text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Suy nghĩ về câu nói: Trước hết, hãy tôn trọng người khác. Rồi sau đó hãy nghe theo chính mình Hướng dẫn Suy nghĩ về câu nói: Trước hết, hãy tôn trọng người khác. Rồi sau đó hãy nghe theo chính mình Bài làm Một câu chuyện về bố đã dạy tôi cho đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ như nguyên đó chính là ngày còn bé rất hay nghịch ngợm và không hiểu chuyện tò mò về chuyện của người khác.Hơn nữa tôi không hề hiểu biết về họ mà đã dám đưa ra những lời phán xét về họ.Rồi bố tôi nói con đã hiểu gì về hoàn cảnh của họ chưa mà đã vội đưa ra những lời nhận xét về họ như vậy? “ Khi nào còn định phê phán người khác thì phải nhớ rằng không phải ai cũng được hưởng những thuận lợi như con cả đâu” và từ đó tôi cũng hiểu việc phán xét người khác là rất thiếu tôn trọng người khác. Câu nói “Trước hết hãy tôn trọng người khác. Rồi sau đó hãy nghe theo chính mình” cũng như vậy. Để hiểu được ý nghĩa của câu nói ấy trước tiên chính ta phải hiểu được cách “ tôn trọng” người khác là như thế nào? Tôn trọng đó chính là không nên biết quá nhiều việc và xen vào việc tế nhị của người khác một cách thoái quá.Chỉ nên biết chừng mực vừa đủ và đúng. Còn “nghe theo chính mình” là làm theo những gì mà mìn suy nghĩ và những gì mình cho là đúng. Cuộc sống này là vậy ở đâu đó ngoài kia có những người giống ta,có những người lại rất khác ta.Có người lại thích ra ngoài chơi tụ tập với bạn bè,nhưng trái lại thì có những người lại thích ở nhà nhâm nhi ly cà phê và đọc sách.Người thi lại đam mê công nghệ cao,người thì am hiểu và yêu thích đồ cổ.Chúng ta cũng hay nghe một người tằn tiện phán xét người phung phí,một người hào phóng đánh giá người kia là keo kiệt.Chúng ta mệt mỏi khi mỗi ngày đều phải nghe người ta phán xét đôi khi phải phớt lờ đi những gì người ta nói và rút ra một bài học là đừng bao giờ phán xét người khác một cách tùy tiện.Có đôi khi mình phán xét người khác là do sự tự nhiên nhưng điều đó có thể làm người khác cảm thấy khó chịu vì những lời phán xét đó. Có đôi khi những lời phê phán đó vô tình làm tổn thương người khác rất nghiêm trọng.Một nhà có hoàn cảnh không khá giả nhưng họ tích góp và dành dụm sau ba năm họ làm được một ngôi nhà đẹp sang trọng riêng cho mình nhưng những người hàng xóm không hề biết gì về hoàn cảnh và những gì họ phải trải qua để có được số tiền đó mà đã tự tiện phán xét họ là lao động không chân chính rồi là sao trong hai năm mà được nhiều tiền thế làm được nhà to thế,họ đâu biết đó là cả một quá trình tích lũy,tiết kiệm để làm được. nghĩ về câu nói: Trước hết, hãy tôn trọng người khác. Rồi sau đó hãy nghe theo chính mình Hay một người công viên chức bình thường vẫn phải đang ở nhà thuê nhưng lại có đam mê với ô tô từ nhỏ luôn khao khát có được một chiếc xe cho riêng mình,muốn tự mình lái nó đến nơi mình muốn đi,nơi mình muốn khám phá,rồi cũng bị hàng xóm nói là học đua đòi,học làm sang,rồi là không biết hoàn cảnh vẫn đi ở nhà thuê mà làm sang mua ô tô.Những lời nói như vậy chỉ là vô tình nhưng lại khiến người khác cảm thấy không vui.Tại sao họ phải trì hoãn ước mơ bấy lâu nay vì chỉ sợ người ta đánh giá sai mình.Hay đơn giản như một cô gái họ thích trang điểm lộng lẫy và mặc những bộ đồ sexy một chút công việc của họ là làm việc cả ngày ở công ty nhưng những người hàng xóm lại không hiểu gì về nghề nghiệp của cô gái này nhưng lại đàm tếu với nhau là đi sớm về khuya như thế là làm việc không chân chính thậm chí còn cho là làm gái.Như vậy thật bất công cho họ. Một người bạn khác của tôi rất yêu thích công việc từ thiện,thích được khuyên góp cho những trẻ em nghèo,thích được tự mình trao cho những em bé đó những chiếc áo ấm,những chiếc mũ len xinh xắn,hay thậm chí là nhìn chúng ăn ngon trong bữa ăn điều đó cũng làm cô ấy vui vẻ. Ban đầu vì lòng trắc ẩn,rồi trở thành niềm vui,rồi như một cuộc đời phải sống.Chị ấy như một ngọn nến luôn cháy hết mình vì người khác.Thế nhưng không ít làn tôi nhìn thấy chị ấy phải bật khóc vì những lời người khác nói về mình.Như vậy ngay cả khi ta hành động. Vì cộng đồng không vu lợi cho bản thân nhưng vẫn bị định kiến,vẫn bị phê phán vậy thì tại sao ta không bình thản bước qua nó.Vẫn cứ sống là chính mìn và sống một cuộc đời mà ta muốn. truoc het hay ton trong nguoi khac
Suy nghĩ về câu nói_ Trước hết, hãy tôn trọng người khác. Rồi sau đó hãy nghe theo chính mình
905
Suy nghĩ về câu nói: Việc học như việc trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả Hướng dẫn Suy nghĩ về câu nói: Việc học như việc trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả Bài làm Ai cũng muốn bản thân mình sau này trở thành những con người thành công có ích cho đất nước, Nhưng đây không phải là một việc dễ dàng làm trong một thời gian ngắn mà nó là cả một quá trình dài đòi hỏi chúng ta phải có nền tảng kiến thức vững chắc. Từ đó chúng ta mới có những kiến thức về cuộc sống mới biết được cuộc sống đang cần gì và chúng ta có ước mơ gì để giúp ích cho đất nước phát triển. Như vậy có câu: “Việc học như việc trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả”. Chúng ta cũng thấy rằng học là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Bởi chỉ có học chúng ta mới biết được cuộc sống đang diễn ra như thế nào và chúng ta cần làm gì để sinh tồn trong cuộc sống. “Học” là một quá trình tiếp thu những cái mới mẻ, bổ sung trau dồi kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm trong xã hội. Việc học không chỉ là học những kiến thức ở trường về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội mà chúng ta còn phải học cách làm người trong cuộc sống. Chính vì thế, mà tổ chức giáo dục, khoa học và nhân văn UNESCO từng đề xứng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mịnh”. Việc là việc quan trọng để con người biết được mình đang như thế nào. Từ đó mà có gắng học tập để hoàn thiện bản thân cho phù hợp với cuộc sống hơn. Lê – nin từng nói việc học là việc quan trọng và phải học suốt đời “Học nữa học mãi”. Như vậy, việc học là việc của suốt đời chứ không phải ngày một ngày hai. Trong xã hội hiện đại thì việc học lại đóng vai trò càng quan trọng ó đó chúng ta phải trau dồi kiến thức và tích lũy kiến thức kinh nghiệm để từ đó áp dụng vào cuộc sống. Không chỉ vậy chúng ta còn có nhiều phương thức để học hỏi, mở rộng kiến thức từ bên ngoài các nước khác để sau này về phát triển đất nước mình. Để việc học tốt thì cần phải có “gốc rễ” hay còn gọi là nền tảng vững chắc để xây dựng kiến thức. Như cái cây mà không có rễ thì nó sẽ không bao giờ phát triển được. Quá trình trồng cây giống như việc học, phải cần có thời gian để cây phát triển và học cũng phải biết thu từ từ. Một cái cây có thể phát triển được tốt thì nó phải trải qua biết bao khó khăn về cấc hiện tượng tự nhiên như bão, lũ lụt, hạn hán,…như vậy cần nó có một sức sống bền bỉ, có ý chí chống chọi dùng dễ đâm sâu vào lòng đất để vững chắc hơn. Việc học cũng vậy cũng phải trải qua nhiều khó khăn mới thành tài được. Không phải ai sinh ra đã giỏi mà do họ cố gắng học tập để trở thành những con người giỏi. và sau mỗi lần gặp khó khăn chúng ta phải biết đứng dạy, ươm mầm lại cho cái cây của mình tiếp tục phát triển. Đừng để thất bại đánh bại chính con người bại. Người ta thường nói “thất bại là mẹ thành công”. Do đó, hôm nay bạn đi học dù có bị điểm kếm cũng không được nản lòng mà xem đó là một bài học để cố gắng làm tốt hơn vào lần sau. Như vậy chúng ta mới có ý chí và động lực để học tập tốt hơn. Và thành công trong cuộc sống mà chúng ta mong mỏi bấy lâu chính là quả ngọt mà chúng ta vun trồng cây cả một quá trình dài. Trong cuộc sống chúng ta thấy rất nhiều tấm gương sáng cho chúng ta học tập như Nick Vuijic một con người khuyết tật nhưng nhưng anh không đầu hàng trước số phận nghiệt ngã của chính mình. Sau đó anh đã cố gắng học tập và tốt nghiệp đại học với một tấm bằng kếp và trở thành nhà diễn tuyết, tuyên truyền cảm hướng, động lực cho người khác và từ đây anh được cả thế giới biết đến. Anh có một gia đình nhỏ với hai người con cuộc sống vô cùng hạnh phúc. Hay Adam Khoo từng bị gọi là đần độn nhưng sau đó cậu đã cố gắng học tập và đã trở thành “thiên tài”, chính cậu là tác giả của cuốn sách “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” cũng sách này đã giúp cho biết bao con người đi đến thành công và cuối sách này có ở khắp thế giới. Nhưng trong xã hội ngày càng phát triển, thì số lượng con người bỏ bê học tập rất là nhiều. Có những người chỉ học để biết chữ rồi thôi. Khi học sống cũng không muốn học hỏi mà bằng lòng với những gì mình đang có. Đặc biệt tình trạng học tập ở một số bộ phận học sinh ngày càng xa sút. Bởi ảnh hưởng từ cuộc sống như mai mê chơi bời quên rằng mình đang đi học. Đây là một điều rất đáng buồn bởi có những người muốn đi học nhưng vì hoàn cảnh lên không được đi học. “Việc học như việc trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả” là một ý kiến vô cùng chính xác nhằm giúp con người nhận ra vai trò quan trọng của việc học tập. Mỗi con người cần xác định rõ mục tiêu học tập và làm việc của mình, kiên trì theo đuổi và không ngừng học hỏi tích lũy kiến thức để hoàn thiện bản thân hơn và vì một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Suy nghĩ về câu nói_ Việc học như việc trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả
1,036
Suy nghĩ về câu nói: “Trên bước đường thành còng không có dấu chân của kẻ lười biếng” (Lỗ Tấn) Hướng dẫn I. GỢI Ý. Đề bài yêu cầu giải thích được ý nghĩa của câu nói. Để có được thành quả con người cần phải cố gắng. Và con người sẽ không gặt hái được gì nếu như không lao động, không tự nỗ lực vươn lên. Người viết cần đưa ra những dẫn chứng đế chứng minh cho ý nghĩa cua câu nói và rút ra những trải nghiệm của bản thân. II.LẬP DÀN Ý 1.Mở bài -Sự nỗ lực, chăm chỉ, cần cù của bản thân là một điều quan trọng để dần tới thành công trong công việc, trong cuộc đời mỗi con người. -Bằng những trải nghiệm của bản thân, Lỗ Tấn đã đưa đến cho chúng ta một câu châm ngôn thật ý nghĩa: Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng. 2.Thân bài a.Giải thích -Đường thành công: Đề chỉ con đường đi đến những vinh quang, đến những kết quả tốt đẹp. -Dấu chân kẻ lười biếng: chỉ sự lười biếng, không chăm chỉ, không bỏ ra công sức, không chịu nỗ lực làm việc. -Câu nói của Lỗ Tấn khẳng định một điều vô cùng có ý nghĩa trong đời sống: Con người không thê thành công, nếu không có sự nỗ lực của bản thân và ngược lại sự thành công của mỗi người đều do sự nỗ lực, chăm chỉ, cần cù của chính mình quyết định. -Đâv là ý kiến đúng đắn. Bởi Lỗ Tấn đã trải qua và chứng kiến sự thành công, thất bại của nhiều người và còn của chính ông. b. Tác hại của lười biếng -Con người sẽ không hoàn thành được công việc, không đạt được đích mà mình hướng tới, không bao giờ chạm tay được đỉnh vinh quang. -Khi con người lười biếng sẽ trở nên thụ động, dựa dẫm trong nhừng công việc của mình. -Những con người lười biếng, không chịu lao động hay nghĩ đến hưởng thụ, đòi hỏi. Trở thành những kẻ vô ích của xã hội. c. Trải nghiệm của bản thân -Mỗi vinh quang cần phải dược trả giá bằng mồ hôi, nước mắt. Không có ngọt ngào nào mà không có những đắng cay. Vì thế, con người luôn phải biết tự nỗ lực, chăm chỉ, cần cù trong cuộc sống. -Sự thành công của con người đôi khi không phải là những điều to lớn mà chỉ là những bình dị, giản đơn trong cuộc sống. Cho nên, đôi khi ta phải hài lòng với những thành công nho nhỏ của mình đề có động lực cố gắng hơn. -Người học sinh luôn phải biết cần cù, siêng năng trong học tập. 3.Kết bài Lỗ Tấn đã đem đến cho chúng ta một bài học quý trong cuộc sống: Con đường thành công chỉ thật sự đón chào những ai biết trân trọng, biết nỗ lực phấn đấu.
Suy nghĩ về câu nói_ “Trên bước đường thành còng không có dấu chân của kẻ lười biếng” (Lỗ Tấn)
488
Đề bài: Suy nghĩ về câu tục ngữ "Có công mài sắt, có ngày nên kim" Bài làm Ta thấy không một thắng lợi nào mà không gặp những khốn khó, thử thách, không một thành công nào mà không phải bước qua bom đạn, chông gai. Cái chính là con người có kiên trì, có quyết tâm vượt qua hay không? Hiểu được điều đó, từ ngàn xưa nhân dân ta nhắc nhở nhau: Có công mài sắt, có ngày nên kim. Câu tục ngữ cho đến hôm nay vẫn còn là một kinh nghiệm rèn luyện bản thân vô cùng quý giá. Câu tục ngữ thật ngắn gọn, hàm súc mà ý nghĩa của nó lớn lao Với hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, ông cha ta đã khuyên chúng ta phải biết kiên trì, chịu thương chịu khó thì làm công việc gì cũng đạt hiệu quả cao. Không phải việc gì dù dễ đến đâu chúng ta cũng gặt hái được kết quả ngay được. Có công thì mới có quả. Có chịu khó rèn luyện thì chúng ta mới vượt qua gian lao thử thách để hoàn thành công việc được giao. Vâng! Câu tục ngữ là một chân lý sáng ngời, là một chiếc gương để mọi người tự rèn luyện. Chân lý đúc kết qua quá trình lao động sản xuất gian khổ của nhân dân ta. Có đặt vấn đề vào thực tế cuộc sông của chúng ta hôm nay mới có thể thấu hiểu được cái tinh tế của người xưa. Một người học sinh phải trải qua thời gian miệt mài học tập trên ghế nhà trường suốt mười mấy năm mới có thể đủ trí thức bước vào cuộc sống. Trong cuộc sống chúng ta phải không ngừng rèn luyện, tự học thì mới thành tài. Một người phải rèn luyện trong khó khăn, lao động chăm chỉ, cần cù mới có được tay nghề cao và làm ra được những sản phẩm tốt, làm giàu cho xã hội. Nhưng sự rèn luyện ấy không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi hoàn toàn, cái chính là chúng ta phải biết làm chủ ý chí, nghị lực của mình để vượt qua những khó khăn ấy. Từ rèn luyện nhưng chúng ta cũng phải tự đề ra phương pháp hợp lý. Rèn luyện không có nghĩa là khổ luyện. Rèn luyện phải biết kết hợp giữa những ưu điểm sẵn có của mình và những điều học tập của người khác, biến mặt yếu thành mặt mạnh, được như vậy, chúng ta phải biến dần từng bước, tìm cách khắc phục mọi khó khăn. Người học sinh muốn giỏi toàn diện thì không được nản lòng trước những bài toán hiểm hóc, bài văn khó làm. Hơn nữa, trong cuộc sống chúng ta, tương lai luôn ở phía trước, hiện tại luôn cận kề bên ta nhắc ta không chỉ lúc nào cũng mơ đến một ngày mai tốt đẹp mà phải chịu rèn từ hôm nay. Nói tóm lại, muốn gặt hái được kết quả mỹ mãn, chúng ta phải kiên nhẫn đi từng bước một như câu tục ngữ: Có chí thì nên Thế nhưng, trong thực tế cuộc sống, bên cạnh những tấm gương tốt, còn có những kẻ ngại khó, ngại khổ, nhất là trong giới học sinh chúng ta, còn nhiều bạn nản lòng trước bài toán khó, chùn bước trước bài sử, bài văn dài hoặc coi thường những bài học đơn giản. Không thiếu những bạn có quyết tâm ban đầu nhưng khi đối đầu với khó khăn thì bỏ cuộc. Có người còn quan niệm rằng mình đã đù tài buông xuôi phần rèn luyện, coi thường những ưu điểm của kẻ khác. Và nghiêm trọng hơn cả trong xã hội còn khó khăn hôm nay, có bạn coi thường việc học và cho đó là không cần thiết, không chịu mài sắt. Liệu những người đó có đạt được kết quả như mình mong ước hay không? Chúng ta hãy nhớ: một thiên tài có một phần trăm là năng khiếu còn chín mươi chín phần còn lại là lao động và rèn luyện. Biết bao nhà bác học trên thế giới lúc nhỏ gặp biết bao trở ngại, nhưng bằng quyết tâm và sự kiên trì họ đã vượt qua tất cả để thành đạt trong cuộc đời và cống hiến cho nhân loại những công trình vô giá. Họ đã nên kim như mình mong ước. Ích lợi của việc rèn luyện kiên trì là như thế đấy! Là một học sinh dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, chúng ta không chỉ rèn luyện cho mình mà còn góp phần xây đựng cho đất nước mai sau. Đất nước ta hôm nay còn rất nhiều gian khổ, dân tộc ta còn thua kém, thiệt thòi so với các nước, các dân tộc khác. Vì vậy mỗi con người trong chúng ta lại càng phải hiểu rõ và làm lời khuyên của ông bà: Có công mài sắt có ngày nên kim. Con người ta không được cho phép mình lùi bước trước khó khăn và phải hiêu đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Vậy chúng ta phải rèn luyện như thế nào để đạt kết quả tốt? Theo em, muốn đạt kết quả tốt trong học tập cũng như trong lao động sản xuất, trước hết, chúng ta phải luôn khiêm tốn tự coi mình là dốt để nhắc nhở bản thân phải luôn học hỏi. Chúng ta không có quyền nản lòng trước công việc khó khăn, không được nản lòng trước gian nan. Hãy luôn nhớ đến sự nhẫn nại của ông cha ta trong lao động sản xuất. Hãy nhớ đến những thành quả lao động mà cha anh chúng ta đã gặt hái mà nhắc nhở mình rằng: Có công mài sắt, có ngày nên kim. Câu tục ngữ là một bài học đối với tất cả mọi người. Đó là một lời khuyên rất chân tình, sâu sắc với những ai còn nóng vội hấp tấp trong công việc và tăng thêm quyết tâm cho những người có ý chí muốn phấn đấu vươn lên. Là học sinh, em luôn coi câu tục ngữ là phương châm là tấm gương để tự rèn luyện bản thân trờ thành con người có ích cho chính mình và cho xã hội như lời Bác Hồ đã khuyên: … Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công (Nghe tiếng giã gạo)
Suy nghĩ về câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”
1,092
Suy nghĩ về câu tục ngữ: Gần mực thì đen gần đèn thì sáng Hướng dẫn Suy nghĩ về câu tục ngữ: Gần mực thì đen gần đèn thì sáng Trong kho tàng văn học của dân tộc ta đã lưu lại biết bao nhiêu giá trị đặc sắc, đặc biệt là những câu tục ngữ. Nó đã phản ánh lại cuộc sống chân thực của những người nông dân xưa và nay, mang lại những kinh nghiệm mà ông cha ta cũng như những người nông dân để lại bao đời nay. Đọc các câu tục ngữ, ta bắt gặp những hoàn cảnh khác nhau, không thể không nói đến đó là những câu nói về cách nhìn nhận con người của ông cha ta. Điều đó được thể hiện rõ ở câu tục ngữ: “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Trước hết, câu tục ngữ nào cũng đều mang hai mặt nghĩa cơ bản là nghĩa đen và nghĩa bóng. Câu tục ngữ “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” bắt nguồn từ những hình ảnh gần gũi, có thực trong cuộc sống người lao động, nhưng lại mang ý nghĩa hết sức sâu xa. “ Gần mực thì đen” về nghĩa đen thì mang ý khi ở gần mực sẽ bị ngấm màu mực đen của chúng. Đối với nghĩa bóng nó lại mang ý nghãi cao hơn, đó là sống gần những thứ đen tối, xấu xa cũng sẽ trở nên xấu xa như chúng. Nhưng nếu như sống “ gần đèn” tức ở gần những điều tốt lành, sáng sủa tức chúng ta cũng sống lương thiện, lành mạnh hơn. Trong cuộc sống hiện đại như bây giờ, với hình ảnh con người dù cho có làm điều tốt bao nhiêu cũng không ai dể ý tới, cũng không ai tới ủng hộ, tán thưỏng, còn khi làm những điều xấu xa thì cũng không có ai lên án, chỉ trích mà vẫn được làm theo ý của mình. Đó là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến con người ta sống “ gần mực”. Cũng bởi do con người ta chưa thể phân biệt được rõ trắng đen, cái nào tốt, cái nào xấu mà dễ sa vào cạm bẫy của bãi đen của bùn lầy xã hội nhờ vào những lời nói ngon ngọt, dụ dỗ. Thế những, không phải như vậy là cuộc sống sẽ trở nên “ đen đặc”, ta khi sống cạnh môi trường tốt, lành mạnh, với những người sống lương thiện, luôn giúp đỡ người khác thì mỗi chúng ta cũng sẽ thay đổi chính những hành động xấu trước đó của bản thân. Và rồi những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với chúng ta thật nhiều hơn, còn những điều xấu xa sẽ trở nên xa vời ta dần dần và biến mất mãi mãi. Câu tục ngữ đã đem lại một giá trị to lớn, bởi vậy ngay bây giờ, chính cá nhân mỗi người, đặc biệt là học sinh đang ngồi tren ghế nhà trường, hãy nhận thức thật đúng đắn về suy nghĩ và hành động của mình. Không những vậy, hãy lựa chọn cho mình môi trường tốt để ta có thể rèn luyện, tu dưỡng trên con đường đi tới tương lai. Đi đôi với đó, ta cũng cần phê phán nghiêm những hành động xấu xa nhằm ý đồ phá hoại môi trường tươi đẹp quanh ta. “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là câu tục ngữ hết sức ý nghĩa, mang giá trị cả đời người. Câu tục ngữ đã dạy ta cách sống, cách làm người đứng đắn. Chúng ta hãy cùng nhau thực hiện những hành động tốt đẹp dù là nhỏ nhất để giúp cho đất nước, xã hội quanh ta được giày đẹp, yên bình mãi.
Suy nghĩ về câu tục ngữ_ Gần mực thì đen gần đèn thì sáng
643
Suy nghĩ về câu tục ngữ: Ở hiền gặp lành Hướng dẫn Suy nghĩ về câu tục ngữ: Ở hiền gặp lành Trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam của cha ông ta để lại, với những kinh nghiệm thực tế được đúc rút từ thực tế hằng ngày đã để lại cho đời sau những bài học giá trị to lớn. bàn về luật nhật quả thì có rất nhiều câu nhưng câu tâm đắc nhất vẫn là “Ở hiền gặp lành “ để giáp dục chúng ta phải có cách sống đẹp, hợp với đạo lý mà ông cha ta đã răn dạy. Đầu tiên, “Ở hiền gặp lành” là gì? ở hiền là phải biết yêu thương đối xử tốt với những người xung quanh bằng những biểu hiện cụ thể, Những người ở hiền không bao giờ làm hại tới những người khác, luôn đặt lợi ích chung lên hàng đầu, không ích kỉ tham lam. Còn gặp lành là khi chúng ta làm những việc tốt không tham lam không có sự trục lợi sẽ luôn gặp được may mắn. Chúng ta hãy cùng nhìn những người xung quanh chúng ta, mỗi người một tính cách, có người hiền lành luôn gặp may mắn trong cuộc sống, làm việc gì cũng trôi chảy, thuận buồm xuôi gió còn người độc ác thì làm gì cũng gặp trắc trở sau đó. Vậy làm thế nào để được công nhận là ở hiền? đó là những hành động giúp đỡ người khác, không tham lợi không vì mục đích riêng, và không có những hành động độc ác đối với người khác Câu tục ngữ không chỉ có trong đời thường mà còn được ông cha ta gửi gắm qua rất nhiều chuyện cổ tích như chuyện tấm cám. Tấm sống thật thà tốt bụng cho nên trải qua bao nhiêu khó khăn cuối cùng cũng có được hạnh phúc còn mẹ con cám ác độc chuyên đi hại tâm cuối cùng cũng bị quả báo, nhận lấy cái chết. Đó còn là câu chuyện của chàng thạch sanh thật thà luôn giúp đỡ người xung quanh cuối cùng đã lấy được công chứa còn mẹ con Lý Thông thì độc ác muốn hãm hại Thạch Sanh thì lại bị ông trời hóa thành bọ hung. Bên cạnh đó ta cũng nên nhìn nhận lại câu nói một cách khoa học nhất. Liệu rằng, với thế giới này cứ ở hiền đều đều gặp được hiền không. Thực tế đã chứng minh không phải bao giờ cuộc sống cũng thuận như thế. Có không ít người ở hiền nhưng lại rơi vào hoàn cảnh khó khăn, có cuộc sống hẩm hiu, ngược lại có những kẻ xấu sống ác nhưng vẫn được sung sướng.Nguyên nhân là do xã hội đang phức tạp, thế lực xấu vẫn đang còn tồn tại cho nên luôn gieo thiệt hại cho những người xung quanh. Chúng ta hãy phấn đấu xây dựng một xã hội thật công bằng nhưng việc cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới đòi hỏi thời gian. Phải dày công đấu tranh để biến ước mơ thành sự thực. Dù thực tế có phũ phàng thì chúng ta vẫn nên giữ cách sống ở hiền, đó là cách sống đạo đức, mang tới cho tâm hồn mình sự thanh thản. Lòng tốt đặt đúng chỗ sẽ giúp bạn và mọi người xung quanh cảm thấy thoái mái và hạnh phúc hơn. Câu tục ngữ “Ớ hiền gặp lành” khuyến khích chúng ta sống theo lòng nhân ái. Đó chính là phương châm xử thế tích cực. Chúng ta mong cho tất cả những người ở hiền đều gặp lành nhưng cũng phải nhìn nhận trước những khả năng về các diễn biến phức tạp để tránh sự hụt hẫng, bi quan. Mỗi chúng ta không cần hướng thiện mà còn phải kiên trì đấu tranh cho cái thiện.
Suy nghĩ về câu tục ngữ_ Ở hiền gặp lành
655
Suy nghĩ về câu “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” – Ngữ văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về quan điểm học tập Đề bài: Anh chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày quan điểm của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Hướng dẫn làm bài Người viết cần hiểu đúng ý nghĩa của bốn vế (cũng là bốn luận điểm) và dụng ý của cách sắp xếp thứ tự các vế trong phương châm học tập do UNESCO nêu lên, từ đó, thấy được vai trò của phương châm này đối vói từng cá nhân và đối với mọi quốc gia. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Ngày nay, với xu thế toàn cầu hoá, quan điểm về việc học tập của con người trên thế giới càng gần gũi nhau hơn. Đó là lí do để Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá cua Liên hợp quốc UNESCO đề xướng mục đích học tập cho công dân của mọi quốc gia trên thế giới: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Quan điểm rõ ràng, hiện đại như vậy về việc học tập là điều rất đáng để mọi người, nhất là những người ở tuổi cắp sách đến trường, phải nghiêm túc suy nghĩ. – Học tập trước hết là để thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người. Thế giới tự nhiên, xã hội xung quanh ta, kể cả chính bản thân con người ta đều ẩn chứa nhiều điều bí ẩn. Biết bao câu hỏi đặt ra mà ta đâu dễ gì tìm thấy ngay câu trả lời. Tại sao trái đất quay quanh mặt trời? Tại sao bốn mùa trong năm thời tiết khác nhau? Tại sao con người ta trưởng thành theo thời gian và có những thay đổi về tâm sinh lí? Ấy là chưa nói đến vô số những kiến thức phức tạp, khó hiểu ở mọi ngành khoa học nhiều khi rất xa lạ với trình độ của số đông. Thế nhưng, vấn đề dù khó khăn, bí ẩn đến đâu cũng có thể tìm thấy chìa khoá để giải mã. Chiếc chìa khoá vạn năng đó không có gì khác hơn ngoài hai chữ “học tập”. Chính nhờ học tập mà loài người đã chiếm lĩnh được kho tri thức khổng lồ như hiện nay. Chính nhờ việc học mà khoa học đã có những bước tiến thần kì. – Học để biết dĩ nhiên là quan trọng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, thì tri thức cũng chỉ là một mớ lí thuyết suông, vô ích. Tiếng Việt có từ “học hành”, nghe rất đơn giản, nhưng ngẫm kĩ, khá sâu sắc. Nó chứng tỏ, cha ông chúng ta chưa bao giờ coi nhẹ việc áp dụng những điều hiểu biết vào công việc thực tế. Học mà không hành thì chỉ là mọt sách, hư danh. Hành mà không học thì khó đạt hiệu quả. Cả hai mặt có quan hệ hữu cớ, hỗ trợ cho nhau. Nhiều nhà tư tưởng lớn cũng có quan điểm tương tự. Khổng Tử cho rằng: học mà lại được thực hành những điều đã học, chẳng phải là vui hay sao? {“Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ”). Nguyễn Trãi cũng từng chiêm nghiệm: “Nên thợ nên thầy vì có học”. – Học để làm là một quan điểm đã được khẳng định. Trước hết nó đề cao mục đích của “học” đối với “làm”, sau đó, nó cho thấy sự tác động của “làm” trở lại đối với việc “học”. Khi nhận thức được rằng: học không phải để tích chứa tri thức, khoe mẽ hiểu biết, mà để áp dụng vào cuộc sống, giải quyết những công việc cụ thể vói hiệu quả cao nhất, thì sự học đã có một phương hướng đúng đắn, một mục đích thiết thực. Ta biết rằng, biển kiến thức thì mênh mông, quỹ thời gian và khả năng của con người lại có hạn. Vì vậy, việc học tập của mỗi người phải có lựa chọn, định hướng cụ thể. Học cái gì, cần trang bị những tri thức nào phù hợp với năng lực, hữu dụng trong thực tế, đó là những câu hỏi mà mỗi cá nhân phải tự trả lời. – Thời đại ngày nay, viễn cảnh con người một quốc gia trở thành công dân toàn cầu đã dần dần là một thực tế. Trái đất trở thành “thế giới phẳng”. Tuy nhiên, có một thực tế khác cũng cần phải quan tâm: con người ở các quốc gia sẽ có những khác biệt nhau về tôn giáo, phong tục, văn hoá. Vì vậy, muốn có sự hợp tác hiệu quả, rất cần sự hiểu biết để tôn trọng lẫn nhau. Một nhà đầu tư người Mĩ muốn làm ăn ở Việt Nam không thể không tìm hiểu đặc điểm tâm lí, tính cách, văn hoá của người Việt. Một thanh niên Việt muốn tìm việc ở một công ti nước ngoài, nhất thiết phải hiểu biết những yếu tố quan trọng của cộng đồng mà mình sẽ hoà nhập, cộng tác. Như vậy, học để chung sống đã là điều kiện tồn tại tất yếu của con người trong cuộc sống hiện đại. – Quan điểm về học tập mà UNESCO nêu lên thật dễ hiểu, gần gũi. Nó không chỉ định hướng cho các nhà lãnh đạo hoạch định chính sách giáo dục của quốc gia mình, mà là phương châm thiết thực cho mỗi người. Tuy nhiên, để biến tư tưởng ấy thành hành động cụ thể, rất cần nỗ lực không ngừng của cá nhân. Đối với học sinh chúng ta, việc khắc ghi và thực hiện phương châm ấy là điều kiện, cần thiết để chúng ta vững bước trên con đường đến với tương lai.
Suy nghĩ về câu “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” – Ngữ văn 12
1,017
Đề bài: Suy nghĩ về câu "Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng" Bài làm Từ xưa đến nay, dân tộc Việt nam ta luôn đề cao tư tưởng nhân ái, một đạo lí cao đẹp. Bởi vì chúng ta đều là con Rồng cháu Tiên, đều được sinh ra từ cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ nên truyền thống "Lá lành đùm lá rách" cũng được phát huy qua nhiều thế hệ. Những tình cảm cao quí ấy được kết tinh, hội tụ và phản ánh qua những tác phẩm văn học dân tộc. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những vấn đề trên qua bài chứng minh dưới đây. Nói văn học dân tộc ta luôn ca ngợi lòng nhân ái và tình yêu thương giữa người và người quả không sai. Trước hết Văn học của ta đề cập đến tình cảm trong gia đình, bởi gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên, là chiếc nôi khởi nguồn và nuôi dưỡng của lòng nhân ái. Trong đó thì tình mẫu tử là cao quí hơn cả. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “những ngày thơ ấu”, đã cho chúng ta thấy rằng: “tình mẫu tử là nguồn thiêng liêng và kì diệu, là mối dây bền chặt không gì chia cắt được”. Cậu bé Hồng phải sống trong cảnh mồ côi, chịu sự hành hạ của bà cô, cha mất, mẹ phải đi tha hương cầu thực, ấy vậy mà cậu không hề oán giận mẹ mình, ngược lại lại vô cùng kính yêu, nhờ thương mẹ. Câu chuyện đã làm rung động biết bao trái tim của độc giả. Không chỉ phản ánh tình mẫu tử, văn học còn cho ta thấy một tình cảm vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc không kém, đó là tình cảm vợ chồng. Tiểu thuyết “tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố là minh chứng rõ nét nhất cho điều này. Nhân vật chị Dậu được tác giả khắc họa thành một người phụ nữ điển hình nhất trong những năm 30-40. Chị là một người vợ thương chồng, yêu con, luôn ân cần, nhẹ nhàng chăm sóc cho chồng dù trong hoán cảnh khó khăn, nguy khốn như thế nào. Chị Dậu đã liều mình, đánh trả tên người nhà lí trưởng để bảo vệ cho chồng, một việc mà ngay cả đàn ông trong làng cũng chưa dám làm. Quả là đáng quí phải không các bạn! Thật đúng với câu ca dao: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” Và chắc hẳn, những người nào đã và đang học cấp II đều biết đến truyện “cuộc chia tay của những con búp bê”. Thật cảm động khi chứng kiến cảnh 2 anh em Thành và Thủy chia tay nhau đầy nước mắt. Qua đó, văn học đã gửi đến chúng ta một tình cảm gắn bó giữa anh em với nhau trong gia đình: "Anh em như thể tay chân rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần” Từ tình yêu thương trong gia đình, mở rộng ra ngoài xã hội thì có tình yêu đôi lứa, tình bạn bè… hay nói chung đó là tình yêu thương đồng loại mà văn học cũng như người xưa luôn để cập đến qua các câu ca dao như: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” Cũng với ‎ nghĩa đó, người xưa lại nghĩ ra truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên” giúp ta hiểu rõ hơn về từ “đồng bào”. Theo truyền thuyết thì mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đã sinh ra một trăm trứng và nở ra trăm con, 50 người con xuống biển sau này trở thành người miền xuôi, còn 50 người con khác lên núi sau này trở thành các dân tộc miền núi. Trước khi đi, Lạc Long Quận có dặn Âu Cơ rằng: sau này có gì khó khăn thì giúp đỡ nhau. Điều đó cho thấy người xưa còn nhắc nhở con cháu phải biết thương yêu, tương trợ nhau. Mỗi khi miền nào trên đất nước ta có hoạn nạn, thiên tai lũ lụt thì những nơi khác đều hướng về nơi ấy, chung sức chung lòng quyên góp, ủng hộ vật chất lẫn tinh thần. Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết tương trợ của nhân dân ta đối với nhau. Ngoài đời sống là thế, còn trong những câu chuyện cổ tích thì sao? Truyện cổ tích không đơn thuần chỉ là những câu chuyện hư cấu, tưởng tượng mà thông qua đó cha ông ta muốn gửi gắm những suy nghĩ, tình cảm, thể hiện những ước mơ, niềm tin về công lí. Và hơn thế nữa là tư tưởng nhân đạo của dân tộc ta, được lột tả một cách sâu sắc qua câu chuyện cổ tích “Thạch sanh” quen thuộc. Nhân vật Thạch sanh đại diện cho chính nghĩa, hiền hậu, vị tha, dũng cảm, sẵn sàng tha thứ cho mẹ con Lí Thông, người đã bao lần tìm cách hãm hại mình. Không những thế, khi 18 nước chư hầu kéo quân sang đánh Thạch Sanh nhằm cướp lại công chúa, chàng đã sử dụng cây đàn thần của mình để thức tỉnh binh lính, làm cho binh lính lần lượt xếp giáp quy hàng mà không cần động đến đao binh. Chẳng những thế, chàng lại mang cơm thết đãi họ trước khi rút về nước. Điều này làm ta chợt nhớ đến bài ” Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi với tư tưởng nhân đạo cao cả: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy trí nhân để thay cường bạo” Rồi câu chuyện “sọ dừa” cũng không kém phần ‎í nghĩa. Tình thương người được thể hiện qua tình cảm của cô con gái út đối với sọ dừa. Cô út vẫn đưa cơm, chăm sóc sọ dừa một cách tận tình mà không hề quan tâm đến hình dáng xấu xí của chàng. Điều này nhắc nhở chúng ta không nên phân biệt đối xử với người tàn tật, có hình dáng xấu xí, đánh giá con người qua vẻ bề ngoài bởi vì: “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Con người thực sự của mỗi người chính là ở trong tâm hồn, tấm lòng của họ. Bên cạnh việc ca ngợi những con người “thương người như thể thương thân”, văn học cũng phê phán những kẻ ích kỉ, vô lương tâm. Đáng ghê sợ hơn nữa là những người cạn tình máu mủ. Điển hình là nhân vật bà cô trong truyện “những ngày thơ ấu”, một người độc ác, “bề ngoài thơn thớt nói cười-mà trong nham hiểm giết người không dao”. Bà cô nỡ lòng nào lại nói xấu, sỉ nhục mẹ bé Hồng trước mặt bé-đứa cháu ruột của mình, lẽ ra bà cô phải đối xử tốt với bé Hồng để bù đắp lại những mất mát mà bé phải hứng chịu. Hay trong tiểu thuyết “Tắt đèn”, nhà văn Ngô Tất Tố đã cho chúng ta thấy sự tàn ác, bất nhân của tên cai lệ và người nhà lí trưởng. Chúng thẳng tay đánh đập những người thiếu sưu, đến những người phụ nữ chân yếu tay mềm như chị Dậu mà chúng cũng không tha. Thật là một bọn mất hết tính người. Còn những cấp bậc quan trên thì sao? Ông quan trong truyện “sống chết mặc bay” là tiêu biểu cho tầng lớp thống trị, quan lại ngày xưa. Trong cảnh nguy cấp, dân nhân đội gió, tắm mưa cứu đê thì quan lại ngồi ung ung đánh tổ tôm. Trước tình hình đó, ngoại trừ những tên lòng lang dạ sói như tên quan hộ đê thì có ai mà không thương xót đồng bào huyết mạch. Ngay cả khi có người vào báo đê vỡ mà hắn còn không quan tâm, bảo lính đuổi ra ngoài. Thật là lũ người bất nhân vô lương tâm phải không các bạn! Đến cuối truyện, khi quan lớn ù ván bài to thì cả làng ngập nước, nhà cửa lúa mà bị cuốn trôi hết, tình cảnh thật thảm sầu. Chính cao trào đó đã lên án gay gắt tên quan hộ đê, hay chính là đại diện cho tầng lớp thống trị, dửng dưng trước sinh mạng của biết bao người dân. Thật đau xót cho số phận người dân thời ấy! Qua những tác phẩm văn học ở trên, chúng ta có thể thấy được rằng: văn học Việt Nam luôn để cao lòng nhân ái” Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”, và cũng lên án kịch liệt những kẻ thờ ơ, vô trách nhiệm. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho tư tưởng nhân đạo, tình yêu thương cao cả… đã trở thành một truyền thống cao đẹp, quý báu của dân tộc ta. Chúng ta cần phải biết yêu thương người khác, biết giúp đỡ nhau trong công việc cũng như trong học tâp để cùng nhau tiến bước trong cuộc sống, chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh. Như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Còn gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau”.
Suy nghĩ về câu “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”
1,555
Suy nghĩ về câu: Thật thà là cha thằng dại Dàn ý Mở bài: Đã từ rất lâu, thật thà là một phẩm chất quý báu của con người trong cuộc sống. Thế nhưng, đôi khi, sự “thật thà” lại khiến cho con người gặp nhiều phiền toái, thậm chí còn bị chê bai như câu tục ngữ: “Thật thà là cha thằng dại”. Tại sao lại như vậy? Thân bài: viết thành từng phần, đoạn Giải thích câu tục ngữ: Chuyển ý: Trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là “Thật thà là cha thằng dại”. “Thật thà” có nghĩa là trung thực, thẳng thắn, không gian dối đối với mọi người. “Cha”: là người có công sinh thành, dưỡng dục. Còn “thằng dại” được hiểu là một người khờ dại, là người làm điều dại dột. Suy cho cùng, câu tục ngữ mang hàm ý thật thà sinh ra dại dột. Hay nói ngắn gọn hơn “Thật thà là dại”. Tại sao “Thật thà là cha thằng dại”? Chuyển ý: Câu tục ngữ trên là vô lí chăng? Vậy chẳng phải ông cha lại khuyên chúng ta đừng nên thật thà? Thực sự mà nói, thật thà vẫn là một đức tính tốt đẹp ngàn đời. Là bài học cha mẹ dạy cho con cái từ thuở lên ba. Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng nên “thật thà”. Nhiều người ngay thẳng có những khi bị cô lập, thậm chí là trù dập. Ngay chính nhiều bậc cha mẹ muốn giữ thân cho con luôn khuyên rằng: “Đừng có thật thà quá mà chuốc họa vào thân”. Thực tế có những công nhân đứng lên tố cáo sai phạm của các xí nghiệp, nhà máy, họ thắng kiện rồi bị cho… nghỉ việc. Cứ như thể chúng ta đang sống chung với bệnh giả dối và nó đã là… người bạn quá thân quen. Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng…(điều này thật ra mình không dại mà chỉ vì người khác không đón nhận sự chân thành của mình. Một doanh nhân trên thế giới rằng: “nói dối khi cần và nói thật khi có thể”. Tức là khi cần vẫn có thể nói dối và chỉ nói thật khi điều mình nói ra không ảnh hưởng đến người khác, không ảnh hưởng đến mình và những mối quan hệ khác.Người quá thật thà không dễ thành công? Vì vậy, “thật thà” không đúng lúc, đúng nơi thật sự chính là “cha thằng dại”. Tìm thêm lí lẽ, dẫn chứng… Chúng ta cần phải làm gì? Thời gian im lặng để suy nghĩ đó cũng chính là thời gian giúp người thật thà làm chủ được cảm xúc của mình. Khi đã làm chủ được mình, họ sẽ tìm ra được cách nói thế nào sẽ mang lại hiệu quả nhất. Tuy nhiên, đó chỉ là cách điều trị để giảm bớt triệu chứng, để không nói ra những câu nói “hớ hênh”. Không dễ chữa được “bệnh” thật thà, vì nó là bẩm sinh, là tố chất của con người. Thật thà đúng thời điểm. (Ta nghĩ nên thay từ “thật thà” bằng từ “trung thực”. Những lời nói thật rất khó tiếp thu. Vậy ta nên nêu cao tinh thần trung thực thì hơn. Chúng ta không nói dối, không làm sai và khi cần thì ta sẽ thẳng thắn. Ta nói là “khi cần” vì trong những trường hợp khác, tự nhiên bạn sẽ bị đi vào thế cô lập. Những lời nói quá thẳng thắn có thể gây tổn thương, thậm chí khắc cốt ghi tâm vào lòng người nghe như một sự nhẫn tâm. Vậy, khẳng định: thật thà, thẳng thắn là đúng nhưng phải biết hành động đúng thời điểm, đúng người). Kết bài: Câu tục ngữ trên thật sâu sắc, khuyên chúng ta cần khéo léo trong giao tiếp ứng xử. Nói thật đôi khi có hại mà ngược lại nói dối lắm lúc lại là điều cần thiết trong cuộc sống. Bản thân là học sinh, ta cần rèn luyện nhiều đức tính tốt đẹp như nhân ái. dũng cảm, kiên trì… trong đó không thể thiếu trung thực. Tuy nhiên, mỗi người cần vận dụng một cách linh động không nên cứng nhắc để dẫn đến nhiều điều không hay.
Suy nghĩ về câu_ Thật thà là cha thằng dại
715
Suy nghĩ về câu: ‘Hận thù người khác là mất mát lớn nhất đối với bản thân’ – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về tác hại của lòng hận thù Đề bài: Hận thù người khác là mất mát lớn nhất đối với bản thân. Anh (chị) có tán thành quan điểm trên hay không? Vì sao? Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình. Hướng dẫn làm bài Đề bài yêu cầu người viết nêu quan điểm của mình về tác hại của lòng hận thù. Để khẳng định được sự đúng đắn của ý kiến trên, cần phải trả lời các câu hỏi sau: Hận thù là gì? Tại sao hận thù người khác lại là mất mát lớn nhất với bản thân? Liệu con người có thể không có hận thù không? Làm thế nào để con người không rơi vào hận thù mù quáng? Bài viết có thể triền khai các ý chính sau: – Theodor Mommsen, nhà sử học, nhà văn Đức nổi tiếng khẳng định: Lịch sử không bao giờ được viết mà không với yêu thương hoặc căm hận. Điều đó có nghĩa là, yêu thương và thù hận luôn là hai mặt tồn tại của một vấn đề. Nhưng, nếu luôn giữ hận thù trong lòng, liệu có nên không? Vì thế, bàn về điều này, có ý kiến cho rằng: Hận thù người khác là mất mát lờn nhất đối với bản thân. – Hận thù thường xuất phát từ một nguyên nhân nào đó. Có thể, do bị phản bội, do ngưòi khác gây đau khổ cho mình, cũng có thể, do đối lập quan điểm, dẫn đến mình là người bị hại… Có vô vàn nguyên nhân dẫn đến hận thù. Bởi hận thù, báo thù như tiềm ẩn muôn thưở trong lòng người. Những lời hứa, lời nguyền trả thù phần nào đó làm con người ta nguôi ngoai nỗi đau khổ, nỗi thất vọng khi mình bị hãm hại, bị xúc phạm. Lịch sử của nhân loại, trong suốt bao nhiêu thế kỉ qua, đã ghi lại không ít những cuộc báo thù, mà nguyên nhân chính là do lòng thù hận… – Như vậy, hận thù là căn nguyên của mọi bất hạnh trên thế gian. Vì hận thù, thế giới mói có chiến tranh. Vì hận thù, ngưòi tốt có thể sẽ trở thành kẻ xấu. Vì hận thù, lòng người không còn thanh thản, bình yên. Nhưng, liệu có nên không cổ hận thù không? Thật khó để nói rằng, ai đó cả đời không có hận thù. Giữa những ngày chống Mĩ ác liệt nhất, Xuân Diệu, trong một bài thơ nổi tiếng đã khẳng định: Yêu với căm hai đợt sóng ào ào/ vỗ bên mình dội mãi tới trăng sao (Những đêm hành quân). Đó là khi lòng căm thù xuất phát từ nguyên nhân chính đáng: kẻ thù ngang nhiên giày xéo quê hương, có dã tâm thôn tính đất nước ta. Lúc đó, căm thù là động lực để chúng ta bảo vệ nền độc lập của chính mình. Vì thế, ca dao Việt Nam mói có câu: Thù này ắt hẳn còn lâu/ Trồng tre thành gậy gặp đâu đánh què. – Có ý kiến cho rằng: Bóng tối không thể xua tan bóng tối, chỉ ánh sáng mới làm được. Hận thù không thể xua đuổi hận thù, chỉ tình yêu mới làm được. Mọi hận thù đều có thể xoá bỏ, mọi lỗi lầm đều có thể tha thứ. Để có được điều đó, lòng khoan dung, sự nhân hậu chính là sức mạnh, là động lực để con người có thể xích lại gần nhau hơn. Để có thể tha thứ, chúng ta đừng nhìn vào những lời thiệt hơn bên ngoài mà hãy lắng nghe lương tâm mình nói gì và nghĩ về những điều đã xảy với mình. Chúng ta đã từng phạm sai lầm và đã từng nhiều lần được tha thứ, vậy chúng ta có thể tha thứ cho người khác hay không? Mình tha thứ được cho người khác, cũng có nghĩa là mình sẽ được nhiều hơn: được nhận từ người khác lòng biết ơn, được thanh thản, được thanh lọc tâm hồn.
Suy nghĩ về câu_ ‘Hận thù người khác là mất mát lớn nhất đối với bản thân’ – Ngữ Văn 12
710
Suy nghĩ về câu: “Chiến trường thử thách người dũng cảm, cơn giận thử thách người khôn ngoan, khó khăn thử thách bạn bè” – Ngữ văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về tình bạn Đề bài “Chiến trường thủ thách người dũng cảm, cơn giận thử thách người khôn ngoan, khó khăn thử thách bạn bè”. Quan điểm của anh (chị) về câu ngạn ngữ trên của người Nga (trình bày trong một bài văn khoảng 600 chữ) Hướng dẫn làm bài: Câu ngạn ngữ có ba vế, như vậy, tự nó đã là ba luận điểm rõ ràng. Người viết phải trả lời các câu hỏi: Tại sao nói, chiến trường là nơi thử thách người dũng cảm? Vì sao cơn giận thử thách người khôn ngoan? Vì sao khó khăn thử thách bạn bè? Trong ba vế, trọng tâm của vấn đề dồn vào vế thứ ba, vì thế, phải tập trung triển khai kĩ hơn vế này. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Không có giá trị nào được khẳng định mà không qua sự kiểm chứng bằng những cách riêng. Sự kiểm chứng càng khắt khe, kết luận rút ra càng đáng tin. Với con người, đó là những thử thách. Thử thách có thể đánh bật những gì không thể trụ vững, ngược lại, đó cũng là điều kiện để người ta khẳng định những phẩm chất của mình. Điều này được người Nga đúc rút trong câu ngạn ngữ: “Chiến trường thử thách người dũng cảm, cơn giận thử thách người khôn ngoan, khó khăn thử thách bạn bè”. – Nếu chiến trường là nơi thử thách người dũng cảm, thì cơn giận lại có tác dụng thử thách người khôn ngoan. Giận dữ là trạng thái tâm lí thường tình của con người. Đó là sự phản ứng tức thì trước những gì mà con người cảm thấy bất như ý. Giận vì bị vu khống, bôi nhọ. Giận vì bị lật lọng, lừa đảo. Giận vì bị đối xử bất công. Giận vì bị phản bội… Có trăm ngàn lí do khơi lên ngọn lửa tức giận ở con người. Mức độ giận dữ của con người cũng khác nhau, tuỳ vào tính cách. Có những người khôn ngoan bình tĩnh, nuốt giận vào lòng, tìm nguyên nhàn để hoá giải. Kết quả, mọi chuyện được giải quyết một cách êm thấm. Ngược lại, có người bừng bừng nộ khí, giận dữ ngút tròi, muốn triệt hạ ngay đối thủ. Đúng như dân gian đã nói, “no mất ngon, giận mất khôn”, người nóng nảy bao giờ cũng thiếu sáng suốt khi giải quyết mâu thuẫn. Họ có thể nói những câu không nên nói, có thể làm những điều lẽ ra không nên làm. Vì những câu nói, những cách hành xử như thế mà nhiều mối quan hệ vốn tốt đẹp trước đây bị đổ vỡ một cách đáng tiếc. – Với kiểu suy luận tương tự, từ hai vế trên, câu ngạn ngữ đi đến khẳng định điều thứ ba: khó khăn thử thách bạn bè. Có thể diễn đạt điều này theo một cách khác: trong khó khăn, mới biết bạn bè là người thế nào. Xưa nay, đã là bạn bè thân tình thì phải thấu hiếu và chia sẻ với nhau trong mọi cảnh ngộ. Bạn bè quây quần bên nhau khi vui vẻ, lúc bình an là lẽ thường, không có gì đáng nói. Nhưng trong hoạn nạn, khó khăn mà vẫn gắn bó thuỷ chung thì đó mói là biểu hiện của tình cảm sắt son. Trong lúc khó khăn mà bạn bè vẫn giữ được tình cảm bền chặt, sâu nặng với nhau quả là điều không dễ. Bởi vì, tình cảm ấy phải thể hiện bằng sự giúp đỡ nhiệt tình, vô tư cả về vật chất lẫn tinh thần. Thậm chí, nhiều khi cần đến cả sự xả thân hi sinh. Ta từng biết có người bao nhiêu năm trời cõng bạn đi học. Có những người cưu mang bạn mình khi sa cơ thất thế. Có những người nâng đỡ bạn bè những lúc sảy bước, sa chân. Ngay cả khi bạn vướng vào vòng lao lí, bị tù tội, vẫn không hề xa lánh. Đó là những bằng chứng sinh động cho thấy khó khăn thực sự là yếu tố thử thách tình cảm bạn bè. Những tình cảm hời hợt, nông cạn sẽ bị lật tẩy. Những tình cảm chân thành, sâu sắc sẽ được chứng minh.
Suy nghĩ về câu_ “Chiến trường thử thách người dũng cảm, cơn giận thử thách người khôn ngoan, khó khăn thử thách bạn bè” – Ngữ văn 12
753
Suy nghĩ về câu: “Khát vọng vươn lên phía trước, đó chính là mục đích cuộc sống” – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về nghị luận sống Đề bài “Khát vọng vươn lên phía trước, đó chính là mục đích cuộc sống”. Anh (chị) hãy viết một bài văn khoảng 600 chữ trình bày quan điểm của mình về câu nói trên của M. Gorki. Hướng dẫn làm bài Câu này đòi hỏi người viết phải hiểu được bản chất của khát vọng, phân biệt được khát vọng và dục vọng, thấy được khát vọng là động lực chân chính thúc đẩy con người đi đến thành công. Nói cách khác, mục đích của cuộc sống chính là khát vọng vươn lên phía trước. Từ nhận thức chung, rút ra bài học thiết thực cho bản thân. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Khát vọng là mong muốn, đòi hỏi của nội tâm với một sức thôi thúc mạnh mẽ, quyết liệt nhằm hướng tới việc thực hiện những dự định cao cả, tốt đẹp. Bên cạnh khát vọng còn có dục vọng. Chúng đều là nguồn sức mạnh vô hình, nhưng một bên hướng tới mục đích cao đẹp, một bên nhằm thoả mãn những ham muốn của cá nhân, thậm chí là những thèm muốn thấp hèn. Chẳng hạn, muốn có một vị trí cao trồng xã hội để được cống hiến nhiều hơn, có điều kiện thực thi những dự án lớn lao vi lợi ích cộng đồng là khát vọng, nhưng giành giật, tranh chấp quyền lực để được thể hiện quyền uy và để hưởng thụ cá nhân lại là dục vọng. – Trong câu nói của mình, M. Gorki muốn đề cập đến một biểu hiện cụ thể của khát vọng con người: khát vọng vươn lên phía trước. Vươn lên phía trước nghĩa là luôn hướng tới những gì cao xa hơn hiện tại. Nói cách khác, đó là sự phát triển, sự tiến bộ. Chẳng hạn, đã có tri thức, cần học hỏi nữa để tri thức giàu có thêm. Đã gặt hái được những thành công, phải làm sao để thành công hơn nữa. Người có khát vọng vươn lên phía trước thi không bao giờ thoả mãn với thực tại, mà sẽ vạch ra một lộ trình để phấn đấu không ngừng trong tương lai – Khát vọng thường không mơ hồ, mà bao giờ cũng gắn với một vấn đề cụ thể của đời sống, vì thế, nó luôn luôn đi đôi với mục đích. Ta đang nghèo ư? Vậy phải tìm cách để thoát nghèo và sau đó trở nên sung túc hơn. Ta chưa vững vàng về chuyên môn ư? Vậy phải quyết liệt hơn nữa trong học tập và làm việc để bù đắp những thiếu hụt về kiến thức, nâng cao năng lực nghề nghiệp của mình. Ta còn thiếu kĩ năng sống ư? Vậy phải tìm cách tự trang bị cho mình những kĩ năng cần thiết để thích ứng với cuộc sống hiện đại. Đó đều là biểu hiện của khát vọng vươn lên phía trước, và nó chưa bao giờ xa rời những mục đích thiết thực do chính con người đặt ra một cách có ý thức. Hiện nay, tên tuổi cúa Nick Vujicic hẳn nhiều người biết đến. Sinh ra bị khuyết tật, không chân, không tay, ngỡ sống được đã là khó, vậy mà không ngờ, nhờ khát vọng, trí tuệ và bản lĩnh, Nick đã kiên trì khắc phục khó khăn để có thể làm được mọi việc như người bình thường: vệ sinh cá nhân, nấu nướng, bơi lội, chơi thể thao… Hơn thế, anh còn tự trang bị cho mình một vốn học vấn sâu rộng để viết sách và diễn thuyết ở hàng chục quốc gia trên thế giới, trở thành một diễn giả nổi tiếng và là một biểu tượng về nghị lực sống cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người khuyết tật. Một con người như thế hoàn toàn có thẩm quyền để truyền đến cho nhân loại thông điệp: Đừng bao giờ từ bỏ khát vọng – tên một cuốn sách nổi tiếng của anh. Khát vọng được đề cập đến trong cuốn sách là khát vọng vươn lên, để không bao giờ gục ngã trước những đòn nghiệt ngã của số phận – điều rất gẳn gũi với tư tưởng của M. Gorki. – Từ câu nói của Gorki, rút ra bài học cho bản thân. (Lưu ý: Ý này, thí sinh cần viết một cách chân thành, thiết thực, xuất phát từ hoàn cảnh riêng của bản thân, tránh kiểu viết sáo rỗng.)
Suy nghĩ về câu_ “Khát vọng vươn lên phía trước, đó chính là mục đích cuộc sống” – Ngữ Văn 12
781
Suy nghĩ về câu:“Khí, kiêng nhất là hung hăng; tâm, kiêng nhất là hẹp hòi; tài, kiêng nhất là bộc lộ” – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về thái độ sống Đề bài Người Trung Hoa có câu: “Khí, kiêng nhất là hung hăng; tâm, kiêng nhất là hẹp hòi; tài, kiêng nhất là bộc lộ”. Trình bày quan điểm của anh (chị) về câu danh ngôn trên đây trong một bài văn khoảng 600 chữ. Hướng dẫn làm bài Ba khía cạnh được nêu ở đề này là ba vấn đề quan trọng làm nên nhân cách của con người. Để giải quyết vấn đề, người viết không chỉ phải hiểu các khái niệm khí, tâm, tài cũng như những biểu hiện của chúng trong thực tế, mà còn phải trả lời thoả đáng những câu hỏi: Tại sao khí thì kiêng nhất là hung hăng? Tại sao tâm thi kiêng nhất là hẹp hòi? Vì sao tài thì kiêng nhất là bộc lộ? Nhận thức được những điều cần tránh đó, cá nhân cần có thái độ sống thế nào cho đúng? Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Sinh ra trên đời, dù muốn hay không, con người cũng tự hình thành một nhân cách. Nhân cách ấy tốt xấu thế nào tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức và hành vi của cá nhân. Người Trung Quốc quan niệm, làm nên nhân cách con người là ba vấn đề: khí, tâm, tài. Trên cơ sở đó, họ đưa ra một lòi khuyên rất đáng suy ngẫm: “Khí, kiêng nhất là hung hăng; tâm, kiêng nhất là hẹp hòi; tài, kiêng nhất là bộc lộ”. – Khí là gì? Khí là khí chất, là tính khí, tính cách của con người. Trong cuộc sống, sự êm đềm được tạo nên bởi hoà khí; sự sục sôi là do nộ khí. Hung hăng, dữ dằn, nóng nảy hay dịu dàng, mát mẻ, hiền hoà,… đều là những dạng tính khí khác nhau của con người. Thực tế, đã có bao nhiêu chuyện đáng tiếc xảy ra do thái độ hung hăng. Trong gia đình, thói hung hăng có thể dẫn đến cảnh vợ chồng chia tay nhau. Ngoài xã hội, sự hung hăng có thể khiến bạn bè bỏ nhau, nhân viên chán người quản lí. Có những tướng lĩnh ngoài mặt trận, chỉ vì bừng bừng nộ khí mà đưa ra những quyết định hấp tấp, vội vã, dẫn đến thảm bại. Có những doanh nhân chỉ vi nóng giận trong chốc lát mà bị đối tác quay lưng lại, đánh mất cơ hội vàng trong kinh doanh… Vì vậy, kìm hãm bản thân, nhẹ nhàng, bình tĩnh trong mọi tình huống là phương cách hữu hiệu để chê ngự con ngựa bất kham trong bản thân là thói hung hăng. – Tâm là gì? Tâm là tấm lòng. Tấm lòng có thể có trăm ngàn biểu hiện khác nhau, nhưng chung quy, vẫn là tình cảm, thái độ, cách đối xử với người khác. Tốt hay xấu, trong sáng hay đen tối, rộng lượng hay hẹp hòi, ngay thẳng hay quanh co… đó là những đối cực thường được nói tới khi đánh giá cái tâm của con người. Ở mặt trái, mặt không hoàn hảo của cái tâm, theo quan niệm của người Trung Quốc, hẹp hòi là điều đáng sợ nhất. Sở dĩ kẻ hẹp hòi không thích đánh giá công bằng về người khác, vì nếu đánh giá như vậy, họ sợ người khác hơn mình, cần phải dìm người ta xuống thì mình mới nổi bật. Xét cho cùng, hẹp hòi cũng là một cách khẳng định mình, nhưng là cách hết sức tiêu cực. Đó cũng là một biểu hiện của thói ích kỉ. Hậu quả của sự hẹp hòi là triệt tiêu động lực vươn lên của chính mình. Kẻ hẹp hòi sẽ tự tạo ra một hình ảnh xấu của bản thân trước mắt người khác. Một khi anh cố tình bất công trong nhìn nhận, đánh giá; một khi anh có những động cơ thiếu trong sáng trong các mối quan hệ, thì dù muốn hay không, anh cũng đã tự bộc lộ bản chất của mình. Sống ở đời này, gieo gì gặt nấy, có cho thì có nhận. Cho nên, kẻ hẹp hòi thì cũng đừng mong nhận được sự bao dung,.rộng lượng của người đời. Từ những góc nhìn ấy, có thể thấy hẹp hòi đích thực là một thứ kẻ thù mà ta cần phải tránh xa. – Tài là gì? Theo cách hiểu thông thường, tài là một thứ năng lực nổi trội của con người, thể hiện ở lối tư duy, ở cách giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Tài năng của con người rất đa dạng. Có người nhờ tài năng mà học giỏi. Có người nhờ tài năng mà có đưọ’c công trình nghiên cứu xuất sắc. Có người nhờ tài năng mà tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Có người nhờ tài năng mà thành đạt về chính trị. Tóm lại, bất cứ lĩnh vực nào cũng có những biểu hiện của tài năng. – Trong thời đại ngày nay, tài năng luôn được khuyến khích, coi trọng. Không ai có quyền ngăn cấm người khác thể hiện tài năng. Hơn thế, nhà nước cũng như các tổ chức phi chính phủ còn có các quỹ hỗ trợ, phát triển tài năng. Việc khuyên khích tài năng sẽ là một động lực không nhỏ kích thích hiệu quả công việc của mọi người. Tuy nhiên, với cá nhân, thái độ khiêm tốn là điều rất cần thiết. Không ngại thể hiện tài năng trong lĩnh vực hoạt động của mình, nhưng cũng cần tránh tâm lí khoe tài. Sự khoe khoang, dù bất cứ lí do gì, cũng là điều không nên. Hãy để hiệu quả công việc tự nó nói lên tất cả.
