đúng về vai trò của lao động đối với đạo đức con người.
Tuy nhiên, câu nói của Voỉtaire có thể không đúng với mọi trường hợp. Khi con người làm việc mà không được trả công xứng đáng, không được đáp ứng những nhu cầu tối thiểu, thì ba tai hoạ như nhà văn đã nêu vẫn có nguy cơ tồn tại. Ngay ở nước ta hiện nay, không ít người lao động trong các khu chê xuất, khu công nghiệp phải hưởng mức lương rất thấp, cuộc sống của họ chưa thể nói đã thoát khỏi tình trạng túng quẫn. Một số nơi trên thế giới, có những người bị tước đoạt mọi quyền, phải làm việc quần quật như tù khổ sai mà không bao giờ được hưởng thành quả do mình làm ra. Với họ, lao động chẳng những không giúp thoát khỏi khổ cực, buồn chán, mà ngược lại, còn là những cực hình. Và, tội lỗi cũng có thể nảy sinh từ đó.
Câu nói của Voltaire quả là rất đáng suy ngẫm. Là những học sinh chuẩn bị bước vào đời, ta hiểu rằng, tương lai phải được bắt đầu bằng nhận thức và hành, động của chúng ta ngay từ bấy giờ. Mong muốn chính đáng của thế hệ trẻ hôm nay là được học tập, được trang bị những trí thức cần thiết, để ngày mai lập nghiệp bằng chính bàn tay và khối óc của mình. Được lao động và được hưởng thụ xứng đáng thành quả lao động, tạo lập cuộc sống bản thân và góp phần xây dựng đất nước, đó là những gì mà chúng ta cần ra sức phân đâu ngay từ hôm nay. | Suy nghĩ của em về câu_ “Lao động ít nhất cũng giúp con người thoát khỏi ba tai hoạ_ khổ cực, buồn chán, tội lỗi” – Ngữ Văn 12 | 1,442 | |
Suy nghĩ của em về câu: “Sự lười biếng bước đi rất chậm để cái đói nghèo lúc nào cũng đuổi kịp” – Ngữ văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận xã hội về sự lười biếng
Đề bài:
Ngạn ngữ Mĩ có câu: “Sự lười biếng bước đi rất chậm để cái đói nghèo lúc nào cũng đuổi kịp”.
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề trên.
Hướng dẫn làm bài:
Đề bài yêu cầu thí sinh bàn luận, mở rộng vấn đề về mối quan hệ giữa sự lười biếng với đói nghèo – đói nghèo như là hệ quả tất yếu của sự lười biếng, cần trả lòi được các câu hỏi cơ bản: Thế nào là lười biếng? Thế nào là đói nghèo? Câu ngạn ngữ “Sự lười biếng bước đi rất chậm để cái đói nghèo lúc nào cũng đuổi kịp” muốn nói gì? Nguyên nhân của sự lười biếng? Nguyên nhân của đói nghèo? Tác hại của sự lười biếng? Có phải đói nghèo là hệ quả tất yếu của lười biếng? Làm thế nào để khắc phục bệnh lười biếng?
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Xã hội hiện có nhiều loại bệnh nan y có thể cướp đi sinh mạng con người một cách nhanh chóng. Đó là những căn bệnh tàn phá cơ thể con người như bệnh phong, lao, bạch hầu, ung thư,.. Với sự phát triển vượt bậc của ngành y học, những căn bệnh đó đang dần dần được khống chế và loại bỏ. Nhưng có những căn bệnh, tuy không gây chết người ngay lập tức mà lại rất khó chữa trị. Một trong những căn bệnh đó là sự lười biếng.
– Lười biếng là trạng thái thụ động, ngại vận động; là sự kháng cự nội tâm, sự làm việc qua loa hoặc phó mặc mọi thứ, kể cả phó mặc những trách nhiệm và nghĩa vụ mà mình phải thực hiện. Còn đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu, có thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Người lười biếng là những người ngại lao động, làm ít nhưng thích hưởng thụ nhiều, thích dựa vào sự giúp đỡ của kẻ khác, ưa cầu vận may hơn là sự nỗ lực của bản thân. Họ luôn xem thời gian là vô hạn để trì hoãn công việc với nhiều lí do biện hộ. Nói như ngạn ngữ Pháp: “Một tuần lễ với người chăm chỉ có bảy ngày, còn với kẻ lười biếng có bảy ngày mai”.
– Nguyên nhân của sự lười biếng là gì? Lười biếng là một trong những trạng thái bản năng của con người. Những người sống có mục tiêu xác định, có ý chí, quyết tâm để thực hiện mục tiêu sẽ chiến thắng được sự lười biếng. Những người thiếu ý chí, hoài bão, dựa dẫm, ỷ lại sẽ bị bệnh lười biếng thống trị. Ngoài ra, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, máy móc ngày càng hiện đại đã giúp con người ít phải hoạt động hơn, cả về tay chân lẫn trí óc. Nhưng sự phụ thuộc quá nhiều vào máy móc dần dà khiến con người trở nên lười biếng, kém linh hoạt. Trong gia đình hiện đại, cha mẹ thường ưu tiên làm hộ nhiều phần việc của con cái, hoặc có người giúp việc làm hộ để con có thể theo đuổi các lịch học dày đặc. Trong nhà trường, sự phổ biến của mạng internet; tình trạng dạy thêm, học thêm; thói quen lệ thuộc các sách giải bài tập, các bài văn mẫu… Tất cả đã khiến con người trở thành một cỗ máy thụ động, tư duy không được đánh thức dẫn đến cản trở sự sáng tạo.
– Lười biếng là nguyên nhân cơ bản, quan trọng nhất dẫn đến sự nghèo đói của những người khoẻ mạnh, có đầy đủ điều kiện để lao động nhưng không muốn vất vả. Những người này thường có tác phong làm việc lề mề, hay trì hoãn và né tránh những công việc cần làm ngay, không làm nhưng lại thích có thành quả, chờ đợi cơ may tự nhiên tới, đưa ra hàng trăm lí do để trì hoãn hoặc đùn đẩy, trốn tránh công việc… Không những thế, những người biếng làm lại thường ham chơi bời, tiêu xài hoang phí. Cuộc sống của họ, vì vậy rất bấp bênh, trôi nổi. Để duy trì sự sống, người lười biếng buộc phải nghĩ ra những cách làm ăn bất chính. Đây là con đường trực tiếp dẫn họ rơi vào các tệ nạn xã hội, nợ nần chồng chất, thậm chí phạm tội hình sự…
– Lười biếng là một loại vi rút dễ lây nhiễm, là bản năng khó vượt qua, là thói hư tật xấu của con người cần phải sửa đổi. Lười biếng là căn bệnh nan y nhưng không phải không thể chữa trị. Liệu pháp nằm trong ý chí của con người. Ý chí càng tăng, bệnh lười càng bị triệt tiêu, cần tăng cường rèn luyện nghị lực, mài giũa ý chí, xác định rõ ràng mục tiêu của cuộc sống, nuôi dưỡng niềm đam mê trong học tập và lao động, tuân thủ nghiêm ngặt quy định của công việc để bệnh lười biếng không còn chỗ trú ẩn. | Suy nghĩ của em về câu_ “Sự lười biếng bước đi rất chậm để cái đói nghèo lúc nào cũng đuổi kịp” – Ngữ văn 12 | 918 | |
Suy nghĩ của em về câu: “Thà thắp lên một ngọn nến, hơn là nguyền rủa bóng đêm” – Ngữ văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận xã hội về thái độ sống và tinh thần trách nhiệm
Đáp án
“Thà thắp lên một ngọn nến, hơn là nguyền rủa bóng đêm”.
Hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về câu châm ngôn trên.
Hướng dẫn làm bài
Câu châm ngôn này thường được cho là của Eleanor Roosevelt – Đệ nhất phu nhân của Tổng thống Hoa Kì Franklin D. Roosevelt. Tuy nhiên, câu hỏi không đặt ra yêu cầu phải tìm hiểu câu châm ngôn gắn liền với cuộc đời tác giả của nó. Điều cần chú ý ở đây là câu châm ngôn đã đưa ra được thái độ lựa chọn tích cực nên có của con người trong một môi trường sống không được như mong muốn.
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Thông qua cách diễn đạt bóng bẩy, câu châm ngôn nêu lên một gợi ý hay là sự đòi hỏi về một thái độ sống đầy tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân. Ở đây có sự đối lập giữa hai hình ảnh: ngọn nến và bóng đêm; giữa hai lối ứng xử: thắp và nguyền rủa.
– Cuộc sống không phải bao giờ cũng được như ta mơ ước. Không gian, môi trường tồn tại của ta thường vẫn tồn tại nhiều điều không như ý khiến ta phải phiền lòng hay buồn bực, khó chịu. Chuyện này có từ muôn xưa và có lẽ không bao giờ chấm dứt.
– Nguyền rủa bóng đêm, trút giận dữ bằng lời nói vào môi trường sống tệ hại là phản ứng bình thường, quen thuộc của bất cứ ai chưa hay không chịu thoả hiệp với cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, trì trệ. Phản ứng đó, thái độ đó cần được cảm thông, bỏi nó không phải không chứa đựng những yếu tố tích cực. Tuy nhiên, nếu tất cả chỉ dừng lại ở đây thì không khéo ta chỉ làm cho môi trường bị ô nhiễm trầm trọng thêm, do ít nhất nó phải gánh thêm những lời không tốt đẹp (dù những lời đó hướng vào đối tượng nào đi nữa).
– Nguyền rủa suông không làm thay đổi được hoàn cảnh. Rốt cục, nó chỉ chứng tỏ sự bất lực của người nguyền rủa, xét theo quan điểm phát triển. Rõ ràng, đây chưa thể, chưa phải là một sự lựa chọn tối ưu. Người thực sự có bản lĩnh là người biết thực thi những hành động cụ thể để làm thay đổi hoàn cảnh, cải biến nó từng bước một cho tớ khi đạt được kết quả cuối cùng. Tất cả giống như việc thắp một ngọn nến. Một ngọn nến chưa xua được bóng đêm nhưng mỗi người thắp một ngọn nến thì không gian bóng đêm sẽ bị thu hẹp cho đến khi biến mất. Như vậy, mỗi người, ai cũng cố gắng làm một điều gì đó tốt đẹp thì thành tựu đạt được sẽ trở nên lớn lao. Câu châm ngôn không chỉ có ý nghĩa khích lệ những hành động tích cực ở từng cá nhân mà còn ngầm ẩn một lời kêu gọi họp quần, nghĩa là kêu gọi sự chung sức, chung lòng.
{Lưu ý: Trên đây chỉ là những luận điểm khái quảt. Thí sinh cần nêu và phân tích những ví dụ cụ thể, thể hiện sự hiểu biết và tính năng động xã hội của mình.) | Suy nghĩ của em về câu_ “Thà thắp lên một ngọn nến, hơn là nguyền rủa bóng đêm” – Ngữ văn 12 | 599 | |
Suy nghĩ của em về hiến máu nhân đạo – Ngữ Văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận về hiến máu
Đề bài:
“Một giọt máu cho đi, một cuộc đời ở lại”.
Câu khẩu hiệu thường xuất hiện ở những nơi tổ chức hiến máu nhân đạo ấy gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì? (Trình bày trong bài văn khoảng 600 chữ)
Hướng dẫn làm bài
Để làm tốt đề bài này, cần hiểu sự quý giá của máu đối vói cơ thể con người, và đặc biệt là tác dụng to lớn của những giọt máu trong việc cứu người, từ đó, thấy được sự cao cả cũng như cần thiết của hành động hiến máu.
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Cho và nhận là những hành động thường tình của con người trong cuộc sống. Nhưng trong nhiềụ trường hợp, ý nghĩa của việc cho và nhận rất khác nhau, tuỳ vào các yếu tố: vật được cho và nhận, hoàn cảnh của người cho và người nhận, thái độ cũng như hiệu quả của việc cho và nhận… Ngày nay, có một hành động cho được tổ chức khá quy mô và thường xuyên, với sự tham gia của nhiều người, nhất là giớ trẻ, và có sức lan toả rộng rãi trong xã hội. Hành động đó được gọi bằng một cụm từ đầy trân trọng: hiến máu.
– Khi nói một giọt máu cho đi, trước hết, người ta có dụng ý nhấn mạnh đến sự quý giá của máu. Quý như máu được dùng như một thành ngữ, đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Từ xưa đến nay, con người nhận thức rất rõ vai trò của máu đối với sự sống. Máu không ngừng chảy trong huyết quản của mỗi người, duy trì mọi hoạt động của các bộ phận cơ thể. Vì thế, cần nâng niu từng giọt máu.
– Nhưng, điều kì diệu là khi khoa học phát triển, máu có thể được san sẻ từ cơ thể người này sang cơ thể người kia bằng những phương tiện kĩ thuật. Xét từ góc độ của y học cũng như từ góc độ xã hội, nhân văn, hành động hiến máu có ý nghĩa hết sức to lớn. Cuộc đời ở lại là hình ảnh nhằm đề cập đến hiệu quả của việc cho máu: nhờ được nhận máu của người cho mà một bệnh nhân nào đó được cứu sống. Nếu so sánh “một bệnh nhân được cứu sống” với “một cuộc đời ở lại”, ta sẽ thấy cách dùng ngôn ngữ ở câu khẩu hiệu này gợi lên được cảm giác về sự ấm cúng của nhân sinh. Hai từ “ở lại” đã nâng giá trị của việc một bệnh nhân thoát khỏi cái chết để tiếp tục tồn tại trong cộng đồng chúng ta.
– Như vậy, câu khẩu hiệu trên đã nêu được tác dụng to lớn của việc hiến máu nhân đạo. Tác dụng này không chỉ tạo nên bởi tầm vóc của sự kiện, của phong trào, mà còn ở từng trường hợp, gắn vói hành động cho máu cụ thể của mỗi cá nhân. Khi đưa cánh tay ra để nhân viên y tế thao tác lấy máu, ta hiểu rằng, mình đang thực hiện một hành vi cao cả, rất có ý nghĩa, bởi những giọt máu quý giá của ta có thể sẽ cứu được sinh mạng của một bệnh nhân nào đó. Sự ý thức sâu sắc về hành động hiến máu so với việc chỉ làm theo phong trào mà không hiểu mấy về ý nghĩa, chắc chắn rất khác nhau. Bởi, thực tế, nhờ nhận thức về giá trị từng giọt máu của mình đối với việc cứu sống người khác mà không ít người đã tự nguyện hiến máu không chỉ một lần. | Suy nghĩ của em về hiến máu nhân đạo – Ngữ Văn 12 | 642 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em về hình ảnh hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp
Bài làm
Với mỗi chúng ta, ai cũng có những kỷ niệm về miền quê yêu dấu, khi nhớ về quê hương, lòng ta lại bồi hồi xao xuyến thức cùng những hình ảnh thân thuộc, gắn bó in đậm trong ký ức bấy lâu, một giếng nước, một hàng cây hay một góc ao đình… Với nhân vật An-tư-nai trong tác phẩm "Người thầy đầu tiên", nhớ về làng Ku-ku-rêu là cô nhớ về hình ảnh đẹp đẽ: Hai cây phong. Hai cây phong mang đầy ý nghĩa biểu tượng.
Chưa cần xem nội dung lời tả và giới thiệu, chỉ cần nghe giọng kể của An-tư-nai (cô viện sĩ đã trưỏng thành ở Matxcơva) ta đã có thể hiểu được tình cảm trân trọng và yêu quý hai cây phong cũng như cái làng Ku-ku-rêu cổ xưa của cô biết nhưòng nào. Hai cây phong trở thành linh hồn của làng quê, là biểu tượng của quê hương trong cô mà cô lưu giữ bao kỷ niệm tuổi ấu thơ. Điều ấy đã được cô bộc bạch trong tác phẩm "… Tôi cũng không biết giải thích ra sao, – phải chăng người ta vẫn đặc biệt trân trọng, nâng niu những ấn tượng thời thơ ấu… – nhưng cứ mỗi lần về quê, khi xuống xe lửa, đi qua thảo nguyên về làng, tôi đều coi bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cậy phong thân thuộc ấy".
Dù chưa hiểu nguồn gốc gắn bó của nhân vật với hai cây phong nhưng qua lời giới thiệu của An-tư-nai ta cảm nhận sự đồng cảm của nhân vật với hai cây phong thật sâu sắc. Dường như mọi chuyển động của hai cây thực vật này đều được người kể hiểu thấu bằng một trái tim đồng diệu: "Hai cây phong này khác hẳn – chúng có tiếng nói riêng và hẳn phải có một tâm hồn riêng, chan chứa những lời ca êm dịu". Người phụ nữ ấy nghe lá cây lay động mà nghe như "một tiếng thì thầm thiết tha nồng thắm chuyền qua lá cành như một đốm lửa vô hình", lúc lại cảm nhận nó "khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào"… Cảm xúc tinh tế đầy chất thơ ấy là của một tâm hồn giàu chất thơ, một trái tim giàu tình yêu và trí tưởng tượng phong phú.
Sở dĩ hai cây phong đi vào ký ức của nhân vật bởi nó gắn liền với những kỷ niệm tuổi thơ cay đắng và tình yêu thương ấm áp của người thầy truyền cho cô, một tình yêu thương nhân ái vô bờ. Chính vì vậy nhân vật đã tự bộc lộ và cho đến tận nay tôi vẫn thấy hai cây phong trên đồi có một vẻ sinh động khác thường. Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chúng như một mảng vỡ của chiếc gương thần xanh… ".
Hai cây phong nơi ấy chứa bao kỷ niệm của tuổi học trò với những trò chơi thuở nhỏ "Khi bắt đầu nghỉ hè, bọn con trai chạy ào lên đấy phá tổ chim". Song ấn tượng sâu đậm trở thành điểm nhớ về hai cây phong trong ký ức của nhân vật ở đây chính là "thế giới diệu kỳ được mở ra trong tâm hồn trẻ thơ" từ góc nhìn, tầm nhìn mà hai cây phong ấy đem lại.
Trước hết là hai cây phong là điểm tựa để bọn trẻ đua nhau thể hiện ý chí: "Chúng tôi cứ leo lên cao nữa – nào xem ai can đảm và khéo léo hơn ai!". Nhưng thế giới xung quanh mới là điều kinh ngạc và quyến rũ bọn trẻ Chúng tôi cố giương hết tầm mắt nhìn vào nơi xa thẳm biêng biếc của thảo nguyên và nhìn thấy không biết bao nhiêu, bao nhiêu là vùng đất mà trước đây chúng tôi chưa từng biết đến, thấy những con sông mà trước đây chúng tôi chưa từng nghe nói. Những dòng sông lấp lánh tận chân trời như những sợi chỉ bạc mỏng manh… Chúng tôi ngồi nép trên các cành cây, lắng nghe tiếng gió ảo huyền, và tiếng lá cây đáp lại lời gió, thì thầm to nhỏ về những miền đất bí ẩn đầy sức quyến rũ lẩn sau chân trời xa thẳm và biêng biếc kia".
Càng đọc ta càng cảm nhận được chất hoạ sĩ ở người kể chuyện, càng cảm nhận được thế giới "bí ẩn đầy sức quyến rũ" của những miền đất lạ đã thu hút tâm hồn trẻ thơ, đọng lại một khoảng sáng trong tâm hồn cô bé An-tư-nai để khi trưởng thành nỗi nhớ về ký ức tuổi thơ và hình ảnh hai cây phong lại rực lên những hình ảnh lung linh kỳ thú thuở nào để rồi xa quê lêu ngày lòng cô lại thao thức. Và trong cõi sâu thẳm ta hiểu rằng nỗi nhớ và cảm xúc cùng thế giới tuổi thơ vẫn đọng lại nguyên vẹn trong hai cây phong ấy chính là tình yêu quê hương da diết.
Nhưng nguyên nhân sâu xa là ở chỗ hai cây phong là nhân chứng của câu chuyện hết sức xúc động về Đuy-sen, người thầy đầu tiên và cô bé An- tư-nai gần bốn mươi năm về trước. Chính thầy Đuy-sen đã đem hai cây phong về trồng trên đồi cao này cùng với cô bé An-tư-nai và thầy đã gửi gắm ở hai cây phong non ước mơ, hy vọng những đứa trẻ nghèo khổ, thất học như An-tư-nai sau này sẽ lớn lên, ngày càng được mở mang kiến thức và trỏ thành những con người hữu ích.
Hai cây phong chắt chiu nhựa đất cằn trên đồi cao lớn lên và lưu giữ kỷ niệm của bao thế hệ học trò làng Ku-ku-rêu bé nhỏ. Từ câu chuyện về hình ảnh hai cây phong, Ai-ma-tốp gợi lên trong lòng người đọc về cuộc sống tình yêu với quê hương đất nước trong mỗi người – nơi cội nguồn của mỗi cuộc đời – thật giản dị, sâu sắc mà cảm động bởi hình ảnh quê hương được gửi gắm qua hình tượng hai cây phong in đậm trong tâm trí người kể chuyện y nguyên chẳng phai mờ. | Suy nghĩ của em về hình ảnh hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp | 1,086 | |
Suy nghĩ của em về lòng tự trọng
Hướng dẫn
Suy nghĩ của em về lòng tự trọng
Người xưa có câu “Áo rách cốt cách người thương. Thật vậy, câu nói đó vừa nói đến nhân cách cao đẹp của con người dù nghèo vẫn không vì đồng tiền hay điều gì khác làm nhuốm bẩn, làm thay đổi bản chất tốt đẹp của mình. Không những thế, nó còn đề cao lòng tự trọng con người. Bởi, nếu có lòng tự trọng, thì con người sẽ biết yêu quý bản thân hơn, sẽ không vì vật chất, phù du của cuộc sống bon chen này mà thay đổi. Vậy, lòng tự trọng là gì? Lòng tự trọng là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người. Là ý thức luôn giữ gìn phẩm giá, nhân cách của mình, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện ra sao.
Người có lòng tự trọng là người có đạo đức, có nhân cách cao đẹp, là người biết đối nhân xử thế, không vì chút lợi danh mà bán rẻ bản thân hay làm hại đồng loại. Từ bao đời nay, đất nước ta có bao nhiêu anh hùng chống giặc ngoại xâm là có bấy nhiêu tấm gương cao đẹp về lòng tự trọng; không phân biệt đàn ông, đàn bà, không phân biệt người già, trẻ nhỏ. Họ có thể hi sinh bản thân và gia đình vì lòng tự trọng dân tộc mà không bán đứng đồng đội, đất nước như thời xưa có Hai Bà Trưng, có anh hùng Nguyễn Huệ, thời hiện đại hơn có Bác Hồ, chị Võ Thị Sáu. Ngoài ra, còn không biết bao nhiêu tấm gương vô danh khác. Muốn trở thành người có lòng tự trọng không khó, nhưng cũng không dễ dàng.
Giữ lòng tự trọng không phải là 1 việc dễ. Lòng tự trọng là phẩm chất căn bản mỗi người cần có; lòng tự trọng còn là điều thiết thực đêax hội càng thêm văn minh, hiện đại. Bên cạnh đó, tự trọng còn là sống trung thực, dám nhận sai và sống trách nhiệm. Phải hết mình vì công việc, cố gắng học tập tốt cũng chính là tự trọng. Dù có bị điểm kém, tụt hạng trong thành tích vẫn nhất quyết không copy bài bạn hay sử dụng phao, đó cũng chính là lòng tự trọng. Có sai dám nhận, đứng lên từ nơi mình gục ngã để đấu tranh với cái xấu, cái sai, đó cũng chính là biểu hiện của lòng tự trọng. Một tiếng xin lỗi dù khó nói đến đâu thì khi đặt đúng nơi đúng lúc cũng sẽ tỏ rõ bạn có lòng tự trọng như thế nào. Lòng tự trọng tiềm ẩn trong hành động và lời nói của bạn. Đừng vì một phút giây suy nghĩ lệch lạc nào mà đánh mất đi lòng tự trọng của chính mình đã xây dựng từ lâu.
Tự trọng trong thời chiến đồng hành với sự bất khuất, kiên trung với đất nước, dân tộc hay người ta gọi là tự trọng dân tộc. Từ xưa, ông bà ta đã dần đúc kết kinh nghiệm trong các câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn… Để lưu truyền cho thế hệ mai sau. Việc giữ gìn lòng tự trọng cũng không ngoại lệ. “Giấy rách phải giữ lấy lề “Đói cho sạch, rách cho thơm “Miếng ăn quá khẩu thành tanh “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng Lòng tự trọng mới nghe tưởng như đơn giản, nhưng thực sự rất quan trọng trong cuộc sống mỗi người chúng ta. Đừng để bản thân mình phải mất đi lòng tự trọng vì vật chất, phù du của cuộc đời này.
Lòng tự trọng như báu vật của mỗi người. Nó là giá trị tiềm ẩn của con người, có sự liên đới với các phẩm chất khác. Nếu bạn đánh mất nó đồng nghĩa bạn đã đánh mất đi bản thân của mình, mất đi giá trị cốt lõi mà khó khăn lắm mỗi người chúng ta mới có thể xây dựng được. Ngày nay, khi đất nước nào cũng theo xu thế toàn cầu hóa, các nền văn hóa hòa nhập, trao đổi lẫn nhau, thì những phẩm chất truyền thống càng dễ bị mai một. | Suy nghĩ của em về lòng tự trọng | 721 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em về lối sống của các bạn trẻ trong xã hội hiện nay
Bài làm
Chúng ta lọt lòng mẹ, đón chào ánh bình minh trên cõi đời. Chúng ta được nuôi nấng, học hành, vui chơi. Chúng ta được thương yêu, vỗ về, an ủi. Chúng ta lớn lên dần trên hình hài tổ quốc. Chúng ta được tổ quốc che chở
Chúng ta được đồng bào cưu mang. Chúng ta nhận hết những ưu ái, đặc ân của cuộc sống ban tặng. Ta có bao giờ tự hỏi: “Mình đã sống như thế nào?”. Đã bao giờ ta tự vấn: “Người sống với người như thế nào chưa?”.
“Cuộc sống đã cho em bao ước mơ màu hồng, cho em bao khát vọng và tình yêu mênh mông”. Khúc hát yêu cuộc sống vang lên trong một ngôi trường. Cuộc sống cho chúng ta nhiều thứ, tưởng chừng mỗi cá nhân đều không thể có nếu cứ lấy mọi thứ trong tâm tưởng chủ quan. Cuộc sống là một chất liệu thô và cần bàn tay họa sĩ nhào nặn nó. Cuộc sống sẽ trở thành một tuyệt tác hay biến thành một tác phẩm thô kệch, đều là do chúng ta, con người là nghệ sĩ. Cuộc sống cho ta yêu thương và tình yêu thương nếu chúng ta viết vẽ nên cuộc sống bằng tình yêu nhân loại.
Suy nghĩ của em về lối sống của các bạn trẻ trong xã hội hiện nay
Một cuộc điều tra mối quan hệ giữa các sinh vật với nhau, khi hỏi đất, đất sống với đất như thế nào, đất bảo đất tôn cao nhau. Đất tôn cao nhau để làm nên những ngọn núi, như đỉnh Phan Xi Păng – nóc nhà Đông Dương. Kikimajaro, ngọn núi cao nhất Châu Phi, hay cả Everest, nóc nhà thế giới. Đất tôn cao nhau để sống, để sinh tồn, và những ngọn núi trẻ ngày càng cao thêm mỗi năm. Khi hỏi nước sống với nước như thế nào, nước bảo: “Chúng tôi lấp đầy nhau”. Nước làm đầy nhau, lấy đi những khoảnh vực sâu thẳm, cung cấp chất khoáng cho cây trồng, và nước làm nên bốn Đại dương, chiếm ba phần tư quả địa cầu. Khi hỏi cỏ sống với nhau như thế nào, cỏ ôn tồn trả lời: “Chúng tôi đan vào nhau”. Những ngọn cỏ sống không chỉ một mình, những lùm cỏ đan vào nhau. Làm nên những chân trời, những thảo nguyên bạt ngàn vùng Ca-dắc-xtan, những khu vườn quốc gia, khu rừng Amazon vĩ đại. Có sống đan xen vào nhau, cỏ mới tồn tại và sinh sôi, cỏ mới có chỗ đứng trên thế giới này, Khi hỏi người, người sống với người như thế nào, người vẫn chưa có câu trả lời. Có chăng người không tự tin nói về lối sống của mình? Loài người cần sống yêu thương, tương trợ lẫn nhau, nhưng vẫn chưa yêu thương, tương trợ lẫn nhau.
“Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời
Con người muốn sống con ơi
Phải yêu đồng chí yêu người anh em
Một ngôi sao chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín chẳng nên mùa vàng
Một người đâu phải nhân gian
Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi.
(Tiếng ru – Tố Hữu)
Một người không thể làm nên một xã hội to lớn. Một người chỉ là một tế bào của xã hội mà thôi. Một người nghĩ chỉ cần anh ta trên cõi đời là đủ để sống, nhưng anh ơi, anh có thể ăn được những hạt cơm trắng ngần bao mùa lúa khổ đau, anh có được yêu thương và che chở, anh có được chăm sóc và nâng niu hay không? Chính xã hội mới làm cho cá nhân đứng vững trong cuộc sống, cá nhân mới phát huy hết năng lực bản thân để làm nên cái “tôi” riêng, cá tính, phong cách riêng. “Sống không thể tự nó mà có, nó được hình thành từ những cơn sóng trên bề mặt đại dương. Con người cũng thế, không ai có thể sống lẻ loi trên đời này một mình cả. Ngược lại chúng ta cần phải sống hòa đồng với xã hội, để được tương trợ và khoan dung”. Để sống, con người phải yêu thương nhau.
Cái cây yêu khu rừng, bông hoa yêu vườn cảnh, thú yêu chim… và có thể mèo yêu hải cẩu? Mọi thứ đều có thể xảy ra. Có ai đã từng đọc qua “Chuyện con mèo dạy hải âu bay”. Một câu chuyện đầy lòng thương yêu và trắc ẩn. Một con mèo đã ấp trứng chim hải âu, chờ nó nở, nuôi nấng nó, và dạy nó bay. Có thật không, mèo dạy hải âu bay? Đó chính là sự thương yêu những loài khác mình, mặc dầu biết là rất khó, nhưng con mèo đen mập ú đã làm được. Những loài động vật khác nhau lại có thể yêu thương nhau huống chi loài người chúng ta, cùng là “đồng bào”, cùng sống trên một đất nước, một hành tinh trái đất.
“Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người với người sống để yêu nhau”
(Tố Hữu)
Tình yêu thương con người, không gì đẹp bằng tình yêu thương con người! Tình yêu thương làm cuộc sống chúng ta tràn ngập lòng tin yêu và vị tha. Tình yêu thương giúp ta vượt qua những đắng cay của cuộc đời. Người yêu người, ai nấy cũng đều nhận được điều gì đó, một điều mà những con người máu lạnh không có được đó là tình thương yêu. Nó lấp đầy bản thân, lấp đầy cuộc sống.
Con người cần tình yêu thương để sống một cuộc sống thật sự, nhưng những con người máu lạnh vẫn tiếp tục phá đi công trình yêu thương, tương trợ suốt bốn ngàn năm của Việt Nam ta. Những “thương người như thể thương thân”. “Lá làm đùm lá rách”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” đâu hết rồi, thay vào đó là những ân oán, hận thù, ganh ghét, hận thù mà ngày nay, năm nay, năm 2010, tình hình thế giới vẫn chưa ổn định. Và bây giờ giới trẻ ngày càng làm lạnh máu mình đi hay sao, mà lại có những hành vi bạo lực học đường, chém giết lẫn nhau, thờ ơ trước những mảnh đời bất hạnh. Từ một cuộc chém giết tại trường Trung học cơ sở Tân Bình đến cả những video clip nữ học sinh đánh nhau bị tung lên mạng, gây nhiều dư luận phản đối. Rồi có cả một cô gái ném những chú cún con vào vòng xoáy con sông. Tính người của họ đâu mất tiêu rồi, hay họ chỉ chờ thời cơ để ăn thịt đồng loại? Tính “con” đã át hẳn tính “người” rồi! Ôi, bạn Hào Anh, một nạn nhân của sự bóc lột hành hạ trẻ em đã phải chịu biết bao cực hình của hai vợ chồng Giang Thơm để có tiền phụ giúp gia đình. Bạn đã sống như chết. Những việc làm của hai vợ chồng này vô cùng độc ác, man rợ, bất nhân. Không biết có từ nào có thể nói đến họ, một lũ vô lương tâm! Lại đến những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã tàn sát hàng ngàn người dân vô tội sống trong vùng chiến tranh. Lòng tham không đáy đã làm cho hai thành phố Hirosima và Nawasaki trở thành bình địa khi nhận hai quả bom nguyên tử do Mỹ chế tạo. Rồi thế chiến thứ Nhất đã tàn sát vô số người, trong đó có cô bé người Do Thái Anne Frank, gia đình cô phải sống trong một khu nhà bí mật suốt hơn hai năm. Cuốn nhật ký của Anna Frank đã gây dư luận suốt từ khi xuất bản năm 1946 đến tận nay.
Thế chiến đã lấy đi cuộc sống vốn đang bình yên của họ. Người Do Thái còn bị đối xử như những loài gia súc, gia cầm, quân quán phiệt phát xít Đức thấy người Do Thái là thẳng tay giết chết! Rồi đến sự phân biệt chủng tộc khủng khiếp nhất trên thế giới, chế độ A-pác-thai đã đẩy người da đen xuống vực sâu của cái chết, bởi họ chẳng được một cái quyền gì cả. Một công viên ở Nam Phi, ngoài cổng công viên có dòng chữ “Nơi đây chỉ dành cho người da trắng, trừ chó và người da đen”! Người da trắng xem người da đen tệ hơn loài chó! Và bây giờ, ai có thể khẳng định chế độ phân biệt chủng tộc ngày nay đã hoàn toàn biến mất?? Giới trẻ ngày nay chỉ nghĩ cho bản thân mình mà quên đi người khác, không quan tâm đến những gì xung quanh. Công nghệ thông tin đã thay thế cho những tình cảm thuần túy nhất, biến con người thành một thứ đồ vật vô cảm.
Nhưng cuộc sống vẫn còn nhiều người biết quan tâm và yêu thương mọi người. Ta không thể kể đến những tấm lòng hảo tâm của nhiều mạnh thường quân đã đóng góp của cải vật chất để cải thiện cuộc sống những người nghèo khổ và neo đơn. Ta ca ngợi những con người dám đứng lên đòi lại công bằng cho loài người, toàn thể loài người, những nhà Nobel hòa bình đã hết sức mình giúp đỡ những nạn nhân của chiến tranh và bệnh tật ở các nước nghèo trên Châu Phi, Châu lục nghèo nhất thế giới. Những đứa trẻ Châu Phi phải gánh chịu những hậu quả trầm trọng của nạn đói, xung đột vũ trang. Một bài thơ gửi người da trắng của em bé Châu Phi có viết:
“Khi sinh ra, tôi màu đen
Khi tôi lớn lên, tôi màu đen
Khi tôi đi dưới nắng tôi màu đen
Khi tôi bệnh, tôi màu đen
Và khi tôi chết tôi vẫn màu đen
Còn bạn hỡi người da trắng
Khi bạn sinh ra bạn màu hồng
Khi bạn lớn lên bạn màu trắng
Khi bạn đi dưới nắng bạn màu đỏ
Khi bạn lạnh bạn màu xanh
Khi bạn bệnh bạn màu xanh (lục)
Và khi bạn chết bạn màu xám
Thế mà bạn gọi tôi là da màu ư???”
Hồ Chí Minh, vị Cha già của dân tộc Việt Nam ta đã ra đi nhưng Người vẫn sống, vẫn sống mãnh liệt trong trái tim mỗi con người. Bởi lúc Người còn sống, Người đã dành trọn tình yêu thương cho cả đất nước đang gặp gian khó.
“Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”
“Bác ơi tim bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”
“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ lụa tặng già”
Chúng ta đang sống trên cùng một hành tinh xanh, chúng ta đang sống giữa cộng đồng, xã hội, chúng ta đang từng ngày phát triển, đồng thời ta phải yêu thương và tương trợ lẫn nhau, làm cho mọi người cùng đi lên theo tốc độ công nghiệp hóa của đất nước. Rồi sẽ một ngày ta như những công dân Hoa Kỳ. Việt Nam phát triển như Anh, Pháp, Úc, chúng ta chỉ đạt được khi chúng ta giũ vững những truyền thống tốt đẹp ngàn đời:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Và khi được ai đó hỏi rằng: “Người sống với người như thế nào?”, ta có thể tự tin mà nói rằng:
“Người sống với người bằng tình yêu thương”! | Suy nghĩ của em về lối sống của các bạn trẻ trong xã hội hiện nay | 1,952 | |
Suy nghĩ của em về mục đích học của học sinh hiện nay – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Suy nghĩ về mục đích học
Bài làm
Khi bước chân vào lớp một, chúng ta thường chỉ có suy nghĩ đơn giản: Học để được điểm chín, điểm mười, để về nhà được bố mẹ khen thưởng. Nhưng khi lớn dần, học cao lên, khó đi, mỗi chúng ta dù có ý thức hay vô thức, đều tự xác định cho mình mục đích của việc học, để từ đó có cơ sở phấn đấu vươn lên. Vậy, mục đích học tập như thế nào là đúng?
Trước nhất, học là để hiểu biết, để có tri thức. Một đứa trẻ, từ chưa biết gì đến trường học được học chữ, biết được vì sao Trái Đất quay quanh Mặt Trời, hiểu được lịch sử phát triển “ngàn năm văn hiến” của đất nước. Đứa trẻ ấy sẽ biết được rằng, bể tri thức của con người thật bao la, rộng lớn biết bao, sẽ càng hăng say học tập, tìm hiểu để trở thành con người có ích.
Mục đích trước mắt, thực tế nhất là học để sau này ra ngoài xã hội có thể kiếm được việc làm tốt, có thể tự lập, tự nuôi sống bản thân mình mà không phải dựa vào người khác. Chúng ta bằng chính công sức, chính tri thức mà mình học được từ trong nhà trường và trong cuộc sống, làm giàu cho chính mình và cũng là làm giàu cho xã hội.
Cuối cùng, học là để hoà nhập. Việt Nam đã gia nhập WTO. Trên con đường hội nhập và giao lưu với thế giới, chúng ta rất cần những thế hộ trẻ có hiểu biết, có đạo đức. Trong Thư gửi các học sinh, Bác Hồ đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Tuy nhiên, bên cạnh những bạn xác định được mục đích học tập rõ ràng, đúng đắn, thì vẫn còn một số bạn học sinh vẫn còn có những suy nghĩ lệch lạc.
Có nhiều bạn học là để được điểm cao, để thi đỗ vào trường chuyên, lớp chọn. Mục đích này xét cho cùng, cũng là điều dễ hiểu. Đã là người học sinh, đến trường đi học, hẳn ai cũng muốn được điểm cao, được là học sinh giỏi. Nhưng nếu chỉ có vậy thôi thì chưa đủ. Các bạn ấy có lẽ còn chưa hiểu rõ câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lại có một số bạn, học vì áp lực của cha mẹ, thầy cô. Có những bạn, cho dù sức học chỉ thuộc loại trung bình nhưng để làm “bố mẹ nở mày nở mặt phải cố gắng thi vào trường chuyên, vào trường đại học có “thương hiệu”. Trường đại học không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công. Nhiều phụ huynh không hiểu được điều này, vô hình trung tạo sức ép rất lớn đối với con cái hoặc dẫn tới những hiện tượng tiêu cực như chạy điểm, chạy trường.
Những suy nghĩ sai lệch đó của các bạn dẫn tới tình trạng học mà chạy theo điểm số. Điểm chỉ có thể đánh giá được tình hình hiện tại của bạn, mà không đánh giá được cả quá trình. Nếu các bạn không nhận thức được đầy đủ thì kết quả học tập không thể tốt và do đó sẽ không có tương lai tốt đẹp.
Mọi con đường đều có đích đến và việc học cũng vậy. Nếu xác định đúng mục đích, việc học tập của bạn sẽ dễ dàng hơn và đạt kết quả tốt hơn. Mục đích của bạn hiện giờ là gì? Nếu đúng, hãy tiếp tục phát huy. Nếu sai, bạn hãy sửa lại. Muộn còn hơn là không bao giờ.
Phạm Lê Ngọc Anh
(Trường THCS Giảng Võ)
>> Xem thêm Về vấn đề nước sạch ở nước ta trong cuộc sống hiện nay tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Suy nghĩ về mục đích học | Suy nghĩ của em về mục đích học của học sinh hiện nay – Bài văn hay lớp 8 | 713 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố
Bài làm
Chị Dậu phải dứt tình “bán con gái đầu lòng cùng đàn chó” để nộp sưu cho chồng, nào ngờ chị còn phải đóng thêm một suất sưu của chú Hợi- em chồng đã chết từ năm ngoái. Anh Dậu vẫn bị trói, đánh cho chết đi sống lại nhiều lần và bọn chúng đem trả cho chị Dậu trong tình cảnh “thập tử nhất sinh”. Sáng hôm sau, vừa tỉnh lại một lát, run rẩy vừa kề bát cháo đến miệng thì bọn cai lệ, người nhà lý trưởng hùng hổ xông vào định trói anh Dậu giải ra đình. anh hốt hoảng “lăn đùng ra không nói được câu gì”.
Trong những lần chống trả lại thế lực đen tối của xã hội, đây là lần chống trả quyết liệt nhất. Một mình chị đánh trả lại cả một bọn “đầu trâu mặt ngựa”, “tay thước, tay đao”. Sức mạnh của lòng căm thù, tình yêu thương chồng tha thiết đã tiếp thêm nghị lực cho chị để chị chiến thắng kẻ thù áp bức chị.
Hình ảnh chị Dậu trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” trong tiểu thuyết Tắt đèn đã làm sáng tỏ điều đó. Phải thấy rõ rằng chị Dậu là một phụ nữ rất yêu thương chồng. Trong hoàn cảnh chồng bị đau ốm, vừa tỉnh lại đã bị cai lệ và người nhà lý trưởng đến bắt, tình thế hiểm nguy, tính mạng chồng bị đe doạ chị đã hết lời van xin “hai ông làm phúc nói với ông lý cho cháu khất”. Chị tự kiềm chế, nín chịu, dằn lòng xuống để cầu khẩn thiết tha: “Xin ông dừng lại, cháu van ông, ông tha cho, …” nhưng bọn chúng không chút động lòng, một mực không buông tha, chạy sầm sập đến trói anh Dậu.
Tức quá, không thể chịu được nữa, chị Dậu liều mạng cự lại: “chồng tôi đau ốm không được phép hành hạ”. Tình thế ấy buộc người đàn bà quê mùa, hiền lành như chị Dậu phải hành động để bào vệ tính mạng chồng, bảo vệ cuộc sống của chính mình và các con. Chị dùng lí lẽ đanh thép để cự lại, cách xưng hô đã thay đổi, tỏ thái độ ngang hàng, kiên quyết sau khi đã chịu đựng, nhẫn nhục đến cùng. Bị dồn vào thế chân tường, không còn con đường nào khác, chị phải đánh trả lại bọn chúng – cai lệ và người nhà lí trưởng.
Cái tát giáng vào mặt chị như lửa đổ thêm dầu, làm bừng lên ngọn lửa căn hờn, chị nghiến hai hàm răng: “ Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Chị vụt đứng lên trong tư thế của kẻ đầy tự tin, chị “túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa… “ làm hco hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất. Khi người nhà lí trưởng bước đến giơ gậy chực đánh, nhanh như cắt, chị Dậu nắm lấy gậy hắn, chỉ hai bàn tay không, người đàn bà con mọn ấy đứng thẳng dậy tuyên chiến với kẻ thù. Một trận đấu không cân sức nhưng chị đã chiến thắng bằng chính sức mạnh của tình yêu và lòng căn thù “chị túm lấy tóc, lẳng một cái làm cho nó ngã nhào ra thềm”.
Hành động của chị Dậu tuy bột phát nhưng nó phản ánh một quy luật của cuộc sống “Tức nước vỡ bờ – có áp bức, có đấu tranh”. Chị Dậu vốn là người đàn bà nhu mì, hiền lành, chưa hề gây gổ để làm mất lòng ai nhưng với kẻ thù chị đã tỏ ra quyết liệt: “Thà ngồi tù chứ để cho chúng làm tình làm tội mãi, tôi không chịu được”.
Trong tình cảnh bị áp bức quá sức chịu đựng, chị đã đứng dậy chống lại thế lực thống trị, áp bức tàn bạo, giành lại quyền sống. Cho dù sự phản kháng ấy hoàn toàn là sự đấu tranh tự phát, chưa giải quyết được tận cùng những mâu thuẩn đối kháng để rồi cuối cùng chị Dậu vẫn phải “chạy ra ngoài trời, trời tối như mực, như cái tiền đồ của chị Dậu” (Đoạn cuối tác phẩm).
Đoạn trích này miêu tả lại cảnh chị Dậu đánh lại tên cai lệ và người nhà lí trưởng, dám chống lại kẻ ác vẫn khiến cho người đọc hả hê.
Có thể nói, Ngô Tất Tố qua cách miêu tả thái độ phản kháng quyết liệt của nhân vật chị Dậu, nhà văn đã khẳng định sức mạnh phản kháng của người nông dân bị áp bức là tất yếu. Từ đó góp phần thổi bùng lên ngọn lủa đấu tranh cách mạng của người nông dân ta chống lại kẻ thù xâm lược và tay sai phong kiến sau này nhất là tư khi có Đảng lãnh đạo mà trong “Tắt đèn” chưa có ánh sáng của Đảng rọi chiếu.
Ngô Tất Tố chưa miêu tả những người đã giác ngộ mà chỉ mới miêu tả quá trình phát triển từ chỗ bị áp bức đến chỗ hành động tự phát nhưng ông đã hé mở cho thấy được tính quy luật trong sự phát triển của hiện thực xã hội Việt nam. | Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố | 906 | |
Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ
Hướng dẫn
Đề bài: Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu trong đoạn văn Tức nước vỡ bờ…trích từ tác phẩm Tắt đèn.
Bài làm
Trào lưu hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà. Chúng ta khó có thể quên các tên tuổi lớn như Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… và đặc biệt là Ngô Tất Tố – tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Tắt đèn. Lần đầu tiên, ông đã đưa vào văn học hình ảnh một người phụ nữ nông dân Việt Nam với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp. Đoạn văn Tức nước vỡ bờ thể hiện chân thực và sinh động vẻ đẹp của nhân vật chị Dậu, một phụ nữ yêu chồng, thương con, giàu đức hi sinh và có tinh thần phản kháng mãnh liệt.
Mở đầu đoạn trích là cảnh chị Dậu chăm sóc người chồng ốm yếu vừa bị bọn cường hào đánh đập thừa chết thiếu sống chỉ vì chưa có tiền nộp sưu. Chị Dậu đã cố sức xoay xỏa để cứu chồng ra khỏi cảnh bị cùm trói và hành hạ dã man. Chị tất tả chạy ngược chạy xuôi, vay được nắm gạo nấu nồi cháo loãng. Cảm động thay là cảnh chị Dậu múc cháo ra mấy cái bát cũ kĩ, sứt mẻ và quạt lia quạt lịa cho cháo mau nguội rồi ân cần mời mọc: Thầy em cố dậy húp tí cháo cho đỡ xót ruột. Trong ánh mắt người vợ nghèo khổ ấy toát lên một tình thương yêu chồng tha thiết.
Trong cơn quẫn bách của mùa sưu thuế, chị Dậu đã trở thành trụ cột của cái gia đình khốn khổ. Chồng bị bắt, bị gông cùm, đánh đập, một tay chị chèo chống, chạy vạy, phải bán tất cả những gì có thể bán được, kể cả đứa con gái đầu lòng ngoan ngoãn, hiếu thảo mà chị thương đứt ruột để lấy tiền nộp sưu, cứu chồng khỏi vòng tù tội. Chị đã phải đổ bao mồ hôi nước mắt để anh Dậu được trả tự do trong tình trạng tưởng như chỉ còn là một cái xác không hồn. Chính tình yêu thương, lo lắng cho chồng đã dẫn chị đến hành động chống trả quyết liệt lũ tay sai tàn ác khi chúng nhẫn tâm bắt trói anh Dậu một lần nữa.
Hành động của chị Dậu không phải diễn ra một cách bất ngờ mà cái mầm mống phản kháng đã ẩn chứa từ lâu dưới vẻ ngoài cam chịu, nhẫn nhục. Sự chịu đựng kéo dài và sự áp bức tột độ đã khiến nó bùng lên dữ dội.
Lúc bọn đầu trâu mặt ngựa ập vào định lôi anh Dậu đi nhưng chưa hành hung mà chỉ chửi bới, mỉa mai thì chị Dậu tuy giận nhưng vẫn nhẫn nhục van xin tên cai lệ độc ác: Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho! Cách xưng hô của chị là cách xưng hô của kẻ dưới với người trên, biểu hiện sự nhún mình. Lúc bọn chúng sầm sập chạy đến chỗ anh Dậu, định trói anh một lần nữa, chị Dậu đã xám mặt nhưng vẫn cố chịu đựng, níu tay tên cai lệ, năn nỉ: Cháu xin ông. Những lời nói và hành động ấy của chị chỉ nhằm mục đích bảo vệ chồng.
Đến khi giới hạn của sự chịu đựng bị phá vỡ thì tính cách, phẩm chất của chị Dậu mới bộc lộ đầy đủ. Tên cai lệ không thèm nghe chị. Hắn đấm vào ngực chị và cứ sấn đến trói anh Dậu. Chị Dậu đã chống cự lại. Sự bùng nổ tính cách của chị Dậu là kết quả tất yếu của cả một quá trình chịu đựng lâu dài trước áp lực của sự tàn ác, bất công. Nó đúng với quy luật: Có áp bức, có đấu tranh. Người đọc xót thương một chị Dậu phải hạ mình van xin bao nhiêu thì càng đồng tình, nể phục một chị Dậu đáo để, quyết liệt bấy nhiêu. Từ vị thế của kẻ dưới: Cháu van ông…, chị Dậu thoắt nâng mình lên ngang hàng với kẻ xưa nay vẫn đè đầu cười cổ mình: Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ. Câu nói cứng rắn mà vẫn có đủ tình, đủ lí. Nhưng cái ác thường không biết chùn tay. Tên cai lệ cứ sấn tới đánh chị và nhảy vào định lôi anh Dậu. Tức thì, sau lời cảnh cáo đanh thép của kẻ trên đối với kẻ dưới: Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem! là hành động phản kháng dữ dội: Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xồ đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng queo trên mặt đất… Còn tên người nhà lí trưởng kết cục cũng bị chị Dậu túm tóc, lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm.
Tuy vậy, hành động phản kháng của chị Dậu hoàn toàn mang tính manh động, tự phát. Đó mới chỉ là cái thế tức nước vỡ bờ của một cá nhân mà chưa phải là cái thế của một giai cấp, một dân tộc vùng lên phá tan xiềng xích áp bức bất công. Có áp bức, có đấu tranh, áp bức càng nhiều thì đấu tranh càng quyết liệt và hành động của chị Dậu đã chứng minh cho chân lí ấy.
Đoạn trích Tức nước vỡ bờ là một trong những đoạn hay của tác phẩm Tắt đèn. Nhà văn Ngô Tất Tố đã dành cho nhân vật chính là chị Dậu tình cảm yêu thương, thông cảm và trân trọng. Những tình tiết sinh động và đầy kịch tính trong đoạn trích đã góp phần hoàn thiện tính cách người phụ nữ nông dân đẹp người, đẹp nết.
Theo: Thái Bảo | Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ | 1,033 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em về nhân vật Lục Vân Tiên Trong đoạn trích "Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga"
Bài làm
Đoạn trích là một trong những đoạn thơ hay nhất của tác phẩm,tiêu biểu cho bút pháp tự sư của Nguyễn Đình Chiểu.Nhân vật Lục Vân Tiên được khắc hoạ thành mẫu người anh hùng lý tưởng tuyệt đẹp:giàu lòng thương người, dũng cảm và nghiã hiệp.
Bản tính anh hùng nghĩa hiệp là đức tính tốt đẹp nhất của Vân Tiên.Từ giã thầy chàng hăm hở xuống núi về kinh đô ứng thí.Trên lộ trình gian nan ấy chàng bất ngờ gặp cảnh dân dắt díu nhau chạy loạn,kêu khóc thảm thương,chàng hứa:
Tôi xin ra sức anh hào
Cứu người cho khỏi lao đao buổi này.
Căm giận lũ bất lương,Vân Tiên sôi sục lên án hành động dã man của chúng. Chàng đứng về phía nhân dân,phía người bị nạn, bẻ cây làm gậy xông thẳng vào bọn cướp Phong Lai hung dữ:
Kêu rằng:Bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.
Đạo lý thương người như thể thương thân, thấm nhuần và toả rạng trong hành động của Vân Tiên.Tình thương người đã nâng cao chí khí và lòng dũng cảm cho chàng thư sinh họ Lục.Bọn cướp đông đặc,gươm giáo sáng ngời,bừng bừng sát khí.Còn Vân Tiên chỉ có một vũ khí thô sơ “cây gậy bên đàng ”.Thế mà trong cuộc chiến không cân sức ấy:
Vân Tiên tả đột hữu xông
Khác nào Triệu Tử mở vòng Đương Dương.
Không tả tỉ mỉ trận chiến,chỉ bằng mấy dòng thơ ngắn gọn mà đặc sắc cùng nghệ thuật so sánh, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh một dũng tướng đánh nhanh,kín võ, sánh ngang Triệụ Tử Long thời Tam Quốc trong trận phá vây quân Tào bảo vệ ấu chúa.Việc làm của Vân Tiên cao đẹp hơn bởi nó xuất phát từ lòng nhân từ,từ tư tưởng cứu dân diệt ác nên giản dị, vô tư mà trong sáng, cao đẹp vô cùng.Cuộc chiến của chàng giống hệt thuở xưa Thạch Sanh diệt đại bàng cứu nàng công chúa. Sức mạnh của chàng là kết tinh sức mạnh của nhân dân,của điều thiện nên nó vô địch:
Lâu la bốn phía vỡ tan
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay
Phong Lai trở chẳng kịp tay
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Lời thơ chân chất,thô mộc song hồn thơ thì chan chứa dạt dào.Nó nêu bật một chân lý:kẻ bất nhân độc ác thì thảm bại,người anh hùng làm việc nghĩa sẽ chiến thắng.
Tự nguyện dấn thân vào nguy hiểm,chiến đấu hết mình, thắng lợi rực rỡ…Tất cả đều vì nhân nghĩa,nên sau thắng lợi Vân Tiên không hề kiêu ngạo.Trái lại chàng thật khiêm nhường,chính trực,chân thành mà dung dị.Cuộc kỳ ngộ giữa người đẹp và trang anh hùng diễn ra thật cảm động.Nguyệt Nga tha thiết muốn mời chàng hiệp sĩ qua miền Hà Khê để nàng báo đức thù công, “ Vân Tiên nghe nói liền cười” –nụ cười đáng yêu đáng kính của một tâm hồn vô tư hào hiệp.Chàng cười bởi chàng quan niệm:
Làm ơn há dễ trong người trả ơn
Nay đà rõ đặng nguồn cơn
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
Đúng là giọng nói, cách nói của chàng trai Nam Bộ –nôm na,giản dị mà chất phác vô cùng.Đằng sau những lời giản dị ấy là ngọt ngào, thơm thảo một quan niệm nhân sinh,một tấm lòng nhân ái, hào hiệp.Với chàng,ơn nghĩa là việc thông thường của người sống có văn hoá,đang theo đòi kinh sử,hướng về nghĩa khí, lấy chữ nhân làm động cơ,làm mục đích cho mọi hành động.Chàng hành động vì lòng nhân,vì nghĩa lớn,trừ kẻ ác, bảo vệ người lương thiện.Chàng quan niệm:
Nhớ câu kiến ngãi bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
Lời nói chắc nịch vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường vừa đẻ khẳng định việc làm đúng đắn,tất yếu thuộc căn cốt, gốc rễ trong lẽ sống của mình.Đó là lẽ sống của những hiền nhân quân tử thời xưa,của con người chân chính ngày nay.Lời nói và nhân cách của chàng giống người anh hùng Từ Hải trong “Truyện Kiều” với quan niệm:
Anh hùng tiếng đã gọi rằng
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.
(Nguyễn Du )
Dưới ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu,nhân vật Lục Vân Tiên mang cốt cách của tráng sỹ thời loạn,coi cái chết nhẹ tựa lông hồng,trọng nghĩa khinh tài, sống và hành động theo phương châm: “Lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ ”.Dẫu còn bị ảnh hưởng bởi quan niệm phong kiến “nam nữ thụ thụ bất thân ” song ngôn ngữ,cử chỉ,hành động của chàng rất đẹp,rất anh hùng.Lòng thương người,chí quả cảm và tinh thần vị nghĩa của chàng đậm màu sắc đạo lý của dân tộc ta.
Bằng giọng thơ phóng khoáng, chân mộc và ngôn từ bình dị, đoạn trích đã hoàn thiện một cách xuất sắc hình ảnh chàng Lục Vân Tiên anh hùng, nghĩa hiệp. Đọc thơ càng thêm trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của nhà nho yêu nước,yêu đạo lý mà người dân Nam Bộ vẫn trìu mến gọi là Đồ Chiểu. | Suy nghĩ của em về nhân vật Lục Vân Tiên Trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” | 870 | |
Phân tích bài thơ Mùa xuân Nho nhỏ
Hướng dẫn
Mùa xuân nho nhỏcủa Thanh Hải là một bài thơ hay trong chương trình Văn học lớp 9. Bài thơ chứa đựng trong nó nhiều vẻ đẹp. Song có lẽ vẻ đẹp nổi bật hơn cả là sắc xuân mang đậm chất Huế.
Bài thơ được làm theo thể thơ năm chữ. Sự gọn ghẽ của cấu trúc ấy cộng với âm thanh, nhịp điệu luân chuyển theo từng khổ thơ làm cho toàn bài thơlà một bức tranh xuân về thiên nhiên và con người xứ Huế.
Ai cũng dễ dàng nhận thấy ở khổ thơ đầu là sắc xuân của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất trời. Ba nét chấm phá: một dòng sông xanh một bông hoa tím biếc, một tiếng chim chiền chiện đã khắc họa một cảnhxuân xứ Huế rất đẹp, tràn đầy sức sống và tràn đầy niềm vui. Điều đáng nói ở đây là tính hình tuyến của ngôn ngữ làm cho câu thơ biểu cảm hơn.
Trước vẻ đẹp của mùa xuân đất trời, cảm xúc của tác giả như trào dâng. Nhà thơ kêu lên cùng với tiếng chim chiền chiện một giọng rất Huế: Hót chi mà vang trời. Và chính cảm xúc đó đã làm cho tác giả nhìn nhận mọi cảnh vật đều rất thơ: Từng giọt long lanh rơi – Tôi đưa tay tôi hứng. Đến đây, hàng loạt câu hỏi đặt ra: Giọt gì rơi? Đưa tay hứng cái gì? Vượt lên trên hai hàng chữ là một ý thơ mà nhiều nhà phê bình rất tâm đắc. Người đọc có thể thốt lên rằng tác giả muốn âm thanh của tiếng chim chiền chiện đọng lại thành từng giọt long lanh rơi, để cho nhà thơ hứng một cách nâng niu, trìu mến. Ởđây đã có sự chuyển đổi cảm giác mang tính chủ quan của nhà thơ. Từ cái có thể nghe được (thính giác) đến cái có thể nhìn thấy được (thị giác) và cuối cùng là cái có thể nắm bắt được (xúc giác). Mọi cảm xúc đã được lên men và nhà thơ như ngây ngất trước vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế.
Sang khổ thơ thứ hai, bằng những câu thơ tả thực mang nặng tính tượng trưng, ta có thểcảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của mùa xuân cách mạng:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy bên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.
Từ lộc ở đây có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Ở nghĩa bề mặt thì lộc có nghĩa là chồi non; ở nghĩa phát sinh thì lộc nghĩa là mùa xuân, là sức sống. Người cầm súng giắt lộc để ngụy trang ra trận, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ. Những con người làm nên lịch sử của đất nước đãmang cả mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùa xuân về cho đất nước.
Có lẽ sắc xuân Huế đọng lại nhiều nhất ở khổ thơ cuối tạo nên vẻ đẹp cho bài thơ. Đó là vẻ đẹp tư tưởng của tác giả, của con người xứ Huế giản dị, khiêm nhường nhưng cũng thật mạnh mẽ:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập trong hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Mùa xuân – ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
Cách chọn hình ảnh – những tín hiệu thẩm mĩ của tác giả ở đây thật tự nhiên và hợp lí: chim hót, cành hoa, nốt nhạc trầm, một mùa xuân nho nhỏ. Ước nguyệnthật thiết tha và khiêm tốn: muốn góp một mùa xuân nhỏ bé để làm nên mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân cách mạng, mùa xuân đất nước. Hình ảnh mùa xuân nho nhỏ ở cuối bài thơ như ánh lên, tỏa sắc xuân trong tâm hồn vào toàn bộ bài thơ.
Cả bài thơ chỉ có một từ Huế nhưng chúng ta cảm nhận thật nhiều sắc xuân của Huế ở trong đó. Nào là xuân của đất trời xứ Huế, xuân cách mạng cố đô, xuân con người xứ Huế. Và tất cả là một mùa xuân nho nhỏ mà tác giả hóa thân vào để làm nên một mùa xuân to lớn của đất trời.
Cảm nhận của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải.
Bài làm
Giây phút đầu tiên khi năm mới gõ cửa, hãy hòa mình vào những vẻ đẹp của mùa xuân qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải – một bài thơ từ lâu đã trở thành một khúc ca quen thuộc mỗi độ đất nước vào xuân.
Mùa xuân đã về trên đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta. Đâu đây dặt dìu lời ca êm dịu về “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải:Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ôi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân xứ Huếthơ mộng hiển hiện trước mắt ta. Chỉ một bông hoa tím mỏng manh, mọc giữa dòng sông Hương xanh biếc mà sao sức sống lại dồi dào mãnh liệt đến vậy? Và cũng chỉ một con chim chiền chiện cất lời, mà sao tiếng hót vang xa bay bổng đến thế? Từng giọt âm thanh tiếng chim thả vào không gian, hội tụ tất cả ánh sáng, sự thanh khiết trong lành của đất trời mùa xuân nên nó cứ long lanh, long lanh. Không cầm lòng được, nhà thơ bấtchợt đưa tay ra hứng lấy âm thanh ấy, những mong nắm bắt điều diệu kì của thiên nhiên tươi đẹp trên quê hương. Sự chuyển đổi cảm giác trong ông diễn ra thật nhanh chóng, bất ngờ, mà cũng thật tinh tế. Rồi ông đưa mắt nhìn những chồi non lộc biếc đậu trên vành lá ngụy trang của người ra trận, trải dài theo bước chân người ra đồng, trên khắp đất nước mình. Mặc dù chúng ta vừa ngưng nghỉ tiếng súng ở hai đầu biên cương, mặc dù thời bao cấp vẫn in hằn dấu vết trong mỗi gia đình Việt Nam, nhưng thành quả chiến đấu và lao động suốt 4.000 năm lịch sử đã ngời ngời trong mùa xuân 1980 ấy.
Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước.
Quả thực là “chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi”.
Bằng sự mẫn cảm, bằng niềm tin son sắt, Thanh Hải đã nhận ra sức sống bền bỉ và tư thế luôn vững vàng thăng tiến của dân tộc ta. Đến hôm nay, mùa xuân 2008 sắp về, ta càng khẳng định rằng điều Thanh Hải dự báo từ 28 năm trước đã, đang và mãi mãi là hiện thực trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Đáng trân trọng biết bao, tấm lòng của một người con đất Việt! Khi đang lâm bệnh nặng, sắp từ giã cõi đời, còn phải sống trong thiếu thốn khó khăn, ông vẫn có những cảm nhận vô cùng tươi trẻ về thiên nhiên, về đất nước, về cuộc sống. Phải chăng, có sự đồng điệu trong tâm hồn thi sĩ:
“Tôi lại nhìn như đôi mắt trẻ thơ
Tổ quốc tôi, chưa đẹp thế bao giờ”.
(Tố Hữu)
Từ niềm say sưa trước mùa xuân thiên nhiên và cuộc sống trên đất nước, Thanh Hải đã chân thành bộc lộ ước nguyện của bản thân:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Tuy đó là ước nguyện khiêm nhường (muôn hóa thân làm những thứ bé nhỏ: Một con chim, một cành hoa, một nốt trầm, một mùa xuân nho nhỏ để “lặng lẽ dâng cho đời”). Nhưng đó là ước nguyện rất tự nhiên, đẹp đẽ, sáng trong như thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng (con chim, cành hoa), rất bền bỉ, thiết tha:
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Đó cũng là ước nguyện hết sức chân thành của Thanh Hải. Bởi vì cả cuộc đời ông đã bám trụ ở quê hương (vùng Thừa Thiên Huế) cùng đồng bào, đồng chí đánh giặc qua hai cuộc kháng chiến ác liệt trường kì. Từ vùng đất này, những bài thơ “Mồ anh hoa nở”, “Cháu nhớ Bác Hồ” của ông đã có sức lay động sâu xa tâm hồn bao bạn đọc. Rồi đến giờ phút cuối cùng, ông vẫn như con tằm rút ruột nhả tơ, dâng cho đời “mùa xuân nho nhỏ” thiết tha nồng thắm từ đáy tâm can. Những “nốt trầm” ấy sao mà “xao xuyến”, sao mà đắm say!
Bài thơ của Thanh Hải đề cập đến vấn đề nhân sinh quan. Sống có ích, sống đẹp là có cống hiến cho đời. Vậy mà nó không hề khô cứng như lời giáo huấn đạo lí. Bởi vì, tác giả đã nói bằng cảm xúc thực, bằng những điều tâm niệm chân thành, thiết tha, bằng giọng thơ nhẹ nhàng và hình ảnh thơ bình dị. Chính vì thế những dòng thơ của ông thấm sâu vào lòng người, thức tỉnh những ước nguyện, những cách sống đẹp của mỗi con người.
Mùa xuân nay đi trong dìu dặt lời ca:
Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm tình…
Ta thấy nhớ Thanh Hải – nhớ một “Mùa xuân nho nhỏ” của dân tộc thiết tha!
Cảm nhận và suy nghĩ của em vềmùa xuân trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải.
Bài làm
Mùa xuân luôn là đề tài phong phú cho các thi nhân thử bút. Đã có không ít bài thơ hay viết về mùa xuân. Nhà thơ Thanh Hải cũng khá thành công khi viết bài thơ Mùa xuân nho nhỏ để nói lên ước nguyện khiêm tốn của mình, ước nguyện được dâng hiến mùa xuân bé nhỏ của mình vào mùa xuân chung của dân tộc, vào xuân bất tận của đất trời.
Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, sinh ngày 4-11-1930, ở Thừa Thiên Huế. Ông hoạt động cách mạng từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thanh Hải là một trong những cây bút có công lớn trong việc xây dựng nền văn học cách mạng miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Mùa xuân nho nhỏ là bài thơ cuối cùng của Thanh Hải, được viết không lâu trước khi nhà thơ qua đời (1980). Bài thơ thể hiện cái nhìn tươi tắn, lạc quan của tác giả đối với đất nước, với con người Việt Nam trong thời kì cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Mở đầu bài thơ, Thanh Hải dựng lên khung cảnh của một mùa xuân
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
ơi, con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”.
Không gian mùa xuân hiện lên trước hết từ một dòng sông xanh với một bông hoa tím biếc. Đây là những hình ảnh vốn rất riêng của quê nương xứ Huế – quê hương yêu dấu của tác giả. Sự hòa hợp giữa màu xanh của dòng sông và sắc tím của bông hoa đã tạo nên một cảm giác mát dịu. Khung cảnh mùa xuân còn gợi lên những âm thanh quen thuộc, vui tươi của con chim chiền chiện, loài chim thường xuất hiện vào mùa xuân, như một dấu hiệu của mùa xuân. Tiếng hót của con chim chiền chiện vang trời đã làm cho không khí mùa xuân trở nên náo nức lạ thường. Tiếng chim chiền chiện đã được cụ thể hóa, hình tượng hóa. Từng giọt long lanh rơi – Tôi đưa tay tôi hứng” là một hình thức chuyển đổi cảm giác. Âm thanh vốn chỉ nghe thấy, nhưng được chuyển đổi nên có thể cảm nhận, nhìn thấy và có thể tiếp xúc dược. Ngay trong đoạn mở đầu, chúng ta đã hình dung được tâm trạng say mê, đầy hào hứng của nhà thơ trước mùa xuân mới của đất trời.
Bài thơ được viết khi cả nước đang trong không khí xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong không khí chung đó, không thể thiếu hình ảnh của những người đã cầm súng bảo vệ Tổ quốc và những người làm ra hạt gạo nuôi sống bao thế hệ:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy bên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.
Những người đang ngày đêm cầm súng bảo vệ tổ quốc và những người góp phần xây dựng quê hương đã được tác giả nhắc đến đầu tiên trong bài thơ. Đó là những người đã chịu nhiều hi sinh trong kháng chiến cũng như trong thời bình. Mùa xuân hiện hữu trong tất cả các hoạt động, mùa xuân theo người chiến sĩ ra mặt trận, mùa xuân theo người nông dân ra đồng. Mùa xuân không còn là khái niệm thời gian mà đã trở thành người bạn của những người ngày đêm làm giàu và mang lại bình yên cho dân tộc. Xuân trong thơ Thanh Hải gần như đã có hồn và dường như thật hối hả trong nhịp sống chung của dân tộc. Nhắc đến hình ảnh người lính, tác giả không quên lịch sử hào hùng của dân tộc
Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước.
Bằng những câu thơ giản dị, tác giả đã khái quát một cách cô đọng lịch sử của dân tộc, Chặng đường dân tộc đã đi qua thật dài và nhiều chông gai. Nhưng không vì thế mà làm cho bước đi của dân tộc bị chậm lại. Đất nước vẫn như những vì sao tiến lên phía trước. Câu thơ chính là lòng tin và niềm tự hào của tác giả vào đất nước, vào Đảng, vào sự nghiệp cách mạng. Cảm động biết bao khi đó là lời của một người đang nằm trên giường bệnh và sắp từ biệt cõi đời. Phải là người có sức sống, niềm lạc quan và tin tưởng nồng nhiệt mới có được những vần thơ như thế.
Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ mang nhiều ý nghĩa. Mùa xuân với khái niệm thời gian đã được tác giả chuyển thành khái niệm của một sự vật nhất định. Chủ đề của bài thơ bộc lộ rõ qua đoạn thơ:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập trong hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Đến đây cái tôi đã được thay bằng cái ta và cảnh vật của thiên nhiên trong mắt quan sát của nhà thơ đều được thu nhỏ lại trong cái ta ấy. Mỗi một bông hoa, mỗi một tiếng chim, mỗi cảnh vật thiên nhiên đều góp phần tạo nên mùa xuân chung của đất nước. Và ta là tác giả cũng là một con người cụ thể, ta hãy như con chim chiền chiện, như bông hoa tím biếc trên dòng sông xanh, như một nốt trầm trong bản hòa ca xao xuyến của dân tộc. Cái ta chỉ khiêm tốn giữ vị trí của nốt trầm trong bản nhạc. Mỗi con người đều là một mùa xuân nho nhỏ, công hiến sức lực và cuộc đời của mình để làm nên mùa xuân lớn của đất nước, của dân tộc.
Khổ thơ cuối cùng là lời tâm tình của tác giả, lời của một đứa con nói với quê hương:
Mùa xuân – ta xin hát Câu Nam ai
Nam bình Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
Khổ thơ mang đậm làn điệu dân ca xứ Huế và là khổ thơ duy nhất trong bài có hình ảnh Huế – quê hương của tác giả. Không vì thế mà bài thơ không chứa trong đó tình cảm của tác giả đối với quê hương. Cái hay của câu thơ ở chỗ đã đúc kết được tất cả vẻ đẹp của mùa xuân, của xứ Huế thơ mộng và chất chứa trong đó là nỗi niềm của một người con đang sống những ngày cuối cùng của cuộc đời.
Bài thơ được viết khi tác giả phải nằm trên giường bệnh nhưng vẫn tràn đầy lòng yêu đời, yêu cuộc sống và hơn cả là tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm của nhà thơ đối với đất nước. Đó chính là thông điệp Thanh Hải gửi đến tất cả mọi người: “Hãy góp một mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân chung của đất nước, của dân tộc”.