Suy nghĩ về câu_“Khí, kiêng nhất là hung hăng_ tâm, kiêng nhất là hẹp hòi_ tài, kiêng nhất là bộc lộ” – Ngữ Văn 12
986
Suy nghĩ về câu:“Sự tôn trọng có được không phải là món quá ban phát. Muốn được người khác tôn trọng, bạn phải tự mình kiếm lấy” – Ngữ văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về sự tôn trọng Đề bài Trên môt loạt áp phích được treo trang trọng tại nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo có dòng chữ: “Sự tôn trọng có được không phải là món quá ban phát. Muốn được người khác tôn trọng, bạn phải tự mình kiếm lấy”. Anh (chị) hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về lời khuyên ấy. Hướng dẫn làm bài: Thực chất vấn đề câu hỏi đưa ra là: Giá trị cá nhân của mỗi một con người được đưa đến từ đâu? Ai là người có thể giúp ta khẳng định được mình trong cuộc sống? Cần đặc biệt chú ý các cụm từ: sự tôn trọng, món quà ban phát, tự mình kiếm lấy. Ngoài việc phải giải thích cụm từ sự tôn trọng, cũng cần chỉ ra được nghĩa bóng của hai cụm từ còn lại. Bài viết cần có được sự liên hệ cá nhân sâu sắc, hướng đến xác lập một phương châm sống tích cực, rõ ràng. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Ai sống ở trên đời mà chẳng muốn được khẳng định mình và được người đời tôn trọng. Được tôn trọng quả là hạnh phúc. Nó là dấu hiệu hiển nhiên chứng tỏ ta có một giá trị nhất định giữa cộng đồng. Tuy nhiên, đúng như điều đã ghi trên một tấm áp phích hay được chọn treo tại nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo, sự tôn trọng hoàn toàn không phải một món quà được ai đó hào phóng ban tặng mà là kết quả của sự cố gắng phấn đấu của bản thân mỗi con người. – Có thể có người sẽ nghi ngờ tính chân lí của lời khuyên này. Chẳng phải ở trên đời có nhiều kẻ không cần cố gắng gì, không cần phải vất vả tìm kiếm ở đâu cũng có được sự tôn trọng đó sao? Ta đi xế hộp, ta xài hàng hiệu, ta sở hữu những vật dụng đắt tiền,.có thể ta đã trở thành tâm điểm của những ánh nhìn ngưỡng mộ. Khi tà phô trương gia thế, rất có thể khiến nhiều người thán phục. Nhưng, tất cả những điều vừa kể có thực thuộc về phạm trù “tôn trọng” mà ta đang bàn? Có thể nói ngay rằng, ở đây dường như có một sự nhầm lẫn – nhầm lẫn giữa sự tôn trọng mang đầy tính văn hoá dựa trên một cách đánh giá đầy lí tính với sùng phục mù quáng dựa trên những mặc cảm về thân phận hay một sự a dua có tính bầy đàn. Không, đó không thể được xem là sự tôn trọng đích thực! Tin vào sự “tôn trọng” kiểu đó là một ngộ nhận tai hại. – Thái độ tôn trọng thường gắn với sự đánh giá mang tính khẳng định. Tuy nhiên, sự đánh giá đó chỉ có ý nghĩa, chỉ đáng tin khi nó phù hợp với đối tượng được đánh giá. Một con người chỉ đáng được tôn trọng khi tự họ tạo được một giá trị, tất nhiên, đó phải là giá trị thật chứ không phải giá trị ảo, và đó phải là giá trị do ta gây dựng chứ không phải giá trị vay mượn. Nếu ta chưa nhận được sự tôn trọng của người xung quanh, của cộng đồng, điều đó có nghĩa là ta chưa có được một giá trị đáng để xung quanh thừa nhận. Ta không thể oán trách ai mà chỉ có thể tự trách mình. – Lời khuyên trên tấm áp phích là một lời khuyên đúng đắn. Nó kêu gọi ở mỗi người ý thức tự khẳng định. Nó xác nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong một cộng đồng. Nó cũng báo trước những thách thức mà ta phải vượt qua để tự xác lập một giá trị giữa cuộc đòi.
Suy nghĩ về câu_“Sự tôn trọng có được không phải là món quá ban phát. Muốn được người khác tôn trọng, bạn phải tự mình kiếm lấy” – Ngữ văn 12
694
Suy nghĩ về danh và lợi trong cuộc sống hiện nay Hướng dẫn Hai chữ danh và lợi làm điên đảo lòng người Mở bài: Từ khi có văn minh, con người đã nghĩ đến danh và lợi. Xuất phát từ học thuyết Chính danh của đức khổng Tử, hai chữ danh và lợi đã bị con người lạm dụng để thu vén địa vị và lợi lộc cho riêng mình mà gây nên biết bao nghiệp chướng, oan tình, kì án. Danh và lợi là hai lưỡi kiếm rất ác độc và mãnh liệt, thường theo đuổi ta trên suốt đường đời không sao dứt bỏ được. Thân bài: Danh là gì? Theo nghĩa từ điển, chữ danh có nghĩa là tên tuổi nổi bậc, là danh tiếng, là tiếng tốt, được xã hội biết đến và coi trọng. Chữ danh còn được hiểu là công danh, sự nghiệp, địa vị, danh dự của con người. Ví như người xưa đi tìm công danh, sự nghiệp vĩ đại nơi quan trường hoặc chiến trường, từ đó khẳng định địa vị, danh dự của mình trong xã hội. Lợi là gì? Chữ lợi xuất phát từ nghĩa là nguồn lợi, tài nguyên thu được sau một chuỗi hành động nào đó. Lợi tức là phần được tạo ra từ một việc làm nhất định. Đôi khi chữ lợi được đồng nhất với chữ lộc trong cuộc sống. Vì sao sống phải biết tìm kiếm danh và lợi? Khẳng định địa vị, danh dự cao đẹp và làm giàu cho bản thân, gia đình vốn là quyền của con người. Suốt cuộc đời người chăm lo học tập, trau dồi đạo đức, giữ gìn nhân cách, nhân phẩm cũng chỉ để tìm kiếm địa vị, danh dự, sự nghiệp cho riêng mình, từ đó đóng góp một phần giá trị hữu ích cho xã hôi. Về cơ bản, danh và lợi chính là động lực cho sự phát triển của xã hội. Một người luôn khát vọng lập công danh, làm điều lớn lao là mong muốn tự khẳng định mình, khao khát được nổi bật trong xã hội, được mọi người tôn trọng và giúp đỡ đẻ thành công. Đây là một ước mơ lành mạnh và chính đáng vì nó thúc đẩy xã hội phát triển lên tầm cao. Xưa sĩ tử ngày đêm đèn sách, kinh thi ứng cử là để mong cầu đỗ đạt, có quan có tước, lãnh trị thiên hạ, kinh bang tế, thế đem lại nhiều điều tốt đẹp cho cuộc sống, được nhiều người kính trọng. Lại còn vinh quy bái tổ, làm rạng rỡ danh tiếng gia tộc. Người lính nơi chiến trường, xông pha trận mạc, liều mình như chẳng có, cũng chỉ mông muốn lập nên chiến công hiển hách, đeo ấn phong hầu, được người đời ca tụng. Đó là họ luôn khát vọng lập công danh cho bản thân, làm điều hữu ích cho đất nước. Các anh hùng nghĩa sĩ ấy mãi mãi còn được tôn vinh. Cái lợi từ chữ danh ấy mà ra. khi đã thành danh tất được hưởng lợi. Người ra làm quan được chu cấp bổng lộc, được thu lợi từ chính công việc của mình, có được cuộc sống sung túc, phồn vinh. Đó hẳn là cái lợi chính đáng, đáng được trân trọng. Có danh là để dễ bề làm sáng nghiệp của tổ tiên, làm cho xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ. Một nhà khoa học miệt mài nghiên cứu sẽ tạo ra những phát minh hữu ích phục vụ cho sự tiến bộ của nhân loại; một thầy giáo giỏi tận trung với sự nghiệp giáo dục sẽ tạo ra những học trò xuất sắc; một bác sĩ tận tâm với nghề nghiệp sẽ cứu được biết bao con người qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo. Với tài năng và lòng yêu thương con người, họ thúc đẩy xã hội phát triển đồng thời nhận được lợi ích chính đáng về mình. Danh bao giờ cũng đi liền với trách nhiệm và bổn phận đối với xã hội. Người khao khát công danh luôn nổ lực để trở thành người chân thiện, mang cái lợi cho cộng đồng, qua đó tự hoàn thiện bản thân, trở thành người ưu tú với những phẩm chất cao quý. Mặt khác, lợi ích chính là động lực phát triển của mọi nền kinh tế, là điều kiện tiên quyết để mọi loài vật có thể tồn tại và phát triển được. Vì muốn hưởng lợi, muốn nhàn hạ, muốn làm ít mà hưởng nhiều, muốn thực hiện những việc vượt quá sức người, nên con người mới bắt cái đầu nghĩ ra khoa học kĩ thuật, công nghệ, máy móc. Vì muốn kiếm lời con người mới đem hàng hóa từ nơi này đến nơi khác tiêu thụ, giúp nền kinh tế phát triển, cuộc sống con người cũng nâng cao hơn. Tạo ra lợi ích để tận hưởng một cuộc sống tiện nghi, đầy đủ, giàu có vốn là khao khát mãnh liệt của con người từ xưa đến nay. Cái danh lợi ích kỉ trong cuộc sống: Con người vốn ích kỉ, ít ai không vì một lợi ích nào đó mà làm việc hăng say. Bởi trước khi hướng đến làm điều lợi ích cho xã hội họ cần làm lợi cho bản thân trước. Bản thân đầy đủ, cuộc sống an toàn thì con người mới cống hiến sức mình cho xã hội. Phấn đấu để có được công danh và hưởng lợi từ công danh ấy vốn không có gì là sai trái. nhưng có nhiều kể bất chấp thủ đoạn. Mọi ham muốn, tham lam trong cuộc đời đều xuất phát từ lợi danh. Thắng thua chỉ là thước đo trong cuộc chơi địa vị. Tình thương giữa người với người, lòng hiểu biết giữa tâm hồn và tâm hồn mới là điều quan trọng nhất. Có tình thương trong trái tim, ta là người tự do, danh lợi không có chỗ đứng. Mất tình thương, ta chính là người danh lợi, quay về danh và lợi ích kỉ. Vì danh và lợi con người muốn thâu đoạt về mình càng nhiều càng tốt, để thỏa mãn lòng tự ái và ích kỉ. Hám lợi làm con người mù quáng lương tâm, ra nhiều tội lỗi và đau khổ cho người khác; chuyên quyền, tham nhũng tràn lan, buôn bán ma túy, sản xuất sữa độc, kẹo bột đá, thải nước độc ra môi trường sống, làm cho các giống hổ, voi, tê giác, cá mập,… có nguy cơ bị tuyệt chủng, các cánh rừng nguyên sinh có nguy cơ bị xóa sổ. Khát danh làm cho con người có những toan tính tầm thường, xu nịnh, tranh giành, chiếm đoạt, mua quan bán tước, bằng cấp giả… làm đảo lộn giá trị cuộc sống, thật giả bất phân. Những người bán danh, hám lợi thường bị mọi người xem thường, không thể tin tưởng. Làm thế nào để có được danh và lợi chính đáng? Làm người thì cần phải có danh vọng và lợi lộc. Thiếu một trong hai thứ ấy cuộc sống khó đạt được hạnh phúc. Nhiều người cao ngạo cho rằng họ trọng nghĩa (tình nghĩa) khinh tài (danh lợi) nhưng kì thật đó chỉ là phát ngôn lúc trong viên mãn, tràn đầy, cuộc sống không khó khăn gì mà thôi. Chúng ta luôn sống vì bản thân và người thân. Chúng ta làm việc vì lợi ích của cá nhân. Chúng ta cần lợi ích để sinh tồn và khẳng định, nhưng không vì thế mà bất chấp đạo lí và phát luật, làm điều trái với đạo nghĩa. Thanh niên ngày nay, muốn có lợi danh hãy chăm chỉ học tập thành tài, bằng sức mình hăng say làm việc, tạo ra nhiều lợi ích tất sẽ nhận được danh tiếng và lợi lộc xứng đáng. Có được danh tiếng, địa vị và lợi ích từ chính năng lực của mình, đựa trên thành quả lao đông mình tạo ra đó là danh lợi chính đáng và bền vững nhất. Phải liên tục rèn luyện, trau dồi, bồi dưỡng đạo đức, nhân cách, nhân phẩm, lý tưởng, giữ mình trong sạch, vững mạnh, tránh được tham vọng cá nhân, hướng đến cộng đồng để không làm điều sai trái mà hủy hoại cả sự nghiệp. Pháp luật tuy im lặng mà khó thoát, đời người trong kiếp phù sinh trùng trùng nhân quả, làm điều sai trái tất không khỏi nhận lấy hậu quả về mình. Đừng bao giờ kiêu ngạo, khinh thường người khác khi đã có được danh và lợi. Đừng bao giờ lạm dụng chức vị, quyền lực, địa vị mà thu lợi bất chính, không những tạo ra nhiều điều tổn thất cho tập thể, cộng đồng và đất nước mà còn gây nên những mối hiểm họa cho bản thân ở tương lai. Khi vướng vào danh lợi, ta bị cuốn vào trong vòng xoáy của hơn thua. Một khi đã ở trong vòng xoáy đó, nhất định ta luôn có trong mình sự căm thù, ganh ghét và phân biệt. Tâm thức đầy tràn những tâm hành tiêu cực có thể dẫn ta đến chuyện oán hận, bạo động. Ta hoàn toàn đánh mất tình thương trong mình. Từ xưa đến nay, có biết bao anh hùng hào kiệt và tài tử cao nhân đức cao vọng trọng, liêm khiết chính trực nhưng cũng chỉ vì hai chữ danh lợi mà điên đảo thân tâm, làm điều bất nghĩa để đến nỗi thân bại danh liệt, đời đời còn lưu tiếng xấu. Cái giá phải trả vì tham danh cầu lợi là uổng phí trọn một kiếp người, vẫn ở trong vòng luân hồi quả báo, khổ sở không lúc nào hết. Bài học về danh và lợi: Vì nhận thức được rằng tài cao, đức trọng thì có danh lớn nên bản thân quyết tâm học tập thật giỏi để lập công danh, khẳng định mình trong xã hội, làm rạng danh gia đình, dòng họ, đất nước. Hãy luôn làm việc thật tốt mang lại lợi ích cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội. Chỉ phấn đấu bằng chính danh, chính lợi bằng nổ lực của bản thân, quyết không làm điều khuất tất và thiệt hại đến người khác, đến đất nước. Danh lợi là mục tiêu phấn đấu nhưng nếu quá tham vọng hoặc mưu danh cầu lợi quá mức lại là hành động sai trái, đáng bị lên án. Kết bài: Khuất Nguyên, một danh sĩ thời Chiến quốc từng nhắc nhở rằng “Thiện không do từ ngoài lại. Danh không từ hư mà có”. Làm người đừng bị lợi danh mà bất chấp vinh nhục ở đời. Bởi thế, tu dưỡng năng lực và tinh thần của chính mình để tìm kiếm danh lợi chính đáng, từ khát vọng danh lợi của bản thân đóng góp vào sự phát triển của đất nước mới là lý tưởng của thanh niên thời nay.
Suy nghĩ về danh và lợi trong cuộc sống hiện nay
1,838
Suy nghĩ về hai chữ vinh và nhục trong cuộc sống hiện nay Hướng dẫn Nghĩ về hai chữ vinh và nhục trong cuộc đời làm người Mở bài: Cuộc sống vốn luôn khắc nghiệt đối với mỗi con người. Đã làm người trên cõi đời này thật không thể tránh khỏi vinh – nhuc, hèn – sang, được – mất. Đó cũng là suy nghĩ của biết bao người trong cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống này. Thân bài: Vinh là gì? Vinh có nghĩa là vinh dự, vinh quang, vẻ vang, sung sướng về tinh thần khi được dư luận xã hội đánh giá cao và kính trọng. Chữ vinh đôi khi đồng nghĩa với danh dự, nhân phẩm, địa vị, niềm tự hào trong cuộc sống con người. Nhục là gì? Nhục là sự ô nhục, xấu xa, nhục nhã khi gây nên một việc sai trái nào đó làm tổn hại đến nhiều người, bị xã hội lên án, đả kích, khinh chê. Mối quan hệ giữa vinh và nhục: Vinh và nhục là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc được xã hội thừa nhận để đánh giá con người; cũng là những trạng thái, những tính chất mà con người cảm nhận trong cuộc sống. Khi danh tiếng, địa vị của con người gắn với chữ công là vinh, trái lại những gì gắn liền với chữ lợi là nhục. Đó cũng là nguyên tắc ứng xử của người quân tử xưa. Vinh và nhục biểu hiện rất rõ ràng trong cuộc sống, thậm chí nó được xem là nguyên tắc quan trọng nhất trong mối quan hệ ứng xử và lý tưởng sống của con người. Vinh và nhục là một cặp phạm trù đối lập nhau và gắn liền nhau. Đối lập nhau vì vinh là tốt, nhục là xấu; vinh được xem trọng, nhục bị coi khinh; vinh được sung sướng, nhục bị dằn vặt, đau khổ… Tại sao sống phải biết bỏ nhục chọn vinh? Con người vốn luôn hướng thiện và luôn mong muốn vươn đến chánh thiện bằng những hành động ý nghĩa mang lại nhiều lợi ích cho bản thân và người khác. Chính bởi thế, những việc làm tốt đẹp đem lại cho ta sự vẻ vang, được mọi người trân trọng, yêu mến và ủng hộ. Sống vinh quang là sống đúng với chuẩn mục đạo đức và truyền thống văn hóa tốt đẹp từ ngàn xưa của dân tộc. Dân tộc ta vốn đề cao đạo nghĩa, tôn vinh người cao thượng, căm ghét kẻ sống thấp kém, hèn hạ, bất chấp thủ đoạn mưu lợi cầu danh. Hình ảnh người quân tử xưa chính là điển hình của lối sống trọng tình, trở thành nét đẹp trong truyền thống văn hóa. Người biết làm điều tốt, xa rời điều xấu luôn sống chính trực tất sẽ dễ thành công. Ngược lại, kẻ tham danh, tham tiền, xem trọng vật chất tất sẽ bị mọi người xa lánh, xem thường sớm muộn gì cũng nhận lấy thất bại nặng nề. Sống vinh quang tâm hồn sẽ được thanh thản, nguồn sống dạt dào, tinh thần trong sạch, nhân cách vững vàng dễ tìm thấy được niềm an lạc và hạnh phúc trong cuộc đời này. Muốn sống vẻ vang ta cần phải làm những gì? Yêu nước, thương dân, hết lòng phục vụ nhân dân, sẵn sàng hi sinh vì đất nước là vinh. Bán nước cầu vinh, làm hại Tổ quốc, phản bội nhân dân đó là nhục. Tuân theo pháp luật, tuân thủ nguyên tác là vinh; vi phạm pháp luật, bất chấp đạo lí là nhục. Sống vì người khác, sống mạnh mẽ, cầu tiến, có hoài bão, ước mơ, lý tưởng cao đẹp hướng đến tương lai là lối sống vẻ vang rất đáng được trân trọng. Còn sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân, tham danh cầu lợi, bất chấp đại nghĩa, tình thân, bỏ mặc người khác trong khổ đau, hoạn nạn, tư cách tầm thường, nhỏ bé là lối sống nhục nhã đáng bị lên án trong xã hội. Trong lao động luôn hăng say, cần cù, sáng tạo đem lại nhiều lợi ích cho xã hội tất sẽ nhận lấy thành công, có được vinh dự. Còn nếu cứ bảo thủ trong ngu muội, tham lam, lười biếng, thủ đoạn lừa gạt, ăn bám người khác đó là nhục nhã. Trong học tập luôn chăm chỉ, cố gắng, tự lực học tập, tuân thủ nôi quy, nguyên tắc đạt thành tích cao đso là vinh quang. Còn ngược lại, lười nhác, giả dối, vi phạm, ham chơi đó là nhục. Trong mối quan hệ với mọi người đoàn kết, gắn bó, tương trợ, thành thật tôn trọng chữ tín là vinh; lợi mình hại người, vong ân bội nghĩa, âm mưu hãm hại, tước đoạt quyền lợi người khác đó là nhục. Phê phán: Trong cuộc sống, có nhiều người chấp nhận sống hèn kém mà không chịu phấn đấu vươn lên. Họ xem những điều nhục nhã là chuyện bình thường. Họ ghét cái đẹp và sự cao thượng của nhân cách. Họ cũng luôn tìm cách hãm hại hay loại trừ những ai đạt được vinh quang trong cuộc sống. Những người như thế thật đáng chê trách. Bài học: Nhận thức được vinh liền nhục nên thận trọng từng việc làm của mình, luôn đặt lợi ích chung trên lợi ích riêng, không để bản thân, gia đình dòng họ chịu nhục. Quyết sống và hạnh động hết mình để bản thân, gia đình dòng họ, Tổ quốc được vẻ vang. Kết bài: Cuộc sống luôn công bằng. Cơ hội không dành riêng cho một ai mà dành cho tất cả. Sống vinh quang hay chịu tiếng nhục nhã là do bản thân ta. Chỉ khi tính cách ta đẹp đẽ, hành động cao thượng thì mới được trân trọng. và những kẻ không có liêm sỉ luôn bị mọi người xem thường và xa lánh. Cuộc sống bình thường không có gì sai. Nhưng để sống ý nghĩa thì phải làm được những điều vẻ vang. Nói được thì phải làm được. Điều đó rất cần thiết.
Suy nghĩ về hai chữ vinh và nhục trong cuộc sống hiện nay
1,019
Đề bài: Suy nghĩ về hai chữ "nhẫn nhịn" và "nhẫn nhục". Bài làm Trong hành trang bước vào đời của mỗi chúng ta, không thể không mang theo chữ “nhẫn”, cổ nhân từng nói: “Tiểu bất nhẫn tất loạn đại mưu", nghĩa là, đối với chuyện nhỏ, việc nhỏ mà không kiềm chế, nhẫn nại, chịu đựng thi sẽ làm hỏng việc lớn. Vậy “Nhẫn” là gì? — Nhẫn là nhịn, dằn lòng xuống. Nhẫn thường đi liền với các từ, nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục. Nhẫn nại có nghĩa là bền bỉ, chịu đựng những khó khăn nào đó để làm việc gì. Nhẫn nhịn chịu nhịn, chịu dằn lòng xuống. Còn nhẫn nhục nghĩa là dằn lòng chịu đựng những điều cực nhục. Tất cả đó là những biểu hiện tâm lí tự làm chủ bản thân rất cao trước những áp lực bên ngoài. Suy nghĩ về hai chữ "nhẫn nhịn" và "nhẫn nhục" Trong cuộc sống giao tiếp hằng ngày, rất ít khi tránh khỏi mâu thuần và xung đột. Không nên “việc bé xé làm to”. Nếu chuyện nhỏ mà cố chấp, không nhẫn nhịn, tự kiềm chế thì sẽ làm hỏng việc lớn, ông bà, cha mẹ thường khuyên bảo con cháu: “Một điều nhịn là chín điều lành”. Cổ ngữ có câu: “Tiến bất nhẫn bất thành đại sự” (không biết nhẫn nhịn chuyện nhỏ thì việc lớn không thành). Trong cuộc sống, có lúc ta phải làm ngơ trước những điều trái tai cũa những kẻ hung hăng, hiếu thắng. Có lúc bị “bắt nạt” một cách hồ đồ mà ta vẫn phải nén lòng nhẫn nhịn, chịu đựng, cho qua… Có nên tranh luận, cãi lí với những kẻ nóng nảy, ăn nói hồ đồ, thậm chí vô lễ không? Ta phải biết “tránh voi” nhưng có lúc lại cần tránh xa “con trâu lấm”. Mà loại “trâu lấm” trên đường đời rất nhiều. Câu “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, và câu “thấy cứt tránh ngang, có sang gì cứt!” là những câu tục ngữ chí lí nêu lên bài học về chữ “nhẫn”. Sách cổ ghi lại bao câu chuyện lí thú về chữ “nhẫn”. Thuở thiếu thời, Trương Lương (đại mưu sĩ của Hán Cao Tổ sau này) lúc đi ngang qua bến đò sông Xích Thủy đã gặp một ông lão người nhỏ bé, mắt xếch, ngạo mạn bắt “nhặt giày”, rồi còn bắt “xỏ giày” cho ông ta. Sau lời khen: “Tay này có cốt cách làm người”, ông lão lên giọng bảo: “Năm ngày sau, nhà ngươi hãy đến gặp ta ở bến đò!…”. Trương Lương rất khó chịu, nhưug vẫn nén lòng chịu đựng. Sau đó, phải hai lần ra đứng đợi ở bến đò vào lúc nửa đêm, Trương Lương mới được gặp “lão già quái gỡ!”. Sự nhẫn nhục, nhẫn nại đã đưa đến một điều bất ngờ hiếm có: Trương Lương được ông lão tặng cho quyển sách quý Binh pháp Thái Công. Lúc đó, Trương Lương mới biết ông già ấy là Hoàng Thạch Công, một tiên ông ở chân núi thành Bắc. Chuyện thứ hai nói về Hàn Tín bị anh bán thịt giễu cợt, chua cay, thậm chí còn bị hắn bắt chui qua háng. Trong bụng thì chua cay, tức giận, nhưng Hàn Tín vẫn nhẫn nhục nhất nhất làm theo lời anh hàng thịt trước những cặp mắt ngạc nhiên và những tiếng cười ré lên của hàng trăm người đi chợ có mặt lúc ấy. Vị đại tướng của nhà Hán sau này, lúc đó không phải là một thằng hèn, trái lại ông ta đã nêu cao chữ “nhẫn”, làm đúng lời dạy của người xưa “Tiểu bất nhẫn tất loạn đạo mưu”. Nhẫn nhịn, nhẫn nhục là một đức tính đẹp của người biết làm chủ bản thân, tự kiềm chế mình trước hoàn cảnh bất thuận, bất lợi. Có trường hợp bị người thân trách nhầm, bị bạn bè hiểu nhầm, rất dễ dẫn đến bất hòa. Lúc đó, nóng giận sẽ làm cho môi quan hệ bị rạn nứt, chẳng khiến cho mây mù tan nhanh, không làm cho gió xuân thành mưa. Phải bình tĩnh, hết sức bình tĩnh là ta sẽ tìm được cách “phá vây”, thoát ra khỏi tình trạng nặng nề, ngột ngạt! Nhẫn nhịn, nhẫn nhục không phải là sự nhu nhược đáng khinh. Trái lại, chính là biểu hiện của một phẩm cách tự tin, thể hiện ý chí vừa tự kiềm chế vừa kiên cường. Lan Tương Như, vị Tể tướng quyền cao chức trọng thời Chiến quốc, ở gia thất cũng như ở triều đình, ở đâu, tiếp xúc với ai, ông cũng lễ độ, nhường nhịn, khiêm nhường, cung kính. Nguyễn Công Trứ, nhà thơ lỗi lạc, vị đại quan thời Nguyễn, “lúc thủ khoa, khi tham tán, lúc Tổng đốc Đông…", “lúc bình Tây cờ Đại tướng”, có khi bị cách tuột làm lính thú, thế nhưng ông vẫn nhẫn nhục chờ thời. Ông từng nói: “lúc làm Đại tướng, ta không lấy thế làm vinh thì lúc là lính thú, ta cũng không lấy thế làm nhục!”. Giữa thời loạn, ông mang cốt cách một kẻ sĩ quân tử, một đấng trượng phu, lúc về trí sĩ, ông là “cây thông đứng giữa trời mà reo!” Bài học về chí nam nhi, chí anh hùng và bài học về chữ “nhẫn” mà ông nêu cao, cho đến nay vẫn còn được nhiều người ngưỡng mộ và giàu ý nghĩa nhân sinh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người anh cả của quân đội ta – cuộc đời và sự nghiệp cùa ông gắn liền những trang sử vàng chói lọi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chông Mĩ xâm lược. Nghe nói, từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX đến nay (năm 2010), trong tư dinh Đại tướng có treo một chữ “nhẫn” rất to, chắc do nhiều nguyên nhân, nhưng cái tâm đức của ông thật vô cùng trong sáng, được thiên hạ ngợi ca. Tóm lại, nhẫn nhịn là sự độ lượng, khiến cho đức trong, tâm sáng, lòng thanh thản. Người có thể tự kiềm chế, biết nhẫn nại là người sâu sắc, giàu bản lĩnh thể hiện một cốt cách trí tuệ, mưu lược, cao thượng. Ai cũng cần biết “nhẫn” trong cuộc sống. Tuổi trẻ cần biết “nhẫn” để rèn luyện bản lĩnh, để chờ thời cơ, để vươn lên lập đức, lập nghiệp.
Suy nghĩ về hai chữ “nhẫn nhịn” và “nhẫn nhục”
1,079
Suy nghĩ về hiện tượng mê chơi game online của học sinh ngày nay Hướng dẫn Hiện tượng mê chơi game online của học sinh ngày nay Mở bài: Game online là sản phẩm của sự tiến bộ công nghệ. Chúng ta không thể phủ nhận những tác động hữu ích của game online đối với đời sống con người trong việc sáng tạo và giải trí. Thế nhưng càng ngày, game online càng gây ra những tác hại vô cùng tệ hại đối với đời sống của chúng ta. Đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh. Thân bài: Loại hình nào cũng có hai mặt tốt và xấu. Vì vậy chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích của trò chơi điện tử. Nó rèn luyện trí nhớ, khả năng bao quát, phát triển đầy đủ trí thông minh. Mọt vài chương trình game còn rèn luyện khả năng tư duy, khả năng phản xạ, rèn luyện kĩ năng học ngoại ngữ cho học sinh. Đó là những lợi ích từ các trò chơi thông minh như giải ô chữ, đoán nốt nhạc…Chơi điện tử còn giúp ta giải trí sau những giờ học, làm việc mệt mỏi. Tuy nhiên, game cũng gay ra không ít tác hại. Nhiều bạn có thể bỏ ra hàng chục giờ ngồi bên máy vi tính, dán chặc mắt vào màng hình đẻ theo dỏi trò chơi điện tử. Chơi game không những làm hại cho bản thân và gia đình, xã hội. Nhiều học sinh vì mê game mà bỏ bê học hành, sức khỏe giảm súc tinh thần lúc nào cũng ưu tư, phiền muộn còn tốn kém tiền bạc vào trò chơi vô bổ… Một số bạn vì không có tiền chơi game mà dẫn đến hành vi phạm pháp. Ở Hàn Quốc có một bạn học sinh 13 tuổi do mê game online đã chơi suốt 5 ngày liền. Khi trở về nhà có những cử chỉ hành động khác thường. Đầu óc lúc nào cũng chứa đầy hoang tưởng. Khi bố mẹ cậu bé phát hiện thì đã quá trể. Hệ thần kinh của cậu bé dường như bị tổn hại nặng nề, không thể phục hồi được nữa. Không chỉ ở Hàn Quốc mà ở thành phố Hồ Chí Minh, cũng xảy ra nhiều trường hợp thương tâm. Học sinh chỉ vì chìm đắm trong những yêu thích nhất thời mà sẵn sàng vi phạm pháp luật. Vì vậy, các bạn chơi game phải biết kiềm chế và đấu tranh để thoát khỏi những cám dỗ của trò chs điện tử. Hãy xem game là một phần thưởng sau giờ học và chỉ nên chơi một cách hợp lý, kết hợp với trò chơi lành mạnh khác. Ngoài ra, các bậc cha mẹ phải có trách nhiệm quan tâm, nhắc nhở con cái có nhận thức và hành động đúng đắn đối với vấn đề game trong cuộc sống của mình. Kết bài: Đam mê một loại hình giải trí như game không hẳn là xấu. Có rất nhiều người đã thành công nhờ phát triển game hay chơi game online. Chỉ cần chúng ta biết tự điều chỉnh cho nó không ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngaỳ thì niền mê say giải thí đó là vô hạn.
Suy nghĩ về hiện tượng mê chơi game online của học sinh ngày nay
541
Đề bài: Anh chị suy nghĩ gì về hiện tượng môi trường đang xuống cấp nghiêm trọng ở nước ta hiện nay Bài làm Danh y cổ đại Hi-pô-rát từng nói: “Người thầy thuốc tốt nhất là bản thân thiên nhiên”. Nhưng chính thiên nhiên đã và đang bị tàn phá nặng nề khiến cho môi trường sống cùa con người ngày càng xấu đi nghiêm trọng. Cả thế giới đã gióng lên hồi chuông cảnh báo khẩn cấp về tai họa của môi trường đối với đời sống và sức khỏe con người, trong đó Việt Nam là một trong những nước đáng lo ngại nhất khi việc hủy hoại môi trường đã trở thành một vấn nạn nhức nhối trong cả nước. Suy nghĩ về hiện tượng môi trường đang xuống cấp Thực trạng môi trường ở nước ta hiện nay ra sao, nó đã bị xuống cấp như thế nào? Có thế nói là ở hầu hết các mặt, ở khắp mọi nơi, mọi lúc, thành phố nông thôn, rừng núi đồng bằng, sông hồ… đâu đâu cũng thấy môi trường bị phá hoại nghiêm trọng gây nên những tác hại khôn lường. Trước hết là nạn phá rừng ghê gớm của bọn lâm tặc cùng với những vụ cháy rừng trong những năm qua đã xóa đi không ít màu xanh trên bản đồ rừng của đất nước, và đấy chính là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt trong mùa mưa hàng năm, gây thiệt hại to lớn về tài sản và tính mạng của nhân dân. Một vấn nạn đang làm nhức nhối người dân cả nước hiện nay, đó là rác thải, nước thải và khí thải. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh… thì rác thải, nước thải, khí thải, bụi bặm và tiếng ồn đã vượt quá giới hạn cho phép, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân. Và chính các thứ rác thải, nước thải công nghiệp cùng với rác thải, nước thải y tế… đã giết chết nhiều dòng sông trong xanh, vốn là những nguồn nước trong lành cho con người và sinh vật sinh sống từ bao đời nay, như sông Thị Vải với vụ nhà máy Vê-đan ở Đồng Nai, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Đáy ở Hà Nội… Nhưng điều đau xót nhất lại chính con người là thủ phạm đã giết chết những nguồn sống mà thiên nhiên cho ta, đã hủy hoại không thương tiếc cái môi trường đã nuôi sống ta từ nhiều thế kỉ. Rác thải, nước thải không chi làm ô nhiễm những dòng sông mà còn hủy hoại cả môi trường đất trồng trọt và cả nguồn nước ngầm dưới lòng đất khiến cho nguồn nước sạch ngày càng ít đi. Ở thủ đô Hà Nội, các hồ chứa nước gần như bị lấp cạn kiệt làm mất đi chức năng điều hòa khí hậu, thêm vào đó những dòng sông thoát nước như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét và sông Lừ, vừa bị ô nhiễm trầm trọng vừa không làm được chức năng thoát nước dẫn đến tình trạng úng lụt mà trận lụt lịch sử tháng 11 năm 2008 là một thảm họa chưa từng có. Ở nông thôn, những nơi có làng nghề hoạt động, tình trạng ô nhiễm môi trường cũng xảy ra như vậy, bởi không có cách gì xử lí rác thải, nước thải và cũng không ai có ý thức làm công việc đó cả. Thiên nhiên đã cho ta khá nhiều điều tốt lành về môi trường sống, nhưng chính con người lại phá hủy những điều tốt lành đó và chúng ta đã phải trả bằng một giá khá đắt khi môi trường sống quanh ta không còn là môi trường xanh – sạch – đẹp nữa mà là một môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, gây tác hại lớn đến cuộc sống và sức khỏe của con người. Điều cần nói ở đây chính là ý thức gìn giữ và bảo vệ môi trường trong từng con người, từng công dân đối với đất nước, ngay từ những việc nhỏ nhất như không vứt rác ra đường, tập kết rác đúng chỗ, xứ lí rác đúng cách… đến những việc lớn hơn như trồng cây gây rừng, trồng cây xanh trong thành phố… Và quan trọng hơn nữa là quyết tâm của nhà nước, từ trung ương đến địa phương đế chặn dứng lại hiện tượng môi trường xuống cấp đó và từng bước cải thiện nó trong một chiến lược bảo vệ môi trường dài hơi với những biện pháp quyết liệt và hữu hiệu nhất.
Suy nghĩ về hiện tượng môi trường đang xuống cấp nghiêm trọng ở nước ta hiện nay
798
Đề bài: Em có suy nghĩ gì về hiện tượng nghiện ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét trong giới trẻ hiện nay? Bài làm Sinh động, mới mẻ, hấp dẫn,… đó là những gì mà công nghệ thông tin, công nghệ kĩ thuật số… đã mang đến cho đời sống con người. Nhưng bên cạnh đó, không ít những thành quả của khoa học kĩ thuật đang bị lạm dụng gây ra những hiện tượng “nghiện” đầy nguy hiểm. Hiện tượng nhiều học sinh, sinh viên hiện nay “nghiện” ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét cũng là một trong số những trường hợp đó. Về bản chất, chúng ta không thể phủ nhận những tác dụng to lớn của ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét. Ka-ra-ô-kè là một loại hình giải trí lành mạnh. Mỗi khi có dịp vui, bạn bè có thể cùng nhau đi hát ka-ra-ô-kê; âm nhạc, lời ca, tiếng hát có thể trở thành nguồn vui, tiếng cười giúp chúng ta giải toả căng thẳng, gắn bó thêm tình bạn bè bằng hữu. In-tơ-nét lại là một phương tiện thông tin vô cùng hữu ích. Sử dụng in-tơ-nét, chúng ta có thể nắm bắt nhanh chóng, cập nhật, sinh động nhiều thông tin trên nhiều lĩnh vực: y tế, giáo dục, khoa học, âm nhạc… Bạn muốn biết thông tin mới nhất về việc tuyển sinh vào lớp 10, vào các trường chuyên,…? Bạn muốn biết những thông tin nổi bật về mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội trong ngày? Bạn chỉ cần “click” vào biểu tượng In-tơ-nét trên màn hình máy tính. Từ đây, có thể áp dụng những tri thức quý báu ấy vào cuộc sống: vào bài học trên lớp, vào việc nghiên cứu, vào việc thực hành,… Mặt khác, in-tơ-nét cũng là phương tiện thông tin liên lạc tiện lợi: chỉ bằng một số tiền rất nhỏ chúng ta có thê trao đổi thông tin trực tiếp với bạn bè, người thân (qua Yahoo), nhìn rõ nhau qua Webcam),… bất kể là đang ở xa nhau nửa vòng Trái Đất. Tuy nhiên, cũng giống như một số thành tựu khoa học kĩ thuật khác, ở nhiều bạn trẻ, ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét bị lạm dụng và gây ra nhiều tác hại. Ở nhiều thành phố, thị trấn, thị xã,… có những dãy phố ka-ra-ô-kê dài hút mắt, có những cửa hàng ka-ra-ô-kê quy mô lớn chứng tỏ sự chuyên nghiệp của loại hình giải trí này càng cao, nhiều ngôi nhà mặt đường gần khu dân cư không bỏ qua cơ hội kinh doanh cũng mở hàng ka-ra-ô-kê,… Nếu chỉ đơn thuần là phục vụ nhu cầu giải trí lành mạnh, phục vụ những cuộc gặp gỡ bạn bè xả “stress”… thì đâu cần đến nhiều quán ka-ra-ô-kê như vậy? Mặt khác, những quán ka-ra-ô-kê dường như hoạt động cả ngày, đặc biệt là vào những buổi tối. Một câu hỏi đặt ra: giới trẻ có thực sự cần đến nhiều quán ka-ra-ô-kê như vậy để phục vụ cuộc sống của mình không? Sự thật đã trả lời cho chúng ta. Nhiều bạn trẻ đến với ka-ra-ô-kê như một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Bất kì một sự việc gì cũng là lí do để họ “đi ka-ra-ô-kê”. Sinh nhật, cuối tuần, quần áo mới,… Thực chất của những cuộc ka-ra-ô-kê như vậy là dịp để họ tụ tập, hò hét và… say xỉn! Có những cuộc hát thâu đêm, có những giọng hét-nhiều-hơn-hát, có những nhóm ra khỏi phòng hát không còn được một người tỉnh táo, họ thậm chí gây sự với ngay chủ cửa hàng,… Giá của những cuộc ka-ra-ô-kẽ như vậy lại không hể “mềm” chút nào. Nó liên tục tăng lên chóng mặt, giá cụ thể tuỳ thuộc vào chất lượng phòng hát, chất lượng âm thanh nhưng có lẽ không dưới bốn mươi ngàn đồng một tiếng. Vậy là đã rõ, những cuộc hát hò vô bổ như vậy chỉ là sản phẩm của những bạn trẻ không biết trân trọng sức lao động, không biết trân trọng đồng tiền, thậm chí coi những cuộc hát hò ấy như một thứ trang sức cho sự giàu có của cha mẹ mình. Đó là mục đích của họ sau mỗi cuộc ka-ra-ô-kê chăng? Lúc ấy, ka-ra-ô-kê đả trở thành kẻ đồng phạm của thói ăn chơi, đua đòi đáng lên án. Với in-tơ-nét, số bạn trẻ biết sử dụng những tính năng của chúng sao cho mang lại hiệu quả lớn nhất cũng chỉ chiếm thiểu số. Đến với những “quán nét”, một cảnh tượng không thể nào khác được là những những gương mặt trẻ tuồi đang căng thẳng, hồi hộp với bao trò game (trò chơi điện tử). Có thể kể đến vô số trò chơi như đế chế, MU,… Có những bạn ngồi lì trước máy quên cả ăn uống, ngủ nghỉ (đừng nói chi đến việc học hành). Lại có những bậc mà phụ huynh không thấy con về nhà, đã tốn bao công sức “truy lùng” rồi bất ngờ phát hiện cậu ấm “mai danh ẩn tích ở một quán “nét” và đang hào hứng với trò chơi điện tử! Không chỉ vậy, “ôm ấp” chiếc máy tính và mạng in-tơ-nét còn có những “đệ tử” trung thành của Yahoo. Họ lạm dụng chức năng của hệ điều hành này để ngày đêm chát chít với bạn bè, dĩ nhiên, câu chuyện của họ chỉ đơn giản là: “ăn cơm chưa? ăn rồi à? đang làm gì đấy?” rất vui vẻ! Nhưng điều nguy hiểm nhất là qua đây, nhiều bạn trẻ có thể “kết bạn” dễ dàng, yêu nhau dễ dàng và mắc bẫy cũng dễ dàng. Hàng trăm câu chuyện bị “lừa tình”, “lừa tiền” qua Yahoo không còn là chuyện lạ. Đó là những lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với những ai còn đang mù quáng với những câu chuyện, những lời tán gẫu qua một kênh ảo như vậy. Có những bạn đến với in-tơ-nét đơn thuần chỉ là để tải nhạc và “down” ảnh. Những đối tượng như vậy tưởng chừng vô hại nhưng kì thực trong hành động của họ lại tiềm ẩn những hiểm hoạ rất lớn. Chưa kể đến việc mất thời gian, tiền bạc và sức lực. Hãy xem đến những loại nhạc và loại ảnh họ tải về: “Em yêu! Nhớ anh không? Nhớ à? Đang làm gì đấy?”., những tấm ảnh ngoài luồng, những đoạn “clip” đen,… Chẳng phải chúng đang tiềm ẩn những hiểm hoạ làm suy thoái cả một thế hệ người hay sao? Giới trẻ sẽ yêu như thế nào, sống như thế nào khi lớn lên trong môi trường những ngôn từ nhạt nhẽo, thậm chí ngớ ngẩn; những tấm ảnh nhơ nhớp, nhầy nhụa như vậy? Việc "nghiện” ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét đang lấy đi sức lực, thời gian, tiền bạc và hơn hết là sự vô tư, trong sáng của tuổi trẻ. Sa đà vào những hoạt động như vậy, một điều dễ hiểu là những bạn trè ấy không có thời gian cho việc học hành, cho những hoạt động ngoại khoá bổ ích, hiển nhiên không có cả thời gian cho gia đình, người thân. Vậy rồi tương lai những người bạn ấy sẽ ra sao? Nguyên nhân của lối sống ấy bắt nguồn từ việc những bạn trẻ ấy chưa xác định được lí tưởng sống đúng đắn, họ ham vui chơi, đua đòi, lười biếng, và chỉ quen thói hưởng thụ. Sinh ra trong sự nuông chiều của gia đình, không biết trân trọng những giá trị chân thực của đồng tiền và quan trọng là không chịu học tập, rèn luyện đã biến họ trở thành những người Việt trẻ hư hỏng, đáng chê trách. Vậy thì trước lối sống sai lầm ấy của những bạn trẻ này, trách nhiệm thuộc về việc giáo dục của gia đình họ nhưng phần lớn là do việc tự nhận thức và quá trình tự rèn luyện của bản thân mỗi con người mà thôi. Ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét là những phát minh có ích cho cuộc sống con người nhưng nếu không biết sử dụng đúng cách thì chúng sẽ gây những tác hại vô cùng to lớn. "Nghiện” ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét là biểu hiện của sự tiêu cực khi sử dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật này. Tuổi trẻ chúng ta – thế hệ tiên phong trong nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ – không thể là những con nghiện, là những nô lệ cho ka-ra-ô-kê, in-tơ-nét hay bất cứ phương tiện máy móc nào khác. Các bạn trẻ, chúng là hãy là những chủ nhân thông minh của những thành quả khoa học kĩ thuật!
Suy nghĩ về hiện tượng nghiện ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét trong giới trẻ hiện nay
1,451
Suy nghĩ về hiện tượng tham nhũng trong câu truyện cười “nhưng nó phải bằng hai mày”- Văn lớp 10 Hướng dẫn Suy nghĩ về hiện tượng tham nhũng trong câu truyện cười “nhưng nó phải bằng hai mày”- Văn lớp 10 Bài làm Truyện cười dân gian Việt Nam là một phần tinh hoa văn hóa tuyệt vời của nhân dân ta từ thời xưa truyền lại cho con cháu hậu bối ngày nay. Nó thể thường mang tới những tiếng cười hài hước, xua đi những khó khăn mệt mỏi của con người. Bên cạnh việc mang tới tiếng cười cho con người những câu truyện cười dân gian còn thể hiện những lời nhắn nhủ châm biếm của người xưa với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội thời đó. Truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày” thể hiện cuộc đấu tranh vì lẽ phải của thời xưa, nhưng thực chất lẽ phải đó do đồng tiền quyết định. Truyện cười thể hiện cuộc mâu thuẫn giữa hai nhân vật Ngô và Cải, hai người uống rượu say rồi xảy ra xô xát, hai người kéo nhau lên quan để kiện. Ai cũng mong mình là người thắng kiện nên tối hôm đó cả hai cùng đi cửa sau tới nhà quan xử để tìm cách mua chuộc. Cải đến nhà thấy Lý đưa cho thầy Lý năm đồng và xin thầy Lý hãy giúp đỡ mình trên công đường. Nhưng một lát sau, Ngô cũng đi cửa sau tới nhà thầy Lý đưa thầy Lý tận mười đồng và mong phần thắng kiện ngày mai thuộc về mình. Câu nói của thầy Lý thể hiện sự trắng trợn ăn tham nhũng, hối lộ của quan lại xưa. Một người ăn bổng lộc của nhà nước, của dân để làm việc cho nhân dân, xử lý tìm ra lẽ phải nhưng lại đổi trắng thay đen một cách trắng trợn. Thể hiện sức mạnh của đồng tiền, tiền mới là lẽ phải của người tất cả mọi việc. Chính câu nói của thầy Lý xử kiện gây cười cho người đọc nhưng cũng gợi lên một sự thật phũ phàng đau xót của xã hội xưa đó chính là hiện tượng tham nhũng, ăn hối lộ của các tham quan xưa. Nó là tệ nạn nhức nhối cần phải loại bỏ khỏi xã hội để có một xã hội trong sạch, vững mạnh. Thông qua truyện cười này người đọc cũng cảm nhận được sự nhức nhối trong việc xử kiện của phần lớn quan lại thời xưa. Họ không quan tâm tới người dân vô tội mà chỉ quan tâm tới lợi ích của mình. Việc xử kiện đáng ra là việc vô cùng quan trọng nhưng lại vì đồng tiền mà bóp méo sự thật. Ngoài ra, Ngô và Cải đều đáng trách vì họ không có lòng tin vào công lý tự nguyện nối giáo cho giặc, ủng hộ tệ nạn ăn tham nhũng của quan lại. Hai người đều đi cửa sau, khiến cho quan tham có cơ hội thực hiện âm mưu tham lam của mình. Nhân vật Cải vừa mất tiền vừa bị đánh, đó chính là bài học vô cùng đau đớn sâu sắc với những ai có ý định đi cửa sau, dùng tiền để bóp méo công lý. Thì nhận lãnh hậu quả “gậy ông lại đập lưng ông” Là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần phải học tập chăm chỉ, củng cố kiến thức của mình để sau này có thể cống hiến góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh hơn. Truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày” phê phán thói hư tật xấu của quan lại thời xưa, chỉ trích châm biếm thói ăn tham nhũng của bọn quan tham trong xã hội. Cần phải loại bỏ hiện tượng này trong xã hội.
Suy nghĩ về hiện tượng tham nhũng trong câu truyện cười “nhưng nó phải bằng hai mày”- Văn lớp 10
642
Suy nghĩ về hiện tượng Tháng Giêng là tháng ăn chơi Hướng dẫn Suy nghĩ về hiện tượng Tháng Giêng là tháng ăn chơi Đối với không ít người, tháng giêng không phải là tháng “ăn chơi” mà là “tháng…” “ăn làm”. Họ vừa ăn Tết, vừa làm việc, nhiều trường hợp căng thẳng hơn cả ngày thường. Tết nhất vui vẻ nhân ngấm một chút men rượu, một bạn hiền trong bàn cao hứng “sửa một tí” mấy câu ca dao quen thuộc mà đọc thầm: “Tháng giêng là tháng ăn chơi. Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè. Tháng tư lẳng lặng mà nghe. Cái nghèo nó đến bên hè chói chang”. Đọc xong lại cùng nhàn đàm tại chỗ về câu thứ nhất, tạm viết ra đây. Đối với không ít người, tháng giêng không phải là tháng “ăn chơi” mà là “tháng…” “ăn làm”. Họ vừa ăn Tết, vừa làm việc, nhiều trường hợp căng thẳng hơn cả ngày thường. Đấy là những người tham gia hoạt động trong “nền công nghiệp phục vụ Tểt”. Hãy lấy ví dụ mấy ngày qua, những người đứng chân trong khu vực thương mại, bán hàng ở các siêu thị, các chợ đầu mối, chợ bán sỉ bán lẻ, eửa hàng thực phẩm rau quả có “rút chân” ra khỏi vị trí của minh để đi “ăn chơi” không? Chắc là chẳng thể. Vì nhu cầu xã hội và cung cách làm ăn đua tranh thời mới không cho phép những nhà quản lí ngưng “làm” để “chơi”. Họ phải điều hành nhân viên có mặt thường trực trên thị trường. Mồng 3 Tết năm nay các siêu thị của hệ thống Coop Mart bán cả chục tấn gà tươi nguyên con mỗi ngày cho khách tiêu dùng ở Sài Gòn. Thế đó, khi bộ máy của “nền công nghiệp Tết” vận hành theo nhịp thở gấp gáp của đời sống đô thị hiện đại thì nó không thể điềm nhiên dừng lại ở “mủi giờ” giao thừa để “ăn chơi” suốt tháng giêng. Mà như ta thấy, ngay hai ngày đầu năm mới, Vissan mở hàng sát sinh “hóa kiếp” cho hơn 500 chú lợn và bò để đưa thịt chúng ra thị trường “tươi sống”. Những cửa tiệm tạp hóa quanh năm bày bán cả trăm cả nghìn mặt hàng, đến mùng một, mùng hai nhiều chủ tiệm không muốn chờ ngày tốt để mở cửa bán tân niên, mà cứ thế theo đà “năm cũ rủ năm mới” nối liền một mạch đón khách ngay sáng sớm đầu năm. Mồng 3 mồng 4 tết, nhiều công ti như Bibỉca (Bánh kẹo Biên Hòa) hoặc Fahasa (Phát hành sách TP.HCM) đã sớm hoạt động. Bây giờ thử nhìn sang khu vực giải trí. Tuần đầu năm cả triệu lượt khách tìm đến các tụ điểm vui xuân, các công viên văn hóa như Đầm Sen, Suối Tiên, các nơi mở hội hoa xuân, bày cây cảnh như Tao Đàn, đường Nguyễn Huệ – TP.HCM, các điểm biểu diễn vãn nghệ, rạp hát, rạp chiếu bống, đại khái những chỗ nào đáp ứng nhu cầu vui chơi ba ngày Tết của dân. Ở những nơi đó, cả một guồng máy những người thưởng trực đảm đương nhiều phần việc khác nhau nhằm phục vụ cho kịp. Có chỗ khởi động công việc từ “trong tết” ra “ngoài tết”, sang cho tới “mồng 11, mồng 12”, mãi đến rằm tháng giêng chưa chắc đã dứt. Vì rằm tháng giêng lại sẽ bùng lên một loạt dịch vụ liên quan đến Tết Thượng nguyên của ngưởỉ Việt ta cũng là Tết Nguyên tiêu của người Hoa. Nào hương đèn, áo giấy, bánh trái, xe cộ, xăng dầu, đồ ăn uống… Có người tiêu thụ ắt phải có kẻ buôn bán. Nghĩa là có người vẫn “đi làm” chứ chẳng “ngồi chơi”. Ai chơi thì chơi, chứ không có người “làm” lấy gì để “chơi”. Như ai nấy đều biết qua hệ thống thông tin đầu năm, thì Tết này có ngót 3 vạn bà con Việt kiều về quê ốn Tết, và 140.000 khách nhập cảnh qua sân bay Tân Sơn Nhất, một số trong đó sẽ du lịch đó đây, lên Đà Lạt, ra Nha Trang, về Long Xuyên, Hà Tiên, viếng Hội An, Đà Nẫng, cư ngụ tại các khách sạn, đi lại qua các bến, ga, phố chợ… Cộng với số lượng người du lịch và khách vãng lai trong nước, nhu cầu sinh hoạt của tất cả họ đòi hỏi sô người làm việc đầu tháng giêng không thể vắng mặt. Sau Tết Bính Tuất, cùng với đồng nghiệp, vừa ắắt xe ra đường trong đầu tôi chợt lóe lên câu ca dao đã nhàn đàm với bạn: “Tháng giêng là tháng ăn chơi”, ừ, muốn ăn thì ăn, muốn chơi thì chơi, nhưng đâu chỉ “ăn chơi” suông, mà quanh ta đã bắt đầu khởi động nhịp quay nhanh của sinh hoạt đời mới. Trốt lại câu ca “tháng giêng ăn chơi” vẫn còn nguyên giá trị tinh thần gọi ta liên tưởng tới các phong thái làm việc điềm đạm từ tốn ngày xuân, cũng phản ánh phần nào sinh hoạt của một xả hội nông nghiệp xưa.
Suy nghĩ về hiện tượng Tháng Giêng là tháng ăn chơi
880
Suy nghĩ về hiện tượng tiêu cực trong thi cử hiện nay Hướng dẫn Tiêu cực trong thi cử làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng giáo dục Mở bài: Kiểm tra, thi cử là một hoạt động rất quan trọng diễn ra trong trường học và ngoài xã hội. Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá và thi cử nhằm phát hiện các điểm mạnh điểm yếu của từng người học. Qua đó điều chỉnh việc học tập và giảng dạy cho thích hợp. Thi cử cũng nhằm đánh giá phân loại và đảm bảo chất lượng đầu ra hay đầu vào của các chương trình giáo dục, bảo công bằng và hợp lý trong các cuộc tuyển chọn. Thế nhưng, việc kiểm tra, đánh giá và thi cử hiện nay vẫn còn nhiều điều bất cập. Hiện tượng tieu cực, gian lận trong thi cử diễn ra khá phổ biến. Nhất là trong giới học sinh hiện nay. Thân bài: Tiêu cực, gian lận trong thi cử là gì? Tiêu cực là hành động không lành mạnh. Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu giếm, làm trái với quy định. Hai hành vi này có tác động không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội. Hiện tượng tiêu cực, gian lận trong thi cử là những hiện tượng không lành mạnh diễn ra trong các kì thi dẫn đến kết quả, không đúng với thực chất. Biểu hiện tiêu cực trong thi cử: Học sinh quay cóp, trao đổi bài với nhau. Ở mức độ cao hơn, học sinh cố ý mang tài liệu vào phòng thi dưới nhiều hình thức tinh vi. Thậm chí, nhiều học sinh còn nhờ người đi thi hộ,… Phụ huynh mua chuộc giáo viên, cán bộ, đưa hối lộ bằng nhiều hình thức để được ưu ái hơn… Giáo viên bán đề, gợi ý đề, bán điểm, gạ tình đổi điểm, chấm bài thiếu trung thực. Nhiều giáo viên còn tự ý cho điểm khống… Hiện trang tiêu cực trong thi cử đang diễn ra hiện nay: – Tiêu cực trong thi cử là một căn bệnh trầm kha trong giáo dục, tồn tại dai dẳng và có xu hướng gia tăng hằng ngày, hằng giờ ở mọi nơi, mọi cấp, mọi người. – Tiêu cực trong thi cử đã là chuyện bình thường, là chuyện đương nhiên của những lần kiểm tra hoặc thi cử, thậm chí xã hội đã coi việc trung thực đồng nghĩa với thiệt thòi. Tác hại của việc gian lận, tiêu cực trong thi cử: – Không đạt được mục đích thi cử: cho kết quả thực chất, không đánh giá trình độ của người được kiểm tra dẫn đến hậu quả khôn lường: + Nếu thi cử là để biết trình độ học sinh mà giảng dạy, thì việc giảng dạy sẽ không sát với đối tượng, dẫn đến nguy cơ không tiếp tục được. + Nếu thi cử để chọn người thì người được chọn sẽ không đúng, không có khả năng làm việc, không đáp ứng nhu cầu của xã hội. + Nếu thi cử để công nhận bằng cấp thì bằng cấp không đúng với khả năng thật, dẫn đến xã hội không thật, đưa đến việc vạch chiến lược cho đất nước sẽ quá tầm. – Đối với người học: Nếu học sinh không coi thi cử là một công việc nghiêm túc, không coi học tập là một quyền lợi và nghĩa vụ của một người công dân để nỗ lực, mà chỉ trông chờ vào “sự bát nháo của trường thi” kiếm chác cho được mảnh bằng vào đời thì sẽ không có kiến thức thực tế, không đáp ứng nhu cầu xã hội, sẽ không tìm được việc làm, hủy hoại tương lai của chính bản thân, gia đình và xã hội. – Tác hại nghiêm trọng đến đạo đức con người: sống không trung thực, lừa dối, phỉnh nịnh… – Tác hại đến đạo học của đất nước: hủy hoại các nền tảng giáo dục, làm triệt tiêu động lực học tốt, dạy tốt và gây lãng phí tiềm năng sáng tạo của các thầy cô giáo. Nguyên nhân làm nảy sinh hiện tượng gian lận, tiêu cực trong thi cử: – Do học sinh lười học, thiếu trung thực, không có ý thức phấn đấu nhưng muốn có kết quả cao nên tìm cách “chạy” để có điểm đậu. – Do cha mẹ nhận thức sai lệch, gây áp lực, đẩy học sinh vào việc tiêu cực. Bản thân cha mẹ cũng không trung thực, muốn con có kết quả cao nên luồng lách vào những kẻ hở của quy chế thi để mong tìm một chỗ học tốt cho con em. – Do giáo viên “tạo điều kiện”, gợi ý cho học sinh tiêu cực, chạy đề thi, chạy điểm thi. – Do chương trình đào tạo, kiến thức giáo viên và cách truyền đạt kiến thức của giáo viên khó tiếp thu dẫn đến người học không thể tiếp thu được kiến thức nên phải tiêu cực mới đạt kết quả mong muốn. – Do cấp trên gây áp lực, đưa ra tỷ lệ, dùng tỉ lệ để đánh giá kết quả giáo dục của trường, của giáo viên. – Do công tác quản lí, giám sát chưa chặt chẽ, còn sơ hở; các quy chế, quy định quản lí đào tạo bất cập, yếu kém, thiếu khoa học. – Do xã hội quá coi trọng bằng cấp, ít chú ý đến thực chất, tài năng và phẩm chất trong công việc tuyển chọn và nhìn nhận, đánh giá một con người. Giải pháp khắc phục hiện tượng gian lận và tiêu cực trong thi cử: Cần có giải pháp đồng bộ từ trên xuống, từ trong mỗi gia đình đến xã hội: – Tuyên truyền để học sinh, sinh viên, phụ huynh thấy cần có năng lực thật sự để làm người, để có một nghề mới chính là giấy thông hành vào đời, chứ không phải bằng cấp có được do tiêu cực. – Không chỉ phát động phong trào chống tiêu cực trong thi cử như hiện nay mà không phải duy trì thường xuyên, không có kiểu đánh trống bỏ dùi. Ngành giáo dục cần tổ chức những kì thi tuyệt đối nghiêm túc. Cấm thi vĩnh viễn hoặc nhiều năm đối với những thí sinh vi phạm. Kĩ luật nặng hoặc cho thôi việc những giáo viên hoặc cán bộ tiêu cực. – Ngoài xã hội: Trước mắt cần sàng lọc cán bộ công chức, loại những người không có năng lực hoàn thành nhiệm vụ, dù có nhiều bằng cấp “đẹp” ra khỏi bộ máy. Không quá chú trọng đến bằng cấp khi tuyển dụng. Ý thức trách nhiệm của học sinh trong thi cử: – Chăm chỉ học tập, cương quyết nói không với tiêu cực trong thi cử. – Chân thành góp ý với bạn bè; tạo dư luận tích cực trong việc học tập và thi cử. – Mạnh dạn lên án hành vi tiêu cực trong thi cử của xã hội. Kết bài: Không di sản nào quý giá bằng lòng trung thực (William Shakespeare). Hãy luôn trung thực với bản thân, trung thực với mọi người bạn sẽ được trân trọng và yêu thương. Còn ngược lại, nếu cứ giả dối, gian lận sóm muộn gì cũng chuốc lấy thất bại nặng nề.