Nguồn: | Suy nghĩ của em về nhân vật tôi trong truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn | 2,850 | |
Suy nghĩ của em về những chi tiết nói về việc đánh giặc trong truyện Thánh Gióng
Một trong những truyền thuyết thu hút nhất đối với em là truyện Thánh Gióng. Em rất ấn tượng với những chi tiết nói về việc Thánh Gióng ra trận diệt giặc.
Thật tuyệt vời khi một cậu bé không biết đi, chẳng biết nói, biết cười lại trở thành một tráng sĩ khổng lồ, có thể giáng xuống bọn giặc những đòn như sấm sét. Óc tưởng tượng của dân gian kì diệu thật: cứ hắt hơi một lần lại vươn vai một cái, mỗi cái vươn vai lại cao thêm hàng thước. Trước nguy cơ nước mất nhà tan, dân tộc ta đã cùng nhau góp sức và trường thành mau chóng như thế để đánh giặc giữ nước.
Hình tượng ngựa sắt phun lửa cũng vậy. Ngọn lửa căm thù tội ác quân giặc của nhân dân đã nung nấu và đến khi bộc phát ra, sẽ mạnh mẽ, dữ đội vô cùng, đủ sức thiêu đốt bọn xâm lược ra tro. Chi tiết nhổ tre quật giặc cũng rất thú vị. Rõ ràng đây là vũ khi lâu đời của dân ta. Chi tiết này em thấy rất thực. Thời kì đầu đánh Pháp, “gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù” (Thép Mới).
Thật tự hào biết bao cho dân tộc, khi những em nhỏ lên ba cũng gồng mình lên cứu nước, khi cây tre thô sơ khắp làng mạc bản mường cũng góp phần diệt thù. Thật kì lạ trí tưởng tượng của dân gian đã sáng tạo được những hình tượng hoành tráng đến như vậy.
Đất nước ngày nay sạch bóng quân thù. Em nghĩ đến cái vươn vai của dân tộc ta sẽ có được trong những năm tới, đưa dân tộc đến ấm no, sung túc. | Suy nghĩ của em về những chi tiết nói về việc đánh giặc trong truyện Thánh Gióng | 312 | |
Suy nghĩ của em về tiền bạc và hạnh phúc
Hướng dẫn
Suy nghĩ của em về tiền bạc và hạnh phúc
Bài làm
Tiền bạc là gì mà bao kẻ mù quáng theo đuổi, hạnh phúc là gì mà bao người khát khao, hi vọng đó là câu hỏi khó tìm ra câu trả lời. Tiền bạc giúp cúng ta thoả mãn nhu cầu về vất chất, một phần nào đó giúp chúng ta đáp ứng về tinh thần. Còn hạnh phúc là sự thoả mãn về nhu cầu ấy. Tiền tài và hạnh phúc là hai mặt luôn sánh cùng nhau của một vấn đề, vấn đề hạnh phúc đích thực của con người.
Thật khó có thể định nghĩa chính xác về hạnh phúc vì hạnh phúc có nhiều cung bậc khác nhau và mỗi người cũng có thể tự định nghĩa về hạnh phúc cho riêng mình. Nhưng nói chung lại thì hạnh phúc là trạng thái cảm xúc khi người ta có được, đạt được cái gì đó làm thỏa mãn mong muốn của mình. còn tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận. Tôi cảm thấy tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ với nhau rất khăng khít. Người ta cứ nói “một túp lều tranh hai trái tim vàng”, ý là dù cuộc sống có khốn khó như thế nào chỉ cần hai người – hai vợ chồng gắn bó với nhau, yêu thương nhau thì nhất định sẽ vượt qua. Nhưng ở xã hội bây giờ có ai như vậy, khi nhu cầu về vật chất của người ta không đủ đáp ứng nhu cầu cuộc sống thì dường như hạnh phúc không có ý nghĩa gì. Đã có không ít những người phụ nữ, hoặc những người đàn ông, rời bỏ hạnh phúc gia đình mình để chạy theo đồng tiền. Nhưng chẳng mấy ai đánh đổi đồng tiền vì hạnh phúc cả, nếu cho hạnh phúc và đồng tiền lên cân thì hạnh phúc sẽ nhẹ cân hơn đồng tiền. Ngày xưa, ông bà ta cùng đồng cam cộng khổ bên nhau, nhưng ngày nay chúng ta cùng hưởng hạnh phúc, cùng hưởng đồng tiền với nhau chứ có mấy ai cùng chịu khổ với nhau.
Tiền thì chúng ta có thể tìm ra nhưng hạnh phúc thì khó có thể tìm ra. Trong cái xã hội cũ đó, đồng tiền như một thế lực vạn năng. Trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng người ta coi đồng tiền lớn hơn hạnh phúc. Hạnh phúc của người có thể đem ra mua bán bằng những giá trị đồng tiền. Còn ngày nay lại có rất nhiều người không biết quý trọng đồng tiền, sinh ra những thói hư tật xấu lười biếng, hư hỏng, trì trệ… Cái gì cũng đã có, không phải làm gì không ai hướng dẫn, họ chỉ biết hưởng thụ những gì tiền có thể đem tới, những thứ cần phải có sự rèn luyện về tinh thần và ý chí, họ không thể có được hạnh phúc.
Quan hệ giữa tiền tài và hạnh phúc là mối quan hệ nhạy cảm và phức tạp, nhất là trong xã hội hiện đại, và mỗi người lại có quan điểm về hạnh phúc và đồng tiền khác nhua. Có người đặt hạnh phúc lên trên đồng tiền, nhưng có những người đặt đồng tiền lên trên hạnh phúc. Có người coi đồng tiền là thước đo sự giàu sang của mỗi con người. Có người coi đồng tiền là thước đo đạo đức của một xã hội. Có nhiều người định nghĩa đơn giản: “Hạnh phúc là tất cả những gì bạn đang có”. Mới nghe thì cỏ vẻ không hợp lý, tuy nhiên nếu bạn biết dừng lại và thử cảm nhận về chính mình, về những gì mình đang có, đang được hưởng, mà có thể rất nhiều người khác không có thì có thể sẽ có 1 suy nghĩ khác. Nhưng những điều đó có thể bị coi là những điều hiển nhiên và không được coi trọng. Tới khi mất đi rồi người ta mới cảm nhận được nó. Như vậy những quan niệm sai trái về ý nghĩa của tiền bạc và hạnh phúc cần phải phê phán, bác bỏ và hướng họ tới những quan niêm tốt đẹp, cho họ biết giá trị của cuộc sống và làm thế nào để có được hạnh phúc thực sự.
Nguồn: Bài văn hay | Suy nghĩ của em về tiền bạc và hạnh phúc | 775 | |
Suy nghĩ của em về tuổi hai mươi
Hướng dẫn
Đề bài: Suy nghĩ của em về tuổi hai mươi.
Bài làm
Trong cuộc đời mỗi con người, có những đoạn đường, những khoảng thời gian dù trôi đi qua vẫn thấy tiếc nuối và dằn dặt. Có những thứ chỉ muốn giữ lại đừng trôi đi. Khi nhớ về tuổi hai mươi đã qua hay nghĩ về tuổi hai mươi đang sắp tới, bạn sẽ nghĩ về nó như thế nào?
Tuổi hai mươi – một con số tròn trĩnh đánh dấu rất nhiều thứ trong cuộc đời của mỗi con người về sau. Hai mươi tuổi, không phải cái tuổi trẻ con nhõng nhẽo bên ba mẹ nhưng chưa hẳn là cái tuổi để “ép” trưởng thành chín non. Đó là một viên gạch đặt ngang qua cuộc đời bạn, bạn sẽ bước qua, sẽ trải nghiệm, sẽ tận hưởng và khám phá nó như thế nào cho xứng đáng.
Có một số người tự hào nói với tôi rằng khi ở ngưỡng tuổi hai mươi, họ được sống thật bản thân mình, mạnh dạn dấn thân, can đảm theo đuổi đam mê. Nhưng có rất nhiều người ngần ngại, chần chừ khi nói về khoảng thời gian đó rằng họ sống với những gì mà người khác sắp đặt, rằng cuộc sống hiện tại chỉ là vay mượn. Một số khác nghĩ về tuổi hai mươi với nhiều dằn vặt, day dứt và thương tổn vì đã không biết trân trọng, không biết nâng niu để rồi đánh mất mới thấy nuối tiếc. Dù sao đi nữa, tuổi hai mươi vẫn luôn là khoảng thời gian đẹp nhất của tuổi trẻ. Với tôi tuổi hai mươi đủ để tự khẳng định bản thân, đủ để hài lòng và đủ để hiểu qua một lần là hết nhưng dư âm còn mãi.
Nhưng hiện nay có một thực tế rất đáng buồn cho chính mỗi chúng ta, cho xã hội là các bạn đã không trân trọng tuổi hai mươi, các bạn đã tự tay đạp đổ và vùi dập quãng thời gian ấy với vô vàn “trò chơi” vô bổ. Hai mươi tuổi bạn vùi đầu vào quán game thâu đêm, gặm tạm bánh mỳ, phì phèo tập hút thuốc, đầu tóc rối bù cho tới sáng hôm sau. Cứ ngày này qua ngày khác chính bạn đã đốt cháy và tự chôn vùi tuổi trẻ của mình như thế. Có đáng không?
Tuổi hai mươi, đã không ít lần bạn khiến ba mẹ buồn lòng. Ba mẹ có rất nhiều thứ phải lo lắng, nhưng chính bạn lại khiến họ phải đèo bòng thêm nỗi lo quá lớn này. Hai mươi tuổi, bạn chưa thể tự lập được, hằng ngày vẫn phải ngửa tay xin tiền, nhưng bạn dùng những đồng tiền mồ hôi đó vào bar, vũ trường, vào những nơi không xứng và nhận lấy về mình nhiều ân hận về sau. Nhưng hai mươi tuổi, chừng ấy thứ chưa đủ để đánh gục bạn nhưng đủ để thức tỉnh suy nghĩ của bạn. Hãy suy nghĩ kỹ về hành động của mình trước khi muốn làm.
Tuổi hai mươi, chúng ta cần làm gì để khi nhìn lại không phải nuối tiếc, day dứt, ân hận về bản thân? Mỗi người đều có một định hướng cho tương lai, tuổi hai mươi của con trai là định hướng sự nghiệp cho tương lai, nếu không có định hướng, con trai sẽ bị bỏ lại giữa cuộc đua. Tuổi hai mươi của con gái vẫn còn nhiều mơ mộng lắm.
Tuổi hai mươi chỉ đến một lần trong đời, nó như một chuyến tàu không bán vé khứ hồi, mỗi người cần biết nắm bắt lấy thời cơ để chinh phục nó. Trân trọng tuổi hai mươi là bạn đang trân trọng chính cuộc sống, trân trọng một nấc thang quan trong của cuộc đời.
Chúng ta loay hoay với nhiều điều ở tuổi hai mươi nhưng hãy mạnh dạn, hãy can đảm, bạn sẽ làm được.
Tuổi hai mươi của mỗi chúng ta đừng để nó trôi qua quá tẻ nhạt và vô vị, bạn có thể biến nó thành một hành trình tươi đẹp nhất trong quãng thời gian đẹp nhất. Là tuổi hai mươi… | Suy nghĩ của em về tuổi hai mươi | 711 | |
Suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong cuộc sống
Hướng dẫn
Viết bài văn nêu những suy nghĩ của em về tình mẫu tử tình cảm đáng trân trọng và quý giá nhất mà mỗi người chúng ta đều có. Để viết văn tốt, điểm cao các em nên theo dõi bài viết sau đây, bài viết cũng là tài liệu tham khảo cho các giáo viên.
Suy nghĩ của em về tình mẫu tử
Trên thế giới này đối với bạn tình cảm nào là đáng trân trọng và cao quý nhất. Đối với bản thân tôi cho dù là tình cảm nào hay bất cứ mối quan hệ nào cũng đều đáng trân trọng và cao quý cả nhưng cái tình cảm mà con người cảm thấy thân thương quen thuộc và thiêng liêng nhất vẫn là tình mẫu tử. Tình mẫu tử còn gọi là tình cảm giữa mẹ và con, nó không phải là một thứ tình cảm của bất cứ cá nhân nào nhưng lại từ những tình cảm của từng cá nhân mà trở nên thiêng liêng và cao quý.
Đối với mối quan hệ và tình mẫu tử này có rất nhiều người làm chủ đề để viết văn, thơ hay thậm trí là những câu chuyện cảm động nhưng nó lại luôn là chủ đề bất hủ mà cho dù là người viết người nghe hay người đọc cũng cảm thấy chẳng bao giờ nhàm chán cả, nó là chủ đề muôn thuở mà cho dù có được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vẫn làm cho người khác xúc động và cảm nhận được. Tất cả đều có lý do cả đó là tình mẫu tử rất quen thuộc, rất dễ cảm và quan trọng nhất là thứ tình cảm đó luôn nằm trong tim của mỗi con người chúng ta. Bạn đã từng nghe bao nhiêu câu chuyện về mẹ cũng chẳng bằng câu chuyện của chính bản thân mình, câu chuyện đó cho bạn cảm xúc thật, cho bạn những điều đáng khắc ghi. Bạn chắc hẳn sẽ chẳng nhớ được lần đầu bạn cất tiếng khóc là khi nào, lần đầu bạn biết lật người hay là lần bạn bước đi bước chân đầu tiên và cả lần đầu bạn gọi một tiếng mẹ là khi nào nhưng bạn biết không mẹ bạn sẽ nhớ như in những khoảnh khắc đó thậm trí sinh nhật mình mẹ cũng chẳng nhớ nhưng lần đầu bạn gọi một tiếng mẹ là khi nào thì mẹ bạn còn nhớ cả ngày tháng và thời gian. Chỉ một tiếng mẹ mà thiêng liêng và có thể làm cho người ta khóc vì nó. Bạn biết không đó không chỉ là tiếng mẹ bình thường mà chữ mẹ đó tượng trưng cho tình mẫu tử cao quý. Các bạn có biết vì sao khi nhắc đến tình mẫu tử người ta lại dùng những từ như cao quý, thiêng liêng và trân trọng không? Bởi vì đó là vì sự hi sinh của mẹ, một người phụ nữ tuyệt vời. Những người mẹ mang trong mình là sự sống của một sinh mạng, nuôi dưỡng và chăm lo từng ngày, chăm từ khi còn trong bụng cho đến khi con lớn mẹ vẫn lo toan, chăm sóc, hi sinh cả tuổi thanh xuân và bản thân mình cho con. Họ chẳng nhận lại được gì nếu có phải chăng là sự trưởng thành hay nụ cười của con mới làm mẹ hạnh phúc. Họ là những người chứng kiến và tạo ra một mầm sống, nhìn mầm sống đó dần lớn lên trưởng thành và trở thành những sức sống mãnh liệt chẳng thể gục ngã rồi cũng từ mầm sống đó tạo nên những mầm sống khác làm cho thế giới tồn tại và phát triển. Họ là những con người hi sinh thầm lặng là hậu phương và là nền tảng vững chắc để cho con bước vào đời. Tất cả những điều trên đương nhiên đáng trân trọng hơn bao giờ hết và sự hi sinh đó tự khắc trở nên cao quý và đẹp đẽ biết bao. | Suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong cuộc sống | 695 | |
Suy nghĩ của em về tình yêu tình bạn tuổi học đường?
Hướng dẫn
Suy nghĩ của em về tình yêu tình bạn tuổi học đường?
Tuổi học đường – Lứa tuổi với những mơ mộng, đầy cảm xúc nhưng cũng xen lẫn những nông nổi và đôi chút dại khờ. Vấn đề về tình bạn, tình yêu tuổi học đường khá quan trọng.
Tình bạn trong cuộc sống là không thể thiếu nhất là đối với lứa tuổi mới lớn, lứa tuổi mà tình bạn là một thứ gì đó vô cùng quan trọng. Người bạn là người có thể chia sẻ với ta mọi việc từ những niềm vui cho đến những nỗi buồn. Là người có thể đưa ra những lời khuyên hữu ích để ta vượt qua những khó khăn, vượt qua nhưng bối rối, những hoang mang. Có những tình bạn cùng tiến cũng có những tình bạn cùng giúp nhau trong học tập để cùng nhau tốt hơn.
Nhưng không phải đối với ai ta cũng có thể kết bạn, có thể kết thân, trong việc chọn bạn mỗi chúng ta cần có suy nghĩ thật chín chắn, tránh chọn bạn tràn lan, chọn bạn theo trào lưu. Chỉ có những người bạn thật sự mới có thể giúp đỡ, cùng nhau sẻ chia cũng như đưa ra những lời khuyên thật hữu ích cho chúng ta. Việc chọn bạn tràn lan đôi khi đem đến cho chúng ta những hậu quả không hay cũng như không thể nào lường trước được. Nếu không may chúng ta kết bạn với những người bạn không được tốt và cũng chính những lời rủ rê của họ cùng với những khoảnh khắc sốc nổi của ta đã làm ta mắc phải những sai lầm. Đầu tiên sẽ là những việc cơ bản, là những việc nhỏ, đó là sự đua đòi, rồi dần dần từ những việc nhỏ đó, những việc cơ bản đó sẽ phát triển thành những việc nghiêm trọng hơn là ma tuý, là nghiện hút và điều đó cũng đồng nghĩa là chúng ta chọn lấy cái chết trắng, hay là bỏ học để lao vào các cuộc vui, các cuôc dua xe. Rồi khi không còn đủ điều kiện để phục vụ cho những cuộc chơi, cho những việc đua đòi thì việc trộm cắp là chuyện tất yếu. Những trò chơi điện tử ngày càng phát triển và trở nên thu hút giới trẻ, nhưng kiểm soát chưa thật chặt chẽ nên khó tránh khỏi hậu quả đáng tiếc xảy ra. Vì thế hãy chọn cho mình những người bạn thật đúng ý nghĩa, để cùng nhau phát triển một tình bạn tốt đẹp, cùng giúp đỡ nhau tiến bộ. Vậy nên hãu cùng những người bạn chân thành trao đổi thẳng thắn những suy nghĩ và quan niệm của mình để tình bạn đó đã tốt đẹp ngày càng tốt đẹp hơn nữa.
Đó chỉ mới là vấn đề về tình bạn tuổi học đường, còn một vấn đề cũng không kém phần quan trọng đó chính là vấn đề tình yêu tuổi học đường. Ngày nay mọi người vẫn khẳng định không nên có tình yêu vào tuổi này. Tình yêu tuổi học đường đôi lúc được bắt nguồn từ tình bạn nhưng không phải lúc nào tình bạn cũng là khởi nguồn của tình yêu. Yêu tuổi học đường là một chủ đề rất cần được quan tâm khi mà ngày nay sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện thông tin đại chúng, phim ảnh, tạp chí, truyện của nước ngoài đã và đang gây ảnh hưởng rất mạnh tới tuổi mới lớn kèm theo là sự tìm hiểu vượt quá sự cho phép một cách thiếu ý thức. Và hậu quả xảy đến là điều tất yếu, là không thể nào tránh khỏi. Bi kịch xảy ra đốỉ với tuổi học trò là gì? Cái tuổi chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Nhẹ là sa sút trong học tập, thiếu tập trung trong việc học. Nặng là không ít các bạn gái ở tuổi này trở thành nạn nhân của việc nạo phá thai hay các bạn học sinh phải bỏ học để trở thành những ông bố, bà mẹ trẻ bất đắc dĩ ở cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới. Những hành động nông nổi, thiếu ý thức, thiếu suy nghĩ dẫn đến những cái kết đau lòng là tự tử, nhảy sông, nạo phá thai ngày càng nhiều.
Tóm lại tình bạn và tình yêu tuổi học đường cũng khá đẹp nhưng đầy phức tạp. Tuổi học trò cần được tư vấn và định hướng đúng đắn để không phải có những ý nghĩ sai lệch và sa ngã mà trong đó vai trò của nhà trường và gia đình là rất quan trọng. Cũng là một học sinh ở lứa tuổi học đường, tôi và các bạn cùng nhau cố gắng học hành, tim cho mình những người bạn đỉch thực để cùng nhau học hành tốt hơn, suy nghĩ thật kĩ để không phải xảy ra những hậu quả đáng tiếc trong tình bạn lẫn tình yêu. | Suy nghĩ của em về tình yêu tình bạn tuổi học đường_ | 868 | |
Suy nghĩ của em về tấm gương một người không chịu khuất phục số phận
Hướng dẫn
Trên đời này có nhiều người khi sinh ra gặp nhiều diều không may mắn. Cuộc sống trở nên bất hạnh, khó khăn đối với họ. Họ đã sống chật vật, lầm lụi, cố gắng chịu đựng để sống qua ngày. Tuy nhiên cũng có rất nhiều người không chấp nhận số phận, bằng ý chí và nghị lực và họ đã đóng góp tài năng của mình cho đất nước. Họ là niềm tự hào để cho chúng ta noi theo và học tập. Và một tấm gương tiêu biểu, với ý chí vươn lên, anh đã trở thành nhà giáo ưu tú. Đó chính là nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký.
Nguyễn Ngọc Ký đã trải qua quá trình rất dài để trở thành một thấy giáo đứng trên bục giảng. Lên bốn tuổi, anh bị sốt, một thời gian sau anh bị liệt cả hai tay. Hai cánh tay thòng xuống, anh chỉ nhìn tay mà khóc. Gia đình anh cũng không biết làm sao, nhìn tay anh mà thấy thương anh hơn. Anh bị liệt hai tay, nhưng anh vẫn muốn học, ngày ngày anh đứng nép bên cửa sổ nghe cô giáo giảng bài. Cô thấy thương anh quá nên cho anh vào lớp học. Anh được ngồi trên một chiếc chiếu, dùng chân để viết. Rồi những lúc bị chuột rút, ngón chân sưng lên, lúc đó làm anh đau quằn quại. Cô thấy thương anh quá nhưng vì ảnh hưởng đến lớp học nên cô buộc lòng phải đưa anh về và nói chuyện với gia đình anh, cho anh ở nhà. Mẹ và các chị thương anh lắm. Nhưng vì hồi đó, không có ai được đi học nên ở nhà không có ai ở nhà dạy cho anh học. Mấy ngày hôm sau, anh quắp viên gạch tập viết bằng chân. Chữ đầu tiên anh viết là o, rồi đến chữ v. Những chữ cái của anh in đầy trên mặt đất, trên tường,…đâu đâu cũng có mặt những chữ cái ấy. Cuối cùng anh đã trở thành nhà giáo ưu tú trong nhiều năm liền. Năm 1964, anh được Bác Hồ trao tặng huy hiệu, được cử đi thi Toán quốc tế,… Năm 1966, anh được gởi giấy mời từ các trường để trò chuyện cùng học sinh, các học sinh đưa các câu hỏi để anh trả lời. Vài năm sau anh lại được Bác Hồ trao tặng nhiều huy hiệu nữa. Anh được đến dự giờ các tiết học của hầu hết các trường trong nước. Hơn một ngàn tiết học, đó là con số mà những người giáo viên nằm mơ cũng không có được. Trong những lần đến dự giờ, ông ngồi ở dưới lớp ghi chép lại để tìm ra những phương pháp dạy và học mới…
Có lẽ mọi người đang thắc mắc, tại sao ông bị liệt cả hai tay mà lại trở thành thầy giáo đứng trên bục giảng dạy biết bao nhiêu tiết học, bao nhiêu con người trong nhiều năm qua? Ông đã làm điều đó bằng cách: viết bài giảng của mình lên một tờ giấy khổ to, mỗi lần giảng tới đâu ông kéo dây xuống. Chính vì ông giảng bài trước, làm như thế nên ông đã đào tạo nhiều người thành tài.
Họ là những người bất hạnh, mà lại có ý chí, nghị lực để vươn lên, đi trên con đường thành công của mình. Nhưng tại sao nhiều người hiện nay sinh ra không gặp bất hạnh, may mắn hơn họ rất nhiều mà chúng ta lại không cố gắng học tập.
Trong cuộc sống, nếu chúng ta có ý chí vươn lên trong cuộc sống thì chúng ta có thể đạt được thành công mà chúng ta muốn có. Anh Nguyễn Ngọc Ký đã trở thành nhà giáo mặc dù bị liệt cả hai tay… Tôi tin rằng, nếu các bạn đi bằng chính đôi chân của mình, thì có thể đạt được cái đích mà mình muốn đến. Bởi vì “Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” | Suy nghĩ của em về tấm gương một người không chịu khuất phục số phận | 701 | |
Suy nghĩ của em về văn hóa chào hỏi của giới trẻ hiện nay
Hướng dẫn
Suy nghĩ của em về văn hóa chào hỏi của giới trẻ hiện nay
Trong xã hội hiện đại ngày nay có nhiều thứ thay đổi. Từ nhà cửa, phố xá, xe cộ cho đến những công trình tầm cỡ. Có phải vì thế mà những văn hóa truyền thống tốt đẹp, cụ thể như văn hóa chào hỏi trong mỗi người, nhất là trong giới trẻ ngày nay, đang thay đổi theo cuộc sống hiện đại ấy? Trong cuộc sống hàng ngày, lời chào có một vai trò vô cùng quan trọng. Chẳng vậy mà từ xa xưa, cha ông ta đã nhắc nhở bảo nhau: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Tại sao cha ông ta lại ví như vậy?
Lời chào có giá trị to lớn trong truyền thống văn hóa không chỉ riêng ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới. “Mâm cỗ” là thứ cao sang thể hiện sự tôn trọng với người được mời đến ăn. Tuy nhiên lại không bằng lời chào vì lời chào thể hiện thái độ tôn trọng người của bản thân mình với mọi người, có thể là: ông, bà, bố, mẹ, thầy, cô, bạn bè… Nhận được lời chào chúng ta cảm thấy mình được tôn trọng, cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Như vậy ta có thể khẳng định lời chào có một ý nghĩa quan trọng và to lớn. Chẳng vì thế mà khi mới biết nói bố mẹ đã dậy chúng ta chào ông, chào bà, chào những người xung quanh.
Văn hóa chào hỏi là văn hóa ứng xử thể hiện sự lễ phép, lịch sự của cho ông ta. Lời chào cũng thể hiện sự tôn trọng, tình cảm gắn bó, thân thiết của người chào đối với người được chào hỏi. Thế nhưng, có một số người, trong đó có giới trẻ hiện nay cho rằng chào hỏi là một lời lẽ màu mè, đã quen nhau rồi sao còn phải chào nhau nữa. Một số khác thì lại cho rằng mình đã chào nhiều lần mà người kia không để ý, thì thôi không phải chào nữa. Một số khác thì lại chào kiểu chống đối chào quá to như hét vào mặt người ta. Lại cso những người ngại giao tiếp, không thích chào hỏi, thấy người quen đi qua lờ đi, giả vờ như không quen biết, sợ tốn mất một lời chào. Một câu chào chỉ đơn giản thôi, sao lại khó đến vậy?
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, nước ta đã mở cửa và tiếp nhận nhiều luồng văn hóa khác nhau, nhưng làm sao để hòa mà không tan thì là một câu hỏi lớn đặt ra. Bên cạnh đó với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ai cũng bộn bề lo toan,miếng cơm manh áo, dường như văn hóa ứng xử, văn hóa chào hỏi bị lãng quên, xem nhẹ, thay vào đó là việc kiếm tiền. Chính vì bận rộn nên việc giáo dục con cái từ khi còn nhỏ cũng rất ít, ở thành phố mọi việc đều giao cho người giúp việc, giao cho cô giáo vì vậy việc giáo dục con càng khó hơn. Chính vì vậy mà ra đường, đến trường chúng ta không thấy ngạc nhiện vì trẻ nhỏ không chào người quen biết, học sinh không biết chào thầy cô, thậm chí còn không để ý là thầy cô đang đi hoặc đứng trước mặt mình. Chạy nhảy, đùa nghịch đâm sầm cả vào thầy cô rồi cũng không biết nói lời xin lỗi. Có bạn nhìn thấy thầy cô thì quay đi, có bạn thì chào vội vàng, có bạn thì chào nhanh quá còn phat âm sai “Em chào cô ạ” thì biến thành “quạ ạ” đã chào ngắn, chào tắt rồi, lại còn chào sai. Những điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống, nhưng nó lại có giá trị to lớn về mặt nhân văn, về giá trị chuẩn mực đạo đức trong xã hội.
Thế nên, mỗi người nhất là giới trẻ những chủ nhân tương lai của đất nước chúng ta cần tự tạo cho mình một kỹ năng chào hỏi. Để nó là hành trang bên mình khi còn là học sinh, lời chào có thể xây dựng nên một tình bạn đẹp, tình thầy trò gắn bó. Khi ra ngoài xã hội sẽ được mọi người tôn trọng. Chẳng gì tuyệt vời hơn khi chúng ta là một người có văn hóa, có lịch sự, chúng ta được mọi người yêu mến kính trọng.
Một lời chào đơn giản thôi phải không nào, nhưng nó lại mang một ý nghĩa to lớn. Sẽ chẳng có gì phải ngại ngần khi nói ra lời chào của chính bạn, bởi một chào được nói ra bạn sẽ có thêm rất nhiều thứ. Hi vọng trong tương li khi nền kinh tế nước ta phát triển hơn nữa thì văn hóa của nước ta, đặc biệt là văn hóa chào hỏi, sẽ không bị lãng quên, bị bóp méo, xô lệch. | Suy nghĩ của em về văn hóa chào hỏi của giới trẻ hiện nay | 866 | |
Suy nghĩ của em về “Tuổi hai mươi”- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Suy nghĩ của em về “Tuổi hai mươi”- Văn lớp 12
Bài làm
Trong cuộc đời mỗi con người đều phải tuân thủ những quy luật của tạo hóa, sinh ra, lớn lên trưởng thành, bệnh tật và chết đi. Mỗi con người đều có một thời tuổi trẻ, một tuổi hai mươi tràn đầy ước mơ, hoài bão. Tuổi hai mươi chính là tuổi đẹp nhất mà mỗi con người có được. Nó là quãng thời gian mà khi nó đã qua đi không ai có thể lấy lại được.
Mỗi chúng ta khi nhớ về tuổi hai mươi của mình sẽ có những cảm giác khác nhau. Có người cảm thấy vui vẻ hạnh phúc khi nhớ về tuổi trẻ của mình, cũng có người cảm thấy dằn vặt tiếc nuối vì những điều muốn làm nhưng chưa làm được, hoặc những việc đã làm sai.
Tuổi hai mươi là con số đáng nhớ nhất trong cuộc đời mỗi con người về sau. Bởi đây là tuổi các bạn đã được làm lễ trưởng thành, không còn là đứa trẻ, là học sinh để có thể làm nũng với bố mẹ, hay đòi hỏi quá nhiều sự chăm sóc. Tuy nhiên, tuổi hai mươi các bạn cũng chưa đủ trưởng thành để có thể tự quyết định mọi thứ.
Tuổi hai mươi là viên gạch nền móng đầu tiên đánh dấu sự trưởng thành của bạn. Nó sẽ mở đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời một con người bạn phải sống làm sao cho xứng đáng với một thời tuổi trẻ của.
Biết bao thế hệ cha anh chúng ta những lớp người đi trước đã làm nên một tuổi hai mươi hào hùng, với những lý tưởng sống, hoài bão lớn lao. Tạo nên sự nghiệp anh hùng trong cuộc đời mình. Nhờ có những con người anh dũng đó mà dân tộc Việt Nam nhỏ bé của nước ta chiến thắng hai nước lớn mạnh Pháp và Mỹ.
Chắc hẳn chúng ta nhiều người đã đọc cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, thông qua cuốn nhật ký đó chúng ta thấy được rằng thế hệ cha anh chúng ta đã có một tuổi hai mươi thật đáng tự hào, thật lừng lẫy biết bao. Những con người tuổi xuân phơi phới nhưng không ngại hy sinh thân mình, không ngại mất mát đau thương xông pha lửa đạn để bảo vệ từng mảnh đất quê hương thân yêu.
Trong thời kỳ hiện đại, chúng ta hạnh phúc hơn những người đi trước vì chúng ta sinh ra và lớn lên trong thời bình được yêu thương, che chở của cha mẹ, được học hành tới nơi tới chốn. Chúng ta có mọi điều kiện để thực hiện những ước mơ hoài bão của mình.
Nhưng cũng có nhiều người, họ đã hối tiếc rất nhiều khi nghĩ về tuổi hai mươi của mình, khi họ không dám theo đuổi ước mơ của mình, rụt rè nhút nhát không dám thực hiện những ước mơ lớn. Để rồi khi cơ hội thời gian đi qua thì họ cảm thấy xót xa vì tuổi trẻ không đến hai lần.
Nhiều người do thời trẻ bị bạn bè dụ dỗ, lôi kéo sa chân vào chốn ăn chơi, nên đã đánh mất tương lai tốt đẹp. Rồi vướng vào vòng lao lý tù tội, dẫn tới những vết nhơ trong cuộc đời mình, mà sau này muốn làm lại từ đầu cũng không còn được như trước nữa. Họ hối tiếc ân hận rất nhiều vì những việc mình đã làm, nhưng thời gian không quay trở lại bao giờ.
Với bản thân tôi tuổi hai mươi chính là tuổi trưởng thành để tôi có thể thực hiện những ước mơ riêng của mình. Tạo ra những kỷ niệm đáng nhớ cho một thời tuổi trẻ.
Tuổi hai mươi là một cuốn phim quay chậm để chúng ta lưu giữ lại những kỷ niệm đáng nhớ. Để khi già yếu chúng ta nhìn lại tuổi thanh xuân của mình sẽ cảm thấy mát mẻ như một cơn mưa rào, để lại những kỷ niệm đáng nhớ dễ thương không có gì làm phai nhạt.
Mỗi ngày đi qua các bạn đã tự chôn vùi tuổi trẻ của mình một cách vô ích. Để rồi khi các bạn lỡ sa chân vào những sai lầm, tương lai của các bạn bị mờ mịt tăm tối, gây đau đớn cho mọi người.
Tuổi hai mươi chỉ đến một lần trong đời, nó là chuyến tàu tốc hành chỉ có chiều đi không có chiều trở lại. Mỗi người cần phải biết trân trọng cơ hội của mình để tạo ra những phương hướng ước mơ cho tương lai tốt đẹp hơn. | Suy nghĩ của em về “Tuổi hai mươi”- Văn lớp 12 | 806 | |
Đề bài: Suy nghĩ của em vể chú ếch trong truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng. Từ câu chuyện này em rút ra bài học gì?
Bài làm
Truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng mang đến cho người đọc nhiều suy nghĩ về nhân vật ếch và giúp ta có được những bài học bổ ích.
Chú ếch trong câu chuyện nghĩ bầu trời chỉ bé như một cái vung vì nó sống ở đáy giếng đã lâu ngày, xưa nay chưa từng ra khỏi miệng giếng. Các con vật sống cùng với ích dưới đáy giếng như nhái, cua, ốc đều bé nhỏ. Nó chỉ cần cất tiếng kêu ộp ộp cũng đủ làm cho chúng hoảng sợ. Vì chưa từng gặp kẻ nào mạnh hơn mình nên ếch mới nghĩ nó là một vị chúa tể. Đó là một suy nghĩ sai lầm, song điều này rất dễ hiểu: ếch đã bao giờ bước ra khỏi cái miệng giếng đó đâu, nên nó không biết thế giới ngoài kia còn bao điều lo lớn là phải!
Nhưng không chỉ thiếu hiểu biết, chủ quan và kiêu ngạo, ếch còn là một kẻ không thức thời. Lần đầu tiên rời khỏi cái giếng nhà mình, đáng ra nó phải khiêm nhường học hỏi về thế giới mới. Nhưng không. Nó nghĩ cái nơi mới mẻ này cũng như cái giếng cạn của nó, vây nên đi lại nghênh ngang kêu ồm ộp, nhâng nháo nhìn trời và không thèm để ý gì đến xung quanh. Việc ếch bị trâu đi qua giẫm bẹp cũng là điều dễ hiểu. Đó là hậu quả tất yếu của thói chủ quan, kiêu ngạo như khi còn ở trong đáy giếng. Giá ếch chịu khó để ý xung quanh thì đã không xảy ra tai hoạ. Nhưng tiếc thay, nó đã không biết thân biết phận như vậy thì nếu khống bị trâu giẫm, nó cũng sẽ găp phải một tai hoạ khác.