Suy nghĩ về hiện tượng tiêu cực trong thi cử hiện nay
1,215
Suy nghĩ về hạnh phúc trong cuộc sống Hướng dẫn Suy nghĩ về hạnh phúc trong cuộc sống Một buổi sáng tỉnh dậy, tiếng chim hót thánh thót ngoài hiên. Những ánh nắng yếu ớt của mùa thu đang bắt đầu lan tỏa, khiến tâm hồn tôi thênh thang, miên man theo làn gió nhẹ nhàng, chới với… Và tôi thấy rằng mình đang rất hạnh phúc, dù chẳng thể định nghĩa được hạnh phúc là gì… Không có một giáo sư hay một nhà bác học nào có thể đưa ra định nghĩa chính xác nhất về hạnh phúc. Bởi hạnh phúc là một dạng cảm xúc, mà cảm xúc lại muôn hình vạn trạng tùy thuộc vào tâm lý của mỗi người, mỗi cá nhân. Thế nên, thật khó để có thể cắt nghĩa được hai từ “hạnh phúc”. Với tôi, hạnh phúc đơn giản lắm. Cảm nhận những gì mình có, trân trọng và nâng niu nó. Ấy là hạnh phúc. Một ngày thức dậy thấy mình vẫn bình yên, lòng hạnh phúc biết bao. Bởi ngay lúc này đây, khi bạn với tay tắt chiếc đồng hồ báo thức thì trên giường bệnh lại có bao nhiêu người đang ước ao, đang khát khao được thức dậy một cách an lành như bạn. Thế nên, hạnh phúc đơn giản quá nhiều khi ta có mà không nhận ra. Giống như khi đói ăn, bạn mới thấy thèm ăn như thế nào. Còn khi no nê rồi, đồ ăn có ngon có đẹp mắt đến mấy chắc cũng không làm bạn háo hức. Hạnh phúc trong cuộc sống cũng vậy. Có những điều đối với bản thân mình là đơn giản, nhưng với người khác lại là cả một sự khát khao, hi vọng. Một người đau chân hẳn sẽ mong chân mình mau chóng được khỏe mạnh từng ngày. Còn người khỏe mạnh bình thường lại chẳng mấy khi nghĩ rằng mình đang sở hữu một đôi chân thật quý giá biết bao. Vậy đấy, hạnh phúc đơn giản lắm. Tất cả chỉ là do ta cảm nhận mà thôi. Càng với xa, hạnh phúc sẽ càng xa. Ngược lại, càng nhìn gần, hạnh phúc lại càng gần. Tuy nhiên, nói như vậy không phải để ta không cần cố gắng nữa, mà chỉ là hãy nhìn nhận lại một chút, hãy tận hưởng một chút. Hãy nâng niu, trân trọng những gì mình đang có. Đừng cố vươn xa quá mà bỏ lỡ mất những hạnh phúc đang ở ngay trước mắt mình. Hạnh phúc thật giản đơn, nhưng để giữ được hạnh phúc thì không phải ai cũng biết. Bởi người ta vẫn thường khao khát những gì mình chưa có mà quên đi hoặc coi thường những thứ đang ở ngay trong tầm tay của mình. Có được hạnh phúc rồi, hãy dưỡng nuôi hạnh phúc ấy bền lâu hơn, lớn lao hơn trong từng ngày trôi qua. Hạnh phúc là khi trở về nhà sau bao ngày xa cách được nhìn thấy cha thấy mẹ đang tươi cười đon đả đón chờ ta. Vậy hãy làm một người con thật ngoan, hãy chạy ngay lại bên cha mẹ, thủ thỉ những lời yêu thương. Bởi biết đâu một ngày nào đó ta sẽ chẳng bao giờ có cơ hội được ấp ôm, được níu giữ hình hài thân thương ấy nữa. Hạnh phúc là khi ta tự mình kiếm được đồng tiền bằng chính sức lao động của bản thân. Dù ít hay nhiều nhưng đồng tiền ấy cũng là thành quả thực sự của những gì mà ta đã cố gắng. Hạnh phúc là khi có một bàn tay đưa ra cho ta nắm trong lúc mệt mỏi rã rời. Là khi có một lời động viên cho ta đứng dậy ngay bên bờ vực thẳm của tuyệt vọng, của buồn đau. Đơn giản hơn, hạnh phúc là khi ta tặng cho em nhỏ một món quà, em ấy cúi đầu tươi cười nói lời cảm ơn. Là khi ta dắt tay một người khuyết tật băng qua đường giữa chốn phố xá đông người qua lại, người ấy được bình an và không quên nói lời cảm kích. Hạnh phúc là khi mỗi sáng mai thức dậy, ta thấy mình vẫn còn khỏe mạnh, bình yên. Và rồi, từ những điều hạnh phúc giản đơn ấy, ta suy nghĩ tích cực hơn, sống vui hơn, khỏe hơn mỗi ngày khiến cho hạnh phúc ngày càng đong đầy hơn, ý nghĩa hơn. Nhưng đâu phải ai cũng cảm nhận được, cũng hiểu được hạnh phúc chỉ đơn giản là như vậy. Có biết bao nhiêu người đang lao tâm khổ tứ vì những ước muốn cao sang, vì danh chức, vì uy quyền. Tất nhiên, sống là phải có mục đích, có sự nỗ lực, phấn đấu, nhưng phải biết làm thế nào để hài hòa, để cân bằng tâm lý. Không nên vì áp lực quá mà tự tạo ra cho mình những lề luật, những quy tắc quá khắt khe. Trong lúc người khác đang hít thở khí trời, đang thả hồn mình thưởng thức những cảnh sắc tươi đẹp của mùa xuân thì bạn lại đang lu bu với một núi công việc chỉ vì muốn được tiến thân. Biết rằng phải cố gắng, nhưng hãy dừng lại một chút để cảm nhận hạnh phúc, để nạp lại năng lượng cho bản thân mình thêm sức chiến đấu với những thử thách đang ở ngay phía trước. Sống có hoài bão, có ước mơ và biết theo đuổi những ước mơ ấy đến cùng cũng là một điều hạnh phúc. Nhưng để đạt được hạnh phúc, ta phải tự biết dưỡng nuôi tâm hồn mình, tự mình kiểm soát bản thân. Không vì quá mưu cầu tiền tài, danh vọng mà ép mình phải chạy đua với thời cuộc. Hạnh phúc suy cho cùng vẫn chỉ là một dạng cảm xúc. Ta cảm nhận hạnh phúc như thế nào thì nó sẽ trở thành như vậy. Và khi hạnh phúc đi đúng hướng, bản thân sẽ s tự sống tích cực hơn, vui hơn, có ý nghĩa hơn. Vì vậy, mỗi người mỗi ngày hãy dành ra cho bản thân mình một chút ít thời gian, chỉ cần ít thôi cũng được để cảm nghiệm về hạnh phúc. Để thấy rằng hạnh phúc vẫn đang ở ngay bên cạnh ta. Và bản thân ta mới chính là người mang lại hạnh phúc cho chính mình. Hạnh phúc – cho đến cùng vẫn không có từ ngữ nào có thể cắt nghĩa được. Nhưng để có cuộc sống hạnh phúc thì bất kỳ ai cũng có thể làm được. Sống chậm lại một chút, yêu thương và cảm nhận nhiều hơn. Hạnh phúc ắt sẽ đến từng ngày.
Suy nghĩ về hạnh phúc trong cuộc sống
1,132
Suy nghĩ về lòng nhân ái qua câu chuyện Ông lão bán rau Hướng dẫn Lòng nhân ái làm cho nỗi đau vơi cạn Mở bài: “Tất cả mọi thứ đều có thể nhìn thấy dưới ánh sáng của lòng nhân đức. Cái đẹp là hiện thực giản đơn được nhìn thấy qua con mắt yêu thương”(Evelyn Underhill). Nếu bạn đã sẵn có một tình yêu dành cho cuộc sống, dành cho mọi người, bạn sẽ thấy được vẻ đẹp của cuộc sống vốn tiềm ẩn trong những gì vốn rất gần gũi, bình dị và giản đơn nhất mà bấy lâu ta không hề nghĩ tới. Chuyện kể về “Ông già mù bán rau” khiến chúng ta không khỏi phải suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống này. Thân bài: Câu chuyện cảm động về Ông lão bán rau Chuyện kể rằng có một gia đình nọ rất quý mến ông lão mù nghèo khổ và rách rưới – người hàng tuần vẫn mang rau bán cho họ. Một hôm, ông lão khoe thấy trước nhà có một thùng quần áo cũ. Ông biết có ai đó đã mang cho ông và để ở đây. Dù nghèo khổ và cũng cần có số quần áo ấy nhưng ông đã dành nó cho một người nghèo khổ và cần nó hơn ông. Câu chuyện gản đơn nhưng đã khiến ta thấy ấm áp và thêm tin tưởng vào lòng tốt của con người. Tấm lòng thơm thảo của ông lão đem đến cho chúng ta bài học sâu sắc về tình yêu thương con người, lòng nhân ái trong xã hội vốn rất phức tạp và đa đoan này. Đọc kĩ câu chuyện, ta bất ngờ nhận ra, tất cả mọi nhân vật trong câu chuyên đều biết cảm thông trước những số phận bất hạnh và rộng lòng chia sẻ những gì mình có. Ở họ không hề toan tính, đố kị hay khinh ghét. Người mua rau âm thầm giúp đỡ ông lão bằng cách hàng tuần mua rau của ông một cách đều đặn hàng tuân. Và họ còn hồ hởi chia sẻ niềm vui với ông khi ông được biếu một thùng quà dù nó không nhiều giá trị. Người cho quà đã không xuất hiện bởi sợ ông lão sẽ từ chối tấm lòng ấy. Họ âm thầm làm điều tốt đẹp mà không cần phải báo đáp. Đẹp hơn cả là cách nghĩ, cách sống của ông lão. Dù hoàn cảnh không hơn ai nhưng ông lão đã biết chia sẻ với người khó hơn mình những gì ông có được một cách chân thành và trong sáng. Qua vẻ mặt rạng ngời, nụ cười vui vẻ và lời nói đầy hào hứng của ông lão, người đọc nhận ra ông rất đang hạnh phúc khi đã làm được điều tốt đẹp ấy. Ông thấy sự tồn tại của mình còn có hữu ích và càng thêm niềm tin tưởng vào cuộc sống. Nhìn ra cuộc sống, có biết bao con người từng ngày đã làm được những điều tốt đẹp như thế. Tại các bệnh viện lớn đều có bếp ăn từ thiện của các cá nhân, hội đoàn nhằm giúp đỡ người nghèo khó đang trong nghịch cảnh gian nan. Các nhà hảo tâm cũng thường đi thăm hỏi động viên và hỡ trợ những bệnh nhân nghèo khó. Chương trình vé xe miễn phí cho người nghèo, người cao tuổi, học sinh sinh viên đã nở rộ trong nhiều năm qua. Điểm phát bánh mì và nước uống miễn phí cũng lần lượt xuất hiện trên khắp các đường phố tạo nên một phong trào tương thân tương ai mạnh mẽ trong xã hội. Tấm lòng nhân ái tạo nên điều kì diệu cho con người, cho cuộc sống chung, là nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc ta từ xưa đến nay. Lòng nhân ái của người mua rau đã sưởi ấm cuộc đời ông lão bán rau trong nhiều năm, giúp ông có thêm nghị lực để vượt lên hoàn cảnh. Lòng nhân ái của ông lão lại truyền hơi ấm ấy cho một người khốn khó khác, động viên họ tiếp tục vươn lên, tiếp tục sống tốt. Chính tình yêu thương của mọi người đã khiến ông lão tin tưởng vào cuộc sống, tin tưởng vào con người, nó xoa dịu được vết thương cuộc đời ông, giúp ông tìm được nguồn sống tươi mát và chân thiện. Tình yêu thương có thể cứu con người trong tình cảnh ngặt nghèo, liên kết nhiều trái tim và khiến con người ở gần nhau hơn, gắn kết nhau bền chặt hơn. Thế nhưng, không phải ai cũng muốn làm như vậy. Trong cuộc sống có biết bao con người chỉ biết cái lợi ích của bản thân, sống vụ lợi, ích kỉ, chỉ biết thâu nhận, không muốn cho đi. Họ khinh thường người nghèo, xu nịnh kẻ giàu, mưu danh chuộc lợi trong từng hành động nhằm cố vụn vén cho riêng mình. Những người như thế thật đáng chê trách. Bài học nhận thức về lòng nhân ái: Hãy sống biết yêu thương, sống vì mọi người, sống tràn đầy niềm tin tưởng vào con người. Hãy học cách trao đi những yêu thương như hành động của ông lão bán rau. Mỗi hành động tốt đẹp đều mang đến sự hữu ích cho cuộc sống này và ngược lại cũng mang đến cho ta niềm vui, hạnh phúc và niềm tin tưởng vào bản thần, vào cuộc sống. Kết bài:
Suy nghĩ về lòng nhân ái qua câu chuyện Ông lão bán rau
924
Suy nghĩ về lòng đố kị Hướng dẫn Đề bài:“Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim”.(Edmondo de Amicis). Từ câu nói trên của nhà văn Edmondo de Amicis, em hãy nêu những suy nghĩ của mình về thói ghen tị của con người. Mở bài: Thói ghen ghét, lòng đố kị là một trong những thói hư tật xấu, làm hạ thấp giá trị của con người, làm cho mối quan hệ giữa ta với người khác không được tốt đẹp. Lòng ghen ghét, đố kị không nhưng làm cho bản thân khổ sở mà còn gây cho người khác nhiều khó khăn, trở ngại. Bởi thế, nhà văn Edmondo de Amicis đã từng nhắc nhở: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim”. Thân bài: Bằng hình ảnh so sánh độc đáo, nhà văn Edmondo de Amicis đã chỉ ra rằng thói ghen ghét, đố kị trước những thành công, tương lai, địa vị và những điều tốt đẹp mà người khác đang có chẳng khác nào như một con rắn độc từng bước đầu độc trái tim và khối óc, làm tha hóa tâm hồn, nhân cách, đạo đức của con người. Thói ghen ghét, đố kị làm cho con người trở nên ti tiện, nhỏ nhen, tầm thường, ích kỉ, tự hạ thấp giá trị bản thân mình. Phải biết rằng những thành công mà người khác có được đâu phải tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi từ mồ hôi, nước mắt, công sức lao động khó nhọc mà ra. Nếu ta chăm chỉ làm lụng, chịu khó học hành, trau dồi tài năng trí tuệ của bản thân mình thì ắt hẳn một ngày nào đó ta cũng sẽ thành tựu, có được những gì mình mong muốn. Thế nên, không nên đố kị, ghen tị người khác. Mỗi một người đều có những sở trường, sở đoản, mặt mạnh, mặt yếu khác nhau. Có thể họ tài giỏi ở một lĩnh vực nào đó và ta cũng vậy. Đừng ghen tị so đo mà tự chuốc lấy phiền não, rồi tỏ ra cau có, bực dọc đối với người khác làm cho mối quan hệ giữa ta với họ trở nên không còn tốt đẹp như trước. Những người như thế thật đáng bị chê trách. Một số người vì ghen tị với tài năng của người khác mà tìm đủ cách hãm hại, trù dập, không cho người đó cơ hội thăng tiến, phát triển tài năng, kìm hãm sự phát triển của đẩt nước. Phải phân biệt giữa thói ghen tị và thi đua. Thói đố kị, ganh ghét và tinh thần thi đua, cầu tiến giống nhau ở chỗ từ thành công của người khác khiến cho ta không hài lòng và vui vẻ. Nếu là người có lòng đố kị, ganh đua họ thường sẽ mỉa mai, gièm pha, khiêu khích. Nếu là người có tinh thần thi đua, họ sẽ lấy đó làm bài học mà phấn đấu vươn lên và vượt qua. Quyết tâm loại bỏ thói ghen tị, luôn vui mừng trước những thành tựu của người khác, không ngừng học hỏi, trao dồi, hoàn thiện nhân cách, tài năng của chính mình. Kết bài: Lòng đố kị là nguyên nhân dẫn đến sự dối trá. Sự dối trá lại mang đến tai họa cho bản thân. Bởi thế, hãy làm đúng như Edmondo de Amicis khuyên bảo: “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim”.
Suy nghĩ về lòng đố kị
625
Suy nghĩ về lý tưởng của thanh niên trong đời sống hiện nay Hướng dẫn Lý tưởng của thanh niên phải là lý tưởng yêu nước Mở bài: Thanh niên là lực lượng lao động chue yếu của xã hội. Thanh niên là lực lượng kế thừa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tương lai đất nước trở nen như thế nào tất cả phụ thuộc vào sự rèn luyện của thế hế thnah niên hôm nay. Bởi thế, để thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm ấy, mỗi thanh niên phải xây dựng lý tưởng sống cao đẹp. Lý tưởng sống của thanh niên không có gì khác ngoài lý tưởng yêu nước. Thân bài: Lí tưởng sống là gì? Lí tưởng sống là mục đích tốt đẹp, là ý nghĩa cuộc đời mà mỗi con người muốn hướng tới. Người có lí tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho bản thân, gia đình, xã hội, đất nước và nhân loại. Vai trò của lí tưởng sống đối với thanh niên: Lí tưởng quyết định sự thành công của con người trong cuộc sống. Lí tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho con người để đạt thành công. Lí tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống. Lí tưởng sống của thanh niên ngày nay hôm nay sẽ quyết định tương lai của đất nước. Thanh niên là người còn trẻ, đang độ tuổi trưởng thành; là những người có ước mơ, khát vọng tràn đầy, mãnh liệt; có thể phát triển, trí tuệ, tư duy cũng phát triển nên có khả năng thực hiện được hoài bão của mình. Thanh niên là những người chủ tương lai của đất nước như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Thanh niên là chủ thể của thế giới, là nguồn động lực giúp cho xã hội phát triển, là những người không ngừng được nâng cao về chất lượng; thể lực, trí tuệ ngày càng phát triển, được học hành cao hơn, tiếp thu nhiều với công nghệ hiện đại. Mỗi thanh niên sẽ có quan niệm của mình về lí tưởng, tùy thuộc vào hoàn cảnh, trình độ, cách sống của mình. Lí tưởng sống của thanh niên có nhiều mặt: lí tưởng chính trị, lí tưởng nghề nghiệp, lí tưởng thẩm mĩ,v,v…, thế nhưng nó luôn lấy lời dạy của Bác làm cốt lõi, nền tảng để phát triển để hướng đến: Chúng ta không một phút nào được quên lí tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta… Lí tưởng của thanh niên trong thời kì chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc: phấn đấu vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, tất cả cho Tổ quốc quyết sinh. Đã có hàng triệu thanh niên lên đường ra trận, dũng cảm chiến đấu, hi sinh cuộc đời thanh xuân nhất của mình, góp sức quan trọng, cùng toàn dân tộc đánh thứng hai kẻ thù hùng mạnh của thời đại là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, hoàn thành được sứ mệnh vinh quang bằng xương máu. (Con đướng của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác – Lí Tự Trọng.) Lí tưởng của thanh niên thời nay: Phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội toàn thắng, phải xây dựng Việt Nam trở thành một nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Thanh niên ngày nay phải lĩnh sứ mệnh vô cùng cao cả và thiêng liêng, sứ mệnh xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh và hội nhập kinh tế thế giới. Lý tưởng sống của thanh niên thời đại ngày nay: Một số thanh niên không có lí tưởng sống, hoặc lí tưởng sống mờ nhạt. Do được bố mẹ nuông chiều, thiếu sự giáo dục, hoặc do tác động của cơ chế thị trường, nhiều thanh niên lo ăn chơi, hưởng thụ, sống buông thả, sa vào các tệ nạn xã hội. Đại đa số thanh niên hiện nay không quay lưng với quá khứ của dân tộc. Họ thừa kế và phát huy truyền thống của các thế hệ đi trước đã khẳng định tiếng nói và lí tưởng sống của mình, ra sức phấn đấu trên những lĩnh vực cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh và hội nhập quốc tế: Tham gia chiến dịch mùa hè xanh: phong trào trí thức trẻ tình nguyện; thanh niên tình nguyện vì cộng đồng về nông thôn, miền núi giúp đỡ người nghèo, xây dựng cầu, đường; giúp đỡ thanh niên lầm lỡ hoàn lương, các hộ nghèo trong xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; tham gia giải quyết vấn đề dân sinh bức xúc tại địa phương… Thanh niên nên ra sức học tập, nhanh chóng nắm bắt khoa học công nghệ hiện tại ở mọi lĩnh vực để phát triển đất nước: những chiến thắng vẻ vang liên tiếp của đội tuyển Robocon Việt Nam, những tấm huy chương vàng, huy chương bạc từ những môn Olympic Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, trong những giải thể thao hàng đầu của châu lục và thế giới. Nhiều phong trào, nhiều cuộc vận động, nhiều công trình, nhiều dự án lớn đã thu hút hàng vạn thanh niên tham gia và tạo nên những thành tích lớn, thúc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và đổi mới toàn diện đất nước: giúp nhau lập nghiệp vì dân giàu nước mạnh, Xây dựng nếp sống văn minh đậm đà bản sắc dân tộc, 4 đồng hành cùng thanh niên lập thân, lập nghiệp, 5 xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc… Bài học nhận thức: Thanh niên phải xác định cho mình một lí tưởng cao đẹp. Ra sức phấn đấu để thực hiện lí tưởng đó: rèn luyện phẩm chất, nâng cao trình độ kiến thức, bồi dưỡng năng lực chuyên môn; xây dựng gia đình văn hóa gương mẫu, hòa thuận xây dựng đất nước, góp phần vào sự phát triển chung toàn cầu (nếu có cơ hội). Kết bài: “Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền”. Một khi ý chí đã quyết thì sức mạnh sẽ nảy sinh, tư tưởng sẽ kiên định, hành động sẽ vững vàng tiến tới. Yêu nước phải là lý tưởng của thanh niên bởi đất nước là cội nguồn của sức mạnh, là niền tin và tương lai của mỗi con người.
Suy nghĩ về lý tưởng của thanh niên trong đời sống hiện nay
1,147
Suy nghĩ về lối sống vô cảm của thanh niên hiện nay Hướng dẫn Vô cảm – mặt trái của tình thương yêu Mở bài: Thanh niên là nguồn lực lao động mạnh mẽ của đất nước. Thanh niên cũng là lớp người sẽ thay thế các bậc cha anh làm chủ đất nước. Thế nhưng, trong thanh niên nước ta hiện nay, một số cá nhân chạy theo lối sống vật chất, ngày càng trở nên ích kỉ và vô cảm. Không những thế, hiện tượng vô cảm có xu hướng lan rộng, ảnh hưởng đến nhiều người trong xã hội. Lối sống vô cảm là một vấn đề nan giải trong xã hội nước ta ngày nay. Thân bài: Vô cảm là gì? Vô cảm là không có cảm xúc, dửng dưng trước những sự việc, những hiện tượng xảy ra xung quanh mình. Xét từ góc độ tâm lí, vô cảm không phải là một căn bệnh mà là kết quả của quá trình tác động tiêu cực của gia đình, nhà trường và xã hội. Sống vô cảm là lối sống vị kỉ thiếu cởi mở. Người vô cảm thiếu sự nhạy cảm đối với những vấn đề xã hội, của đất nước. Họ không quan tâm, không chia sẻ với những người xung quanh. Thậm chí vô tâm trước lợi ích của người khác, của cộng đồng, của đất nước. Những biểu hiện của lối sống vô cảm trong thanh niên ngày nay Sống vô cảm là lối sống khá phổ biến ở khắp mọi nơi, mọi giới, mọi lứa tuổi. Nhất là ở tầng lớp thanh niên. Người có lối sống vô cảm thường bàng quan trước cái xấu, cái ác trong xã hội. Họ không phân biệt đúng – sai, phải trái. Họ cũng không dám tố cáo những hành vi sai trái, độc ác, gây tổn hại cho xã hội. Người vô cảm khi thấy người khác gặp khó khăn hoạn nạn thường ngoảnh mặt làm ngơ. Thấy người đang trong nguy kịch họ cũng dửng dưng như không. Trên đường phố, khi người khác xảy ra tai nạn, người vô cảm thường chỉ biết đứng nhìn. Họ vì tò mò mà đến xem chứ không phải để hỗ trợ giúp đỡ người bi nạn. Người vô cảm không những dửng dưng trước nổi đau của người khác mà còn không dám bảo vệ kẻ yếu thế. Họ không muốn liên lụy khi can thiệp hay hỗ trọ người khác. Đối với họ “an toàn là thượng sách”. Gặp người bị cướp trên đường, người vô cảm thường hay lánh đi. Thấy người khác làm việc sai trái hay phạm pháp, người vô cảm xem như không thấy. Họ luôn sống trong sợ hãi. chỉ biết lo an toàn cho bản thân, mặc kệ người khác. Người vô cảm sống theo kiểu thực dụng chỉ biết “nhận” chứ không biết “cho”. Họ ít không biết nghĩ về người khác. Họ bất chấp thủ đoạn, dù biết là vi phạm pháp luật, thuần phong mĩ tục, để đạt được cái mà mình cần, mình muốn bằng mọi giá. Bởi thế, người vô cảm thường hay lợi dụng công việc, lợi dụng người khác để chuộc lợi riêng mình. Người vô cảm không quan tâm đến những công việc chung của tập thể, của đất nước. Đối với họ, tập thể hay đất nước đều vô nghĩa. Chỉ có họ và lợi ích của họ là tồn tại. Nguyên nhân dẫn đến lối sống vô cảm: Trước hết là do sự phát triển của nền kinh tế thị trường với những quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của nó. Tư tưởng thực dụng đang ăn sâu, len lỏi vào trong đời sống của đại bộ phận các gia đình kể từ khi đất nước mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế. Cuộc cạnh tranh khốc liệt về việc làm và lợi ích khiến con người bất chấp thủ đoạn để đạt lấy lợi ích. Họ không quan tâm đến vấn đề tình cảm hay đạo đức nghề nghiệp. Bởi ai thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển di len. Ai thất bại sẽ gánh lấy nợ nần và nghèo khổ. Dân số tăng nhanh, trong khi việc làm không đáp ứng được yêu cầu. Bởi thế, để tìm kiếm mọt việc làm ổn định, có thu nhập cao người ta không ngại ngần bêu xấu, hãm hại lẫn nhau. Mặt khác, lối sống ích kỉ của người Việt Nam có ảnh hưởng không nhỏ đến căn bệnh “vô cảm” này. Người Việt vừa có lối sống cộng đồng cởi mở, lại vừa khép kín theo từng nhóm xã hội nhỏ. Nhóm này công kích nhóm kia nhằm giành lấy một lợi ích nào đó. Trước mặt thì niềm nở vui tươi vì tế nhị. Sau lưng thì xì xầm, chỉ trích vì không hài lòng hoặc đó kỵ. Cách giáo dục con cái trong gia đình cũng là nguyên nhân dẫn đến lối sống vô cảm của thanh niên ngyaf nay. Ngày càng có nhiều phụ huynh cưng chiều con quá mức cần thiết. Họ sẵn sàng đáp ứng tất cả những yêu cầu của con một cách vô điều kiện và thiếu suy nghĩ. Họ dạy con cái biết đề phòng và tránh xa cái xấu, cái ác. Nhưng lại không dạy con cái biết chia sẻ, quan tâm và sống có trách nhiệm với người thân, với bạn bè. Con cái tiếp nhận một chiều bởi thế ngày càng ích kỉ, vô tâm hơn. Phần lớn các bậc cha mẹ bận rộn với công việc, không thường xuyên quan tâm giáo dục con cái. Thậm chí, có gia đình còn ỷ thách con cái cho người khác chăm sóc và giáo dục. Xã hội nảy sinh quá nhiều vấn đề hệ trọng như tệ nạn xã hội, ma túy, trộm cướp, tham nhũng,… không còn thời gian quan tâm đến sự phát triển tâm lí và hành vi của giới trẻ. Thanh niên ngày nay ít được trang bị kĩ năng sống đầy đủ và cần thiết. Nội dung giáo dục trong nhà trường nặng về rèn luyện tri thức và kĩ năng nghề nghiệp. Chương trình giáo dục ít quan tâm đến văn hóa ứng xử và đạo đức đời thường. Đặc biệt là kĩ năng sống thân thiện, giàu tình yeu thương và năng lực kết nối cộng đồng. Phương pháp giáo dục nặng về những bài học đạo đức khô khan, thiếu thực tiễn. Vai trò của Đoàn, Đội còn nhiều bất cập, chưa đổi mới và chưa có sức hút các lực lượng thanh niên tham gia vào công tác đoàn thể. Do chính cách sống vô cảm của người lớn đã ảnh hưởng đến tính cách người trẻ. Ở nhà, nếu nghe cha mẹ nói chuyện, cư xử với những người khác theo kiểu thực dụng thì những đứa con cũng có cách sống thực dụng. Khi chơi với bạn, chúng sẽ tính toán xem mình được lợi gì. Ở trường, nếu có học sinh bị bạn bè ức hiếp, tẩy chay nhưng giáo viên không hề quan tâm, giúp đỡ, thì các em sẽ dần mất đi sự rung cảm trước mọi việc và thiếu lòng nhân. Một phần rất lớn xuất phát từ bản thân thanh niên. Họ thiếu năng động trong việc tiếp cận và tieps nhận các giá trị nhân văn trong xã hội. Họ lười biếng và ỷ lại gia đình. Trước cuộc sống tiện nghi, họ đua đòi, chạy theo lối sống thời thượng, không lo bồi dưỡng nhân cách, đạo đức. Họ thích giải trí tầm thường, không quan tâm đến nghệ thuật. Đặc biệt là loại hình nghệ thuật có tính giáo dục cao. Họ cũng chê bai các giá trị truyền thống, xem đó là lạc hậu, lỗi thời. Họ tiếp nhận và tôn vinh các giá trị văn hóa lệch lạc, tầm thường. Họ thần tượng những nhân vật mang tính giải trí nhất thời. Từ đó đạo đức bị suy thoái trầm trọng, lệch lạc cả trong suy nghĩ và hành động. Hậu quả của lối sống vô cảm đối với con người và xã hội Người sống vô cảm sẽ bị mọi người xem thường, xa lánh. Từ đó dẫn đến sống cô đơn, dễ bi quan, thiếu sức mạnh tinh thần để vượt lên trong cuộc sống. Sự vô cảm giết chết nhân cách và lý tương của con người. Lối sống vô cảm không phù hợp với xu thế sống hiện nay. Vì muốn thành công phải biết hợp tác, biết chia sẻ. Giải pháp khắc phục lối sống vô cảm, xây dựng một xã hội tràn đầy tình thương yêu Tạo một môi trường sống giàu tình yêu thương. Những người trong gia đình cần yêu thương nhau để thể hiện tình thương đó một cách chuẩn mực. Cha mẹ mẫu mực, con cái sẽ học hỏi và noi theo. Không chỉ là tấm gương tốt, người lớn trong nhà cần thường xuyên giáo dục tình thương cho trẻ bằng những việc hết sức cụ thể. Chẳng hạn như giúp đỡ người thiệt thòi, dẫn trẻ đến thăm trại mồ côi, mua vé số ủng hộ người khuyết tật mưu sinh… Nhà trường cần chủ động tạo điều kiện để trẻ tham gia lao động công ích, hoạt động xã hội, tham gia dã ngoại và các hoạt đọng ngoài trường học. Qua đó kết tình đồng đội, hình thành ý thức cộng động, khám phá vẻ đẹp thiên nhiên,… Những cách nghĩ, thái độ, hành vi vì cộng đồng cần được tuyên dương công khai, và những cách hành xử ngược lại phải bị phê phán. Thầy cô giáo không chỉ là người dạy mà còn phải thật sự sống cảm xúc để làm gương cho học sinh của mình. Xã hội nên quan tâm nhiều cho một người nhiều tin tưởng và đáng tin cậy để có lời khuyên hữu ích. Hãy lấy tình yêu thương con người làm mục tiêu xây dựng cuộc sống. Bài học nhận thức: – Ra sức học tập tri thức, rèn luyên nhân cách, nhân phẩm trở thành người hữu ích. Tích cực đem sức mình xây dựng hạnh phúc bản thân, đóng góp phát triển đất nước. – Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội để hòa nhập với cuộc sống chung của xã hội. Biết cảm đồng cảm, chia sẻ với những buồn vui của người khác. – Lấy tình thương làm lẽ sống, nâng cao lý tưởng sống vì công đồng, vì đất nước. Sống trong yêu thương sẽ tìm thấy hạnh phúc chân thực. Kết bài: Sống vô cảm là lối sống ích kỉ, lệch lạc và nguy hại. Cần phải xây dựng một lối sống hài hào, giàu lòng yêu thương, gắn kết bản thân với cộng đồng. Mỗi cá nhân sống tốt đẹp sẽ làm nên một xã hội tốt đẹp. Không có gì có thể gắn kết con người lại với nhau tốt hơn tình yêu thương giữa người và người trong thế giới này. Hãy làm những điều tốt nhát cho cuộc sống hôm nay để có một ngày mai tươi sáng hơn.
Suy nghĩ về lối sống vô cảm của thanh niên hiện nay
1,852
Đề bài: Cha ông ta có câu Học đi đôi với hành. Em hiểu lời dạy đó như thế nào Bài làm Học tập là công việc quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người. Nhưng cần học tập như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất? Cha ông ta từng căn dặn: “Học đi đôi với hành”. "Học" là một quá trình mà ở đó chúng ta tiếp thu kiến thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn của thầy cô. Học cũng có thể là một quá trình tự thân vận động. Quá trình ấy gọi là quá trình tự học: học trong sách vờ, tài liệu hay học trong cuộc sống. Nội dung học là các kiến thức nhân loại được chọn lọc (được phân loại thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) cùng với đó là các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng. Quá trình này nhằm đến một cái đích chung, đó là làm phong phú những hiểu biết của con người, giúp phát triển vẹn toàn nhân cách và đặc biệt việc học trang bị cho mỗi chúng ta những kiến thức, những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp để từ đó tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội đem đến lợi ích cho bản thân, cho gia đinh và cho đất nước. Như vậy, “học” ở đây được hiểu là gắn với vấn đề lí thuyết. Người học giỏi thường được hiểu là người nắm được nhiều nội dung lí thuyết. Bên cạnh đó, "hành" là thực hành, là quá trình vận dụng kiến thức vào cuộc sống, là đem những cái đã học được vào thực tế để kiểm tra độ đúng sai hay để làm sinh động nó. “Hành” có nhiều cấp độ: bắt chước người khác làm, làm lại theo những gì còn lưu trong trí nhớ, sáng tạo những cách thức hoạt động mới,… "Hành" được đến đâu, điều đó còn tùy thuộc vào tri thức mà bạn học được phong phú sinh động và sâu sắc đến bao nhiêu. Công việc của người nông dàn làm việc trên đồng ruộng rất khác với người kĩ sư nông nghiệp làm việc trong phòng nghiên cứu. Tương tự, người công nhân vận hành máy móc trong nhà máy về bản chất rất khác với nhà khoa học thí nghiệm trong phòng chuyên dụng,… Điểm khác ấy chính là mức dộ lao động của mỗi đối tượng. Ta có thể khẳng định: giữa học và hành, học có tính chất quyết định. Vốn tinh hoa tri thức nhân loại ta học trong hơn chục năm là có thể coi như nhận thức được đa số. Nhưng cả đời người không thể thực hiện lại một phần nhỏ những gì lớp lớp cổ nhân từng làm. Bởi vậy, phải có đầy đủ lí thuyết trước mới đảm bảo cho thành công của công việc. Đó là lí do vì sao ta cần học giỏi, nắm vững được những kiến thức cần thiết. Tuy nhiên, không thể tuyệt đối hoá vai trò của học bởi mục đích cuối cùng của mọi nỗ lực học tập là nhằm giúp mỗi người sống tốt trong xã hội con người. Vì vậy, học cần đi đôi với hành. Chúng là hai mặt thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau. Bởi như ta đã biết, nếu chỉ biết học lý thuyết mà không hề biết đến thực hành thì những lý thuyết ta học cũng chỉ là những tri thức chết, chúng không hề có tác dụng đối với đời sống. Đó là trường hợp nhiều học sinh Việt Nam đi thi học sinh giỏi quốc tế các môn khoa học tự nhiên. Chúng ta làm lí thuyết rất xuất sắc, thậm chí đạt điểm tuyệt đối. Nhưng khi thực hành, trong khi bạn bè các nước làm rất tốt thi chúng ta loay hoay hàng giờ, thậm chí phải bỏ cuộc. Đó cũng là trường hợp nhiều học sinh, sinh viên đạt kết quả học tập rất cao nhưng hoàn toàn không có kĩ năng sống thực tế. Họ không biết ứng xử sao cho hợp hoàn cảnh giao tiếp, không nấu được một bữa cơm, không tự viết nổi một lá đơn xin việc,… học như vậy chỉ phí phạm thời gian, công sức tiền bạc bởi thực tế học như vậy để làm gì nếu không thể ứng dụng vào đời sống? Như vậy, chúng ta không chỉ học lý thuyết mà còn phải biết áp dụng những lý thuyết đó phục vụ thực tế. Mặt khác, có lúc những lý thuyết chúng ta đã được học khi đưa vào thực hành lại gặp phải rất nhiều khó khăn. Vì vậy, chúng ta phải biết kết hợp vừa học lý thuyết, và thực hành nhuần nhuyễn những điều đã học. Có như vậy, thì những kiến thức chúng ta được học sẽ trở nên sâu hơn, giúp chúng ta nắm vững nguồn tri thức. Nếu chỉ học mà không thực hành thì tất cả cũng chỉ là lý thuyết. Chính vì vậy, học phải đi liền với thực hành, có như vậy ta mới có thể đem hết những gì đã học cống hiến phục vụ cho đất nước. Học đi đôi với hành, quan niệm ấy không mới bởi cha ông ta đã đặt ra vấn đề đó từ vài thế kỉ trước (Văn bản Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là một bằng chứng sinh động) song là đó kim chỉ nam cho phương hướng học tập, rèn luyện của mọi người, mọi thời. Trong xã hội, chúng ta cần phổ biến rộng rãi, hiệu quả cách học này để đạt hiệu quả học tập cao nhất.
Suy nghĩ về lời dậy “Học đi đôi với hành”
962
Suy nghĩ về lời khuyên của Macxim Gorki: Con người nên sống tốt hơn trước khi sống sướng hơn Hướng dẫn Mở bài: Ai cũng mong muốn có một cuộc sống sung sướng, có đầy đủ vật chất và tiện nghi, không bao giờ phải lo âu hay vất vả. Thế nhưng, điều đó không dễ dàng gì có được. Để có được một cuộc sống con người như mong ước, đã trải qua biết bao gian khổ, đã đánh đổi biết bao nhiêu giá trị. Người ta nhận ra rằng, hạnh phúc chưa hẳn do đời sống vật chất tạo ra. hạnh phúc đích thực là khi con người biết sống tốt đẹp và không ngừng nỗ lực tìm kiếm những gì mình cần. Khuyên nhủ về điều đó, M.Goocski cho rằng: “Con người nên sống tốt hơn trước khi sống sướng hơn” Thân bài: Sống tốt là sống theo đạo lí, sống theo pháp luật, sống có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và với xã hội. Sống tốt đẹp là sống có ý chí quyết tâm để thực hiện công việc và đặc biệt có lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẽ với mọi người. Sống sướng là sống hưởng thụ đầy đủ tất cả các nhu cầu về vật chất, về tinh thần, về tình cảm, về thẩm mĩ… Ý nghĩa cả câu: là lời khuyên về lẽ sống ở đời trong mối quan hệ giữa cho và nhận, giữa đóng góp và hưởng thụ, giữa cá nhân và xã hội. Sống tốt sẽ tạo nên môi trường sống thân thiện, chất lượng sống tốt hơn. Lối sống tốt đẹp tạo không khí làm việc thỏa mái. Nó khiến cho mọi người làm việc hiệu quả hơn. Con người sẽ năng động và có nhiều sáng tạo, nhiều pháp minh mới hơn. Sống tốt sẽ làm mọi người đồng cảm, chia sẻ nhau lúc khó khăn hoạn nạn. Chính sự đồng cảm sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần nhiều hơn cho bản thân, gia đình và xã hội. Từng người sống tốt đất nước sẽ văn minh, giàu đẹp. Từ đó mỗi công dân được hưởng phúc lợi cao hơn, cuộc sống cũng hạnh phúc hơn. Thành công chỉ đến khi bạn làm việc tận tâm và luôn nghĩ đến những điều tốt đẹp. Người ta chỉ sống trọn vẹn khi nào mình sống cho nhiều người khác. Những người thật sự hạnh phúc là những ai đã tìm ra cách phục vụ người khác. Người ta chỉ được sung sướng khi tích góp, nhặt cẩn thận từng mảnh vụn của hạnh phúc. Ý kiến của Macxin Gorki có ý nghĩa tác dụng lớn lao với hoàn cảnh sống hiện nay Lẽ sống đẹp, sống vì mọi người trước khi vì bản thân mình, sống là cho trức khi nhận sẽ giúp hạn chế lối sống vội vàng, chụp giật, dửng dưng, lạnh lùng, vô tình, bị tha hóa bởi cơ chế thì trường. Phê phán lối sống chỉ biết hưởng thụ, chỉ biết bản thân mình, lạnh lùng vô cảm Hưởng thụ là cần thiết để xã hội phát triển, để có sự cân bằng trong cuộc sống, nhưng không đóng góp mà chỉ biết hưởng thụ thì xã hội ngày càng nghèo. Đó là lối sống ích kỉ, chỉ biết nghĩ cho mình. Sống lạnh lùng, vô cảm sẽ bị mọi người xa lánh, cuộc sống sẽ cô đơn, dẫn đến bi quan, thiếu sức mạnh tinh thần để vươn lên, chất lượng sống giảm sút, đạo đức bị hủy hoại. Liên hệ bản thân: Lấy ý kiến của Macxin Gorki làm phương châm để sống. Phấn đấu để vượt lên tính vị kỉ, sống có ích cho xã hội, và cũng phấn đấu để cuộc sống mình trở nên sung sướng hơn.
Suy nghĩ về lời khuyên của Macxim Gorki_ Con người nên sống tốt hơn trước khi sống sướng hơn
625
Suy nghĩ về lời đề từ: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” của Lor-ca Hướng dẫn Suy nghĩ về lời đề từ: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” của Lor-ca Lor-ca là một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Từ nhỏ Lor-ca đã được coi là một thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật: thơ ca, hội họa, âm nhạc, sân khấu…. Ông vừa nồng nhiệt cổ vũ nhân dân đấu tranh với mọi thế lực áp chế, đòi quyền sống chính đáng cho con người, vừa khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật. Sự xuất hiện của Lor-ca cùng nhiều tài năng khác lúc bấy giờ khiến cho đời sống tinh thần của Tây Ban Nha và cả một vùng rộng lớn khu vực Tây Âu trở nên sôi động. Hoảng sợ trước ảnh hưởng xã hội to lớn năm 1936 chế độ phản động Tây Ban Nhân thân phát xít đã bắt giam và giết chết Lor-ca. Cái chết của Lor-ca đã dấy lên làn sóng phẫn nộ hết sức mạnh mẽ trên thế giới. Tên tuổi ông đã trở thành biểu tượng, ngọn cờ tập hợp các nhà văn hóa Tây Ban Nha và thế giới chiến đấu chống lại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại. Nhà văn Thanh Thảo tri âm, đồng điệu, ngưỡng mộ tài năng nhà cách tân nghệ thuật Tây Ban Nha giàu nhiệt huyết ấy. Ông đã viết “Đàn ghi ta của Lor-ca” để tái hiện vẻ đẹp bi tráng của Lor-ca khi ra pháp trường và những cách tân nghệ thuật còn dang dở của anh. Dòng cảm xúc xót xa, tiếc nuối về một nhà thơ thiên tài được chảy trôi theo những suy tư đa chiều, vừa sâu sắc vừa mãnh liệt của một hồn thơ cùng nét độc đáo trong phong cách thể hiện đã gây dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc. Trước khi chết, Lor-ca để lại di chúc: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. “Cây đàn” được hiểu là biểu tượng nghệ thuật của Lor-ca là những đóng góp của ông trên lĩnh vực nghệ thuật. Cây đàn cũng như Lor-ca chỉ có giá trị khi gắn với Lor-ca. Lor-ca không còn nữa thì sự sống của cây đàn, của những sáng tạo nghệ thuật cũng chấm dứt. Nhà thơ Thanh Thảo đã lấy câu nói đó làm lời đề từ cho bài thơ, như một thứ chìa khóa nhằm hướng tới người đọc hiểu thông điệp sâu xa của bài thơ chăng? Lời đề từ là tình yêu say đắm của Lor-ca với nghệ thuật, tình yêu tha thiết của ông với xứ sở Tây Ban Nha thì chưa đủ. Có lẽ ý nghĩa và ước nguyện sâu xa mà nhà thơ muốn gửi gắm qua đó là sự cách tân nghệ thuật. Nhà thơ không muốn thơ ca cách tân của mình trở thành vật án ngữ trong sáng tạo của thế hệ sau. Nghệ thuật phải được đổi mới không ngừng. Người cầm bút phải biết nối tiếp và nhân lên, vượt qua những sáng tạo của Lor-ca để vươn tới chân trời nghệ thuật sáng tạo hơn. Đừng để thần tượng của mình đổ bóng xuống tương lai, nền nghệ thuật sẽ đi dần vào lạc hậu, già cỗi.
Suy nghĩ về lời đề từ_ “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” của Lor-ca
579
Đề bài: Lấy chủ đề: Tự học mang lại nhiều ích lợi to lớn. Em hãy viết một đoạn văn bày tỏ những suy nghĩ của mình về vấn đề này Bài làm Tự học bạn sẽ có khả năng tập trung cao hơn, không bị phân tán vì ngoại cảnh lớp học, những câu chuyện của bạn bè,… Qua đó, bạn có điều kiện theo đuổi những mục đích học tập của mình và hoàn thành đúng kế hoạch. Thông qua tự học, người học rèn cho mình khả năng làm việc tự lực. Nếu học trên lớp bạn có thể mượn vở bạn chép bài, thậm chí quay bài bạn khi kiểm tra. Nếu học nhóm bạn có thể ỷ lại vào khả năng học tập của người khác. Nhưng tự học thì không. Để có được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, bạn phải tự đọc sách, tự thí nghiệm, tự làm bài, tự kiểm tra lí thuyết,… thậm chí tự liên hệ để tham quan học tập. Tức là “tự thân vận động” trong suốt quá trình học tập. Điều đó khá vất vả nhưng bạn sẽ được rất nhiều. Trước hết là ý thức và khả năng “tự lực cánh sinh”, độc lập trong lao động không phải dựa dẫm ỷ lại vào ai. Qua đó bạn sẽ tự tin, mạnh dạn, trưởng thành hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, trong quá trình tự học, bạn cũng sẽ có điều kiện xem xét đúng sức học, kiểm tra đúng trình độ của bản thân. Học trên lớp, học nhóm, quá trình kiểm tra đánh giá mang tính đại trà, chịu tác động của nhiều yếu tố: Sự trung thực của học sinh, độ bao quát kiến thức của đề bài, chút cảm tính trong cách đánh giá của giáo viên (ở các môn xã hội)… Vì vậy, sức học của người học được đánh giá qua đó chỉ mang tính tương đối. Nhưng nếu tự học, muốn tiến bộ thực sự, người học phải tỉnh táo, trung thực, đem so sánh những gì mình đã có được với yêu cầu của chương trình. Do đó việc đánh giá sẽ sát với tình hình thực tế hơn. Qua đây, ta dễ dàng nhìn ra được thế mạnh, điểm yếu của mình và tìm cách khắc phục. Tự học còn giúp chúng ta chủ động, linh hoạt về mặt thời gian. Bạn hiểu vấn đề này đã khá sâu, bạn có thể đi lướt. Vấn đề kia bạn chưa rõ, bạn có thể nán lại đầu tư hơn về thời gian. Bạn bị hổng kiến thức phần này hôm nay bạn sẽ học nó. Trong khi ấy, học trên lớp ta phải theo một chương trình cố định, khó thay đổi. Thời lượng cho mỗi vân đề eo hẹp, đôi khi cứng nhắc. Học nhóm cũng phái đáp ứng yêu cầu thời gian cho số đông, không thể vì cá nhân mà thay đổi. Đó là chưa kể đến việc học nhóm các bạn dễ sa vào “buôn chuyện”, đi sớm, đi muộn, lãng phí thời gian, vỡ kế hoạch. Rõ ràng, tự học bạn sẽ có khả năng tập trung cao hơn, không bị phân tán vì ngoại cảnh lớp học, những câu chuyện của bạn bè,… Qua đó, bạn có điều kiện theo đuổi những mục đích học tập của mình và hoàn thành đúng kế hoạch.
Suy nghĩ về lợi ích của việc tự học
566
Suy nghĩ về Lục Vân Tiên thời nay qua hai câu thơ: Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng Hướng dẫn Hình ảnh người anh hùng Lục Vân Tiên qua lời nói: Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng Mở bài: Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ xuất sắc, nhà yêu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Ông dùng ngòi bút sắc bén của mình để chiến đấu chống cái xấu, cái ác trong xã hội, mong ước xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ. Lục Vân Tiên là nhân vật lý tưởng, được ông trau chuốc và gửi gắm vào nhân vật này biết bao tình cảm và khát vọng lớn lao. Phẩm chất anh hùng và hiệp nghĩa của Lục Vân Tiên thể hiện rõ nét qua lời giải bày với Kiều Nguyệt Nga khi nàng có nguyện vọng báo đáp ơn cứu giúp của chàng: Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng. Từ nghĩa khí của chàng Lục Vân Tiên, chúng ta suy nghĩ về lối sống của con người thời nay thật khó phân giải. Thân bài: Khi ra tay đánh tan bọn cướp hung bạo Phong Lai, Lục vân Tiên chỉ nghĩ đến việc giải nguy cứu người và dạy cho bọn cướp một bài học đích đáng, bảo vệ dân lành chứ không hề nghĩ đến chuyện ơn nghĩa đáp đền. Lục Vân Tiên là đại diện cho công lí, đại diện của lý tưởng sáng ngời về lẽ công bằng ở đời. Đối với chàng “giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha”. Chàng đại diện cho những bậc anh hùng trong xã hội phong kiến, đề cao dũng khí, cam trường ra tay hành hiệp trượng nghĩa cứu người yếu đuối trừng phạt kẻ hung bạo: “Kiến ngãi bất vi vô dũng giả Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”. Với nhân vật Lục Vân Tiên nhà thơ đã xây dựng một mẫu người lý tưởng trong xã hội phong kiến đương thời trên nề tảng đạo đức Nho giáo. Cũng qua nhân vật này, ông muốn xây dựng một xã hội lý tưởng. Ở đó, cái tốt đẹp được coi trọng và ngưỡng mộ, người tài đức được trọng dụng, các oan khuất được giải minh. Ngày nay, tinh thần hiệp nghĩa ấy vẫn còn tỏa sáng trong cuộc sống, trở thành tấm gương điển hình của hành động dũng cảm cứu người khi lâm nguy, hoạn nạn, được nhân ca ngợi và đề cao. Báo chí đã đưa tin rất nhiều về hành động cứu giúp người hoạn nạn, bảo vệ tài sản của người gặp nạn của các “hiệp sĩ” ở Bình Dương. Họ xuất thân là những người chạy xe thồ, những người lao động bình thường. Họ không có chức năng thi hành pháp luật, cũng không có trách nhiệm phải bảo vệ người khác được nhà nước quy định. Thế nhưng, bất bình trước hành động ngang ngược, phạm pháp của bon cướp, các anh đã ra tay trấn áp chúng, bảo vệ tính mệnh và tài sản trước nhân dân. Không những thế, các anh còn tham gia đuổi bắt và truy tố chúng trước pháp luật để kẻ ác bị trừng trị, dân lành được bảo vệ, công lí được thực thi. Nhiều lần, bị bọn cướp hăm dọa, thậm chí là tấn công gây thương tích nhưng các anh vẫn giữ vững lí tưởng. Các anh chính là những Lục Vân Tiên can trường, dũng khí, quyết chiến đấu để bảo vệ lẽ công bằng trong thời đại mới. Chúng ta cũng không quên hình ảnh của MC Phan Anh rong ruổi trên khắp nẻo đường, tìm đến và hỗ trợ, cứu giúp đồng bào các vùng thiên tai luc lụt. Ở đâu có người khó khăn, anh đều tìm cách giúp đỡ họ vượt qua hoạn nạn. Không những thế, anh còn kêu gọi, vận động các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm, các tổ chức từ thiện, các doanh nghiệp, cá nhân có chung nguyện vọng cùng chung tay giúp sức tạo nên một phong trào tương trợ nhân ái rộng lớn trên khắp cả nước. Thế nhưng, trong cuộc sống vẫn còn lắm người thờ ơ trước nghịch cảnh khổ đâu của người khác. Cuộc sống tiện nghi khiến họ ngày càng trở nên vô cảm, vô tình. Họ chỉ biết lợi ích của bản thân mà bỏ rơi người khác trong khó khăn hoạn nạn. Thậm chí là còn tiếp tay cho kẻ ác. Trong thời gian qua, báo chí cũng đưa tin rất nhiều về những vụ “hôi của” của nhân dân khi các xe hàng gặp tai nạn trên địa bàn. Vụ tai nạn xảy ra khiến cho nhiều hàng hóa trên xe đỏ ra đường. Người dân vô tình vô cảm, không những không chung tay cứu giúp mà còn thản nhiên lấy đi hàng hóa mặc cho tài xế van nài thảm thiết. Đến khi lục lượng chức năng đến hỗ trợ người bị nạn, họ vẫn cứ tiếp tục hành động mà không chút xấu hổ. Đó là một thực trạng đau lòng, đáng tủi nhục. Cũng có nhiều vụ tai nạn giao thông xảy ra để lại cho ta nhiều suy nghĩ. Khi nạn nhân bất tỉnh, nhiều kẻ cơ hội cũng vây quanh nạn nhân, tranh thủ lấy đi những đồ vật đáng giá rồi bỏ mặt nạn nhân trong thương tích, không cần quan tâm họ sống chết thế nào. Đó là một hành vi tàn nhẫn, vô nhân đạo. Cũng có nhiều bạn trẻ không chăm lo học hành mà lêu lỏng, sống cuộc sống buông thả, hèn kém, trụy lạc trong các tệ nạn xã hội, thiếu ý chí, thiếu lý tưởng trong sáng. Họ chỉ biết đến bản thân, thậm chí là sống bản năng, tàn ác, dẫm đạp lên các giá trị đạo đức chuẩn mực của xã hội để thỏa mãn đời sống thấp kém của mình. Đó là những ung nhọt trong xã hội cần phải sớm được gỡ bỏ để xây dựng một cuộc sống trong sạch, vững mạnh, tiến bộ. Xã hôi càng văn minh, con người cần phải biết tôn trọng và thực hiện những nguyên tắc chung, biết sống vì mọi người, đề cao lòng nhân ái và tinh thần hiệp nghĩa. Phải tuân thủ và bảo vệ pháp luật, hướng đến bảo vệ cộng đồng. Tuổi trẻ cũng cần nỗ lực rèn luyện mình, ra sức học tập và nâng cao bản lĩnh sống. Biết đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, cái bất công, bảo vệ lẽ phải hướng đến lý tưởng cao cả. Kết bài: Không còn nghi ngờ gì nữa, để bảo vệ chính mình, bảo vệ cuộc sống của chúng ta, để công lí được thực thi và kẻ ác không có cơ hội gây ra điều ác thì mỗi người phải tự hoàn thiện bản thân mình, tăng cường đoàn kết tạo nên nguồn sức mạnh to lớn kiên quyết quét sạch cái xấu xa ra khỏi cộng đồng. Mỗi các nhân hãy là một Lục Vân Tiên đem sức mình xây dựng quê hương đất nước. Có thể bạn đang tìm kiếm: Suy nghĩ về lý tưởng của thanh niên trong đời sống hiện nay
Suy nghĩ về Lục Vân Tiên thời nay qua hai câu thơ_ Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng
1,224
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc sống Hướng dẫn Cuộc sống là biết cho đi và nhận lại Mở bài: Đức phật đã từng dạy chúng ta rằng gieo nhân nào, gặt quả ấy. Người cho đi của báu tất sẽ nhận được về của báu; người cho đi nghiệp ác tất sẽ nhận lãnh lại nghiệp ác. Ai cho vật khả ý thì nhận được điều khả ý. Trên đời có cho đi thì tất sẽ có nhận lại. Cho một cách thành tâm và nhận lại một cách trân trọng mới có thể tạo ra được phúc tốt duyên lành trong cuộc đời này. Thân bài: Cho và nhận một cái gì đó vốn là hoạt động thường thấy trong xã hội loài người. Chính việc cho và nhận có vai trò thúc đẩy các mối quan hệ xã hội được gắn kết và trở nên bền chặt. Cho là gì? Cho có nghĩa là trao cho người khác một cái gì đó có thể là vật chất tiền bạc, của cải,…) hoặc tinh thần (tình cảm, thái độ, …) nhằm thể hiện sự trân trọng, mến yêu, giao kết hoặc giúp đỡ họ. Cho đi là một hành động có tính tự chủ, tự nguyện và chủ động, phụ thuộc rất lớn vào người cho. Hành động cho đi thể hiện lối sống nhân đạo, nghĩa tình và ý thức trách nhiệm cao cả của con người trong mối quan hệ với xã hội. Nhận là gì? Nhận có nghĩa là nhận lấy, tiếp nhận, chấp nhận một sự giúp đỡ của người khác có giá trị về vật chất (tiền bạc, của cải, hiện vật,….) hoặc tinh thần (tình cảm, thái độ,…). Hành động nhận cũng mang tính tự nguyện, tự giác. Việc nhận một cái gì đó từ người khác thể hiện sự chấp thuận, trân trọng và hàm ơn của con người. Tại sao phải biết cho đi và nhận lại trong cuộc sống đẹp? Người xưa từng nói: “Tri túc tâm thường lạc. Vô cầu phẩm tự cao”. Nghĩa là biết bao nhiêu là đủ tâm sẽ được thanh tịnh, không cầu mong gì nhiều nhân cách tự tôn coa, sáng đẹp. Bởi thế, cuộc sống không nên có quá nhiều tham vọng bởi lòng tham vô đáy, không bao giờ ta chạm đến tận cùng giới hạn của nó. Càng tham vọng càng khổ đau hơn. Biết mình cần những gì cho cuộc đời thì tự nhiên ta sẽ hài lòng với những gì mình đang có. Nhưng không phải đợi đến khi ta có đủ, ta thỏa mãn với những gì mình có mới hào phóng cho đi mà hãy luôn dành một phần nào đó cho người khác còn khó khăn, vất vả, cần kíp hơn mình. Đối với ta, một phần giá trị nhỏ bé là phần dư thừa, hoặc chưa dùng đén thì có thể đối với người khác đó lại là tất cả nguồn sống, là món quà tặng quý giá, là phép màu giúp họ vượt lên nghịch cảnh. Một bình nước giúp người ta vượt qua cơn khát, một bát cơm làm no lòng kẻ lang thang, một lời động viên giúp con người vượt qua cái chết, một sự hi sinh để cứu lấy vạn người. Hãy luôn biết cho đi những gì mình có thể bởi bất kì một giá trị bình thường nào trong cuộc sống này đều luôn có ý nghĩa với một ai đó cần đến nó. Thế nhưng, không phải là cho đi tất cả những gì mình có để được nhận về lời khen ngợi vô nghĩa. Hãy cho đi những gì mình có thể để đảm bảo cuộc sống của mình và người thân trong gia đình được an toàn. Hãy cho đi với tấm lòng thành thật và không cầu mong nhận về sự đền đáp. Hãy cho đi một giá trị nào đó cho người cần có nó chứ không phải bất kì ai cũng nhận được. Cho đúng cách là một việc khó làm, cần có trí tuệ và lòng thương con người sâu sắc, cao thượng. Cho đi không đồng nghĩa với việc ta sẽ nhận lại một giá trị tương xứng. Đôi khi cuộc sống không phải vậy, không phải luật nhân quả lúc nào cũng có hiệu lực, người làm việc tốt chưa chắc sẽ nhận ại được duyên tốt, kẻ gây điều ác chắc gì sẽ phải nhận lãnh điều ác. Nhưng hãy tin tưởng vào điều đó. Nhận một điều tốt đẹp từ người khác thể hiện sự trân trọng, yêu thương và ghi ơn tấm lòng tốt đẹp của họ. Rất có thể giá trị đó ta chưa cần đến nhưng hãy nhận lấy một cách vui vẻ và trang trọng để người cho cảm thấy hài lòng, thấy hành động của mình có ý nghĩa mà vui sống trong cuộc đời. Người biết cho đi nhiều hơn, không mong gì sự đáp trả và chỉ nhận những gì mình cần là những người vị tha, sống vì nghĩa cả, vì lí tưởng cao đẹp, có trách nhiệm với xã hội. Cho nhiều hơn nhận xã hội sẽ tốt đẹp hơn về cả vật chất lẫn mối quan hệ giữa người với người. Không có trường hợp chỉ cho mà không nhận, vì sống trong xã hội không thể tiếp nhận những giá trị sống do xã hội mang lại, ít nhất là nhận những giá trị văn hóa của cuộc sống. Trước hết là phải ra sức học tập và rèn luyện tri thức. Có tri thức con người làm việc thành công mới tạo ra đưpực nhiều của cải từ đó có cơ hội giúp đỡ người khác. Liên tục rèn luyện nhân cách, bồi dưỡng nhân phẩm, xây dựng lối sống lành mạnh, nghĩa tình hướng đến người khác. Biết chia sẻ nỗi đau thương mất mát của người xung quanh. Biết động viên an ủi, cổ động, tạo động lực giúp người khác vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Tuyên truyền, biểu dương những tấm gương tốt đẹp về lòng vị tha, hào hiệp, mạnh thường quân, bố thí trong cuộc sống. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tích cực các hoạt động cứu giúp người khác. Biết trân trọng những gì người khác dành cho mình, không được xem thường, phung phí hay hủy hoại nó. Phê phán: Trong cuộc sống, có những người chỉ biết nhận lấy mà không cho đi điều gì. Họ tận hưởng các giá trị do người khác mang lại mà không làm nên điều gì tốt đẹp cho xã hội. Thậm chí là sống ích kỉ, chỉ biết dựa dẫm, ỷ lại vào người khác. Những người như thế thật đáng chê trách. Kết bài: Hãy luôn biết cho đi nhiều hơn và nhận lại ít hơn. Nhận nhiều hơn cho là người chỉ biết sống cho mình hoặc là người thiếu khả năng, bất hạnh cần sự bảo bọc của người khác. Đừng để lòng tham biến bạn thành người ích kỉ.