Câu chuyện về chú ếch ngốc nghếch đã mang lại cho người đọc nhiều bài học có ích trong cuộc sống. Một môi trường nhỏ bé, hạn hẹp, không có sự giao lưu sẽ làm hạn chế tầm hiểu biết về thế giới xung quanh. Khi sống lâu trong một môi trường khép kín, sự hiểu biết của người ta sẽ trở nên nông cạn, hạn hẹp, từ đó dễ nảy sinh tâm lí chủ quan, kiêu ngạo. Bởi vậy, chúng ta phải biết mở rộng các mối quan hệ bạn bè, thầy cô; biết "đi một ngày đàng" để "học một sàng khôn". Bên cạnh đó, sự kiêu ngạo, chủ quan rất dễ khiến cho ta phải trả giá đắt, có khi mất mạng như chú ếch kia. Vì vây, dù sống ở trong môi trường nào cũng không nên bó hẹp suy nghĩ, phải chú ý học hỏi để mở rộng tầm hiểu biết. Và khi thay đổi môi trường sống hoặc lĩnh vực nghề nghiệp quen thuộc phải thận trọng, khiêm tốn tìm hiểu để thích nghi; tránh chủ quan, kiêu ngạo, suy nghĩ nông cạn, hạn hẹp. | Suy nghĩ của em vể chú ếch trong truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng. Từ câu chuyện này em rút ra bài học gì_ | 518 | |
Đề bài: Bạn nghĩ gì về bạn và chọn bạn
Bài làm
Sống trong xã hội, hầu như người nào cũng có bạn hữu. Có bạn tốt và có bạn xấu. Bạn tri âm, bạn tri kỉ, bạn chí thân… là nói về bạn tốt. Trái lại có loại bạn sớm nắng chiều mưa, có kẻ lừa thầy phản bạn, khi vui thi có bạn, lúc hoạn nạn thì hết bạn!
Suy nghĩ về tình bạn và chọn bạn bè
Không Tử chia bạn tốt ra làm ba loại: bạn chính trực, bạn biết giữ chữ tín, bạn có kiến thức uyên bác. Đó là những con người thẳng thắn khuyên ngăn những sai lầm, khiếm khuyết của bạn, không bao giờ sai hẹn, sai lời, lúc hoạn nạn, khó khăn, lúc vui, buồn, lúc sống, chết đều có nhau; bạn có văn hóa, có học vấn, từng trải, có thế giúp ta mở mang kiến thức, vươn lên một tầm văn hóa mới: thành người có học và có hạnh, một nhân cách văn hóa. Câu chuyện cổ, vở chèo cổ rất được nhân dân ta yêu thích mang tên Lưu Bình – Dương Lí ca ngợi tình bạn đẹp thủy chung như thế. Nhà thơ Chính Hữu có bài thơ Đồng Chí nói về thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954) từng gian khổ có nhau, vào sinh ra tử có nhau cùng chung lí tưởng chiến đấu cao cả.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đòi tri kỉ…
.. Đêm nay rừng hoang sưang muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
Trong cuộc sống, có nhiều tình bạn rất đẹp: giúp nhau công việc, vốn liếng làm ăn, vượt qua số phận, vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu. Có nhiều thứ tình bạn: bạn đồng học, bạn tuổi thơ, bạn đồng hương, bạn đồng khoa, bạn đồng tuế Bạn tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên của thời áo trắng là thật đẹp. đáng tự hào. Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến và Tiến sĩ Dương Khuê là hai bạn đồng khoa cuối thế ki XIX. Đọc bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến, ai cũng cảm động về một tình bạn thủy chung:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau,
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong lúc gặp gỡ khác đâu duyên trời.
Khổng Tử cũng chia bạn xấu làm ba loại: bạn chỉ biết khua môi múa mép, bạn miệng nam mô bụng bồ dao găm, bạn chỉ ba hoa nói mà không làm. Đó là những kẻ đạo đức kém, hai mặt tráo trở, sẵn sàng bán ré lương tâm, bán rẻ bạn bè cho quỹ dữ. Tục ngữ có câu: “Tin bạn mất vợ, tin bợm mất bò”. Bạn xấu nhan nhản khắp nơi; loại bạn này đáng sợ lắm!
“Buôn có bạn, bán có phường”, “Ra đi vừa gặp bạn hiền /Sướng bằng ăn quá đào tiên trên trời". Bạn hiền là bạn tốt. Trong cuộc đời, ta không nên tin và kết bạn với những người chí biết nói mà không hề làm, chỉ biết đàn đúm vui chơi hưởng lạc, thấy lợi quên bạn, “tham vàng bỏ ngãi”, khi bạn gặp bất hạnh thì ngoảnh mặt làm ngơ, thậm chí còn ngấm ngầm hại bạn.
Kết giao bạn bè có quan hệ rất lớn đến sự trưởng thành, đến sự thành bại trong sự nghiệp. Tuổi thơ được sống trong tình bạn đẹp, được kết giao với bạn tốt mà trở nên chăm ngoan, học giỏi. Nếu giao du với bạn xấu thì sớm muộn cũng trở thành ăn chơi đua đòi, nhác học, trốn học, bỏ học, thành học sinh hư, cá biệt. “Gần mực thì đen" là điều ta cần biết, cần nhớ.
Hậu quả cua việc chơi với bạn xấu, kết giao với bạn xấu thật đáng sợ. Có người bị bạn xấu lừa mà bị tổn thất tài sản, trắng tay. Có người chơi với bạn xấu mà dấn sâu vào vòng tù đày, tội lỗi. Có người không thận trọng khi kết bạn mà bị bạn lừa, tan nát cả gia đình, thậm chí mất cả mạng sống của mình.
A dua theo bạn xấu là không nên. Phải tránh xa những kẻ “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Có trải qua hoạn nạn, khó khăn, ta mới phân biệt được bạn xấu, bạn tốt, bạn hiền, bạn thủy chung…
Bước vào đời, không ai có thể sống cô đơn, cô độc, cần được sum vầy, trong bạn bè. Người xưa có nhắc: “Phải quảng giao để tìm tri âm, tri kỉ”, để được sống hạnh phúc, cổ ngữ có câu: “Nhân sinh, đắc nhất tri kỉ, túc hĩ", nghĩa là trên đời mà có được một người bạn tri kỉ, thế là đủ”. Có phải vì thế mà Nguyễn Sưởng, một danh sĩ thời Trần đã viết: “Trải qua biển hồ mười năm mà ít tri kỉ’’ (Hồ hải thập niện tri kỉ thiểu). Đó là sự thật, vì ở khắp mọi nơi, sỏi, đá thì nhiều mà vàng, ngọc thì ít!
Chọn bạn mà học hành, làm ăn. Chọn bạn để được sống hạnh phúc trong tình người. Một vấn đề, một việc rất hệ trọng, không đơn giản. | Suy nghĩ gì về bạn và chọn bạn | 887 | |
Suy nghĩ gì về lẽ sống được gửi gắm trong câu: Chân lí thuộc về mọi người. Không chịu sống đời nhỏ nhoi!
Hướng dẫn
Sống có khát vọng là cuộc sống có ý nghĩa
Mở bài:
Sống hữu ích, sống vì mọi người luôn là lý tưởng của thế hệ thanh niên trong thời đại mới. Trong bài hát “Một đời người – một rừng cây”, nhạc sĩ Trần Long Ẩn từng viết: “Chân lí thuộc về mọi người. Không chịu sống đời nhỏ nhoi!”. Lời hát thiết tha đã để lại cho chúng ta biết bao suy nghĩ về trách nhiệm và bổn phận làm người trong cuộc đời này.
Thân bài
Chân lí là gì?
Khái niệm chân lý dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn. Nói một cách dễ hiểu: chân lý là một sự thật hiển nhiên của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian. Thực tế, chân lí là sự phù hợp giữa nhận thức và thực tiễn khách quan, là nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan trong đầu óc con người.
Lý tưởng sống của con người trong thời đại mới:
Dựa trên khái niệm chân lí, câu nói trên có nghĩa là: những điều đúng đắn nhất thuộc về nhận thức của mọi người, được mọi người chấp nhận. Con người ý thức được ý nghĩa sự tồn tại của mình phải biết sống cuộc đời lớn lao, rực rỡ và hữu ích cho mọi người. Câu nói đề cao một lẽ sống cao đẹp, thái độ sống có trách nhiệm, biết cống hiến cho đời. Lẽ sống cao đẹp là không chỉ làm tốt những việc trong phận sự của mình mà còn sẵn sàng gánh vác, lãnh nhận về mình những khó khăn, cống hiến cho đời bằng những việc làm thiết thực.
Trách nhiệm, cống hiến là một trong những người tiêu chí đạo đức làm người, tạo nên lối sống vị tha. Trách nhiệm làm nên những nghĩa cử cao đẹp: dám hi sinh, dám dẫn thân, biết chia sẻ phần gian khổ với mọi người.
Xã hội cũng quy định rát rõ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi công dân nhằm hướng con người biết thực hiện bổn phận của mình đối với bản thân, gia đình và đất nước. Song, đó mới chỉ là quy định. Bản thân mỗi cá nhân phải biết tự nỗ lực vươn lên trong cuộc sống và đem lại những hành động ý nghĩa, những giá trị sâu sắc cho cuộc đời chung. Mỗi cá nhân sống mạnh mẽ và thành công thì xã hội sẽ tiến bộ, đất nước lớn mạnh, hạnh phúc lâu bền.
Sống có trách nhiệm, biết cống hiến tạo nên hiệu quả công việc, tạo nên moi trường sống tốt đẹp, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa con người với nhau trong ra đình, tập thể, cộng đồng là một lối sống vững mạnh và tiến bộ, trở thành động lực phát triển xã hội.
Nếu sống thiếu trách nhiệm, không biết cống hiến cho đời thì con người tự tách mình khỏi cộng đồng, trở nên lạc lõng, cô độc, tạo nên lối sống ích kỉ, cản trở công việc chung và sự phát triển của xã hội… Trong xã hội, có nhiều người chỉ vì lợi ích riêng mình mà sống thờ ơ, vô cảm tách biệt với cộng đồng. Họ chỉ lo cho bản thân, không quan tâm đến cộng đồng, không muốn thực hiện trách nhiệm nào đối với tập thể. Những người như thế thật đáng chê trách.
Trách nhiệm là nhiệt tình, là sự cống hiến nhưng nếu nhiệt tình cống hiến một cách mù quáng thì tính trách nhiệm lại phản tác dụng. Sự nhiệt tình, cống hiến phải gắn liền với hiệu quả công việc, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật và khả năng, năng lực của bản thân. Phải gắn công việc với các chuẩn mực đạo đức vốn được xã hội thừa nhận, đảm bảo công việc mang lại hiệu quả thiết thực. Nhiệt tình nhưng nông nổi, thiếu suy nghĩ, cố chấp là sự nhiệt tình vô ích, thậm chí là trở thành kẻ phá hoại.
Muốn sống có trách nhiệm với bản thân và mọi người, cần phải làm gì?
Một người năng nổ, có trách nhiệm với công việc nhưng nếu nhận lấy một công việc vượt quá sự hiểu biết của mình, chấp nhận vừa làm, vừa học vừa rút kinh nghiệm có thể sẽ gây ra những tổn thất lớn cho tập thể. Tri thức luôn đóng vai trò quyết định thành công trong công việc, không nên chỉ dựa trên lòng nhiệt tình mà nhận lấy về mình những trách nhiệm quá lớn, vượt quá khả năng.
Ý thức được sự cần thiết có lẽ sống cao đẹp, có tinh thần trách nhiệm, biết cống hiến hi sinh cần sống có trách nhiệm từ những việc nhỏ, trách nhiệm với bản thân, với những người xung quanh, với xã hội…
Để cho lẽ sống đẹp đẽ trong bài ca được lan tỏa, nhiều phong trào của tuổi trẻ không chỉ là khẩu hiệu, mà phải biến khẩu hiệu thành hành động cụ thể: “tình nguyện vì cộng đồng”, “chung tay xây dựng nông thôn mới”, “thi đua học tập, sáng tạo, lập thân, lập nghiệp”, “xung kích bảo vệ Tổ quốc”.
Hình thành nên một thế hệ trẻ “không chịu sống đời nhỏ nhoi” nối bước cha anh “sống vì mọi người” bằng các chương trình khởi nghiệp đang phát triển trên khắp đất nước, mang trong mình khát vọng lớn lao đưa đất nước mau chóng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu; biết cống hiến và hy sinh, làm chủ vận mệnh dân tộc, đưa đất nước tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển.
Kết bài
“Người vá trời lấp bể
Kẻ đắp luỹ xây thành
Ta chỉ là chiếc lá
Việc của mình là xanh”.
(Lá Xanh – Nguyễn Sĩ Đại)
Sống bình thường chưa hẳn đã nhỏ bé mà sống chân thực với bản thân. Nhiều người có trí tuệ, có tiềm lực, theo đuổi những sự nghiệp lớn lao là điều hiển nhiên. Còn những ai không có đủ những điều kiện ấy thì hãy sống như cuộc sống vốn có của mình. Sống đẹp là sống hữu ích như chiếc lá kia dâng cho đời màu xanh, góp phần tạo nên sự sống tươi xinh.Thanh niên sống đẹp không có gì khác hơn là sống vì đất nước. Thanh niên hãy vì đất nước mà không ngừng rèn luyện mình, mai này đem sức mình xây dựng quê hương như lời Bác Hồ đã thiết tha căn dặn | Suy nghĩ gì về lẽ sống được gửi gắm trong câu_ Chân lí thuộc về mọi người. Không chịu sống đời nhỏ nhoi! | 1,147 | |
Suy nghĩ gì về lời khuyên của S.Korolev: Không nên sống bình thường mà phải sống háo hức và mê say
Hướng dẫn
Sống háo hức, say mê sẽ đưa bạn đi nhanh đến thành công
Mở bài:
Sứ mệnh chân chính của con người là sống chứ không phải tồn tại. Sống đúng nghĩa là phải sống háo hức và say mê, đem lại nhiều lợi ích cho xã hôi, có sức mạnh tạo động lực giúp người khác vươn lên.
Thân bài:
Sống bình thường là gì?
Sống bình thường là sống không có gì đặc biệt, thiếu nỗ lực, thiếu phấn đấu, không có ý thức vươn lên, cứ mặc cho cuộc sống đưa đẩy.
Sống háo hức và say mê là gì?
Sống háo hức và say mê là sống nhiệt tình, sôi nổi, đem hết tâm huyết của mình để thực hiện ước mơ, hoài bão; luôn lạc quan yêu đời và tin tưởng ở tương lai. Người sống say mê háo hức sẽ nhiệt tình với công việc, nhiệt tâm với mọi người, nhiệt thành với trách nhiệm và nghĩa vụ của mình.
Câu nói khuyên con người hãy sống tích cực, nhiệt tình, sống hết mình. Cuộc đời sinh động và đẹp đẽ do làm việc sôi nổi. Cuộc đời không phải gánh nặng, mà là đôi cánh, là sáng tạo, là niềm vui. Thế giới thuộc về những ai sống có nhiệt huyết, say mê và có khát vọng cháy bỏng
Lời khuyên của S. Korolev rất đúng đắn vì:
Với bản thân mình:
+ Sống háo hức và mê say, con người sẽ có những hoài bão, ước mơ cao đẹp và luôn có khát vọng thực hiện những ước mơ ấy. Chính điều đó sẽ giúp con người sống một cách xung mãn và đáng yêu trong từng giây phút hiện tại của đời mình, giúp phát huy nội lực của bản thân, biết thể hiện chính mình, và như vậy giá trị năng lực của mình sẽ nâng cao.
Trong quan hệ với mọi người:
+ Sống háo hức và mê say sẽ tạo nên được bầu không khí sinh động, là mối dây liên kết mọi người trong tình thân ái. Ở đó ta sẽ nhận được sự đồng cảm, chia sẻ và tình yêu thương của mọi người.
+ Sống bình thường con người sẽ bị hạn hẹp dần giữa những bộn bề, lo toan đầy căng thẳng, trước những ám ảnh về thành công, về tiền bạc; từ đó trở nên chểnh mảnh với mọi tương quan xã hội, dần dần trở nên cô đơn, lạc lõng.
Trong quan hệ với công việc:
+ Sống háo hức và mê say là yếu tố chủ chốt để khởi sự và hoàn thành công việc. Nó là đức tính của những con người có bản lĩnh chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức.
+ Sống háo hức và mê say sẽ thao thức, nghiền ngẫm về phương pháp làm việc, dám có những sáng kiến táo bạo và độc đáo để hoàn thành công việc.
+ Sống háo hức và mê say sẽ giúp con người vượt qua khó khăn, gian khổ và kiên trì cho đến cùng, không nao núng trước mọi thách đố và thất bại.
+ Sống bình thường, thiếu sự say mê và nhiệt tình chúng ta sẽ kéo lê công việc một cách nặng nề, mất đi niềm vui và tính sáng tạo.
Lời khuyên của S. Korolev có ý nghĩa cực đối với thanh niên, học sinh vì:
– Đây là lứa tuổi đã trưởng thành đủ để nhận thức được cái đúng, cái sai trong cuộc sống.
– Đây cũng là lứa tuổi căng tràn sức sống, là lứa tuổi của nhiều ước mơ và có khả năng thực hiện ước mơ của mình.
Bài học:
Vấn đề không phải là chúng ta sống bao lâu, mà sống như thế nào. Gía trị con người trước hết là do bầu nhiệt huyết của họ
– Năng nổ, xả thân trong bổn phận của mình và nhiệt tình hưởng ứng trong việc góp phần cho lợi ích chung.
– Động viên, mở đường và trợ lực cho nhau trước những khó khăn và thử thách.
– Cần dẹp tan những ý định buông xuôi, chùn bước, và triệt thoái những ý nghĩ buồn phiền, chán nản, ngờ vực, lo sợ, lưỡng lự không dám quyết định và tiến bước.
– Tránh những kiểu nói “bàn ra”, những lời không có tính cách động viên và những câu dè pha gây nghi ngờ, thoái chí trong nhiệm vụ chung của mình và của mọi người.
– Tránh những cách làm cẩu thả, xuề xòa, qua loa cho xong công việc hoặc tránh né bổn phận và trách nhiệm chung, tìm cách đẩy công việc cho người khác để mình được yên thân, nhàn nhã.
Kết bài: | Suy nghĩ gì về lời khuyên của S.Korolev_ Không nên sống bình thường mà phải sống háo hức và mê say | 790 | |
Đề bài: Bạn suy nghĩ gì về một thói quen trong xã hội: sự nịnh bợ.
Bài làm
Xu nịnh tức khen ngợi quá đáng hay hoang tưởng nảy sinh từ quyền lợi riêng tư, có thể được định nghĩa: “Đó là cử chi đáng khinh bỉ. Đó là quà tặng xấu xa và chỉ là bài học của những kẻ hợm hĩnh”. Kẻ nịnh hót thường là những tên ích kỉ nguy hiểm. Nó cố nhét vào trí óc con người những điều hư ảo hòm kiếm chát ân huệ hay đổi lại sự giúp đỡ thực lòng. Đó là kẻ xấu xa nhất trong số những kẻ thù. Nó vừa là tội phạm, vừa là nhân chứng: “Kẻ này lừa dối người phân xử, kẻ kia lừa dối chúng ta”. Một triết gia nói rằng: “Trong số những con thú hoang dã thì con thú gièm pha là đáng sợ nhất, còn trong số những người trong nhà thì đáng sợ nhất là kẻ xu nịnh”. Kẻ nịnh hót chỉ tìm kiếm cái lợi ích riêng tư và nó sống nhờ vào những kẻ đã lắng nghe nó.
Suy nghĩ gì về thói quen nịnh bợ trong xã hội
Những kẻ chân chính thường ít bị lường gạt bởi sự nịnh hót, bởi tâm địa của kẻ tim kiếm cái lợi ích riêng tư và sống nhờ vào những kẻ đã lắng nghe nó. Trong một số bức thư với lời lẽ dịu dàng, Louis Veuillot kể rằng hàng ngày ông nhận được những lời tán dương của biết bao bạn bè thân, sơ. Rồi cũng hàng ngày, đứng trước tấm gương để cạo mặt, ông tự hỏi: “Ta sẽ cạo nhẵn bao nhiêu người?”.
Một người có chức vị, không muốn bị kẻ thuộc quyền khống chế, phải đương đầu chống lại bọn xu phụ, nịnh hót. Chúng cố nắm chỗ yếu của anh ta, làm cho anh ta tin phục, và coi những người khác đều là kẻ thù nghịch.
Một hôm, vua Henry V đi ngang qua Amiens nghe thấy một vị quan tòa đang diễn thuyết. Ông ta ráng cổ trình bày những tiêu đề như: “Rất lớn, rất mạnh, rất tốt, rát nhân từ, rất cao thượng”. Nhà vua bèn nói: “Hãy thêm là rất mệt!”. Nhà vua làm ông quan tòa sửng sốt.
Người tự trọng không bao giờ nịnh hót. Sự ca ngợi, còn gọi là “tâng bốc” là lời nói bùi tai, cách gợi cảm ngọt ngào cốt để cho người nghe thấy dễ chịu và nhấn mạnh về sự thành công cùa anh ta.
Công tước De Morny nổi tiếng về nghệ thuật tỏ lời khen tặng. Vào năm 1862, tại Cleront Ferrand, ông kết thúc bài diễn văn bằng lòng khen ngợi hoàng hậu “là người đã đưa nhiều ân huệ lên ngai vàng, và hàng ngày ban bố xuống thần dân biết bao nhiêu lòng nhân ái”.
Lời khen ngợi phải chân thực, thích hợp, xúc động. Nó mở ra những lời tán dương mà người la chưa diễn đạt hết và cũng tìm thấy ở đó đầy sự khoan dung. Nhưng nếu khen tặng lộ liễu thì có khi làm tổn thương tới tính khiêm tốn. Nếu nói thái quá thì trở thành kì cục, đôi khi còn bị người nghe phản đối. Sự khen tặng phải được cân nhắc cho hợp lí và công bằng, nhất là khi hạ thấp giá trị của người này để khen tặng người kia. Chẳng hạn có kẻ nói “Anh cũng rộng rãi như A, còn B thì hà tiện”. Phải trân trọng lời khuyên và cần lánh xa nó. Người ta lắng nghe và cử chỉ khiêm tốn ngay khi được khen, không nên tỏ vẻ vui mừng trên nét mặt và chỉ tỏ vẻ cảm ơn bằng cách nói: tôi chỉ làm hết bổn phận. Có lẽ khôn ngoan hơn là đừng nói gì cả… | Suy nghĩ gì về thói quen nịnh bợ trong xã hội | 649 | |
Đề bài: Suy nghĩ gì về tư tưởng Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung
Bài làm
Được khẳng định từ thế kí XV trong tác phẩm Bồi kí để danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bão thứ ha, tư tưởng Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung là một trong những tư tường lớn đã được kiểm nghiệm qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước. Trong sự phát triển mạnh mẽ và cũng hết sức phức-tạp hiện nay, tư tưởng này đang được tiếp tục đề cao chú trọng.
Tư tưởng của Thân Nhân Trung cho rằng: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yểu, rồi xuống thấp". Chính vì thế "bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ. vun trồng nguyên khí" là việc đầu tiên đã, đang và cần phải làm cùa nhà nước. Như vậy, theo Thân Nhân Trung hiền tài có vai trò quyết định" đến sự thịnh – suy của đất nước, hiền tài chính là khí chất làm nên sự sống còn sự phát triển của xã hội, của quốc gia; một nước muốn mạnh thì điều trước tiên cần quan tâm chú trọng là bổi dượng, chăm chú, đãi ngộ hiền tài.
Hiền tài là nguyên khí quốc gia
Có-thể nói tư tuởng của Thân Nhân Trung là một tư tưởng hết sức đúng đắn và tiến bộ. Hiền tài là những người tài cao, học rộng lại đức độ, đó là những ngựời vừa có trí tuệ lại vừa có nhân cách đáng trọng. Tài năng, trí tuệ sáng suốt của họ sẽ tạo nên những giá trị, những thành quả, những sản phẩm mới cho con người, cho xã hộ, góp phần cài biến xã hội, thúc đẩy xã hội vận động, họ là những người có khả năng phán đoán, suy xét thấu đáo, có tầm nhìn xa trông rộng cho nên có thể vạch ra nhưng đường hướng quan trọng cần thiết cho sự vận động của xã hội trong tương lai… Để xây đựng một đất nước giàu mạnh về mọi mặt cần thiết phải có những con người tài giỏi, những cá nhân có năng lực, có tài, có trí tuệ thực sự. Bên cạnh tài năng thì dức độ, nhân cách cùa họ sẽ giúp họ biết sử dụng cái tài của mình vào những mục đích tốt đẹp, họ sẽ tạo ra những giá trị hữu ích cho cuộc sống. Trong một xã hội không thiếu những cá nhân có tài, nhưng trong sô' đó không phải ai cũng là hiền tài. Có nhiều người có tài nhưng lại thiếu đức. Những người này thường đem cái tài của mình phục vụ cho lợi ích cá nhân; không quan tâm, thậm chí đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng. Trái lại, người hiền tài bao giờ cũng biết suy nghĩ vể lợi ích chung của cộng đồng, về những giá trị chân chính đích thực cho con người. Chính vì thế những gì mà họ tạo ra bao giờ cũng đem lại những tác động tích cực, lành mạnh cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của cả xã hội. Xã hội, đất nước ngày càng đi lên, ngày càng cường thịnh là nhờ sự đóng góp-của hiền tài. Như vậy, rõ ràng hiền tài chính là "nguyên khí" của một quốc gia, có vai trò quyết định tới sự thịnh – suy của một đất nước. Một xã hội, một đất nước càng nhiều hiền tài thì càng phát triển nhanh chóng ; một xã hội, mội đất nước mà thiếu vắng hiền tài thì sẽ rất khó bền vững, khó có được sự ổn định và phát triển.
Tư tưởng của Thân Nhân Trung không chỉ khẳng định vai trò quan trọngcủa hiền tài đối với quốc gia mà còn nêu cao sự cần thiết củạ việc quan tâm đến hiền tài. Đất nước nào, xã hội nào cũng có những người hiền tài, tuy nhiên những người hiền tài đó có được phát huy hết những gì mà họ có hay không còn phụ thuộc vào việc có trọng dụng hay không và trọng dụng của xã hôi, đất nước đó. Một đất nước, một xã hội muốn phát triển cần thiết phải chăm lo bồi dưỡng, trọng dụng hiền tài, cần trân trọng, tôn vinh những cống hiến, những đóng góp của họ, cần bào vệ, phát huy những giá trị quý giá mà họ đã đem lai cho xã hội, cần tạo môt mối trường trong sạch, lành mạnh để người hiền tài được phát huy hết tiềm năng, Cần có sự quan tâm đãi ngộ kịp thời, đúng đắn với người hiền tại. Có như vậy thì hiền tài mới ngày càng dổi dào và đất nước mới thực sự hưng thịnh. Nqược lại, có hiền tài mà không trọng dụng, thậm chí còn tìm cách huý hoại thì hiến tài cạn kiệt, không còn những người tài đức đế kiến tạo đất nước, xã hội lâm vào suy thoái.,trì trệ, quốc gia tất sẽ đi đến chỗ suy yếu. Điều này đã được minh chứng rõ ràng bằng lịch sử. Chăm lo đến hiền tài là việc cần làm đầu tiên không chỉ của riêng một nhà nước, một xã hội nào mà là của mọi nhà nước, mọi xã hội.
Hiền tài không phải tự nhiên mà có. Những người hiền tài có một phần nhỏ là tư chất bẩm sinh, phần lớn là nhờ tu dưỡng, rèn luyện không ngừng trong quá trình sống. Vì thế, bản thân những người tài đức trong xã hội phải luôn thấy rõ vai trò của mình đối với đất nước, từ đó mà liên tục trau dồi bản than, phát huy tận độ mọi tiềm năng, cống hiến hết mình cho xã hội trong mọi hoàn cảnh, xứng đáng với sự kì vọng của cộng đổng. Mọi cá nhân trong xã hội phải luôn ra sức rèn luyện, phấn đấu để thành người tài đức góp phần xây dựng đất nước. Đất nước phát triển thì cuộc sống của mỗi cá nhân cũng sẽ được đảm bảo.
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, yêu cầu phát triển đât nước càng đặt ra một cách bức thiết. Để sánh vai cùng các nước mạnh trong khú vực và trẽn thế giới, chúng ta cần có nhiều hơn nữa những người tài đức. Chính bởi vậy tư tường của Thân Nhân Trung thêm một lần nữa cần được khẳng định tính đúng đắn và tiến bộ của nó. Đó chính là kim chi nam không chỉcủa một thời đại để xây dựng một quốc gia phồn vinh, thịnh vượng thực sự. | Suy nghĩ gì về tư tưởng Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung | 1,140 | |
Suy nghĩ gì về vốn văn hóa của dân tộc Việt Nam
Hướng dẫn
Suy nghĩ gì về vốn văn hóa của dân tộc Việt Nam
Bài làm
Văn hóa là một trong những khía cạnh mà bất cứ đất nước hay quốc gia nào đều yêu thích nó, nó bao trùm toàn bộ mọi khía cạnh của mỗi quốc gia dân tộc, nó phản ánh tình trạng văn hóa, xã hội của từng đất nước, chính vì thế, khi nhìn sâu vào vốn văn hóa của dân tộc, chúng ta thấy sự khác nhau giữa các nền văn hóa.
Chúng ta không thể đem văn hóa của bất kỳ quốc gia hay dân tộc nào để so sánh, bởi mỗi dân tộc, mỗi quốc gia có một nền văn hóa riêng, chính vì thế chúng ta chỉ có thể so sánh sự khác nhau giữa các nền văn hóa, chứ không thể phân biệt sự giàu nghèo được. Việt Nam là một trong những nước có nền văn hóa mới, có nền văn hóa phong phú, khắc họa rõ nét những truyền thống của dân tộc ta từ xưa đến nay. Nó biểu hiện những nét đẹp văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, truyền thống văn hóa biểu hiện nét đẹp của mỗi quốc gia dân tộc, văn hóa biểu hiện nét đẹp nghệ thuật, nó được biểu hiện qua ngôn ngữ, nghệ thuật, điêu khắc, hay các công trình kiến trúc…
Việt nam từ xưa đến nay đã có nền văn hóa đồ sộ phong phú, có nhiều công trình khiến trúc được xây dựng từ rất lâu đời, đến nay nó trở thành một trong những truyền thống văn hóa, tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Văn hóa biểu hiện nét đẹp riêng, sâu sắc, trong cách thể hiện, những đặc điểm đó đã khắc họa sâu sắc trong tính cách, tâm hồn của con người trong xã hội.
Nét đẹp văn hóa là tinh hoa văn hóa của dân tộc, nó được biểu hiện qua nhiều khía cạnh như truyền thống đạo đức, văn hóa của dân tộc Việt Nam, mọi truyền thống đó được thể hiện rõ nét qua từng chi tiết, thể hiện tinh hoa văn hóa của cả vùng miền, quốc gia, dân tộc Việt Nam.
Văn hóa biểu hiện ở ẩm thực, ca nhạc, nghi thức… tất cả những nét đẹp đó đều được xét vào truyền thống văn hóa của cả dân tộc Việt Nam, nó mang lại những giá trị to lớn trong truyền thống, đạo đức của tất cả các quốc gia, dân tộc. Truyền thống văn hóa là biểu hiện của nét đẹp riêng, tinh hoa của cả dân tộc, vì vậy, nét đẹp văn hóa là những nét đẹp mới, riêng biệt trong cách thể hiện của chính tác giả, qua cách khắc họa rõ nét được những vẻ đẹp mới của từng dân tộc.
Nét đẹp văn hóa là những nét đẹp đáng được trân trọng, giữ gìn và đáng tự hào, chính vì vậy, mỗi chúng ta cần phải biết chân quý những truyền thống văn hóa đó, nó là nét đẹp của người Việt Nam, chúng ta nên tự hào về vẻ đẹp đó. Cần ra sức bảo tồn những truyền thống văn hóa của cả dân tộc, tự hào về văn hóa của đất nước mình.
Văn hóa là khía cạnh sâu rộng, vì vậy, mỗi cá nhân chúng ta cần phải có ý thức bảo vệ nó một cách ý thức và tôn vinh những giá trị truyền thống của dân tộc, phát huy những tinh hoa văn hóa của đất nước, của mỗi quốc gia, cần phải ra sức phát triển nó ngày càng vững mạnh và đẹp hơn.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Suy nghĩ gì về vốn văn hóa của dân tộc Việt Nam | 626 | |
Suy nghĩ từ câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Hướng dẫn
Công cha nghĩa mẹ ghi lòng chớ quên
Mở bài:
Công cha, nghĩa mẹ là ơn đức thiêng liêng nhất trong vũ trụ này. Không có cha mẹ, không có ta ở trên đời. Yêu kính và tri ân công đức cha mẹ là bổn phận của mỗi con người. Nhắc nhở con người về nghĩa cử ấy, người xưa có câu: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Thân bài:
Người Việt Nam ta rất coi trọng đời sống tình cảm và lễ nghi. Đạo hiếu là một trong những phẩm đức hàng đầu mà con người nhất định cần phải có. Nói về công lao của cha mẹ, câu ca dao đã đưa ra những hình ảnh lớn lao, giàu sức biểu cảm để so sánh với công đức của cha, nghĩa tình của mẹ.
Công cha được ví như “núi Thái Sơn”, một ngọn núi nổi tiếng ở Trung Quốc. Núi Thái Sơn là hình ảnh tượng trưng cho những gì lớn lao, vĩ đại. Khi so sánh công cha như núi Thái Sơn, nhân dân ta muốn nhấn mạnh công lao của người cha trong việc nuôi dạy con cái là vô cùng lớn lao, vô cùng vĩ đại.
Nghĩa mẹ được ví như “nước trong nguồn”, dòng chảy cuồn cuộn, không ngừng, không bao giờ dứt, không bao giờ cạn. Nước nguồn ví như tình yêu thương con vô hạn của người mẹ.
Hai hình ảnh cao và dài để biểu hiện tình cảm của cha mẹ, nghệ thuật so sánh như núi Thái Sơn và nước nguồn với công cha, nghĩa mẹ thật đặc sắc. Hai hình cảnh khác nhau nhưng phù hợp với vai trò và vị trí của cha và mẹ trong gia đình. Chữ “công” nói về cha chữ “nghĩa” nói về mẹ. Mẹ là người sinh ra ta, cho ta hình hài. Đó là cái nghĩa thiêng liêng nhất trong thế gian này. Cha là người vất vả nuôi dạy ta, che chở và dẫn bước ta vào đời. Đó cũng là cái ơn vĩ đại nhất trong vũ trụ này. Núi Thái Sơn và nước trong nguồn là hai hình ảnh tượng trưng cho sự lớn lao vô cùng, vô tận.
Cha mẹ có công sinh ra ta, nuôi dưỡng ta từ khi chào đời cho đến lúc trưởng thành. Cha là trụ cột chính của gia đình, lo kinh tế cho gia đình. Mẹ càng cực khổ hơn, chín tháng cưu mang, mang nặng đẻ đau. Khi trái gió trở trời, mẹ lo từng viên thuốc, bát cháo và thức suốt đêm bên con. Cha mẹ đã làm cho con tất cả sức lực của mình, công lao kể sao cho hết!
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Bài ca dao là bài học sâu sắc về đạo làm con, về hiếu nghĩa ở đời. Đạo làm con chính là đạo hiếu. Chữ hiếu phải chân thành, trọn vẹn và được thể hiện tình cảm, thái độ, hành động xứng đáng với đạo làm con. Trong dân gian đã lưu truyền những gương hiếu thảo: “Nhị thập tứ hiếu”. Một ly nước mát khi cha mẹ đi làm về nắng nôi, mệt nhọc. Một lời quan tâm của con cũng đa khiến cha mẹ vui lòng. Đừng làm gì cho cha mẹ buồn lòng. Quan trọng nhất là phải học tập để đem niềm vui, niềm tự hào đến cho cha mẹ. Thành công của con cái chính là sự nghiệp của cha mẹ. Bởi thế, phấn đấu rèn luyên trở thành người tốt, có cuộc sống hạnh phúc là đã cảm được ân sâu, sống xứng đáng với hoài mong của cha mẹ rồi.
Kết bài:
Bài ca dao ngọt ngào êm ái như một lời ru nhưng mang một triết lý sâu sắc về công ơn cha mẹ và đạo làm con. Càng đọc bài ca dao em càng thắm thía em tự nhủ sẽ học tập thật giỏi để cha mẹ luôn hãnh diện về em. Bài ca dao: “Công cha như núi thái sơn” luôn nhắc em giữ trọn đạo làm con. | Suy nghĩ từ câu ca dao_ Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra | 710 | |
Đề bài: Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ và hành động của tuổi trẻ học đường về góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.
Bài làm
Thực tế cho thấy, những năm gần đây, vấn đề giao thông, đặc biệt ở các đô thị lớn của cả nước, càng trở nên phức tạp. Hạ tầng giao thông không theo kịp với sự phát triển của kinh tế – xã hội đã dẫn đến sự ách tắc giao thông và đặc biệt đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng mà nhắc đến con số người chết và bị tàn tật do tai nạn giao thông gây ra, ai cũng thấy bàng hoàng. Vì thế, vấn đề an toàn giao thông đã trở nên cấp bách. Mọi thành phần trong xã hội hầu như tham gia giao thông trong đó có tuổi trẻ học đường. Vậy tuổi trẻ học đường sẽ ứng xử như thế nào về vấn đề này?
Văn hóa, xét cho cùng là giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra, thể hiện mối quan hệ, lối ứng xử, biểu hiện văn minh giữa con người với con người. Văn hóa giao thông là biểu hiện lối ứng xử “đẹp” giữa những người tham gia giao thông trong cộng đồng xã hội. Giao thông trở nên rối loạn nếu không có cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ, hoặc khi tín hiệu đèn không còn do mất điện. Va quệt nhau một tý, không thấy lời xin lỗi nhau mà chỉ chực văng tục, gườm nhau.. Tình trạng lấn chiếm lòng lề đường, tham gia giao thông không đúng luật lệ và cả việc thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng vẫn diễn ra, đặc biệt ở các đô thị lớn, các bến tàu, xe, nơi sinh hoạt đông người.
Suy nghĩ và hành động của tuổi trẻ học đường về góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông
Biết bao lần người ta nói đến việc nhân viên xe buýt hành hung khách. Báo Pháp luật đưa tin Ngày 14-3, Công an huyện Cái Bè cho biết đang điều tra làm rõ vụ một nhân viên xe buýt Nhật Long Cư đã hành hung một hành khách trọng thương chỉ vì 1.000 đồng. Đó chỉ hành vi côn đồ, vô giáo dục. Nào là xe tải nặng “đánh võng’’ như xiếc trên xa lộ. Nào là người khỏe mạnh giành đường với người khuyết tật. Chàng thanh niên sang trọng, cô gái xinh đẹp cứ dửng dưng án ngữ ở đầu xe cứu thương, xe tang dù phía sau họ, còi báo động xin đường inh ỏi… và nhiều hình ảnh khác đã làm nhói lòng những ai yêu cái đẹp trong đời sống con người! Và, những tai nạn giao thông, từ những cuộc đi “bão” mà người ta dùng chỉ những loại người bất hão ưa trò tốc độ một cách vô lí đã làm mất đi những công dân lương thiện đang tham gia giao thông.
Hiện nay, một tình trạng xảy ra khá phổ biến là người vi phạm khi bị xử phạt dễ dàng chấp nhận việc nộp phạt, thậm chí chuẩn bị tư tường và tiền nộp phạt để đi cho thật nhanh. Điều này cho thây biện pháp xử lí hành chính hiện nay và hình thức xử phạt chưa đủ mạnh tay để răn de vi phạm. Phương tiện đi lại, thời gian và công ăn việc làm rất quan trọng đối với mọi người, vì vậy chúng ta cần nhấm vào điểm này để buộc người điều khiển phương tiện tham gia giao thông luôn “thường trực ý thức" mỗi khi tham gia giao thông.
Đáng buồn hơn, những người đi xe máy, xe đạp và đi bộ này luôn tồn tại tâm lí các phương tiện giao thông lớn phải “sợ” và “nhường” xe nhỏ hơn và nếu xảy ra tai nạn, lỗi luôn thuộc về các phương tiện lớn hơn. Nhìn toàn cảnh bức tranh giao thông đường bộ những tháng gần đây chúng ta cũng phải ngán ngẩm lắc đầu và sợ hãi chứ chưa kể đến người nước ngoài. Vì vậy, vấn đề là phải thượng tôn pháp luật và ý thức của con người. Tuổi trẻ học đường – đối tượng có học vấn, được trang bị kiến thức và văn hóa trong đó có văn hóa giao thông. Ý thức đầu tiên là đi đúng luật quy định, đội nón bảo hiểm, không lạng lách, gương mẫu và tuyên truyền mọi người cùng ý thức về một hình ảnh có văn hóa trong giao thông Việt Nam. Đề cao lòng tự tôn dân tộc từ những việc nhỏ trong đó có văn hóa giao thông.
Nâng cao ý thức của người dân khi tham gia giao thông. Đây chính là vấn đề cấp thiết nhất mà chúng ta cần phải làm ngay và nó cũng là vấn đế tiên quyết nhất trong “kế sách” giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay.
Vậy, chúng ta phải làm như thế nào để thức tỉnh ý thức, tinh thần trách nhiệm của người dân khi tham gia giao thông? Điều này liên quan đến mặt. nhận thức của con người về hành động của họ để nhận ra phải – trái, đúng – sai. Nhận thức này được hình thành trên cơ sở nền tảng giáo dục mà đặc biệt là giáo dục cộng đồng, mà tuổi trẻ học đường cần phải góp phần thay đổi ý thức của người dân trong văn hóa giao thông. | Suy nghĩ và hành động của tuổi trẻ học đường về góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông | 941 | |
Suy nghĩ và tình cảm của em về niềm vui sống giữa thiên nhiên
Hướng dẫn
Suy nghĩ và tình cảm của em về niềm vui sống giữa thiên nhiên
Được yêu thương là hạnh phúc, được cắp sách tới trường là hạnh phúc, được ngắm nhìn nụ cười đôn hậu của mẹ cũng là hạnh phúc… Nhưng hạnh phúc còn lớn lao hơn khi tâm hồn thanh thản của con người được đắm chìm trong sự tinh khiết của cảnh sắc thiến nhiên:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Dường như trong đêm trăng thanh khiết ấy, tâm hồn, khí tiết thanh cao của chủ tịch nước – thi sĩ Hồ Chí Minh – được thả vào dòng nước, được bay lên tận trời xa, vang vọng vào những câu thơ, những lời hát trữ tình. Tâm hồn thi sĩ thì thanh cao. Khung cảnh thiên nhiên thì thanh khiết, đắm say lòng người. Được sống trong khung cảnh như vậy thì thật tuyệt vời không gì sánh nổi…
Từ ngàn đời nay, tạo hóa đã ban cho con người thiên nhiên, thứ quý giá nhất của đất trời với biết bao những cảnh vật thật kỳ vĩ và thơ mộng. Những hàng cau xanh mượt mà gửi hình bóng của mình xuống dòng sông thơ mộng êm đềm. Những thảo nguyên rực rỡ sắc màu với hàng ngàn bông hoa đua nhau khoe sắc. Bầu trời xanh ngắt trên cao với những đám mây bồng bềnh trôi mải miết về tận chân trời. Những người giản dị, mộc mạc, có tâm hồn đồng cảm, chan hòa với mọi người thì mới cảm nhận được giá trị cũng như nét đẹp của thiên nhiên. Đến với thiên nhiên, con người sẽ cảm thấy như phần nào nhẹ bớt đi những gánh nặng ở trong lòng, tâm hồn như thư thái hơn, mọi lo toan, u sầu trong lòng mỗi người đều tan biến. Trong ta lúc bấy giờ chỉ còn một khoảng không diệu kỳ. Khoảng không của lòng nhân ái, tình yêu thương của chính ta với thiên nhiên.
Vậy đó, thiên nhiên là như thế đó, hạnh phúc sao khi được sống cùng với thiên nhiên món quà kỳ diệu của tạo hóa ban tặng cho con người. | Suy nghĩ và tình cảm của em về niềm vui sống giữa thiên nhiên | 393 | |
Suy nghĩ về bài thơ “Mây và sóng” – Ngữ Văn 9
Hướng dẫn
Phân tích bài thơ mây và sóng
Đề bài: Suy nghĩ về vẻ đẹp mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc trong bài thơ Mây và sóng của Ta-go.
1. Yêu cầu
– Viết bài nghị luận về một bài thơ dịch.
– Vấn đề cần nghị luận: chất trữ tình mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc trong bài thơ của thi hào Ta-go.
– Phân tích những cảm nhận về vẻ đẹp hình thức cũng như nội dung của bài thơ.
– Làm rõ chủ đề tư tưởng của bài thơ: niềm vui thú, hạnh phúc nhất của con người là tình yêu thương và sự hi sinh.
2. Gợi ý
– Đọc kĩ văn bản và các tư liệu bàn về bài thơ, về tác giả Ta-go.
– Thấy rõ được quá trình phát triển trong tình yêu thương mẹ của đứa con (từ thấp đến cao) và vẻ đẹp thơ mộng nhưng đầy hơi thổ hiện thực cuộc sống trong bức tranh thiên nhiên.
– Kết hợp chặt chẽ giữa nghị luận và biểu cảm.
– Đối với thơ dịch, tránh phân tích phân tích từ ngữ mà chủ yếu phân tích hình ảnh thơ.
3. Lập dàn ý (dàn ý sơ lược)
a. Mở bài
– Thơ về tình mẫu tử.
– Sự độc đáo của Mây và sóng: vẻ đẹp mộng mơ nhưng hàm ý sâu sắc.
b. Thân bài
– Tình mẫu tử là đề tài muôn thuở của thi ca
– Sự khước từ mọi thú vui hâp dẫn và hi sinh của đứa con dành cho mẹ để được ở bên mẹ
– Ca ngợi tình cảm mẹ con gắn bó, yêu thương là niềm hạnh phúc thiêng liêng cao cả nhất trên cõi nhân gian này
c. Kết bài: Mượn tình cảm mẫu tử để khẳng định tình yêu thương và sự hi sinh là niềm vui bất tử và cao quý nhất của con người.
4. Bài làm minh họa
Văn học muôn đời vẫn đầy ắp tình yêu thương. Nhiệm vụ của nó là thể hiện và ngợi ca những tình cảm đẹp đẽ trong cuộc sống con người. Chính vì vậy mà tình mẫu tử được đưa vào thơ ca và trở thành một chủ đề không bao giờ vơi cạn. Mây và sóng là một trong những bài thơ đó. Với thi pháp độc đáo, thi phẩm đã ca ngợi tình cảm của đứa con dành cho mẹ. Sức gợi cảm của bài thơ không chỉ là nghệ thuật đặc sắc mà còn là chiều sâu ý nghĩa của một vẻ đẹp chan chứa tình cảm thiêng liêng của con người.
Bài thơ là lời kể của em bé, được chia thành hai phần có nhịp điệu giống nhau nhưng các từ ngữ, hình ảnh có sự khác biệt mới mẻ và mức độ tình cảm của em bé dành cho mẹ phát triển ngày càng sâu sắc, mạnh mẽ hơn. Chính điều này làm nên sự hấp dẫn cho bài thơ.
Phần thứ nhất của bài thơ, em bé kể việc mình được rủ đì chơi và em đã từ chối; phần thứ hai là sự sáng tạo ra trò chơi của em bé. Tinh yêu quý cha mẹ là điều không mới mẻ nhưng ở đây, tình cảm đó bộc lộ một cách không giống lẽ thường mà nó vượt qua mọi thử thách, vượt qua mọi cám dỗ ở đời. Hai phần của bài thơ đứng cạnh nhau, giúp chúng ta hiểu rõ về tình mẫu tử sâu sắc và trọn vẹn của em bé đã dành cho mẹ.
Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà.
Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc.
Trẻ em ai chẳng thích đi chơi, nhất là khi trò chơi lại thú vị và lôi cuốn như thê. Vậy mà những lạc thú vui chơi nào đã dừng lại! Càng về sau chúng càng rủ rê, chèo kéo tha thiết hơn, sôi nổi hơn, hết lần này đến lần khác, mỗi lần một lí thú hơn, hấp dẫn hơn:
Bọn tớ cơ hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn.
Bọn tớ ngao du từ nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nao.
Thật là những thú vui đến trong mơ cũng khó thú vị hơn được. Lời mời ngọt ngàò, lôi cuốn ngay cả người lớn chắc cũng khó cưỡng nổi nữa là trẻ. Chúng ta nghe!ời hỏi của đứa bé để thấy Ta-go am hiểu tâm lí các em như thế nào:
Nhưng làm thế nào mình lên đó được?
Nhưng lảm thế nào mình ra ngoài đó được?
Những lời hỏi thể hiện mong muốn được đi chơi của em bé. Vậy mà bỗng chốc nó đã từ chối tất cả chỉ vì một lí do đơn giản nhưng tràn ngập tình yêu thương:
Mẹ mình đang đợi ở nhà
Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?
Hoặc:
Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được?
Lời khước từ ngây thơ nhưng chân thật đó như một minh chứng cao đẹp cho tình mẫu tử thiêng liêng và sâu sắc của nhân vật trữ tỉnh trong tác phẩm của Ta-go. Những thú vui dù hấp dẫn, dù đáng mơ ước đến đâu cũng không thể vượt qua hình ảnh ấm áp của mẹ trong trái tim em bé. Dường như em bé hiểu rằng, khi được ở bên mẹ thì cuộc sống sẽ đẹp đẽ hơn bất kì thế giới thần tiên nào. Em hiểu được niềm hạnh phúc của tình yêu thương và sự nâng niu chiều chuộng của mẹ sẽ đem lại cho em những điều cần thiết hơn tất cả những thú vui hấp dẫn khác trên cõi đời này. Em bé đã sớm nhận thức được những trò chơi trên mây, dưới sóng với bạn bè trong chốc lát làm sao thay thế được những giây phút được cận kề bên mẹ. Được gần gũi bên người mẹ thân yêu thay vì những thú vui chốc lát chính là niềm hạnh phúc của sự hi sinh.
Nếu bài thơ chỉ dừng ở đó thì thơ Ta-go cũng không thể vượt biên giới mà đến với chúng ta, với năm châu bạn bè được. Ớ phần thứ hai, với trí tưởng tượng và tình cảm tha thiết, em bé đã nghĩ ra trò chơi hết sức thú vị, Dựa trên những thú vui thần tiên mà em vừa được nghe kể để sáng tạo ra trò chơi cho riêng mình, ở đó cũng có mây và trăng, lại không hề thiếu sóng và bến bờ kì lạ… nhưng điều quý giá nhất trong những trò chơi của em bé là có cả mẹ nữa.
Con là mây và mẹ sẽ là trăng
Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ.
Đây không còn là những trò chơi bình thường nữa mà là trò chơi muôn đời bền vững và trường tồn, không bao giờ nhàm chán. Bởi lẽ trong đó là hình ảnh đẹp tuyệt vời của hai mẹ con quấn quýt bên nhau trong tình yêu lớn lao và cao cả:
Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ.
Dư âm của tiếng cười như những giọt pha lê ngân mãi trong lòng chúng ta bởi niềm vui bất tận của tình mẫu tử thiêng liêng và kì diệu. Niềm vui đó như được ủ kín, như của chỉ riêng hai mẹ con mà người ngoài không ai tìm được:
Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào.
Tình mẫu tử thiêng liêng và cao quý đã hoà vào vũ trụ và cuộc sống xung quanh. Nó hiện hữu ở mọi nơi trên thế gian để khẳng định tình yêu thương có sức mạnh biến đổi khôn lường.
Qua câu chuyện thần tiên giản dị đó, bài thơ còn gửi gắm nhiều ý nghĩa sâu sắc. Nó không chỉ là lời ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng mà còn gửi gắm nhiều suy ngẫm về cuộc sống. Cũng như những trò chơi trên mây dưới sóng, cuộc sống có rất nhiều cám dỗ mà mỗi con người rất khó vượt qua. Nhưng người ta hoàn toàn có thể vượt qua những thử thách ấy bằng sức mạnh của những tình cảm tốt đẹp trong cuộc đời. Tình mẹ con là một trong những chỗ dựa ấm áp nhất, vững chắc nhất của con người. Nó là ngọn lửa khơi nguồn sáng tạo, nó làm thăng hoa vẻ đẹp tinh thần muôn đời bất diệt của nhân loại. Cũng như em bé đã hướng lòng mình vào sự vĩnh cửu của tình mẫu tử, chúng ta luôn tin tưởng vào sức trường tổn của tình cảm con người. Nhờ đó con người có đủ dũng cảm để đối mặt với mọi cám dỗ, mọi thử thách trong cuộc sống bộn bề gian khó hôm nay.
(Lê Hoàng Hoa, lớp 9A1, Trường THCS Nqô Sĩ Liên,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Nhận xét
Bài viết thể hiện tư duy nghị luận lô-gíc, giàu thuyết phục. Sự cảm nhận của bạn Hoàng Hoa vừa giàu xúc cảm, vừà tinh tế khiến người đọc thêm yêu quý và gần gũi với nhà thơ trữ tình lớn của thi ca Ân Độ nói riêng, thi ca nhân loại nói chung.
Hoàng Hoa đã có nhiều cố gắng cắt nghĩa nhịp thơ trong toăn bài để chúng ta hiểu được tình cảm mẫu tử thiêng liêng đã phát triển từng bước một trong tâm hồn cũng như trong việc làm của đứa bé trong bài thơ. Vô hình trung, các bạn trẻ tự nhìn lại mình, tự so sánh tình cảm của mình với mẹ qua nhân vật trữ tình của bài thơ.
Chúng ta thật cảm động khi bạn Hoa viết: Những thú vui dù hấp dẫn, dù đáng mơ ước đến đâu cũng không thể vượt qua hình ảnh ấm áp của mẹ trong trái tim em bé. Dường như em bé hiểu rằng, khi được ở bên mẹ thì cuộc sống sẽ đẹp đễ hơn bất kì thế giới thần tiên nào hoặc Em hiêu sâu sắc rằng niềm vui của mình chỉ trở nên trọn vẹn khi có mẹ ở bên uà ngược lại.
Ở cuối bài, Hoàng Hoa nhận định: Cũng như những trò chơi trên mây dưới sóng, cuộc sống có rất nhiều cám dỗ mà mỗi con người rât khó vượt qua. Nhưng người ta hoàn toàn có thể vượt qua những thử thách ấy bằng sức mạnh của những tình cảm tốt đẹp trong cuộc đời. Tình mẹ con là một trong những chỗ dựa ấm áp nhất, vững chắc nhất của con người. Nó là ngọn lửa khơi nguồn sáng tạo, nó làm thăng hoa vẻ dẹp tinh thần muôn đời bất diệt của nhân loại. Cũng như em bé đã hướng lòng mình vào sự vĩnh cửu của tình mẫu tử, chúng ta luôn tin tưởng vào sức trường tồn của tình cảm con người. Nhờ đó con người có đủ dũng cảm để đối mặt với mọi cám dỗ, mọi thử thách trong cuộc song bộn bề gian khó hôm nay. Thật khó có thể nói đây là lời nhận định hay chính là chân lí?
Cũng phải nhắc nhở người viêt về phương thức nghị luận thi ca trữ tình đòi hỏi bạn xem xét tó hơn từ góc độ nghệ thuật của bài thơ. Có vậy, những đánh giá của bạn sẽ giúp người đọc có những tình cảm đẹp đẽ hơn về vẻ đẹp của tâm hồn con người. | Suy nghĩ về bài thơ “Mây và sóng” – Ngữ Văn 9 | 1,935 | |
Đề bài: Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về bệnh thành tích… một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay
Bài làm
Không biết từ bao giờ bệnh thành tích đã trở thành một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay. Học tập, lao động, chiến đấu, cá nhân nào cũng có ước muốn chính đáng là lập được nhiều thành tích tốt đẹp. Nhưng vì ham thành tích mà có hiện tượng làm láo báo cáo hay. Thành tích được vẽ ra, được thổi phồng lên làm theo cấp số nhân, cấp số cộng để nhận huy chương, để lấy bằng khen, rước xách rầm rộ, liên hoan lu bù, báo công ầm ĩ.
Hầu như ngành nào cùng lắm bệnh thành tích. Nhà máy thiếu nguyên liệu, công nhân thất nghiệp, nhưng năm nào cũng hoàn thành kế hoạch. Làm trường nọ trồng cây gây rừng, thành tích được thổi phồng lên, nào là phủ xanh đồi trọc, nào là trồng được hàng triệu cây có bóng mát, cây ăn quả, cây gỗ quý, thông và bạch đàn bao la. Nhưng câu chuyện xảy ra như một vở bi hài kịch khi đoàn kiểm tra “sờ” đến. Những con số ấy, những cây cối ấy chỉ là số không. Rừng phòng vệ bị phá tan hoang. Diện tích hoang hóa, đồi trọc mênh mông. Rừng đầu nguồn bi chặt phá trơ trụi.
Ngành giao thông vận tải thì đường sá mới làm xong đã xuống cấp, tai nạn giao thông xảy ra đến chóng mặt, mỗi năm có hàng trăm người chết vì tai nạn ô tô, chẹt tàu. Hiện tượng lún móng cầu, sập cầu đâu còn là sự cố hiếm thấy nữa!
Ngành giáo dục, bệnh thành tích trở nên trầm kha. Thi cử gian dối, trường nào, địa phương nào cũng lo chạy theo thành tích nên đã buông lỏng kỉ cương. Bằng giả, học giả, tiến sĩ rởm không còn là hiện tượng hi hữu nữa. Khẩu hiệu: “Nói không với tiêu cực" tuy đã giảm bớt được một phần nào, nhưng bệnh tiêu cực không thể nào một sớm một chiều mà giảm bớt được, hạn chế được. Bệnh thành tích đã làm suy thoái đạo đức cán bộ, người lao động vì cái tệ làm láo báo cáo hay. Con số thống kê là con số ảo, không đúng với thực tế sản xuất của nước ta. Dịch cúm gà, cúm gia cầm, bệnh lợn tai xanh, có nơi, có lúc đã báo cáo sai. Do bệnh thành tích mà từng gây ra nhiều thảm họa! Phải thanh tra, kiểm tra chặt chẽ, xử phạt thật nghiêm minh mới có thể chữa được càn bệnh “ung thư” này.
Có chữa được bệnh thành tích thì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước mới phát triển và giành được nhiều thành tựu rực rỡ. Có chữa được tận gốc bệnh thành tích mới chống các hiện tượng thi cử gian lận, mới xây dựng được con người mới, đạo đức mới xã hội văn minh. | Suy nghĩ về bệnh thành tích | 534 | |
Đề bài: Suy nghĩ về cho và nhận
Bài làm
Trong dòng đời vội vã đó nhiều người dường như đã quên đi tình nghĩa giữa người với người. Nhưng đã cuộc đời thì đâu phải chỉ trải đầy hoa hồng, đâu phải ai sinh ra cũng có được cuộc sống giàu sang, có được gia đình hạnh phúc toàn diện mà còn đó nhiều mảnh đời đau thương, bất hạnh cần chúng ta sẻ chia, giúp đỡ. Chúng ta đâu chỉ sống riêng cho mình, mà còn phải biết quan tâm tới những người khác, đó. Đó chính là sự “cho” và “nhận” trong cuộc đời này.
“Cho” và “nhận” là hai khái niệm tưởng chừng như đơn giản nhưng số người có thể cân bằng được nó lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng có thể nói “Những ai biết yêu thương sẽ sống tốt đẹp hơn” hay “Đúng thế, cho đi là hạnh phúc hơn nhận về”. Nhưng tự bản thân mình, ta đã làm được những gì ngoài lời nói? Hơn nữa, khi bạn “cho” đi, bạn có đảm bảo rằng bạn không mong “nhận” về không? Hãy cố gắng sống vì sự tốt đẹp cho người khác bằng hành động chứ không chỉ bằng lời nói và với sự vô tư nhất có thể. Cho nên, giữa nói và làm lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Bất cứ ai cũng đã có lần nghe câu nói “cho đi là hạnh phúc” nhưng thực hiện được điều đó chẳng dễ dàng gì. Hạnh phúc mà bạn nhận được khi cho đi chỉ thật sự đến khi bạn cho đi mà không nghĩ ngợi đến lợi ích của chính bản thân mình. Đâu phải ai cũng quên mình vì người khác. Nhưng xin đừng quá chú trọng đến cái tôi của chính bản thân mình. Xin hãy sống vì mọi người để cuộc sống không đơn điệu và để trái tim có những nhịp đập yêu thương.
“Cho” không có nghĩa là khi chúng ta có đầy đủ về vật chất mới có thể giúp đỡ người khác, mà đôi khi chỉ cần một lời hỏi han, một lời động viên đúng lúc để giúp người khác có thêm sức mạnh, niềm tin và nghị lực sống. Các bạn hãy làm một việc gì đó, có thể giúp đỡ một ai đó trong lúc túng quẫn, những xa cơ lỡ vận hay những lúc gặp khó khăn, bạn sẽ nhận được những niềm vui vượt lên cả sự mong đợi. Dù cho sự giúp đó là tiền bạc hay chỉ là một lời động viên an ủi. Bạn sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc tràn ngập từ trong sâu thẳm trái tim mình, hạnh phúc đó đang đến từ chính hành động đẹp đẽ của bạn. Đó là khi người khác gặp khó khăn, bạn luôn chìa tay ra giúp đỡ. Khi người khác có tâm sự, nỗi niềm, bạn luôn là người lắng nghe và luôn sẵn sàng sẻ chia. Khi người khác hạnh phúc, bạn hãy luôn mỉm cười, chung vui với người khác.
Không phải lúc nào “cho” cũng mang lại hạnh phúc cả. Một điều kỳ diệu xảy ra khi nó đúng lúc, đúng việc. “Cho” là không mong được “nhận” lại, không mong người khác sẽ trả ơn lại cho mình vì đã giúp đỡ họ. Thật vậy, nếu như ta đem niềm vui đến cho người khác có nghĩa là đã tạo được cho mình một niềm hạnh phúc. Chúng ta hãy sống hết mình với người khác đi, rồi bạn sẽ đón nhận rất nhiều niềm vui hạnh phúc từ nơi người khác. “Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về”.
Cuộc sống này có quá nhiều điều bất ngờ nhưng cái quan trọng nhất thực sự tồn tại là tình thương. Sống không chỉ la nhận mà còn phải biết cho đi. Chính lúc ta cho đi nhiều nhất lại là lúc ta được nhận lại nhiều nhất. Có ai đó đã từng nói “hạnh phúc là một cái rất kì lạ mà người ta chỉ nhận được khi đem nó cho người khác”, mỗi người chúng ta hãy thử cho đi môt cái gì đó, để rồi biến niền hạnh của người khác thành niềm hạnh phúc của chính mình…
“Nếu là con chim, chiếc lá,
Thì con chim phải hót,chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả,
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”
Hạnh phúc là một điều rất kì diệu, ta chỉ nhận được nó khi đem nó trao cho người khác.
“Cho” và “nhận” cũng giống như cặp phạm trù “nhân”, “quả”, trong Triết học. Trên đời này luôn có luật “nhân”, “quả”, “gieo gió thì sẽ gặp bão”, nếu chúng ta biết yêu thương người thì cũng sẽ được yêu thương trở lại, khi chúng ta giúp người khác thì cũng chính là lúc cúng ta tự giúp mình. Khi chúng ta cho đi cũng chính là lúc chúng ta nhận lại, là lúc chúng ta tạo được những điều kỳ diệu nhất của cuộc sống.
Đã là con người thì cũng không ai hoàn thiện cả, vấn đề quan trọng là cúng ta biết sống như thế nào cho xứng đáng với nản chất thật sự của một con người, để không phải thổ thẹn với lương tâm của một con người. Cuộc sống của chúng ta cũng giống như những vết nứt của một chiếc bình, vì vậy chúng ta hãy biết tận dụng những vết nứt đó để cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa hơn. Khi nào bạn làm được điều đó, thì cũng chính là lúc bạn nhận lại được niềm vui cho mình.
Ý nghĩa của cuộc sống nằm ngay trong những giá trị bình thường quanh ta, là tình yêu của mẹ cha, là tình thân của bạn bè, là niềm vui và hạnh phúc khi đối mặt và vượt qua khó khăn, là ước mơ và hi vọng vào ngày mai… Và điều gì nuôi dưỡng tâm hồn ta, xây đắp nên cuộc sống của chúng ta, thì ta cần, nên và phải sống vì chính những điều đó. Và đó chính là sự “cho” và “nhận” trong cuộc sống đấy các bạn à. | Suy nghĩ về cho và nhận | 1,044 | |
Đề bài: Ngày nay, rất nhiều bạn trẻ thích sống sành điệu. Em hiểu thế nào là sành điệu? Sành điệu có phải là hư hỏng? Hãy viết bài văn ngắn bày tỏ suy nghĩ của bản thân
Bài làm
Sành điệu là từ ngữ dùng để chỉ những người rất sành sỏi, biết thưởng thức, đánh giá về một số phương diện của đời sống. Vậy là, bản thân những người được coi là sành điệu rất đáng hoan nghênh; một người được gọi là ”sành điệu” nghĩa là họ đã được khẳng định khiếu thẩm mĩ, khả năng thưởng thức những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống.
Thật vậy, người sành điệu biết lựa chọn những điều tốt đẹp nhất cùa cuộc sống để thưởng thức. Đó là cách nấu một món ăn ngon. Đó là cách dùng một món ăn cho đúng kiểu. Đó là cách mặc những bộ trang phục đẹp. Đó là cách trang trí, làm đẹp cho nơi ở, nơi làm việc,… Nhưng thật điều đáng tiếc cho những người sành điệu bởi đôi khi họ bị đánh đồng với những kẻ lố lăng nhưng khoác trên mình cái mác “sành điệu”.
Đó là những người hiểu nhầm ý nghĩa củạ hai từ này. Họ cho rằng sành điệu phải là sự ăn chơi phung phí, dùng những thứ đắt nhất, lạ nhất, mới nhất, nổi trội nhất. Điều đó tất yếu dẫn đến một lớp người luôn luôn đua đòi, chạy theo sự xa hoa trong đời sống. Cách nghĩ ấy thể hiện sự tiêu cực, hạn chế trong tầm nhìn và vốn sống.
Vậy là, sành điệu đâu phải là hư hỏng. Chỉ có những người hiểu sai, nghĩ sai về ý nghĩa của từ này nên có những hành động, việc làm tiêu cực và tự mình bước đến con đường tha hoá, hư hỏng mà thôi. | Suy nghĩ về cách sống sành điệu | 312 | |
Suy nghĩ về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao
Hướng dẫn
Suy nghĩ về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao
Bài làm
Lão Hạc là truyện ngắn phản ánh chân thực nhất cảnh đời cơ cực, nhiều cay đắng nhất của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Có thể nói là xã hội này đầy rẫy những bất công, đẩy người nông dân vào bế tắc, tuyệt vọng, không lối thoát. Nam Cao đã xây dựng thành công hình ảnh Lão hạc với đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân nhưng cuối cùng số phận bi thảm. Cái chết của Lão Hạc cuối truyện luôn ám ảnh người đọc, bởi giá trị mà nó muốn nhắn gửi sâu xa như thế nào.
Không phải bỗng nhiên lão Hạc muốn tìm đến cái chết, bởi chẳng ai muốn chết cả. Chỉ khi túng quá, quẫn quá, và không còn con đường nào khác để đi thì cái chết là sự giải thoát nhẹ nhàng nhất. Lão Hạc sau khi bán cậu Vàng được 5 đồng, thấy day dứt, thấy mình thật tệ bạc với nó quá. Lão tính đi tính lại, cuối cùng cũng tích được 30 đồng gửi ông Giáo, bao giờ con trai ông về thì nhờ ông Giáo gửi lại con trai.
Ngay từ đầu câu chuyện, Nam Cao đã giới thiệu hoàn cảnh vô cùng khó khăn, cùng cực và cô độc của Lão Hạc. Con trai thì đi cao su biền biệt chưa thấy về, lão già yếu, chỉ sống với cậu Vàng và mảnh vườn nhỏ. Lão thương con trai và mong muốn nó quay trở về đây. Tấm lòng đó của Lão thực sự đáng trân trọng và cảm phục.
Cái chết của lão Hạc để lại trong lòng người đọc nhiều ám ảnh. Lão chết, cái chết đó giàu giá trị nhân văn, cũng như phản ánh chân thực hiện trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đang rơi vào bế tắc như thế nào.
Vì bế tắc, vì nghèo đói, vì lòng tự trọng nên cái chết là sự lựa chọn cuối cùng, dù là bất đắc dĩ thì nó cũng có thể kết thúc trong êm đẹp. Xã hội Việt Nam bất giờ cái nghèo đói tràn lan, thực dân phong kiến đã đẩy những người nông dân đến bước đường cùng như thế này.
Vốn dĩ lão Hạc là người có lòng tự trọng rất cao, nên dù khó khăn thế nào, lão cũng không muốn cậy nhờ bất cứ ái. Chính lòng tự trọng “hác dịch” đó đã buộc lão phải nghĩ đến cái chết, dù thực tâm lão vẫn muốn sống và khát sống một cách mãnh liệt. Một sự đối lập đến chua xót như vậy.
Lão chết, cái chết bộc lộ cao nhất tình yêu thương con vô bờ bến. Ông không muốn làm gánh nặng cho con sau này, ông muốn giành dụm hết tiền cho con, mình không dùng đến đồng nào. Tình cảm ấy thật vĩ đại và vượt khỏi sức tưởng tượng của con người.
Thật vậy, truyện ngắn “Lão Hạc” kết thúc với cái chết đầy bi kịch và bế tắc của lão đã khiến người đọc suy nghĩ rất nhiều về con người, tình người, về cái đói, cái nghèo và về lòng tự trọng. | Suy nghĩ về cái chết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao | 565 | |
Suy nghĩ về cái chết vô hình từ trong tâm hồn
Hướng dẫn
Đối với con người, điều đáng sợ nhất không phải là cái chết mà chính là sự tàn lụi của tâm hồn ngay khi ta còn đang sống. Sự tàn lụi ấy từ từ làm chết dần các giác quan cảm xúc và đưa con người đến một cái chết hờn toàn trong tâm hồn.
Cái chết vô hình ấy có nhiều “cấp độ” khác nhau. Có khi là kiểu “sống mòn” của những con người không tìm thấy ý nghĩa cho sự sống của mình – không còn có khả năng mơ ước, không có niềm khao khát được góp một điều gì đó, dù là bình thường, bé nhỏ cho cuộc đời này.
Nhà thơ Xuân Diệu gọi họ là những cái cây không bao giờ đơm hoa kết trái, là “những kiếp buồn le lói suốt trăm năm”… Có khi là trạng thái vô cảm, thờ ơ, dửng dưng trước cuộc đời của những con người chỉ “tồn tại” chứ không biết sống. Họ không cảm nhận được cái đẹp của thiên nhiên, không sẻ chia được niềm vui, nổi buồn của con người, không dám đấu tranh vì những điều tốt lành, tử tế…
Một chiếc lá rơi, vài tia nắng sớm, chút gió heo may thoảng nhẹ lúc đầu thu và khung trời xanh trong vời vợi, hương thơm của một loài hoa… không khiến họ biết mỉm cười. Nụ cười trẻ thơ, ánh mắt của những người đang yêu, vòng tay dịu dàng của người mẹ, người vợ… không làm trái tim họ bồi hồi, xao xuyến. Họ không rơi nước mắt khi chứng kiến nỗi buồn đau, bất hạnh của đồng loại…
Đối với họ, điều quan tâm duy nhất là cuộc sống của bản thân. Nhưng chính họ đã giết chết mình bằng lối sống vị kỉ đó. Tôi còn nhớ câu chuyện về một người lính đã chiến đấu rất dũng cảm, cứu được thành phố quê hương khỏi nạn ngoại xâm. Khi ban thưởng cho người lính ấy, nhà vua thất anh có vẻ buồn rầu nên hạn hỏi và biết anh sắp phải chết vì một căn bệnh hiểm nghèo. Nhà vua đã cho tìm các vị danh y giỏi nhất và chữa khỏi được căn bệnh đó, giành lại cuộc sống cho người anh hùng. Nhưng cũng từ đấy, anh ta chỉ biết khư khư bảo vệ bản thân, né tránh trách nhiệm của người lính và hóa thành kẻ hèn nhát… Gặp lại anh, nhà vua đau xót thốt lên “Anh bây giờ mới thực là đã chết”.