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc sống
1,168
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay Hướng dẫn Mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và tập thể Mở bài: Từ khi xã hội loài người hình thành và phát triển, mối quan hệ giữa các nhân và tập thể luôn được chú trọng và đề cao. Có cá nhân mới có tập thể và ngược lại, tập thể làm điểm tựa để mỗi cá nhân tồn tại và phát triển. Thân bài: Cá nhân là gì? Cá nhân là một con người đơn lẻ (cá = đơn lẻ; nhân = người, con người) được sinh ra và phát triển trong xã hội, thể hiện bằng một ý chí và nhân cách riêng biệt, thống nhất và độc lập ở mức độ nhất định với xung quanh; được xã hội công nhân và có đầy đủ các quyền hạn và nghĩa vụ của làm người. một đứa trẻ trong bụng mẹ hay một con người mất hết sự tự chủ về tinh thần thì không được công nhận như một cá nhân. Tập thể là gì? Tập thể là tập hợp của nhiều cá thể (hay cá nhân) có một sự liên kết hoặc ràn buộc nào đó với nhau về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn nhất định. Quy mô của tập thể có thể rất lớn (quốc gia, dân tộc) hoặc nhỏ hơn (đoàn thể, cơ quan, gia đình, nhóm,…) Cá nhân và tập thể có mối quan hệ tất yếu, tác động qua lại lẫn nhau: Cá nhân là đơn vị trực tiếp xây nên và là nền tảng cốt lõi của tập thể bởi tập thể chỉ xuất hiện khi có nhiều cá nhân liên kết lại với nhau dựa trên các mối quan hệ khăng khít về tinh thần và vật chất. Một cá nhân có thể không tham gia vào bất cứ tập thể nào, nhưng không có tập thể nào tồn tại mà không cần đến cá nhân. Tập thể không hề tồn tại với tư cách một thực thể hay một ý chí riêng biệt và thống nhất hoàn toàn như cá nhân. Sức mạnh của tập thể có được là do sức mạnh của mỗi cá nhân kết hợp lại. Ý chí hay lợi ích của tập thể cũng do mỗi cá nhân xây dựng và ngược lại mỗi cá nhân sẽ được bảo vệ, và nhận lấy phần lợi ích của mình. Cá nhân là bộ phận của tập thể, là nhân tố quan trọng để hình thành và phát triển tập thể. Nhiều cá nhân xuất sắc sẽ tạo nên tập thể mạnh. Nếu tất cả mọi người trong gia đình đều biết sống theo bổn phận mình thì gia đình đó chắc hẳn sẽ giàu có và hạnh phúc. Nếu đại đa số công dân biết sống đúng trách nhiệm và chức năng của mình, thì xã hội sẽ lành mạnh, tốt đẹp và cường thịnh. Cá nhân không thể tồn tại và phát triển một cách cô lập, xa rời tập thể. Cá nhân phải sống trong một tập thể, thể hiện bản sắc và khẳng định mình trong tập thể. Một cá nhân không thể làm nên sự nghiệp lớn nếu không có sự kề vai góp sức của mọi người. Một tập thể ổn định thì đời sống cá nhân cũng ổn định, vững vàng. Tại sao mỗi cá nhân phải tham gia và xây dựng tập thể vững mạnh? Kết hợp lại thành một tập hợp lớn hơn, mạnh mẽ hơn vốn là quy luật của tự nhiên. Việc hợp tác và góp chung công sức và tài nguyên với các cá nhân khác thay vì hoạt động đơn lẻ thường sẽ đem lại hiệu quả lớn hơn trong việc đạt tới các mục đích của từng cá nhân, trong đó có sinh tồn. Con người vốn nhỏ bé trước tự nhiên. Việc cảm thấy thuộc về và được bảo vệ bởi một tập thể lớn hơn thay vì phải tự chịu trách nhiệm toàn bộ đối với bản thân đem lại cho tâm lý cá nhân một cảm giác yên tâm và nhẹ nhõm phần nào. Con người luôn có nhu cầu giao tiếp và xây dựng mối liên kết với những cá nhân khác trong tập thể giúp thỏa mãn khát vọng yêu thương và chia sẻ của mỗi cá nhân. Tập thể chính là môi trường tốt nhất đảm bảo sự phát triển đúng đắn và bền vững đối với mỗi cá nhân. Tập thể còn là nơi để mỗi cá nhân thể hiện và khẳng định mình. Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể có thể là mối quan hệ mâu thuẫn nhau: Mỗi cá nhân trong tập thể tự chủ về bản thân nhưng phải tuân thủ và chịu sự ràng buôc nhất đinh của tập thể dựa trên các điều lệ, quy đinh hoặc pháp luật đã được thống nhất và công nhận. Khi cá nhân chỉ biết sống cho lợi ích của riêng mình, họ sẽ tìm cách để thu vén vào túi mình những nguồn lợi lớn nhất và thờ ơ trước những khó khăn của mọi người xung quanh. Đó là lối sống ích kỉ, đáng bị lên án. Những yêu cầu để đảm bảo mối quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân và tập thể: Để đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của cá nhân và tập thể thì tập thể phải được xây dựng trên nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa lợi ích, nhu cầu cá nhân với lợi ích, nhu cầu tập thể. Các nguyên tác phải được thảo luận và nhất trí của các cá nhân. Tập thể cần quan tâm đến cá nhân, đến việc thỏa mãn lợi ích và nhu cầu chính đáng của cá nhân; đến sự phát triển tài năng và phẩm chất của cá nhân. Bởi mục đích của việc hình thành tập thể là để giúp mỗi cá nhân có cơ hội làm việc, sinh sống và khẳng định mình. Cá nhân phải hiểu rõ và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với tập thể; bình đẳng trong tập thể, tôn trọng tập thể; có ý thức trách nhiệm trước tập thể về hành vi của mình. Và hơn hết, mỗi cá nhân phải lấy lợi ích của tập thể làm mục tiêu phấn đấu; bảo vệ và phát triển lợi ích chung, đảm bảo lợi ích và sự an toàn của người khác trong tập thể. Những vấn đề cần tránh trong quan hệ giữa cá nhân và tập thể là tuyệt đối hóa tập thể, đề cao qúa mức tập thể, bắt cá nhân hi sinh một chiều hoặc tuyệt đối hóa cá nhân một cách cực đoan theo ý muốn của một ai đó. Tránh làm dụng tập thể để thu lợi cho riêng mình. Đó được xem là hành vi phạm pháp và sẽ bị xử lí theo pháp luật. Trong sự nghiệp đổi mới đất, con người có tri thức và đạo đức vừa là vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội. Cá nhân con người có vị trí quan trọng, là một chủ thể sáng tạo ra các giá trị tinh thần và vật chất cho bản thân và cho xã hội. Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể ngày nay được hiểu rộng ra là sự hợp tác và hữu nghị không chỉ trong nước mà còn phạm vi quốc tế. Trong cơ chế hòa nhập ngày nay, cá nhân, đơn vị, cơ quan, tỉnh thành, quốc gia cần kịp thời nắm bắt cơ hội hòa nhập; nhưng trong sự hòa nhập đó không có sự hòa tan. Trong cái riêng có ngững cái chung và ngược lại. Tất cả vì tinh thần đoàn kết, hòa bình cùng phát triển và tiến bộ… Trách nhiệm của thanh niên hiện nay đối với tập thể: Có ý thức về cá nhân, biết khẳng định bản thân qua việc ra sức thực hiện ước mơ, hoài bão của mình bằng sự yêu thương, bằng những nỗ lực, phấn đấu học tập, lao động chứ không phải chỉ thỏa mãn những sở thích riêng của mình. Nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần trách nhiệm của mình trong tổ chức, đơn vị mình học tập, công tác và sinh hoạt. Sống theo phương châm: Mình vì mọi người, mọi người vì mình. Nên cho đi trước khi nhận được, vì cho đi ta sẽ được nhận về, dù có lớn hay không thì sự nhận về ấy vẫn luôn có ý nghĩa. Kết bài: Tất cả những điều có giá trị trong xã hội con người đều dựa vào cơ hội phát triển hòa hợp trong mỗi cá nhân. Nhưng công trạng của mỗi cá nhân chủ yếu là nhờ vào sức mạnh tập thể mà có. Vì vậy người có công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn. Khiêm tốn và rộng lượng. Biết phát huy năng lực cá nhân và không ngừng xây dựng tập thể là cơ sở làm nên thành công ở mỗi con người. Không có ai trong chúng ta mạnh bằng tất cả chúng ta.
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay
1,532
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa nói và làm trong cuộc sống Hướng dẫn Dám nói phải dám làm mới là người cao thượng Mở bài: Nói (trình bày) và làm (hành động) là hai hoạt động chủ đạo trong đời sống của xã hội loài người. Giữa nói và làm có mối quan hệ chặt chẽ, quyết định thành công của mỗi con người. Thân bài: Nói là gì? Nói là trình bày ý nguyện, tư tưởng, ước vọng, hoài bão. Biểu đạt trong giao tiếp của nói là lời nói. Làm là gì? Làm là thực hiện những điều ấy bằng hành động cụ thể nhằm mang lại một kết quả mong muốn nào đó. Vì sao lời nói phải đi đôi với việc làm? Quan hệ giữa nói và làm. Nói và làm có mối quan hệ mật thiết giữa lí thuyết và thực hành, phản ánh năng lực nhận thức và khả năng làm việc của con người. Nói định hướng cho việc làm; làm là hiện thực lời nói hướng đến kết quả. Nói và làm là sự phản ánh của lí luận và hành động, là hai quá trình căn bản của một hoạt động có mục đích. Một công việc được tiến hành luôn tuân thủ chặt chẽ hai giai đoạn này. Nói là khâu hình thành dự định, đánh giá dự định, vạch kế hoạch và trình bày kế hoạch để đi đến sự thống nhất chung trong tập thể. Làm là hiện thực kế hoạch ấy thông qua những hoạt động tương tác có mục đích nhằm tạo ra một hiệu quả nhất định. Trong tập thể, không thể chỉ có nói mà không làm. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nói đi đôi với làm là nguyên tắc đầu tiên trong ba nguyên tắc đạo đức cách mạng và cũng là nguyên tắc làm người. Nói thì phải làm, xây đi cùng với chống và tu dưỡng đạo đức suốt đời. “Nói thì phải làm” là thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm. Lời nói được minh chứng bằng việc làm và khẳng định bằng kết quả trong công việc. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. Trong tập thể, cũng không thể chỉ làm mà không nói. Lời nói giúp ta trình bày rõ ràng dự định, kế hoạch, ý chí và nguyện vọng trong công việc cụ thể nhằm thống nhất tư tưởng, ý chí và nguyện vọng của tập thể, kết hợp các nguồn sức mạnh để tiến hành công việc thuận lợi, đạt được kết quả tốt nhất. Lời nói đúng đắn giúp tập thể thấu hiểu, đồng tình, ủng hộ và hỗ trợ công việc cùng nhau đạt đến mục tiêu. Mối quan hệ giữa nói và làm sẽ là thước đo đánh giá phẩm chất đạo đức và tài năng của con người trong cuộc sống xã hội. Một người có phẩm chất đạo đức trong sáng, cao đẹp; có tài năng luôn biết quý trọng lời nói và kết hợp chặt chẽ giữa nói và làm. Họ không bao giờ lý thuyết suông hay hành động mà không có chủ đích. Bằng lời nói đúng đắn và hành động cụ thể, họ tạo được niềm tin tưởng, cảm phục và kính trọng ở người khác trong công việc và trong lối sống hằng ngày. Thực hiện nói đi đôi với làm là phát huy truyền thống đạo đức quý báu của dân tộc. Kế thừa và phát huy phẩm chất cao đẹp của cha ông là trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với đất nước. Phải làm gì để kết hợp chặt chẽ giữa nói và làm? Để kết hợp giữa nói và làm; giữ lí luận và hành động thực tiễn, trước hết phải ý thức rõ ràng trách nhiệm của mình trong công việc và trước tập thể. Mỗi cá nhân sẽ chịu trách nhiệm về hành động của mình. Khi nói phải gắn với những công việc, nhiệm vụ cụ thể, không nói chung chung, đại khái dẫn đến nói chung, ai nói cũng được, nghe thì hay, nhưng không biết thực hiện thế nào và ai sẽ chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện công việc. Nâng cao tri thức, bồi dưỡng nhân cách, tư tưởng tốt đẹp, xây dựng lối sống trong sạch, vững mạnh là điều kiện giúp ta thực hiện hiệu quả giữa nói và làm. Có tri thức chúng ta mới vững tin vào bản thân và đủ năng lực để biến lời nói thành hành động. Có phẩm chất và tư cách tốt đẹp giúp ta biết tôn trọng bản thân và người khác, sẵn sàng vượt qua khó hăn trong công việc để đạt đến thành công. Có lối sống lành mạnh giúp ta biết quý trọng lời nói, lời hứa, không hứa suông, hướng đến cộng đồng. Người lớn phải là tấm gương sáng về bài học nói và làm. Để giáo dục giới trẻ, những người lớn tuổi phải nói được làm được, biết giữ lời hứa, làm việc có kế hoạch và hoạch định rõ ràng, hướng đến kết quả cụ thể để làm gương cho thế hệ trẻ học tập và noi theo. Hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa nói và làm, phải nói thật và làm đúng; phải cần thận trọng khi nói và quyết tâm khi làm. Kiên quyết phê phán những kẻ chỉ biết nói mà không làm hoặc nói một đằng làm một nẻo. Trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người chỉ biết nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói đằng làm một nẻo. Họ dùng lời nói biện minh cho những việc làm xấu xa, hoặc xúi giục người khác làm điều sai trái, làm cho chân lí bị che khuất, sự thật bị xuyên tạc, cái ác được dung túng, khó phân biệt sai trái, tốt xấu… Đó là hành vi của người giả dối, ba hoa, xu nịnh và vụ lợi. Họ luôn gây mất niềm tin và thất vọng đối với mọi người, không đem lại lợi ích cho xã hội, thậm chí còn là nguyên nhân gây nên những mâu thuẫn trong cộng đồng. Cũng là những người biết làm việc máy móc, chỉ làm mà không nói. Họ hoặc là quá tin tưởng vào năng lực bản thân hoặc là ngu dốt, kiêu ngạo, xem thường ý kiến tập thể. Trong công việc, họ không vạch trước kế hoạch, không dự kiến trước những tình huống xảy ra, không tham luận tập thể để có cách đối phó hợp lí. Họ hành động chủ quan, mù quáng theo cảm tính. Cách làm như thế thiếu khoa học, nhiều may rủi, sẽ không có kết quả cao, thậm chí là gây nguy hiểm cho xã hội. Kết bài: Một người sẽ được tập thể tôn trọng, yêu mến và tin tưởng nếu kết hợp chặt chẽ giữa lời nói và hành động. Đừng bao giờ lạm dụng lời nói để nhận lấy niềm tin, ảo tưởng của người khác. Đừng bao giờ nói nhiều hơn những gì bạn có thể làm được. Hãy biết tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác, lấy hiệu quả công việc, lợi ích tập thể làm mục tiêu phấn đấu của hành động. Đó cũng chính là nguyên tắc căn bản, là phẩm chất của người thành công mà chúng ta thường bắt gặp trong cuộc sống.
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa nói và làm trong cuộc sống
1,252
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc trong cuộc đời mỗi con người Hướng dẫn Mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc Mở bài: Cân bằng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần để đạt đến giá trị sống cao nhất trong cuộc sống vốn là vấn đề được nhiều người quan tâm. Một trong những khía cạnh đó là mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc. Trong cuộc sóng, tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ không thể tách rời. Thân bài: Tiền trong vấn đề cần bàn luận không chỉ là tiền bạc mà còn có nghĩa rộng là chỉ của cải vật chất nói chung. Tiền là mọi giá trị vật chất có tác động trực tiếp lên đời sống của con người. Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hiểu một cách đơn giản, hạnh phúc là nói về niềm vui, sự sung sướng, sự thỏa mãn của con người cả về đời sống vật chất và tinh thần. Chúng ta không thể phủ nhận giá trị của tiền bạc vật chất đối với cuộc sống con người. Thế nhưng cũng không nên quá đề cao giá trị của hạnh phúc. Hiểu đúng vai trò của tiền tài, của cải và vai trò của hạnh phúc sẽ làm nên giá trị sống trong cuộc sống con người. Yếu tố tiền bạc rất quan trọng trong đời sống. Tiền bạc xây dựng nên những điều kiện sống cho con người. Có tiền của, con người đỡ vất vả, đỡ khổ hơn. Không có tiền con người sẽ vất vả, khổ đau, dễ sa ngã. Tiền bạc giúp con người thực hiện được ý tưởng trong cuộc sống (muốn nghiên cứu khoa học, có tiền mua sắm trang thiết bị nghiên cứu, muốn phát triển sản xuất, có tiền mua sắm nguyên vật liệu…) Tính chất hai mặt của đồng tiền: nhiều khi vì lợi ích vật chất mà bỏ rơi nhân cách (có người làm giàu bằng mọi giá nên làm những điều gian dối: lừa bạn bè, làm hàng giả…) Vai trò của hạnh phúc trong cuộc sống: Yếu tố tinh thần, tình cảm quan trọng trong đời sống (hạnh phúc làm cho tâm hồn, tình cảm trở nên phong phú, con người có niềm vui, niềm lạc quan, yêu đời). Được sống trong hạnh phúc, giúp con người có sức mạnh vượt qua những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống. Hạnh phúc giúp con người có thêm nghi lực và niềm tin yêu đối với công việc, với cuộc đời. Hạnh phúc làm cho con người trở nên tốt hơn. Con người hạnh phúc biết quý trọng người khác, sống vị tha, nhân hậu, nhìn cuộc đời thấy đẹp hơn, đáng yêu hơn, có ý nghĩa hơn. Đồng tiền chân chính góp phần tăng thêm hạnh phúc. Bằng sức lao động chân chính, con người làm ra của cải, vật chất, sự giàu có về vật chất làm phong phú đời sống tinh thần, tình cảm. Tiền không mua được tất cả. Hạnh phúc không mua được bằng tiền. Tiền có thể mua bán, trao đổi những sản phẩm vật chất, không mua bán, trao đổi được những giá trị tinh thần, tình cảm. Có người sống trong sự giàu có về vật chất nhưng nghèo về đời sống tâm hồn, tình cảm, vì vậy cũng không có hạnh phúc. Như nhà triết học Heraclitus nói: “Nếu thỏa mãn vật chất là hạnh phúc thì ta có thể xem con bò là hạnh phúc…” Hạnh phúc chính là thứ tình cảm vô giá, không thể dùng tiền để mua. Con người tự xây dựng hạnh phúc bằng sự hiểu biết, bằng tình yêu thương. Đổ vỡ hạnh phúc là đổ vỡ tất cả. Giữa hạnh phúc và tiền bạc có mối liên hệ biện chứng. Không vì quá đề cao các giá trị tinh thần mà xem thường tiền bạc. Bởi tiền bạc là đại điện cho các giá trị quy đổi của vật chất. Không có tiền bạc thật khó xây dựng được một cuộc sống đầy đủ, bình yên và hạnh phúc. Cũng không nên vì tiền bạc mà đánh đổi tất cả. Một khi con người quá tôn sùng các giá trị vật chất và đề cao tiền bạc sẽ có nhận thức sai lệch về hạnh phúc ở đời. Nên nhớ rằng tiền bạc chỉ là một phương tiện, nó không thể thay thế cho những giá trị ình cảm đích thực mà con người cần có trong cuộc đời mình. Kết luận:
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc trong cuộc đời mỗi con người
773
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc Hướng dẫn Sự gắn kết chặt chẽ giữa tiền bạc và hạnh phúc trong đời sống con người Mở bài: Thỏa mãn về vật chất và đời sống tình cảm hạnh phúc là hai nhu cầu lớn nhất của con người. Có thể nói trọn cuocj đời người luôn xoay quanh hai giá trị ấy. Bởi thế, tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ chặt chẽ. Thiếu một trong hai thứ ấy, con người sẽ không thể sống trọng vẹn cuộc đời ý nghĩa. Thân bài: Tiền bạc là gì? Tiền bạc là phương tiện mua để bán, trao đổi. Nói rộng ra, nó là của cải vật chất mà con người có được. Tiền bạc tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau như: vàng bạc, tiền giấy, tài khoản hay các vật chất có giá trị khác. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là trạng thái hoàn toàn mãn nguyện trong tâm hồn về mọi phương diện trong cuộc sống. Hạnh phúc là một khát vọng tự nhiên và chính đáng của con người. Giữa tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tiền là phương tiện gây dựng hạnh phúc. Hạnh phúc là giá trị quan trọng cần hướng đến trong cuộc đời con người. Tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ tác động lẫn nhau: Tiền bạc đem lại hạnh phúc: Tiền bạc là phương tiện cần thiết để mang lại cho người ta cuộc sống xứng đáng và phẩm giá con người: Tiền bạc giúp thỏa mãn những nhu cầu vật chất tối thiểu của con người trong cuộc sống như thực phẩm, áo quần, nhà ở, dịch vụ chăm sóc sức khỏe… Nếu những nhu cầu tối thiểu này không được đáp ứng, chúng ta sẽ không thể sống bình thường được. Tiền bạc giúp ta tự tin thực hiện được những mong muốn của mình, giúp ta cảm thấy được tôn trọng, được độc lập, có bạn bè và công việc ưa thích. Đối với những người có xu thế hướng ngoại, thích khám phá và hưởng thụ cuộc sống bên ngoài, thích hội họp, ngoại giao, coi tiền bạc là một giá trị của cuộc đời thì càng kiếm được nhiều tiền họ càng hạnh phúc. Hạnh phúc là cơ sở tốt để làm ra tiền bạc. Khi con người ta hạnh phúc, tinh thần thoải mái, đầu óc sáng suốt sẽ nảy sinh nhiều ý tưởng hay, nhiều hoạch thiết thực, và do đó sẽ kiếm được nhiều tiền hơn. Tiền bạc và hạnh phúc không lệ thuộc với nhau. Tiền bạc không mang lại hoặc không thể mua hạnh phúc trọn vẹn. Hạnh phúc không tùy thuộc vào số tiền ta nắm trong tay, mà ở những cảm nhận ta có được qua từng ngày sống của mình: Đối với những người sống nội tâm, chủ trương đi theo lối sống tinh thần thanh cao chẳng màng đến những lợi lộc vật chất tầm thường, đam mê trong công việc, coi công việc là giá trị cuộc sống, thì việc kiếm nhiều tiền bạc không phải là niềm hạnh phúc của họ, thậm chí nó còn trở thành một nỗi phiền toái. Nếu làm việc chỉ vì tiền thì công việc đó mất đi tính thú vị và còn tạo nên sự mặc cảm, dằn vặt và do đó không còn cảm thấy hạnh phúc. Tiền bạc cũng tạo nên những áp lực nặng nề, gây những stress và làm cho các mối quan hệ của con người trở nên tồi tệ, đôi khi làm cho nhiều người trở thành cô đơn, khổ sở. Tiền bạc có thể phá vỡ hạnh phúc trong chốc lát Không nhất thiết cứ phải có thật nhiều tiền bạc, chỉ cần say mê với một thú vui tinh thần nào đó, bạn cũng đã tìm thấy được nhiều hạnh phúc. Tiền là gốc rễ của quỷ dữ, nó có thể phá hủy bất cứ mối quan hệ nào trong xã hội, dù là bạn bè, gia đình, đồng nghiệp hay vợ chồng. Không nhất thiết cứ phải có thật nhiều tiền bạc, chỉ cần say mê với một thú vui tinh thần nào đó, bạn cũng đã tìm thấy được nhiều hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là chúng ta có bao nhiêu tiền, cũng không phải những tươi đẹp trôi qua trong quá khứ hay những hi vọng hão huyền vào tương lai. Hạnh phúc thật sự là ở chỗ ta sống với hiện tại và ta đang có hạnh phúc như thế nào. Chính tiền bạc đã tạo nên sự bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa người và người, triệt tiêu tình người, làm con người trở nên xa lạ với nhau, do người có tiền tự kiêu, người không có tiền tự ti, tự ái. Phê phán: Trong cuộc sống, có nhiều người quá đề cao tiền bạc mà xem thường tình nghĩa. Vì tiền bạc họ bất chấp thủ đoạn để đoạt lấy được nó. Họ cố thâu tóm thật nhiều tiền bạc và sống xa hoa, lãng phí. Những người như thế thật đáng chê trách. Bài học và nhận thức: Cần có được một thái độ đúng đắn đối với tiền bạc: Phải nhận ra được ranh giới và sự khác biệt giữa muốn và cần. Chúng ta cần tiền bạc, chứ không phải lúc nào cũng muốn tiền bạc. Không nên đánh đồng giá trị tài chính với giá trị của chính mình. Coi tiền bạc là phương diện chứ không phải mục đích của con người của cuộc đời. Cũng đừng để tiền bạc trở thành phương tiện điều khiển chính trong quan hệ với mọi người. Hạnh phúc có thể làm nên tiền bạc. Tiền bạc chưa hẳn đã mua được hạnh phúc trong cuộc đời này. Cũng không nên quan niệm phi thực tế: Một túp lều tranh hai trái tim vàng. Cuộc sống luôn cần có tiền bạc để giữ vững đời sóng tinh thần. Không ai có thể tồn tại một cách tự nhiên mà có được hạnh phúc đích thực. Kết bài: Để sống cuộc đời có ý nghĩa hãy biết cân đối giữa tiền bạc và tình cảm. Không vì lòng tham tiền bạc mà đánh đổi cả hạnh phúc của mình và của người khác. Cũng không nên vì xem trọng tình cảm mà xem thường giá trị của tiền bạc.
Suy nghĩ về mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc
1,063
Suy nghĩ về mối quan hệ thiện ác trong cuộc sống Hướng dẫn Suy nghĩ về mối quan hệ thiện ác trong cuộc sống Cuộc sống là một thế giới kì ảo luôn tồn tại những màu thuẫn, trong đó luôn có hai mặt vừa đối lập nhưng lại vừa thống nhất với nhau đó là thiện và ác. Thiện và ác là hai khái niệm quá quen thuộc với mỗi chúng ta. Ta có thể hiểu rằng, ác là cái xấu xa, cái đen tối, trái đạo đức làm người. Hoặc ngược lại, thiện là những cái tốt đẹp, tốt lành, hợp với đạo đức. Chúng thuộc hai phía đối lập nhau, nhưng bên cạnh việc đấu tranh, triệt tiêu nhau thì chúng lại thúc đẩy nhau cùng phát triển. Tưởng chừng như vô lí mà lại hoàn toàn có lí. Đơn giản, đó là quy luật tất yếu của cuộc sống, quy luật ấy luôn tồn tại ngay xung quanh ta, hiện hữu ngay trước mắt ta, trong những thứ thật gần gũi với ta. Trong thiên nhiên, nơi cuộc sống hoang dã muôn màu, bên cạnh những con vật ăn cỏ hiền lành vẫn có những thú dữ hung ác. Bên cạnh những đàn hươu ngoan ngoãn, những chú thỏ dễ thương, những con nai yếu đuối vẫn có những con hổ khát máu, những con báo háu ăn hay những con cáo ranh mãnh. Và bên cạnh những chim sâu nhí nhảnh, gõ kiến cần cù vẫn có những diều hâu, những đại bàng độc ác. Những cá ngựa, những tôm hùm, rùa biển, cá heo vẫn có những cá sấu, cá mập hung dữ. Ngay giữa khu vườn đầy hoa thơm trái ngọt luôn tồn tại không ít rắn rết, sâu bọ và những loài phá hoại đáng ghét. Trong cuộc sống cũng vậy, bên cạnh những con người lương thiện là những kẻ xấu xa độc ác. Đối lập với cô Tấm dịu hiền là mẹ con Cám lắm mưu nhiều kế. Nàng Lọ Lem chịu thương chịu khó là mụ dì ghẻ lòng dạ tối tăm. Bên cạnh nàng Kiều tài sắc vẹn toàn là bọn buôn người vô lương tâm Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh… Nên đâu phải vô cớ mà trong phim, trong truyện luôn có những nhân vật chính diện và những nhân vật phản diện. Phim, truyện cũng là những phương tiện để phản ánh cuộc sống mà thôi. Đã có ai dám khẳng định rằng mình chưa từng, chưa bao giờ nghĩ đến những việc làm xấu không? Không, tôi dám chắc là trên đời này không tồn tại những con người như vậy. Chúng ta chẳng qua cũng chỉ là những con người rất đỗi bình thường. Mà đã là người bình thường thì ai mà chẳng dễ bị cám dỗ. Hơn thế nữa sức cám dỗ để sa vào cái ác thường mạnh mẽ hơn cái thiện rất nhiều. Đơn giản là vì làm việc ác đôi khi có lợi cho ta nhiều hơn là việc thiện. Ví dụ như nhân vật Thành trong truyện ngắn Sợi tóc của Thạch Lam. Anh hoàn toàn có thể lấy trộm tiền trong chiếc ví căng phồng của người bạn mà chẳng ai nghi ngờ. Dù đã chuẩn bị trong đầu kĩ lưỡng mọi tình huống để đối phó nhưng cuối cùng cái Thiện trong anh đã trở lại lớn đến nỗi đẩy lùi cả cái Ác nên anh đã trả lại cái áo cầm nhầm và còn cẩn thận dặn anh bạn hãy kiểm tra lại tiền. Mà kể cả chúng ta cũng vậy chứ không phải chỉ trong văn chương mới có chuyện như thế đâu. Chẳng hạn như đã bao giờ có người lạ hứa sẽ cho bạn tiền để bạn làm cho hắn một việc không tốt mà khiến bạn phải suy nghĩ mãi? Hay đã có lần nào cô giáo kiểm tra đúng vào bài bạn chưa học nên bạn có ý định quay cóp? Có đấy. Những việc như thế xảy ra là chuyện cơm bữa. Chỉ có điều cái thiện có đủ sức giữ cho bạn vẫn hoàn toàn là người trong sạch hay không thôi. Thứ nhất, chúng ta cần có cái nhìn toàn diện, phân biệt đúng tốt xấu, thiện ác, không quá bi quan song cũng không nên ảo tưởng cuộc sống chỉ toàn màu hồng. Ở đâu cũng có cái thiện xen lần cái ác; cái tốt đan vào cái xấu vì thế không có gì là tuyệt đối. Mỗi chúng ta cần phân biệt rõ ràng để lựa chọn một hướng đi đúng đắn cho mình. Thứ hai, chúng ta cần phải biết đề phòng, cảnh giác với nguy cơ tha hoá trong chính bản thân mình, luôn luôn tự đấu tranh để cho phần tốt đẹp chiến thắng phần xấu xa dung tục. Các Mác đã nói: “Trong trường kì lịch sử đấu tranh của nhân loại, cái thiện chỉ thắng cái ác trong nửa vòng bánh xe”, bởi ranh giới giữa thiện và ác là vô cùng mong manh, chỉ như một sợi tóc… Cuộc sống luôn luôn là vậy. Xung quanh ta lúc nào cũng lẫn lộn thật, giả, tốt, xấu. Để có thể tồn tại và đứng vững không còn cách nào khác, chúng ta phải tự đứng trên đôi chân của mình, dùng đôi mắt và trái tim của mình để phân biệt đúng sai, trở thành một con người hướng thiện.
Suy nghĩ về mối quan hệ thiện ác trong cuộc sống
911
Đề bài: Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về một đức tính cần có ở con người Bài làm Trên khắp mọi nơi ở đất nước ta, từ xưa đến nay bất kể thời đại nào, nhân dân luôn đề cao những chuẩn mực đạo đức của con người. Điều đó lại càng đặc biệt cần thiết trong xã hội hiện đại ngày nay. Trong những chuẩn mực, đó trung thực là đức tính đầu tiên con người cần phải có. Đức tính trung thực có những biểu hiện vô cùng đa dạng. Riêng đối với người học sinh, trung thực được thể hiện trong nhà trường, trong gia đình. Một học sinh có đức tính trung thực thì không bao giờ chép bài, hỏi bài bạn trong giờ kiểm tra, làm bài với đúng khả năng của mình. Khi bị điểm kém, hay lỡ làm điều gì không phải thì thẳng thắn nói ra, nhận lỗi với thầy cô, cha mẹ. Hay như đơn giản hơn là ở ngoài chợ. Người bán trả lại thừa tiền cho ta thì với người trung thực, ta luôn trả lại số tiền thừa ra đó. Ra ngoài đường, thấy người khác đánh rơi đồ thì luôn tìm cách trả lại. Còn trong kinh doanh thì trung thực lại được thể hiện ra ở chỗ người làm kinh doanh đem lại cho khách hàng của mình những sản phẩm có chất lượng, đúng giá, không làm giả, nâng giá lên một cách bất hợp pháp. Trung thực vốn là một đức tính truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Vậy nên trong xã hội ngày nay thì những cái lợi mà trung thực đem lại không phải là nhỏ. Với người học sinh thì trung thực sẽ giúp hoàn thiện nhân cách, không những vậy còn nâng cao được vốn kiến thức. Bởi đã la học sinh thì bất cứ ai cũng có những điểm kém, điểm xấu, bị phê bình nhưng trung thực, thẳng thắn nhận ra những khuyết điểm đó thì thầy cô, bạn bè, cha mẹ mới có thể giúp đỡ ta vươn lên, học tốt hơn, kiến thức dần đầy đủ. Trung thực trong kinh doanh thì sẽ đem lại uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng, việc làm ăn sẽ ngày càng thuận lợi. Hay bất cứ ở đâu, có đức tính trung thực thì con người ta sẽ được mọi người nhìn lại với con mắt thiện cảm, kính trọng. Nói tóm lại, một xã hội mà mỗi con người đều cỏ đức tính trung thực thì xã hội sẽ trở nên trong sạch, văn minh, ngày càng phát triển. Chỉ đáng tiếc rằng, trong cuộc sống, đức tính trung thực ta lại không thường thấy có một số con người. Gian lận trong học tập, trong các kỳ thi, nạn học giả, bằng thật vẫn còn phổ biến trong xã hội. Không thể tưởng tượng ra được những con người như vậy sẽ làm việc, xây dựng đất nước ra sao, sẽ đưa đất nước "phát triển" đến thế nào? Sự thiếu trung thực ở một số cán bộ lãnh đạo các cơ quan đã "rút ruột" các công trình, tham ô, tham nhũng làm thiệt hại của Nhà nước hàng trăm tỷ đồng trong suốt những năm gần đây đã trở thành một vấn đề nổi cộm. Không thể kể hết những hậu quả, ảnh hưởng từ nhỏ tới lớn của sự thiếu trung thực trong đời sống. Cũng may mắn rằng đó chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh", chỉ là một bộ phận nhỏ trong xã hội. Đức tính trung thực còn có ở ngày nay chính là do bề dày truyền thống lâu đời của dân tộc ta. Rồi nhờ có sự tuyên truyền, giáo dục sâu sắc trong nhà trường mà đức tính trung thực vẫn còn được gìn giữ. Có đức tính trung thực trong mỗi một con người thì xã hội ngày càng trở nên văn minh, con người càng phát triển; còn thiếu sự trung thực sẽ chỉ làm cho xã hội thụt lùi đi so với sự phát triển của nhân loại cùng với những hậu quả khôn lường. Có lẽ cũng chính vì vậy mà từ lâu, nhân dân ta đã đặt đức tính trung thực là một trong những đức tính cơ bản, hàng đầu. Chúng ta cần ngày càng phát huy đức tính truyền thống này ở mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời phải đầy lùi, ngãn chặn những biểu hiện tiêu cực của việc thiếu trung thực trong đời sống. Gìn giữ, phát huy truyền thống vốn có của dân tộc là trách nhiệm của mỗi người, mỗi học sinh trong chúng ta và đặc biệt là đức tính trung thực. Đó là điều vô cùng quan trọng. Tin rằng, nếu làm được như vậy thì chúng ta sẽ nhận lại được những kết quả đáng mừng cho bản thân chúng ta và cả xã hội.
Suy nghĩ về một đức tính cần có ở con người
831
Suy nghĩ về nghệ thuật gây thiện cảm đối với người khác Hướng dẫn Giữa con người với con người luôn cần có mối quan hệ hài hòa, tích cực và thiện cảm. Lấy được sự thiện cảm của người khác chúng ta mới được người khác quan tâm, yêu thương hay giúp đỡ khi ta gặp khó khăn, hoạn nạn. Bản thân không gây được thiện cảm đối với người khác ta sẽ sớm bị người khác xa lánh và lãng quên trong cuộc sống này. Nghệ thuật gây thiện cảm có liên quan đến tất cả những gì làm nên bản thân một con người: trang phục, vẻ mặt, dáng điệu, lời lẽ, cách ứng xử, thái độ sống… Mỗi yếu tố nhỏ góp phần tạo dựng hình ảnh thiện cảm ở con người. Khi bắt đầu tiếp xúc với một người lạ hay một môi trường mới, không thể không chú ý cách ăn mặc cho phù hợp. Với việc lựa chọn một bộ trang phục, bạn có thể dễ dàng hòa đồng hoặc hóa thành lạc lõng giữa mọi người. Vẻ mặt, dáng điệu, cử chỉ cũng giúp bạn san bằng khoảng cách. Sự lạnh nhạt hay rụt rè, e ngại sẽ tạo nên những rào chắn vô hình. Một ánh mắt ấm áp, một nụ cười tươi tắn và sự cởi mở, chân thành sẽ đưa chúng ta đến gần người khác…Nghệ thuật gây thiện cảm là sức mạnh gắn kết bản thân với mọi người. Nhưng trang phục, lời lẽ, cách giao tiếp… chỉ là “phương tiện” tạo nên những thiện cảm ban đầu. Người ta có câu “Quen sợ dạ, là sợ áo”. Để có được thiện cảm bền vững, cần đến những giá trị tiềm ẩn bên trong mỗi con người. Khi chúng ta sống và làm việc trong một cộng đồng, thiện cảm sẽ chỉ được duy trì bằng sự quan tâm chân thành, bằng những việc làm thiết thực. Nếu bạn thờ ơ, dửng dưng trước niềm vui, nỗi buồn của bạn bè cùng lớp hay của đồng nghiệp thì dẫu có ngọt ngào, tươi cười đến đâu cũng khó giữ được thiện cảm. Tôi có những người bạn ít nói, thậm chí còn vụng về trong giao tiếp nhưng ở môi trường nào cũng được yêu mến vì sự nhiệt tình với công việc và tấm lòng đôn hậu. Thiện cảm còn phụ thuộc vào năng lực, trí tuệ và nhân cách của bạn. Nếu bạn không hoàn thành tốt công việc của mình, không làm được điều gì có ích cho gia đình, xã hội thì làm sao có được sự tôn trọng, quý mến của mọi người? Vốn tri thức phong phú, sự hiểu biết về cuộc sống, trái tim nhân hậu, tình cảm chân thành… luôn tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ cho một con người. Nó là thứ ánh sáng tỏa ra từ con người bạn và có khả năng sưởi ấm tâm hồn người khác. Cho nên, cốt lõi của nghệ thuật gây thiện cảm vẫn là sự rèn luyện, tu dưỡng bản thân mình.
Suy nghĩ về nghệ thuật gây thiện cảm đối với người khác
515
Suy nghĩ về nhân vật Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long Hướng dẫn Suy nghĩ về nhân vật Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long Nếu là con chim chiếc lú Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không có trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình. (Tố Hữu) Những dòng thơ ấy như ngân vang da diết, gieo vào lòng người đọc những xúc cảm thật khó quên về một quan niệm sống rất đẹp: Sống là cho người khác chứ không phải cho riêng mình! Sống là phải quan tâm lo lắng đến những người xung quanh. Và đến với truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long, ta cũng bắt gặp một tư tưởng, một cách sống như vậy. Được viết trong chuyến đi thực tế lên Lào Cai năm 1970, truyện ngắn đã để lại một dư âm không lặng lẽ bởi nó đã thành công trong việc xây dựng hình tượng những con người đang thầm lặng cống hiến cho Tổ quốc. Đặc biệt, nhân vật anh thanh niên – một con người đáng mến đáng yêu đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên về vẻ đẹp của người lao động. ..Anh thanh niên ấy chính là trung tâm của truyện ngắn. Anh không xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm mà chỉ có mặt trong cuộc gặp gỡ chốc lát với người họa sĩ già, cô kĩ sư mới ra trường và bác lái xe. Ngay cả đến tên anh, tác giả cũng không giới thiệu. Song dù chỉ gặp anh trong ba mươi phút ngắn ngủi người “cô độc nhất thế gian” ấy đã khiến người đọc rung cảm và xúc động trước vẻ đẹp tâm hồn lấp lánh, trước chân dung của một người lao động lặng lẽ cống hiến cho đất nước trong cái lặng lẽ của Sa Pa. Đến với những trang viết tinh tế và đầy cảm xúc của Nguyễn Thành Long,, người đọc thật sự ấn tượng trước hoàn cảnh sống và làm việc của anh thanh niên “ một người lao động chân chính, thật ấn tượng trước hình ảnh một người thanh niên tầm vóc bé nhỏ, nét mặt rạng ngời. Anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng chỉ có mây núi, cây cỏ Sa Pa làm bạn. Một cuộc sống như vậy chẳng lẽ lại khiến anh cô đơn, buồn tẻ? Công việc của anh cũng hết sức gian khó. Anh là một cán bộ khí tượng kiêm vật lý địa cầu “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây. Công việc ấy không khó nhưng gian lao lắm. Quên sao được những đêm gió tuyết, giá rét khi anh làm việc! Quên sao được cái lặng im đáng sợ của Sa Pa lúc nửa đêm! Quả thật, hoàn cảnh sống gian khó vất vả, cô đơn ấy của anh đã khiến người đọc cảm phục anh biết nhường nào. Không chỉ có vậy, người đọc còn yêu mến và cảm phục anh hơn bởi vẻ đẹp rạng ngời trong những hành động cụ thể. Công việc của anh đòi hỏi sự chính xác, tỉ mỉ rất cao. “Cháu lấy những con số mỗi ngày báo về nhà bằng’ máy bộ đàm bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng”. Công việc ấy thật là gian lao! Để đo gió đo mưa, anh đã quên đi bao rét mướt, giá lạnh, quên đi cái buồn ngủ xâm chiếm để hoàn thành tốt công việc của mình. Ấy vậy mà anh khẳng định: “Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác”. Hẳn là tất cả những hành động của anh đều dồn cho công việc nên anh mới có thể vui vẻ, yêu nghề đến vậy. Thử hỏi còn nghề gì cao quý hơn những hành động “quên mình” ấy của anh? Ngoài ra, đọng lại trong lòng mỗi người đọc là phong cách sống của anh. Thật ngỡ ngàng khi người thanh niên ấy sống một mình cô đơn trên núi cao mà lại tổ chức; sắp xếp, được một cuộc sống nề nếp, ngăn nắp, khoa học. Cuộc sống xung quanh bỗng trở nên thật đẹp dưới bàn tay của anh – một con người lao động chân chính. Nào là căn nhà nhỏ sạch sẽ, gọn gàng. Nào là những hàng sách được xếp ngay ngắn trên giá. Nào là vườn hoa rực rỡ, mang đậm hơi thở Sa Pa với “hoa đơn, hoa thược dược, vang tím, đỏ, phấn, tổ ong”. Đặc biệt anh rất hồ hởi, cởi mở với mọi người, gặp mỗi người trên chiếc xe từ Hà Nội lên Sa Pa, anh vui mừng khôn xiết như gặp lại bạn cũ vậy. Gặp ông họa sĩ và cô kĩ sư, anh không một chút ngần ngại mời hai người lên nhà chơi. Anh đã tặng cô kĩ sư một bó hoa thật to “Tôi cắt thêm mấy cành nữa. Rồi cô muốn lấy bao nhiêu nữa tùy ý. Cô cứ cắt một bó rõ to vào. Có thể cắt hết “nếu cô thích”, và anh kể chuyện say mê, hồ hởi như đang tâm tình với hai người bạn tri kỉ. Sự cởi mở của anh thật đáng trân trọng làm sao! Anh là một con người Sống rất giản dị và vô cùng khiêm tốn. Người họa sĩ già bất giác tìm ra anh chính là nguồn cảm hứng mà bấy lâu nay ông đi tìm, là nguồn khao khát mà ông chờ đợi. Ông muốn vẽ lại chân dung của anh để hoàn thành kiệt tác của mình. Nhưng anh thấy day dứt: “Không, không bác? đừng vẽ cháu! “Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn. Anh luôn nghĩ đến những người xung quanh cũng đang thầm lặng làm việc và còn tốt hơn mình. Anh đã kể về người kĩ sư ở vườn rau su hào, về nhà khoa học nghiên cứu sét. Dường như trong từng lời kể ấy, ta luôn bắt gặp đâu đây ánh mắt cảm phục, tự hào về những con người đang lặng lẽ cống hiến cho Tổ quốc trong anh. Có lẽ nào sự khiêm tốn ấy lại không khiến ta xúc động? Lặng lề Sa Pa với những trang viết tinh tế đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng không phai về vẻ đẹp trong suy nghĩ, trong phong cách sống của anh thanh niên. Sự lặng lẽ cống hiến cho Tổ quốc của con người bình thường mà cao cả ấy sẽ mãi sưởi ấm trái tim ta. Bất giác, trước những con người lao động chân chính ấy, ta tự hỏi về lẽ sống, lí tưởng của thanh niên ngày nay. Liệu những suy nghĩ bây giờ còn giống với những con người lặng lẽ – những “mùa xuân nho nhỏ” của đất nước: Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. (Thanh Hải)
Suy nghĩ về nhân vật Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
1,193
Đề bài: Suy nghĩ của em về nhân vật anh thanh niên trong văn bản “Lặng lẽ Sa pa” của Nguyễn Thành Long Bài làm Trước tiên anh thanh niên này đẹp ở tấm lòng yêu đời,yêu nghề,ở tinh thần trách nhiệm cao với công việc lắm gian khổ của mình.Trong lời giới thiệu với ông hoạ sỹ già và cô gái,bác lái xe gọi anh là “người cô độc nhất thế gian”.Đã mấy năm nay anh “sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m bốn bề chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo”.Công việc hàng ngày của anh là“đo gió,đo mưa,đo chấn động mặt đất”rồi ghi chép,gọi vào máy bộ đàm báo về trung tâm.Nhiều đêm anh phải “đối chọi với gió tuyết và lặng im đáng sợ”.Vậy mà anh rất yêu công việc của mình.Anh quan niệm:“khi ta làm việc ta với công việc là đôi,sao gọi là một mình được?”Anh hiểu rõ: “Công việc của cháu gian khổ thế đấy,chứ cất nó đi,cháu buồn đến chết mất”.Sống một mình nhưng anh không đơn độc bởi “lúc nào tôi cũng có người để trò chuyện.Nghĩa là có sách ấy mà ”.Tuy sống trong điều kiện thiếu thốn nhưng người thanh niên ấy vẫn ham mê công việc,biết sắp xếp lo toan cuộc sống riêng ngăn nắp, ổn định.Anh nuôi gà, trồng hoa, đọc sách,thỉnh thoảng anh xuống đường tìm gặp bác lại xe cùng hành khách để trò chuyện cho vơi bớt nỗi nhớ nhà. Sống trong hoàn cảnh như thế sẽ có người dần thu mình lại trong nỗi cô đơn.Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “ thèm người ”,lòng hiếu khách đến nồng nhiệt và sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo.Ngay từ những phút gặp gỡ ban đầu,lòng mến khách,nhiệt tình của anh đã gây được thiện cảm tự nhiên đối với người hoạ sỹ già và cô kỹ sư trẻ.Niềm vui được đón khách dào dạt trong anh,toát lên qua nét mặt,cử chỉ:anh biếu bác lái xe củ tam thất,mừng quýnh đón quyển sách bác mua hộ,hồ hởi đón mọi người lên thăm “nhà”,hồn nhiên kể về công việc,đồng nghiệp và cuộc sống của mình nơi Sa pa lặng lẽ.Khó người đọc nào có thể quên,việc làm đầu tiên của anh khi có khách lên thăm nơi ở của mình là:hái một bó hoa rực rỡ sắc màu tặng người con gái lần đầu quen biết.Bó hoa cho cô gái,nước chè cho ông hoạ sỹ già, làn trứng ăn đường cho hai bác cháu…Tất cả không chỉ chứng tỏ đó là người con trai tâm lý mà còn là kỷ niệm của một tấm lòng sốt sắng, tận tình đáng quí. Công việc vất vả,có những đóng góp quan trọng cho đất nước nhưng người thanh niên hiếu khách và sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn.Anh cảm thấy đóng góp của mình bình thường,nhỏ bé so với bao ngừơi khác.Bởi thế anh ngượng ngùng khi ông hoạ sỹ già phác thảo chân dung mình vào cuốn sổ tay.Con người khiêm tốn ấy hào hứng giới thiệu cho ông hoạ sỹ những người khác đáng vẽ hơn mình: “Không,không,bác đừng mất công vẽ cháu,để cháu giới thiệu cho bác những người khác đáng vẽ hơn.”Đó là ông kỹ sư ở vườn rau vượt qua bao vất vả để tạo ra củ su hào ngon hơn,to hơn.Đó là “người cán bộ nghiên cứu sét,11 năm không xa cơ quan lấy một ngày”…Dù còn trẻ tuổi,anh thấm thía cái nghiã,cái tình của mảnh đất Sa pa,thấm thía sự hy sinh lặng thầm của những con người đang ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước. Bằng một cốt truyện khá nhẹ nhàng,những chi tiết chân thực tinh tế,ngôn ngữ đối thoại sinh động Nguyễn Thành Long đã kể lại một cuộc gặp gỡ tình cờ mà thú vị nơi Sa pa lặng lẽ.Chưa đầy 30 phút tiếp xúc với anh thanh niên,khiến người hoạ sỹ già thêm suy ngẫm về vẻ đẹp cuộc đời mà mình không bao giờ thể hiện hết được và còn làm cô kỹ sư trẻ lòng bao cảm mến bâng khuâng … Với truyện ngắn này,phải chăng nhà văn muốn khẳng định:Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao phấn đấu,hy sinh lớn lao và thầm lặng?Những con người cần mẫn,nhiệt thành như anh thanh niên ấy, khiến cuộc sống này thật đáng trân trọng,thật đáng tin yêu.
Suy nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong văn bản Lặng lẽ Sa pa của Nguyễn Thành Long
745
Suy nghĩ về nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” của Nguyễn Du – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về nhân vật Thúy Kiều Đề bài: Suy nghĩ về nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của Nguyễn Du. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về nhân vật của truyện thơ trong một đoạn trích. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều. – Cần phân tích cảm nhận về thái độ và tình cảnh của Thuý Kiều khi phải tự nguyện biến thành một món hàng. – Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan với nhân vật trong toàn bộ tác phẩm. 2. Gợi ý – Đọc kĩ đoạn trích, nhất là những câu nói về Kiều. – Cần đọc các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về đoạn trích và về nhân vật Thuý Kiều. – Hoàn cảnh của Kiều (để cho người mua xem mặt, thử tài). – Thái độ của nàng: ngượng ngùng, đau khổ. – Hành động của nàng: lặng lẽ, không nói một lời. – Kết hợp nghị luận với biểu cảm. 3. Lập dàn ý (dàn ý sơ lược) a. Mở bài: Giới thiệu nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích. b. Thân bài – Phân tích thái độ “nỗi mình thêm tức nỗi nhà”, “thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” của Thúy Kiều. – Thái độ “ngại ngùng dợn gió e sương”. – Sự im lặng mặc cho Mã Giám Sinh “cân sắc cân tài”. c. Kết bài: Nhấn mạnh nỗi đau của người con gái hi sinh tình yêu, trở thành vật bán mua của kẻ buôn người. 4. Bài làm minh họa Nguyễn Du được tôn vinh không chỉ đơn thuần vì tài năng mà ở tấm lòng của ông với những kiếp sống bị đoạ đày, đau khổ. Trái tim nhỏ bé của nhà văn đập bởi nhịp đập của quần chúng cần lao, để mỗi ngày sống qua, mỗi cảnh trông thấy đều khiên cho nhà thơ “thêm đau đớn lòng“. Mà dù thời đại nào, hoàn cảnh nào, người đau khổ nhất trong những người đau khổ vẫn là người phụ nữ. Lòng nhân hậu của bậc thiên tài đã giúp ông hiểu sâu sắc được nỗi bất hạnh muôn đời của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến thối nát, để thốt lên đầy xót xa, ai oán trong thơ của mình: Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Thuý Kiều là một trong những nhân vật có số phận như vậy. Trong Truyện Kiều của ông, nàng hiện thân cho những kiếp “hồng nhan bạc mệnh” điển hình của chế độ phong kiến xưa kia. Điều đó được thể hiện sinh động qua đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều. Vốn sinh ra trong một gia đình trung lưu lứơng thiện, sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”, Thuý Kiều và Thuý Vân vừa xinh đẹp tuyệt trần vừa trong trắng ngây thơ. Một buổi chiều xuân đi tảo mộ, nàng có hai cuộc gặp gỡ đầy định mệnh. Một là số phận bi kịch của Đạm Tiên như thầm dự báo trước tương lai của Kiều, cuộc gặp sau là niềm đam mê, hạnh phúc với chàng Kim Trọng tài hoa nhất bậc. Nếu không có “tai biến bất kì” thì cuộc đời cô gái “nghiêng nước nghiêng thành” này đã chẳng có trong thơ Nguyễn Du. Trước biến cố của gia đình, nàng biết chịu đựng và hi sinh khi quyết đính bán mình chuộc cha. Mặc dù đau đớn vô cùng, Kiều vẫn phải rời xa gia đình, từ bỏ mối tình đầu đép đẽ và trong sáng với Kim Trọng để trở thành món hàng mua bán với gã con buôn đê tiện Mã Giám Sinh. Khi mụ mối đưa người viễn khách họ Mã tới để hỏi Kiều về làm vợ thì cuộc gặp gỡ ban đầu đã diễn ra trong đau đớn tuyệt vọng. Mã Giám Sinh xuất hiện trong buổi đến xem mặt như một kẻ bất nhân, đê tiện nhất mà chỉ ngay đêm hôm đó Kiều đã nhận xét với mẹ mình rất đúng về hắn: Khác màu kẻ quỷ người thanh Chẳng hay con lại mắc tay bợm già. Khó có thể hình dung ra cuộc gặp mặt nào não nề, đớn đau hơn thế! Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng. Nước mắt của nàng thấm đẫm cả trang giấy, mỗi bước đi là mỗi bước xót đau. Những giọt nước mắt của tan nát, khổ đau làm quặn thắt lòng người đọc, khiên ai cũng thương thay cho thân phận nàng Kiều. Bước vào phòng khách với vẻ dè dặt, tủi hổ của người con gái khuê các: Ngại ngùng dợn gió e sương Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày. Hình ảnh thẹn thùng của nàng là nỗi xấu hổ của người con gái mới lớn không may rơi vào hoàn cảnh trớ trêu lại vừa là sự hổ thẹn cho thân phận bất hạnh của mình. Trước nỗi đau đớn của Kiều, Mã Giám Sinh không một chút mảy may thương cảm mà còn xem nàng như xem một món hàng cần mua ở chợ: Mối càng vén tóc bắt tay Nét buồn như cúc điệu gầy như mai. Xem xét mọi vẻ chứa đủ, hắn còn thử tài của Kiều theo kiểu của kẻ có tiền muốn mua hàng hoá xứng đáng với đồng tiền sẽ bỏ ra: Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ. Người thiếu nữ “sắc đành đòi một tài đành hoạ hai” được tên lái buôn họ Mã “đắn đo” mãi để “cân sắc cân tài”: ước lượng để sao mua được thật rẻ “món hàng” vô giá này. Chúng ta không thể không thương xót cho Kiều khi kẻ đê tiện “cò kè”, “thêm bớt” từng tí để ngã giá mua nàng với bốn trăm lượng… Kiều đau đớn thế nào khi nghĩ gã buôn thịt bán người ti tiện nhất thế gian này lại có thể làm chồng mình? Càng tan nát lòng hơn khi trong trái tim nàng in sâu hình bóng chàng Kim Trọng “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Bắt đầu từ đây cuộc đời nàng bước ngoặt sang một trang khác, không còn êm đềm, ngọt ngào như trước nữa. (Đinh Thuỳ Linh, lớp 91, Trường THCS Trưng Nhị, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) Nhận xét Bạn đã viết về Thúy Kiều trong đoạn trích với những hiểu biết chung về nhân vật trong cả tác phẩm. Đó là một cố gắng đáng biểu dương, về nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích, người viết đã nhấn mạnh sự đau khổ, ngượng ngùng khi phải tự mình bước ra như một món hàng để kẻ mua tha hồ “cân sắc, cân tài”. Nhất là khi trong lòng vẫn còn nặng tình với chàng trai Kim Trọng “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Sau buổi ngã giá của Mã Giám Sinh, còn có bao nhiêu chuyện nữa xảy ra như nhờ. Chung công “khất từ” để Vương Ông được tha ; Vương Ông định tự tử, Mã Giám Sinh sang trao vàng “tờ hoa đã kí cân vàng mới trao”, rồi Kiều trao duyên cho Thuý Vân,..Vì vậy nếu viết “ngay đêm hôm đó” là không chính xác. Đúng ra là ngay sau đêm Mã Giám Sinh rước Kiều về trú phường, hôm sau nàng nói với mẹ: Xem gương lòng bấy nhiêu ngày – Thân con chang kẻo mắc tay bợm già và Khác màu kẻ quý người thanh -Ngẫm ra cho kĩ như hình con buôn.
Suy nghĩ về nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” của Nguyễn Du – Ngữ Văn 9
1,279
Suy nghĩ về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp qua truyện ngắn Làng của Kim Lân. Hướng dẫn quá hay
Suy nghĩ về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp qua truyện ngắn Làng của Kim Lân.
32
Suy nghĩ về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp qua truyện ngắn Làng của Kim Lân (bài 2). Hướng dẫn Những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp qua truyện ngắn Làng của Kim Lân Mở bài: Kim Lân là một trong số ít những nhà văn viết ít mà thành công lớn. Văn ông nhỏ nhẻ, chậm rãi, hóm hỉnh mà đằm thắm. Trong cả hai giai đoạn sáng tác – trước và sau cách mạng – giai đoạn nào Kim Lân cũng có những tác phẩm hay. Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đã viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Truyện ngắn Làng có lẽ là tác phẩm nổi bậc nhất của Kim Lân và của cả nền văn học Việt Nam trước cách mạng 1945. Với ngòi bút chân thành, cái nhìn hiền lành mà sâu sắc, Kim Lân đã diễn tả những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp qua nhân vật ông Hai – một lão nông hết mực yêu cái làng của mình. Thân bài: Có thể nói thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, cách mạng gặp rất nhiều khó khăn. Phần bởi thiếu thốn nhân lực, vật lực, bị quân Pháp khủng bố mạnh, phần bởi người dân chưa thực sự ngã về phía cách mạng. Bác Hồ hiểu rõ, muốn thắng kẻ thù phải vận động được sức mạnh toàn dân tộc, tạo nên một cuộc bão táp cách mạng, quét sạch kẻ thù ra khỏi đất nước. Năm 1948, truyện ngắng Làng ra đời thật đúng thời điểm. Lúc này, người nông dân đã dần tin tưởng và ủng hộ cách mạng. Sự diễn biến này diễn ra từ từ nhưng rất chắc chắn. Kim Lân đã nhìn thấy điều đó. Nó rất cần thiết cho một cuộc vận động toàn diện trên mặt trận yêu nước, mặt trận kháng chiến. Nhưng ông muốn diễn tả sự giác ngộ ấy một cách tự nhiên nhất, không gượng ép, không mang biểu dương hay ca ngợi theo kiểu khẩu hiệu. Bởi thế, nhân vật ông Hai ra đời là kết quả của sự cân nhắc rất kĩ lưỡng của nhà văn. Ông Hai là một nông dân suốt cuộc đời sống ở làng Chợ Dầu, gắn bó máu thịt với từng con đường, từng nếp nhà, thửa ruộng, từng ngọn cỏ, cành cây và biết bao người ruột thịt, xóm giềng, tổ tiên và họ hàng gần xa. Quê hương trở thành một phần máu thịt của ông. Và khi chết đi, ông cũng muốn được nằm trên mảnh đất yêu thương này. Người Việt Nam ta là thế, họ luôn nghĩ “cây có cội, nước có nguồn”, quê hương chính là cội nguồn không bao giờ được đánh mất. Thế nên, khi được lệnh phải đi tản cư, ông Hai lưỡng lự, lúc đầu ông quyết không đi. Cũng thật dễ hiểu cho ông Hai, bằng tuổi này rồi, sống được bao lâu nữa, giờ ra đi biết có trở về được không? Còn cái làng này ông yêu nó thế, giờ ra đi rồi, ông như mất đi nửa cuộc đời. Ẩn sau cái tình yêu làng là thói quen nghìn đời của người nông dân sống bám đất bám làng, thủy chung với quê hương nguồn cội. Lưu luyến, nấn ná vậy chớ gia đình ông Hai cũng đi. Chưa biết rồi sẽ ra sao nhưng vì cách mạng, vì kháng chiến nên phải cùng mọi người lên vùng đất mới. Đó là cái tài tình của nhà văn. Bởi ông muốn nói rằng, sự giác ngộ của người nông dân là hoàn toàn tự nguyện; từ tình yêu quê hương mà lớn thành tình yêu đất nước; từ thái độ căm ghét kẻ thù, căm ghét kẻ phản bội mà bùng nổ khát vọng chiến đấu, một lòng trung thành với cách mạng, trung thành với lãnh tụ Hồ Chí Minh. Để làm sáng bừng tư tưởng của truyện, Kim Lân đã khéo léo để cho ông Hai tự đấu tranh. Ở nơi tản cư, ông Hai nhớ làng Chợ Dầu tha thiết. Ban ngày, lo bận việc sản xuất, ổn định cuộc sống, buổi tối ông Hai thường sang hàng xóm giãi bày nỗi nhớ của mình. Ông không ngớt lời khoe những cái đẹp, điều hay ở quê hương mình. Làng Chợ Dầu quê ông đẹp lắm, đường là phong quang sạch sẽ, cái cổng làng rộng như cổng thanh… Ông khoe cả cái “sinh phần” của viên tổng đốc to lớn và oai nghiêm lắm. Đặc biệt là ông Hai khoái nhất khoe và kể nhiều nhất là những ngày đầu cách mạng. Quê hương được giải phòng, thoát khỏi ách cường hào phong kiến và lũ tay sai thực dân. Dân làng ông bắt đầu cuộc sống mới. Đêm đêm rậm rịch tiếng bước chân của đoàn du kích tập quân sự, sáng, chiều râm ran tiếng trẻ em học bài… lại cả những tiếng hát của thanh niên ngân vang trong những buổi cả làng bàn việc nước, việc dân… Nghe những chuyện ấy, mọi người đều thông cảm với lòng nhớ quê da diết của ông. Đó là một người yêu quê hương tha thiết bằng một tình cảm tự nhiên, hồn nhiên. Tình cảm đó bắt nguồn từ nững kỉ niệm trong cuộc sống hằng ngày, từ những sự vật, con người gắn bó hàng ngày … Tình cảm đó thuần phác và trong sáng biết bao. Tưởng đâu, đó sẽ là niềm tự hào mãi mãi cho đến khi ông rời thế gian này. Đùng một cái, ông hay tin làng Chợ Dầu theo giặc. Ông hai “cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân”. Trước hết, là sự xót xa của ông về làng mình, sự phản bội của nơi chôn rau cắt rốn của mình và nỗi tủi nhục tột cùng trào lên trong ông. Tình huống truyện đặt ra cho nhân vật những lựa chọn hết sức khó khăn. Liệu ông Hai có còn dám yêu cái làng của mình nữa không? Không yêu làng thì ông sẽ yêu cái gì? Con người luôn cần phải có một niềm tin yêu để sống, ông không thể bỏ rơi tinh thần của mình. Ông lão nghĩ tới việc trở về làng. Song ý nghĩ đó ông gạt phắt đi. Trong sự tuyệt vọng, đau khổ này, lối thoát về làng Chợ Dầu loé lên như một tia hi vọng rồi lại tắt ngấm. Trong ông tình yêu nước mạnh hơn, thiêng liêng hơn: không vì làng mà bỏ kháng chiến. Giữa sự giằng co trong tâm hồn, ông Hai đã thốt lên đầy đau đớn song đầy quyết tâm: “Làng thì yêu thật đấy, nhưng làng theo Tây thì phải thù.. Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông, cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì bao giờ dám đơn sai”. Tình quê và lòng yêu nước của những người nông dân ấy rất sâu nặng và thiêng liêng biết bao. Ông hai đã trải qua những buồn vui, đau khổ, những tự hào, chua chát để gắn kết giữa tình quê hương và tình yêu tổ quốc. Thế đấy, họ đã ngã về với kháng chiến khi đứng trong lựa chọn sống còn bằng tình cảm thiêng nhất, trong sáng nhất. Kim Lân đã miêu tả sự chuyển biến ấy rất chân thực và hết sức tự nhiên. Thủy chung với quê hương là tình cảm tốt đẹp nhưng tình yêu đất nước còn lớn hơn. Có thể nói đó là một thủ thách lớn đối với nhân vật ông Hai và cả nhà văn Kim Lân. Đoạn tuyệt với cái mình từng yêu thương nhất, quý trọng nhất, ngày đêm gìn giữ như một báu vật thật là khó khăn. Thế mới thấy, tình yêu cách mạng, yêu kháng chiến, yêu nước của người nông dân mới to lớn, mới mạnh mẽ trở thành tình cảm thiêng liêng và duy nhất ngay lúc này. Họ thức nhận được rằng, không có nỗi nhục nào lớn hơn nỗi nhục mất nước và khi đất nước còn bị xâm lăng thì cái làng của họ cũng đâu còn. Từ đó, họ đứng hẳn về phía cách mạng, tin tưởng và ủng hộ cách mạng, góp sức chung cho sự nghiệp kháng chiến giải phóng đất nước. Kim Lân đã tỉ mỉ tạc khắc niềm tin ấy bằng sự trân trọng sâu sắc. Phải chăng, Kim Lân đã quá hiểu cái tâm lí của người nhà quê, họ sẽ không chịu thay đổi, họ bảo thủ với lối sống cũ nếu không cho họ có dịp trải nghiệm nỗi đau thương, mất mát, sự ô nhục và tự hào. Ở ông Hai, đã có một sự thay đổi tích cực và được khẳng định mạnh mẽ. Dẫu nhà của ông bị cháy rụi mà ông vân vui cười và tự hào vì nhà mình bị giặc đốt. Nghĩa là ông đã đóng góp vào sự nghiệp kháng chiến một phần tài sản và công sức trong sự hi sinh lớn của dân tộc. Ông Hai chỉ biết rằng lúc này ông làm kháng chiến và ông lão bây giờ có thể tự hào, hãnh diện ngồi kể về cái làng Chợ Dầu kháng chiến của mình. Từ khi có cách mạng, cuộc đời người nông dân Việt Nam rẽ sang một bước ngoặt mới tươi sáng hơn. Họ nô nức, háo hức hoà chung vào phong trào cách mạng cả nước, họ hăng hái tham gia kháng chiến, cầm súng bảo vệ quê hương. Cách mạng trở thành một phần máu thịt của người nông dân, có những người như ông hai day dứt, tủi hổ, khổ sợ khi mình bị hiểu lầm là không trung thành với cách mạng song vẫn không bỏ cách mạng. Đó là lòng trung thành, là tình cảm sâu sắc, bền chặt mà người nông dân dành cho cách mạng. Cách mạng mang đến cho họ cuộc đời mới, họ phải bảo vệ lấy hạnh phúc đó của mình. Vẻ đẹp tâm hồn của ông hai làng Chợ Dầu tiêu biểu cho những người nông dân Việt Nam tuy trình độ văn hoá thấp nhưng đã có ý thức giác ngộ cao, tha thiết yêu quê hương, Tổ quốc. Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yêu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà vănhọc thời kháng chiến chống pháp đã trú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý ấy. Kết bài: Không xung phong, không cầm súng, không ra trận, nhưng Kim Lân lại chiến đấu bằng ngòi bút hết sức âm thầm mà quyết liệt. Có thể nói, qua nhân vật ông Hai phản phất hình bóng của Kim Lân trong đó. Cũng như ông Hai, Kim Lân yêu làng, yêu nước, yêu cách mạng lắm. Từ nhận thức và tình cảm của bản thân, ông tìm cách chuyển tải nó vào văn học. Nhân vật ông Hai là kết tinh sâu sắc cái tài, cái tình của nhà văn Kim Lân đối với cuộc đời, đối với đất nước.