Sống như thế nào mới gọi là sống khiến con người không ngừng suy nghĩ. Con người khác với các loài động vật khác đó là có một cuộc sống tâm hồn phong phú. Hãy sống mạnh mẽ, sôi nổi nhất là đối với tuổi trẻ. Hãy sống xứng đáng với những gì mà cuộc sống đã mang lại cho chúng ta. Đừng sống một cuộc đời uổng phí khi mà tâm hồn bạn luôn sẵn dành cho những điều tháp kém, khiến bạn trở nên nhỏ bé trong cuộc đời này. | Suy nghĩ về cái chết vô hình từ trong tâm hồn | 529 | |
Suy nghĩ về câu chuyện “Người ăn xin” – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Câu chuyện Người ăn xin
Bài làm 1
Có những câu chuyện, cuốn sách sau khi đóng lại sẽ chẳng đọng lại điều gì trong lòng độc giả. Nhưng cũng có những câu chuyện, cuốn sách,… sẽ luôn sống mãi trong tâm hồn người đọc và Người ăn xin của Tuốc-ghê-nhép là một câu chuyện như thế. Dù đơn giản nhưng câu chuyện đã đem đến một bài học về cách đối xử giữa con người với con người mà ta hằng suy nghĩ.
Chỉ là một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa một người ăn xin đã già yếu và một cậu bé nhưng họ đã cùng học được từ nhau, nhận được từ người kia những “món quà” vô giá. Dù cậu bé “không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết” nhưng những lời nói, cử chỉ của cậu với ông lão “đã cho lão rồi” và cậu “cũng vừa nhận được điều gì đó từ ông”.
“Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả”. Câu nói của cậu bé thật ngây thơ, trong sáng. Có lẽ đã lâu lắm rồi ta bắt gặp hình ảnh những đứa trẻ đối xử như vậy với người ăn xin. Đáp lại tấm lòng của đứa trẻ, câu nói của ông lão cũng tựa như một món quà đối với cậu bé: “Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi”. Một hành động tốt đẹp nhưng dù nhỏ bé nhưng sẽ thật ý nghĩa đối với những người xung quanh ta.
Trong cuộc sống, nếu mọi người cùng đối xử với nhau, trao cho nhau tấm lòng, tình thương thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp biết bao. Khi ta đối xử tốt đẹp với mọi người, lúc ta không đặt mình lên trước người khác, có lẽ ta sẽ thiệt thòi hơn một chút nhưng ta sẽ nhận được nhiều điều có ý nghĩa hơn. Cuộc sống bận rộn khiến ta quên lãng mọi điều xung quanh, bỏ quên những điều nhỏ nhặt mà tốt đẹp từ chính bản thân ta và mọi người. Có lẽ đây không chỉ là sai lầm của một người, một thế hệ, một đất nước mà là của loài người nói riêng và muôn loài nói chung.
Quy luật “nhân quả” trong quan niệm nhân sinh của người phương Đông có lẽ luôn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh. Khi ta học được, biết cách cho đi thì ta sẽ được nhận lại từ mọi người. Đời người cũng tựa như một tờ giấy trắng, nếu ta cho đi màu hồng, sắc trắng thì ta sẽ chẳng sợ phải nhận lấy màu đen tăm tối, quên dần đi con người, bản thân của mình. Như bài thơ Dặn con của tác giả Trần Nhuận Minh, từ lúc đứa con còn thơ dại, người cha đã dạy con phải biết đối xử thật tốt với mọi người xung quanh, kể cả với những người ăn xin khốn khổ để sau này, khi năm tháng trôi qua, thế phận thay đổi, có khi nào người cha lại trở thành một trong số những người ăn xin kia không, cha có được đối xử như ông lão ăn mày trong câu chuyện Người ăn xin không hay sẽ bị xua đuổi, xa lánh? Cha không biết, con không biết và sẽ chẳng có ai biết cả. Nhưng có lẽ điều đó sẽ phụ thuộc phần nào đó vào những gì con và cha cư xử hằng ngày với mọi người.
Có lẽ sẽ chẳng có ai trưởng thành và sống tốt nếu không trao đi những yêu thương tới những người xung quanh và cuộc sống. Có người đã nói: “Ngày hôm qua là lịch sử, ngày mai là một điều bí ẩn, còn ngày hôm nay là một món quà”. “Món quà” đó sẽ thật sự tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn nếu ta biết trao điều đó, cảm nhận, cùng chia sẻ món quà đó với mọi người xung quanh.
(Trường THCS Sơn Tây)
Bài làm 2
“Trong cuộc sống, điều quan trọng nhất đối với một con người là có thể trao sự yêu thương, sẻ chia, thông cảm cho người khác”. Đó là bức thông điệp mà truyện ngắn Người ăn xin của Tuốc-ghê-nhép gửi gắm cho người đọc qua nhân vật “tôi” (người qua đường) và ông lão ăn xin. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật này bộc lộ phẩm chất đáng quý của mỗi người. Nhân vật “tôi” là một người rất tốt bụng. Sự tốt bụng của anh thể hiện trong cử chỉ vội vã tìm kiếm khi thấy bàn tay run rẩy của ông lão ăn xin đang chờ cũng như trong cái nắm tay thân tình mà anh trao cho ông. Lời xin lỗi “Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả!” của anh đã bộc lộ rõ nét lòng tốt, sự mong muốn sâu sắc được giúp đỡ ông lão tội nghiệp. Còn ông lão ăn xin lại là hiện thân cho sự hiền từ. Khi nghe lời xin lỗi của anh, ông đã nở nụ cười và cảm ơn: “Như vậy là cháu đã cho lão rồi”. Điều mà anh thanh niên cho ông lão chỉ là một cái nắm tay thôi mà, vì sao ông lão lại tỏ ra xúc động đến vậy? Đó là bởi vì cái nắm tay ấy đối với ông lão không chỉ mang ý nghĩa là một hành động thông thường, mà cao hơn là biểu tượng cho sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với con người. Cái nắm tay là truyền đi hơi ấm, cái nắm tay là truyền đi niềm tin, cái nắm tay là truyền đi sự quan tâm chân thành của nhân vật “tôi” với ông lão. Đáp lại tình cảm của anh thanh niên, ông gửi cho anh niềm vui, sự trân trọng của ông dành cho tấm lòng của anh. Như vậy cả hai người đều là người trao đi và cũng là người nhận lấy những món quà tình cảm ấm áp. Trong cuộc sống hiện đại xô bồ, nơi con người thường vô tình quên đi sự chia sẻ và cảm thông lẫn nhau thì những món quà tình cảm ấy càng cần thiết, càng có giá trị lớn lao hơn. Nếu như mọi người đều quan tâm đến nhau, gửi cho nhau yêu thương, trân trọng thì cuộc sống sẽ trở nên tươi đẹp biết nhường nào.
(Trường THCS Nguyễn Du)
>> Xem thêm Suy nghĩ của em về mục đích học của học sinh hiện nay tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Câu chuyện Người ăn xin | Suy nghĩ về câu chuyện “Người ăn xin” – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8 | 1,137 | |
Suy nghĩ về câu nói của Maxim Gorki: Hãy yêu sách nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống
Bài làm
Trên bước đường thành công của mỗi người đều được góp nên bởi nhiều yếu tố. Đó có thể là những khó khăn, đó còn là ý chí nghị lực và cũng không thể thiếu nguồn tri thức dồi dào hữu ích từ những cuốn sách có giá trị. Khẳng định tầm quan trọng ấy, nhà văn Nga Maxim Gorki nói “ hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”.
Trước tiên ta cần hiểu Sách là gì? Họa chăng chỉ là những tờ giấy mỏng manh, bé nhỏ. Đúng! Sự thật chỉ là những tờ giấy mỏng manh nhưng chúng lại chứa đựng trong đó nguồn tri thức dồi dào và hữu ích. Có người từng nói: sách là di huấn tinh thần của thế hệ này với thế hệ khác.. là lời khuyên của người già sắp từ giã cõi đời để lại cho con cháu mai sau. Sách là phương tiện giúp chúng ta lưu trữ những kiến thức, thông tin bổ ích để truyền lại cho thế hệ sau. Kiến thức, nó là gì vậy? đó là những hiểu biết của con người về cuộc sống, là kĩ năng, vốn tri thức của bản thân về đời sống xung quanh. Muốn giải quyết bất cứ vấn đề gì trong cuộc sống chúng ta đều cần phải có kĩ năng, có “bộ não” hiểu biết để có thể xử lí mọi tình huống cuộc sống một cách tốt nhất. Như vậy lời nói của M.Gorki như lời khuyên bảo chân thành đến chúng ta: cần biết trân trọng sách bởi nó là nguồn tri thức vô bờ bến, là sức mạnh của con người tạo ra và còn là con đường sống giúp phát triển trí tuệ. Qua đó khẳng định sách và kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, sách chính là phương tiện lưu trữ những kiến thức, nguồn thông tin có giá trị cả về vật chất và tinh thần mà ông cha ta từ thuở xa xưa cố gắng dày công nghiên cứu tìm tòi mà truyền đạt vào trong đó với niềm hi vọng về một tương lai được rọi sáng bởi kiến thức đó. Vì thế chúng ta cần tôn trọng thành quả lao động nghiên cứu và ghi chép ấy. Xa xưa khi cuộc sống còn chưa phát triển mạnh với tốc độ, sự tiện lợi của các thiết bị điện tử thì sách là phương tiện, phương thức duy nhất để cất trữ kiến thức đời sống.
Sách là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Ở sách ta thấy được từng trang lịch sử hào hung, chói lọi mà cũng đẫm máu của từng dân tộc được hiện ra qua từng con chữ được ghi chép bởi chính những con người đương thời tận mắt chứng kiến. nó cho ta hiểu hơn về lịch sử dân tộc, và về chính bản thân nhân loại ngay từ thuở hồng hoan. Từ đó mà chúng ta thêm yêu mến về sự phát triển có quy luật ấy hơn.
Và hơn hết sách chính là sản phẩm do chính con người tạo ra, do chính sự thông minh của những trí não tiến bộ bậc nhất hành tinh này. Nên ta cần trân trọng các thành quả ấy hơn.
Thế nhưng xã hội hiện đại ngày nay với sự phát triển nhanh của các thiết bị điện tử khiến cho nhiều người thậm chí không có khái niệm “đọc sách” và về sách. Đó là những thành phần cần lên án, phê phán.
“Sách mở ra trước mắt tôi nhưng chân trời mới”, sách là ánh sáng văn minh của nhân loại. hãy cảm ơn và trân trọng từng cuốn sách. Bởi ở đó chứa đựng biết vô vàn kiến thức giúp ta xây dựng bức tranh cuộc sống với những gam màu tươi sáng chói lọi. | Suy nghĩ về câu nói của Maxim Gorki_ Hãy yêu sách nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống | 680 | |
Đề bài: Suy nghĩ về câu nói "Cái khó bó cái khôn"
Bài làm
Thông thường, khi cố gắng mà không đạt được một ý định nào đó, chúng ta thường tự động viên mình: “Cái khó bó cái khôn”.
Vậy, “cái khó bó cái khôn” có nghĩa là gì? “Cái khó” được hiểu là hoàn cảnh, điều kiện khó khăn không cho thực hiện một việc nào đó. “Cái khôn” là những dự kiến, kế hoạch, dự định tốt, sáng suốt. “Bó” nghĩa là trói buộc, hạn chế, không cho thực hiện. Cả câu có nghĩa chung là: hoàn cảnh khó khăn cản trở việc thực hiện một dự định, một kế hoạch tốt đẹp.
Rất nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta nghe những câu, đại ý như: vẫn biết là như thế, nhưng “cái khó bó cái khôn”, chưa thể làm được…
Suy nghĩ về câu nói "Cái khó bó cái khôn"
Có lẽ, thành ngữ này ra đời là để giúp cho những người có hoàn cảnh khó khăn tìm được lời giải thích về sự bất lực của mình, cũng như động viên, an ủi họ.
Dân gian còn có câu: “Lực bất tòng tâm”, nghĩa là: trong lòng rất mong muốn nhưng khả năng không thể đạt được. Đây cũng là một cách để giúp người ta nhìn vào thất bại mà không hoàn toàn mất tinh thần trước thất bại ấy.
Từ trong ý nghĩa sâu xa, ta thấy, câu tục ngữ xác nhận một thực tế: hoàn cảnh tạo nên tính cách con người; hoàn cảnh thực tế quyết định ý chí, ý thức… của mỗi chúng ta. Chính “cái khó” (tức hoàn cảnh) đã quyết định “cái khôn" (tinh thần) của người ta.
Câu nói trên phản ánh thực tế và quy luật khách quan: vật chất sinh ra ý thức, hoàn cảnh quy định tính cách con người…
Tuy nhiên, câu tục ngữ trẽn cũng có mặt phiến diện: nó chưa phải đã chi hết tính quy luật của sự tác động ngược chiều giữa ý thức đối với vật chất, giữa ý chí, nghị lực đối với hoàn cảnh.
Thực ra, còn có câu tục ngữ khác: “Cái khó ló cái khôn”. Lúc này, ý nghĩa của nó đã hoàn toàn thay đổi. “Cái khó”, “cái khôn” vẫn được hiểu với ý nghĩa trên. “Ló” nghĩa là chợt nảy ra, tìm ra. Nghĩa chung của cả câu là: hoàn cảnh khó khăn sẽ làm nảy sinh những ý định, những lối thoát khôn ngoan nhất.
Câu tục ngữ sau dường như đã bù đắp cho câu nói trước như một sự phản ánh toàn diện mối quan hệ qua lại giữa hoàn cảnh đối với cuộc sống con người.
Với người Việt Nam, quy luật chi phối của hoàn cảnh đối với bản chất con người cũng luôn được ghi nhậu trong hàng loạt các câu tục ngữ.
– “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài".
-“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.
– “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”.
Tuy vậy, người Việt Nam cũng không bao giờ, chịu khuất phục hoàn cảnh theo ý nghĩa chịu sự tác động tiêu cực. Hình ảnh bông sen vươn lên thơm ngát giữa đầm lầy trong ca dao dân ca luôn là hình ảnh tượng trưng cho tâm hồn, nhân cách con người Việt Nam, dẫu sống trong hoàn cảnh nghìn năm phong kiến, nhiều khó khăn, gian khổ và chiến tranh, nhưng vẫn vươn lên để khẳng định bản sắc của mình:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng,
Nhị vàng, bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Ngày nay, chúng ta được sống và học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, được các thầy cô và cha mẹ cưu mang đùm bọc, phần đông trong chúng ta đã có được hoàn cảnh thuận lợi, qua được thời khó khăn. Nhưng rất nhiều bạn trẻ vẫn có thói quen dựa dẫm, không chịu vươn lên, luôn thấy trước mắt là “khó khăn”.
Mỗi người chúng ta cần phải đặt ra những mục tiêu phấn đấu và phải phấn đấu hết mình để đạt được mục tiêu ấy. Đừng vì nghĩ rằng “cái khó bó cái khôn”, mà không chịu đi tìm “cái khôn nảy sinh trong cái khó”. | Suy nghĩ về câu nói “Cái khó bó cái khôn” | 728 | |
Đề bài: Trình bày quan niệm của bạn về câu ngạn ngữ: "Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi"
Bài làm
Sống trong cảnh gia đình đầy đủ, xa hẳn mọi điều lo lắng khổ cực, chúng ta dễ khinh thường những người lao động, hàng ngày phải lam lũ với nghề nghiệp. Chúng ta lại thường sẵn có thành kiến sai lầm, phân biệt nghề cao quý với nghề ti tiện, trọng nghề trí thức, khinh nghề chân tay. Để cảnh báo thái độ đó, phương Tây có câu ngạn ngữ:
''Không có nghề nào là hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi"
Thật ra có nghề nào là nghề hèn kém không? Để trả lời chúng ta đưa vài ví dụ. Đấy là bác phu xe, mặt mũi đen đũi, áo quần lôi thôi, lấy chiếc xe ba bánh làm kế sinh nhai. Ta liệt bác vào hạng tầm thường và nghề bác là nghề hèn kém. Còn đây là bác công nhân quét rác, mỗi đêm và sáng, bác làm vệ sinh thành phố, đến cửa từng nhà, hốt lên xe nhửng đống rác thối tha, đầy ruồi nhặng Có người nhìn bác bằng cặp mắt khinh rẻ.
"Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi"
Bác phu xe ấy mỗi lần gò lưng đạp xe chở khách, nhận được một món tiền nho nhỏ, mang về nuôi sống gia đình, bác đổi bát mồ hôi lấy bát cơm. Đồng tiền tuy ít ỏi nhưng bác kiếm ra trong sạch. Bác công nhân quét đường cũng vậy. Bác chịu cực khổ, ngày ngày làm bạn với những đống rác bẩn thỉu tanh hôi. Thế rồi, tháng đến, bác vui mừng đưa tay đón lấy đồng tiền lương nhỏ mọn đủ sống qua ngày. Nghề của bác thật là lương thiện. Cả hai người – và còn biết bao nhiêu người khác nữa – đều giúp ích cho xã hội một phần không nhỏ. Người thì chuyên chở giúp ta trên quãng đường xa, dưới nắng mưa không ngại. Người thi chịu dơ dáy thân mình để bảo vệ sức khỏe cho bao người khác.
Như thế thì sao có thế gọi nghề của họ là “hèn” được? Nghề của họ, tưởng là tầm thường mà thực ra có ích cũng chẳng khác gì nghề nghiệp của những người tri thức. Mà đã có ích thì là cao quý rồi.
Hơn nữa, những người ấy đều đã đặt hết cá lương tâm, trí óc, cũng như sức khỏe của họ để làm đầy đủ bổn phận mà cuộc đời đã dành cho họ. Ngoài ra họ còn là những người biết tự trọng, biết đem sức lao động mà trả nợ áo cơm, giúp ích xã hội, để sống xứng đáng với danh nghĩa “làm người” cúa họ. Như thế chẳng đáng cho ta cảm phục hay sao? Có phải người ta đã nông nổi mà xét đoán nghề nghiệp của họ một cách nhầm lẫn không?
Như vậy, ta phải công nhận rằng chẳng có nghề nào là hèn cả, mà chỉ có người hèn thôi, và đó chinh là ké bĩu môi chê lao động chân tay là nghề hèn kém. Vậy thế nào là người hèn? Đó là những người lười biếng, không nhận thức được bổn phận của họ là phái làm việc cho xã hội. Họ đã cướp công của xã hội, đã lừa cơm, cướp áo của lớp người cần lao kia. Người hèn là những hạng người thiếu lương tâm. thiếu trách nhiệm, là việc chiếu lệ cho xong, không xứng đáng với đồng tiền mà họ nhận. Người hèn là những người làm dân thì phản nước, làm trò thì phản thầy, chơi bạn thì phản bạn. Nói tóm lại những hạng lọc lừa, tham vàng bỏ ngãi, hình người lòng thú, dưới muôn hình vạn trạng, là những ăn cắp của công để ăn chơi thỏa thích, lãng phí tiền bạc của nhân dân. Từ “hèn” chi dành cho những con người ấy.
Câu ngạn ngữ Tây phương trên thật đã cho ta một bài học quý giá về nghề nghiệp. Nó khuyên ta nên tiêu diệt đầu óc hủ bại, đầy rẫy thành kiến sai lầm về nghề nghiệp. Nên nhớ rằng những nghề đã giúp ích cho xã hội đều là đáng trân trọng, đều là đáng quý. Vậy ta phải coi trọng sức cần lao của mọi lớp người lao động, cũng như trí thức. Đó là con đường duy nhất đưa ta đến một xã hội bình đẳng, bác ái và tiến bộ. | Suy nghĩ về câu nói “Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi” | 771 | |
Đề bài: Suy nghĩ về câu nói "Lửa thử vàng, gian nan thử sức"
Bài làm
Trong cuộc sống, một trong những bí quyết giúp cho chúng ta thành công là vượt khó. Trên đường đời chúng ta đâu chỉ có hoa thơm cỏ lạ, mà trước mắt là bao chông gai. Đế đạt được thành công của mình đòi hỏi con người ta phải có nghị lực để vượt qua khó khăn thử thách. Vì vậy, câu tục ngữ là lời khuyên, là bài học đắt giá cho mỗi chúng ta:
Lửa thử vàng, gian nan thử sức
Thật vậy, ông cha ta đưa ra hình ảnh hết sức gần gũi quen thuộc. Muốn xem tuổi vàng thì phải thử vàng bằng lửa, ngọn lửa càng cao độ chừng nào thì tuổi vàng càng rõ chừng ấy. Vàng được lửa đốt thì mới định được giá trị của nó. Con người cũng vậy, trước khó khăn mới biết được sức mình, nguy hiểm mà vẫn tiến lên không lùi bước mới có nghị lực.
Cuộc sống không phải là thảm đỏ, hoa thơm nhờ có ý chí bản thân sẽ vượt qua tất cả. Trước gian lao thử thách con người phải có nghị lực và tài năng. Tài năng chính là biết được sức mình và biết được phải đi bằng con đường nào, lựa chọn giải pháp nào để hoàn thành công việc. Trước bài toán khó nếu ta ỷ lại hoặc trông cậy vào người khác thì sẽ chẳng bao giờ tìm được cách giải. Hơn thế ý chí sẽ bị nhụt đi, lòng kiên trì bị thui chột. như trong cuộc sống nhân dân ta đã đứng trước bao khó khăn thử thách chống lại thiên tai định hoạ. Trước khó khăn thử thách như vậy, bằng ý chí nghị lực của mình, mọi người cùng đoàn kết thương yêu chung sức chung lòng chinh phục thiên nhiên. Bằng lòng dũng cảm, không ngại khó khăn, thậm chí đau thương chết chóc, dân tộc ta đã đánh đuổi được giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, xây dựng nước Việt Nam ngày một giàu đẹp.
Bác Hồ — lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam ta là tấm gương sáng ngời về tinh thần vượt khó, nghị lực phi thường và lòng dũng cảm vô song:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên
Câu tục ngữ là chân lý sống, để cho chúng ta mỗi người phải rèn luyện năng lực, tài năng của mình. Những khó khăn trong cuộc sống nhiều vô kể nhưng ta, sẽ đạt được thành công mỗi khi chúng ta có lòng dũng cảm vượt khó. Đã có không ít những kẻ thất bại trong công danh và sự nghiệp chỉ vì nản chí, nản lòng. Đó chính là khó ở lòng người, đứng trước chông gai thường hay run sợ.
Đã có biết bao người suốt ngày giam mình trong phòng thí nghiệm để tìm ra những ứng dụng phục vụ cuộc sống, bao con người vượt lên bệnh tật để sống một cuộc sống có ích cho xã hội. Đó chính là nhờ ý chí nhờ nghị lực để đạt tới thành công trong cuộc sống.
Tóm lại câu tục ngữ là lời khuyên sâu sắc giúp con người vượt trở ngại để đạt tới đích. Trong xã hội hiện nay, thế hệ trẻ chúng ta hãy bằng chính bản lĩnh, sức lực và tài năng của mình vượt lên làm chủ cuộc đời, đạt đến những đỉnh cao trong công danh và sự nghiệp. | Suy nghĩ về câu nói “Lửa thử vàng, gian nan thử sức” | 599 | |
Đề bài: Dân gian ta có câu: Một điều nhịn, chín điều lành? Hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ về vấn đề này
Bài làm
Nhân dân ta từ xưa đến nay luôn coi trọng hoà khí “Dĩ hoà vi quý". Vì vậy, trước những sự xích mích, trước những điều bực bội, dân gian thường nhắc nhở nhau: “Một điều nhịn, chín điều lành”. “Một” và “chín” chỉ là những con số ước lệ, chúng thể hiện quan niệm của dân gian về mối quan hệ giữa tính nhẫn nhịn và sự bình yên: nếu biết nhẫn nhịn một chút thì sẽ có được hoà khí, sự yên bình lâu dài. Ý cả câu khuyên con người nên bình tĩnh, biết nhẫn nhịn, tránh nóng nảy để giữ hoà khí. Ở đây, ta cần hiểu “nhịn” không có nghĩa là thua kém, mà là nhường nhịn, im lặng, lùi một bước; nhịn khi người khác không đủ bình tĩnh, tỉnh táo.
Trong cuộc sống, chỉ có kẻ tầm thường, tiểu nhân mới không biết nhường nhịn, hay so đo, chấp vặt. Bạn đang đi ngoài đường, bất chợt có người sấn sổ lại mắng bạn tới tấp vì những lí do bạn không hiểu nổi. Kẻ tầm thường sẽ nóng nảy đối lại, đôi bên to tiếng không ai chịu ai có thể xảy ra xô xát. Người biết nhẫn nhịn sẽ chờ người kia bình tĩnh lại, hỏi đầu đuôi sự việc, tìm ra những nhầm lẫn để giải quyết. Làm như vậy không những tránh được xô xát mà còn giành được sự tôn trọng, vị nể của người khác.
Nhưng “nhịn” cũng không có nghĩa là nhu nhược, hèn nhát, khi cần vẫn phải biết đấu tranh để thắng cái ác, cái phi lí. Trong cơ quan, công sở, là nhân viên biết rõ những hành vi phi pháp, tham ô, nhận hối lộ của cấp trên, sẽ có người im lặng không dám tố cáo. Đó là biểu hiện của sự nhu nhược, hèn nhát. “Nhịn” như vậy chẳng những không lành cho bản thân về lâu dài mà còn để hoạ cho xã hội. Lại có khi, trong cuộc sống, bạn bị một người khác, một thế lực khác khống chế về mặt nào đó chẳng hạn như tống tiền, bạo lực gia đình,… nêu bạn im lặng, không dám tố cáo, đấu tranh thì bạn sẽ phải gánh chịu những hậu quả thật tồi tệ. Tình cảnh đất nước ta trong một thời gian dài lịch sử cũng là một minh chứng sinh động cho điều này. Giặc phương Bắc xâm lược, đô hộ hơn một ngàn năm, thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm chiếm áp bức, bóc lột,… nếu dân ta cứ nuốt nhục mà không đứng dậy khởi nghĩa, đánh đuổi lũ xâm lăng thì ngày nay hỏi nước ta sẽ đi đến đâu? Vậy là, “Một điều nhịn, chín điều lành” nhưng cần hiểu rõ bản chất đích thực của từ “nhịn” ở đây để tránh những điều đáng tiếc. | Suy nghĩ về câu nói “Một điều nhịn, chín điều lành” | 508 | |
Đề bài: Một nhà văn Nga đã nói: "Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương". Em nghĩ thế nào về câu nói ấy?
Bài làm
Tại sao “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương?” Phải là một con người từng trải mới nói được những lời mang ý nghĩa sâu sắc như thế.
Qua sách báo, qua những bài học địa lí, ta mới biết được Bắc Cực lạnh lắm. Băng tuyết bao phủ quanh năm. Những ngọn núi băng cao chọc trời bao phủ cả một vùng mênh mông, kéo dài hàng nghìn hải lí. Lạnh dưới độ âm năm, sáu mươi độ. Phải là những nhà thám hiểm, nhà khoa học… mới đến được Bắc Cực. Chỉ có loài gấu trắng, hải cẩu, chim cánh cụt… mới sống ở Bắc Cực.
Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương
Nghe nói đến hai tiếng Bắc Cực mà ghê người. Nhưng nhà văn Nga lại nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương”.
Nơi không có tình thương hoặc thiếu tình thương là một xã hội mà chế độ bóc lột, áp bức ngự trị. Nơi đó, con người sống đau khổ trong thù hận, máu và nước mắt. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết:
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da
(Ðất nước)
Nơi không có tinh thương thì quyền sống của con người bị chà đạp, bị tước đoạt. Nơi ấy, có kẻ ngồi mát ăn bát vàng, kẻ ăn không hết, người lần không ra, có kẻ không có cháo cầm hơi, không có manh áo che thân giữa những ngày đông tháng giá.
Nơi không có tình thương, lòng người, trái tim người khô héo, băng giá. Sự cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau không có. Sống chết mặc bay. Dửng dưng trước sự đau khổ của đồng loại. Con người khác nào cầm thú! Đọc Đám tang lão Gô-ri-ô của văn hào Ban-dắc mà ta thấy hãi hùng. Cha già yếu, ốm đau, hai cô con gái chẳng đoái hoài. Cha chết trong cô đơn, tủi nhục, nghèo khổ… nhưng hai người con gái giàu sang không thèm đến, không một giọt nước mắt. Tiền bạc trong xã hội tư sản đã làm băng giá tim người. Tình cha con mẹ con, tình anh em, tình bè bạn, tình đồng loại không còn nữa. Người ta tôn thờ thần tiền. Đúng là nơi không có tình thương còn lạnh hơn Bắc Cực.
Xã hội thực dân nửa phong kiến là nơi không có tình thương. Vì thế mới có hiện tượng như nhà chí sĩ Phan Châu Trinh đã khinh bỉ đả kích: “Dân khôn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý! Chẳng những thế mà thôi “một người làm quan, một nhà có phước”, dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu rút tỉa của dân thể nào cũng không ai phẩm bình; dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai”. (Về luân lí xã hội ở nước ta)
Nơi không có tình thương thì không có đạo lí, con người trở nên tham lam, ích kỉ, độc ác, ti tiện. Sự chênh lệch quá lớn về giàu, nghèo trong xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự băng giá tình người. Nơi không có tình thương, chế độ không có tình thương không thể tồn tại được. Khi dân chủ và công bằng xã hội đã bị tước đoạt, chà đạp thì nơi đó làm gì có tình thương. Nơi đó là địa ngục, còn lạnh hơn cả Bắc Cực.
Nói đến tình thương là nói đến đạo Lí, là nói đến lòng nhân ái. Nhân dân ta luôn luôn nhắc nhở nhau: “Thương người như thể thương thân”. Gia đình là cái nôi của tình thương: tình cha con, mẹ con, tình anh em, tình ông bà con cháu. Dân tộc là nơi phát triển tình thương: tình đồng bào, tình yêu quê hương, đất nước. Dưới mái trường, tuổi trẻ được giáo dục và phát triển tình thương: tình thầy trò, tình bằng hữu, tình yêu Tổ quốc.
Phải sống nơi thiếu tình thương là điềm bất hạnh. Được sống trong tình thương là hạnh phúc.
Các phong trào như giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, ủng hộ đồng bào nghèo, đồng bào vùng bão lũ… là những hành động thiết thực để xây dựng tình thương cho con người và cho xã hội.
Câu nói của nhà văn Nga về sự thiếu tình thương có giá trị giáo dục lòng nhân ái cho bất cứ ai.
Share
Facebook
Twitter
Pinterest
Đề bài: Suy nghĩ về câu nói "Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương"
Bài làm
Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói “Người với người sống để yêu nhau”. Bạn hãy tưởng tượng trái đất này sẽ như thế nào nều không có tình yêu thương của nhân loại? Lúc ấy lòng người sẽ lạnh lẽo và trái tim dương như trở thành băng giá mặc cho dù mặt trời vẫn ngày ngày chiếu sáng ấm áp khắp muôn nơi. Thật thấm thía khi ai đó nói rằng: “ Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà chính là nơi không có tình thương”.
Bắc Cực là một vùng đất ở cực bắc của trái đất. ở nơi âý, khí hậu khắc nghiệt, quanh năm băng giá, mọi sinh vật đều khó tồn tại và phát triển. Vì thế mà nó được coi là nơi lạnh nhất. Nhưng khi đặt trong mối quan hệ với nhu cầu sống của con người thì Bắc Cực chưa phải là chỗ lạnh nhất nếu so với nơi không có tình thương. Tình thương là một tình cảm thiêng liêng tạo sự gắn bó và ý thức trách nhiệm của con người với nhau. Vì thế mà nơi không có tình thương là nơi con ngươi sống với nhau không có sự gắn bó, hòa hợp về tình cảm và không có trách nhiễm xuất phát từ tình cảm. Từ lạnh ở đây được đặt trong hai vế so sánh nên được hiểu theo hai trường nghĩa khác nhau. Cái lạnh ở Bắc Cực hoàn toàn khắc hẳn với cái lạnh ở nơi không có tình thương. Lạnh thực tế là cảm giác của con người khi nhiệt độ thời tiết hạ thấp xuống, nó cũng là cảm nhận của con người khi không tìm được mối liên hệ giữa mình và mọi người xung quanh. Tình thương chính là hơi ấm xua tan giá lạnh, là nghị lực giúp con người chống chọi lại mọi điều kiện khắc nghiệt của cuộc sống, để con người không chỉ sống mà còn hạnh phúc trong chính cuộc sống đó.
Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương
Con người luôn có khả năng chống chọi với mọi điều kiện lạnh giá của thời tiết. Vì thế cho nên Bắc Cực vẫn chưa là nơi lạnh nhất. Du khó khăn tồn tại và phát triển nhưng ở đó vẫn có những động vật tồn tại được vì chúng thích nghi với thời tiết nhờ lớp mỡ dày, bộ lông dày. Còn con người vẫn có thể sống và tồn tại ở những vùng đất ấy, họ có thể mặc áo lông thú, đốt lửa để sưởi ấm, sống trong nhà băng và bắt cá hồi. Vì thế dù ở nơi nào quanh năm băng tuyết, chỉ cần có thể lực, được rèn luyện sức chịu đựng đồng thời có những phương tiện hỗ trợ do con người tạo nên là sẽ ngăn chặn tác động xấu của cái lạnh vào cơ thể. Dù phải sống ở những nơi có độ ẩm như thế nhưng bên trong con người vẫn cảm nhận được sự ấm áp của lửa cháy và vẫn cố gắng hòa nhập thích ứng với môi trường sống. Đó chính là nguyên nhân và cũng là kết quả chứng minh rằng Bắc Cưc chưa phải là nơi lạnh nhất. Nhưng không có tình thương thì khác. Cảm giác lạnh mà nó mang tới không gì chống đỡ được. Đã bao giờ bạn cảm thấy trống vắng cô đơn? Đã bao giờ bạn cảm thấy lạnh và khát khao tìm một nguồn hơi ấm cho tâm hồn? Có lẽ cái mà bạn cần khi ấy không có gì ngoài tình yêu thương. Người bố thương con cả cuộc đời buôn tẩu làm ăn lo cho cuộc sống gia đình. Người mẹ thương con nuôi nấng, dạy dỗ con nên người,hi sinh tất cả vì con. Người anh thương em qua thái độ nhường cho em mẩu bánh mì ngon. Người con thương gia đình bằng tất cả tấm lòng hiếu thảo. Đôi nam nữ thương nhau trao cho nhau những tình cảm mặn nồng. Đó là tình yêu thương mà chúng ta từng bắt gặp trong cuộc sống. Song để tình yêu thương tồn tại bền lâu, mỗi con người không chỉ là con người được yêu thương mà còn phải là người biết yêu thương “ Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Cho đi tức là sẽ nhận được bởi những gì cho đi sẽ còn mãi. Khi ấy người được yêu thương sẽ không thấy cô độc, sợ hãi, sẽ trở nên vững tin và cảm nhận được hạnh phúc khi bản thân mình được yêu thương. Khi đem tình yêu thương đến cho người khác một cách thật lòng, ta sẽ trở nên Người hơn, Người với một nghĩa thật sự, trở nên vị tha, độ lượng trong việc làm và suy nghĩ, mang điều tốt đẹp cho người khác một cách vô tư thoải mái. Tình thương từ đó đã trở thành một tình cảm cao cả đem lại hạnh phúc cho cả người cho và người nhận. Những điều cho đi sẽ không hề mất, dù ta xác định rằng chỉ “để gió cuốn đi” như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng nói thì trong thực tế gió cũng không thể cuốn đi những điều tốt đẹp trong cuộc sống của con người. Tình yêu thương đã gắn bó con người với nhau, đã tạo những mối quan hệ tốt đẹp, đem lại cho con người sức mạnh, thậm chí có thể nhân đôi sức mạnh để con người có thể chống chọi những điều kiện khắc nghiệt của cuộc sống.
Hãy thử tưởng tượng nếu chúng ta đang sống ở những nơi không có tình thương, khi ấy trái tim con người sẽ thành băng tuyết trong cô đơn, cằn cỗi, khô khan, ích kỉ. Vì việc thiếu tình thương sẽ nới lỏng mối quan hệ giữa con người với con người, làm sự sống trở nên mong manh, yếu ớt trước tai họa, trước những điều bất trắc có thể xảy ra. Không có tình thương, con người sẽ sống vô tình, thờ ơ trước đau khổ của người khác, không nhận ra ý nghĩa nhân văn của cuộc sống. Nếu như mọi người sống không có tình thương thì người ăn mày sẽ không bao giờ có một chén cơm để ăn khi đói lòng, trẻ mồ côi sẽ không bao giờ được chăm sóc, trẻ em mù sẽ mãi tăm tối, không cảm nhận được hơi ấm của cộng đồng, sẽ không ai rơi nước mắt cho những cuộc đời nhiễm chất độc màu da cam, sẽ không ai bênh vực những con người vô tội. Lúc ấy cuộc đời thật đáng buồn và vô nghĩa. Vì thế mà sức mạnh của tình thương sẽ sưởi ấm và giúp con người chiến thắng tất cả ngay khi cuộc sống tưởng như không thể chịu đựng nổi.
Câu nói trên là một lời khẳng định đúng đắn. Nó xuất phát từ hiểu biết đầy đủ về vai trò và khái niệm của tình thương, từ tiêu chí cuộc sống con người văn minh. Con người văn minh không chỉ được đảm bảo về đời sống vật chất mà còn cần một đời sống tinh thần phong phú, giàu tính nhân văn và điều làm nên cuộc sông nhân văn không thể thiếu vai trò của tình thương con người. Vì tình thương chân thành giúp con người có cuộc sống lành mạnh và tích cực. Câu nói là một gợi mở về con đường xây dựng cuộc sống lí tưởng cho con người. Nó nhắc nhở ta việc bồi đắp tâm hồn, nâng đỡ tình yêu thương để có thể sẻ chia, cảm thông và sẵn lòng giúp đỡ người khác khi họ cần đến chúng ta.
Nơi nào không có tình thương thì đó là một mảnh đất thật đáng sợ hơn cái lạnh của vùng Bắc Cực. Vì vậy mỗi con người chúng ta sống luôn luôn cần tình cảm yêu thương, sự vỗ về, an ủi, niềm động viên, khích lệ. Như có nhà thơ đã từng kêu gọi “con người ơi hãy thương lấy con người”, hãy biết yêu thương và tìm cho mình một tình yêu thương chân thành. Điều đó sẽ vun đắp cho chúng ta một cuộc đời tươi đẹp, tràn ngập niềm vui và niềm tin yêu, hy vọng. | Suy nghĩ về câu nói “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương” | 2,262 | |
Đề bài: Nhà văn Đức F.Sile có nói: Tình yêu là niềm say mê làm cho người khác hạnh phúc. Anh chị nghĩ gì về ý kiến đó và về vai trò tình yêu trong cuộc sống con người?
Bài làm
Tình yêu – chỉ hai chữ đơn giản vậy mà đã làm hao tổn bao giấy mực của những nhà văn, những thi sĩ, những triết gia… từ xưa đến nay. Nó đã trở thành đề tài muôn thuở của con người.
Có ai trên đời chưa một lần nếm “trái đắng” của tình yêu, dẫu biết “yêu là chết ở trong lòng một ít" (Xuân Diệu)?
Tình yêu là niềm say mê làm cho người khác hạnh phúc
Tình yêu – chỉ hai chữ đơn giản vậy mà đã làm hao tổn bao giấy mực của những nhà văn, những thi sĩ, những triết gia… từ xưa đến nay. Nó đã trở thành đề tài muôn thuở của con người. V.Hugo đã khẵng định: "Tình yêu là bông hoa, cuộc đời là mật ngọt". Vai trò của tình yêu lớn lao như vậy nhưng bản chất của nó là gì? Bàn về vấn đề này, F.Sile – nhà văn Đức thế kỉ XVIII cho rằng: “Tình yêu là niềm say mê làm cho người khác được hạnh phúc”.
Cho đây là tình yêu với nghĩa hẹp là tình yêu nam nữ là trước hết, cơ bản là chuyện con tim. Tình yêu lứa đôi của trai gái là một thứ tình cảm đặc biệt. Không nói đến trường hợp nó nảy sinh đột ngột như sét đánh, bình thường nó là một sự cảm thông dần dần, một sự thẩm thấu có quá trình.
Bắt đầu bằng sự gần gũi, bằng những cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, sự ngượng ngùng rồi quen thân, rồi thương vì nết, trọng vì tài. Cái tài ăn nói có duyên, cái nụ cười như thể hoa ngâu… đều có vai trò mở đường vào con tim. Thế là tình yêu đến lúc nào không hay.
Vậy tình yêu là gì?
Cùng với F.Sile, biết bao nhà văn đã nói về tình yêu, Stendal nói: “'Một nửa và là một nửa đẹp nhất của cuộc đời vẫn là khép kín với những ai chưa từng yêu say đắm’’. V.Hugo viết: "Thế giới không có người biết yêu thì mặt trời sẽ tắt”. Và Tôn-Xtôi thì khẳng định: "Tình yêu biến những điều vô nghĩa của cuộc đời thành có ý nghĩa, làm cho những bất hạnh thành hạnh phúc”. Còn Dostoievski hùng hồn tuyên bố: “Tình yêu là sức mạnh toàn năng đến mức nó tái sinh chính bản thân ta". Nhưng cũng có một nhà thơ cổ điển Pháp từng nói: "Tình yêu là điều mà con người không thể hiểu nổi”. Xuân Diệu cũng đã viết: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”.
Tự nhiên như hơi thở, cần thiết như cơm ăn áo mặc hàng ngày, thế nhưng tình yêu là gì thì khó ai giải thích nổi. Sức quyến rũ ghê gớm của nó có lẽ là ở chỗ đó chăng? Chi tiết: “từ lúc yêu nhau hoa nở mãi”. Thấy người mình yêu đẹp hơn. Cuộc sống của mình có ý nghĩa hơn.
Vẻ đẹp trong trắng của nàng Giu-li-ét đã gọi Rô-mê-ô đến với nàng trong tiếng hót của chim dạ loan, bất chấp ngang trái cách ngăn của hai dòng họ. Tình yêu mạnh lắm, mạnh hơn cả oán thù.
Dáng dấp “phong nhã, hào hoa" của Kim Trọng đã khiến nàng Kiều phải “ghé theo’’ dù “khách đà lên ngựa”. Và bước chân nàng Kiều "xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" đến tình tự với người yêu đến nay còn làm cho bao kẻ giật mình.
Hiểu nhau càng sâu thì độ dày của tình yêu càng tăng, hoa tình yêu càng nở đẹp. Và bây giờ thì hai người như đã hòa làm một. Yêu và nhớ là hai mặt của tình yêu. Yêu say đắm thì nhớ tha thiết. Người xưa có câu: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”. (Một ngày không gặp nhau dài tựa ba năm). Ca dao cũng nói: “Gió sao gió mát sau lưng. Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”. Khi yêu nhau, người ta luôn có mong muốn được gặp nhau, gần nhau:
“Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương”
(Xuân Quỳnh).
Những kẻ đang yêu bao giờ cũng hướng về nhau, dành cho nhau những tình cảm, ý nghĩ tốt đẹp. Họ là mặt trời suốt đời soi sáng và sưởi ấm cho nhau.
Tình yêu gắn với niềm say mê là sự đam mê cháy bỏng mãnh liệt, không giới hạn. Nó không chấp nhận sự hững hờ, lạnh nhạt. Nét đặc trưng nhất của tình yêu là vậy. Trương Chi nổi sóng tình trước nhan sắc kiều diễm của Mỵ Nương, Kim Trọng cũng sóng tình lai láng trước vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Thúy Kiều. Và người bình dân thì "yêu nhau tam tứ núi cũng trèo…”.
Dường như khi yêu, trong con người cháy lên ngọn lửa thiêu đốt những cái tầm thường để những người đang yêu gần nhau hơn, kính trọng nhau, vì nhau hơn. Tình yêu chân chính không chấp nhận sự tính toán vị kỉ, nhỏ nhen, chỉ có sự quên mình, hi sinh cho nhau. Khi yêu, người ta mang đến cho nhau hạnh phúc. Đó là sự sung sướng, sự thỏa mãn. Và người ta cảm thấy mình sống có ích, cuộc đời của mình thật ý nghĩa.
Hạnh phúc đến với Thúy Kiều thì hồn thơ dào dạt thành: “'Tay tiên gió táp mưa sa”, chỉ một giây thành một lời châu ngọc. Hạnh phúc khiến cho nàng trổ tài nghề mọn mà khi thì tiếng tơ thành tiếng sắt tiếng vàng, khi thì thành lời thủ thỉ, quyến rũ của tiếng chim yêu đương, mời gọi… hạnh phúc cho Kim Trọng được thưởng thức tài nghệ của người yêu và cảm thấy mình may mắn tột đỉnh khi được sánh vai với một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn như Thúy Kiều.
Một lứa đôi gắn bó từ độ sâu của tâm hồn như thế, nếu được chung sống với nhau, họ sẽ đem lại cho nhau biết bao hạnh phúc! Người ta lo lắng cho nhau, đón trước ý nghĩ của nhau để làm một cái gì đó đem lại niềm vui cho người mình yêu trong cuộc sống hằng ngày. Trước kia, Kim Trọng: "Rắp mong treo ấn từ quan – Mấy sông cũng lội, qua ngàn cũng qua” để làm gì, nếu không tìm cho được Thúy Kiều để đền lại chuyện lỡ làng! Chúng ta nhớ tới chuyện Tú Xương dán đôi câu đối tết để bà Tú khen ông mà cũng thấy sướng trong lòng: “Rằng hay thì thực là hay – Không hay sao lại đỗ ngay tú tài?!".
Tình yêu đến độ chín sẽ thành niềm say mê chân chính – niềm say mê làm cho người khác được hạnh phúc – là vậy.
Ở đời, không phải không có những niềm say mê chỉ dừng lại ở mức ích kỉ bởi tình yêu tầm thường. Ghen bóng, ghen gió, hiểu lầm đến giết chết tình yêu, người yêu. Hoặc mạo danh tình yêu để vụ lợi, không nghĩ đến đau khổ, đến tan vỡ hạnh phúc của người khác. Tình yêu chân chính sẽ làm cho người ta thêm yêu cuộc sống, thôi thúc ước mơ, nâng người mình yêu lên một giá trị cao hơn, để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Lênin đã nói về tình yêu: “tình yêu là ngọn lửa nồng nhiệt, đừng để nó thiêu cháy sự nghiệp, cũng là lời nhắc nhở các cô gái, chàng trai đang yêu".
Tuy vậy, tình yêu không chỉ giới hạn trong phạm vi nam nữ. Con người cần có tình yêu lớn: yêu gia đình, bạn bè, cuộc đời, quê hương đất nước. Chính đặt trong tình yêu lớn, ý nghĩa của tình yêu lứa đôi, hạnh phúc gia đình mới thật sự cao đẹp, lớn lao, như nhà thơ Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng đã viết:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Người xưa nói rằng đất cũng có tình yêu say mê sự sống. Lúa nổi ở Đồng Tháp Mười là quà của đất tặng con người, không đòi hỏi con người một chút mồ hôi gieo trồng. Được người chăm sóc, đất say mê kết trái cho đời, không bao giờ ngừng nghỉ. Còn cuộc sống con người cần tình yêu biết bao! Con người không có tình yêu chẳng khác chi trái đất không có ánh mặt trời, tình yêu say mê của các nhà khoa học là sự hi sinh sức lực, thời gian cả một đời để nghiên cứu, phát minh, sáng tạo ra những điều tốt đẹp đem lại hạnh phúc cho con người. Tình yêu của người chiến sĩ đem lại thanh bình cho đất nước. Người chiến sĩ hiểu rất rõ rằng: tính mạng đáng quý, tình yêu rất đẹp, nhưng nếu vì tự do họ có thể hy sinh cả hai thứ đó. Tất cả đều bắt nguồn từ tình yêu lớn, từ sự say mê làm cho người khác được hạnh phúc. Tình yêu là qui luật muôn đời. Tuy câu nói của F.Sile cách đây đã hai thế kỉ nhưng ý nghĩa nhân sinh của nó vẫn rất mới mẻ và sâu sắc. Quan điểm này không chỉ có giá trị trong phạm vi tình yêu lứa đôi mà còn có giá trị trong đời sống tinh thần của cả cộng đồng. Nó khá gần gũi với quan điểm đạo lí Á Đông nên dễ hiểu và dễ chấp nhận. Mỗi chúng ta hãy coi bài học về lòng vị tha và đức hi sinh trong tình yêu là bài học lớn trong cuộc đời. | Suy nghĩ về câu nói “Tình yêu là niềm say mê làm cho người khác hạnh phúc” | 1,664 | |
Đề bài: Nhà văn M.Goóc-ki cho rằng: Văn học là nhân học. Hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về quan niệm trên.
Bài làm
Trên đời này, ngoài con người ra, còn có hai điều rất khó hiểu và khó hiểu đúng. Đó là tình yêu và văn chương. Có ai dám nói rằng mình hiểu tình yêu và cũng có ai dám nói rằng mình định nghĩa được văn chương? Văn chương cũng như tình yêu vậy, có rất nhiều màu sắc. Chính vì thế nó không phải là những vật thể bất dịch có thể nắm bắt bằng tay, ngửi bằng mũi hay nhìn bằng mắt được.
Trên đời này, ngoài con người ra, còn có hai điều rất khó hiểu và khó hiểu đúng. Đó là tình yêu và văn chương. Có ai dám nói rằng mình hiểu tình yêu và cũng có ai dám nói rằng mình định nghĩa được văn chương? Văn chương cũng như tình yêu vậy, có rất nhiều màu sắc. Chính vì thế nó không phải là những vật thể bất dịch có thể nắm bắt bằng tay, ngửi bằng mũi hay nhìn bằng mắt được. Người ta nói về văn chương nhiều lắm, đẹp lắm! Còn Goóc-ki, với ông: văn học là nhân học – súc tích như bản chất của văn chương.
Văn học là nhân học
Cái định nghĩa văn học gồm năm chữ ấy ngắn gọn về số lượng ngôn từ nhưng các mặt ý nghĩa lại chẳng ngắn gọn chút nào. Văn học là nhân học, văn học là bộ môn học về con người, không phải chỉ là cái con người sinh học với đầy đủ chân, tay, mắt, mũi, tim, gan… mà đó là những con người với cuộc sống tinh thần phong phú và đa dạng của họ. Học văn là để hiểu sâu hơn tâm hồn con người, và đồng thời cũng là để học cách làm người. Phải chăng đó chính là điều Goóc-ki muốn nói với chúng ta – những người đã phần nào đặt chân vào ngưỡng cửa văn chương?
Câu nói của Goóc-ki dường như đã được hun đúc lại từ chính cuộc đời cầm bút của ông. Đó là một phát hiện mới mà lại không mới; là câu nói ngắn gọn mà lại không ngắn gọn. Đối với những người chỉ coi văn chương là một thứ phù phiếm thì câu nói ấy của ông cũng sớm héo úa như những bông hoa chưa kịp nở đã tàn.
Với văn chương, chất liệu đầu liên để cấu thành tác phẩm là ngôn từ nhưng yếu tố cuối cùng quyết định sự sống còn của tác phẩm lại không phải là ngôn từ. Đó chính là hình tượng nhân vật. Nhân vật văn chương không ai khác chính là những con người của cuộc sống. Đọc tác phẩm ta nhận ra mình qua mỗi nhân vật ở từng ngõ ngách nội tâm hiểu đúng hơn và hiểu nhiều hơn về cái thế giới tinh thần phong phú bí ẩn bị bề ngoài bao phủ.
Học văn hay làm văn, viết văn cũng vậy thôi. Cũng là để nhận thức đúng đắn hơn về cuộc sống và con người. Bản chất của cuộc sống cũng là bản chất của con người. Mỗi người khi chấp nhận con đường về nghiệp văn tức là đã chấp nhận đương đầu với thử thách. khó khăn để sống đúng và hiểu đúng hơn về con người, về cuộc đời. Chính vì thế mà văn học đã lựa chọn cuộc đời làm người bạn đồng hành tri âm của mình. Và cũng chính vì lẽ đó mà văn học phài là nhân học, chứ không nào khác được.
Nhưng nếu chỉ như vậy thôi thì đã đủ chưa? Văn học cung cấp bấy nhiêu mảnh đời, bấy nhiêu số phận không đơn giản chỉ để mỗi độc giả nhận ra mình qua từng mảnh đời, số phận đó. Văn học là nhân học và vì thế văn học không chỉ thực hiện chức năng nhận thức, còn phải làm tốt cả chức năng giáo dục. Học văn là học cách làm người. Và học cách làm người tức là học về cái tốt, cái đẹp và cái thật không phải lúc nào văn học cũng đề cao cái tốt đẹp. Cũng có lúc trong văn học xuất hiện những thằng cơ hội như Xuân tóc đỏ (Sốđỏ – Vũ Trọng Phụng), lưu manh như Chí Phèo (Chí Phèo – Nam cao), nham hiểm như Bá Kiến (Chí Phèo) và thậm chí dâm ô, trụy lạc như Nghị Hách (Giông tố – Vũ Trọng Phụng). Nhưng điều tác phẩm văn học muốn đề cập đến qua những nhân vật ác là con người phải biết loại bỏ, căm ghét và chống lại cái xấu, đừng để những cái xấu, cái ác như thế tồn tại trong cuộc đời. Điều đó cũng có nghĩa là văn học giúp người đọc hướng thiện và đi tới sự hoàn thiện mình.
Có thể nói Gorki đã đúng đắn khi đưa ra một định nghĩa về văn chương như vậy. Trở lại với ý kiến ban đầu của bài viết rằng đây là một phát hiện mới mà không mới của Goóc-ki. Nói không mới vì câu nói của ông đề cập đến bản chất của văn học – một vân đề mà nhiều người đã nêu lên và sau này Thạch Lam, Nam Cao hay Nguyễn Khải cũng từng đề cập. Xét theo một khía cạnh nào đó, M. Goóc-ki đã đề cập tới nhân vật trong phát biểu của mình. Văn học giúp con người tốt hơn thông qua nghệ thuật thể hiện nhân vật chứ không phải là ở những khái niệm lí lẽ thuần giáo huấn. Như vậy, giữa con người trong tác phẩm và con người trong cuộc đời có gì giống và khác nhau? Và sức sống của nhân vật điển hình mạnh như thế nào?
Tác phẩm là sự thể hiện cuộc đời vì thế con người của tác phẩm cũng là sự thể hiện của con người trong cuộc đời. Cũng yêu thương, cũng hờn ghét, cũng hình hài xấu đẹp. Nhưng sự phản ánh đó không phải là cái sao chép nguyên xi. Nhà văn mượn nguyên màu trong cuộc sống rồi sáng tạo tưởng tượng thêm để tạo ra nhân vật của mình. Chị Ràng – rmười nữ liệt sĩ trung kiên ở vùng đất Ràng không đẹp bằng chị Sứ và cũng không có tình mẫu tử xúc động như chị Sứ. Mối quan hệ giữa chị Ràng và chị Sứ cũng là mối quan hệ giữa cuộc đời và văn học. Cuộc đời là nơi khởi đầu cũng là hướng đi tới của văn học. Văn học viết về cuộc đời và đồng thời cũng là tập hợp từ cuộc đời. Chính vì thế nhân vật mà mỗi tác giả nhào nặn hư cấu nên thường có giá trị điển hình cho con người của một xã hội, một thời đại. Đó chính là nét khác biệt giữa con người trong tác phẩm và trong cuộc đời. Sức sống của nhân vật điển hình – một con người này mà cũng nhiều người kia – chính là sức sống của một tác phẩm văn học. Và nhiều lúc nó còn thật hơn cả người thật nữa nó quyết định sự trường tồn của tác phẩm truyện và của tên tuổi tác giả. Mỗi nhà văn chỉ mong muốn để lại cho đời một, hai nhân vật điển hình mức độ cao nhằm làm trong sạch hơn tâm hồn con người theo đúng bản chất và chức năng của văn học: "văn học là nhân học".
Cái điều tưởng là dễ hiểu ấy cứ sống mãi trong mỗi người như sự trường tồn của cuộc đời, của văn học. Mỗi trang văn là mỗi trang đời. Và mỗi trang đời ấy, được viết từ những mẫu, những mảnh con người. Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vãi (Chế Lan Viên) cũng như mãi mãi không có thứ văn chương nào nằm ngoài qui luật của sự sáng tạo: nghệ thuật vị nhân sinh và văn học là nhân học. | Suy nghĩ về câu nói “Văn học là nhân học” | 1,380 | |
Đề bài: Ngày xưa trong sách xử thế, có người cho rằng: Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau. Hãy bày tỏ ý kiến của em về cách xử thế qua câu tục ngữ đó.
Bài làm
Ca dao tục ngữ được hình thành trong dân gian qua nhiều thế hệ nhân dân truyền dạy cho nhau hoặc cho đời sau những đạo lý, những kinh nghiệm sống để thích nghi với thiên nhiên, hòa hợp với xã hội, để đối nhân xừ thế. “Ãn cỗ đi trước, lội nuớc theo sau” cũng nhằm mục đích ấy. Tuy vậy, ta hãy xét xem ý nghĩa và giá trị tinh thần câu tục ngữ này như thế nào đối với cá nhân và cộng đồng xã hội chúng ta.
“Ăn cỗ đi trước” là khi có lễ hội, đình đám có tổ chức ăn uống thi phải đến trước để bàn cỗ còn sạch sẽ, thức ăn dồi dào. Nếu đi sau, đi trễ, bàn cỗ không còn tươm tất, đôi khi còn bị thiếu phần. “Lội nước theo sau” là đường đi dưới nước ta không thấy được nơi nào hố trũng, mô trơn, nơi nào đá ghềnh cọc nhọn. Người đi trước gặp nhiều rủi ro nguy hiểm. Người theo sau cứ nhìn người đi trước mà đi, tất phải an toàn hoặc không quá nhiều rủi ro.
Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau
Những câu tục ngữ còn có nghĩa xa hơn là khi có những điều lợi lộc, những dịp may mắn cần phải nhanh hơn người để nắm bắt thời cơ cho mình. Khi có những việc khó khăn, nặng nhọc, hiểm nguy cho đồng bào, cho xã hội thì cứ chờ hoặc đùn đẩy cho những người khác đi trước xông pha, gánh chịu, mình cứ tà tà đi sau để tránh tổn thất cho bản thân. Nói tóm lại đây là câu nói chỉ sự khôn, dại, cái mánh khóe ở đời.
Ca dao tục ngữ thường có ý khuyên dạy, dận dò nhưng không hoàn toàn là lời hay, ý đẹp vi nó được hình thành từ dân gian vào những thời đại trước, ta cần phải gạn đục khơi trong. Từ bao đời nay cái thiện mĩ không chấp nhận cái độc ác, xấu xa. Nhưng thực tế cái ác vẩn tồn tại bên cái thiện, người cao thượng, quảng đại vẫn phải sống giữa đám thấp hèn, nhỏ nhen. Chính vì thế trong tục ngữ không khỏi lẫn lộn vàng, thau. Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau đã lộ rõ cái bản chất láu cá, so đo thấp hèn của kẻ chuyên: “Ăn thì lựa hết miếng ngon, làm thì lựa cái cỏn con mà làm”.
Câu tục ngữ có tính phê phán những kẻ hèn nhát, lọc lừa, cơhội, lúc nào cũng mang nặng tư tưởng ngồi chờ. Tư tưởng ấy thật trái với đạo lý và truyền thống của ông cha ta đã có từ ngàn xưa.
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Dù muốn, dù không tục ngữ này vẫn hiện diện và tồn tại trong dân gian, nhưng với tuổi trẻ đầy nhiệt huyết và lý tưởng trong sáng, cao đẹp, học sinh chúng em phải sống hùng, sống mạnh, xung phong đi đầu với mọi gian lao vì hạnh phúc của mọi người theo khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có đâu khó có thanh niên” để sống làm sao cho có nghĩa, làm sao cho “thân thể không là cỏ cây” và coi câu tục ngữ trên chỉ là một lời nói có ý mỉa mai, chê trách cái hèn mọn, xấu xa “há miệng chờ sung” của một số người. | Suy nghĩ về câu nói “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau” | 619 | |
Đề bài: Anh (chị) suy nghĩ gì về câu nói sau đây của Nguyễn Bá Học: "Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông".
Bài làm
Được sinh ra trên đời là một diễm phúc đối với mỗi con người. Thế nhưng để tồn tại và sống cho đúng nghĩa, con người luôn phấn đấu để thật sự “thành người” là cả một quá trình đấu tranh. Đế nói về một quan niệm sống cần phải có nghị lực, ý chí, Nguyễn Bá Học có một đúc kết thật hay: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.
Câu nói đã mở ra cho ta suy nghĩ về nghị lực sống. Nếu ta xem cuộc đời này là một con đường dài thì những khó khăn thử thách sẽ là những ngọn núi cao, những con sông dài bắt buộc chúng ta phải vượt qua. Nhưng dù cho sông có dài núi có cao thì khi con người có ý chí, nghị lực sống thì chắc chắn sẽ vượt qua được. Ta có thể hiểu nghị lực sống là những cố gắng quyết tâm vượt qua những thử thách trước mắt. Trái lại, khi chúng ta làm một công việc tuy là không khó khăn nhưng với bản chất lo sợ thất bại thì công việc đó sẽ không đi đến thành công. Cũng như câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông
“Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển;
Quyết chí ắt làm nên”.
Như vậy, ta có thể thấy được câu nói của Nguyễn Bá Học là hoàn toàn đúng. Nghị lực sống là một trong số những con đường nhanh nhất dẫn đến thành công của một người. Con đường đời sẽ không làm phụ lòng những người biết vượt lên trong cuộc sống. Người có nghị lực sẽ tìm được con đường đi đến thành công dù là con đường đó chông gai, khó khăn. Mỗi người sẽ có một con đường đời của riêng mình nhưng điểm chung là tất cả mọi con đường đều có những lúc lên lúc xuống, lúc êm đềm, lúc khó khăn. Chúng ta phải luôn sẵn sàng đối mặt với những gian nan ấy. Tất cả những khó khăn sẽ không là vấn đề to lớn nếu ta bình tĩnh suy nghĩ và có đủ quyết tâm để vượt qua nó. Từ cuộc sống thực tế ta có thể thấy những gia đình khó khăn sau một thời gian làm việc vất vả, cố gắng dành dụm, có nghị lực để vượt qua những gian khổ trước mắt thì sau một thời gian, cuộc sống sẽ mang lại cho họ những thành công. Cũng có thể lấy ví dụ từ trong ghế nhà trường, một học sinh có khả năng tiếp thu bài kém nhưng khi người học sinh ấy có nghị lực để quyết tâm chăm chỉ học tập thì kết quả sẽ được cải thiện. Như vậy ta thấy được tầm quan trọng của nghị lực sống đối với những ai muốn đi đến được thành công. Con đường Hồ Chí Minh di đến giải phóng dân tộc quả không dễ dàng. Chế Lan Viên từng dùng hình ảnh “viên gạch hồng” mà Bác đã sưởi ấm cả một mùa đông. Đó mới chỉ là một trong cái khó về thiếu thốn vật chất thường ngày mà Bác phải trải qua. Để giác ngộ những trí thức hải ngoại thâu đạt được tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác mà hỗ trợ cũng là cả một vấn đề. Xây dựng được cơ sở Đảng phải trải qua muôn vàn khó khăn; tìm kiếm vũ khí; tranh thù sự ủng hộ của quôc tế,… Đó là những chặng đường Bác đã trải qua. Những năm tháng tù đày, sống và hoạt động trong vòng bí mật. Sau này giành được hòa bình, con đường Bác phải tiếp tục là làm cho dân no ấm,… Ôi, biết bao là khó khăn. Vậy mà Bác đã mang lại cho dân tộc ta ánh sáng tự do. Nếu không có những bản lĩnh phi thường, một trí tuệ vượt bậc và tấm lòng thương dân sâu nặng, thử hỏi làm sao vượt qua con đường ấy?! Bởi vậy, khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, Bác chỉ có mỗi mình trong lặng lẽ, nhưng khi nằm xuống, đã có hàng vạn, hàng vạn trái tim của đồng bào hướng về Hà Nội, hướng về Bác mà rơi lệ tiếc thương. Hằng ngày, ta vẫn thấy những bà mẹ nghèo tần tảo nuôi con. Dẫu cho con họ từng bước lớn lên trong từng chén cơm cơ hàn, nhưng vẫn được đến trường từ gánh hàng rong của mẹ. Điều đó, ta đã từng được nghe, được thấy trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Những đôi vai gầy gò, và gánh hàng còm cõi, họ vẫn đầy nghị lực và khát vọng hướng con đến con đường tươi sáng với những thiết tha cao đẹp. Ngày ngày, ta vẫn thấy biết bao người tật nguyền rong ruổi trên khắp nẻo đường. Họ mưu sinh chân chính và trĩu nặng trong từng bước chân số phận mà lương thiện. Họ đã sống bằng nghị lực phi thường.
Nhưng trong thực tế không phải ai cũng có đủ nghị lực để vượt qua thử thách. Đó là những con người đáng chê trách. Thất bại không phải là mất tất cả, khi chúng ta thất bại thì phải cố gắng đứng dậy. Chính nghị lực sống sẽ giúp chúng ta đứng dậy. Nhưng ngày nay khi gặp phải thử thách, nhiều người đã chọn cách buông xuôi thay vì cố gắng đứng lên. Một loạt người khác trong xã hội ngày nay là chưa làm việc đã sợ thất bại vì những khó khăn mà công việc đặt ra. Đường đời sẽ càng chông gai nếu những ai nghĩ rằng khó khăn sẽ không vượt qua được, chúng ta cứ thử một lần bước qua những thừ thách, đối mặt với khó khăn thì chắc chắn chúng ta sẽ vượt, qua được vì nghị lực sẽ làm nên tất cả. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh cần rèn luyện cho mình những kĩ năng sống cần thiết. Đặc biệt là nghị lực sổng, cách tốt nhất để vượt qua khó khăn và là một trong những hướng đi nhanh nhất dẫn đến thành công. Bên cạnh đó, gia đình cũng phải tạo điều kiện đế mỗi cá nhân đối mặt với những thử thách và va chạm trong cuộc sống.
Để mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình hơn, rèn luyện được tính tự lập, và ý chí thép để đối mặt với mọi khó khăn. Còn những ai chưa bao giờ đối mặt với khó khăn thì phải tự mình rèn luyện cho mình có một ý thức vươn lên và vượt qua thử thách.
Như vậy, trên đường đời đầy gian nan thử thách, mỗi người phải có nghị lực sống để vượt qua tất cả, “nghị lực sống sẽ mở ra cho chúng ta những con đường đi đến thành công!”. Là thanh niên, sống không có mục đích, không có lí tưởng, khát vọng, và đặc biệt không có nghị lực vươn lên thì quả thật hổ thẹn biết bao!.
Cầm vàng mà lội qua sông,
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng. | Suy nghĩ về câu nói “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” | 1,281 | |
Đề bài: Người xưa nói: "Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm". Em có suy nghĩ gì về lời khuyên trên?
Bài làm
Trong cuộc sống muôn màu và vô cùng phức tạp này, có những ranh giới thật mong manh. Giữa thiện – ác, tốt – xấu nhiều khi chỉ là một “sợi tóc” (Thạch Lam). Nếu không có lập trường vững vàng và bản lĩnh kiên cường, con người rất dễ trượt chân vào vực xoáy của cuộc đời. Làm việc gì, dù lớn hay nhỏ, đều phải chú ý đến bàn chất của sự việc đó, “đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm”.
Câu nói trên đề cập đến một mối quan hệ phổ biến của hiện thực cuộc sống, đó là mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng: việc thiện hay ác không phụ thuộc vào mức độ lớn hay nhỏ mà phụ thuộc vào bản chất của nó. Đã là việc ác thì dù lớn hay nhỏ cũng là ác. Ăn trộm một cây rau hay một chiếc xe máy vẫn bị gọi là thằng ăn trộm. Đã là việc thiện thì dù nhặt được cây kim trả người đánh mất, chỉ đường cho người lạc hay cứu một mạng người cũng là việc thiện. Vì vậy khi làm một việc gì đó nên có thái độ dứt khoát, chỉ làm việc thiện, không làm điều ác, dù lớn hay nhỏ. Câu nói này có ý cảnh báo mỗi người hãy cảnh giác với những suy nghĩ có tính chất ngụy biện của chính mình. Khi muốn làm một điều gì đó, nhất là những việc không biết có nên làm hay không, con người thường tự biện hộ cho mình. Chặt một cây xanh thấy không ảnh hưởng gì nhưng mười lần anh làm thế anh sẽ đốn đi cả một vạt rừng. Làm việc ác cũng vậy, thấy không đáng gì thì tặc lưỡi làm đại, đến khi hậu quả xảy ra mới nghĩ minh làm sai thi đã muộn.
Việc thiện là việc làm mang đến lợi ích chính đáng cho mình và những người xung quanh. Việc thiện bao giờ cũng xuất phát từ sự thống nhất về quyền lợi của số đông. Việc có ích cho cộng đồng được coi là việc thiện, cho dù lợi ích đó lớn hay nhỏ.
Việc ác là những việc làm gây nên những hậu quả tiêu cực cho mọi người xung quanh. Làm việc ác có thể có lợi lớn cho mình nhưng lai ảnh hương xấu đến những người xung quanh. Khi hành động, thông thường mỗi người đều có khả năng nhận thức được việc làm của mình là thiện hay ác. Ai cũng có thể xác định được mục đích và tính chất của việc mình làm. Tất nhiên cũng có người do vô tình hay do thiếu hiểu biết mà có những hành động sai trái. Song đó chỉ là những trường hợp cá biệt.
“Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm” là một lời khuyên có ý nghĩa rất thiết thực với mỗi người. Bởi vì phần đông chúng ta đều mắc vào sai lầm này. Thường bỏ qua những việc thiện nhỏ và đi làm những việc ác nhỏ. Đã là việc thiện thì dù lớn hay nhó cũng nên làm Dắt một cụ già hay một em nhỏ qua đường cũng đáng quý như tham gia một buổi từ thiện. Con người thường cứ hay vô tình với những điều nhỏ nhoi xung quanh. Làm việc thiện, quan trong nhát không phải là làm việc lớn hay việc nhỏ mà cốt ở cái tâm của người. Cái đáng quý của người làm việc thiện là có lòng thương yêu đồng loại, quan tâm san sẻ khó nhọc với những người xung quanh. Làm việc thiện là không tính toán thiệt hơn, một trong những điều tâm niệm của nhà Phật là "Thi ân đừng cầu đền đáp vì cầu đáp trả là thi ân có mưu tính". Làm việc thiện một cách vô tư sẽ không chỉ mang đến cho người khác những điều tốt lành mà còn mang đến cho mình một cái tâm thanh thản, trong sậng. Còn làm việc ác, dù nhỏ thôi, sẽ không chỉ gây hại cho người khác mà còn làm cho lương tâm mình day dứt, lo lắng, là tự đánh mất sự thanh thản của chính mình. Không ai có thể yên lòng sau khi đã làm một việc ác. Việc ác nhỏ thì day dứt lương tâm, việc ác lớn thì lo sợ, ám ảnh.
Dưới dạng một lời khuyên, câu nói này đã khẳng định một cách dứt khoát rằng: Chớ làm điều ác, nên làm điều thiện. Đây không phải là tư tưởng mới mẻ nhưng nó lại có một ý nghĩa thực tế sâu sắc. Ai cũng ý thức dược rằng không nên làm điều ác mà nên làm nhiều điều thiện, nhưng không phải ai cũng thực hiện được. Cái tư tưởng có tính chất ngụy biện đối với phần đông chúng ta được thể hiện ở câu nói này. Những việc thiện nhỏ rất đáng làm thì bỏ qua, nhưng những việc có hại cho người khác, thấy có hại ít nên cứ làm. Có những người rất nhiệt tình tham gia vào các buổi quyên góp từ thiện, nhưng lại vô tình trước những đứa trẻ lang thang, thậm chí đánh đuổi chúng khi chúng bán báo trước nhà. Chính những điều này lả tạo nên những tội ác lớn. Một cán bộ nhà nước nhận quà hối lộ, tự biện hộ cho mình rằng đó chỉ làm món quà nhỏ nhưng lại tiếp tay cho ké xấu làm bao nhiêu điều ác, gây hại cho nhân dân, đất nước. Những cán bộ công chức tha hoá biến chất mà chúng ta vẫn đọc tên họ trên báo chí hàng ngày, hi vì những thú vui, những ham muốn cá nhân, mà dung túng cho tội hạm đê rồi ma tuý len vào mọi ngõ ngách của xã hội, từ giảng đường, lớp học đến từng căn bếp và đã gây nên những thảm kịch gia đình, sự nhức nhối cho đạo đức xã hội xuống cấp. Sự vô tình hay cố ý của một việc ác nhỏ là tiền đề để tạo ra những tội ác lớn. Cha mẹ chị Tám Bính (trong Bi vỏ của Nguyên Hồng)vì sợ xấu hổ với làng nước, vì mấy đồng bạc đá dứt tình mẹ con của Bính, đã đang tâm bán đi đứa cháu ngoại mới lọt lòng, và từ đó đẩy cuộc đời Bính đến bi kịch, biến một cô gái hiền lành, cả tin thành một tay anh chị trong làng trộm cắp. Ngược lại, từ thương mình đến thương người, Mị đã dám cắt dây trói cứu A Phủ rồi cứu cả cuộc đời mình. Một bát cháo hành Thị Nở nấu cho Chí ăn sau khi hắn tỉnh rượu, sự chăm sóc vụng nhưng ân cần, chân thực của Thị đã đánh thức phần người tốt đẹp tiềm ẩn rất sâu đằng sau bộ mặt con quỷ dữ làng Vũ Đại. Và việc làm nhỏ bé ấy đã khiến Chí ý thức được giá trị của cuộc sống lương thiện. Chúng ta dang hàng ngày, hàng giờ vận động mọi người tham gia các hoạt động từ thiện nhưng chúng ta vẫn cứ vô tâm trước những việc nhỏ xung quanh mình. Bỏ rác đúng nơi quy định, tránh đường, nhường ghế ở nơi công cộng cho người già và trẻ em là những việc thiện nhưng liệu đã mấy ai quan tâm. Trong khi đó lại sẵn sàng hái cây, bẻ cành, ăn cắp của công…
Xã hội tồn tại và phát triển bao giờ cũng có sự song hành giữa thiện và ác. Không bao giờ có thê xoá hết cái ác, song nếu mỗi người luôn ý thức được rằng chỉ nên làm điều thiện không nên là điều ác thì chắc rằng xã hội sẽ ngày càng tiến bộ hơn. | Suy nghĩ về câu nói “Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm” | 1,374 | |
Suy nghĩ về câu nói: Con người có thể trở nên vĩ đại là vì có khát vọng, có khát vọng mới có tương lai (-Anh em Nhà Wright-)
Hướng dẫn
Không ngừng khát vọng là sức mạnh đưa con người vượt qua thử thách đến với thành công vĩ đại.