Suy nghĩ về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp qua truyện ngắn Làng của Kim Lân (bài 2).
1,935
Suy nghĩ về những tấm gương vượt lên trên số phận để thành công trong cuộc sống Hướng dẫn Mở bài: Cuộc sống xung quanh ta có biết bao nhiêu con người, sự việc đáng học tập. Những tấm gương của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền, Lê Vũ Hoàn,… là những người đã vượt lên số phận, chiến thắng số phận để lại cho ta nhiều cảm xúc. Họ đã cho ta thấy được tinh thần vượt khó, ý chí kiên trì, bền bỉ là một trong những bí quyết giúp ta thành công trong cuộc sống. Thân bài: Vậy thế nào là số phận? Số phận là phần họa phúc, sướng khổ dành riêng cho việc đời của mỗi người đã được định từ trước( theo mê tín). Và ” những con người không chịu thua số phận ” là gì? Là những con người không chấp nhận mình là người tàn phế, vô dụng, không đóng góp gì cho xã hội. Họ suy nghĩ để tìm một bộ phận thân thể khác còn lại để thay thế cho bộ phận thân thể đã mất đi, hay là vượt lên số phận nghèo khó để đạt được ước mơ của mình. Họ rèn luyện trí óc, tâm hồn ngày đêm, không quản mệt mỏi, khiến cho ý chí của họ còn hơn con người thường của chúng ta, giúp họ có thể làm được những điều phi thường hơn ta tưởng. Họ tạo ra những tác phẩm, làm việc bằng cả tâm hồn và trái tim của họ, nghị lực đó, sức sáng tạo đó đáng để ta trân trọng. Gần đây, Lê Vũ Hoàng là cậu học sinh nghèo ham học xứ Quảng Bình, đã vinh quang giành được vòng nguyệt quế trong cuộc thi ” Đường lên đỉnh Olympia”. Hoàng có hoàn cảnh rất khó khăn: mẹ bị bệnh nặng, nhà lại quá nghèo nên ngoài giờ học Hoàng phải làn rất nhiều việc, từ việc đồng áng đến nuôi lợn, gà,… cậu đều phải làm hết để mưu sinh. Nhờ thông minh chăm chỉ, Hoàng chẳng những học rất giỏi mà còn tích lũy được kinh nghiệm, kiến thức của đời sống xã hội. Cậu học trò hiếu học, hiếu thảo ấy thực sự đã trở thành niềm tự hào của gia đình, thầy cô và xã hội. Đó là những tấm gương sáng cho ta học hỏi, cho ta noi theo. Bản thân họ là những tấm gương sáng ngời về nghị lực, vượt lên số phận. Từ những tấm gương vượt khó trên, em thấy so với họ, em đã quá may mắn và sung sướng. Có cơ thể khỏe mạnh, lạnh lặn, sống trong một đất nước hòa bình, kinh tế phát triển, gia đình hạnh phúc. Họ thật lòng yêu đời, yêu cuộc sống và nghị lực phi thường của họ. Em nghĩ nếu chúng ta kiên trì, sáng suốt được như họ, chúng ta có thể làm được nhiều việc hơn thế. Kết bài: Những con người không chịu thua số phận ấy là những tấm gương quý báu, đáng để chúng ta kính trọng, học hỏi và làm theo. Bằng nghị lực của mình, họ tự tạo ra cuộc sống tươi đẹp cho chính mình. Họ đã chứng minh rằng nếu con người có đủ niềm tin, bất kì điều kì diệu nào cũng có thể làm có. Bởi thế, sống có ý chí, quyết tâm, có tinh thần vượt khó là phẩm chất rất cần thiết cho mỗi người chúng ta trong cuộc sống.
Suy nghĩ về những tấm gương vượt lên trên số phận để thành công trong cuộc sống
588
Suy nghĩ về những yếu tố giúp con người thành công trong cuộc sống Hướng dẫn Dám thành công sẽ thành công Mở bài: Thật khó để nói chính xác khái niệm của thành công và càng khó hơn khi cố tìm hiểu như thế nào là thành công trong cuộc sống. Chúng ta đã nghe rất nhiều về từ “thành công”. Theo điểm nhìn khách quan thì “thành công” là lời tuyên bố vang dội về thành tích của con người – một đỉnh cao chiến thắng trong chuỗi hoạt động mang thành công cá nhân. Rõ ràng, một người được coi là thành công khi họ đạt được hoặc giành lấy được một giá trị nào đó trong cuộc sống. Nếu bạn muốn trở thành một trong số những người đạt được thành công thì trước tiên bạn phải hiểu được định nghĩa chính xác về “thành công” và những yếu tố giúp con người thành công. Thân bài: Thành công là gì? Nói một cách đơn giản nhất, thành công có nghĩa là đạt được mục đích đã đề ra trong công việc hoạc trong cuộc sống bằng một chuỗi các hoạt động tương tác vào công việc và con người. Thành công là gặt hái được kết quả, mục đích như dự định; là thực hiện được mục tiêu, lí tưởng của mình, biến kế hoạch, dự định thành kết quả cụ thể có giá trị về vật chất hoặc tinh thần. Người thành công là người như thế nào? Người thành công là người đạt được thành tựu lớn lao trong công việc và cuộc sống của mình, đem lại động lực phát triển xã hội. Người-có-giá-trị, trong một ý nghĩa nào đó ta đã có thể gọi là người-thành-công; còn người được xem là thành công về địa vị hay tiền bạc, trong một xã hội có lương tri trung bình thì chưa chắc đã là một người có giá trị. Điều đó còn tùy thuộc vào cách họ đi đến thành công có lương thiện không, có phù hợp với lợi ích của cộng đồng hay không… Tại sao sống là phải thành công? Ai cũng có nhu cầu làm việc thành công để khẳng định mình trong cuộc sống này. Dường như thành công là sự kiếm tìm mà hàng triệu người trên thế giới đều nỗ lực không ngừng để tìm kiếm! Đó không chỉ bởi để chứng minh năng lực của bản thân mà còn thỏa mãn khao khát chiến tháng vốn tự có trong mỗi con người. Lẽ tất nhiên là khi ta thành công, ta sẽ tự hào về những thành quả mình đã đạt được và đem lại một giá trị cho cuộc đời. Nhưng nếu ta thất bại, mọi vấn đề trở nên khó khăn hơn và khó đạt được niềm vui trong cuộc sống. Tuy nhiên, có nhiều người chạm đến đỉnh cao của thành công, tỏa sáng trong ánh hào quang rực rỡ nhưng cuộc sống của họ lại là những ngày dài của sự buồn thảm, cô đơn và không có tình yêu thương! Đơn giản vì họ không mang đến cho người bên cạnh những giá trị mà cuộc sống đề cao: hạnh phúc, tình yêu thương, sự nhẫn nại, khiêm nhường và lễ độ. Cuộc sống không chỉ biết tìm kiếm vinh quang và hạnh phúc cho bản thân mà còn phải mang lại nhiều giá trị hữu ích cho xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Bill Gate không những đã tìm kiếm được mục tiêu và thành công trong cuộc đời mình mà còn để lại cho xã hội biết bao lợi ích về tri thức và tài sản. Albert Einstein trọn đời cống hiến cho học cũng chỉ vì sự tiến bộ của nhân loại. Những cống hiến của ông mãi mãi là một kì quan còn bản thân ông ngoài vinh quang không có một tài sản nào khác lớn lao. Einstein nói như trên là vì ông muốn dẫn dắt nền văn minh nhân loại đi đúng hướng. Có lẽ ông cũng đã quá rõ tâm lý chung của con người là muốn hưởng thụ hơn hy sinh, ham thành công hơn giá trị và chạy theo cái bề ngoài hào nhoáng của cuộc sống hơn là biết thưởng thức một cách sâu sắc đời sống tinh thần. Thành công luôn là khát vọng để con người tho đuổi.Người thành công luôn được yêu mến, kính trọng và tôn vinh không phải vì cái hào nhoáng bên ngoài mà vì đức hy sinh, lòng can đảm hay tính chuyên nghiệp trong công việc mà họ thể hiện hàng ngày. Làm sao để có thể gặt hái thành công? Hãy biết sống có giá trị trước khi muốn trở thành một người thành công. Nếu những việc bạn làm chỉ mang lại lợi ích cho bản thân trong một mối tương tác hạn hẹp, không mang lại lợi ích gì cho cuộc sống này thì đó chưa phải là sống thành công. Đó chỉ là hư danh, là cá nhân ích kỉ mà thôi. Để trở thành người thành công trước hết phải là người có nhiều lương tri, nghĩa là biết lẽ phải. Mọi hành động phải vì con người, cho con người, vì công bằng xã hội và sự tiến bọ của nhân loại. Người có lương tri tạo ra xã hội có nhiều lương tri. Xã hội có nhiều lương tri thì mọi sự rạch ròi, đúng sai phân biệt, thang bậc đạo đức được bảo đảm. Nhiệm vụ này do nền giáo dục đảm trách. Chỉ có giáo dục đúng hướng mới đưa cả xã hội, cả đất nước tiến lên phía trước một cách vững chắc. Bởi thế, hãy lo lắng bồi dưỡng nhân cách và nghị lực của bản thân trước khi tìm kiếm một thành công nào đó mà bạn mong muốn. Không phải ai cứ cố gắng làm việc là sẽ thành công. Thành công có được là nhờ ta nhận thức và nắm bắt rõ ràng các yếu tố giúp ta thành công và vận dụng nó một cách khoa học và hiệu quả. Yếu tố quan trọng khởi đầu đi đến thành công trong công việc đó là thời cơ. Thời cơ chính là hoàn cảnh thuận lợi (hoàn cảnh xã hội, gia đình và bè bạn giúp đỡ) dến với ta đúng lúc, kịp thời. Chớp lấy thời cơ để thành công là việc thường thấy của những người thành đạt. Một minh chứng rõ ràng và hết sức thuyết phục từ trong lịch sử kháng chiến của dân tộc. Đầu năm 1945, khi phát xít đầu hàng quân Đồng Minh, quân Pháp và Nhật ở Việt Nam lúng túng, chớp lấy thời cơ thuận lợi, lãnh tụ Hồ Chí Minh phát động phong trào nổi dậy giành chính quyền trên toàn quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền đã về tay nhân dân. Muốn thành công trong cuộc sống chỉ nhờ vào thời cơ và may mắn là chưa đủ. Cần phải có cơ sở vật chất ban đầu đủ vững mạnh để thực hiện các kế hoạch bằng các hành động cụ thể. Có thể thấy, chúng ta không thể thành công bằng đôi bàn tay trắng. Vật chất giúp ta có sức mạnh điều hành và thúc đẩy công việc tiến lên phía trước, đi đến thành công. Có biết bao người đã gần đạt đến thành công nhưng cuối cùng phải chấp nhận thất bại chỉ vì yếu kém về vật chất, kinh tế. Chúng ta có thể nghĩ đến câu chuyện cuộc đời của Harland Sander, ông chủ món gà rán lừng danh Kentucky như một minh chứng đầy thuyết phục. Harland Sander có thể coi là người làm món gà rán ngon nhất nước Mỹ. Nhưng phải đến năm 65 tuổi, ông mới nhận ra điều đó. Một lí do để giải thích cho việc chậm trễ này là Harland Sander chưa bao giờ có nhiều tiền để nghĩ đến việc kinh doanh riêng. và khi có cơ hội nhìn nhận những thất bại trong cuộc đời mình ông mới sự tỉnh nhận ra cơ hội cuối cùng và chính nó đã làm thay đổi cuộc đời ông. Để thành công trong công việc và đời sống cũng cần có một trí tuệ vững mạnh, đủ sức nhìn ra cơ hội, thách thức và dũng cảm vượt qua để chiến thắng. Trí tuệ có thể là sự hiểu biết sâu rộng, có tầm nhìn chiến lược; có khả năng phán đoán, suy luận về hiện thực và điều kiện chủ quan, khách quan để có kế hoạch phù hợp với khả năng; có kĩ năng làm việc, làm việc có phương pháp, biết hoạch định và triển khai kế hoạch, có khả năng tổ chức công việc, biết đúc rút kinh nghiệm để làm tốt và điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết. Để thuyết phục người khác và tin tưởng hợp tác, bản than phải có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, thẳng thắn, trung thực, kiên trì, nhẫn nại, có tinh thần trách nhiệm cao mới tạo được niềm tin. Biết chia sẻ vinh quang với người khác, không bao giờ nhận hết thành tích về mình; có thái độ tích cực với cuộc sống, có kĩ năng giao tiếp tốt để nắm bắt cơ hội, để hợp tác chia sẻ trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Biết dung người và tập hợp được chung quanh mình những người có năng lực và tinh thần trách nhiệm. Thế nhưng, không phải ai cũng đạt được thành công. Nếu ta đang thất bại, hãy xem đó chỉ là một bước đệm nghỉ để ta tiến xa hơn, cao hơn trong công việc. Khi ta đang thất bại, đừng bao giờ đổ thừa cho số phận bởi không có thất bại nào là mãi mãi, chỉ có những người không muốn vươn lên thành công mà thôi. Bí quyết thành công là hãy biết làm chủ bản thân, làm chủ năng lực, không ngừng học hỏi và sáng tạo, hăng say làm việc, quyết tâm cao độ đạt lấy thành công. Hợp tác với mọi người, làm việc có cộng sự, chia sẻ, lắng nghe và thấu hiểu, cảm thông và ủng hộ trong công việc là nền tảng sức mạnh để thành công. bạn sẽ không thể một mình làm nên sự nghiệp lớn, điều đó chỉ có thể là kết quả của nhiều người cùng thực hiện bền bỉ trong một thời gian lâu dài. Kết bài: Dù thế nào, muốn sống thành công ta phải luôn biết kết hợp các yếu tố, nhân tố cần thiết trong công việc và hành động. Tuy nhiên, như thế nào là sống thành công tùy thuộc vào nhận thức, khát vọng và mục đích hướng tới của mỗi con người. Danh ngôn hay về thành công Đừng phấn đấu để thành công mà hãy phấn đấu để mình có ích (Albert Einstein) Thành công và hạnh phúc nằm trong bạn. Quyết tâm hạnh phúc, và niềm vui sẽ đi cùng bạn để hình thành đạo quân bất khả chiến bại chống lại nghịch cảnh (Helen Keller) Xây dựng thành công từ thất bại. Sự chán nản và thất bại là hai bước đệm chắc chắn nhất dẫn tới thành công (Dale Carnegie )
Suy nghĩ về những yếu tố giúp con người thành công trong cuộc sống
1,885
Đề bài: Khi bàn về chủ đề: Quan niệm về hạnh phúc của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay có ý kiến cho rằng: Muốn có hạnh phúc thì phải kiếm được nhiều tiền, vì có tiền là có tất cả. Anh (chị) có ý kiến gì về quan niệm trên? Bài làm Đồng tiền quả có sức mạnh vô biên. Trong những xã hội thối nát, đồng tiền có thể mua tất cả, từ bằng cấp đến địa vị xã hội, quan chức… đây là ý kiến hoàn toàn sai lạc. Con người phát minh ra đồng tiền chỉ để làm phương tiện trung gian của việc trao đổi hàng hóa. Thử hình dung, ngoài biển cẻ bao la không có chút lương thực thực phẩm nào, nếu ai đó có trong tay cả núi tiền thì liệu tiền đó có cứu được sinh mệnh anh ta? Vì thế chỉ nên xem đồng tiền luôn là phương tiện. "Muốn có hạnh phúc thì phải kiếm được nhiều tiền, vì có tiền là có tất cả"? Trong một xã hội, thông thường người ta cũng đánh giá con người qua khả năng thu nhập. Điều đó được lượng hóa bằng tiền. Nhưng số tiền mà một cá nhân thu nhập được trong quá trình lao động cũng vẫn chưa thể nói hết phẩm giá đạo đức của người đó. Tóm Lại, đồng tiền không thể là thước đo phẩm giá của con người. Có hai cách kiếm tiền. Kiếm tiền chân chính bằng khả năng và lao động của mình và kiếm tiền bất chính bằng mọi thủ đoạn như tham nhũng, hối lộ, buôn bán ma túy, cho vay nặng lãi… Bi đát thay cho những ai tôn thờ đồng tiền. Đối với hạng người này, càng nhiều tiền họ càng hạnh phúc. Chỉ cần nhìn thấy đồng tiền là họ sẵn sàng quên đi tất thảy mọi điều quý giá trên đời. Và một nghịch lí tất yếu xảy ra, để hạnh phúc thì cá nhân đó phải bằng mọi cách vơ vét tiền. Đến mức, tự họ biến họ thành một “cái máy” kiếm tiền không hơn không kém. Kiếm được bao nhiêu tiền không quan trọng bằng cách sử dụng tiền đó cho mục đích gì. Khi chết con người ta đem được gì sang thế giới bên kia? Vậy nên, có nhiều tiền chưa hẳn đã hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ đến khi người đó biết cách làm ra những đồng tiền chân chính bằng mồ hôi xương máu của chính mình và biết sử dụng đồng tiền ấy một cách khôn ngoan.
Suy nghĩ về quan điểm “Muốn có hạnh phúc thì phải kiếm được nhiều tiền, vì có tiền là có tất cả”
430
Đề bài: Suy nghĩ của em về rác thải sinh hoạt Bài làm Đất nước ta ngày càng phát triển, kinh tế tăng trưởng và mức thu nhập của người dân cũng ngày càng được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, một hạn chế đi ngược lại với sự tiến bộ chung của xã hội là ý thức người dân còn nhiều quan ngại, con người với con người ngày càng cách xa nhau về mặt tình cảm, sự vô cảm rất nhiều và đặc biệt ý thức của người dân từ những chuyện nhỏ nhặt như vứt rác bừa bãi cũng phải để lên án, tuyên truyền nhiều. Tình trạng vứt rác bừa bãi, người dân là người chủ động gây ra tình trạng này, tại các thành phố lượng rác thải lớn, việc vứt rác thải bừa bãi của người dân gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường Rác thải sinh hoạt là những loại rác thải được vứt bỏ từ những đồ dùng, vật dụng sinh hoạt của mỗi gia đình gồm đủ loại chất thải và đủ loại chất liệu khác nhau như thức ăn, chai lọ, vải vóc, xương động vật, nước thải…. Điều đáng lên án và đáng bàn luận là hiện nay, rác thải sinh hoạt dưới những bàn tay hoạt động của người dân không chỉ xuất hiện ở khu đổ rác mà là ở mọi nơi, mọi lúc: trên đường phố, góc vỉa hè, người dân sống xung quanh ngang nhiên coi là nơi đặt rác. Những hộ gia đình sống ở ven ao, hồ, sông ngòi còn thể hiện sự tiện lợi hơn là vứt luôn, lúc nào cũng là tiện tay cho hết rác thải của gia đình mình xuống nguồn nước. Nhiều khi họ còn không cần để ý rác thải là những gì, kêt cả thủy tinh hay vỏ sành sứ cũng vứt tuốt, không hề bận tâm hay lo sợ sẽ có người dẵm phải, rất dễ gây ra thương tích. Người dân là người tự vứt rác thì không cần phải suy xét nguyên nhân đâu xa, chính ý thức của người dân, sự thiếu ý thức, thói quen xấu trong lối sống hàng ngày của họ gây nên. Trình độ dân trí thấp hoặc không nhận thức được đầy đủ, đúng đắn về vấn đề bảo vệ môi trường. Cơ chế quản lý và xử phạt sai phạm mới chỉ dừng lại ở răn đe, phạt tài chính nhẹ dẫn đến tình trạng cải thiện không nhiều, không rõ rệt, những chính sách không phải là biện pháp mạnh để có thể giải quyết triệt để vấn đề này. Người dân xả rác sinh hoạt một cách bừa bãi không những gây ô nhiễm môi trường mà chính xác là gây ảnh hưởng đến không khí, đất và nước, ảnh hưởng tới mỹ quan chung và còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Mỗi người dân phải tự ý thức được vấn đề ô nhiễm môi trường và việc xả rác bừa bãi, không đúng nơi quy định là có ảnh hưởng rất lớn đến moi trường và cuộc sống của con người để có ý thức hơn trong vấn đề xử lý rác thải. Cần có những biện pháp tuyên truyền cho người dân về các quy định về đổ rác và bảo vệ môi trường xung quanh. Xây Vấn đề rác thải sinh hoạt là vấn đề chung của mỗi gia đình và cũng là vấn đề chung của toàn xa hội. Bảo vệ môi trường sống xanh – sạch- đẹp cũng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta. Vì chính bản thân mình và cũng vì cộng đồng, vì tương lai con em chúng ta và cũng vì tương lai của đất nước, hãy góp sức mình dù nhỏ bé thôi nhưng cũng có tầm quan trọng vô cùng, bằng những hành động thiết thực trong vấn đề bảo vệ môi trường sống xung quanh, tự mình có ý thức tự giác đồng thời tuyên truyền cho mọi người xung quanh mình có ý thức trong vấn đề xả rác đúng nơi quy định
Suy nghĩ về rác thải sinh hoạt
691
Suy nghĩ về rèn luyện kĩ năng sống của học sinh hiện nay Hướng dẫn Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh hiện nay là một nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội Mở bài: Ngày nay, việc trang bị và rèn luyện kĩ năng sống đối với mỗi học sinh là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết như việc tích lũy và trau dồi tri thức. Nhưng đã số học sinh lại chưa hiểu đúng tầm quan trọng của nó. Từ đó xem thường, lờ là nhiện vụ ấy. Ngay cả nhà trường cũng hiếm có những bài giảng về kĩ năng sống. Chương trình giáo dục hiện nay chỉ đặt nặng nhiệm vụ giáo dục tri thức căn bản. Sự yếu kém trong việc trang bị kĩ năng sống cho học sinh sẽ gây nhiều khó khăn, bất lợi trong cuộc sống. Thân bài: Kĩ năng sống là gì? Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân cần có để tương tác với những người khác một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày. Kĩ năng sống của học sinh chính là những kỹ năng xử lí các tình huống xảy ra trong học tập và trong đời sống. Đó là kỹ năng ứng xử, kỹ năng vượt qua khó khăn, kỹ năng nhận thức, kỹ năng hoạch định kế hoạch, kỹ năng phát biểu, kỹ năng hòa nhập,… Kỹ năng sống cũng được xác định rõ ràng trong bộ những kỹ năng cần có của tuổi trẻ trong thế kỷ 21. Tại sao cần phải rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh? Không có thành công nào đến với ta một cách thuận lợi. Muốn đạt được thành công trong công việc và có cuộc sống hạnh phúc bắt buộc con người không ngừng nỗ lực. Cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn để cho con người vượt qua. Cuộc sống cũng gây ra những mất mát, đau thương để con người biết yêu quý những gì đang có. Vì vậy, mỗi con người cần có những kỹ năng nhất định để tồn tại và phát triển. Thành công chỉ thực sự đến với những người biết thích nghi để làm chủ hoàn cảnh và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Sự thích nghi ấy không có cái gì khác ngoài những kỹ năng sống phù hợp và đúng đắn. Mỗi học sinh trong thời đại ngày nay cần phải thích nghi với điều kiện và mức độ học tập mới, hoàn cảnh sống mới với nhiều bất trắc và rủi ro. Gia đình và nhà trường không thể đồng hành cùng học sinh mọi lúc, mọi nơi. Bởi thế, có những lúc, học sinh phải tự mình vận động. Tự mình vươn lên, tự mình chiến thắng nghịch cảnh là một điều rất cần thiết. Kỹ năng sống hoàn thiện là nhân tố quyết định làm nên sức mạnh ấy. Rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp học sinh nhanh chóng hoà nhập và khẳng định vị trí của mình trong tập thể. Nếu thiếu những kỹ năng sống cần thiết, học sinh sẽ bị cô lập, đơn độc, tách biệt với thế giưới xung quanh. Khi đó, học sinh cảm thấy khó khăn trong học tập và trong cuộc sống. Có kỹ năng sống, học sinh sẽ được an toàn và tự tin hòa nhập với cuộc sống xung quanh mình. Học sinh sẽ tự biết phải làm gì khi có sự cố xảy ra và tích cực tìm kiếm sự trợ giúp từ người khác. Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tố quyết định đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của học sinh. Rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp học sinh sớm có ý thức làm chủ bản thân, làm chủ năng lực của mình. Kỹ năng sống hình thành đức tính tự lập, giúp sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội. Sự lỗi thời của tư duy, sự trì trệ của nền kinh tế, sự xâm nhập mạnh mẽ của các luồng văn hóa thế giới tạo áp lực nặng nề đối với mỗi học sinh. Trong môi trường không ngừng biến động, học sinh luôn đối diện với những đổi thay đến chóng mặt. Hình thành những kỹ năng sống phù hợp và bền vững là điều rất cần thiết. Nếu thiếu kỹ năng sống, học sinh dễ chán nản trước cuộc sống hay hành động tiêu cực, nông nổi. Kỹ năng sống tốt cũng thúc đẩy thay đổi cách nhìn nhận bản thân và thế giới, tạo dựng niềm tin, lòng tự trọng, thái độ tích cực và động lực cho bản thân, tự mình quyết định số phận của mình. Nó giúp học sinh giải phóng bản thân và vận dụng năng lực tiềm tàng của mình để hoàn thiện bản thân. Học sinh không còn suy nghĩ theo lối mòn và hành động theo thói quen trên hành trình biến ước mơ thành hiện thực. Chính vì thế, có được những kỹ năng sống học sinh sẽ trở nên bản lĩnh hơn trong học tập và trong cuộc sống sau này. Cần rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh như thế nào? Theo kết luận của các nhà khoa học, chính kỹ năng sống quyết định sự thành công của con người. Nếu tri thức đóng vai trò nền tảng giúp con người nhận biết thế giới thì kỹ năng sống, năng lực ứng biến và tiềm kiếm cơ hội là nhân tố làm nên thành công. Kỹ năng sống cũng quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh và năng lực làm việc của con người. Bởi vậy, giáo dục cần phải ưu tiên rèn luyện kỹ năng sống cho mỗi học sinh hiện nay. Trước hết là giáo dục tri thức vững chắc cho học sinh. Tri thức ấy phải cần thiết đối với mỗi cá nhân. Những gì đã cũ kĩ, lạc hậu nên dũng cảm bỏ đi. Những gì tiến bộ, hữu ích nên tích cực cung cấp cho học sinh. Bên cạnh nhiệm vụ thay đổi chương trình và phương pháp giáo dục cũng cần mở rộng các sân chơi rèn luyện và củng cố kỹ năng sống cho học sinh. Phải đảm bảo rằng, bất kỳ một học sinh nào cũng có cơ hội tham gia, trải nghiệm và rèn luyện mình. Giáo dục tinh thần tự lập cho mỗi học sinh là một điều hết sức cần thiết. Chỉ khi biết tự lập trong học tập và đời sống, học sinh mới tự tin khám phá thế giới xung quanh theo cách mình muốn. Hãy tạo điều kiện để học sinh có cơ hội gieo những kiến thức vào thực tế đời sống để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động thành thói quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình. Mục đích cuối cùng của mọi hành động là tiềm kiếm thành quả cho cuộc sống của chính mình. Nâng cao các phẩm chất đạo đức và bản lĩnh văn hóa cho mỗi học sinh. Giáo dục học sinh biết kính trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên, an ủi nhau khi gia quyến có chuyện chẳng lành. Đồng thời tôn trọng các giá trị tinh thàn tốt đẹp của dân tộc trong thời đại mới. Hãy giáo dục cho học sinh ý thức giữ gìn trật tự an toàn giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ phố; bảo vệ môi trường thiên nhiên. Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành mạnh. Những tệ nạn xã hội sẽ giảm bớt đi. Những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của chính con người gây nên cũng được khắc phục. Kỹ năng sống góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực để hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Rèn luyện kỹ năng sống là một quá trình lâu dài xuyên suốt đời người. Không nên vì nóng vội mà áp đặt giáo dục kỹ năng sống trong chương trình dạy học. Điều cần thiết là làm cho mọi người ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống và lồng nó vào các môn học. Những người đã đi làm thì cần bổ sung một vài chuyên đề cần thiết mà bản thân còn yếu để nâng cao năng lực và hiệu quả công việc. Kết luận Không ai sinh ra đã là thiên tài. Mỗi sự thành công trong cuộc đời này đều được đánh đổi bởi rất nhiều trí tuệ và công sức. Lý thuyết luôn có một khoảng cách nhất định so với thực tế. Không nhất thiết bạn phải là một người tài giỏi hay giàu có. Không phải bạn có bao nhiêu niềm tin. Cũng không phải bạn có bao nhiêu nghị lực. Điều quan trọng nhất quyết định mọi thành công đó là bạn sẽ chiến thắng nghịch cảnh bằng giải pháp nào.
Suy nghĩ về rèn luyện kĩ năng sống của học sinh hiện nay
1,561
Đề bài: Suy nghĩ của em về rừng bị tàn phá Bài làm Đất nước ta vốn nổi tiếng là vùng đất với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng với “Rừng vàng, biển bạc, đồng xanh” nhưng hiện nay, những cánh đồng không còn được người dân chăm chút nhiều nữa, biển thì thủy hải sản bị khai thác bừa bãi, trong đó còn có vấn đề ô nhiễm môi trường. Rừng thì lại bị khai thác, có nguy cơ bị tàn phá một cách nghiêm trọng. Rừng là lá phổi xanh, là nơi chứ đựng nguồn sống của cả con người lẫn các loài sinh vật khác. Tuy nhiên, khi xã hội ngày phát triển, nhu cầu vật chất của con người ngày càng cao đã dẫn đến các giá trị nhân văn bị đảo lộn. Con người ta bất chấp bản thân làm nhiều thứ vì tiền, trong đó có vấn nạn khai thác rừng trái phép Họ – những con người không tiếc tay và nhân tâm của mình tàn phá rừng, họ liệu có nhận thức được hành động của mình là sai trái. Rừng là nơi chứa đựng sự đa dạng sinh thái, là nơi trú ẩn của các loài động vật, rừng còn có các cây thuốc quý hữu ích cho cuộc sống, sưc khỏe của con người. Tàn phá những cánh rừng những loài cây quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Rừng là nơi chung sống của các loài động vật, phá rừng, các loài sinh vật sẽ có nguy cơ bị suy giảm mạnh về số lượng do không còn nơi sinh sống, trú ngụ. Các sản phẩm từ rừng là một phần quan trọng của nền kinh tế ở tất cả các nước phát triển lẫn đang phát triển khi biết sử dụng khai thác nguồn lợi từ gỗ, cây thuốc, động, thực vật một cách hợp lý và có sự tái tạo. Tuy nhiên, con người hiện nay lại không nhận thức rõ được tầm quan trọng của rừng, tình trạng khai thác rừng bừa bãi trở thành đề tài nóng. Bởi vậy, là chính con người chứ không phải ai đã tự tay hủy hoại đi cuộc sống tốt đẹp của họ. Tàn phá rừng một cách không thương tiếc, chỉ vì lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân mà bán đứng cả cộng đồng. Cuộc sống lâu dài, giá trị của dân tộc, của thiên nhiên đều vì sự tàn phá rừng mà mất đi cả. Mỗi chúng ta cũng cần có những nhận thức đúng đắn để chung tay cùng cộng đồng ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ, chặt phá rừng bừa bãi. Phá rừng để xây dựng khu công nghiệp, để thực hiện mục đích canh tác, làm nương, làm rẫy…để thu lợi bán từ bán gỗ, động vật quý hiếm. Cái giàu cái lợi phục vụ một bộ phận cá nhân sẽ khiến cho cả xã hội phải chịu chung hậu quả Mỗi chúng ta đang dần bị ảnh hưởng bởi những hành động chưa đúng của con người, cuộc sống đang ngày bị đe dọa, khi nhiệt độ trái đất ngày càng tăng, con người đổ xô chặt phá rừng để xây dựng những khu công nghiệp, hay là để thu lợi từ bán gỗ, tất cả những điều đó hậu quả nghiêm trọng cũng đều là con người phải gánh phải. Mỗi chúng ta cần phải có ý thức và trách nhiệm đối với tài nguyên của đất nước, cần gìn giữ và bảo vệ rừng, đó cũng chính là đang bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta,
Suy nghĩ về rừng bị tàn phá
607
Suy nghĩ về số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích nhân vật Lão Hạc Đề bài: Suy nghĩ về số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi. – Vấn đề cần bàn luận là “số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc” trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao. – Đề cập đến số phận đau khổ và tính cách tốt đẹp của nhân vật lão Hạc. – Có luận điểm rõ ràng, luận cứ đầy đủ và lập luận rành mạch. – Trình bày được những suy nghĩ của người viết về số phận và tính cách của lão Hạc, cũng là của người nông dân Việt Nam trong xã hội thực dân phong kiến. 2. Gợi ý – Cần đọc một số truyện ngắn của Nam Cao viết về người nông dân. – Cần làm rõ số phận của lão Hạc: goá vợ, cô đơn, sống khổ sở, tự coi là một kiếp người không hơn kiếp chó. – Nhưng tính cách của lão Hạc là tính cách của một con người có nhân cách, sống giàu tình cảm, bề ngoài có vẻ gàn dở, nhưng lại là con người có lòng tự trọng, thà chết chứ không làm điều xấu. – Số phận của lão Hạc làm nổi bật tính cách của lão, khẳng định bẳn chất lương thiện, tốt đẹp của người, nông dân. – Cần kết hợp nghị luận, bình luận với biểu cảm. 3. Lập dàn ý a. Mở bài: Truyện ngắn Lão Hạc trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao. b. Thân bài – Lão Hạc là người có số phận đau khổ, bế tắc (vợ mất sớm, con bỏ đi làm cao su, kỉ vật cuối cùng của con phải bán, sống sẽ phạm vào tài sản dành dụm cho con). – Tuy khốn khổ, nhưng lão vẫn giữ được bản chất lương thiện, trong sạch, (thương con, đau khổ vì trót lừa một con chó, tự tìm lấy cách giải quyết không để phiền cho ông giáo và dân làng, chọn cái chết chứ không chịu làm điều xấu). – Số phận đau khổ, bế tắc nhưng tính cách vẫn cứng cỏi, trong sáng. Lão Hạc và những người nông dân Việt Nam đã sống lương thiện, tốt đẹp vượt lên trên số phận. – Suy nghĩ về sự phát hiện, bênh vực và ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người nông dân trong sáng tác của Nam Cao. c. Kết bài: Đóng góp của Nam Cao qua truyện ngắn Lão Hạc. 4. Bài làm minh họa Bài 1 Các tác phẩm về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám đã lên án gay gắt xã hội thối nát thời xưa, một xã hội điêu tàn, bất lương, luôn luôn dồn ép những người dân vô tội vào cảnh bần cùng khốn khổ. Đồng thời, các câu chuyện cũng ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý của họ. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao là một trong những tác phẩm thành công nhất của đề tài này. Ngay từ nhan đề của truyện đã giúp ta biết rằng nhân vật chính của câu chuyện là một ông cụ. Sự thực đã là như vậy, câu chuyện là cuộc đời của một cụ già vô cùng khắc khổ. Lão khắc khổ từ hình dáng đến số phận của mình. Đó là một ông lão già nua, bất hạnh vì cô đơn, bệnh tật lại luôn bị sự đói nghèo dằn vặt. Vợ chết sớm, lão phải lâm vào cảnh gà trống nuôi con một thân một mình nhưng khốn thay, con trai lão do không chịu nổi sự khổ cực bần hàn, sự lạnh lùng, đen bạc đã xin đi phu đồn điền cao su. Vậy là vợ con đã đều rời xa lão, lão chỉ còn biết bầu bạn với con chó vàng. Lão coi nó như là một đứa con, đứa cháu, một người thân của mình để chia sẻ từng miếng cơm, manh áo của mình cho nó, ngày ngày bầu bạn, tâm sự với nó. Nhưng, cuộc sống dồn đẩy đến tận cùng, lão ốm nằm liệt giường, không làm được việc gì, phải ăn bòn vào tiền vườn vẫn để dành cho con. Tiếp sau, làng bị “mất nghề vé sợi” công ăn việc làm cũng hiếm hoi hơn. Lựa chọn duy nhất giờ đây là phải bán con chó đi vì một miệng ăn cũng đã không lo đủ rồi huống chi còn nuôi thêm một con chó – “ốc còn không mang nổi mình ốc thì làm sao vác cọc cho rêu” được! Cái chi tiết lão bán con chó đì làm người đọc như chúng ta không thể không đau lòng. Hôm bán xong con vàng, lão sang nhà ông giáo để bộc lộ. Lão cố làm ra vẻ bình thường nhưng không thể giấu được nỗi đau trong lòng: “trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước…”. Nỗi đau làm biến dạng khuôn mặt của con người già nua đầy đau khổ đó: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”. Hình ảnh đó càng làm nổi bật lên phẩm chất đáng quý của lão Hạc, đó là tính lương thiện và lòng thương con vô bờ bến. Lão bán con chó để không dùng vào tiền vườn, tiền để dành cho con về cưới vợ. Tình cha con sâu sắc của người nông dân già cả, nghèo khó khiến người đọc không khỏi cảm động và yêu mến. Lão còn nhờ ông giáo giữ hộ mảnh vườn để mai sau người con trở về có nhà để ở, có vườn và ruộng để mà làm ăn bằng một văn tự mua bán hẳn hoi. Thậm chí để lo hậu sự mai sau cho mình lão cũng rất chu tất, chả phiền luỵ, nhờ vả, vay mượn ai cả. Hình như theo lão có để lại cho con thì chỉ để tài sản chứ không để lại nợ nần. Tin tưởng trao gửi cả một “tài sản” lớn đối với lão cũng như đối với đời sống kinh tế lúc bấy giờ, mà không chút nghi ngờ, băn khoăn phải chăng bắt nguồn từ tấm lòng đầy nhân hậu, vị tha của nhân vật. Từ đó, ta thấy được ẩn sâu trong những con người đầy nghèo khổ và buồn đau này một tấm chân tình cảm động xiết bao. Qua truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta đã biết thêm được về số phận, cảnh đời của những người nông dân trong xã hội xưa nói chung và lão Hạc nói riêng. Lão Hạc chính là hiện thân cho một nhân cách cao đẹp trong cái bóng đêm bao trùm lên những người dân vô tội khốn khổ khi xưa. (Phạm Vân Anh, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ) Nhận xét Biết cách làm bài văn nghị luận về nhân vật trong tác phẩm văn học. Trong bài, có hai vấn đề cần làm rõ là số phận đau khổ, đáng thương, bế tắc và tính cách tốt đẹp, trong sáng của lão Hạc. Cần đi sâu vào phân tích tình thương con, sự nhân hậu, lòng tự trọng và sự trong sạch, thà chết không chịu làm những điều xấu. Người viết chủ yếu mới dừng lại ở việc tóm tắt nội dung tác phẩm và thêm một vài lời bình luận, nhận xét của mình. Bài 2 Văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 là nơi hội tụ của nhiều cây bút văn xuôi xuất sắc. Mỗi người một đề tài, một phong cách sáng tác riêng song đều tập trung phản ánh tính cách và số phận của nhiều tầng lớp người dân thời kì đó. Khi nhân dân ta rơi vào cảnh nước mất, nhà tan, bản thân là kiếp nô lệ thì cuộc sống không thể khác là sự đoạ đày và khổ đau. Điều đó đã được thể hiện sâu sắc qua truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Trước hết ông là một người nông dân gặp nhiều nỗi khổ tâm và bất hạnh, vì nghèo đói nhưng rất chất phác đôn hậu và giàu lòng yêu thương con. Trong cảnh làng mất nghề, người nghèo khắp nơi thì những người già nghèo như lão Hạc là khổ hơn cả. Lão sức yếu mà không có người đỡ đần, chăm sóc khi tuổi già. Đau khổ hơn cho lão Hạc là người con trai đi bặt vô âm tín mấy năm liền. Bản thân lão ốm yếu luôn mà không có tiền chữa bệnh, lão Hạc sống nốt những năm cuối đời trong cảnh cô đơn. Mòn mỏi về bệnh tật và chờ đợi đứa con ngày cũng như đêm, đó là nỗi bất hạnh và khổ tâm rất lớn của lão Hạc. Cô đơn về tinh thần, về vật chất lão Hạc cũng chẳng sung sướng gì. Đói khổ, bàn đầu lão Hạc còn ăn củ khoai, củ sắn, sau thì ăn thức ăn tự tạo lấy: “hôm thì ăn củ chuối, hôm thì ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, củ khoai hay bữa trai, bữa ốc”. Lão đã quỵ ngã vì bệnh tật, vì nhớ mong khắc khoải. Tuổi lão đã cao, lại thêm sự lo toan cho cuộc sống, thời gian cứ đánh gục dần lão. Chính cái chế độ thực dân phong kiến ấy đã bần cùng hoá lão, dồn lão đến trước con đường của Binh Tự: con đường bất lương, trộm cắp, đánh bả chó. Mặc dù đã bị dồn đến bức tường cuối cùng ấy nhưng lão Hạc vẫn không chịu cúi đầu chui qua cái lỗ nhỏ mà số phận chỉ cho, lão không chịu bán đi hai chữ “lương thiện” mà chấp nhận kết thúc cuộc đời, kết thúc một kiếp người như kiếp chó của mình. Cái chết của lão Hạc thảm thương quá: Lão “vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc.”. Như vậy đấy, cuộc đời người nông dân trước Cách mạng khổ từ khi sinh ra cho đến tận lúc chết, mà hình ảnh điển hình là lão Hạc đã được đưa vào văn học. Mặc dù đời sống bị bần cùng hoá đến cùng cực như vậy nhưng lão Hạc vẫn không mất đi những phẩm chất vốn có của người nông dân Việt Nam. Từ lời nói đến việc làm, suy nghĩ của lão Hạc đều toát lên vẻ thực thà, chất phác. Lão nói với ông giáo: “Tôi cắn rơm, cắn cổ lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì cho tôi gửi.”. Nghe lão nói thật hiền từ mà chất pháe quá! Nhỡ sang tên cho ông giáo rồi, ông ta nghèo quá mà bán đì thì sao? Ay là cái tírìh của người nông dân “chọn mặt gửi vàng”, tin tưởng vào những người có học. Cao hơn cả chất phác, lão Hạc là người có tấm lòng đôn hậu. Ông lão rất thương con, nhất định không dùng đến tiền bán vườn của con. Yêu con nên thấy con không cưới được vợ, lão Hạc rất đau khổ. Sống cô đơn, nghèo khổ, nhưng ngày cũng như đêm, lão đều nghĩ, đều thương đến con. Vì thương con và bất lực trước cuộc sống, lão mới kết thúc cuộc đời để khỏi xâm phạm đến mảnh vườn của con. Tình yêu con của lăo cũng thể hiện ở sự thương yêu, trân trọng kỉ vật của con để lại: một con chó “lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đúâ con cầu tự”. Những lúc rỗi rãi, lão tắm cho nó, bắt rận cho nó đầy yêu thương. Lão còn cho nó, ăn trong một cái bát, lúc nào cũng tâm sự với nó. Khi bán nó, lão không thể nén được dòng nước mắt như cái lần lão tạm biệt con trai. Có thể hiểu rằng bán coin chó vàng là lão vĩnh viễn không thấy được hình ảnh người con trai. Qua hình ảnh của lão Hạc, ta có thể nhận thấy rằng, dưới chế độ thực dân phong kiến, thân phận người nông dân tuy đầy đau khổ nhưng tâm hồn họ vô cùng chất phác và đôn hậu. (Bùi Bình Giang, lớp 9CA, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Người viết đã nắm được cách làm bài nghị luận về vấn đề của một nhân vật trong tác phẩm văn xuôi. Bạn đã nêu được những nét cơ bản về số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc. Nói về lòng chất phác của nhân vật, bạn đã phân tích sự tin tưởng tuyệt đối của lão Hạc vào ông giáo, người có chữ mà không hề băn khoăn ông giáo có thể bán đi mảnh vườn của mình. Tuy vậy những lời nói, suy nghĩ của nhân vật, đặc biệt là cách miêu tả của nhà văn còn ít được chú ý viện dẫn, vì thế có cảm giác bài viết còn có phần sơ lược. Bài 3 Từ xưa đến nay, nói đến Nam Cao là người ta nói ngay đến Lão Hạc. Tác phẩm này được coi là một truyện ngắn xuất sắc trong văn học hiện thực phê phán thời kì 1930 – 1945. Đó!à một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn, bất hạnh và cái chết đau đớn của một lão nông nghèo khổ. Nhân vật lão Hạc đã khắc vào lòng người đọc một cách sâu đậm về hình ảnh một lão nông đáng kính với phẩm chất của con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương con. Cuộc đời lão Hạc là một chuỗi những đau khổ, bất hạnh, một kiếp đời chua chát và đắng cay từ khi sinh ra cho đến khi ra đi về cõi vĩnh hằng. Goá vợ từ khị còn trẻ, một mình lão gà trống nuôi con trong cẫnh đói nghèo, lam lũ, những mong con khôn lớn, trưởng thành làm chỗ nương tựa lúc ốm đau, khi tuổi già. Nhưng hạnh phúc nhổ nhoi ấy đã không đến với lão. Vì không đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên đi làm phu đồn điền cao su. cảnh chia li của cha con lão Hạc không hẹn ngày sum họp. Lão Hạc đã mất vợ nay lại thêm nỗi mất con. Cảnh khốn khó về vật chất hoà trong nỗi đau tinh thần thành dòng lệ chảy trong trái tim chờ đợi khắc khoải của người cha. Nhưng cuộc đời dường như vẫn chưa buông tha lão. Bất hạnh rồi lại bất hạnh cứ liên tiếp giáng xuống đầu người cha già khốn khổ. Kiệt sức vì lam lũ, lẩm than, vì mòn mỏi đợi chờ, lão ốm nặng. Sau trận đó, lão yếu đi nhiều, không thể làm được những việc nặng. Làng mất nghề sợi, đàn bà rỗi rãi nhiều, có việc gì nhẹ họ đều tranh hết. Lão Hạc rơi vào cảnh bần cùng hoá hoàn toàn. Lão sống vật vờ với con ốc, con trai, củ khoai, củ ráy, sung luộc,… Những thứ ấy cũng chẳng dễ gì kiếm được với một lão già đã cạn kiệt sức lực. Cùng đường sống, lão Hạc tìm đến cái chết, lấy cái chết để tự giải thoát cho mình. Lão đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm “đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, mồm tru tréo, bọt mép sùi ra,… vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết”. Cái chết thật dữ dội! Số phận một con người, một kiếp sống như lão thật đáng thương. Lão Hạc sống nghèo khổ về vật chất nhưng rất giàu tình cảm. Tình yêu thương con nồng nàn sâu sắc của lão là câu chuyện cảm động về tình cha con. Nhìn con đau khổ vì không có tiền để cưới vợ, lão Hạc khổ tâm vô cùng. Lão thấy mình như có lỗi với con và lão day dứt mãi. Khi con phẫn chí đăng tên đi làm phu đồn điền cao su, trái tim người cha thực sự tan nát. Nỗi thương nhớ thường trực trong người cha đã biến thành sự khắc khoải ngóng trông: “Thằng cháu nhà tôi dễ đến hơn một năm nay chẳng có giấy má gì ông giáo ạ”. Ta đọc được trong câu nói ấy cái tình cảm ấm áp của người cha. Thương nhớ con, lão dồn tình cảm âu yếm vào “cậu Vàng” – kỉ vật của người con để lại. Cái tên cậu Vàng đã chứa đựng tất cả tình quý mến và thân thiết đối với một con vật – một kỉ vật. Không phải bất cứ người nào cũng có thể yêu thương con vật như vậy. Vậy lão không đôn hậu, yêu con đó sao? Những cơn mưa bão liên miên, hoa màu trong vườn đều bị phá sạch, việc làm chẳng còn, nếu cứ tiếp tục như vậy thì sẽ ăn vào số tiền chắt chiu dành dụm cho con. Đặt lên bàn cân mà tính, suất ăn của con chó cũng bằng lão, vậỵ thì tốn quá. Giữa số tiền dành dụm cho.con và con chó – người bạn tâm tình, lão sẽ chọn ai đây! Để đi đến quyết định, lão đã phải dằn vặt, đau khổ, lão suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới dũng cảm bán con chó. Cuộc lựa chọn khó khăn, tàn khốc diễn ra trong nước mắt. Nhưng nếu không bán con chó, lão sẽ chết và số tiền dành dụm cho con cũng chẳng còn. Lão bán chó đâu phải để ăn mà để lo cho tương lai của đứa con. Hình ảnh lão Hạc “miệng méo xệch”, “khóc hu hu” khi nghĩ rằng mình đã đánh lừâ một con chó là hiện thân của tấm lòng nhân ái cao cả. Bao nhiêu tình thương yêu con lão dồn cả vào việc quyết giữ bằng được mảnh vườn cho con. Khi đã hết đường sinh nhai, lão Hạc cồ thể bán vườn đi, nhưng lão không làm thế, lão thà chết chứ không chịu bán đi một sào. Thậm chí trước khi chết, lão còn tìm nơi nhờ cậy gửi gắm mảnh vườn ấy… Cuộc đời lão Hạc thật bi thương. Nhưng giữa cuộc đời khốn khó, lão Hạc vẫn ý thức được nhân phẩm của mình. Lòng tự trọng của một người không cho phép lão nhận sự giúp’đỡ của ông giáo mà lão biết cũng chẳng sung sướng hơn gì lão, càng không cho phép lão phiền luỵ đến bà con lối xóm. Ý thức được điều đó một cách sâu sắc, lão Hạc đã nhịn ăn để dành tiền làm ma cho mình. Ta nhận thấy ở lão Hạc một triết lí sống cao đẹp biết nhường nào… Dưới một xã hội đen tối, ngột ngạt, không ít người đã đánh mất nhân phẩm, hoặc tha hoá, biến chất. Ta cũng dễ dàng tìm thấy họ trong một loạt những, sáng tác của Nam Cao. Nhưng khác với họ, dù nghèo đến đâu, lão Hạc vẫn sống trong sạch và lương thiện. Chính nhân vật ôưg giáo đã nhận xét về lão: “Binh Tư lặ/ínột người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa gì lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá.”. Hết kế sinh nhai lão có thể chọn con đường theo Binh Tư, nhưng lão Hạc không làm như thế. Lão thà chết chử nhất định không bán linh hồn cho quỷ dữ. Một cách sống và xử thế thật đáng trân trọng, phù hợp với đạo lí “thác trong hơn sống đục” của nhân dân ta. Cuộc đời lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất lực. Sống thì âm thầm, nghèo đói cô đơn ; chết thì quằn quại đau đớn. Tuy thế, lão Hạc lại có phẩm chất tốt đẹp như hiền lành, chất phác, vị tha, nhân hậu, trong sạch và tự trọng,… Lão Hạc là một điển hình về người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ, được Nam Cao miêu tả chân thực với bao nhiêu trân trọng, xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết. (Nguyễn Diệu Hoa, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Một bài viết khá chặt chỗ, mạch lạc. Bạn đã phân tích số phận đau khổ, bất hạnh của một con người cô đơn. Nhưng dù tai hoạ có liên tiếp giáng xuống thì con người đó vẫn vượt lên để làm một người cha hết lòng thương con, một người dân lương thiện và giàu lòng tự trọng. Bạn đã so sánh cái chết của nhân vật lão Hạc với cái chết những nhân vật khác của Nam Cao để làm rõ sự khác biệt cua truyện ngắn này, đồng thời cho thấy các nhân vật của Nam Cao thường bị xã hội đẩy đến chỗ chết.
Suy nghĩ về số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao – Ngữ Văn 9
3,611
Suy nghĩ về số phận đau thương của nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ Hướng dẫn Số phận đau thương, nghiệt ngã của nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ Mở bài: Văn học dân tộc thế kỉ XVI có nhiều tác phẩm xuất sắc viết về thân phận đau thương của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Trong đó thành công là thiên truyện Chuyện người con gái Nam Xương trích truyện thứ 16 trong 20 thiên truyện của tác phẩm Truyện kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Cuộc đời và số phận của nhân vật Vũ Nương là điển hình cho số phận bi kịch của người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống bình yên nhưng lại gặp phải cảnh ngộ éo le, oan khuất, bất hạnh bởi sự ràng buột của những lễ nghi khắc nghiệt. Thân bài: Trên cơ sở nguồn góc từ truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, cộng thêm vào đó những hư cấu và sáng tạo các tình tiết truyền kỳ của chính tác giả, ngoài bút Nguyễn Dữ đã để lại cho đời một áng thiên cổ kì bút. bất hủ. Truyện kể về người con gái tên là Vũ Thị Thiết (thường gọi là Vũ Nương) quê ở Nam Xương. Vũ Nương vừa đẹp người lại đẹp nết, có chồng là Trương Sinh – gia cảnh khá giả nhưng có tính ghen tuôn quá mức. Khi chồng đi lính, Vũ Nương ở nhà sinh hạ mọt đứa con trai. Nàng hết lòng nuôi dạy con thơ và phụ dưỡng mẹ chồng. Chiến tranh kết thúc, Trương sinh trở về quê. Chỉ vì nóng vội tin lời con trẻ, Trương Sinh nghi vợ thất tiết nên đã hết lời la mắng, sỉ nhục và đuổi đi. Uất ức vì không thể phân minh, nàng tìm đến cái chết trầm mình nơi dòng Hoàng Giang. Sau khi nàng chết, Trương Sinh hiểu rõ sự tình. Chàng hối hận vô cùng nhưng đã quá muộn màng. Vũ Nương được Linh Phi cứu sống và cho ở nơi cung nước. tuy vẫn còn quyến luyến trần gian nhưng nàng quyết không trở về nữa. Lần trở về trên bến sông là để minh giải oan khuất và từ biệt mà thôi. Vẫn là câu chuyện nói về số phận một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, bị oan khuất phải tìm lấy cái chết để minh chứng sự trong sạch của mình. Kết cấu ấy là kết cấu thường thấy trong truyện cổ tích. Nhưng với cái nhìn tiến bộ, Nguyễn Dữ đã thể hiện lòng trân trọng và cảm thương của mình đối với cuộc sống đau khổ và số phận bi thảm của người phụ nữ ở chế độ xưa. Đặc biệt là vũ nương – một người xuất thân từ giới bình dân “vốn con kẻ khó” Tuy không khắc họa đậm nét cá tính nhân vật như các tác phẩm văn học khác, Nguyễn Dữ cũng đã xây dựng nhân vật Vũ Nương khá toàn vẹn. Trước hết Vũ Nương mang vẻ đẹp của một con người lí tưởng. Ở nàng là sự hài hòa, cân đối về cả ngoại hình lẫn tâm hồn. Nhà văn đã phát thảo vẽ đẹp hoàn hảo đó trong một câu văn: ” Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Vũ Nương hiện lên vói vẻ đẹp diệu dàng, hiền hậu, dễ mến mà không kém tươi tắn, đáng quý đáng tôn trọng. Chưa thể gọi nàng là hồng nhan, tuyệt sắc nhưng có thể nói đó là một người con gái đẹp, khiến lòng người say mê. Vũ Nương còn là một người vợ thủy chung, một người mẹ đảm đang, một người con dâu hiếu thuận vẹn toàn. Khi Trương Sinh ra trận, nàng tìm lời khuyên nhủ thắm tình, trọn nghĩa. Nàng chỉ mong chồng được bình an nơi trận mạc, khuyên chồng chớ ham danh lợi mà thiệt đến thân. Ở nhà, nàng giữ gìn tiết hạnh, khép kín cuộc sống dợi chồng trở về. Một mình vừa chăm con nhỏ, vừa lo cho mẹ già. Việc gì nàng cũng chu toàn. Với con nhỏ, biết con lớn lên trong sự thiếu thốn tình cha, nàng luôn tìm cách bù đắp cho bé Đản bằng cách chơi đùa với con. Mỗi đêm vắng lặng, để giỗ con nín, nàng thường chỉ lên cái bóng của mình ở trên tường và bảo rằng đó là cha. Bé Đản ngây thơ tin thật nên không khóc nữa. Cùng một lúc Vũ Nương thay chồng cùng làm mẹ cùng làm cha bé Đản. Qua hành động ấy ta thấy rõ, Vũ Nương vừa che giấu nổi niềm thương nhớ chồng trong lòng vừa làm chỗ dựa vững vàng cho con, cho cả gia đình. Cái bóng ấy nàng gửi vào trong ấy tâm tư yêu nhớ khôn nguôi người chồng nơi chiến trường. Đồng thời xây dựng ước mong, khát vọng và niềm tin về người cha trong trong tâm trí con thơ. Đối với mẹ già, Vũ Nương đã hoàn thành xuất sắc vai trò cả một người con dâu hiền hậu, hiếu thảo với mẹ chồng. Lúc mẹ chồng ốm nặng, nàng “hết sức thuốc than lễ bái thần phật và lấy lời ngoạt ngào khôn khéo khuyên lơn” để mẹ vơi nỗi nhớ con mà khỏe hơn. Đến khi bà mất, nàng “vô cùng thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với mẹ cha đẻ của mình”. Tấm lòng thơm thảo của Vũ Nương đã thêm tô đậm vẽ đẹp truyền thống toàn vẹn của nàng: dịu dàng, đầm thấm, giàu yêu thương, hi sinh…. Tấm lòng trung hậu ấy đã khiến cho mẹ chồng cảm động: “sau này trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” … Với tất cả phẩm hạnh cao quý ấy, nhưng tưởng người phụ nữ mẫu mực này rồi cũng sẽ có một cuộc sống tốt đẹp, yên bình. Nhưng nào ngờ, đối với nàng, đó chỉ là một giấc mơ một khác khao dường như vô vọng. Chiến tranh kết thúc. Trương sinh trở về. Nhưng cái giây phúc đoàn viên cũng chính là giây phúc đau khổ, thương tâm nhất trong cuộc đời nàng. Vì mù quáng tin lời nói ngây thơ của con trẻ, trương Sinh trở nên hồ đồ, ngu muội, trở nên bất nghĩa, vô tâm, đẩy Vũ Nương đến cái chết oan uổng. Hóa ra cái bóng hôm nào trong trò chơi với con giờ đây trở thành nguyên nhân đẩy nàng đến đường tận tuyệt. Từ cái bóng mờ trên tường trở thành bóng tối trong lòng Trương Sinh. Phía sau cái bóng ấy là định kiến, là lễ giáo phong kiến vốn hà khắc đã chà đạp lên cuộc đời và số phận của người phụ nữ, đẩy họ vào bước đường cùng nghiệt ngã không lối thoát. Nguyễn Dữ như muốn minh oan và bù đáp cho đức tính tốt đẹp của nàng bằng một cuộc sống khác với chốn dương gian. Nàng được sống trong “cung gấm đền giao thật nguy nga lộng lẫy” cùng với Linh Phi và tiên nữ. Song cuộc sống của nàng vẫn luôn mang ám ảnh, đau khổ, dằn vặt. Tuy nói dứt nợ phàm trần nhưng nỗi lòng vẫn canh cánh quê xưa. Duyên trần đã dứt nhưng oan tình chưa giải dduwwocj đã khiến Vũ Nương nơi cung nước vẫn ngày đêm thổn thức. nhờ có Phan Lang giúp đỡ, nàng được trở về tự minh oan cho mình. Chi tiết ấy thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Dữ. Dù đất trời đã chứng giám nhưng lòng người chưa rõ. Vũ Nương trở về là để lấy lại giá trị của mình và phủi sạch lớp bụi nhơ bẩn của trần gian. Chi tiết tưởng chừng như hiển nhiên ấy lại là là một sự bức phá của người phụ nữ trước sự kìm kẹp của lễ giáo phong kiến. Đồng thời đó là tiếng nói căm phẫn của nhà văn đối với xã hội đầy bất công, ngang trái. Ta cũng chợt nhận ra, chế độ phong kiến đã gây ra nhiều bất hạnh cho không ít phụ nữ. Nếu ta đã từng đau cho nỗi đau của Thúy Kiều, một người con gái sắc tài bạc mệnh thì giờ đây ta làm sao có thể dửng dưng trước những gì Vũ Nương đã trải qua. Nếu ta đã một lần khóc than cho nổi oan khiên của Thị Kính, khóc cho sự chờ đợi mòn mỏi của người thiếu phụ chờ chồng thì đến với Chuyện người con gái Nam Xương làm sao ta có thể xót xa, không ray rức trước oan tình nghiệt ngã của Vũ Nương. Tác phẩm lời tố cáo mạnh mẽ cái chế độ hà khắc của xã hội phong kiến, chế độ trọng nam khinh nữ, những định kiến cổ hủ, lạc hậu… đã đày đọa những người con gái nhỏ bé vào hoàn cảnh bất hạnh, thương tâm. Kết bài: Gấp lại trang sách, cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương – người con gái Nam Xương còn đâu đó làm ta động lại những cảm xúc, vấn vương. Cuộc đời và khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến cùng với những vẽ đẹp tâm hồn nhân phẩm đáng quý của họ đều được ngòi bút tài tình của Nguyễn Dữ thể hiện thành công đến nhói lòng. Đó cũng là một lời tố cáo quyết liệt, một lời tố cáo giá trị vô cùng lớn lao trong xã hội lúc bấy giờ.