Mở bài:
Mọi thành công trong cuộc sống không tự nhiên mà đến. Đó là kết quả của một quá trình cố gắng lâu dài, không ngừng khát vọng chiến thắng và chấp nhận những thất bại cay đắng để đạt đến mục đích cuối cùng. Chính không ngừng khát vọng là sức mạnh đưa con người vượt qua thử thách đến với thành công vĩ đại.
Thân bài:
Khát vọng là gì?
Khát vọng là mong muốn và không ngừng mơ ước đạt đến những điều lớn lao, tốt đẹp trong công việc và cuộc sống với một ý chí kiên định, một niềm tin tưởng lớn lao, một sức thôi thúc mãnh liệt từ bên trong con người. Có thể so sánh khát vọng hay chính là ngọn lửa soi sáng và không ngừng thúc đẩy con người vươn lên đạt đến mục đích.
Tương lai là gì?
Tương lai là những gì sẽ xảy đến trong thời gian sắp tới. Cũng có thể hiểu tương lai là những gì tốt đẹp, là kết quả mĩ mãn sẽ đến trong cuộc đời của chúng ta. Đó là một ngày đáng tin tưởng, chờ đợi và hoài mong.
Tai sao con người có thể trở nên vĩ đại là vì có khát vọng?
Ai cũng nuôi dưỡng trong mình những khát vọng. Đó là một điều chắc chắn. Thế nhưng, không phải ai cũng trở nên vĩ đại. Điều đó lí giải rằng chỉ khi khát vọng trong con người đủ lớn, kết hợp với một khả năng làm việc hiệu quả, đúng đắn và phi thường mới có thể tạo nên những điều vĩ đại.
Kiểm soát công việc và bản thân là điều rất quan trọng để thành công. Không phải lúc nào con người cũng tỉnh táo, dũng cảm hay sáng suốt. Khát vọng lớn sẽ giúp con người kiểm soát được những sai lầm, cảm xúc bột phát, sự chán nản, mệt mỏi hay thất vọng. Luôn hướng đến mục tiêu là điều kiện giúp con người không bỏ cuộc.
Khát vọng lớn lao là nguồn động lực luôn thôi thúc con người hành động. Không ai muốn vất vả, thất bại hay bị tổn thương bởi những những điều chưa hẳn đã có ích. Không ai muốn cuộc sống trở nên căng thằng và nhiều vấn đề phải lo toan, nhiều rủi ro phải đối mặt, nhiều mất mát có thể có. Ai cũng muốn được bình yên và sung sướng. Ai cũng như thế, sẽ không không có sáng tạo, không có phát kiến, không có cái gì mới mẻ được tạo ra. Chính khát vọng giúp con người không sợ hãi hay toan tính nhiều trước những tổn thất có thể có ấy. Dám nghĩ, dám làm để đạt đến ước mơ, dám chấp nhận rủi ro và thất bại lớn mới có thể đạt được thành công lớn, thành công vĩ đại.
Khi có khát vọng lớn lao, con người sẽ có mục tiêu hướng đến, làm việc một cách khoa học và cẩn trọng hơn. Có khát vọng, con người mới biết mình phải sống để làm gì, phải nỗ lực và phấn đấu ra sao? Điều quan trọng nhất dó là sự hình thành rõ ràng kế hoạch hành dộng, xác định những khó khăn, thử thách, tính toán cho những việc cần phải làm. Không có may mắn trong cuộc sống của chúng ta. Chỉ có sự nỗ lực phi thường mới có thể tạo nên những điều kì diệu trong cuộc sống này.
Nếu sống mà không có khát vọng, không có mục tiêu là chúng ta chỉ mới đang tồn tại một cách vô nghĩa chứ sống phải đang sống. Khát vọng là sức mạnh của ý chí. Ý chí sẽ tạo nên sức mạnh của năng lực. Năng lực sẽ tạo nên bản lĩnh của con người. Chính bản lĩnh phi thường mới làm nên được những thành công vĩ đại.
Tại sao nói có khát vọng là có tương lai?
Với những giá trị do khát vọng mang lại như trên, ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng tương lai sẽ tốt đẹp. Mỗi một thành công nhỏ sẽ làm nên những thành công lớn. Nhiều thành công lớn tạo nên thành công vĩ đại. Tương lai sẽ tươi đẹp khi ta đạt được thành công vĩ đại ấy.
Sống có khát vọng thôi thúc chúng ta hành động. Chỉ có hành động mới có thể tạo ra các giá trị. Và những giá trị ấy thuộc về bạn, làm đẹp cho cuộc đời bạn ở tương lai.
Nếu sống mà không hề có khát vọng một điều gì, bạn sẽ không muốn học tập và làm việc. Cuộc sống sẽ trở nên buồn chán và vô nghĩa. Bạn cũng không hề tin tưởng hay phấn đấu vì cái gì và hoàn toàn thất vọng trước thế giới xung quanh bởi không phải lúc nào cuộc sống cũng công bằng. Những trở ngại sẽ dễ dàng khuất phục bạn. Những điều hơn thua, so sánh trong lòng bạn sẽ dần dàn gặm nhắm và làm hao mòn niềm tin tưởng và niềm vui trong cuộc sống vốn đầy rẫy những khó khăn.
Nhận thức: Có khát vọng lớn là điều cần thiết. Nhưng khát vọng ấy phải vừa sức, phải phù hợp, thực tế và khả thi. Đừng khát vọng vươn tới những gì ngoài khả năng của mình hoặc phi lí, viên vong. Một khi khát vọng không xuất phát từ cuộc sống thực tiễn, nó sẽ khiến bạn hành động mù quáng, thiêu đốt cuộc bạn trong thất bại và nỗi khổ đau khủng khiếp.
Kết bài:
Hãy học cách hạnh phúc với những gì bạn đang có trong khi bạn đang theo đuổi tất cả những gì mình mơ ước. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết. Nghĩa là không ngừng khát vọng khi bạn bắt đầu bất cứ một công việc gì và liên tục hướng đến mục tiêu cuối cùng. | Suy nghĩ về câu nói_ Con người có thể trở nên vĩ đại là vì có khát vọng, có khát vọng mới có tương lai (-Anh em Nhà Wright-) | 1,055 | |
Suy nghĩ về câu nói: Hãy đi theo những ước mơ của bản thân nếu bạn tin vào những gì bạn đang làm
Hướng dẫn
Suy nghĩ về câu nói: Hãy đi theo những ước mơ của bản thân nếu bạn tin vào những gì bạn đang làm
5 (100%) 1 đánh giá
Bài làm
Trong cuộc đời mỗi người, sẽ phải trải qua rất nhiều trông gai khó khăn, và mỗi người có một ước mơ khát vọng mà mình muốn đạt được, nhưng đôi khi nhiều thứ ngoại cảnh tác động vào khiến ta thấy thiếu tự tin vào những ước đó đó, nhưng đừng vì vậy mà nản chí, có câu “hãy đi theo những ước mơ của bản thân nếu bạn tin vào những gì bạn đang làm”.
Đầu tiên bạn hiểu ước mơ là gì? Ước mơ chính là những mong muốn, ước ao một cách tha thiết những điều tốt đẹp trong tương lai. Vì vậy, ước mơ của ai dù lớn hay bé thì cũng là ước muốn của mỗi người, cũng muốn một cuộc sống tươi đẹp đến với mình trong tương lai, có ước mơ thì mới động lực để mình cố gắng từng ngày tiếp tục cuộc sống đạt được những ước mơ ấy thêm ý nghĩa, tươi đẹp, làm cuộc đời không phải làm một cách thừa thãi.
Tác giả Phạm Lữ Ân đã viết “đừng để ai đó đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm trong nơi sâu thẳm nhất trong trái tim đó, như một ngọn núi lửa đang chờ được đánh thức”, đúng vậy, ước mơ của bản thân thì hãy cố gắng đạt được, chứ đừng để ước mơ mình ngủ quên, để rồi mình phải tiếc nuối với thanh xuân đã qua đi của mình, mà hãy đánh thức của mình để đạt được nó, để khi già rồi mình không hối hận với những gì mà mình đã làm được khi còn trẻ.
Ước mơ không bao giờ có sẵn, ước mơ là do bản thân mình đặt ra, lấy nó làm mục tiêu, để đạt được nó phải có khát khao, kiên trì, bền lòng, dũng cảm, vượt qua mọi khó khăn thử thách, thậm chí chấp nhận bị thệt thòi, hi sinh, mất mát, đau khổ để thực hiện ước mơ, có câu “lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường, không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”, đó là ngọn đèn trong đêm tối thì hãy thêm dầu cho ngọn đèn sáng to lên, để không mất phương hướng đạt đến nơi an toàn, để thấy cuộc sống này còn rất nhiều thứ tươi đẹp, ánh sáng chói chang đang đợi ta trên con đường phía trước trong đêm tối ấy, hãy luôn thắp ngọn đèn sáng trong đêm đó.
Hay như Bác Hồ vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, không đơn thuần là ước mơ cơm no, áo mặc như những con người bình thường khác, vị cha già kính yêu của dân tộc đã có một lý tưởng, một ham muốn tột bậc từ thuở thiếu thời, là làm thế nào để cho đồng bào ta có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành, vì những ước mơ cao đẹp ấy, Người đã hi sinh hạnh phúc của cá nhân của mình, vượt qua bao khó khăn, thử thachs, đi qua bao nhiêu đất nước trên thế giới, những hiểm nguy để biến ước mơ hạnh phúc, đem lại cho đồng bào ta. Đó mới thấy được những ước mơ của người thật vĩ đại nhưng vẫn thành hiện thực cho thấy Bác là một người rất kiên trì dù có cản trở nào cũng vượt qua để ước mơ đó thành hiện thực và đất nước được hòa bình, phát triển.
Những nhà khoa học, sáng chế vĩ dại đã chế tạo rất nhiều phương pháp, máy móc thiết bị hiện đại đem lại những lợi ích to lớn cho mọi người, giúp con người phát triển lên một tầm cao mới như ngày nay và cũng như trong tương lai, đẩy lùi những dịch bệnh nguy hại, những cuộc chiến tranh đẫm máu trong quá khứ để rồi mọi thứ trở nên tươi đẹp.
Vậy làm thế nào để đạt được những ước mơ của mình? Đó là câu hỏi rất nhều người tự đặt cho bản thân mình, ước mơ phải gắn liền với thực tiễn, chứ không nên có những ước mơ quá xa vời với thực tế, khi có ước mơ rồi thì phải lên kế hoạch cụ thể từng bước đạt được ước mơ đó một cách đúng đắn.
Như một học sinh trung học phổ thông như tôi thì ước mơ là muốn vào trường đại học mà mình mong muốn, mình yêu thích, và sau đó có một công việc ổn định, một gia đình hạnh phúc. Dù ước mơ đó tuy rằng không chỉ giấc mơ riêng, có rất nhiều bạn cùng trang lứa khác cũng có ước mơ như vậy, nhưng tôi biết sẽ có rất nhiều gian nan phía trước đang chờ đợi mình. Những ước mơ chân chính dù nhỏ nhưng nó cho cuộc sống thêm ý nghĩa, thật buồn thay cho những bạn không có ước mơ mải mê chạy theo những thứ quá xa vời với điều kiện của bản thân.
Có nhiều bạn bảo với tôi rằng “ước mơ làm gì, chỉ là những thứ hư ảo mà thôi” nhưng bạn ơi, không ai cấm bạn ước mơ, không ai bắt bạn phải từ bỏ ước mơ của bạn, những ước mơ sẽ không là hư ảo nếu bạn có một ước mơ chính đáng, một ước mơ thật sự, thì ước mơ đó sẽ thành hiện thực chỉ cần bạn cố gắng nó sẽ khiến bạn thêm yêu đời thấy được cuộc đời này, có rất nhiều thứ mà bạn muốn chinh phục, để rồi đạt được nó mới thật sự có ý nghĩa.
Con đường đi đến thành công luôn là con đường khó khăn, nhiều trông gai, sẽ không phải là con đường trải dài đầy hoa hồng, những mỗi thất bại để lại cho ta rất nhiều bài học, nhiều kinh nghiệm lấy nó làm nghị lực để,mình đạt đến những mong muốn trong tương lai. Mong muốn ấy thật đẹp khiến ta trưởng thành từng ngày, để tự tin vào bản thân, kiêu ngạo những gì mình làm là hợp tình hợp lý, đúng với những đạo lý mà ông cha ta đã dạy cho con cháu mình, với những truyền thống của dân tộc.
Vì thế các bạn trẻ, đang trong tuổi có nhiều khát vọng bừng sáng thì hãy đốt cháy những khát vọng đó thêm để ta có nhiều điều ý nghĩa cho cuộc sống, những vấp ngã sai lầm trong cuộc sống qua rèn luyện thêm mạnh mẽ và vững vàng. Hãy cố gắng cất bước để đạt được những giá trị tươi đẹp mà cuộc sống đem lại cho ta, dù nó rất đơn giản nhưng lại mang thêm nhiều nghị lực cho mình và cho rất nhiều người khác. | Suy nghĩ về câu nói_ Hãy đi theo những ước mơ của bản thân nếu bạn tin vào những gì bạn đang làm | 1,212 | |
Suy nghĩ về câu nói: Khó khăn lớn nhất với mỗi người là chiến thắng bản thân” – Ngữ Văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận về vấn đề chiến thắng bản thân
Đề bài
Khó khăn lớn nhất đối với mỗi người là chiến thắng bản thân.
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên trong một bài văn khoảng 600 chữ.
Hướng dẫn làm bài
Khi đặt ra vấn đề: chiến thắng bản thân là khó khăn lớn nhất, người viết phải hiểu có một sự so sánh ở đây, nghĩa là, bên cạnh chiến thắng bản thân, con người còn phải vượt qua những trở lực khác nữa. Chung quy, trong cuộc sống, con người thường xuyên phải đối mặt với hai loại thách thức: những khó khăn từ bên ngoài và những khó khăn trong chính bản thân mình. Từ đó, phải đặt ra những câu hỏi để tự trả lời (cũng là cách triển khai bài viết): Chiến thắng bản thân nghĩa là thế nào? Tại sao chiến thắng bản thân là điều rất khó, thậm chí, được xem là khó nhất? Làm thế nào để chiến thắng bản thân?
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Trong cuộc sống, muốn tiến bộ, con người cần không ngừng nỗ lực để vươn lên. Nếu xem cuộc đời mỗi người là một cuộc hành trình, thì hành trình đó thường phải trải qua bao chông gai, thử thách. Có những khó khăn đến từ ngoại cảnh. Có những khó khăn nằm trong chính bản thân ta. Từ những năm hai mươi của thế kỉ XX, nhà giáo – nhà văn Nguyễn Bá Học đã có một sự đúc kết rất đáng suy ngẫm: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Ta củng bắt gặp tư tưởng ấy trong ý kiến sau đây: Khó khăn lớn nhất đối với mỗi người là chiến thắng bản thân.
– Thế nào là chiến thắng bản thân?
Bản thân mỗi con người, bên cạnh những ưu điểm, có khuyết điểm; bên cạnh cái tốt, có cái xấu; bên cạnh mặt tích cực, có tiêu cực. Con người ta không ai là không có lúc đê tiện – một nhà văn đã cảnh báo như thế. Nguyễn Minh Châu cũng cho rằng, trong mỗi con ngưòi có “rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ”. Quả thật, nhìn sâu vào chính mình, có thể thấy trong ta không thiếu những vùng khuất tối, những sự bất toàn. Đó là thói quen biếng nhác trước những công việc hằng ngày; thái độ bàng quan, vô tâm, vô cảm đối với người khác; thói ích kỉ, tham lam, chỉ nghĩ đến bản thân; luôn ngại khó, ngại khổ, không bao giờ dám mạo hiểm; không có thái độ cầu tiến, không có ý chí vươn lên; thiếu sự kiên trì, nhẫn nại; thích hưởng thụ mà ít nghĩ đến cống hiến; sống thực dụng, thiển cận, thiếu tầm nhìn xa… Những biểu hiện như thế là trở lực rất lớn, ngăn cản sự tiến bộ của chúng ta. Như vậy, chiến thắng bản thân trước hết là biết gột bỏ những cái xấu, cái tiêu cực, biết phát huy những mặt tích cực, những yếu tố tốt đẹp trong bản thân để tự hoàn thiện, để vượt lên chính mình. Chiến thắng bản thân còn thể hiện ở quá trình phấn đấu không mệt mỏi để luôn luôn tiến bộ về mọi mặt.
+ Thông thường, con người rất hay nuông chiều bản thân. Trước những thất bại, người ta thường tìm mọi cách đổ lỗi cho khách quan. Tôi không làm được bài toán này ư? Là vì nó khó quá. Kết quả học tập của tôi năm vừa rồi lẹt đẹt ư? Vì tôi không có được những điều kiện thuận lợi như bao nhiêu bạn khác. Tôi không biết chơi các môn thể thao ư? Vì bận học tối mắt tối mũi, có thời gian đâu mà tập luyện? Trên các phương tiện truyền thông, những người hâm mộ bóng đá hẳn biết ông Mourinho – vị huấn luyện viên nổi tiếng từng dẫn dắt nhiều câu lạc bộ lớn ở châu Âu và có bảng thành tích rất ấn tượng. Không thể phủ nhận tài năng của “người đặc biệt” ấy, nhưng cũng đừng quên những điểm yếu cố hữu của ông: sau mỗi trận đấu thất bại, không bao giờ ông tự nhận những sai lầm về cách chỉ đạo của mình, ngược lại, luôn cố tìm một ai đó để trút trách nhiệm: khi là trọng tài điều khiển trận đấu, khi là một cô bác sĩ của câu lạc bộ, kì cục hơn, có khi trách nhiệm thuộc về… một cậu bé nhặt bóng. Thái độ đó của Mourinho đã khiến ông phải nhận rất nhiều sự chỉ trích của giới báo chí. Vậy là, với bất cứ nhựợc điểm hay sự sai lầm nào, người ta cũng có thể tìm đuực bao nhiêu lí do khách quan để biện minh. Khó khăn lớn nhất trong việc chiến thắng bản thân trước hết là ở đó.
– Bằng cách nào để chiến thắng bản thân?
+ Tuy chiến thắng bản thân là chuyện rất khó, nhưng muốn vươn lên, muốn khẳng định mình, thì dứt khoát phải vượt qua thách thức đầu tiên ấy. Trước hết, phải nghiêm khắc với chính mình. Đừng bao giờ thoả mãn với những gì đã đạt được. Như một người leo núi, lên đỉnh này, phía trước còn có những đỉnh cao hơn. Không bằng lòng với thành công, đồng thời cũng luôn tỉnh táo trước những thất bại. Tỉnh táo mà tự hỏi rằng, ta đã thực sự cố gắng tối đa để phát huy cao nhất năng lực vốn có của mình chưa? Bản thân ta có điều gì bất ổn? Trong những thất bại ấy, đâu là do bên ngoài, đâu là do chính ta? Phải luôn luôn nhận rõ trách nhiệm của bản thân ở những sự dang dở, những việc bất thành.
– Rút ra bài học cho bản thân: Phải xác định thái độ sống tích cực, luôn có ý thức cầu tiến, không tự mãn cũng không tự ti. Đối mặt vói những thách thức hoặc thất bại bằng tinh thần vững vàng, bình tĩnh. Sau mỗi lần vấp ngã, biết đứng lên bằng nghị lực của chính mình. Đặc biệt, phải nhận thấy những nhược điểm của bản thân để có hướng khắc phục, hoàn thiện. Đó là chiến thắng khó khăn nhất, do vậy, có ý nghĩa nhất. | Suy nghĩ về câu nói_ Khó khăn lớn nhất với mỗi người là chiến thắng bản thân” – Ngữ Văn 12 | 1,112 | |
Suy nghĩ về câu nói: Quay mặt về hướng mặt trời, bóng tối sẽ ở sau lưng ta
Hướng dẫn
Cuộc sống của bạn như thế nào là phụ thuộc vào cách bạn nhìn cuộc đời
Cuộc sống ngày càng tiến bộ, công việc ngày càng nâng cao, đòi hỏi con người phải chạy theo bước tiến để hòa nhập với môi trường. Chắc hẳn sẽ có lúc bất chợt nào đó, chúng ta mải vì guồng xoay cuộc sống mà phạm phải sai lầm. Điều mong đợi nhất chính là nhận được sự tha thứ. Đúng thế! Tha thứ có thể coi là yếu tố tạo nên một cuộc sống nhẹ nhàng, an yên.
Tha thứ là bỏ qua lỗi lầm, không trách cứ người có lỗi, không giữ lại khó chịu trong mình. Nghe qua, tưởng chừng như rất dễ nhưng lại là việc vô cùng khó khăn. Đó là cả một quá trình tôi rèn, trau chuốt bản thân và suy nghĩ, còn có cả nhẫn nhịn. Tha thứ không phải là “mỉm cười cho qua” như người đời thường nghĩ, mà chính là mỉm cười một cách thật tâm – cho những cay rứt trôi đi, buông bỏ giận hờn, căm ghét, cho qua cả suy nghĩ và hành động, trong lòng không còn vướng bận chuyện gì. Khi “lĩnh hội” được điều thiết yếu này, bạn sẽ thấy tha thứ không đơn thuần là thái độ mà chính là món quà – một món quà bạn trao tặng người khác và cho cả bản thân mình.
Trong đời sống hằng ngày, lỗi lầm vẫn tiếp diễn lỗi lầm. Bạn đến trường trễ, có mặt tại buổi họp không đúng giờ gây phiền hà bao người, hoàn trả đồ dùng không đúng thời hạn, làm hư hỏng một cái gì đó,… chính là lúc bạn cần nhận lỗi và xin lỗi. Không phải khi chạm tới tai hại ngút trời mới cần sự tha thứ. Mà đơn giản chỉ là điều sai trái hằng ngày. Vậy bạn có từng đặt câu hỏi rằng: “Tại sao mình phải tha thứ, bỏ qua lỗi lầm?” chưa?
Bạn biết không? Khi bạn cho đi lòng vị tha, bạn sẽ nhận lại còn hơn thế nữa. Cũng như việc bạn thảo luận nhóm, bỏ ra một, nhưng bạn nhận lại được công sức và ý tưởng của cả nhóm.
Tôi đọc một câu chuyện như này: Ông là một họa sĩ, mải mê thả hồn vào bức tranh, không hay biết màu mực của ông đã vấy lên chiếc đầm của vị khách đến xem tranh. Đến khi vết mực vô tình đó làm ông hốt hoảng nhận ra thì mọi sự đã rồi. Bằng tất cả chân thành, ông lập tức xin lỗi. Điều lạ lùng là vị khách không hề lớn tiếng đòi đền bù, mà chỉ tỏ tiếc nuối đối với bộ váy trắng tinh kia.
Một người thản nhiên với lỗi lầm của người khác. Một người luống cuống áy náy xin lỗi. Sự trái nghịch này đã tạo nên một bức tranh vô cùng đẹp. Ai đó đã từng nói: “Một điều luôn luôn nên làm là hãy tha thứ cho nhau. Một đức tính luôn luôn nên có là hãy chân thành nhận lỗi”.
Đúng vậy! Người biết tha thứ rất khó, người biết nhận lỗi lại càng không phải dễ. Tuy nhiên, điều này được hai nhân vật trong câu chuyện chứng minh ngược lại. Người họa sĩ tỏ ý muốn giữ lại chiếc đầm vấy mực ấy để chuộc lỗi, người khách đồng ý. Vài ngày sau quay lại, bà ta vô cùng ngạc nhiên với quà chuộc lỗi của ông – một bức tranh tuyệt đẹp che lấp đi vết bẩn hôm nào. Bạn thấy không? Tha thứ chỉ trong giây phút, nhưng những gì bạn nhận được sẽ theo tâm hồn bạn mãi mãi.
Bạn có tin tha thứ có thể cảm hóa được thú dữ trong con người không? Chúng ta là con người, một loài vật với hai phần trái ngược: con và người. “Con” luôn nằm sâu thẳm trong chúng ta. Chỉ cần một sơ suất nhỏ, nó sẽ vùng dậy và chiếm hết đi phần “người”. Cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi chúng ta sống vì người khác, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn.
Đồng nghĩa với việc bạn lâm vào tù túng, vào “ngõ cụt”, vào “bước đường cùng” thì bạn có thể làm những việc mà chính bạn trước đây không dám nghĩ tới. Có lần, tôi được một người chị chia sẻ cho đoạn băng ghi hình ở đồn cảnh sát bên đất nước Thái. Trước mặt người cảnh sát là một người đàn ông đang cầm con dao chỉ lơ quơ trong vô định. Hình như ông ta đang đối mặt với thử thách của số phận, và hơn ai hết, ông ta hiểu rõ bất lực là như thế nào.
Người cảnh sát không ra lệnh bao vây, bắt giữ hay khống chế, anh chỉ đứng nói chuyện – như một người bạn. Thái độ của anh là đồng cảm, không phải thương hại hay khinh thường, điều đó là người khác cảm thấy dễ chịu, điển hình là người đàn ông đang cầm dao kia. Sau, người cảnh sát từ từ tiến lại, người đàn ông kia đồng thời hạ dao xuống, cảnh sát dừng lại và dang rộng vòng tay, con dao kia được đặt xuống đất, chủ nhân của nó chậm rãi tiến tới sự cảm thông và chia sẻ ông đáng nhận được.
Ông trước đây là một họa sĩ, không bán được tranh nên ông đành từ bỏ đam mê để duy trì cuộc sống, ông xin làm bảo vệ nhưng nhà chủ không trả lương. Nhiều lần nhẫn nhịn và tìm sự trợ giúp không thành, trong cơn rối trí ông đã hành động như vậy. Chính sự cảm thông và tha thứ của anh cảnh sát đã cảm hóa và cứu ông ra khỏi những bế tắc ấy. Vậy mới thấy, tha thứ chính là món quà hữu hiệu bậc nhất trần đời này.
Hãy tha thứ cho những người đã làm bạn tổn thương. Có thể điều đó sẽ rất khó khăn nhưng có thể làm được nếu bạn có đủ quyết tâm. Muốn tha thứ, điều đầu tiên là bạn phải trải rộng tâm hồn. Giá của tha thứ kèm theo nụ cười hẳn sẽ rẻ hơn giá của một cây kem. Nhưng vị ngọt cây kem mang lại không thể sánh bằng ngọt ngào mang tên tha thứ.
Lòng vị tha là yếu tố của một cuộc sống thanh bình, an yên. Tha thứ không chỉ để bỏ qua lỗi lầm, mà còn để trôi đi những suy nghĩ tiêu cực đang ngày đêm bủa vây ta. Tha thứ là món quà ý nghĩa. Nhưng dường như tôi đã nhiều lần vô tình bỏ lỡ món quà ấy. Đó là việc khó khăn, bởi nó đòi hỏi một quá trình, một chặng đường rèn luyện. Hãy mở rộng lòng mình, cảm nhận và sẻ chia yêu thương để mang đến món quà vô giá cho những người xung quanh ta. | Suy nghĩ về câu nói_ Quay mặt về hướng mặt trời, bóng tối sẽ ở sau lưng ta | 1,201 | |
Đề bài: “Thơ là thơ, nhưng đồng thời là hoạ, là nhạc, làm chạm khắc theo một cách riêng” (Sóng Hồng). Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên.
Bài làm
Nhà văn Anatole France từng nói: “Đọc một câu thơ nghĩa là ta gặp gỡ tâm hồn một con người”. Thơ ca là diệu hồn của cảm xúc, là tiếng nói của tâm hồn. Thơ ca luôn nồng nàn, ấm áp hơi thỗ và mang dấu ấn của người nghệ sĩ. Với Sóng Hồng thì: “Thơ là thơ, nhưng đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng”. Hiểu và suy ngẫm, ta thấy ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn.
Ai cũng biết, thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ và tác phẩm thơ chính là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ. Sóng Hồng viết “thơ là thơ…” là muốn nói đến hình thức của thơ ca. Đó là một hình thức cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt, làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyến láy của thơ. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét: “Thơ không cần nhiều từ ngữ, nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ’ thì Sóng Hồng lại viết: "… thơ đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng” chính là nói tới sức gợi và cải tài của thơ. Nếu như giai điệu, âm thanh là chất liệu của âm nhạc; màu sắc, đường nét là chất liệu của hội hoạ thì thơ ca bao gồm tất cả điều này. Và ngoài ra còn là sự sáng tạo “theo một cách riêng”, làm nên những “vần chữ’ khác lạ, tạo nên cái “độc” trong thơ, tạo nên sức gợi cảm, sự rung động, lôi kéo sự đồng cảm của hàng triệu trái tim, hàng triệu tâm hồn..
Nhìn bên ngoài, thơ là một kiểu sắp xếp, có vần, nhịp điệu. Đọc Thương vợ của Trần Tế Xương ta sẽ thấy rõ điều này:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mật nước buổi đò đông, …
Cách gieo vần “ông” (sông, chồng, đông, công, không) và giọng điệu lắng đọng, sâu sắc góp phần không nhỏ trong việc khắc hoạ sự tảo tần lam lũ của bà Tú. Tác giả còn dùng nghệ thuật đảo trật tự cú pháp phối hợp các từ láy vừa có giá trị tạo hình, vừa cỏ giá trị gợi thanh “lặn lội”, “eo sèo” đặt ở đầu câu để nhẩn mạnh đức tính chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh của người vợ. Phải chăng từ những điều này đã tạo nên sự khác biệt trong thơ của Tú Xương?
Nếu như một tác phẩm truyện cẩn đến nhân vật, tình huống truyện… thì một tác phẩm thơ lại cần đến cách gieo vần, hình ảnh, nhịp điệu… Phải chăng chính điều đó đã khiến Sóng Hồng phải thốt lên: “thơ là thơ”, bởi thơ ấy là “gốc ở tình, ngọn ở lời, hoa ở âm thanh, quả ở ý nghĩa” (Bạch Cư Dị)
Có ai đó đã nói răng: “Niềm vui của nhà thơ chân chính là được làm người vẽ đường đến xứ sở của cái đẹp”. Hay nói cách khác, tác phẩm thơ còn vẽ nên những hình ảnh mà nhà thơ muốn phản ánh. Trong bài thơ Câu cá mùa thu, tác giả Nguyễn Khuyến đã thăng hoa đến tuyệt mĩ để viết nên những câu thơ giàu chất hoạ. Ngôn ngữ nhả thơ sử dụng không cầu kì, trau chuốt nhưng lại gợi cảm đến không ngờ. Hình ảnh thơ cứ hiện lên từ những gì bình dị nhất:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
ầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo (…)
Từ một khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc thu mở ra nhiều hướng thật sinh động. Bằng tài năng trong việc miêu tẳ, Nguyễn Khuyến đã vẽ ra trước mắt bạn đọc một bức tranh thu “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu). Đó là bức tranh thu có sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc, đường nét và kích cỡ. Gam chủ đạo của bức hoạ này là điệu xanh, sắc xanh: từ xanh trời, xanh nước, đến xanh bèo. Giữa sắc xanh ấy đâm ngang một màu vàng của chiếc lá thu rơi… Thật đẹp!
Nhà văn R.Gamzatôp đã nói: “Người hạ bút làm thơ mà không am hiểu hội hoạ chẳng khác gì anh chàng mất trí lao xuống dòng sông cuồn cuộn mà không biết bơi”. Thế mới biết “thơ là hoạ” quan trọng như thế nào…
Không chỉ “là thơ, là hoạ”, thơ còn “là nhạc” nữa. Cái kì diệu của thơ có lẽ chăng phải tìm trong nhịp điệu, trong nhạc của thơ. Nỏ được tạo nên từ sự hiệp vần, phối xen bằng trắc, trầm bổng, cách ngắt nhịp vừa thống nhất, vừa biến hoá. Thi phẩm Vội vàng của Xuân Diệu là minh chứng rõ nhất cho chất nhạc trong thơ.
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mảy đua và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều…
Nhạc tính ở đây vui vẻ, hối hả, vội vàng như một lời giục giã. Cụm từ “ta muốn” được lặp lại bốn lần đã nhấn mạnh khao khát thật sôi nổi và mạnh mẽ trong nhịp điệu dồn dập của những câu thơ. Đó là khát khao được giao cảm với đời nên Xuân Diệu muốn “ôm”, “riết”,; “muốn say", “muốn hôn”, “muốn thâu” cả mùa xuân. Tác giả thật tài tình khi viết nên những câu thơ giàu chất nhạc: hổi hả, sôi nổi, dồn dập. Nhưng hơn cả vẫn là thứ nhạc lòng được nhà thơ gửi gắm trong đó – là nhạc được hình thành từ cảm xúc yểu đời, yêu tuổi trẻ, yêu mùa xuân của tác giả.
Trong Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi có viết: “‘Tấc phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng người nghệ sĩ không những ghi lại cái đã cỏ rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ”. Bởi thơ đòi hỏi sự lạ hoá, để tạo dấu ấn riêng. Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã “chạm khắc theo một cách riêng” bằng một liên tưỏng độc đáo: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Nếu thơ ca truyền thống lấy chuẩn mực của cái đẹp là thiên nhiên, thì với Xuân Diệu, chuẩn mực của cái đẹp chính là con người. Ví “mùa xuân ngon” như một cặp môi của người thiếu nữ là sự “lệch chuẩn”. Nhưng nhờ đó đã tạo được dấu ấn riêng cho nhà thơ. Tác giả đã cụ thể hoá cái trìu tượng (tháng giêng) bằng một cảm giác hôn lên mùa xuân. Người viết như đang ái ân, đang tình tứ với mùa xuân, với tuổi trẻ bằng tình yêu thiết tha với cuộc đời. Quả thật, “nếu anh ta không có giọng riêng, anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ” (Sê-khốp).
Suy cho cùng, lời nhận xét cửa Sóng Hồng chính là tiêu chí để đánh giá một nhả thơ thực thụ, một nhà thơ chân chính. Mỗi tác phẩm là đứa con tinh thần của họ nên phải có sự khám phá riêng, độc đáo từ nội dung, tư tưởng đến hình thức. Một bài thơ hay là bài thơ có thơ trong nghệ thuật, có hội hoạ và âm nhạc trong thơ và có sáng tạo riêng biệt. Bốn yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu thiếu một yếu tố nào đó, tác phẩm không thể hoàn hảo được.
Tóm lại, thơ ca là môn nghệ thuật mà nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải vẽ, phải tạo nhạc và phải sáng tạo cái riêng. Làm được thế, tác phẩm thơ có giá trị sẽ để lại dấu ấn riêng, đậm nét trong lòng người đọc theo thời gian… | Suy nghĩ về câu nói_ Thơ là thơ, nhưng đồng thời là hoạ, là nhạc, làm chạm khắc theo một cách riêng | 1,405 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.