Suy nghĩ về số phận đau thương của nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ
1,657
Suy nghĩ về sức mạnh của tiền bạc đối với cuộc sống con người Hướng dẫn Mở bài: Không thể nào phủ nhận được vai trò, giá trị và sức mạnh của tiền bạc trong cuộc sống con người. Bởi bản chất của đời sống con người là xoay quanh giá trị đồng tiền và dùng nó để tạo nên các giá trị hữu ích khác, làm phong phú thêm cuộc sống của chính mình. Tiền bạc là sáng tạo vĩ đại của loài người nhưng chính nó lại để lại những hệ lụy khủng khiếp trong đời sống của chúng ta. Thân bài: Tiền là một phương tiện thay thế giá trị của vật chất và dùng để trao đổi trong cuộc sống. Tiền được nhà nước phát hành dưới nhieuf dạng: tiền giấy, tài khoản, chuẩn tệ,… Có thể hình dung mọt cách dễ dàng tiền đại diện cho giá trị của vật chất. Trong cuộc sống, tiền đại được quy đổi dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhắc đén tiền bạc là nhắc đến sự giàu có và thịnh vượng. Có thể nói, tiền đại diện cho toàn bộ đời sống vật chất của con người. Đồng tiền đóng vai trò quan trọng đối với con và xã hội. Đồng tiền vốn không xấu vì nó là phương tiện dùng để trao đổi trong cuộc sống là kết quả lao động của những con người chân chính. Tuy nhiên tiền không phải tất cả vì còn có những thứ quý giá mà nó không thể sánh ngang như tình nghĩa,sức khỏe,tri thức. Chính vì vậy chúng ta cần nhận thức rõ giá trị cũng như mặt tốt và mặt xấu của đồng tiền và luyện tập tiêu tiền sao cho hợp lý. Tiền không phải là thước đo chính xác để đánh giá một con người nhưng hầu hết chúng ta đều sử dụng thước đo này. Tiền có thể mua tất cả mọi thứ như nhà cửa, xe, những vật gia dụng mà con người cần có. Tiền không phải là tất cả, nhưng không có tiền thì không có gì cả. Đồng tiền có thể chi phối mọi thứ. Ta có thể dùng đồng tiền để có được sức khỏe, thời gian, tri thức, địa vị và danh vọng, kiến thức. Thực tế đã cho thấy được sức mạnh của đồng tiền. Nếu bạn có đủ tiền, bạn có thể mua được mọi thứ bạn muốn. Dùng tiền để mua thứ không thuộc về mình, ban đầu có thể làm bản thân vui sướng nhưng càng về sau, kết cục sẽ càng bi thảm. Một số cô gái khi chọn chồng vẫn luôn chọn người có gia thế, vì muốn được đáp ứng mọi nhu cầu về vật chất. Nhưng chắc chắn rằng họ sẽ không có được sự hạnh phúc vì mặt trái của tiền bạc rất nguy hiểm. Tiền không thể mang lại cho chúng ta sự hạnh phúc mà nó chỉ mang lại sự đau buồn. Người cần tiền sẽ dùng mọi cách để đạt được điều mình muốn bất chấp mọi thủ đoạn, người bị lợi dụng cũng không vui vẻ gì khi chỉ sống trong lừa dối. Điển hình khác về tình yêu và tiền bạc trong bài “Chuyện người con gái Nam Xương”. Một người vô học như Trương Sinh lại cưới được một cô gái nết na, tư dung tốt đẹp nhờ vào trăm lạng vàng. Nhưng kết cục của cuộc tình lại bi thương do sự đa nghi và do không có đủ tình yêu, niềm tin đối với Vũ Nương. Qua đó có thể cho chúng ta thấy, tiền không hẳn mang lại cho ta tất cả. Chỉ có đồng tiền chân chính do ta tự làm ra và bản thân ta mới thể tạo ra hạnh phúc cho riêng mình. Đồng tiền chứa trong nó ma lực khủng khiếp. Nó lôi kéo con người vào những việc làm phi pháp, trái với đạo đức. Một số người vì lợi nhuận mà có thể làm những chuyện sai trái như bán những mặt hàng kém chất lượng, để phải nhận lại hậu quả là vào tù hoặc thậm chí là tử hình. Vì vậy có thể nói tiền bạc có thể đem lại sự giàu sang, sung sướng nhưng nếu quá ham mê tiền bạc thì hậu quả nó để lại thật sự rất khủng khiếp. Đủ sức khỏe để biến công việc thành lạc thú. Đủ tiền bạc để đáp ứng nhu cầu bản thân. Đủ sức mạnh để chống lại và vượt qua nghịch cảnh. Biết đủ là bạn sẽ có đủ. Đừng để tiền bạc lừa dối lí trí, khuấy động lòng tham của bạn. Trên đường đi đến thành công không thể không có tiền. Nhưng hãy sử dụng nó mọt cách khôn ngoan. Ai biết tiết kiệm và kiên trì làm việc, người đó sẽ không bao giờ bị thiếu thốn. Kết bài: Không có tài sản nào quý bằng trí thông mình và không vinh quang nào lớn hơn học vấn và hiểu biết. Có thể mọi thứ trên mặt đều phải trả bằng tiền bạc nhưng những gì thuộc về tinh thần con người thì nên trả bằng giá trị tinh thần. Đề cao đời sống tinh thần và các giá trị tốt đẹp nhưng cũng không nên hạ thấp vai trò, giá trị và sức mạnh của tiền bạc trong đời sống của chúng ta. Nên nhớ rằng, chúng ta đang làm việc vì tiền bạc, và đem nó xây dựng nên đời sống của chúng ta.
Suy nghĩ về sức mạnh của tiền bạc đối với cuộc sống con người
925
Suy nghĩ về sự kiện: Góp tay xoa dịu nỗi đau da cam của nhân dân cả nước Hướng dẫn Chất độc màu da cam mà đế quốc Mỹ đã rải xuống các cánh rừng miền Nam thời chiến tranh đã để lại di họa nặng nề cho hàng chục vạn gia đình. Hàng chục vạn người đã chết. Hàng vạn trẻ em chịu tật nguyền suốt đời. Cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau của họ. Em hãy nêu suy nghĩ của mình về các sự kiện đó. Dàn bài: Góp tay xoa dịu nỗi đau da cam I. MỞ BÀI Cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài hai mươi mấy năm của đế quốc Mĩ trên đất nước Việt Nam đã gây bão thảm họa. Một trong những tội ác có tính chất hủy diệt là giặc Mỹ đã rải chất hóa học xuống các cánh rừng và làng mạc khắp miền Nam để phá hoại thiên nhiên và tiêu diệt lực lượng cách mạnh. Chất độc màu da cam đã để lại di họa nặng nề cho hàng chục vạn gia đình và hàng vạn trẻ em ra đời sau chiến tranh. Cả nước đang phát động phong trào “Góp tay xoa dịu nỗi đau da cam” và khởi kiện các công ty sản xuất hóa chất của Mỹ, đòi bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân chất độc màu da cam. 1. Chất độc màu da cam trên đất nước Việt Nam Hàng vạn người đã chết, không ít trẻ em ra đời sau chiến tranh đã trở thành nạn nhân của nó. Các bạn nhỏ ở làng Hòa Bình trong bệnh viện Từ Dũ. Tội ác của giặc Mỹ, di hại của chất độc màu da cảm hiển diện rõ ràng trên những con người tật nguyền, dị dạng. Có bé không tay, có bé toàn thân đầy lông lá, nhiều bé chân tay vặn vẹo, không thể đi lại. Một số ít may mắn có được hình dáng bình thường thì câm điếc hoặc bị bại não… Số phận bất hạnh sẽ đeo bám cả cuộc đời và là nỗi đau của gia đình và xã hội. 2. Phong trào đấu tranh đòi bồi thường Từ năm 2004 đến nay, phong trào “Góp tay xoa dịu nỗi đau da cam” đã phát triển rộng rãi trên khắp đất nước ta. Ủy ban về vấn đề của nạn nhân chất độc màu da cam đã khởi kiện công ty hóa chất sản xuất và cung cấp chất độc cho quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. 3. Suy nghĩ của bản thân Căm phẫn trước tội ác dã man của đế quốc Mỹ. Chất độc đó không chỉ gây tác hại nghiêm trọng cho những người trực tiếp chịu ảnh hưởng mà còn di hại tới nhiều thế hệ sau. III. KẾT BÀI Phản đối những cuộc chiến tranh phi nghĩa trong quá khứ và hiện nay đang diễn ra trên thế giới. Chiến tranh là tội ác. Mong sao thế giới luôn hòa bình “Trái đất này là của chúng mình”
Suy nghĩ về sự kiện_ Góp tay xoa dịu nỗi đau da cam của nhân dân cả nước
523
Suy nghĩ về sự kì diệu của trái tim Hướng dẫn Mở bài: Ngạn ngữ Ukraine có câu: “Những gì trái tim không thể để tâm tới, thì mắt cũng không nhìn thấy được”. Trái tim là bộ phận trung tâm của hệ thống tuần hoàn, có chức năng điều khiển việc cần chuyển máu trong cơ thể. Trái tim cũng là một biểu tượng tượng toàn cầu cả tình yêu. Người Trung Quốc gắn liền với trái tim và trung tâm của hạnh phúc. Còn người Hy Lạp tin rằng trái tim là cái nôi của linh hồn. Người Ai Cập thì quả tim tạo ra cảm xúc và trí tuệ. Thân bài: Điều kì diệu: điều tuyệt vời và lạ lùng không cắt nghĩa nổi. Trái tim là một vật thể kì diệu: Về mặt sinh học: Trái tim làm sống lại những hồng cầu đã chết. Trong vòng chưa tới một phút, quả tim có thể cung cấp máu cho mọi tế bào của cơ thể. Trong một ngày, gần 100 000 nhịp tim bơm 2000 gallon máu giàu oxy đi khắp 96 000 km các mạch máu liên kết tế bào của các cơ quan nội tạng và bộ phận cơ thể. Trái tim không hề biết sự lười biếng. Từ ngày chào đời cho đến ngày rời bỏ thế gian, trái tim vẫn làm việc không biết mệt mỏi. Trung bình trong cuộc đời mỗi người, tim đập khoảng 2,5 nghìn tỉ lần. Về mặt tình cảm: Trái tim là tâm hồn, tình cảm, lòng nhân ái, niềm trắc ẩn, sự chia sẻ thông cảm giữa con người với con người. Trong tình yêu đôi lứa: Trái tim vô cùng bí ẩn, nó đập rộn ràng trước người phái mà không ai có thể lí giải được. + Xuân Diệu: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu…” + Xuân Quỳnh: Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau. + Tagore: Nhưng em ơi, đời anh là một trái tim Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó Em là nữ hoàng của vương quốc đó Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu. Nhịp đập của con tim còn thể hiện và song hành cùng những cảm xúc của con người: buồn, vui, hờn giận, yêu ghét, xót xa, sợ hãi. Trong cuộc sống: Trái tim chỉ cho ta biết điều cần làm, phải làm. Trái tim chỉ cho ta biết cái chân cái thiện và nó có sức mạnh hơn cả trí tuệ. Trái tim có quả bầu nhiệt huyết, tạo nên niềm đam mê. Đó là sức mạnh tinh thần thôi thúc con người vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện hoài bão, ước mơ của mình. Có niềm say mê người ta sẽ học tập, nghiên cứu, tìm tòi, lao động không mệt mỏi, không chán nản. Kết bài: Biết lắng nghe và cảm nhận tiếng nói từ con tim và biết nhận lấy những sức mạnh của nó để tạo nên điều kì diệu. Biết mở rộng trái tim để hòa nhịp đập chung của nhân loại. – Một trái tim để giải quyết, một cái đầu để sắp xếp và đôi tay để thực hành. (Gibbon) – Nếu trái tim bạn là một đóa hồng, miệng bạn sẽ thoát ra những lời ngát hương. (Ngạn ngữ Nga) – Cái gì xuất phát từ trái tim sẽ đi đến trái tim. (Piet) – Lí trí có thể mách bảo ta điều phải tránh, còn trái tim sẽ chỉ cho ta biết điều phải làm. (Jouber) – Chúng ta hiểu biết chân lí không chỉ là do lí trí mà còn do trái tim. (Pascal) – Con tim có những lí lẽ của nó mà lí trí không hề biết đến. (Pascal) – Sự cảm thông chính là chìa khóa vàng để mở cửa trái tim của những người khác. (E.C. Mckenzie) – Con người chỉ trở thành người nhờ trí thông minh, nhưng chỉ nhờ trái tim con người mới là con người. (Henri Frederic Amiel)
Suy nghĩ về sự kì diệu của trái tim
648
Suy nghĩ về sự nguy hại của căn bệnh đạo đức giả trong cuộc sống Hướng dẫn Sự nguy hại của căn bệnh đạo đức giả đối với con người và xã hội Mở bài: Các sự vật, hiện tương trong cuộc sống này luôn tồn tại hai mặt đối lập của nó. Xã hội con người cũng vậy. Có nhiều người biết sống tốt đẹp, biết tôn trọng và tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực. Ngược lại cũng không ít kẻ sống giả trá, lừa lọc, luôn dựa dẫm vào người khác. Có người sống chân thực, đạo cao đức trọng. Ngược lại, cũng có không ít kẻ sống bằng bộ mặt đạo đức giả tạo. Họ lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt của người khác, tư lợi cho riêng mình. Điều đó đem đến không ít nguy hại cho đời sống xã hội. (Căn bệnh đạo đức giả) Thân bài: Đạo đức giả là gì? Đạo đức là toàn bộ những tiêu chuẩn, những nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Đạo đức cũng là những phẩm chất tốt đẹp của con người tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đã được thừa nhận. Đạo đức chỉ có được qua quá trình rèn luyện kiên trì và lâu dài. Khi nói một người có đạo đức là ý nói người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn. Đạo đức giả là đạo đức không chân thật. Đạo đức giả biểu hiện ở cách ứng xử giả tạo, dùng vỏ bọc đạo đức bề ngoài để che đậy bản chất xấu xa bên trong nhằm đánh lừa người khác, mưu lợi riêng cho mình. Đạo đức giả là tình trạng con người bề ngoài tỏ ra đạo đức nhưng trong ý nghĩ và trong lòng chứa nhiều âm mưu, thủ đoạn và sự gian trá. Những biểu hiện của bệnh đạo đức giả: Kẻ đạo đức giả thường xây dựng một vẻ bề ngoài thân thiện và gần gũi. Họ thường dùng những lời nói hay ho, đẹp đẽ bề ngoài để che đậy ý nghĩ đen tối và tình cảm thấp hèn bên trong. Kẻ đạo đức giả hay dùng những hành động có vẻ tích cực để ngụy trang cho những động cơ xấu xa, đê tiện. Trong cuộc sống hiện nay, thói đạo đức giả có ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, rất khó bị phát giác và là bạn đồng hành với tâm lí cả tin. Nó nguy hại như một căn bệnh chết người nhưng khó nhận biết. Nguyên nhân của căn bệnh đạo đức giả: Sự xuống cấp của nền đạo đức, văn hóa trong xã hội khiến nhiều người sống giả dối. Khi mà cả xã hội bắt đầu quen với việc nói dối, làm giả thì căn bệnh đạo đức giả cũng bùng phát. Con người vì lợi ích riêng tu mà bất chấp thủ đoạn, sẵn sàng chà đạp lên đạo lí và tình người. Sự suy đồi đạo đức của con người trong thời đại kinh tế thị trường khiến cho nhiều kẻ đạo đức giả xuất hiện. Họ lợi dụng các quy luật thị trường để trang bị cho mình ngững kĩ năng lừa gạt người khác. Tốc độ tăng trường nhanh chống của nền kinh tế, khiến cho nhiều người vì lòng tham mà dẫm đạp lên tình nghĩa. Tâm lí xã hội xem trọng và đề cao đời sống vật chất khiến cho tình người hao hụt. Giờ đây, để khẳng định giá trị một con người, xã hội thường lấy vật chất họ đang sở hữu để xếp hạng. Bởi thế mà có nhiều kẻ đồi bại đạo đức, làm ăn bất chính nhưng giàu có được nhiều người biết đến. Thậm chí được tôn vinh là mẫu mực để người khác noi theo. Những bậc đạo cao đức trọng bị chìm khuất trong cuộc sống này, không ai biết đến. Sự nguy hại của bệnh đạo đức giả: Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng để khẳng định nội dung của câu nói đề cập đến sự nguy hại của thói đạo đức giả. Đây là một căn bệnh chết người bởi vì nó góp phần hủy hoại đời sống con người, nó góp phần đẩy những đời người vào tình huống đau đớn và trớ trêu, vào những nghịch cảnh đầy oan khiên…. Đối với chính bản thân họ: Vì sống giả dối nên tự đánh mất dần nhân cách, đánh mất niềm tin, sự quý trọng của mọi người dành cho mình. Đạo đức giả hủy hoại phẩm chất tốt đẹp của con người, khiến họ đánh mất lương tri. Bởi thế, kẻ đạo đức giả thường là người độc ác, nham hiểm, giả dối. Căn bệnh đạo đức giả lại càng thêm nguy hại. Nó làm lẫn lộn những giá trị đạo đức, khiến cho thật giả bất phân. Nó còn làm suy đồi phong hóa xã hội và gây nhiều hậu quả khôn lường khác. Căn bệnh ấy biến kẻ đạo đức giả trở thành là một con người bệnh hoạn, nguy hiểm. Bên trong một đàng, bên ngoài một nẻo. Thực chất con người bên trong và biểu hiện bề ngoài hoàn toàn khác biệt nhau. Kẻ đạo đức giả sớm muộn gì cũng bị bóc trần bản chất. Họ luôn bị gia đình và xã hội không còn lòng tin cậy, sự hòa hợp, bình an. Một xã hội tồn tại đạo đức giả khiến cho mọi người luôn phải dè chừng, cảnh giác và đối phó lẫn nhau. Chính vì vậy, từ xưa đến nay, người ta luôn lên án sự giả dối: miệng nam mô, bụng một bồ dao găm. Bề ngoài phơn phớt nói cười mà trong nham hiểm giết người không dao. Làm cách nào để tránh được căn bệnh đạo đức giả? Trước hết là tăng cường giáo dục con người. Bởi trong mọi thời đại, giáo dục luôn là công cụ tốt nhất để cải biến xã hội. Chính sự giáo dục đúng đắn mới có thể hình thành cho mỗi con người lối sống tốt đẹp ngay từ ban đầu. Bởi thói xấu nào cũng do con người mà ra. Khi con người đủ mạnh mẽ loại trù nó thì nó cũng không thể có nơi nào để tồn tại. Chỉ cần con người hướng đến cái cao đẹp thì cái xấu, cái giả dối tự nó sẽ biến mất. Giáo dục về đạo đức không nên ép buộc một cách khiên cưỡng. Giáo dục đạo đức phải hài hòa, kết hợp giữa nguyên tắc xã hội và sự tôn trọng cá nhân. Cần làm người khác tự giác thực hiện. Bằng các giải pháp giáo dục đánh thức những phẩm chất tốt đẹp vốn bị che lấp trong họ. Cảm thông, thấu hiểu và giúp đỡ những con người lầm lạc sửa đổi bản tính của mình. Bởi ai cũng có những điểm tốt. Chỉ vì lòng tham mà trở nên sai trái đó thôi. Lấy gia đình làm nền tảng căn bản để giáo dục con người. Bởi nền văn hóa gia đình sẽ quyết định đạo đức của con người. Tăng cường tuyên truyền, cổ động và làm phổ biến các giá trị đạo đức chuẩn mực trong đời sống. Phát hiện, trân trọng và đề cao những tấm gương đạo đức trong xã hội. Lấy đó làm gương sáng để người khác học tập và làm theo. Bài học nhận thức: Đạo đức giả là một căn bệnh nguy hại cần phải xóa bỏ. Nếu không hạn ché hoặc xóa bỏ ddwwojc, xã hội sẽ tiếp tục gánh lấy những hậu quả nặng nề do nó gây ra. Các cuộc chiến tranh trong lịch sử với sứ hủy diệt khủng khiếp đã nói lên một điều rằng: Tri thức sẽ trở thành điều tàn ác nếu mục tiêu không có đạo đức. Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trau dồi nhân cách, bồi đắp những giá trị đạo đức. Cần xây dựng lối sống chân thành, trung thực để tìm thấy được giá trị sống đích thực. Kiên quyết lên án, vạch trần và ngăn chặn thói đạo đức giả. Một khi con người sống chân thật, xã hội sẽ yên bình, hạnh phúc. Kết bài: Đạo đức không gì hơn là có lòng tôn kính cuộc sống. Tôn trọng và gìn giữ những gì đang có ở trên đời và làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn, đó là biểu hiện tốt đẹp của đức đức. Sống vì con người, hết mình phụng sự cho lý tưởng sống, đó là đạo đức cao đẹp. Vì sự tiến bộ của con người mà không ngại ngần gian khổ, hi sinh, đó là đạo đức cao thượng. Đạo đức cao thượng nhất của loài người không có gì khác chính là lòng yêu tổ quốc.
Suy nghĩ về sự nguy hại của căn bệnh đạo đức giả trong cuộc sống
1,501
Đề bài: Suy nghĩ về sự quan trọng của âm nhạc và cuộc sống. Bài làm Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật âm thanh phản ảnh cuộc sống xung quanh ta bằng các hình tượng âm thanh. Cũng như các bộ môn nghệ thuật khác, với sức mạnh diễn cảm lớn lao, âm nhạc thể hiện với tất cả những gì gắn liền với cuộc sống của con người: niềm vui và nỗi đau khổ, đấu tranh sinh tồn, niềm suy tư thầm kín, chí hướng và ước mơ hạnh phúc. Âm nhạc phản ảnh các khía cạnh khác nhau của thực tại trước hết thông qua việc khai thác thế giới nội tâm, suy tư và tình cảm của con người. Nét đặc trưng điển hình, một trong những ưu thế nổi bật hơn cả của nghệ thuật âm nhạc là khi phản ảnh quá trình phát triển và chuyển biến không ngừng từ trạng thái này sang trạng thái khác của tình cảm, nó có khả nãng truyền đạt những sắc thái tinh tế nhất, gây ấn tượng vô cùng sâu sắc cho người nghe. Lẽ dĩ nhiên, không nên từ đó mà suy ra là nội dung của âm nhạc hoàn toàn bó hẹp trong thế giới tâm tình của con người. Nội dung của nhiều tác phẩm âm nhạc vĩ đại là suy nghĩ về cuộc sống, là hoạt động căng thẳng của tư duy, là chí hướng và những niềm khát vọng mãnh liệt, là sự miêu tả các nhân cách khác nhau trong mối quan hệ qua lại, trong các tình huống xung đột và trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Thậm chí âm nhạc giao hưởng, hợp xướng và ô-pê-ra còn xây dựng cả những hình lượng vĩ đại của các tập thể quần chúng, cuộc đấu tranh giải phóng của con người, những biến cố lịch sử lớn lao, những xung đột xã hội sâu sắc. Các thể loại âm nhạc là luôn phục vụ cho đời sống của con người, qua các loại hình tác phẩm khác nhau của nghệ thuật âm nhạc, chẳng hạn như bài ca lao động, bài hát ru, vũ khúc, hành khúc. Các tác phấm âm nhạc thuộc cùng một thể loại tuy nội dung hết sức đa dạng, song vẫn có không ít những nét giống nhau về phương thức biểu hiện âm nhạc, về tính chất của mối quan hệ giữa nó và thực tại, với đời sống. Ngay những thính giả mới tiếp xúc với âm nhạc, khi nghe tác phẩm mới cũng có thể phân biệt được một cách dễ dàng bài hát ru, bản hành khúc chiến đấu, hành khúc tang lễ, bài ca cách mạng và các loại vũ khúc… Sáng tác môn nghệ thuật âm nhạc phải gắn liền với thực tiễn lịch sử đã sản sinh ra nó, với đời sống sinh hoạt bằng một phương thức nhất định của xã hội, con người… Cũng như các lĩnh vực sáng tác nghệ thuật khác, âm nhạc rất phong phú về thể loại. Chi cần giới thiệu sơ qua những thể loại âm nhạc quan trọng nhất cũng đã có thể phần nào giúp cho các thính giả yêu âm nhạc nhận thức được sâu sắc và nghiêm túc hơn kho tàng vô cùng phong phú của âm thanh. Nếu phân chia tất cả các loại tác phẩm âm nhạc thành những nhóm cùng loại, xuất phát từ đặc tính biểu diễn thì ta có thể có những nhóm lớn như: âm nhạc dân gian truyền miệng gồm bộ phận thanh nhạc và khí nhạc; âm nhạc sinh hoạt và âm nhạc giải trí đơn ca, độc tấu; âm nhạc thính phòng, do một hoặc một số nghệ sĩ điêu luyện biểu diễn các phòng hòa nhạc nhỏ. Âm nhạc giao hưởng hợp xướng – kể cả các loại âm nhạc sân khấu biểu diễn trong ô-pê-ra, ba lê, hài nhạc kịch, ô-pê-ra tất cả các loại âm nhạc đó đều là phục vụ cho đời sống tinh thần của con người. Tuy nhiên, cũng có thể phân loại theo một phương thức khác, nghĩa là chia tất cả các thể loại âm nhạc thành hai nhóm: một nhóm viết cho giọng hát và một nhóm khí nhạc viết cho nhạc cụ diễn tấu. Để phân loại theo phương thức này người ta không những căn cứ vào đậc điểm phương thức biểu diễn, mà cả các quy luật mỹ học rất quan trọng gắn liền với những khả năng hoàn toàn khác trong việc thể hiện nội dung. Chúng ta muốn nói tới quan hệ trực tiếp của hầu hết các thể loại thanh nhạc với lời ca, một ngôn từ, một yếu tố giúp cho người nghe dễ tiếp thu tác phẩm, cho dù đó là một bài dân ca đơn giản, một bản nhạc nào hoặc một chương hợp xướng hay cả một vở ô-pê-ra. Vì thế, tốt hơn hết ta nên nghiên cứu riêng từng loại. Lịch sử lâu đời của nền nghệ thuật chứng minh rằng trong nhiều thế kỉ qua, ở khắp các nước trên thế giới, đã xuất hiện và phát triển nhiều loại hình âm nhạc khác nhau, với những phương tiện biểu hiện độc đáo và những đặc điểm ngôn ngữ riêng biệt. Con đường mà nền nghệ thuật âm nhạc chuyên nghiệp đã trải qua trong nhiều thế kỉ là con đường đi từ điệu hò lao động hết sức đơn giản, từ những bài dàn ca mộc mạc, những vũ khúc sinh hoạt đến những tác phẩm giao hưởng và hợp xướng phức tạp của các nhạc sĩ cổ điển (để biểu diễn những tác phẩm này cần tới sự tham gia của hàng chục, thậm chí hàng trăm nhạc công và ca sĩ chuyên nghiệp). Âm nhạc tồn tại ở mọi thời đại và trong đời sống của con người tất thảy các dân tộc. Nó ra đời từ thời cổ đại xa xưa như một phương tiện giao tiếp có hiệu lực cao của loài người, qua những thời kì âm nhạc đã gắn liền mật thiết với hoạt động thực tiễn và nhu cầu vật chất của con người. Những người thợ săn, những người bẫy chim rừng hay dùng cây sáo trúc để bắt chước rất tài tình tiếng chim hót để đưa chúng vào bẫy. Những người săn nai hay dùng tiếng tù và (phần nhiều là ở miền Bắc) để gọi nai. Xuất phát từ đó dần dần, người ta đã biết dùng nhạc cụ và phân hiệt được các loại nhạc cụ, nhạc cụ để phản ánh tiếng nói sinh động của thiên nhiên. Cũng như tiếng hò trong lao động có tác dụng liên kết một cách nhịp nhàng nỗ lực chung của mọi người khi cần khiêng vác hoặc di chuyển những vật nặng. Từ thời cổ xưa, người ta đã thấy xuất hiện nhạc hiệu săn bắn, vũ khúc chiến binh, những bài ca cầu nguyện thiên nhiên huyền bí. Ngay những hình thức âm nhạc và ca hát đơn giản, mộc mạc nhất của các bộ lạc săn bắn thời nguyên thủy cũng đã có khả năng gây ấn tượng sâu sắc, khích lệ con người đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt hùng vĩ, và các thế lực thù địch. Ngay từ những thời kì của một nền văn hóa sơ khai nhất, sáng tác thơ ca và âm nhạc cũng đã phụ thuộc vào khái niệm thẩm mĩ của con người thời bấy giờ về cái đẹp cái hay. Trong nhiều thế kỉ, nhiều thiên niên kỉ qua, các thể loại ca khúc và khí nhạc đa dạng đã là người bạn đời thường của nhân loại. Các bà mẹ ngân nga những điệu hát ru êm ái bên nôi em bé. Các trò chơi trẻ thơ của mỗi dân tộc khác nhau nhưng đều kèm theo những bài hát vui, dí dỏm hay những điệu hò điệu hát tập đêm, châm chọc… Âm nhạc còn đệm cho thanh niên nhảy múa, vui chơi, những giai điệu nhẹ nhàng êm dịu, những câu hò sâu lắng giúp cho tuổi già thư giãn, hay là những bài ca hôn lễ tuyệt diệu của các dân tộc ca ngợi trí tuệ, sắc đẹp và đức chuyên cần lao động của những cặp vợ chồng trẻ. Còn có biết bao bài ca điệu nhạc muôn màu muôn vẻ, chan hòa trong lao động và giờ phút nghi ngơi của người nông dân, công dân. Tiếng đàn tiếng hát vang dội trong những ngày hội gia đình, những ngày lễ tết chung của dân tộc. Từ bao đời nay tiếng kèn xung trận hung tráng đã khích lệ cho các chiến sĩ nơi trận tuyến. Mỗi thể loại âm nhạc đều có những phương tiện diễn cảm âm nhạc tiêu biểu, đã được gọt dũa qua nhiều thế kỉ trong sáng tác âm nhạc của các dân tộc khác nhau. Trong quá trình gạn lọc các âm điệu đặc sắc, có khả năng gây ấn tượng mãnh liệt nhất, chọn các hình giai điệu, các loại nhịp múa, các kiểu bước hùng dũng, trang nghiêm, đã hình thành phương pháp điển hình hóa nghệ thuật tiêu biểu cho từng thể loại àm nhạc trong việc phân các hiện tượng khác nhau của thực tại. Chính vì thế mà Thể loại âm nhạc là yếu tố có ý nghĩa hết sức lớn lao. Nhiều đặc tính diễn cảm hình tượng âm nhạc, ta không thể nhận thức và đánh giá đúng chuẩn xác được nếu tách khỏi các thể loại đã sản sinh ra chúng. Âm nhạc phát triển theo bối cảnh lịch sứ từng thời kì cũng như văn hóa, mà lịch sử đã ghi. Ví dụ như: Thời văn học lãng mạn thì có âm nhạc lãng mạn, Văn học cổ điển, cũng có âm nhạc cổ điển; Văn học phương Tây cũng có âm nhạc phương Tây; Văn học dân gian thì âm nhạc cũng có âm nhạc dân gian… theo bối cảnh lịch sử từng thời kì. Âm nhạc văn học và nghệ thuật thường là phát triển song song với nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau, ở thời Trung cổ, âm nhạc vẫn liên kết chặt chẽ với cơ sở sinh hoạt của nhân dân và đời sống xã hội các đô thị Trung cổ. Ngoài ca khúc, vũ khúc, các nhạc sĩ thời đại xa xưa thường sáng tác những nhạc hiệu nhà binh và săn bắn, theo bối cảnh lịch sử của thời ấy. Tất cả những thể loại âm nhạc sinh hoạt đó ra đời là do vai trò phục vụ thực tiễn của nghệ thuật âm nhạc thời bấy giờ. Đời sống xã hội ngày một phát triển và trở nên phức tạp hơn, tầm nhìn của con người trong lĩnh vực tư tưởng cũng được mở rộng hơn, do đó cần có những tác phẩm âm nhạc với nội dung sâu sắc hơn. Trong âm nhạc dân gian, thể loại ca khúc trữ tình phong phú và đa dạng về giai điệu dân gian đã trở thành thể loại âm nhạc chủ đạo. Trong âm nhạc chuyên nghiệp ta thấy những thể loại cổ mất dần đi tính chất thực dụng. Thể loại âm nhạc cổ đã được cải biên phục vụ riêng cho mục đích thực tiễn. Dần dần những thể loại khí nhạc xuất hiện trong sinh hoạt gia đình đã trở thành những thể loại âm nhạc biểu diễn trên sân khâu. Các nghệ sĩ phải có quan hệ trực tiếp và chân tình hơn với thính giả, điều này được thực hiện một cách tự nhiên. Khi nhận thấy các thể loại âm nhạc, các nhà soạn nhạc đã viết trong các thể loại âm nhạc khác nhau, nền âm nhạc giao hưởng dường như chiếm vị trí hàng đầu. Nó có nội dung sâu sắc hơn cả và là vị thống soái của vương quốc nền âm nhạc. Các loại hình âm nhạc từ thô sơ đơn điệu tiến đến ngày càng vững chắc lớn mạnh hoành tráng. Câu hò lời ru, hát dậm, dân ca cổ truyền thuộc các dân tộc đã đi vào lòng người dân lao động, đời xưa và đời nay, chúng ta thấy rõ các thể loại, hình thức âm nhạc rất phong phú và đa dạng, là món ăn tinh thần cho tất cả mỗi một con người trên thế giới.
Suy nghĩ về sự quan trọng của âm nhạc và cuộc sống
2,090
Suy nghĩ về sự tích Hồ Gươm- Văn lớp 8 Hướng dẫn Suy nghĩ về sự tích Hồ Gươm- Văn lớp 8 Bài làm Trong kho tàng truyện truyền thuyết Việt Nam có rất nhiều câu chuyện hấp dẫn. Trong đó, câu chuyện về “Sự tích Hồ Gươm”, nhiều câu chuyện gắn liền với lịch sử Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, bảo vệ tổ quốc. Sự tích Hồ Gươm là câu chuyện gắn liền với vị vua Lê Lợi một vị vua anh minh, trí dũng trong lịch sử dân tộc nước ta trong thời kỳ nước ta chống giặc ngoại xâm. Lúc bấy giờ quân Minh đang kéo sang lăm le chiếm lấy bờ cõi nước ta. Vua Lê Lợi nhiều lần giao đấu với chúng, nhưng do chúng nước mạnh lực mạnh nên quân ta thường xuyên bị chúng đánh cho tan tác, phải lui binh chờ thời. Câu chuyện bắt đầu từ người đánh cá Lê Thận đi đánh cá kéo lưới thấy nặng nặng tưởng được một mẻ cá to. Nhưng vớt lên chỉ là một thanh săt. Lê Thân lại vứt xuống biển nhưng lần sau kéo lên vẫn thấy nặng và vẫn vợt được thanh sắt đó. Đến lần thứ ba thì Lê Thân đành mang thanh sắt đó về nhà. Năm sau, chiến tranh xảy ra Lê Thân gia nhập quân ngũ. Một lần Lê Lợi tới nhà Lê Thân chơi nhìn thấy thanh gươm sáng loáng, tiện tay Lê Lợi khắc lên hai chữ “thuận thiên” mọi người vẫn chưa hề mảy may nghĩ đó là gươm báu. Từ khi có thanh gươm thần Lê Lợi đánh đâu thắng đó. Từ đó, nhà vua xưng danh lẫy lừng bình định thiên hạ, quân giặc khiếp sợ uy danh của vua Lê Lợi tháo chạy về nước. Một hôm nhân cảnh đất nước bình yên, thư thái trong lòng nhà vua Lê Lợi mới lên thuyền cùng đoàn tùy tùng thân cận đi ngao du thiên hạ trên hồ Tả Vọng thì gặp một con rùa hiện lên và xin nhà vua trả lại thanh gươm báu. Nhà vua liền rút thanh gươm đang mang trên mình trả cho rùa thần. Chú rùa thần ngậm thanh gươm lặn xuống nước. Câu chuyện Sự tích Hồ Gươm, chính là ca ngợi tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa kết thúc thắng lợi vẻ vang thuộc về quân Lam Sơn, về người anh hùng của dân tộc ta Lê Lợi. Câu chuyện là mong muốn của người dân trong kháng chiến gian khổ, thể hiện khát vọng vươn lên của người dân, mơ ước sống hòa bình, tự do sạch bóng quân thù. Truyện Sự tích Hồ Gươm nhằm giải thích tên gọi của Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm ở thủ đô Hà Nội ngày nay. Câu chuyện đã giải thích được vì sao có Hồ Gươm có tháp rùa, bút nghiêng ghi hai chữ “Thuận thiên” tức là ý trời. Truyện cũng đề cao tôn vinh vai trò của Lê Lợi người lãnh đạo của quân khởi nghĩa Lam Sơn một vị tướng hết lòng vì nhân dân. Đồng thời nó cũng thể hiện khát khao hòa bình của nhân dân ta.
Suy nghĩ về sự tích Hồ Gươm- Văn lớp 8
532
Đề bài: Suy nghĩ của em về sự xấu hổ Bài làm Con người ta ai cũng cần có cho mình lòng tự tôn cá nhân. Lòng tự tôn chính là thước đo cho sự phát triển nhân cách con người, nhưng có lòng tự tôn để không dễ đánh mất mình thì cũng nên biết xấu hổ khi cần thiết, điều đó rất quan trọng, nó là một phần về thái độ của bản thân trước hành động của chính mình và người khác, cũng là một khía cạnh của con người mình mà người khác sẽ nhìn vào và đánh giá. Người ta hay xấu hổ khi tự mình cảm thấy hổ thẹn, thấy mình có lỗi hay kém cỏi hơn người khác. Tuy nhiên, cũng có sự xấu hổ hồn nhiên khi con người ta thấy rung động về một tình yêu ngây ngô, thầm kín mà bị phát hiện. Con người ta ai cũng nên biết xấu hổ, biết xấu hổ con người ta sẽ nhận thức được bẩn thân mình rõ ràng hơn để tránh mắc phải những sai lầm đã có. Biết xấu hổ vì nhận thấy mình kém cỏi, bị chê bai, bị đem ra so bì sẽ cho người ta động lực để vươn lên, khắc phục những thiếu sót của bản thân, sự biết xấu hổ trong trường hợp này rất dễ biến thành động lực phi thường để phát triển bản thân. Biết xấu hổ ngưởi ta sẽ dễ biết cảm thông chia sẻ hơn, sống có lương tâm hơn, biết nghĩ cho người khác hơn. Biết xấu hổ là một trong những biểu hiện tốt thể hiện một con người có lòng tự trọng, có nhận thức đúng đắn về phẩm giá con người. Trong xã hội vẫn còn đầy rẫy hiện trạng con người ta còn có những hành động xấu, những hình ảnh xấu nhưng cũng không có nhận thức đúng đắn và cũng không có biết đến sự xấu hổ trước những chuyện mình làm như những hành vi lệch lạc của giới trẻ: ăm mặc thiếu vải, văng tục chửi bậy, thích ra vẻ ta đây và bắt nạt người khác, yêu đương khi còn nhỏ tuổi nhưng rất vô tư, công khai và có khi còn tự đăng tải lên các trang mạng công cộng… Người nổi tiếng thì tháy vì đi lên bằng chính công sức lao động nghệ thuật chân chính thì lại thích chiêu trò, tạo scandal…thay vì nhận thức được những hành vi của mình là sai trái, đáng xấu hổ, họ lại coi cái đó là để thể hiện cái tôi cá nhân, là cá tính, là tự do Ngày nay, rất nhiều người trong chúng ta tự đánh mất bản thân mình, đánh rơi hai từ “xấu hổ”, không biết xấu hổ để rồi buông thả bản thân làm ra những chuyện thật đáng trách, đáng bị lên tiếng phẩn đối. Con người không cần biết đến sự xấu hổ cũng chính là hướng tới sự kiêu hãnh bản thân mù quáng, sai lầm, để rồi dần dần đánh mất cả lương tâm của chính bản thân mình. Để xây dựng cộng đồng người có ý thức, có trách nhiệm với bản thân và xã hội không phải chuyện dễ, nhưng cũng không phải chuyện khó, bản thân mỗi người cần có rèn luyện cho mình lòng tự tôn cá nhân, biết yêu thương đồng loại, biết hướng thiện và biết xấu hổ với những việc làm sai trái của bản thân mình. Cùng với đó, gia đình, nhà trường, cộng đồng hãy cũng đồng hành với mỗi con người khi họ gặp khó khăn trong cuộc sông hay có những suy nghĩ lệch lạc. Không phải ai sinh ra cũng hoàn hảo, nhưng con người ai cũng cần cho mình những điểm tựa về tinh thần, về ý thức để có thể sống tốt, sống đẹp hơn, và biết xấu hổ để rồi nhận thức được rõ hơn về bản thân mình là một chuyện đúng đắn và sáng suốt vô cùng.
Suy nghĩ về sự xấu hổ
677
Suy nghĩ về sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám Hướng dẫn Suy nghĩ về sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám Văn học dân gian là nền tảng, cội nguồn cho các sáng tác của văn học viết sau này, nếu mỗi câu ca dao như tiếng đàn kì diệu của tâm hồn con người thì mỗi một câu chuyện cổ tích của người xưa, đều là những lời gửi gắm sâu sắc của cha ông ta về mộ truyền thống, đạo lí tốt đẹp để răn dạy con cháu đời sau. Với truyện cổ tích Tấm Cám, người xưa đã để cho mai hậu phải trăn trở nghĩ suy về việc chiến thắng giữa thiện và ác. Cuộc sống luôn là sự tồn tại của những mặt đối lập, cạnh tranh và bài trừ nhau để phát triển đi lên. Và cái thiện với cái ác là một trong những mối quan hệ ấy. Cái thiện là những cái lành, cái tốt đẹp khác hẳn với cái xấu là sự đê tiện, bỉ ổi, thủ đoạn. Người thiện là người có tâm điền tốt, chưa bao giờ biết hại người hay có những suy nghĩ ích kỉ, còn người xấu thì luôn toan tính, mưu mô để tàn ác với những kẻ yếu vì lợi ích của mình. Thật ra trong con người mỗi chúng ta đều có sự hòa hợp lẫn nhau của hai thế giới đối cực ấy. Không ai có thể đảm bảo chắc chắn rằng mình tốt, mình hiền lành, mình lương thiện vì chúng ta đều có phần “con” ẩn sâu bên trong, thi thoảng lại trỗi dậy. Nhiệm vụ của chúng ta là đấu tranh không ngừng để át đi phần ác quỷ trong tâm hồn. Sự chiến thắng của cô Tấm, chính là gửi gắm hi vọng của cha ông ta một thuở về cái thiện, cái công bằng, cái công lí ở đời. Rằng cái ác sẽ bị trừng trị còn người hiền lành, lương thiện sẽ được đề đáp xứng đáng. Chính vì vậy, không chỉ trong truyện Tấm Cám mà ở cả truyện cổ tích khác như Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cây tre trăm đốt… dân gian đều mong muốn như vậy. Cái ác là phần hạn chế của xã hội, cần được loại bỏ, vì thế hành động tấm giết chết mẹ con Cám là lẽ tất yếu của quy luật nhân quả ở đời. Cái ác và cái tốt, cái thiện không thể cùng chung sống trong một bầu khí quyển mà có cái xấu thì cái thiện sẽ bị đe dọa. Sự sống mãnh liệt của cô Tấm qua những lần hóa thân, khẳng định sức sống dai dẳng, bền bỉ của cha ông ta về cái thiện sẽ không bao giờ mất đi, nó sẽ trỗi dậy để đánh bại cái ác, đem lại công lí cho con người. Cái thiện cũng không bao giờ chịu im lặng, đẻ cái ác tấn công mà vì nó là chính phái, là cái chân lí ở đời nên tất yếu sẽ nhận được sự ủng hộ từ phái cộng đồng. Cái ác, cái thiện là hai mặt của một con người, rộng ra là cả một xã hội. Không có môi trường nào, con người nào là hoàn hảo, hoàn thiện và tròn trịa cả, một người có thể cười rồi lại cười và sau đó trở nên tàn nhẫn, đọc ác, thủ đoạn. Đó là sự phong phú phức tạp trong thế giới nội tâm, trong suy nghĩ và bản chất đa cực, lưỡng phân và trạng thái chập chờn đấu tranh giữa mặt tốt và mặt xấu. Nhưng xét đến cùng, cái thiện luôn luôn được hi vọng giành chiến thắng, luôn luôn thể hiện sự công bằng ở đời, đó cũng là niềm tin bất diệt của cha ông ta. Sự đấu tranh giành phần thắng của cái thiện chính là nguồn lực để đưa xã hội phát triển, vì thế cần biết bài trừ loại bỏ cái xấu để mong muốn xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ.
Suy nghĩ về sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám
696
Suy nghĩ về thái độ thờ ơ lạnh nhạt của con người Hướng dẫn Suy nghĩ về thái độ thờ ơ lạnh nhạt của con người Bài làm Từ muôn đời nay, cha ông ta đã từng khuyên răn con cháu: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng Và: Thương người như thể thương thân. Tất cả những lòi khuyên ấy đều hướng đến một mục đích là giáo dục lòng vị tha, tình đoàn kết và tinh thần trách nhiệm đối với với cộng đồng. Song cuộc đời bao giờ cũng có hai mặt, mặt trái và mặt phải luôn cùng song song tồn tại. Bên cạnh những con người luôn biết yêu thương người khác, luôn biết sống vì mọi người vẫn còn không ít những kẻ sống vị kỷ, chỉ biết mình mà không biết đến lợi ích của cộng đồng. Chính vì lẽ đó mà “Phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. Sách Luận ngữ có câu “Ký sớ bất dục vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn đừng làm cho người khác). Câu nói này đã đề cập đến một phương diện vô cùng quan trọng trong cách đối nhân xử thế. Đó là một quan niệm tích cực trong việc giải quyết mối quan hệ “Tôi và chúng ta”. Xã hội chỉ thực sự tiến bộ khi mọi người biết điều hòa một cách hợp lí mối quan hệ cộng đồng này. Lòng vị tha, tinh thần đoàn kết được thể hiện qua việc mỗi người biết sống vì mọi người. Vị tha là “vì người khác”, là biết chia sẻ, cảm thông và thương yêu con người bằng một tình cảm chân thành. Lòng vị tha giúp con người vượt lên trên mọi thù hận, mọi ganh ghét các nhân để cùng sống vì lợi ích chung. Vượt lên trên những tính toán vị kỷ, con người sẽ sống cao thượng hơn, sẽ thanh thản hơn. Khi ai đó mắc lỗi với mình, người có lòng vị tha là người biết giúp người có lỗi nhận ra lỗi lầm của mình, để rồi vượt lên chính mình mà trở thành người tốt. Con người vị tha là con người có khả năng vượt lên trên mọi điều tính toán nhỏ nhoi, để sống nhân hậu hơn. Từ lòng vị tha, biết sống vì mọi người của mỗi người sẽ tạo nên một cộng đồng đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống chọi với thiên tai, địch họa của nhân dân ta là những minh chứng hùng hồn và thuyết phục nhất cho chân lí này. Một dân tộc Việt Nam nhỏ bé đã chiến thắng bao lượt kẻ thù mạnh hơn gấp bội, đó là nhờ tinh thần đoàn kết của mọi lớp người trong xã hội. Xưa nhà Trần chiến thắng quân Nguyên cũng một phần nhờ lòng vị tha và tinh thần đoàn kết ấy. Hai vị tướng giỏi là Trần Quang Khải và Trần Quốc Tuấn, đã đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, quên thù riêng mà một lòng đánh giặc. Người Việt Nam vốn rất trân trọng và luôn nêu cao lòng vị tha của mình. Hai bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ của dân tộc Việt Nam (Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và Tuyến ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh) đã nêu cao tinh thần ấy. Đối với kẻ thù vốn mở đường “hiếu sinh”. Trong xã hội hiện đại với nhịp sống xoay vần đến chóng mặt này, nhiều khi, sự ích kỷ cá nhân đã lấn át lòng vị tha. Con người nhiều khi chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình. Đề cao cái tôi mà quên đi cái chúng ta nên con người đã trở thành vị kỷ. Và từ đó mà họ trở thành vô tâm, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Họ không còn biết xót xa trước số phận chìm nổi lênh đênh của nàng Kiều, họ vô tình đến nhẫn tâm đối với những người khốn khổ xung quanh mình. Chúng ta đã gặp không ít trên đường phố ngày nay những cảnh mua bán chụp giật, những thái độ độc ác đối với trẻ em lang thang và những người kém may mắn. Trước nỗi đau của người xung quanh, người ta vẫn thản nhiên như không. Tâm hồn con người ngày càng chai sạn và trong họ không còn lòng trắc ẩn. Đã vắng dần những niềm cảm thông, những sự san sẻ. Thái độ thờ ơ lạnh nhạt đối với cuộc sống xung quanh, chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, vô trách nhiệm với cộng đồng sẽ dẫn con người đến sự vô tâm và tàn nhẫn. Vì mình, con người có thể giẫm đạp lên kẻ khác và đạo đức xã hội sẽ dần bị băng hoại. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải biết phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt đối với người xung quanh một cách mạnh mẽ không kém gì việc chúng ta đã rất nhiệt tình ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Trong truyện ngắn Đôi mắt, nhà văn Nam Cao đã thể hiện rất sinh động mối quan hệ này. Ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của nhà văn Độ, đồng thời với việc phê phán sự vô tình, nhẫn tâm và vô trách nhiệm của vợ chồng nhà văn Hoàng. Vì thiếu lòng vị tha và sự cảm thông mà vợ chồng Hoàng không thấy được những ưu điểm đáng quý của người nông dân. Thái độ thờ ơ, lạnh nhạt và lòng vị tha, tình đoàn kết là hai mặt trái ngược nhau của vấn đề đạo đức xã hội và đều cần quan tâm. Phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt và ngợi ca lòng vị tha tinh thần đoàn kết đều cần thiết và quan trọng như nhau. Ngợi ca những điều tốt đẹp của cuộc sống để giúp con người hướng thiện nhưng cần phải thấy rõ và vạch trần những mặt tiêu cực của xã hội để con người soi mình vào đó mà thấy mình và sửa mình. Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như thiết nghĩ cũng là mong muốn của muôn đời về một xã hội mà ở đó con người và con người biết cảm thông và thương yêu nhau bằng những tình cảm nhân bản nhất. Nguồn: Tài liệu văn học
Suy nghĩ về thái độ thờ ơ lạnh nhạt của con người
1,116
Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ dưới xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về người phụ nữ dưới xã hội cũ Đề bài: Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ dưới xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. 1. Yêu cầu – Viết bài nghị luận văn học: giải quyết một vấn đề trong tác phẩm truyện. – Qua nhân vật Vũ Nương, làm rõ những suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. – Bài viết phải xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ để làm rõ vấn đề: thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. – Biết kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự với nghị luận. 2. Gợi ý – Trước khi làm bài cần đọc kĩ, nắm vững nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của tác phẩm. Đặc biệt là hiểu đúng về nhân vật Vũ Nương. – Từ nhân vật trong tác phẩm mà xây dựng hệ thống luận điểm, các chi tiết, sự việc nói về nhân vật. Sau đó khái quát, nêu suy nghĩ về thân phận người phụ nữ. – Trong bài cần làm rõ những nội dung sau: + Người phụ nữ trong xã hội phong kiến chịu nhiều bất công, oan trái, thân phận của họ vô cùng đau khổ. + Cảm thông sâu sắc với người phụ nữ trong xã hội phong kiến. + Lên án xã hội phong kiến đã chà đạp lên thân phận người phụ nữ. – Bài viết có thể bố cục theo nhiều cách: + Cách 1: Phân tích nhân vật Vũ Nương, sau đó nêu suy nghĩ về người phụ nữ trong xã hội cũ. + Cách 2: Nêu suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, sau đó chứng minh qua thân phận Vũ Nương. + Cách 3: Phân tích nhân vật Vũ Nương xen lẫn với những nhận định, đánh giá về thân phận người phụ nữ. 3. Lập dàn ý (theo cách 1) a.Mở bài – Đề tài phụ nữ trong văn học nói chung, trong văn học trung đại nói riêng. – Giới thiệu nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và tính chất tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ dưới chế độ cũ. b. Thân bài * Vũ Nương – người phụ nữ có tâm hồn cao đẹp nhưng số phận đau khổ: – Vũ Nương là người phụ nữ đẹp. + Tư dung tốt đẹp – người con gái bình dân. + Là người con hiếu thảo, người mẹ thương con, người vợ chung thuỷ. + Là người cố lòng tự trọng. – Vũ Nương lại là người phải gánh chịu nhiều khổ đau: + Một mình nuôi con, lo lắng thuốc thang, chôn cất mẹ chồng. + Muốn quay trở lại cuộc sống trần gian nhưng không thể được. * Suy nghĩ về thân phận phụ nữ trong xã hội phong kiến: – Con người không làm chủ được vận mệnh của mình. – Xã hội phong kiến với những luật lệ khắt khe, vô nhân đạo gây ra bao bất công cho người phụ nữ ; chế độ đa thê gây bao cảnh oan trái đau lòng. – Người phụ nữ buộc phải cam chịu, nhẫn nhục nên những bất công đó có điều kiện phát triển. – Cảm thông và hiểu rõ đĩều tốt đẹp trong phẩm chất của họ. (lấy ví dụ qua ca dao, thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều,…) c. Kết bài: Hiểu về thời đã qua để thêm yêu hiện tại. 4. Bài làm minh họa Trong văn học trung đại đã có nhiều tác giả viết về đề tài người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Ví như Nguyễn Dữ với tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương đã khắc hoạ nhân vật Vũ Nương – một đại diện cho hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến với những phẩm chất tốt đẹp nhưng lại gặp nhiều đau khổ. Vũ Nương là một người phụ nữ xuất thân bình dân, có “tư dung tốt đẹp”. Nàng được Trương Sinh con trai nhà hào phú trong làng “mang trăm lạng vàng” cưới về làm vợ. Nhưng chính sự không bình đẳng trong quan hệ gia đình, đồng tiền đã phát huy “sức mạnh” của nó khiến cho Vũ Nương luôn sống trong mặc cảm “con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Biết chồng bản tính đa nghi, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng có mối thất hoà. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu, Trương Sinh bị bắt đi lính. Khi tiễn chồng ra trận, nàng rót chén rượu đầy và nói những lời dặn dò đượm tình thuỷ chung: “Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ…”. Điều ước ao lớn nhất của nàng không phải là danh vọng, tiền bạc mà là một cuộc sống gia đình đầm ấm yên vui. Trong những ngày tháng chồng đi xa, một mình nàng phải chèo lái con thuyền gia đình. Nàng chăm sóc, thuốc thang cho mẹ chồng đau ốm, bệnh tật như đối với cha mẹ đẻ. Sự hiếu thảo của nàng khiến bà hết sức cảm động, trước khi qua đời bà đã nhắn nhủ: “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống nòi tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.”. Không chỉ vậy nàng còn phải chăm lo cho đứa con thơ vừa lọt lòng. Vì thương con, lo cho con thiếu thốn hình bóng người cha và cũng để nàng gửi gắm nỗi nhớ thương, mong mỏi chồng, Vũ Nương đã nghĩ ra trò cái bóng. Đêm đêm, nàng chỉ vào cái bóng của mình trên tường và nói với đứa con nhổ rằng đó là cha nó. Xã hội phong kiến trong buổi suy tàn khiến con người luôn cảm thấy bất an: chỉ một trò đùa, một vật vô tri, vô giác như cái bóng cũng khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ. Qua năm sau, việc quân kết thúc, Trương Sinh về tới nhà. Nghe lời của đứa con, chàng chẳng thèm suy nghĩ dù đó là lời nói của một đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ và quá mập mờ. Trương Sinh mắng nhiếc vợ rồi đánh đuổi nàng đi, không cho nàng giải thích. Nàng thật sự thất vọng. Hạnh phúc gia đình đã tan vỡ. Tình yêu, lòng tin không còn. Thất vọng đến tột cùng, chán chường vô hạn, nàng đã tìm đến cái chết để thanh minh cho bẳn thân. Niềm tin vào cuộc sống đã mất khiến cho Vũ Nương không thể trở về với cuộc sống trần gian dù điều kiện có thể. Đau đớn thay phậh đàn bà, Lời rằng bậc mệnh cũng là lời chung. Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến với những điều luật hà khắc, bất công với nữ nhi. ơ đó sinh mạng người phụ nữ không được coi trọng, họ bị mua bán, trả giá một cách công khai. Ở cái xã hội ấy, họ chỉ như một thứ đồ vật vô tri, không được có ý kiến hay thanh minh cho bản thân. Vũ Nương chết đi mang theo nỗi oan tột cùng, nhưng người gây ra tất cả những bi kịch trên là Trương Sinh lại không bị xã hội lên án và cũng không mặc cảm với bản thân. Ngay cả khi nỗi oan ức ấy đã được giải thoát, Trương Sinh cũng không bị lương tâm cắn rứt, coi đó là việc đã qua rồi, không còn đáng nhắc lại làm gì nữa. Xã hội phong kiến đã dung túng cho những kẻ như Trương Sinh, để người phụ nữ phải chịu những đau khổ không gì sánh được. Trong ca dao cũng nhắc đến người phụ nữ với sự đau khổ tương tự: Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. Dù ca dao có xuất xứ từ nhân dân lao động, nhưng nó vẫn phản ánh đúng số phận của người phụ nữ – “những hạt mưa sa”. “Hạt mưa ấy” không biết mình sẽ rơi vào đâu: một nơi “đài các” hay ra “ruộng cày”? Dù đó là đâu, dù muốn hay không họ cũng phải chấp nhận. Thân em ưừa trắng lại ưừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non. Bà không cam chịu sống cuộc sống bất công như vậy. Bà đã khẳng định người phụ nữ phải có một vị trí khác trong xã hội. Nhưng sự cố gắng của bà chỉ như một tia sáng hiếm hoi trong chuỗi đời u tối của người phụ nữ. Xét cho cùng, những đau khổ ấy đến với họ cũng là do họ sống quá cam chịu, quá dễ dàng thoả hiệp. Nếu như họ biết đấu tranh tới cùng, nếu như họ không chọn cái chết để thanh minh thì những bất công ấy sẽ không có điểu kiện phát triển. Chúng ta đều xót thương và cảm thông cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Là một con người sống trong thời đại mới, ta thật hạnh phúc khi không phải bó buộc vào những luật lệ, lề thói xấu ấy. (Phan Hồ Thuý Hằng, lớp 9A1, Trường THCS Trưng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Bài viết đã đi vào hai ý chính là nhân vật Vũ Nương và thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Về thân phận của Vũ Nương, người viết chủ yếu mới thuật lại câu chuyện về nỗi oan trái của nàng chứ chưa bàn sâu về thân phận. Có lẽ để dành cho phần khái quát về thân phận được khái quát thông qua một số tác phẩm khác nữa chăng? Về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, người viết đã cố gắng dẫn ra ca dao, thơ Hồ Xuân Hương, tác phẩm của Nguyễn Du. Tuy nhiên sự phân tích và khái quát vẫn còn hạn chế. Chi tiết Trương Sinh “đem trăm lạng vàng cưới về” chỉ để gián tiếp khẳng định phẩm giá của Vũ Nương. Trong tác phẩm không hề nói chuyện hôn nhân không đăng đối làm Vũ Nương mặc cảm. Nhận xét về Trương Sinh cũng chưa thật xác đáng. Một con người “không có học” như Trương Sinh lại “có tính đa nghi” thì xử sự gia trưởng như thế là phù hợp với tính cách. Có một vài chỗ hành văn chưa thật mạch lạc. Ví dụ: Dù ca dao có xuất xứ từ nhân dân lao động, nhưng nó vẫn phản ánh đúng số phận của người phụ nữ – “những hạt mưa sa”.
Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ dưới xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ – Ngữ Văn 9
1,824
Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nhân vật Vũ Nương Hướng dẫn Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nhân vật Vũ Nương Bài Làm ” Đâu đớn thay thân phận đàn bà lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” Lời cảm thân của Nguyễn Dữ đã khái quát chung số phận của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Họ chịu nhiều bất hạnh khổ đâu, ngang trái. Trở lại thế kỉ XVI, Nguyễn Dữ cũng chung cảm hứng với Nguyễn Du viết về người phụ nữ Vũ Thị Thiết tên con gọi là Vũ Nương có số phận éo le, oan khuất phải tìm đến cái chết. Nhưng ẩn sâu trong nó họ vẫn sáng lên vẻ rất đáng trân trọng của mình. Nguyễn Dữ là nhà văn tiến bộ, lần đầu tiên tính đến thế kỉ XVI người phụ nữ bình dân được giới thiệu với đầy đủ họ tên, số phận, phẩm chất với cảm hứng ngợi ca đồng cảm sâu sắc. Xã hội xưa bất công, trọng nam kinh nữ. Nhưng Vũ Nương đã vượt lên và có trọn đủ bốn phẩm đức cao đẹp theo quan niệm về xã hội xưa: Công, dung, ngôn,hạnh. Trước hết nàng đệp về chữ công, công là công lao công việc, nàng đảm đang ghánh vác việc nhà khi trương sinh đi Lính. Trương sinh ra trận nàng đang mang thai một tuần sau thì sinh con vượt cạn một mình không có chông ở bên. Nàng lại một mình nuôi dậy con thơ giữ vai trò vừa là mẹ vừa là cha của bé Đảm. Mẹ chồng nàng ốm đau nàng chăm sóc phụng dưỡng. Khi bà mất nàng lo ma chay chu tất. Tiếp đó nàng còn đẹp ở chữ Dung đó là dung nhan, là hình thức, ngay từ đầu tác phẩm, Nguyễn Dữ đã giới thiệu về nàng, tính đã thùy mị nết na lại có tư dung tốt đẹp” Nhân vật của ông đẹp cả về hình thức và phẩm chất. Không chỉ vậy nàng còn đẹp ở chữ Ngôn. Lời nói dù trong xã hội phong kiến phụ nữ không được học hành, tuy nhiên lời nói của vũ Nương rất dịu dàng, có lí chứng tỏ nhân vật chính của mình thông qua lời nói, bộc lộ tâm lí, tính cách chẳng hạn lời tiễn chồng ra trận: “ Chàng đi chuyến này thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên thế là đủ rồi. Nàng không mong vinh hiển chỉ cầu bình yên cho chồng tỏ lòng nhớ mong khiến ai chứng kiến cũng ứa hai hàng lệ. Đặc biệt hơn nàng còn đẹp ở chữ Hạnh đức hạnh phẩm chất cao quý nhất của con người, với con nàng là người mẹ hiền, nuôi dậy con thơ một mình. Con thiếu vắng tình cha nàng bù đắp cho con và trỏ bóng của mình mà bảo là cha đảm, nó như là sợi dây yêu thương gắn kết cha con đảm.với mẹ chồng nàng là người con dâu hiểu thảo. Khi bà ốm nàng chăm sóc động viên gắng ăn miếng cơm, miếng cháo chờ Trương Sinh về. Nàng còn lẽ bài thần phật cầu cho bà mau khỏe. Khi bà mất nàng lo ma chay chu tất như với cha mẹ đẻ của mình. Lời trăn trối của bà đã đánh giá cao nhân cách Vũ Nương “ Sau này trời xét lòng lãnh ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mje” Trong xã hội phong kiến quan hệ mẹ chồng nàng dâu vốn không mấy tốt đẹp, ở đây lại khác. Chứng tỏ tấm lòng của nàng đã được đánh giá cách thuyết phục. với chồng Vũ Nương là người vợ thủy chung. Khi mới lấy chồng biết chồng có tính đa nghi hay ghen nàng đã giữ gìn khuôn phép, nên vợ chồng không từng xảy ra chuyenejt ất hòa, nàng đã khéo léo giữ gìn tổ ấm. Trong thời gian chống ở nơi chiến trường, nàng một lòng thủy chung với nỗi nhớ thương, một khi thấy bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời ấy không thể ngăn được. Khi chồng trở về hạnh phúc chưa kịp mỉm cười với nàng thì tai họa đã ập đến. Trương sinh nghi oan nàng không chung thủy đã đámh nhiếc đuổi nàng ra khỏi nhà khiến nàng phải tìm đến cái chết oan. Vì thế khi nghe Phan lang kể chuyện nhà, nàng ứa khó quyết Tôi tất phải tìm về có ngày khi trương sinh lập đàn giải oan nàng chỉ loang láng hiện ở giữa dòng rồi biến mất nàng không muốn phụ ảo đức linh phi. Với người đời nàng còn trọn ân nghĩa danh dự này mang sống để bảo toàn danh dự để khẳng định sự trong sạch, tiết trắng. Với nàng danh dự quan trọng hơn mạng sống rồi khi sống dưới thủy cung trong làng mây cung nước, nàng vẫn khao khát trở về minh oan. Vì thế nàng gửi chiếc kim hoa cùng lời nhắn cho trương sinh lập đàn giải oan, người buộc nỗi oan phải là người cởi bỏ. Và nàng cũng không phụ ân đức của linh phi nên không trở về trần gian “ Thiếp cảm ơn đức của linh phi đã thề sống chết cũng không bỏ đa tạ tình chàng thiếp chẳng trở về trần gian được nữa. Tuy Vũ Nương là một người phụ nữ có vẻ đẹp lí tưởng, vẻ đẹp đáng lẽ phải có cuộc sống hạnh phúc nhưng đối lập nàng lại có cuộc sống oan nghiệt. Vũ Nương, một người phụ nữ vẹn sắc, đức hạnh nhưng lại phải chịu tình duyên ngang trái lấy phải người chồng vũ phu, ít học, hay ghen. Đọc tác phẩm không ai là không xót xa cho hoàn cảnh của Vũ Nương lấy chồng chưa được bao lâu chưa thỏa tình chăn gối thì trương sinhd dã phải đi lính, thật buồn cho vũ nương ngày ngày một mình, chờ đợi ngóng mong thông tin của chông nơi biên ải, người con gái bạc mệnh sống trong cảnh chia lìa đơn chiếc. Trương Sinh đi để lại cho người vợ trẻ gánh nặng mẹ già, con thơ. Nàng thay chồng làm tròn bổn phận người con với mẹ. Rồi phải vừa là mẹ vừa là cha để chăm sóc bế đảm.Nhưng đêm thâu, nàng chỉ còn cách chỉ chiếc bóng của mình trên vách tường mà bảo là cha đảm. Một thời gian sau Vũ Nương tự tử, bế con bên cạnh đèn trong đêm khuya, con nói “ Cha đảm lại đến đây kìa” bấy giờ trương sinh mới thấy nỗi oan của vợ nhưng đã muộn. Ở cuối chuyện tuy nàng có trở về trần gian trong lễ giải oan nhưng rồi cũng lại biến mất bởi sự thật người chết không thể sống lại. Bé đảm đã vĩnh viễn mất mẹ còn trương sinh sẽ phải hối hận cả đời. Về phần nghệ thuật cách xây dựng tình huốn truyện thắt nút, gỡ nút với tình huống bất ngờ, chiếc bóng đã tạo lên tình huống bất ngờ khiến người đọc bàng hoàng. Sáng tạo từ câu chuyện cổ tích vợ chàng trương đầy ý tưởng mới đã làm câu chuyện thêm hấp dẫn. Kết hợp giữa yếu tố thực và chi tiết kì ảo cùng nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc biệt là nhân vật Vũ Nương qua lời nói hành động. Lời văn giàu hình ảnh tượng trưng, câu văn biến ngẫu, hình ảnh điển tích, điển cố tạo sự hàm sức uyển chuyển.
Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nhân vật Vũ Nương
1,322
Suy nghĩ về thông điệp của tác giả qua câu chuyện dưới đây bằng một bài văn ngắn – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Suy nghĩ về thông điệp của tác giả Đề bài: Phát biểu suy nghĩ của em về thông điệp mà tác giả muốn truyền tải tới cho mọi người qua câu chuyện dưới đây bằng một bài văn ngắn (khoảng một trang giấy thi): “Một cậu bé nhìn thấy cái kén của một con bướm. Một hôm cái kén hở ra một khe nhỏ, cậu bé ngồi yên và lặng lẽ quan sát con bướm trong vòng vài giờ khi nó gắng sức chui qua khe hở ấy. Nhưng có vẻ nó không đạt được kết quả nào cả. Cậu bé quyết định giúp con bướm bằng cách cắt khe hở cho to hẳn ra. Con bướm chui ra được ngay, nhưng cơ thể nó bị phồng rộp và cánh nó co lại bé xíu. Cậu bé hi vọng đôi cánh sẽ đủ lớn để con bướm có thể bay lên. Nhưng chuyện đó đã không diễn ra. Thực tế, con bướm này phải bò trườn suốt cả cuộc đời. Nó không bao giờ bay được nữa. Cậu bé không hiểu rằng, chính việc tự mình nỗ lực thoát ra khỏi cái kén chật chội kia là điều kiện không thể thiếu để chất lưu trong cơ thể con bướm chuyển vào đôi cánh, giúp nó bay được. ” (Hạt giống tâm hồn – First News) Bài làm 1 Có một nhà văn đã từng nói: “Hãy sống như thể ngày mai là tận thế”. Cuộc sống là thế, luôn khó khăn, vất vả. Khi bạn đã chấp nhận bước chân vào con đường đầy sỏi và đá ấy, bạn đã chấp nhận đối mặt gian nan, thử thách bất ngờ có thể ập đến với bạn bất cứ lúc nào, và điều mà bạn cần để vượt qua chúng là sự nỗ lực. Nỗ lực, nỗ lực hết mình, và thành quả mà bạn có được chính là sự chiến thắng. Thế nhưng nếu bạn buông xuôi, từ bỏ, yếu đuối chấp nhận thất bại hay thành công một cách dễ dàng thì hậu quả mà bạn gánh chịu cũng giống như những gì mà chú bướm trong câu chuyện phải chịu đựng. Thử thách, phải, nó thật khó khăn. Khi thử thách đến với cuộc đời bạn, nó như một tấm đệm nặng chịch và bạn là người bị đè dưới lớp bông ngột ngạt ấy. Cái kén, giống như một tấm đệm, ngoài việc bảo vệ chú sâu bướm, nó còn là thử thách dành cho chú. Như bao con sâu khác, chú đã “gắng sức chui qua khe hở ấy”. Thế nhưng, một cậu bé đã tới, rạch trên cái kén một nhát kéo định mệnh. Nhát kéo ấy đưa chú sâu tới với ánh sáng bên ngoài, tới với bầu trời cao thăm thẳm mà suốt cuộc đời còn lại, con bướm ấy sẽ chẳng bao giờ có thể chạm tới. Đối với những chú sâu, vượt qua cái kén cũng giống như vượt qua một thử thách đầu đời, giống như mở cánh cửa tới cuộc sống. Thế mà chú sâu ấy đã không phải nỗ lực, không phải trải qua hàng giờ đau đớn để rồi khi thoát khỏi cái kén, chú có thể tận hưởng cảm giác chiến thắng, tận hưởng bầu trời xanh mơn man, những cơn gió thổi rì rào và những áng mây trắng bồng bềnh êm dịu. Có một người đã nhấc tấm nệm ra khỏi người chú một cách dễ dàng, và ném cho chú chiếc chìa khoá để bước chân vào cuộc sống, chú chẳng bao giờ biết tới nỗ lực, chẳng bao giờ biết tới niềm vui chiến thắng và dĩ nhiên, cũng sẽ chẳng bao giờ được như những con bướm khác, nỗ lực để có thể bay bổng trên bầu trời. Nhà triết học người Pháp từng nói: “Mỗi một con người chỉ là một hạt cát nhỏ trong sa mạc. Hạt cát ấy chỉ thực sự có ích khi mà nó làm đúng trách nhiệm của mình”. Cậu bé tốt bụng ấy đã quyết định giúp chú bướm đang phải vất vả trong cái kén chật chội. Cậu cắt nhát cắt ấy không chỉ cắt đứt vỏ kén, mà đã cắt đứt luôn cả sợi dây nối với cuộc sống của chú bướm. Lòng tốt đôi khi không đem lại những kết quả tốt. Giống như việc một em bé tập đi vậy, nếu bé ngã, bạn chạy tới vỗ về tức là bạn đã khiến em bé ỷ lại ở tình yêu thương của bạn và bé sẽ chẳng thể biết đi. Thế nhưng nếu bạn cứ để mặc bé ngã, bé sẽ đau, sẽ khóc nhưng những giọt nước mắt đầu đời ấy, những vết thương, vết xước sẽ như những minh chứng ‘cho sự nỗ lực mà bé đã bỏ ra để có thể bước đi vững vàng trên con đường cuộc sống đầy gian nan. Chú bướm cũng vậy, nếu có thể tự mình vượt qua cái kén, nếu chú bé chỉ động viên, an ủi con bướm, nó sẽ có nghị lực càng lớn hơn và tương lai nó có thể bay lượn trên bầu trời, nó có thể đem niềm vui tới cho mọi người và sống thật có ích. Cuộc sống là vậy đó! Bạn không thể đòi hỏi thành quả mà không chấp nhận hi sinh, chấp nhận nỗ lực. Đừng bao giờ nghĩ rằng sẽ có người giúp bạn mở cánh cửa tới với chiến thắng, và cũng đừng bao giờ nhấc tấm đệm của người khác bạn nhé! Các cụ ngày xưa đã dạy “sai một li, đi một dặm” mà. Trần Thị Mai Anh. (Trường THCS Trưng Vương) Bài làm 2 Trong cuộc sống xồ bồ, ta đi tìm hạnh phúc qua chông gai, đi tìm thành công trong cố gắng, và tất nhiên thành công do chính chúng ta tạo dựng nên sẽ rất huy hoàng, chắc nó sẽ đẹp hơn khi con đường toả sáng của bạn không có vết chân người khác. Câu chuyện trên cũng cho ta thấy được bài học về lòng tốt không được dùng đứng lúc và hậu quả của nó. Thường thì những câu chuyện ngắn sẽ mang lại cho ta nhiều suy nghĩ có chiều sâu, bởi ta phải nghĩ kĩ mới có thể thấy được những cái hay của nó. Câu chuyện này cũng vậy, nó cho ta hiểu rằng: đôi khi, nếu cứ ỷ lại vào người khác mà chính bạn không cố gắng, bạn sẽ không tài nào có được những tháng ngày vinh quang. Hình ảnh con bướm chui ra từ cái kén nhưng thân thể “bị phồng rộp”, cánh “nó lại bé xíu” làm ta hình dung rất rõ điều đó. Đọc qua, có thể ta chỉ hiểu như vậy nhưng thực chất ý nghĩa của nó còn nhiều hơn thế! Khi cậu bé ngồi lặng lẽ quan sát con bướm trong vòng vài giờ, chứng tỏ cậu đang dõi theo sự nỗ lực của nó và chờ thành quả nó đạt được. Nhưng rồi, cậu đã không chờ được, cậu đã cắt cho khe hở ở kén bướm to hẳn ra. Cậu bé đã không tin con bướm và cậu đã không hề kiên trì trong việc chờ đợi “thành quả” của mình làm ra. Còn về phía chú bướm, chính chú tự hại mình, chính vì không cố gắng hết sức để thoát ra khỏi cái kén chật chội kia mà giờ chú bướm đáng lẽ là rất xinh đẹp kia đã không thể tận hưởng cuộc sống tươi đẹp. Cũng giống như chúng ta, trong bất kì hoàn cảnh nào cũng đều cần sự cố gắng, cố gắng từ việc nhỏ nhặt nhất cho đến những việc phức tạp nhất. Hãy thử cố làm những người xung quanh ta hài lòng, bằng nhiều cách,… Hãy thử cố làm tốt công việc mình được giao mà không nhờ vào sự giúp đỡ của người khác. Hay như lúc này đây tôi đang thử cố hoàn thành thật tốt những dòng cảm nhận này. Nó không phải nghĩa vụ, mà là điều bạn nên làm nếu muốn một cánh cửa thành công mở ra trước mặt bạn ở tương lai gần. Đọc đến chi tiết cậu bé giúp chú bướm thoát ra dễ dàng như vậy, tôi càng thấy câu chuyện này thật ý nghĩa. Ta thương cậu bé thiếu hiểu biết đã gây nên chuyện không đáng có. Ta thầm trách cái lòng tốt của cậu bé lại đặt không đúng chỗ. Ta thấy xót xa cho con bướm, dù chỉ lơ là trong quá trình thoát ra, để giờ đây cả đời phải bò trườn… Phạm Trọng Đạt (Trường THCS Thanh Quan) Bài làm 3 Trong cuộc sống, ai cũng có những lần gặp phải khó khăn, gian khổ. Mỗi lần như vậy chúng ta đều cần đến sự giúp đỡ của những người xung quanh. Nhưng giúp đỡ thế nào cho đúng, để ta vẫn có thể đứng bằng đôi chân của chính mình mà không ỷ lại, lại là một vấn đề mà không phải ai cũng biết. Điều này xảy ra rất thường xuyên trong cuộc sống và được đề cập trong nhiều câu chuyện. Câu chuyện này cũng vậy, cũng chứa đựng bài học về sự giúp đỡ. Mỗi con bướm đều cần tự thoát ra khỏi kén để chất lưu trong cơ thể nó chuyển vào cánh, để nó có thể bay được. Đó là quy luật tự nhiên. Nhưng vì không biết đến điều kiện tự nhiên ấy, cậu bé đã vô tình làm hại con bướm bằng cách cắt khe hở ở cái kén cho to hẳn ra. Con bướm chui ra được ngay nhưng cả cuộc đời nó không thể bay được. Một con bướm mà lại không thể bay thì chắc nó cũng chẳng được gọi là bướm nữa. Tuy cậu bé không cố tình, trái lại, có thành ý muốn giúp đỡ con bướm nhưng sự giúp đỡ của cậu thành ra là hại con bướm. Từ câu chuyện trên, tác giả chắc hẳn muốn người đọc liên hệ đến thực tế. Cuộc sống xung quanh ta đầy rẫy những khó khăn, vất vả và mỗi người đều phải vượt qua. Mỗi lần tự vượt qua khó khăn là một lần ta trưởng thành hơn, là một lần làm ta thêm cứng cáp, hoàn thiện. Nói cách khác, khó khăn chính là điều kiện để con người tôi luyện, rèn giũa bản thân. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, phải tự mình đối mặt với gian nan mới có thể thành công được. Nếu không tự vượt qua, mỗi người sẽ tự hình thành cho mình thói quen ỷ lại, “há miệng chờ sung”, không biết làm gì ngoài chờ đợi, chờ có người đến làm thay mình. Một lần, hai lần khó khăn, có thể có người giải quyết cho ta nhưng họ có thể giúp mình, giải quyết khó khăn hộ ta mãi được không? Chỉ có chính bản thân ta mới có thể giúp đỡ ta mãi mãi. Từ câu chuyện nhỏ về cậu bé và “sự giúp đỡ sai lệch” đối với con bướm, mỗi người nên tự rút ra bài học cho mình về mối quan hộ giữa khó khăn và giúp đỡ. Khi gặp khó khăn, chớ vội đánh mất ý chí và chỉ biết trông chờ, mong đợi vào người khác, hãy hiểu rõ rằng khó khăn chính là lò luyện thành công và cố gắng vượt qua nó. Và đối với những tấm lòng chân thành muốn giúp đỡ những người xung quanh khi họ gặp khó khăn, hãy nhận thức đúng về sự giúp đỡ và đặt lòng tốt đúng lúc, đúng chỗ. Có vậy thì lòng tốt mới được gửi tới những người xung quanh một cách có ích. Tống Hồng cẩm (Trường PTDL Lương Thế Vinh) >> Xem thêm Qua các văn bản” Chiếu dời đô” và ‘Hịch tướng sĩ”, hãy nêu suy nghĩ về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Suy nghĩ về thông điệp của tác giả
Suy nghĩ về thông điệp của tác giả qua câu chuyện dưới đây bằng một bài văn ngắn – Bài văn hay lớp 8
2,058
Đề bài: Em có suy nghĩ gì về thời gian và niềm tin Bài làm Nhiều năm trước, khi khai quật một ngôi mộ cổ Ai Cập, một nhà khảo cổ đã tìm thấy những hạt giống vùi trong một miến gỗ. Khi đem gieo, những hạt giống ấy đã nẩy mầm, bộc lộ sức sống tiềm tàng sau hơn 3000 năm bị chôn vùi. Suy nghĩ về thời gian và niềm tin Phải chăng điều kiện sống mà chúng ta, vì không nhận ra được những tiềm năng vốn có của mình đã cam chịu sống trong thất bại và tuyệt vọng? Hay trong chúng ta cùng có những hạt mầm của những khả năng, như một sự thôi thức vươn lên mạnh mẽ đến nỗi mọi vỏ cứng của nghịch cảnh cũng sẽ bị chọc thủng? Hãy suy ngẫm câu chuyện từng được phát rộng rãi trên Assciated Press vào ngày 23-5-1984: Khi còn là một cô bé, Mary Groda không thể học đọc và học viết được. Các chuyên gia cho rằng, cô mắc chứng chậm phát triển. Khi đến tuổi dậy thì, cô lại bị gán cho là “kẻ bất trị” và bị giam 2 năm trong trại học và cô học 16 giờ mỗi ngày. Sự nỗ lực của cô đã được đền đáp bằng tấm bằng tốt nghiệp trung học. Thế nhưng, những bất hạnh vẫn tiếp tục đến với Mary. Sau khi rời trại cải tạo, cô mang thai mà không nhận được sự trợ giúp nào. Rồi 2 năm sau, lần mang thai thứ hai đã khiến có bị một cơn đột quỵ, mất khả năng đọc và viết mà khó khăn lắm cô mới hết được. Với sự trợ giúp và ủng hộ của người cha, Mary đã chiến đấu chống trả bệnh tật, giành lại được những gì đã mất. Trong điều kiện tài chính eo hẹp, Mary cố gắng vượt qua tất cả. Để thoát khỏi bước đường cùng cô nhận nuôi 7 đứa trẻ cùng lúc. Cùng thời gian đó, cô bắt đầu học tại một trường cao đẳng cộng đồng. Khi hoàn thành khóa học, cô nộp đơn và được chấp thuận vào học tại Trường Y khoa Albany. Vào mùa xuân năm 1984, tại Oregon. Mary Groda Lewis, giờ đây đã lập gia đình, bước lên sân khấu nhận tấm bằng tốt nghiệp. Không ai biết được Mary đang nghĩ gì khi cô đưa tay nhận tấm bằng minh chứng cho sự tự tin vào bản thân và lòng kiên trì của mình. Tấm bằng đã cho cả thế giới biết rằng, nơi đây, ngay tại một điểm rất nhỏ trên trái đất này, có một con người dám ước mơ một giấc mơ tưởng chừng không thể, một con người đã khẳng định với chúng ta về khả năng tuyệt diệu mà con người có thể làm được. Nơi đây, người đang hiên ngang ngẩng cao đầu chính là Mary Groda Lewis, tiến sĩ Y khoa. Hãy khao khát và nuôi dưỡng niềm tin, hãy dành thời gian cho những ước mơ, vì đó là động lực vàng giúp bạn đạt được những thành tựu lớn nhất của cuộc đời.
Suy nghĩ về thời gian và niềm tin
526
Đề bài: Suy nghĩ của em về truyền thống: Thương người như thể thương thân của dân tộc ta. Bài Làm Trong câu trên muốn hiểu được toàn bộ ý nghĩa ta phải đặt 2 vế, mối tương quan so sánh. Ta sẽ thấy những nét tương đồng, do đó chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa trọn vện của câu tục ngữ. Trước tiên chúng ta tìm hiểu về thương thân là gì? Thương thân là thương xót cho mình khi lâm vào cảnh đói không cơm, rét không áo, ốm không thuộc và lúc hoan nạn không ai giúp đỡ mình. Lẽ tự nhiên ai cũng thương mình hơn cả, nhưng nếu yêu thương bản thân một cách thái quá sẽ dẫn tới biểu hiện lệch lạc như thái độ ích kỉ, không quan tâm đến vui buồn, cực khổ của bất kì ai khác. Tệ hơn là thói ích kỉ dẫn tới hại người rất đang lên án. Vậy còn thế nào là thương người? Người ở đây là người xung quanh, là anh chị em, bố mẹ người thân ở quê hương làng xóm, của đất nước và toàn cầu. Thương người như thể thương thân có nghĩa là ta phải yêu quý bản thân ta thế nào thì ta phải yêu thương, chia sẽ, cảm thông, thương người khác như thế,nếu ta đã trải qua cơn đau đớn bệnh tật, khi đấy người khác lâm vào hoàn cảnh khó khăn phải biết thông cảm sẻ chia như đối với bản thân mình. Nhưng để có một lối sống như vậy không phải là dễ dàng. Phải có một tấm lòng trong sáng, trái tim nhân hậu và giàu đức hi sinh mà tấ cả điều này kết hợp lại ta mới có được lối sống cao cả này. Cuộc sống có nhiều thay đổi, mỗi chúng ta cần chân trọng, yêu thương giúp đỡ mọi người mỗi trong mọi hoàn cảnh để thương người rồi người sẽ thương ta giúp đỡ ta, hãy iu thương giúp đỡ mọi người như thể bản thân ta như ông cha ta đã dạy “ Thương người như thể thương thân.”
Suy nghĩ về truyền thống thương người như thể thương thân
357
Đề bài: Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì quá mải chơi mà sao nhãng việc học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó. Bài làm Cuộc sống hiện đại ngày nay đã khiến con người nhìn vào cuộc sống của mình bằng một con mắt khác. Họ đòi.hỏi ở cuộc sống nhiều hơn, và một trong những nhu cầu lớn nhất là giải trí. Bàn về vấn đề này có người nói 'Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì quá mải chơi mà sao nhãng việc học tập và còn phạm nhiều sai lầm khác?" Theo bạn, bạn có đồng tình với ý kiến trên không? Đã xa rồi những trò chơi dân gian xưa: chọi gà, chọi dế, đánh trận giả… Tấtcả dường như bị lãng quên, nó đã lùi vào cổ tích. Thay vào đó là những trò chơi tiêu khiển mới lạ, hấp dẫn. Một trong những trò chơi được liệt kê vào loại trò tiêu khiển hấp dẫn là điện tử. Bước chân vào các quán game ta mới thấy được có rất nhiều trò chơi thu hút mọi người đặc biệt là các bạn nam như: đá bóng, đua xe, đế chế… Tất cả đều được gọi cái tên chung là điện tử. Các trò chơi điện tử muốn chinh phục được nó đòi hỏi người chơi phải có óc sáng tạo, sự kiên trì, một chút khéo léo và đặc biệt nó kích thíchtính tò mò. Có lẽ vì vậy mà điện tử được gọi là "món tiêu khiển hấp dẫn". Nhưng trò chơi nào cũng có ít nhiều điều tiêu cực. Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi thế hệ trẻ phải có trí thức nên việc quan trọng nhất của chúng ta là học tập. Nhưng thực tế hiện nay không ít bạn vì quá đam mê "món tiêu khiển hấp dẫn – điện tử" mà đã sao nhãng việc học tập, quên đi mất nhiệm vụ chính cùa mình. Kết quả học tập giảm sút, gia đình phiền lòng. Việc làm ấy làm mất đi sự tự tin của chính bản thân và còn biết bao những sai lầm khác không đáng có nữa mà chúng ta không thể ngờ tới được… Nói về vấn đề kinh tế: chơi điện tử tác hại vô cùng ngay cả với gia đình kinh tế được xem là dư dật. Lại còn khi quá đam mê không có tiền để chơi, lúc đó họ sẽ làm gì? Nói dối bố mẹ để lấy tiền đi chơi, vay tiền người khác hay trộm cắp? Đó là một thực trạng đang nổi lên trong xã hội hiện nay. Vậy tại sao chúng ta không biết chọn lựa những trò chơi giải trí phù hợp và bổ ích cho mình thay vào việc đi chơi điện tử, tại sao chúng không tham gia ởcác câu lạc bộ thể thao, đọc sách, tham gia chiến dịch mùa hè xanh, thanh niên tình nguyện và còn biết bao hình thức giải trí khác. Tại sao chúng ta không tham gia? Vì nó không là món tiêu khiển hấp dẫn hay vì chúng ta chưa quan tâm tới? Còn rất nhiều sai lầm của người chơi diện tử mà ta không thể không nêu ra được hết nhưng tôi xin chắc rằng chỉ khi người chơi tự nhận ra tác hại của việc chơi điện tử thì lúc ấy họ mới thực sự thấy thấm thía. Sự thất bại lúc ấymới thực sự là hồi chuông cảnh tỉnh cho họ. Biết đến bao giờ tất cả bố mẹ chúng ta mới có thể. rạng rỡ nụ cười trên khuôn mặt dãi nắng dầm sương vì có những đứa con ngoan ngoãn. Điều đó là tuỳ thuộc vào chính chúng ta đấy các bạn ạ! Xã hội càng văn minh thì tệ nạn xã hội càng hay rình rập. Nó đòi hỏi ờ chúng ta sự tự chủ và kiên cường. Đừng để lúc nào chúng ta bị sa đà vào các trò tiêu khiển không bổ ích. Hãy nhớ một điều: điện tử là trò tiêu khiển hấp dẫn nhưng đừng vì nó mà làm bản thân phải sai lầm không đáng có để cha mẹ, thầy cô phải phiền lòng, để bạn bè xa lánh.
Suy nghĩ về trò chơi điện tử
736
Suy nghĩ về tác dụng của việc đọc sách Hướng dẫn Suy nghĩ về tác dụng của việc đọc sách Mở bài: Barbara Tuchman đã từng nói rằng: “Sách là nơi lưu giữ nền văn minh. Không có sách, lịch sử trầm lặng, văn chương buồn chán, khoa học khập khiễng, suy nghĩ và phán đoán đứng yên” . Sách mang đến cho chúng ta tất cả hiểu biết về thế giới tự nhiên và con người. Bởi thế, đọc sách là một việc làm rất cần thiết đối với mỗi con người. Thân bài: Sách là gì? Mọi tri thức của con người từ xưa đến nay được ghi vào sách. Sách là một kho tàng lưu giữ khối kiến thức của nhân loại tích lũy từ mấy ngàn năm. Tất cả sự kiện sãy ra trong lịch sử phát triển của nhân loại mà con người cảm thấy cần phải lưu giữ, truyền lại cho thế hệ sau đều được ghi vào sách. Bởi thế, Thomas Carlyle nói: “Trong những cuốn sách ẩn chứa linh hồn của suốt chiều dài quá khứ”. Đọc sách là gì? Đọc sách là tiếp cận và tiếp nhân khối tri thức ấy vào bên trong đầu óc con người. Alexander Hamilton cho rằng: “Nghệ thuật đọc là lướt qua một cách khôn ngoan”. Thế nhưng, cách đọc ấy chỉ dành cho các bậc vĩ nhân. Đọc sách hiệu quả nhất định phải đọc chậm rãi, đọc cho kĩ, ngẫm cho sâu mới thấu nhận được tri thức có trong sách. Sách là kho tàng cho ta trí tuệ, biến ta thành người có tri thức, học rộng, tài cao. Sách như phi thuyền kì diệu đưa ta vượt qua không gian, thời gian đến với những miền đất mà ta chưa từng đến, đưa ta trở về quá khứ xa xôi hoặc tương lai phía trước. Đến với sách ta không chỉ biết được những việc xảy ra hằng ngày trên khấp thế giới mà còn biết được những sự kiện đã xảy ra từ xưa trong lịch sử loài người. Sách lịch sử giúp ta hiểu được cả một giai đoạn lịch sử thăng trầm của dân tộc, một quốc gia hay cả thế giới. Sách khoa học kỹ thuật đúc kết những kinh nghiệm sản xuất những thành tựu trong mọi lĩnh vực. Sách văn học giúp ta hiểu biết những niềm vui, nổi buồn, hạnh phúc và đau khổ hay những ước mơ khác vọng ngàn đời của con người. Sách còn dạy cho ta biết bao điều hay lẽ phải trong cuộc đời khiến ta ngày một hoàn thiện về nhân phẩm đạo đức. Như vậy sách vừa là người bạn thân thiết mang lại niền tin yêu, mang đến cho ta vừa là người thầy tận tâm luôn ở cạnh bên ta. Hiện nay trên thị trường đang lưu hành nhiều loại sách mà không phải cuốn sách nào cũng là bạn hiền, bạn tốt của con người. Vì thế khi tìm đọc, chúng ta phải biết phân biệt sách tốt và sách xấu. Bởi một quyển sách tốt là một thứ thuốc bổ dưỡng tinh thần. Một quyển sách xấu sẽ mang đến nguy hiểm cần phải bài trừ. Vì vậy, mỗi học sinh chúng ta cần phải xác định cho mình một thái độ đúng đắn với việc đọc sách. Kết bài:
Suy nghĩ về tác dụng của việc đọc sách
553
Suy nghĩ về tác phẩm Chiếc lá cuối cùng – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về tác phẩm chiếc lá cuối cùng Đề bài: Lấy nhan đề “Tình đời trong chiếc lá”, hãy nêu suy nghĩ về đoạn trích tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen-ri. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một đoạn trích truyện ngắn. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là tình đời trong tác phẩm Chiếc ìá cuối cùng. – Cần phân tích cảm nhận về cái hay, cái đẹp của tình đời (con người với con người) trong truyện ngắn. – Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan giữa các nhân vật, đồng thời làm nổi rõ tư tưởng chủ đề của truyện. 2. Gợi ý – Tìm đọc kĩ toàn bộ truyện ngắn. – Tham khảo các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về truyện ngắn. – Tình cảm của những hoạ sĩ đối với nhau như thế nào? – Những ý nghĩ dại dột của Giôn-xi về chiếc lá cuối cùng. – Xiu và cụ Bơ-men đã làm tất cả để cứu Giôn-xi. – Biện pháp nghệ thuật chủ yếu của truyện ngắn: tình huống truyện căng thẳng, kết cấu đảo ngược tình huống hai lần. – Chủ đề tư tưởng của truyện là ca ngợi tình cảm của các hoạ sĩ, những người một đời phụng sự nghệ thuật, và đặc biệt là ca ngợi sức mạnh của nghệ thuật đã hồi sinh, cứu rỗi con người. – Cần kết hợp nghị luận với biểu cảm. 3. Lập dàn ý (dàn ý sơ lược) a. Mở bài: Giới thiệu O Hen-ri và truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng. b. Thân bài * Ý nghĩ của Giôn-xi về cái chết và chiếc lá cuối cùng. – Xiu đã tận tình chăm sóc Giôn-xi (tình cảm tốt đẹp của bạn bè), thầy thuốc cũng đã hết lòng chạy chữa (khoa học cũng đã cố gắng). – Cụ Bơ-men vẽ chiếc lá cuối cùng. – Chiếc lá đã cứu sống Giôn-xi. Nhưng cụ Bơ-men lại chết vì viêm phổi. – Chiếc lá – kiệt tác là tình cảm quên mình của cụ Bơ-men. c. Kết bài: Nhấn mạnh tình cảm của con người, tình cảm đó đã biến thành tác phẩm và sức mạnh kì diệu của tác phẩm nghệ thuật vì con người. 4. Bài làm minh hoạ Bài 1 Yêu thương, gắn bó thân thiết nhưng cũng rất nóng bỏng kịch tính là tất cả những gì ta có thể cảm nhận được ở đoạn trích Chiếc lá cuối cùng trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn O Hen-ri. Câu chuyện như một nét phác thảo chân thực, đẹp đẽ về “Tinh đời trong chiếc lá”, phải chăng đây chính là điều nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm của mình. Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh chiếc lá thường xuân lại trở thành nhan đề cho truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Mĩ nổi tiếng này. Xuyên suốt mỗi câu, mỗi chữ là một màu xanh rời rợi, là sự sống kiên cường, thiết tha của chiếc lá, là tình cảm bạn bè đầy yêu thương, chăm lo tận tình và cả sự hi sinh cao cả của những nghệ sĩ nghèo nước Mĩ. Phải chăng đó là chi tiết vừa cảm động nhưng cũng vừa bất ngờ, độc đáo của một ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc? Chiếc lá trong mỗi hoàn cảnh, mỗi con người lại ẩn chứa một ý nghĩa, một tâm tình khác nhau. Giôn-xi ngây thơ đến lạ lùng khi cô cho rằng sẽ buông xuôi tất cả và lìa cõi đời này vào lúc chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Bệnh tật hành hạ và sự nghèo khó đã dập tắt niềm tin và ý chí muốn sống trong lòng cô gái trẻ. Tuyệt vọng đã khiến cô đặt cược cả cuộc đời và số phận cho một chiếc lá nhỏ nhoi. Nhưng rồi chiếc lá vô tri đó đã trở thành niềm hi vọng của Giôn-xi khi mà cô còn giữ được “lửa” trong trái tim mình, khiến cô tìm lại được tình yêu cuộc sống với những mơ ước, khát khao. Khi ấy, Giôn-xi tin vào cuộc đời bằng một tình yêu cuộc sống mãnh liệt đã giúp cô vượt qua lưỡi hái tử thần. Cô tin rằng chiếc lá sẽ mãi còn đó, mãi xanh tươi như sự sống bất diệt, cô tin rằng trái tim mình cũng sẽ đập mãi, tâm hồn mình cũng sẽ trẻ mãi và tràn đầy ước mơ về bức kiệt tác “vịnh Na-plơ”. Đó là lúc cô khỏi bệnh, sống một cuộc đời đẹp nhất, có ý nghĩa nhất. Niềm tin yêu đó thật đáng quý biết bao. Như vậy, sự sống của chiếc lá đã thăng hoa tình cảm thiết tha yêu cuộc sống trong trái tim cô gái yếu đuối này. Nỗi tuyệt vọng của Giôn-xi như nhát dao đâm vào trái tim thổn thức của người bạn thân thiết, gần gũi nhất – Xiu để rồi chiếc lá lại thực hiện tốt vai trò của mình, gợi nên sự quan tâm, lo lắng, yêu thương của Xiu dành cho bạn mình. Giôn-xi quả là một người tàn nhẫn với Xiu và với chính mình khi cô mỗi khi thức dậy đều muốn mở cửa sổ để chờ đợi chiếc lá cuối cùng lìa cành. Xiu làm sao có thể không buồn bã, không lo lắng khi thấy người bạn gái mỗi lúc một tuyệt vọng, héo mòn, tiều tuỵ và đang chờ chết. Bệnh tật, sự tuyệt vọng của Giôn-xi hành hạ Xiu về cả vật chất lẫn tinh thần. Cuộc sống vốn trước đây đã rất khó khăn giờ chỉ còn mình cô gánh vác, lại cần có tiền thuốc thang chữa bệnh cho bạn. Xiu không muốn kéo mành lên để bạn nhìn thấy sự sống níu kéo từng giây từng phút trên chiếc lá còn sót lại nhưng cô khó có đủ ánh sáng mà vẽ tranh, lấy tiền chữa trị cho Giôn-xi khi cửa so là nguồn sáng không phải trả tiền duy nhất đối với những người nghèo khổ như cô. Xiu day dứt, băn khoăn giữa hai sự lựa chọn vô cùng khó khăn. Chính trong những lúc thế này ta mới thấy hết được cái tình, cái nghĩa mà Xiu dành cho Giôn-xi, chiếc lá một lần nữa lại chứa nặng nỗi lo lắng khôn nguôi của cô gái trẻ, nó nhân lên trong cô sức mạnh của nghị lực, thăng hoa trong trái tim cô một tình yêu vô bờ bến với người bạn trẻ. Người đọc thực sự cảm động trước hình ảnh một cụ già 60 tuổi run rẩy trong đêm mưa to gió lớn, tuyết ngập khắp đường, một tay bám vào chiếc thang đã mục, tay kia vừa cầm đèn bão vừa cầm bảng màu với hai sắc xanh vàng và bút vẽ để leo lên tường nơi cửa sổ phòng Giôn-xi nhìn ra. Bàn tay già nua miệt mài vẽ. Bằng nét vẽ tài hoa và chân thực hoà vào cùng với tình thương yêu cháy bỏng của “người cha”, cụ đã đem đến cho chiếc lá thường xuân bình thường một sức sống bất tử. Để đáp lại đức hi sinh cao cả của người hoạ sĩ già, chiếc lá đã trở thành kiệt tác của cuộc đời cụ Bơ-men, thể hiện hoàn hảo và sinh động nhất tình yêu thương lớn lao, cao cả. Điều mà hơn 40 năm theo đuổi nghệ thuật không lúc nào trái tim cụ không ngừng hướng tới với một mong ước ráo riết, nồng nàn. Bằng một chi tiết độc đáo, cây bút văn xuôi đương đại nổi tiếng nước Mĩ – O Hen-ri đã để ba nhân vật trong truyện nhắn nhủ với chúng ta những điều đáng quý về tình yêu cuộc sống và trân trọng những tình cảm đã làm nên cuộc sống tươi đẹp. Chiếc lá đã cứu sống Giôn-xi, tạo nên kiệt tác bất tử cho cụ Bơ-men. Hay nghệ thuật chân chính đã mang lại niềm tin mãnh liệt vào sự sống ngàn lần yêu quý. Một lần nữa, cái chân lí: nghệ thuật vì cuộc sống con người mới là nghệ thuật đích thực lại toả sáng trong cụ Bơ-men. Thế mới biết, nghệ thuật đích thực chính là sự kết tinh, lắng đọng của tình yêu thương sâu sắc ; là sự quên mình tuyệt đối vì mọi người. Thực ra, chiếc lá cuối cùng đã rụng, nhưng còn mãi mãi trên tường và trong trái tim độc giả là chiếc lá của tình yêu thương, của sự hi sinh cao cả. O Hen-ri đã rời xa chúng ta nhưng câu chuyện của ông luôn sống mãi trong lòng người đọc bởi ẩn chứa trong chiếc lá là tình đời sâu nặng và nồng thắm mà ở bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào đều đáng được trân trọng và ngợi ca… (Nguyễn Thu Trang, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Thật ra, “Tình đời trong chiếc lá” là một cách nói ẩn dụ về ý nghĩa của truyện Chiếc lá cuối cùng. Tình cảm của Xiu dành cho Giôn-xi, nhất là tình cảm của cụ Bơ-men dành cho cô hoạ sĩ trẻ. Cụ đã hi sinh cả mạng sống của mình để làm ra chiếc lá khiến Giôn-xi từ chỗ tuyệt vọng chờ chết đã tin tưởng, hi vọng và dần dần ỉành bệnh. Người viết đã phân tích, làm rõ ý nghĩa của chiếc lá trong đời sống tình cảm của ba nhân vật. Bạn cũng đã có những nhận xét khá xác đáng về “nghệ thuật đích thực chính là sự kết tinh, lắng đọng của tình yêu thương sâu sắc ; là sự quên mình tuyệt đối vì mọi người”. Bài 2 O Hen-ri là một nhà văn Mĩ rất thành công với thể loại truyện ngắn. Các câu chuyện của ông thường đề cập đến cuộc sống hằng ngày của những con người thuộc tầng lớp bình dân trên đất Mĩ. Tuy nhẹ nhàng, nhưng chúng luôn gây cho người đọc sự xúc động sâu sắc với những ý nghĩa nhân đạo cao cả. Từ truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng – một tác phẩm đặc sắc, ta có thể thấy được phần nào tài năng của nhà văn. Một chiếc lá vô cùng nhỏ bé và rất đỗi mộc mạc bước vào truyện của O Hen-ri, đã trở thành nơi đúc kết cảm xúc, hoài bão, khát vọng,… của mỗi người trong cuộc sống. Chiếc lá cuối cùng là bức tranh phác hoạ một cách chân thực và sống động cuộc đời của những người hoạ sĩ nghèo nước Mĩ. Xiu và Giôn-xi – hai cô gái còn rất trẻ đă rời bỏ quê hương, người thì ở miền Nam nước Mĩ xa xôi, quanh năm nắng gắt, người lại ở vùng Bắc lạnh giá vô cùng để đến Oa-sinh-tơn với hi vọng về cuộc sống mới xán lạn hơn! Nhưng không phải trời lúc nào cũng chiều lòng người. Vớì hai bàn tay trắng, cùng với cái giá vẽ cũ kĩ, vài tờ giấy, hộp bút màu, các cô vẫn hằng ngày lao động cật lực trong các công viên, ở các quảng trường, nhà ga, bến xe hỏa,… Nghèo vẫn hoàn nghèo! Chỉ có tình cảm giữa họ thì ngày một giàu thêm! Bỗng một ngày, số phận như muốn đùa giỡn với hai cô gái trẻ. Giôn-xi đột ngột đổ bệnh sưng phổi. Là một cô gái yếu đuối, lại được sinh ra ở vùng đất có khí hậu nhiệt đới, Giôn-xi khó lòng đủ sức chống lại bệnh tật. Hơn nữa, sự nghèo túng càng khiến cô không muốn sống! Suốt ngày nằm bẹp trên giường, trong căn phòng tối tăm, chật hẹp, chỉ duy nhất nguồn ánh sáng của mặt trời chiếu rọi, Giôn-xi chỉ biết hằng ngày ngắm nhìn cây thường xuân bám vào bức tường gạch đối diện cửa sổ. Cuối thu đầu đông, lá bắt đầu rụng dần, cành cây trở nên thưa thớt, trơ trọi, cây như bị tước mất sức sống mãnh liệt tiềm tàng. Cô gái bé nhỏ ngắm nhìn cây, lá và thời tiết bất thường rồi lại suy nghĩ về số phận của mình. Chúng cũng như cô đang ngày một chết dần, chết mòn, héo hắt! Mong ước ngày nào đã nguội lạnh, thay vào đó là tư thế sẵn sàng đón nhận một sự ra đi tự nguyện. Cô tự phó mặc cuộc đời mình cho những chiếc lá. Lá càng rụng nhiều thì quãng thời gian còn lại của cô trên cõi đời này càng ngắn dần. Cô chỉ chờ đến khi nào chiếc lá thường xuân cuối cùng chạm đất thì cô cũng xuôi tay về với Chúa. Giôn-Xi tuyệt vọng đến nỗi ngay cả khi chiếc lá cuối cùng vẫn dũng cảm treo mình trên cành cây thì cô vẫn tin chắc rằng nó sẽ rụng và cô sẽ chết. Chiếc lá vừa là nỗi tuyệt vọng, vừa là niềm hi vọng nhổ nhoi cuối cùng níu giữ Giôn-xi với cuộc sống. Tình cảnh của cô khiến những người bạn của cô đau đớn vô cùng. Người đầu tiên là Xiu, cô đã khóc “đến ướt đẫm cả một chiếc khăn giấy Nhật Bản”. Tuy không phải là máu mủ ruột rà, nhưng Xiu vẫn miệt mài ngày đêm kiếm từng đồng từng hào mua thuốc, chạy chữa cho bạn… Biết được tâm trạng của người bạn gái, cô đã nói như van nài: – “Em thân yêu!” Xiu nói, cúi gương mặt hốc hác gần xuống gối, “Em hãy nghĩ đến chị, chị sẽ làm gì đây?”. Lời nói đầy nước mắt là biểu hiện của một tình cảm bạn bè cao quý khôn cùng. Giôn-xi vẫn đòi kéo mành lên mà Xiu không ngăn cản nổi. Mặc dù không mở cửa thì không có ánh sáng để chăm sóc bạn, để vẽ minh hoạ lấy tiền mua thuốc và thức ăn cho người bệnh thoát khỏi lưỡi hái tử thần… mà mở cửa thì hình ảnh của cái chết ám ảnh bạn mình. Xiu hi vọng chiếc lá đừng rụng vì nó còn ngày nào trên cành là ngày đó bạn cô còn mong manh chút hi vọng nhỏ nhoi. Ngày qua ngày, Xiu vẫn tận tình chăm sóc cho Giôn-xi, vẫn kiên nhẫn khơi dậy trong người bạn gái niềm tin yêu cuộc sống, sự đấu tranh để chiến thắng bệnh tật. Đối với cô, chiếc lá đã thể hiện rõ tĩnh yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, lo lắng tận tình dành cho người bạn thân! Nỗi khổ tâm của Xiu còn tác động tới cụ hoạ sĩ già Bơ-men, người yêu quý và luôn bảo vệ hai cô gái trẻ Xiu và Giôn-xi. Sự nghèo khổ và cuộc mưa sinh đã chiếm trọn thời gian và tâm sức của cụ. Cả ba con người không thân thích này đã gắn bó và yêu quý nhau vì cùng từ xa tới Oa-sinh-tơn, sống vất vả, thiếu thốn để theo đuổi những ước mơ đẹp đẽ về nghệ thuật nên họ coi nhau như người thân trong nhà. Giôn-xi đang ngày càng tuyệt vọng, gần kề với cái chết, thôi thúc cụ Bơ-men phải làm một điều gì đó để cứu vãn. Cụ muốn làm cho cái kết của câu chuyện phải ngược lại với sự chờ đợi của cô gái. Cụ biết rằng muốn Giôn-xi được sống thì chiếc lá cuối cùng phải còn lại trên cây, ít ra cho đến khi Giôn-xi qua khỏi. Và cụ đã biết mình phải làm gì… Chiếc lá thường xuân là món quà tặng vô giá mà cụ Bơ-men trao cho Xiu và Giôn-xi với mong ước, mai sau, hai cô sẽ hoàn thành ước mơ để trở thành những hoạ sĩ nổi tiếng!… Như vậy, trong cái đêm định mệnh đó, trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến tột cùng, ông hoạ sĩ già sáu mươi tuổi vật lộn với mọi khó khăn về cả khách quan lẫn chủ quan để thổi hồn mình cùng tình yêu thương vô bờ bến của mình qua những đường nét trên bức tường đầy mưa bão. Bức tranh chiếc lá đã chứa đựng một sửc sống mãnh liệt, sự ấm nóng của sự hi sinh cao cả! Sự hiện diện của chiếc lá ông cụ vế trong đêm dông bão đó đã cứu sống cô gái trẻ đang tuyệt vọng. Chính với ý nghĩa lớn lao đó mà tác phẩm cuối đời của người hoạ sĩ già đã trở thành một kiệt tác, điều mà cụ Bơ-men không hề ngờ tới. Chắc hẳn, cụ sẽ mỉm cười mãn nguyện khi thấy hai cô gái đã cảm nhận được tình thương yêu đầy hi sinh của cụ, và hành động cao cả ấy sẽ là nguồn động lực giúp họ vươn lên trong cuộc sống. Chúng ta xúc động thật sự khi nghe Xiu thổn thức nói với bạn, “Ôi em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men – cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”. Cụ Bơ-men đã ra đi, nhưng chiếc lá vẫn còn đó như một bản thánh ca tuyệt vời của tình yêu thương và đức hi sinh cao cả. “Tình đời trong chiếc lá”, đó chính là bức thông điệp mà O Hen-ri muốn gửi gắm qua truyện ngắn của mình. Qua đó, nhà văn đã ngợi ca những tình cảm cao đẹp, ngợi ca tình bạn cao quý, thiêng liêng của những người nghệ sĩ nghèo nước Mĩ. (Phan Mai Anh, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Bạn đã cảm nhận được những nội dung cơ bản của truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng. Những tình cảm tốt đẹp mà Xiu và cụ Bơ-men dành cho Giôn-xi làm nên tình đời trong tác phẩm. Có thể thấy người viết đã quá câu nệ vào chiếc lá có ý nghĩa biểu tượng thay vì chiếc lá cụ thể, cho nên đã viết “thật thà” và không chuẩn: Đối với cô, chiếc lá đã thể hiện rõ tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, lo lắng tận tình dành cho người bạn thân! Mặc dù là nói về tình đời trong tác phẩm Chiếc lá cuối cùng, nhưng cũng cần đề cập đến nghệ thuật xây dựng tình huống và kết thúc hai lần đảo ngược (cô hoạ sĩ trẻ trở về nhờ chiếc lá, cụ Bơ-men vì tạo ra chiếc lá mà hi sinh) và ý nghĩa biểu tượng của kiệt tác – chiếc lá: nghệ thuật chân chính phục vụ con người, chỉ có nó mới cứu rỗi con người.
Suy nghĩ về tác phẩm Chiếc lá cuối cùng – Ngữ Văn 9
3,142
Suy nghĩ về tình bạn đích thực trong cuộc sống Hướng dẫn Mở bài Có được một tình yêu đích thực đã rất khó. Có được một tình bạn đích thực còn khó hơn. Trong cuộc đời này, ai có dduwwocj một tình bạn đích thực như thế ấy quả là người phi thường và diễm phúc. Thân bài Câu chuyện về tình bạn Lưu Bình – Dương Lễ, dẫu đã xưa cũ vẫn có sức rung động tâm hồn con người. Dương Lễ, người thành đạt, đã hết lòng chăm lo, khích lệ Lưu Bình, người thất bại, để bạn tu chí học hành. Vợ yêu chồng, cảm phục nghĩa tình bạn bè sâu nặng nên tự nguyện đảm nhận một “nhiệm vụ” phi thường: thay chồng nuôi bạn! Nếu không có tấm lòng cao cả của vợ chồng Dương Lễ, chắc chắn Lưu Bình không thể vượt qua được những khó khăn chồng chất và có thể sẽ gục ngã trước số phận … Tình bạn của Scarlett và Melanie trong quyển tiêu thuyết kinh điển Cuốn theo chiều gió của M. Mitchell đáng để cho ta ngưỡng mộ, dù một trong hai người không sớm nhận biết hết được sự quý giá của tình cảm ấy. Vào lúc tất cả mọi người ở Atlanta đều ruồng bỏ Scarlett vì bắt gặp cô “có cử chỉ tình tứ với chồng của Melanie” thì Melanie vẫn đứng về phía bạn. Bởi vì Melanie tin yêu Scarlett – người đã ở bên cô lúc sinh nở, bất chấp hiểm nguy, hãi hùng – khi Atlanta thất thủ, khi những người thân quen đã tản cư hết; người đã đưa cô vượt qua chặng đường dài đầy khói lửa về ấp Tara; đã còng lưng làm lụng để cưu mang gia đình cô… Dẫu Scarlett vẫn nghĩ mình làm tất cả vì Ashley, nhưng bằng trái tim bao dung, nhân hậu, Melanie nhìn thấu bản chất tốt đẹp và tình bạn chân thành để bảo vệ Scarlett. Khi “nhìn thấy” Melanie ung dung bước qua những ánh mắt dữ dằn, khinh bỉ, cầm tay Scarlett và giữ bạn bên cạnh mình suốt cái buổi tối kinh hoàng đó, chúng ta mới thâu hiểu thế nào là một người bạn đích thực! Lời thề sinh tử chi giao của ba người Lưu Bị, Quan Trường và Trương Phi lúc ở vườn đào đã trở thành huyền thoại kể suốt mấy trăm năm. Không cùng lứa tuổi, lại khác nhau về địa vị, đẳng cấp, ba con người ấy lại kết nghĩa thề sống chết có nhau. Tuy có phân bậc cao thấp, ai lớn tuổi làm anh, ai nhỏ tuổi làm em nhưng họ lúc nào cũng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và hết sức giữ phép ấy. Lưu-Quan-Trương đã vào sinh ra tử nơi trận mạc, vượt qua biết bao gian nguy mà vẫn một lòng gắn kết bền chặt. Kể cả cái chết cũng không thể khiến họ thôi trung thành, chân thực với nhau. Tình bạn cao đẹp ấy mãi mãi là nguồn ánh sáng giúp ta nhận ra các giá trị đích thực trong cuộc đời này. Chính tình nghĩa mới là cái quan trọng còn tiền bạc, chức vị, danh vọng chỉ là phù phiếm, là dối lừa, là giả trá mà thôi. Một người bạn đích thực là một người bạn có thể vì ta mà hi sinh tất cả. Không phải là họ xem thường sự sống mà vì cái nghĩa lớn mà không màng đến bản thân đó thôi. Nghĩa là chúng ta phải sống làm sao cho xứng đáng với những gì mà người bạn đích thực ấy đã hết sức tin tưởng.
Suy nghĩ về tình bạn đích thực trong cuộc sống
612
Suy nghĩ về Tình bạn Hướng dẫn Suy nghĩ về Tình bạn “Hãy cho tôi biết bạn anh là ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người thế nào”. (Ngạn ngữ Pháp – theo sổ tay Danh ngôn, NXB Văn hoá – Thông tin, 1999, trang 153) GỢI Ý CÁCH LÀM BÀI 1. Giải thích ý kiến – Ý nghĩa cụ thể: Câu danh ngôn đề xuất một tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất con người thông qua mối quan hệ bạn bè. – Ý nghĩa khái quát: Tầm quan trọng của mối quan hệ bạn bè đối với nhân cách con người. 2. Bàn luận + Tình bạn là một mối quan hệ xã hội phổ biến, có tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi người. Con người không thể sống mà không có ai là bạn. Người không có bạn bè thì không thể có nhân cách bình thường. + Ads: Tuyển sinh trung cấp dược liên thông cao đẳng dược hà nội chính quy, xét tuyển cao đẳng điều dưỡng và cao đẳng y tế hà nội năm 2016 + Người ta thường kết bạn, giao du với những người cùng sở thích, cùng quan điểm, chí hướng. Người tốt đến với nhau thì “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, người xấu cũng “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Mặt khác, khi chơi thân với một người, hay nhóm người nào thì thường chúng ta sẽ chịu ảnh hưởng của đối tượng đó theo quy luật “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” hay “đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Vì vậy, có thể thông qua việc nhìn nhận phẩm chất, tư cách, thiên hướng của bạn bè (thân thiết) để đánh giá, phân loại về nhân cách, phẩm chất của một con người. + Tuy nhiên, việc đánh giá tư cách, phẩm chất, cá tính một con người là việc không đơn giản, cần được xem xét kĩ lưỡng. Các mối quan hệ xã hội cũng thường phức tạp, khó nhận chân. Trong thực tế vẫn có những người tốt giao du với người xấu vì những mục đích khác nhau và ngược lại. Có những người cá tính, sở thích trái ngược nhau nhưng vẫn là bạn của nhau, vẫn có hiện tượng “gần mực không đen, gần đèn vẫn tối”. Do đó người thường chơi với những người tốt chưa hẳn đã tốt, và ngược lại. 3. Bài học nhận thức về hành động + “Chọn bạn mà chơi” là một lời khuyên hết sức đúng đắn. Những người bạn tốt là chỗ dựa tinh thần, là người đồng hành thân thiết trong cuộc đời, giúp mỗi người vươn lên sống tốt hơn, đẹp hơn. Chọn được bạn tốt, chân thành luôn là niềm ao ước của mỗi người. Tuy nhiên, không vì thế mà tuyệt giao với những người xấu. + Muốn có bạn tốt, trước hết mình phải là người bạn tốt. sống chân thành, cởi mở, nhiệt tâm sẽ được mọi người yêu quý. Giả dối, xấu xa, thủ đoạn, hờ hững thì sớm muộn gì cũng bị lộ tẩy, bị tẩy chay, không thể có bạn tốt. + Ứng xử đúng đắn, biết chăm sóc tình bằng hữu là một cách để con người có hạnh phúc và làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Suy nghĩ về Tình bạn
552
Đề bài: Suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong chiến tranh qua văn bản “Chiếc lược ngà ”của Nguyễn Quang Sáng Bài làm Trong chiến tranh,con người phải chịu nhiều mất mát, thiệt thòi,hy sinh về tình cảm gia đình.Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi. Sau tám năm xa cách ông mới có dịp trở về thăm nhà, nhưng trớ trêu thay,Thu không nhận ông là ba.Phút đầu gặp gỡ, Thu ngờ vực,lảng tránh,thậm chí còn sợ hãi bỏ chạy vì:“vết thẹo bên má phải cứ mỗi khi anh xúc động thì nó lại đỏ ửng lên,giật giật trông rất dễ sợ ”.Trong những ngày ông Sáu ở nhà, Thu cương quyết không nhận ông là cha mặc dù ông đã tìm mọi cách để gần gũi,vỗ về cô bé.Có những lúc, lâm vào thế bí,nó cũng chỉ nói trổng:“Vô ăn cơm”,“cơm sôi rồi,chắt nước giùm cái”, “cơm sôi rồi,nhão bây giờ”…Trong bữa cơm,ông Sáu âu yếm gắp cho con miếng trứng cá to,không ngờ bé phản ứng một cách quyết liệt:“bất thần hắt miếng trứng cá ra khỏi bát làm cơm bắn tung toé cả ra mâm”.Bị ông Sáu đánh vào mông, Thu bỏ về nhà ngoại và còn “ cố ý làm cho dây lòi tói khua rổn rảng ”…Sự ương ngạnh, bướng bỉnh của Thu không hoàn toàn đáng trách bởi em còn quá nhỏ để hiểu được sự éo le,khắc nghiệt trong hoàn cảnh xa cách của chiến tranh và những người lớn trong gia đình cũng chưa kịp chuẩn bị cho em đón nhận những khả năng bất thường đó.Em không nhận ông Sáu là cha vì ông có vết thẹo dài trên má không giống bức hình chụp chung với má mà em biết.Điều đó chứng tỏ tình cảm của Thu dành cho ba thật sâu sắc -em chỉ bộc lộ tình yêu sâu sắc của mình với ba khi biết chắc đó là ba. Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của Thu đột ngột thay đổi.Trong đêm bỏ về nhà ngoại Thu đã được bà giải thích về vết thẹo.Bé hiểu ra, ân hận và hối tiếc vô cùng:“nghe bà kể,nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”.Phút chia tay “vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu,cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông thật dễ thương”. Khi ông Sáu nhìn con để chào từ biệt,“đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”tình cha con bị dồn nén bấy lâu chợt bùng lên mạnh mẽ,hối hả,cuống quýt.Nó thét lên gọi ba“tiếng kêu của nó như tiếng xé,xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa”.Hành động của Thu cũng thay đổi “nó nhảy thót lên,dang cả hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.Nó hôn ba nó cùng khắp,hôn tóc,hôn cổ,hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”…Tất cả những hành động,thái độ đó của Thu đều bắt nguồn từ tình cảm dành cho người ba mà bé hằng yêu kính,tôn thờ và không ai có thể thay thế được.Tình cảm của Thu thật mạnh mẽ,sâu sắc và cũng dứt khoát,rạch ròi.Ở Thu có nét cứng cỏi đến ương ngạnh nhưng vẫn có nét ngây thơ,hồn nhiên của con trẻ.Bằng tâm hồn nhạy cảm,một trái tim nhân hậu và tấm lòng chan chứa yêu thương đối với trẻ em,Nguyễn Quang Sáng dường như đã cảm nhận đến tận cùng những biểu hiện tình cảm của nhân vật để miêu tả một cách sinh động và tinh tế. Nhân vật chính thứ hai trong tác phẩm là nhân vật ông Sáu.Tình cảm của ông đối với con gái nhỏ được biểu hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà.Khi xuồng chưa kịp cập bến,trông thấy con ông đã vội vàng “nhảy lên bờ,khom người, hai tay đưa về phía trước,miệng lắp bắp:ba đây con! ba đây con.”Những tưởng bé Thu sẽ ào tới, ôm lấy cổ ba cho thoả những tháng ngày xa cách.Nhưng không, ông hẫng hụt,bất ngờ khi thấy:“bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy ”.Thời gian ở nhà không nhiều nên ông Sáu không đi đâu xa,suốt ngày chỉ tìm cách gần gũi,vỗ về con,mong con gọi một tiếng ba mà không được.Có lúc giận quá ông đã đánh con.Lúc chia tay tình yêu mãnh liệt của bé Thu khiến ông cảm động “một tay ôm con,tay kia lấy khăn chấm nước mắt ”.Cảm động và đau đớn hơn khi biết rằng đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh được nghe tiếng ba thân thương từ cô con gái nhỏ,bởi vì sau đó,chẳng bao giờ anh có thể trở về được nữa! Trong những ngày ở khu căn cứ,anh ân hận vì đã trót đánh con.Nhớ lời con dặn, khi kiếm được một khúc ngà anh vui mừng như trẻ nhỏ “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”.Những ngày sau đó bao nhiêu tình cảm yêu quí,nhớ thương con anh dồn cả vào việc làm cây lược.Anh cặm cụi “cưa từng răng lược,thận trọng,tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc”để rồi khi chiếc lược hoàn thành,anh còn khắc lên đó dòng chữ nhỏ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”…Những lúc nhớ con anh mang cây lược ra mài lên tóc mình cho cây lược thêm óng mượt:“Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc dài của con nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”.Có lẽ những lúc ấy anh mong có một lần về phép thăm nhà để anh tự tay mình cầm cây lược chải tóc cho con …Đau đớn thay chiến tranh khiến anh chẳng bao giờ có thể trở về bên con gái anh được nữa.Anh bị hy sinh trong một trận càn.Trước lúc hy sinh,“dường như chỉ có tình cha con là không thể chết”,anh cầm cây lược trao cho bạn với niềm mong mỏi không còn có thể cất được thành lời.Từ lúc ấy,cây lược bằng ngà đã trở thành kỷ vật,thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử.Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn mênh mông mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chủ đề của chuyện không mới lạ,nhưng tác giả thành công bởi đã khai thác tình cha con trong những tình huống éo le cảm động.Cách lựa chọn ngôi kể,tạo lập tình huống bất ngờ mà tự nhiên,hợp lý cùng với việc miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế,sâu sắc đặc biệt là tâm lý trẻ thơ đã giúp văn bản có được vị trí riêng trong lòng độc giả. Câu chuyện về chiếc lược bằng ngà không chỉ nói lên tình cha con sâu nặng thắm thiết mà còn gợi cho người đọc suy ngẫm và thấm thía những mất mát đau thương mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu gia đình.Bởi vậy mà em càng thêm trân trọng cuộc sống hoà bình mà chúng ta đang có hôm nay.
Suy nghĩ về tình cảm cha con trong chiến tranh qua văn bản Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
1,200
Đề bài: Suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng Bài làm Trong mỗi chúng ta có lẽ tình mẫu tử vẫn là thứ tình cảm đẹp đẽ và thiêng liêng nhất. Bởi hình ảnh người mẹ đã in sâu trong tâm trí mỗi đứa con. Ta bắt gặp tình cảm thiêng liêng ấy trong đoạn trích Trong lòng mẹ của nhà văn Nguyên Hồng. Đọc đoạn trích, người đọc không khỏi xúc động trước tình yêu thương của chú bé Hồng dành cho người mẹ đáng thương của mình. Hồng đã trải qua những thử thách không kém phần đau đớn để giữ trọn vẹn tình cảm yêu thương mẹ trong sự khinh bỉ, soi mói độc địa của những người họ hàng giàu có. Cuối cùng, bao tháng ngày chờ mong, khát khao cũng được đền đáp, Hồng đã ở trong lòng mẹ. Chú bé Hồng – nhân vật chính của truyện lớn lên trong một gia đình sa sút. Người cha sống u uất, trầm lặng, rồi chết trong nghèo túng, nghiện ngập. Người mẹ có trái tim khao khát yêu đương đành chôn vùi tuổi thanh xuân trong cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Sau khi chồng chết, người phụ nữ đáng thương ấy vì quá cùng quẫn phải bỏ con đi tha hương cầu thực và bị người đời gán cho cái tội chưa đoạn tang chồng mà đã chửa đẻ với người khác. Hồng phải sống cuộc sống mồ côi cha, thiếu vắng tinh thương của người mẹ, sống nhờ người họ hàng giàu có nhưng cay nghiệt. Hồng chịu cảnh cô đơn, bị hắt hủi. Trái lại với căm thù và trách móc, Hồng thương mẹ và nhớ mẹ vô cùng. Em nuốt những giọt nước mắt đau đớn vào lòng khi luôn phải nghe những lời mỉa mai, bêu riếu xấu xa về mẹ của bà cô độc địa. Đoạn trò truyện của Hồng với bà cô là một màn đối thoại đầy kịch tính đẩy tâm trạng em đến những diễn biến phức tạp, căng thẳng đến cao độ. – Hồng, mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ mày không? Cảu hỏi đầy ác ý ấy xoáy sâu vào tâm can của Hồng. Hồng hình dung vẻ mặt rầu rầu và sự hiền lành của mẹ, lại nghĩ tới những đêm thiếu thốn tình mẹ khiến Hồng phải khóc thầm thì Hồng muốn trả lời cô là có. Nhưng cậu bé đã nhận ra ý nghĩ cay độc qua cách cười rất kịch của cô, cô chỉ cố ý gieo rắc vào đầu óc Hồng những mối hoài nghi về mẹ cậu. Hồng đã cúi mặt không đáp, sau đó Hồng nồ nụ cười thật chua xót. Hồng hiểu mẹ, hiểu được vì hoàn cảnh mà mẹ Hồng phải ra đi. Era đã khóc vì thương mẹ bị lăng nhục, bị đối xử bất công. Em khóc vì thân trẻ yếu đuối, cô đơn không sao bênh vực được mẹ. Càng thương mẹ, em càng càng ghét những hủ tục phong kiến vô lí, tàn nhẫn đã đày đoạ, trói buộc mẹ em: Giá như những hủ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay tục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi. Chính tình thương mẹ đã khiến cho Hồng nhận ra dâu là lẽ phải, đâu là những con người, những tập tục đáng phê phán. Tình thương ấy còn dược biểu hiện rất sinh động, rất cụ thể trong lần gặp mẹ. Thoáng thấy bóng một người trên xe rất giống mẹ, Hồng liền chạy, đuổi theo bối rối gọi: Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ… ơi! Những tiếng gọi ấy bật ra từ lòng khát khao được gặp mẹ của chú bé bấy lâu nay bị dồn nén. Sự thổn thức của trái tim thơ trẻ bật thành tiếng gọi. Khi đuổi theo được chiếc xe đó, Hồng được lòng bàn tay dịu hiền của người mẹ xoa lên đầu. Hồng oà khóc. Trong tiếng khóc ấy có cả niềm hạnh phúc được gặp mẹ, cả nỗi tủi thân bởi lâu quá không được gặp mẹ, bởi bao niềm cay đắng bị lăng nhục tàn nhẫn cùng những uất ức dồn nén được giải toả. Mải mê ngắm nhìn và suy nghĩ về mẹ, mải mê say sưa tận hưởng những cảm giác êm dịu khi được ngồi trong lòng mẹ để bàn tay người mẹ vuốt ve. Trong giây phút này, Hồng như sống trong tình mẫu tử hạnh phúc ấy. Hạnh phúc Trong lòng mẹ không chỉ là hạnh phúc, là niềm khao khát của riêng Hồng mà là khao khát, là mong muốn của bất kì đứa trẻ nào. Từ lúc lên xe đến khi về nhà, Hồng không còn nhớ gì nữa. Cả những lời mẹ hỏi, cả những câu trả lời của cậu và những câu nói của người cô bị chìm ngay đi – Hồng không nghĩ đến nó nữa… Sự xúc dộng của bé Hồng khi gặp mẹ càng chứng tỏ tình thương mẹ của Hồng là sâu đậm, là nồng thắm, là nguyên vẹn. Bất chấp tất cả sự ngàn cách của rào cản lễ giáo phong kiến hà khắc đối với người phụ nữ nói chung và đối với mẹ Hồng nói riêng. Tình mẫu tử trong đoạn trích thật đẹp đẽ, thiêng liêng, xúc động. Nguyên Hồng đã mở ra trước mắt chúng ta một thế giới tâm hồn phong phú. Thế giới ấy luôn làm chúng ta ngạc nhiên vì ánh sáng nhân đạo lấp lánh của tình người. Trong lòng mẹ chính là lời khẳng định chân thành đầy cảm động về sự bất diệt của tình mẫu tử!
Suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
970
Suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Tình mẫu tử trong đoạn trích trong lòng mẹ Đề bài: Suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu) của Nguyên Hồng. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi. – Xem lại đoạn trích Trong lòng mẹ, nên tìm đọc thêm Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng. – Tìm hiểu đề, tìm luận điểm và xây dựng dàn ý trước khi viết. – Tránh thuật lại các chi tiết trong truyện (nhầm lẫn lí lẽ trong văn nghị luận với lời kể của tự sự). 2. Gợi ý – Tình mẫu tử bao hàm tình cảm của người mẹ với đứa con và ngược lại của đứa con đối với mẹ. Ở đoạn trích cơ hẳn là tình cảm của bé Hồng với mẹ, tình cảm của mẹ với bé Hồng chỉ là phụ. – Cần khai thác những biểu hiện bên ngoài cùng với trạng thái tâm lí đầy dằn vặt đau đớn của bé Hồng. – Chú ý đến người thuật: ẩn dụ so sánh, giọng văn tràn đầy cảm xúc để thấy được Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và trẻ em. – Bài viết cần gợi cảm, sinh động để tạo được xúc động cho người đọc. 3. Lập dàn ý a. Mở bài Những ngày thơ ấu là cuốn hồi kí mang tính tự thuật của Nguyên Hồng; là lời tâm sự về tuổi thơ cay đắng, đau khổ của nhà văn. Đoạn trích Trong lòng mẹ tụy ngắn nhưng đã gợi nên niềm xúc động bởi tình cảm mẫu tử thiêng liêng của mẹ con bé Hồng. b. Thân bài – Giới thiệu khái quát về cuộc đời của Hồng và đoạn trích Trong lòng mẹ: – Số phận sớm bất hạnh: mồ côi bố, mẹ bỏ đi xa, ở nhờ nhà nội, người cô ruột ghét chị dâu nên thường đem cháu ra để dày vò cho hả giận. – Nỗi nhớ mẹ, mong chờ mẹ của bé Hồng. – Tình mẫu tử thể hiện ở bé Hồng: – Khi mẹ đi xa: + Bảo vệ mẹ bằng mọi hình thức: im lặng nghe cô mát mẻ, cạnh khoé, nói dối cô (không muốn vào Thanh Hoá). + Đau đớn khi nghe cô nói xấu mẹ (“cứời dài trong tiếng khóc…”). + Căm giận hủ tục phong kiến đã chà đạp lên quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người, (nghệ thuật so sánh) + Thương nhớ mẹ không có thể làm thay đổi được tình cảm đó. (“không một rắp tâm tanh bẩn nào…”) + Mong muốn mẹ ở nhà và sẵn sàng đứng về phía mẹ để đối mặt với mọi dư luận, mọi lời chỉ trích, mọi thái độ thù ghét (hình ảnh con dao vấy máu). – Khi mẹ trở về: + Gọi mẹ, sợ nhầm (nghệ thuật ẩn dụ so sánh..) + Niềm hạnh phúc vô bờ khi được ở trong lòng mẹ (tận hưởng bằng tất cả các giác quan, quên đì mọi đau khổ…). – Tình cảm của người mẹ: Vui mừng, âu yếm con. Mạnh dạn trở về trong ngày giỗ đầu người chồng (dù biết rõ thái độ của nhà chồng) để được gặp con. Mong muốn đoàn tụ với các con, được chăm sóc, yêu thương con. – Suy nghĩ về tình mẫu tử (có thể viết xen vào các phần trên hoặc tách riêng). Đó là tình cảm thiêng liêng, sâu sắc. Tạo nên nét đẹp đầy tính truyền thống của người Việt Nam. Trở thành sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua muôn ngấn gian khổ, khó khăn. c. Kết bài: Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và trẻ em vì đã ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng. 4. Bài làm minh hoạ Bài 1 Một người đàn bà dũng cảm đối mặt với xã hội phong kiến thối nát với những lời đàm tiếu, sỉ nhục chỉ để được gặp và ở bên con mình. Một đứa trẻ mồ côi cha, xa mẹ và luôn phải sống trong cái cảnh lẻ loi, cô đơn giữa gia đình nhà nội cay nghiệt, độc ác. Qua hai nhân vật này, nhà văn Nguyên Hồng đã thể hiện vô cùng xúc động tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ. Ta từng biết đến câu chuyện hai mẹ con nhà chim đang trên đường bay về tổ thì bỗng gặp một cơn mưa to gió lớn rất dữ dội. Chúng buộc phải trú tạm vào một hốc cây nhỏ. Ngoài trời rất lạnh, những giọt nước buốt khiến chú chim non run cầm cập, thế là chim mẹ liền dang rộng đôi cánh rồi ủ lấy chim non vào lòng mình để sưởi ấm cho con cũng như hứng lấy nhữlng giọt nước mưa lạnh. Cái ấm áp ở đây không phải là từ thân chú chim bởi thực ra bộ lông chim mẹ cũng ướt sũng và nó còn rét hơn đứa con, nhưng chú chim non vẫn rúc đầu vào đấy và ngủ cho tới sáng hôm sau là bởi hơi ấm từ tình yêu thương của mẹ. Ở đây, tình mẫu tử, mà đặc biệt là từ chim mẹ đã được thể hiện qua việc có thể hi sinh tất cả để bảo vệ, đùm bọc con. Nhưng tình mẫu tử trong tác phẩm của Nguyên Hồng thì khác, tình cảm đó lại được cảm nhận sâu sắc từ phía đứa con. Nhà văn đã từng trải qua một tuổi thơ đầy cay đắng và tủi nhục nên điều đó đã ám ảnh vào nhân vật chính: chú bé Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ. Xã hội phong kiến xưa đã đày đoạ hai mẹ cọn chú bé, đẩy hai người vào tình cảnh trớ trêu: mẹ phải bỏ con mà đi tha phương cầu thực, để rồi chú bẹ trở thành tiêu điểm của những lời dị nghị, chê trách, mỉa mai, đay nghiến của mọi người. Điều khiến chú bé tiếp tục sống và chịu đựng chính là hình ảnh người mẹ hiền từ, cái tình mẫu tử thiêng liêng mà chú khao khát có được. Chú bé Hồng muốn tiếp tục sống để bảo vệ mẹ khỏi những người đố kị và ghen ghét của cái xã hội phong kiến thối nát đầy hủ tục. “Giá những cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Phản ứng tâm lí này khiến ta thật bất ngờ khi nó tồn tại trong tâm hồn của một đứa trẻ. Bé Hồng mong muốn một cái vô hình chính là những hủ tục kia biến thành vật hữu hình để chú có thể xả cơn căm tức, trút bỏ tất cả sự nhẫn nhục, tủi thân vào. Ai cũng yêu thương những người thân của mình nhưng để có thể bất chấp tất cả, hi sinh chỉ để bênh vực và giữ trọn tình cảm thiêng liêng đó thì quả thực Hồng là một đứa con yêu mẹ vô cùng, dù cho cậu bé vẫn còn rất nhỏ. Ta tưởng rằng ở cái tuổi này thì Hồng phải rất hồn nhiên và trong sáng như bao bạn cùng lứa nhưng hoàn cảnh đã khiến trong đầu chú bé hình thành những suy nghĩ già dặn và chín chắn. Nó giúp chú nhận ra được bộ mặt cay độc của người cô, để đứng về phía tình mẫu tử cao quý, nơi đó có người mẹ mà Hồng vô cùng yêu thương. Nếu không tồn tại những hủ tục kia thi biết đâu người mẹ có thể tìm thấy hạnh phúc đích thực cho mình mà vẫn có thể sống đường hoàng cùng hai anh em chú. Ban đầu là sự tủi nhục, đau đớn rồi đẩy lên căm tức, phẫn nộ xã hội thối nát xưa mà đặc biệt hiện thân là người cô, bé Hồng cho thấy thái độ kiên quyết của mình không để cho “những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến”. Cậu luôn tự nhủ với bản thân và còn khẳng định với người cô: “… Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về” để chứng tỏ một niềm tin vào người mẹ yêu quý sẽ không bao giờ quên được anh em chú như người cô đã nói. Bé Hồng thiếu thốn tình mẫu tử từ nhỏ nhưng càng vì thế mà chú càng khao khát nó và quyết gìn giữ khỏi những ý đồ xấu xa, vì cậu tin rằng, sẽ có một ngày, một ngày rất gần thôi: Hồng sẽ được sà vào lòng người mẹ thân yêu. Mẹ của bé Hồng phải thực dũng cảm khi trở về để vừa giỗ đầu chồng, vừa để thăm con. Người phụ nữ này đã ra đi trong hoàn cảnh trái tim trẻ trung khao khát được yêu thương nhưng xã hội phong kiến lại lại cố kìm hãm nó để rồi dẫn đến việc bà phải đi tha phương cầu thực. Nhưng giờ đây, người mẹ đã quay trở lại và bất chấp tất cả những lời đàm tiếu, dị nghị thậm chí sỉ nhục để được gặp đứa con thân yêu. Bà sẵn sàng đối mặt với những người họ hàng cay nghiệt, độc ác, cổ hủ bởi tình mẫu tử là không thể nào quên được. Tình cảm mẹ con dường như là rất tự. Cái ngày không xa đó đã đến. Một chiều tan học về, cậu thấy có bóng người ngồi trên xe kéo. Một cảm giác rất lạ rằng đó chính là mẹ, cậu chạy với theo và gọi: “Mợ ơi! Mợ ơi!”. Hình ảnh so sánh “khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc” làm ta nhận thấy được sự yêu thương mãnh liệt của chú bé sau những ngày tháng tủi cực vừa qua. cảnh hai mẹ con đoàn tụ thật xúc động. Đối với Hồng, chú thấy mẹ đẹp lạ thường, phải chăng do lâu ngày xa cách mà cảm giác vui mừng đoàn tụ khiến em nhìn mẹ mình yêu thương hơn, đẹp đẽ hơn. Hơi quần áo, hơi thở và đặc biệt là hơi ấm từ lòng mẹ làm Hồng thấy hạnh phúc và sung sướng biết bao, như quên hết tất cả rắp tâm bẩn thỉu của người cô. Tình mẫu tử trong đoạn trích về câu chuyện của bé Hồng thật thiêng liêng và quý giá biết bao. Chính chú bé đã đứng về phía mẹ mình, bảo vệ mẹ trước cái xã hội phong kiến mà hình ảnh tiêu biểu là người cô. Tác giả đã thể hiện sự khổ sở, đau lòng của người mẹ trong hoàn cảnh trớ trêu mà đặc biệt là khao khát tình yêu thương mãnh liệt của bé Hồng. Vì nó mà chú có thể làm tất cả để đấu tranh với cái hủ tục, lề lối cổ xưa để nhất quyết giữ trọn hình ảnh người mẹ dịu hiền và lương thiện trong mình, cảm xúc này của một đứa trẻ làm ta thực sự phải rung động và bất ngờ. Tình mẫu tử thì dường như ai cũng có nhưng trong hoàn cảnh của bé Hồng ở đoạn trích Trong lòng mẹ, ta mới thấy nó thật đáng trân trọng và quý giá biết bao. Sẽ là chưa muộn cho cả bạn và tôi ngay bây giờ sà vào lòng người mẹ yêu quý để cũng như bé Hồng, cảm thấy được tình yêu thương rạo rực khắp người và làm tất cả để bảo vệ tình cảm thiêng liêng đó. (Vũ Yến My, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Nắm được cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm, ở đây là cảm nhận, suy nghĩ, bình luận về tình mẫu tử. Người viết đã từ câu chuyện mẹ con chú chim nhỏ để dẫn vào câu chuyện của nhà văn Nguyên Hồng. Tình mẫu tử được xem xét từ phía người con và người mẹ. Những chi tiết, lời nói quan trọng đã được đề cập, phân tích và bàn luận. Tình cảm mẹ con là một tình cảm thiêng liêng mà không một rắp tâm tanh bẩn nào có thể xâm phạm. Chú bé Hồng đã trở thành một người dũng cảm bảo vệ tịnh cảm đó.. Tuy nhiên, cần chú ý cách gọi cậu bé, chú bé cho nhất quán. Và không nên suy diễn những điều trong văn bản không có ; chẳng hạn như: Người mẹ rối rít hỏi con thời gian qua sống ra sao rồi cứ quấn quýt mãi không rời. Bài 2 Qua nhiều tác phẩm của nhà văn Nguyên Hồng, tất cả mỗi chúng ta đều cố thể nhận thấy rằng chất liệu chủ đạo mà ông sử dụng cho sáng tác của mình được lấy từ cuộc sống của những con người khốn khó hay của chính mình. Hồi kí Những ngày thơ ấu của ông cũng là một trong những tác phẩm như vậy. Tình mẫu tử như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ đoạn trích Trong lòng mẹ của hồi kí này. Mẫu là mẹ, tử là con. Tình mẫu tử là tĩnh yêu thương chăm sóc mẹ dành cho con, sự kính trọng biết ơn mà con dành cho mẹ. Tất thảy những tình cảm đó tưởng chừng như bình thường, vậy mà dưới ngòi bút của Nguyên Hồng nó lại trở nên cụ thể và máu thịt, từ sự kết nối đó tạo nên ba chữ tình mẫu tử. Và trong đoạn trích này, tình cảm thiêng liêng đó được phát triển và trở thành đỉnh điểm của tình cảm con người. Ngay từ phần đầu đoạn trích, với nghệ thuật xây dựng diễn biến tâm lí nhân vật, nhà văn đã tạo dựng nên tình huống đối thoại giữa nhân vật người cô với chú bé Hồng. Những lời nói cay độc và đay nghiến của người cô đã khiến bé Hồng bộc lộ rõ tình yêu thương mẹ cháy bỏng khi người mẹ đáng thương đó phải đi tha hương cầu thực nơi đất khách quê người. Có thể thấy ngay từ câu hỏi đầu tiên, người cô đã trút lên đầu đứa cháu tội nghiệp những lời mỉa mai độc địa: Với nụ cười nửa miệng và câu hỏi thăm đó, bà đã chạm đến nỗi đau đớn vì phải xa mẹ của chú bé. Người cô ruột đó đại diện cho sự lạnh lùng nghiệt ngã của những hủ tục phong kiến ngày xưa, cho nên sẵn sàng nói cho sướng miệng, cho hả lòng hả dạ. Không mảy may nghĩ đến nỗi đau của đứa cháu đáng thương. Hai anh em mới mấy tuổi đầu mà đã mồ côi cha, mẹ đi biệt xứ, không được sống trong tình yêu thương, em phải sống trong sự ghẻ lạnh của họ hàng, sự khinh ghét của người cô ruột. Có thể nói cuộc sống quanh em là những đau khổ và bất hạnh. Muốn Hồng khinh ghét, ruồng rẫy mẹ, muốn Hồng quay lưng lại với người phụ nữ đã từng là chị dâu của mình, bà ta đã không từ một thủ đoạn bỉ ổi nào dù có thể làm cho đứa cháu ruột của mình đau đớn đến tuyệt vọng. Trong hoàn cảnh đó, tình yêu mẹ đã khiến em không dễ bị,những rắp tâm tanh bẩn của người cô đánh lừa. Em yêu thương mẹ bằng nguyên vẹn trái tim mình. Không gì có thể khiến em thay lòng đổi dạ và em đã khẳng định “cuối năm nhất định mợ cháu sẽ về”. Câu trả lời đó thật cứng cỏi, thật chắc chắn bởi nó được thốt ra từ chính miệng em, từ chính trái tim, từ chính lòng yêu quý, sự tin tưởng mà em dành cho mẹ mình. Suốt cả đoạn trích, ta thấy đứa trẻ với một bản năng tự vệ, phải gồng lên để bạo vệ người mẹ đang biệt xứ nơi xa. Em đã kín đáo bảo vệ mẹ. Nhiều lúc chú bé “cười trong nước mắt”, lúc khác lại “nước mắt ròng ròng”. Những giọt nước mắt đó là nỗi đau, là sự day dứt mà chú bé đã hứng chịu thay mẹ, khác nào giơ vai ra đỡ những nhát dao đâm vào mẹ. Có thể thấy trong tâm hồn em đang có một sự đấu tranh quyết liệt. Em mong muốn được bảo vệ mẹ để không ai có thể xen vào tình cảm mẹ con, để niềm tin vào một ngày đoàn tụ trong em không bao giờ tan vỡ. Em muốn cùng mẹ đối mặt với lễ giáo phong kiến. Em không muốn mẹ mình cứ phải sống chui sống lủi, giấu giếm như một kệ ăn cắp hay một tên giết người vởi con dao đang vấy máu. Đứa trẻ đó có một mong ước cháy bỏng “giá những cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Chỉ có tình cảm mẫu tử thiêng liêng mới tạo cho nó cái sức mạnh lớn lao đến vậy? Ở cuối đoạn trích, khi hai mẹ con Hồng đã được gặp nhau là trường đoạn thấm đẫm tình cảm yêu thương, trìu mến của tình mẹ con. Thoáng thấy bóng mẹ là em đã cất tiếng gọi. Hồng đã run rẩy vì sợ bị nhầm. Hình ảnh so sánh sự sợ sệt đó với “người bộ hành đi trên sa mạc” thật là sâu sắc. Tiếng gọi của Hồng như xé tan khoảng không gian u ám của sự xa cách trong chế độ phong kiến xưa. Được mẹ ôm vào lòng, hơi ấm của mẹ đã xua tan đi những nỗi đau từ trước, trái tim rạn nứt đó trở nên lành lặn và khoẻ mạnh. Mọi rắp tâm tanh bẩn dường như không còn tồn tại nữâ mà thay thế vào đó là tình mẫu tử đẹp đẽ và chite chan niềm hạnh phúc “gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má”. Được cảm nhận tình thương, được ngửi thấy “hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra…” – những thứ thật bình thường vậy mà đối với Hồng lại là những điều thật sự thú vị và thiêng liêng. Đây được coi là đỉnh điểm của tình mẫu tử ở đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng. Cảm ơn Nguyên Hồng, ông đã giúp cho chúng ta cảm nhận được tình mẹ con sâu nặng, tình mẫu tử cao quý và thiêng liêng. (Nguyễn Bích Ngọc, lớp 9N, Trường THCS Nguyễn Du, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Cố gắng thể hiện hiểu biết của mình về tình mẫu tử, người viết đã trình bày những biểu hiện tốt đẹp của tình cảm đó trong chú bé Hồng và trong người mẹ phải tha hương. Có những nhận xét khá tinh tế và so sánh chính xác đã làm nổi bật hình ảnh của bé Hồng và việc làm dũng cảm của chú để bảo vệ tình mẫu tử: Suốt cả đoạn trích, ta thấy dứa trẻ với một bản năng tự vệ, phải gồng lên để bảo uệ người mẹ đang biệt xứ nơi xa. Em đã kín đáo bảo vệ mẹ. Nhiều lúc chú bé “cười trong nước mắt”, lúc khác lại “nước mắt ròng ròng”. Những giọt nước mắt đó là nỗi đau, là sự day dứt mà chú bé đã hứng chịu thay mẹ, khác nào giơ vai ra đỡ những nhát dao đâm vào mẹ.
Suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ – Ngữ Văn 9
3,340
Suy nghĩ về tình yêu thương con người Hướng dẫn Giúp người trong hoạn nạn là cứu mình ở tương lai! Bài làm 1: Cuộc sống của chúng ta có muôn vàn điều mới mẻ. Trong đó có những thứ con người cảm thấy vô cùng quý giá, trân trọng, không có bất cứ thứ gì có thể đong đếm hoặc mua bằng tiền được. Đó chính là tình yêu thương, tình yêu thương giúp con người trở nên vui vẻ, hạnh phúc. Một con người có lòng yêu thương chính là người có nhân cách đẹp và luôn hướng đến những việc hoàn mĩ hơn. Vậy tình yêu thương là gì? Tình yêu thương là tình cảm tốt đẹp của con người được xuất phát từ tấm lòng, từ tâm tưởng mỗi người giúp đỡ người khác không mong nhận lại được điều gì. Trong xã hội luôn có những người kém may mắn hơn mình, họ cần sự giúp đỡ từ cộng đồng. Vậy tại sao những người có đầy đủ về hạnh phúc, vật chất lại không thể dang tay giúp đỡ họ? Có thể chúng ta giúp đỡ họ về mặt tinh thần, vật chất nhưng tất cả những điều đó đều phải xuất phát từ trong tim chứ đừng giúp đỡ với ý nghĩ điều đó là hiển nhiên. Chúng ta khi đi đường thường gặp đèn đỏ có thấy cụ bà già yếu đi từng xe hỏi có mua vé số không thì chúng lại phất lờ đi và không quan tâm. Nhưng khi chúng ta mua giùm cụ bà ấy một tờ vé số để cho bà vui, để cho bà có bữa cơm ăn. Khi chúng ta làm vậy chúng ta sẽ thấy thật ý nghĩa và hạnh phúc. Ngoài những người biết quan tâm giúp đỡ người khác thì có những kẻ ích kỷ, nhỏ mọn chỉ biết sống cho riêng mình. Họ vô tâm làm ngơ trước sự khó khăn của người khác. Một số còn đối xử tệ bạc đối với những người đã tốn công sức để nuối dưỡng họ, bỏ mặc những lời kêu thảm thiết của những đứa trẻ ở đầu đường xó chợ. Mở lòng để giúp đỡ mọi người bạn sẽ nhận lại được hạnh phúc trong tâm hồn. Bài làm 2: Xung quanh ta, có rất nhiều câu chuyện khiến cho chúng ta cảm động. Nhưng có một câu chuyện khiến cho tôi cảm động. Tôi đã từng thấy một tin tức nói về một chú chó tên là Fushi. Chú chó đó sống với một người phụ nữ ở thành phố Busan ( Hàn Quốc). Người phụ nữ và chú chó đó có một thời gian sống vui vẻ với nhau, nhưng bi kịch đã xảy ra. Từ ba năm trước, chủ của chú chó Fushi đó bị xuất huyết não. Gia đình đã quyết định đưa người phụ nữ vào viện dưỡng lão để bà ấy được chăm sóc tốt hơn và chú chó nhỏ phải ở nhà một mình. Chú chó đáng thương đó ngày qua ngày đều ngồi ở cổng nhà đợi người chủ đó suốt ba năm. Nhưng Fushi lại không hay biết rằng là người chủ của mình sẽ không bao giờ quay lại nữa! Những người hàng xóm của người hàng đó vừa cảm thấy thương xót cho chú đó. Hàng ngày, những người hàng xóm đó luôn đưa thức ăn chó Fushi và kể lại câu chuyện buồn đó cho trung tâm cứu hộ động vật. Chú chó nhỏ đó được kiểm tra sức khoẻ và được biết là chú chó này được tám tuổi, mắc căn bệnh giun đường ruột. Mặc dù được chửa khỏi bệnh nhưng không thể nào chửa được nỗi buồn vì nhớ chủ và xa chủ của mình được. Câu chuyện của chú chó Fushi được lan truyền trên khắp trang mạng xã hội. Đã có một gia đình tới nhận nuôi và đặt tên mới là Sky. Gia đình ấy chắc cũng mong muốn lắp lại khoảng trống và nỗi nhớ về người chủ cũ của Fushi. Qua câu chuyện của chú chó này, đã giúp cho tôi nhận ra là tình cảm đẹp giữa con người và động vật. Xung quanh ta cũng có nhiều câu chuyện cảm động về nhiều động vật. Chúng ta phải chung tay bảo vệ động vật vì nó giống với con người chúng ta. Bài làm 3: Trong con hẻm của một khu phố nhỏ, có 1 người đàn ông quần áo rách rưới, bẩn thỉu, hắn ta là tên tội phạm giết người bị truy nã. Từ xa có 1 xe bán trái cây đi lại gần, hắn nhìn những trái quýt căng tròn, mọng nước trông vô cùng hấp dẫn nhưng trong túi hắn đã không còn tiền. Hắn đi lại gần xe bán trái cây nhưng trong đầu đang phân vân: Nên ăn xin hay ăn cướp. Hắn rút con dao đã thủ sẵn trong mình ra và bước đến gần. Khi vừa đến thì trước mặt hắn xuất hiện 3 trái quýt làm hắn bất ngờ và cất dao vào người mình – Anh ăn đi, tôi không lấy tiền đâu! Hắn do dự nhìn ông chủ sạp trái cây rồi nhận lấy 1 quả quýt bóc ra ăn rồi hắn bỏ đi không nói một lời nào – Cám ơn! Tên tội phạm nhận lấy quýt từ tay ông chủ sạp rồi bỏ đi Lúc dọn dẹp sạp, ông chủ nhìn thấy tờ báo nghĩ chắc của khách nào bỏ quên nên ông mở ra xem thử. Nhưng ông vô cùng ngạc nhiên khi xem đến mục truy nã, người đàn ông trong đó vô cùng giống người đàn ông mà ông đã cho quýt. Ông vô cùng lo sợ không biết nên báo cảnh sát không nhưng do dự một lúc ông liền lấy điện thoại gọi cho cảnh sát. Mấy ngày sau, cảnh sát liên tục mai phục sạp bán trái cây của ông. Mấy ngày sau, hắn lại xuất hiện nhưng trên tay là con dao, đi lại gần hắn buông dao xuống đất, đưa tay lên đầu hàng không chần chừ cảnh sát liền ra bắt hắn – Đợi một lát, tôi muốn nói với ông chủ sạp vài câu! Thấy cảnh sát do dự hắn liền nói: – Trên người tôi không còn hung khí nào hết. Chờ cảnh sát đi lại xe hắn liền nói với ông chủ: – Tờ báo kia là do tôi để cám ơn ông! Hắn mỉm cười rồi đi lại xe Mấy hôm sau, phát hành xuất báo ông chủ liền tìm phần báo kia. “Tôi đã chán ngán cảnh sống lưu vong trốn đông trốn tây rồi, cám ơn mấy quả quýt của ông, khi tôi còn do dự lựa chọn chấm dứt tính mạng của mình thì chính tấm lòng lương thiện của ông đã khiến tôi cảm động. Số tiền ba mươi triệu đó tôi dành cảm ơn ông.”
Suy nghĩ về tình yêu thương con người
1,144
Đề bài: Suy nghĩ về tầm quan trọng của sức khỏe đối với mỗi người Bài làm Sức khỏe là một trạng thái về thể chất của một con người khóe mạnh, không bị đau yếu. Khi có nó, ta không cảm thấy nó là quý giá nhưng khi ta mất nó, tức là khi ta bị bệnh tật dày vò, ta không còn lành mạnh như trước, ta mới nhận thấy một cách thấm thía và đủ đầy rằng sức khỏe còn hơn tiền bạc, danh vọng mà không có thể lực vật chất, tinh thần nào bằng nó được và chỉ khi đó, ta mới hối tiếc rằng tại sao mình lại có thể đánh mất hoặc bằng lí do này, lí do khác một của cái to lớn nhất trên đời. Suy nghĩ về tầm quan trọng của sức khỏe đối với mỗi người Hãy trông chàng trai trẻ kia bên hàng xóm, thân hình vạm vỡ, thể xác căng tràn nhựa sống, chân tay tưởng chừng như của một lực sĩ sắp ra đấu trường; quả thực là một pho tượng sống. Nhưng sau một thời gian ngắn, mải vui chơi với bạn bè, thức trắng những đêm dài để đắm say theo chén rượu, cuộc bài, chàng trai trở thành một cái xác không hồn, thân hình tiều tụy, mắt hốc hác, chân tay biến đi các bắp thịt tròn mà chỉ còn một lớp da bọc một mớ thịt tong teo. Chàng ta nằm lừ đừ suốt ngày để mà nghiền ngẫm về của cải quý giá của mình vừa đánh mất: sức khỏe. Chàng ta hối tiếc thời kì đẹp đẽ nào mà mình còn là một bức tượng đồng với niềm vui sống lành mạnh vô biên! Và khi ngồi ủ rũ với tâm thần mệt mỏi, với thể xác yếu đuối của minh, chính lúc đó chàng ta mới cảm thấy mình đã quá dại khờ. Những điều nói trên nêu tỏ rõ sự quan trọng lớn lao của sức khỏe trong cuộc đời của chúng ta. Khi chúng ta mạnh khỏe, cuộc đời thực vô cùng tươi vui và mọi công cuộc dù to lớn đến đâu ta cũng sẽ dễ dàng thực hiện Khi đau yếu, cuộc sống sẽ đen tối và buồn nản, một công việc dù nhẹ nhàng đến đâu đối với ta cũng trở nên khó khăn, đầy mệt nhọc. Có điều mỉa mai hơn nữa, là khi mình còn có sức khỏe, mình không cảm thấy nó quý giá và khi đánh mất nó, mới tiếc nhớ nhưng đã muộn màng rồi! Lời nói trên không chút nào văn hoa, bóng bẩy mà chứa đầy một sự thật hiển nhiên. Đốì với mọi người sống trong xã hội hiện tại, thì giờ là vàng bạc, tốc độ là quyết định, sức mạnh vật chất giúp chúng ta có một cuộc sống sung túc hơn và giúp ta vượt qua những sương gió, nắng mưa, đầy bất trắc của cuộc đời, những tai ương có thể xảy đến bất thình lình cho bất cứ một ai. Sự nghèo khổ do thiên tai, hạn hán, lụt lội là những bất ngờ trong đời sống. Có sức khỏe ta sẽ đối phó đầy hiệu quả với những khó khăn đó. Ta hãy xem một người luôn luôn vui vẻ, lịch thiệp, ưa kết giao với mọi người dễ gây cảm tình với tất cả chỉ vì họ tràn đầy sức khỏe và tự tin. Về phương diện tinh thần và đạo đức, người có sức khỏe có thể có nhiều thuận lợi quyết định sự thành công của mọi việc. Trí thông minh của họ dễ dàng phát triển, trí óc sáng suốt thêm, sự suy luận mau lẹ và đúng đắn. Tây phương có câu: “Khi thận hình ta.yếu đuối, thì nó điều khiển ta nhưng khi ta khỏe mạnh, nó sẵn sàng vâng lời ta”. Tâm hồn của một con người tráng kiện trở nên cao thượng vì ta sẵn sàng tiêu diệt những tư tưởng đen tối, những ác ý. Lòng yêu thương đồng loại, khả năng lương thiện sẽ phát triển đủ đầy. Bao nhiêu đức tính, tưởng chừng không có gì tương quan với sức lực thể chất của ta nhưng phân tích kĩ, chúng ta thấy kết quả tất nhiên của một sức mạnh tốt đẹp. Chẳng thế mà người ta đã nói: “Một tâm hồn lành mạnh trong một thể chất tráng kiện” đó sao. Sức khỏe làm phát sinh ớ ta chí khí hào hùng, sự tự tin, sự can trường, lòng dũng khí, hăng say làm việc và chiến đấu. Đúng vậy, lúc ta còn có sức khỏe tràn đầy, ta không thấy rõ tác dụng của nó và ta dễ dàng phung phí, như tiền bạc cầm trên tay. Thức trọn đêm, vui chơi với bạn bè, mải mê ăn nhậu chơi bời từ ngày này sang ngày khác có biết đâu rằng sau cuộc vui chơi vô bổ ấy, là một sự trống rỗng của tâm hồn. Thể xác giày vò, thân hình tiều tụy, đầu óc lừ đừ, tối tăm. Ta vẫn nghe nhiều người than thở: “Nay tôi đau yếu tôi mới biết rằng trước kia, khi mình có đủ sức khỏe là một niềm hạnh phúc vô biên!" Và rồi họ thèm: “Thực không làm sao tìm lại được sự mạnh mẽ vui sống thuở trước!”. Rõ ràng sức khỏe là của cải quý nhất trên đời đối với mỗi người. Do vậy, chúng ta cần coi trọng và giữ gìn nó.
Suy nghĩ về tầm quan trọng của sức khỏe đối với mỗi người
924
Suy nghĩ về vai trò của gia đình đối với hạnh phúc của con người Hướng dẫn hơi ngắn và còn thiếu ý
Suy nghĩ về vai trò của gia đình đối với hạnh phúc của con người
21
Đề bài: Nhà văn Nga L. Tôn-xtôi nói: “Lí tưởng là ngọn đèn….. thì không có cuộc sống". Hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống con người. Bài làm Lí tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà người ta muốn đạt tới. Lí tưởng rất quan trọng đối với bất cứ ai, đối với tất cả mọi người. Sống phải có mục đích. Sống phải có lí tưởng. Nói về tầm quan trọng của lí tưởng, nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi chỉ rõ: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có li tưởng thi không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thỉ không có cuộc sống”. Lí tưởng là gì? Lí tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà người ta muốn đạt tới. Lí tưởng rất quan trọng đối với bất cứ ai, đối với tất cả mọi người. Đúng “lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường”. Nhờ có ánh sáng ngọn đèn lí tưởng dẫn đường mà ta có thể đi tới tương lai, tránh được sự mò mẫm, vấp váp. Nhờ có ánh sáng ngọn đèn lí tưởng mà chúng ta có nghị lực và niềm tin trong cuộc đời, biết sống thế nào cho có ý nghĩa, sống thế nào cho đáng sống. Không sống vô vị nhàm chán, không sông quẩn quanh, tăm tối, mà chỉ muốn sống có ý nghĩa, sống có ích cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Ngọn đèn được tác giả so sánh với lí tưởng thật là sâu sắc và có nhiều ý nghĩa. Suy nghĩ về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống con người Nếu không có mục đích, sống không có lí tưởng thì sẽ như thế nào? Lép Tôn-xtôi cho biết: “Không có lí tưởng thi không có phương hướng kiên định, mà không có phương hưởng kiên định thì không có cuộc sống”. Phương hướng là hướng được xác định. Kiên định là một phẩm chất tốt đẹp, là tinh thần giữ vững ý định, ý chí, không dao động trước mọi khó khăn, trở lực. Khi đã không có lí tưởng, không có mục đích tốt đẹp sẽ không có phương hướng kién định, khác nào ké đi đêm hoặc chui vào sừng trâu, đâm đầu vào lối cụt. Không có lí tưởng thì khác nào thuyền không lái, thuyền sẽ trôi về đâu, về bến bờ nào. Nhừng kẻ sống quẩn quanh, sống bị động, hay dao động vì sống không có mục đích, không có lí tưởng, không có phương hướng. Mà khi đã không có phương hướng, hoặc không có phương hướng kiên định thì sẽ không có cuộc sống ý nghĩa. Anh sẽ không có hành động thiết thực. Nếu không có mơ ước, không có khát vọng sống, cuộc sống sẽ trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Anh sẽ trở thành kẻ sông thừa, sống mòn. Nêu tuổi trẻ sống không có lí tưởng sẽ lười học, nhác lao dộng, sẽ sớm nhiễm phải những tệ nạn xã hội như ăn chơi đua đòi, cờ bạc, rượu chè, nghiện ma túy, cướp bóc… Những học sinh “cá biệt’' trong nhà trường hiện nay chú yếu là do cách sống buông thả, sống không có lí tưởng. Sống mà như chết thì sao có thể gọi là sống? sống mà tâm hồn bị khô héo, trái tim bị băng giá thì không thể gọi là sống. Sống mà không nghĩ đến tương lai, sống mà không nghĩ đến công hiến, phục vụ cho gia đình, đất nước thì sau có thể gọi là sống? Cô giáo em nói thời còn là học sinh, câu khẩu hiệu: “Sống, học tập, lao động và chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại” có một sức mạnh ghê gớm, lôi cuốn hàng triệu thanh niên thi đua và lập công trong phong trào “ba sẵn sàng”. Câu nói của nhà văn Nga đã chỉ rõ tầm quan trọng của lí tưởng và sống có lí tưởng. Câu nói ấy cho đến nay vần mới mẻ và giàu ý nghĩa đối với học sinh thanh niên chúng ta. Đất nước đang đổi mới. Công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước đang kêu gọi thanh niên lên đường. Có học tập tốt mới trang bị cho bản thân mỗi chung ta kiến thức, kĩ năng khoa học, lao động. Hơn bao giờ hết chúng ta mới thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề lí tường và sống có lí tưởng. Lí tưởng là ngọn đèn. Với Tố Hữu, lí tưởng là “mùi hương chân lí”. Tôi nhớ vần thơ của ông. Khi ta đã say mùi hương chân lí. Tương lai đó, trước mặt ta biển rộng Trên đầu ta, lồng lộng gió trời cao!
Suy nghĩ về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống con người
805
Suy nghĩ về vai trò của một người bạn tốt đối với mỗi con người Hướng dẫn Trong các mối quan hệ tình cảm của con người, cao thượng nhất chính là tình bạn. Tình bạn là tình cảm gắn bó của một người đối với một người khác dựa trên sự tương đồng về hoàn cảnh tính cách, sở thích, mục tiêu trong cuộc sống. Giũa họ không có quan hệ huyết thống. Một người bạn tốt sẽ là một người biết quan tâm, giúp đỡ, đồng cảm, có thể tin tưởng để chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn, luôn ở cạnh, động viên và nhắc nhở, giúp đỡ những lúc mình sai… Khi thành công trong sự nghiệp, hạnh phúc trong đời sống, chúng ta có nhu cầu chia sẻ niềm vui. Những cảm xúc ngọt ngào kia sẽ càng được nhân lên khi bên ta là bạn bè thân thiết – là những người thực lòng vui mừng trước sự thành đạt và may mắn của ta. Niềm vui sẽ chẳng thể vẹn tròn nếu ta phải sống giữa những người xa lạ hoặc nhỏ nhen, đố kị; phải thấy những ánh mắt dửng dưng hay ghen ghét… Nhưng quả thực, chúng ta cần bạn nhất chính là khi khó khăn, hoạn nạn – đặc biệt là lúc cô độc, lẻ loi. Bởi vì, trong trạng thái suy sụp về thể chất hay tinh thần, trong thất bại về sự nghiệp hay đời sống, con người rất dễ buông xuôi và tuyệt vọng. Trong khi lối cư xử thường tình của những con người ích kỉ, vụ lợi vẫn là “phù thịnh không phù suy”,“Khi vui thì vỗ tay vào. Đến khi hoạn nạn thì nào thấy đâu” … Cảm giác cô đơn và nỗi đau thiếu vắng tình người là điều đáng sợ nhất mà con người phải đối diện. Khi ấy, tình cảm yêu thương chân thành, thủy chung của một người bạn tốt sẽ là điểm tựa vững chắc, là nguồn sức mạnh nâng đỡ tâm hồn, là ánh sáng phía cuối đường hầm. Sự hiện diện của người bạn đó sẽ cho ta niềm tin và hi vọng để đứng dậy, để lại bắt đầu tạo dựng cuộc sống… Như vậy, người bạn tốt chính là người vẫn ở bên ta trong những giờ phút đắng cay nhất của cuộc đời. Nhân gian thường nói: “Giàu vì bạn, sang vì vợ”. Điều ấy có nghĩa là chính bạn bè tốt là những người sẽ giúp đỡ, tương trợ, cùng chúng ta gây dựng sự nghiệp. Chính những người bạn tốt sẽ tạo dựng cho chúng ta những cơ hội tốt để làm việc và thành công. khi chúng ta lâm vào cảnh khó khăn, đổ vỡ, những người bạn tốt sẽ là người vực ta dậy, tiếp tục phấn đấu sữa chữa lỗi lầm và làm lại mọi thứ. Không ai khác, người bạn tốt luôn sẵn lòng giúp đỡ ta mà không hề vụ lợi hay toan tính thiệt hơn. Bạn bè thì không hiếm nhưng bạn tốt thì rất hiếm. Có được một người bạn tốt làm là có thêm một sức mạnh. hãy biết quý trọng tình bạn và không ngừng vun đắp cho nó. Đừng để mình sống cô đơn, không ai là bạn thân thiết giữa một thế giới sinh động và rộng lớn này.
Suy nghĩ về vai trò của một người bạn tốt đối với mỗi con người
560
Đề bài: Suy nghĩ của em về vai trò của nhà trường Bài làm Từ xưa đến nay khi nói đến vấn đề dạy dỗ và giáo dục học sinh, con trẻ hầu như người ta đều nhắc ngay đến vai trò của gia đình và nhà trường. Sự phối kết hợp giữa hai nhân tố này có vai trò vô cùng to lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Nhà trường là một nơi kì diệu vì không những cùng với gia đình nuôi dưỡng đạo đức của học sinh mà còn là nơi đẹp đẽ của thế giới tri thức. Nhà trường là nơi truyền tải những tri thức, những kiến thức cho học sinh. Những kiến thức được truyền tải từ nhà trường có mức độ chuẩn hóa cao, khoa học và có định hướng, phương pháp rõ ràng Nhà trường nói chung và ngành đào tạo giáo dục nói riêng có một vai trò, tầm ảnh hưởng to lớn trong việc đào tạo ra nhân tài, lực lượng lao động có chuyên môn, chất lượng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia. Trong nhà trường, đội ngũ giáo viên là những người truyền thụ kiến thức, trang bị hành trang thiết yếu cho học sinh. Họ đều là những người có chuyên môn sâu, được đào tạo bài bản trong các trường chuyên ngành Sư phạm và các lĩnh vực chuyên môn để có trình độ chuẩn nhất về kiến thức giảng dạy cho học sinh, không những thế, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, họ cũng được chính các thầy cô mình truyền dạy những kiến thức ngoài sách vở, đó là lương tâm nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, bởi vậy không chỉ có chuyên môn nghiệp vụ mà họ còn có tư cách đạo đức đẹp và chuẩn mực để dạy dỗ các học trò của mình. So bì cùng các nước khác trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, có thể dễ dàng nhận thấy rằng họ đặc biệt rất coi trọng giáo dục, những trường học cùng trang thiết bị dạy học và cả việc đào tạo chuyên môn sâu cho đội ngũ giáo viên cũng rất được đầu tư. Kinh tế- văn hóa- xã hội được phát triển cũng là từ con người và con người có giáo dục, có văn hóa là từ nền tảng học vấn, từ sự truyền giảng kiến thức của các thầy cô giáo trong nhà trường. Bên cạnh việc cung cấp tri thức nhà trường còn là nơi giáo dục, rèn luyện nhân cách, phẩm chất của học sinh cùng với sự phối kết hợp, quan tâm của gia đình và xã hội. Giáo dục bền vững là phải có sự kết hợp, phối hợp chặt chẽ, toàn diện của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội Nhà trường luôn là môi trường tốt đẹp, chuẩn mực với tất cả mọi người, không chỉ riêng với học sinh, đó là nơi hội tụ của tinh hoa tri thức, tinh hóa đạo đức, những lối sống, phép hành xử chuẩn mực. Tuy nhiên, trong việc truyền thụ kiến thức, trí thức, ngoài vai trò của người thầy cần có thái độ nghiêm túc, có trách nhiệm cao với nghề thì người học sinh cũng cần có thái độ đúng đắn, thiết thực trong việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh nhất. Nếu học sinh có thái độ học tập hay cư xử thiếu đúng đắn, không chịu khó học tập, không nghe lời thầy cô, văng tục chửi bậy, hành xử thiếu suy nghĩ sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh ngôi trường của mình đang theo học. Những tấm gương sống và học tập tốt của các thầy cô và học sinh sẽ làm rạng danh ngôi trường. Giáo dục của nhà trường là bước đệm rất quan trọng cho sự phát triển của công dân đất nước và cũng là bộ mặt tương lai của đất nước. Hãy luôn quan tâm đến các ngôi trường, đó cũng là điều đúng đắn cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Suy nghĩ về vai trò của nhà trường
701
Suy nghĩ về vai trò của tinh thần tự học đối với con người Hướng dẫn Suy nghĩ về tinh thần tự học. Mở bài Tự học là một trong những phẩm chất quý giá nhất của con người. Không biết tự học không thể có thiên tài. Thân bài Thế nào là tự học? Tự học là bản thân học tập mở mang nhận thức, hiểu biết của mình mà không cần phải có người khác kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở. Tự học là tự mình suy nghĩ, tìm ra chân lý, phương pháp học tập đúng đắn để làm cho việc học của mình dễ dàng và đạt hiệu quả. Tại sao muốn thành công, con người phải biết tự học? Tự học là nhu cầu thiết yếu đối với ai muốn mở mang hiểu biết của mình bởi vì những kiến thức mà ta tiếp thu được từ thầy cô, nhà trường, sách vở chỉ là những kiến thức cơ bản, trong khi thế giới bên ngoài bao la, rộng lớn có biết bao điều hay mới lạ mà ta chưa biết. Từ xưa đến nay những con người thành công, nổi tiếng, các bậc vĩ nhân, danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc đều là những người có tinh thần tự học: Mạc Đĩnh Chi học lóm nhà thầy đồ, đọc sách thâu đêm. Bác Hồ học được rất nhiều ngoại ngữ trong những giờ giải lao bằng cách tự học. Lép-xtôn-tôi bỏ ra hơn 10 năm tự nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử nước Nga và nhiều lĩnh vực khác để từ đó viết nên bộ tiểu thuyết “Chính tranh và hòa bình”. Chính trong quá trình tự học, mỗi khi phát hiện ra một vấn đề, chân lý, kiến thức mới thì sẽ cảm thấy vui, việc học trở nên thú vị, có ý nghĩa. Ngoài ra tự học còn giúp ta rèn luyện khả năng tư duy, độc lập sáng tạo, tự tin hơn vào bản thân mình. Không những vậy nó còn rèn luyện cho ta tinh thần vượt qua khó khăn gian khổ. Quá trình tự học là một quá trình rèn luyện cho con người tất cả mọi mặt, không chỉ cung cấp tri thức mà còn bồi đắp cho ta những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp: lòng yêu thương con người, biết vui, buồn, mừng, giận vì những người ở đâu đâu, những chuyện ở đâu đâu (Hoài Thanh), biết trân trọng, cúi đầu thán phục trước những con người có nhân cách cao đẹp, sẵn sàng hi sinh bản thân mình vì độc lập, tự do của tổ quốc, khao khát sổng một cuộc đời có ý nghĩa. Tự học là học như thế nào? Học mọi nơi, mọi lúc, mọi người; học bằng những phương tiện sẵn có. Biết chọn điều hay, phải mà học. Học phải đi đôi với hành. Lấy thực tế cuộc sống để kiểm nghiệm và khẳng định tri thức. Khi đó, kiến thức mới được vững vàng. Không nản lòng khi gặp khó khăn, thất bại trong học tập. Phải luôn nhớ học tập là quá trình diễn ra trong suốt đời người. Kết bài:
Suy nghĩ về vai trò của tinh thần tự học đối với con người
517
Suy nghĩ về vai trò của tính năng động và sáng tạo Hướng dẫn Vai trò của tính năng động và sáng tạo Mở bài: Tính năng động và sáng tạo là phẩm chất rất cần thiết của con người lao động trong xã hội hiện đại. Nó giúp con người có thể vượt qua những ràng buộc của hoàn cảnh, rút ngắn thời gian để đạt được mục đích đề ra một cách nhanh chóng và tốt đẹp. Sự sáng tạo đòi hỏi ở con người sự can đảm lớn và ngươc lại nó sẽ làm tăng lòng can đảm của chúng ta. Thân bài: Năng động là tích cực, chủ động, dám nghĩ dám làm. Sáng tạo là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra giá trị mới, say mê tìm tòi, phát hiện và linh hoạt xử lí các tình huống trong học tập, lao động và cuộc sống. Người năng động, sáng tạo là người siêng năng, tích cực, chủ động trong học tập, lao động, luôn tìm ra phương pháp học tập tốt nhất cho bản thân và vận dụng vào thực tiễn. Không có sự năng động và sáng tạo sẽ không có cái mới được tạo ra, cuộc sống sẽ trở nên đơn điệu và nhàm chán. Hãy tưởng tượng xem mỗi ngày, cuộc sống cứ lặp đi lặp lại trước mắt bạn những hình ảnh quen thuộc, những công việc quen thuộc đã được định sẵn thì bạn sẽ chán nản đến mức nào. Tất nhiên là trí tuệ sẽ phai mòn, tư duy sẽ khô cứng, tinh thần buồn bã. Chính sự năng động và sáng tạo mang đến niềm vui và những giá trị đích thực, có sức mạnh thúc đẩy loài người tiến lên phía trước. Học sinh rất cần phải rèn luyện tính năng động, sáng tạo vì đức tính này sẽ giúp cho các bạn tích cực, chủ động, dám nghĩ dám làm, linh hoạt xử lí các tình huống trong học tập, lao động nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc. Điển hình, một học sinh năng động, sáng tạo là Lê Thái Hoàng đam mê nghiên cứu, tìm tòi, chủ động, tích cực trong học tập mang lại nhiều huy chương, đem vinh quang cho bản thân, gia đình và đất nước. Nhà bác học Thomas Edison, nhờ năng động sáng tạo, ông đã tìm tòi sáng tạo ra đèn điện, và nhiều phát minh có giá trị khác như máy ghi âm, máy chiếu phim,…. Để trở thành người năng động sáng tạo, học sinh cần tìm ra phương pháp học tập đúng đắn, có kế hoạch và tích cực vận dụng những điều đã viết vào cuộc sống. Người không có đức tính này sẽ luôn bị thụt lùi, lạc hậu và không bao giờ đạt được những kì tích vẻ vang, mang lại vinh dự trong học tập, trong lao động, cho gia đình và đất nước. Kết bài: Ai đã thấy niềm vui trong sáng tạo thì đối với người đó, mọi niềm vui khác đều bị lu mờ. Không có sáng tạo thì không có niềm vui thực sự. Hơn một bài ca về sự sống, tôi ca ngợi và khuyến khích cho những hành động sáng tạo của tất cả mọi người. Bởi sáng tạo là để tiếp tục sinh tồn.
Suy nghĩ về vai trò của tính năng động và sáng tạo
554
Suy nghĩ về vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội Hướng dẫn Dàn ý vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội 1. Mở bài Giới thiệu: vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội. 2. Thân bài a. Đồng tiền là cái gì? – Giải thích: . Thế nào là đồng tiền? “Đồng” (VND) là đơn vị tiền tệ chính thức của Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. . Tiền là gì? “Tiền” là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận. . Đồng tiền là vật đúc bằng kim loại hoặc in bằng giấy dùng là phương tiện giao dịch, dùng đổi chác, mua bán. b. Tại sao đồng tiền có vai trò đến con người và xã hội? . Tại sao đồng tiền lại có vai tròn quan trọng trong đời sống con người và xã hội? . Đồng tiền lộ rõ vai trò của mình mà trước tiên nó đóng vai một “người đầy tớ tốt”. . Vai trò của một “ông chủ xấu”, nghĩa là nếu chúng ta coi đồng tiền là mục đích. c. Ảnh hưởng đồng tiền đối với con người và xã hội như thế nào? . Chúng ta phải có thái độ như thế nào đối với đồng tiền? . Chúng ta sẽ sử dụng đồng tiền như thế nào? 3. Kết bài . Đánh giá chung: vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội. Bài làm 1 vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội “ Tiền là tiên là Phật Là sức bật của tuổi trẻ Là sức khỏe của tuổi già Là cái đà của phát triển …”. Câu nói cửa miệng của giới trẻ hiện nay mang tính hài hước nhưng cũng chất chứa những suy nghĩ đáng lưu ý về đồng tiền. Ý nghĩa của câu nói phần nào toát lên vai trò to lớn của đồng tiền với con người và xã hội. Thế nào là đồng tiền? “Đồng” (VND) là đơn vị tiền tệ chính thức của Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn, nghĩa là người ta bắt buộc phải chấp nhận khi nó được dùng để thanh toán cho một khoản nợ xác lập bằng VND với mọi số lượng, mệnh giá. Còn tiền là gì? “Tiền” là một chuẩn mực chung có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sáng cho nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ … Tóm lại, đồng tiền là vật đúc bằng kim loại hoặc in bằng giấy, dùng làm phương tiện giao dịch, dùng đổi chác, mua bán. Tại sao đồng tiền lại có vai trò quan trọng trong đời sống con người và xã hội? vì đồng tiền là một phương tiện trao đổi đa năng để đơn giản hóa thương mại. Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loại người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó, các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Cũng chính vì thế mà đồng tiền đã trở thành một tài sản với mỗi con người trong xã hội. “Đồng tiền liền khúc ruột”. (tục ngữ Việt Nam) Cũng chính từ đây, đồng tiền thể hiện rõ vai trò của mình mà trước tiên nó đóng vai một “người đầy tớ tốt”, nghĩa là nếu chúng ta coi đồng tiền là phương tiện, thì tiền bạc rất hữu ích, là tên đầy tớ phục vụ chúng ta trong mọi công việc. Nó sẽ giúp cho con người và xã hội đạt tới những điều sung sướng, hạnh phúc … Tiền giúp quyết định được rất nhiều việc – “Có tiền mua tiên cũng được”. Có tiền, con người cảm thấy tự tin, và đôi khi đồng tiền có thể thay đổi cả tính cách của con người và sự đánh giá của người khác đối với cá nhân đó. Tiền giúp đem lại rất nhiều điều tốt đẹp: “Chẳng gì tươi tốt bằng vàng, Chẳng gì lịch sử vẻ vang bằng tiền”. Tuy nhiên tiền cũng là một “ông chủ xấu”. Tiền làm cho ta trở nên tham lam bằng cách tích trữ, thu gom cho riêng mình, lấy của chung bỏ túi riêng mà không phục vụ hay chia sẻ cho ai. Ham tiền là tôn vinh tiền lên làm chủ lòng mình. Tiền sẽ làm mêm hoặc lòng người. Tiền có thể biến con người trở nên bất hiếu, đánh mất nhân cách, giảm đi nhân phẩm, có khi trở thành bất trung và bất nghĩa. “Tiền có thể mua được mái nhà, nhưng không mua được mái ấm. Tiền có thể mua được bằng cấp, nhưng không mua được tri thức”. Lúc đó, đồng tiền sẽ mang lại bất hạnh cho con người và xã hội. Vì đồng tiền, người ta sẵn sàng làm tất cả, bán rẻ lương tri, tán tận lương tâm của mình. Có lẽ chúng ta từng chứng kiến bao cảnh thương tâm, gia đình tan nát, huynh đệ tương tài cũng vì sự tác oai tác quái của đồng tiền. “Anh em thậm thật là hiền, Vì một đồng tiền mất cả anh em”. Hoặc như thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã than thở trong bài Thói đời: “Còn bạc, còn tiền còn đệ tử Hết cơm, hết rượu hết ông tôi”. Tiền còn phá hoại luật lệ “Đa kim ngân phá luật lệ”. Đồng tiền làm người ta thay đổi ý kiến, thay đổi suy nghĩ, thay đổi tình cảm, thay đổi hành đông, thậm chí thay đổi cả lương tâm của con người trong việc ra quyết định các loại văn bản có giá trị pháp lý: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”. Và hơn thế nữa đồng tiền gây ra bao cảnh tang thương: nhà tan cửa nát, đầu rơi máu chảy, giết hại lẫn nhau: “Động lực của chiến tranh là đồng tiền”. (Bion) Vậy chúng ta phải có thái độ như thế nào đối với đồng tiền? Tự bản chất, đồng tiền không có gì xấu. Đồng tiền trở nên xấu hay tốt là do con người sử dụng. Nếu ta làm chủ được đồng tiền, dùng tiền như một phương tiện để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình thì đó là một điều tốt: “Tiền bạc là phương tiện của kẻ thông minh, là mục đích của kẻ ngu dốt”. (O.W. Holmes) Tốt hơn nữa nếu ta bắt đồng tiền phục vụ cho sự công bằng, lòng nhân ái, cho công thiện, công ích, thì đồng tiền sẽ là người đầy tớ tốt mách bảo cho ta biết phải làm gì với số tiền ta có để đem lại lợi ích cho xã hội, cho cuộc sống của mọi người xung quanh: “Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hi sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì nhân nghĩa, đó là một đức hạnh thực sự”. (Senancourt) Chúng ta sẽ sử dụng đồng tiền như thế nào? Đồng tiền đòi hỏi phải có cách sử dụng đặc thù, tùy việc mà tiêu tiều: “Việc to đừng lo tốn”. Có nhiều vấn đề tế nhị, đáng bàn trong việc tiêu tiền. Không phải lúc nào đồng tiền cũng có vai trò như nhau. Nếu lao động chân chính, con người phải đổ mồ hôi nước mắt mới có được đồng tiền thì không thể tiêu dùng phung phí. Cách sử dụng đồng tiền tốt nhất là phải biết tiết kiệm: “Kiệm tắc thường lúc”. “Đồng tiền tiết kiệm mới là đồng tiền kiếm được”. (Tục ngữ Anh) Tóm lại, đồng tiền đóng một vai trò quan trọng đối với con người và xã hội. Nhưng “tiền bạc chỉ là tiền bạc” vì đồng tiền không phải là tất cả, còn có những thứ quý giá như tình nghĩa, sức khỏe, tri thức, đạo đức … Chính vì thế, học sinh chúng ta cần phải nhận rõ giá trị của đồng tiền và cách tiêu tiền sao cho tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, một phương tiện đem lại lợi ích cho bản thân và nhân loại. “có ba người bạn trung thành: một người vợ tấm cám, một con chó nuôi từ bé và một số tiền dự trữ”. (Benjamin Franklin) Bài làm 2 vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội Năm 2011, bài văn viết về đồng tiền của cậu học trò Nguyễn Trung Hiếu, lớp 11 chuyên Lý, trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam đã khiến nhiều độc giả rơi nước mắt. Khi đó, cô giáo ra đề bài “Nêu quan điểm của anh (chị) về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống” và Hiếu đã lấy ngay câu chuyện thật đang phải trải qua của gia đình mình để nhìn nhận, phân tích vai trò của đồng tiền, trong đó hình ảnh người mẹ là nhân vật trung tâm của bài viết. Bài văn của Hiếu: "Thư gửi mẹ. Mẹ thân yêu của con! Trời ơi là trời! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à?”. Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ?”. Mẹ ơi, những lúc ấy mẹ đang giận nên con không dám cãi lại. Nhưng giờ đây con muốn được bày tỏ lòng mình rằng tại sao con lại có những suy nghĩ, hành động kì lạ như vậy. Vâng, tất cả là vì tiền. Chỉ đến tận bây giờ con mới nhận ra cả một quãng thời gian dài trước đó con đã non nớt, ngây thơ biết chừng nào khi nghĩ về tiền. Cách đây 8 năm bệnh viện đã chuẩn đoán mẹ bị suy thận mãn tính độ 4 (độ cao nhất về suy thận). 8 năm rồi nhà ta đã sống trong túng thiếu bần hàn, vì bố mẹ không kiếm được nhiều tiền lại phải dành tiền cho mẹ đi chạy thận. Nhưng bố mẹ vẫn cho con tất cả những gì có thể, và cậu bé học trò như con cứ vô tư đâu biết lo gì. Hồi học tiểu học, tiền bạc đối với con là một cái gì đó rất nhỏ, nó là những tờ giấy với đủ màu có thể dùng để mua cái bánh, cái kẹo, gói xôi hay cái bánh mì … Con đâu có ngờ tiền chính là yếu tố quyết định sinh mạng mẹ mình, là thứ bố mẹ phải hàng ngày chắt bóp và bao người thân gom góp lại để trả cho từng ca lọc máu cho mẹ tại bệnh viện Bạch Mai, là thứ càng làm mẹ thêm đau đầu suy nghĩ khi mẹ buộc phải nghỉ việc làm vì điều kiện sức khỏe không cho phép. Rồi đến khi con học lớp 8, mẹ càng ngày càng yếu và mệt, phải tăng từ 2 lên 3 lần lọc máu/ tuần. Những chỗ chích ven tay của mẹ sưng to như hai quả trứng gà, nhiều hôm máu thấm ướt đẫm cả tấm băng gạc. Do ảnh hưởng từ suy thận mà mẹ còn bị thêm viêm phổi và suy tim. Rồi ông lại bị ốm nặng, bố phải nghỉ việc ở nhà trông ông, nhà mình vì thế càng trở nên túng quẫn, mà càng túng thì càng khổ hơn. Tờ một trăm ngàn hồi ấy là một thứ gì đó xa xỉ với nhà mình. Cũng từ dạo ấy, đầu óc non nớt của con mới dần vỡ lẽ ra rằng tiền bạc chính là mồ hôi, nước mắt, là máu (theo đúng nghĩa đen của nó, vì có tiền mới được chạy thận lọc máu mà) và bao nỗi niềm trăn trở lo lắng của bố và mẹ. Hôm trước con có hỏi quan điểm của mẹ về tiền bạc thế nào để con có thêm ý viết bài làm văn nghị luận cô giao. Mẹ hơi ngạc nhiên vì câu hỏi đường đột ấy. Rồi mẹ chỉ trả lời với 3 từ gọn lỏn “Mẹ ghét tiền”. Nếu con còn thơ dại như ngày nào, hay như một người ngoài nào khác thì chắc con đã ngạc nhiên lắm. Nhưng giờ đây con cũng đồng ý với mẹ: con cũng ghét tiền. Bởi vì nó mà mẹ phải mệt mỏi rã rời sau mỗi lần đi chạy thận. Mẹ chạy thận 3 lần mỗi tuần, trước đây bố đưa đón mẹ bằng xe đạp nhưng rồi mẹ bảo đi thế khổ cả hai người mà còn phải chờ đợi mất ngày mất buổi của bố nữa nên mẹ chuyển sang đi xe ôm. Nhưng đi xe ôm mất mỗi ngày mấy chục, tốn tiền mà lại chẳng kiếm đâu ra, mẹ quyết định đi xe buýt. Mỗi khi về nhà, mẹ thở hổn hển, mẹ lăn ra giường lịm đi không nói được câu gì. Con và bố cũng biết là lúc ấy không nên hỏi chuyện mà nên để yên cho mẹ nghỉ ngơi. Tám năm rồi, tám năm chứng kiến cảnh ấy nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể quen được. Con chỉ biết đứng từ xa nhìn mẹ, và nghiến răng ước “giá như có dăm chục ngàn cho mẹ đi xe ôm thì đâu đến nỗi!”. Con bỗng ghét, thù đồng tiền. Con bỗng nhớ hồi trước, khi mẹ vẫn nằm trong viện. Ba người bệnh chen chúc chung nhau một chiếc giường nhỏ trong căn phòng bệnh ngột ngạt và quá tải của bệnh viện Bạch Mai. Con đã ngây thơ hỏi mẹ “Sao mẹ không vào phòng bên kia, ở đấy mỗi người một giường thoải mái lại có quạt chạy vù vù, có tivi nữa?”. Mẹ chỉ nói khẽ “cha tổ anh. Đấy là phòng dịch vụ con ạ”. Con lúc ấy chẳng hiểu gì. Nhưng rồi con cũng vỡ lẽ ra rằng đó là phòng mà chỉ những ai rủng rỉnh tiền thì mới được vào mà thôi. Còn như mẹ thì không được. Con căm nghét đồng tiền vì thế. Con còn sợ đồng tiền nữa. Mẹ hiểu con không? Con sợ nó vì sợ mất mẹ. Mẹ đã phải bốn lần đi cấp cứu rồi. Những người suy thận lâu có nguy cơ tử vong cao vì huyết áp dễ tăng, máu dồn vào dễ làm tắc ống khí quản và gây tắc thở. Mẹ thừa biết điều này. Nhiều người bạn mẹ quen trong “xóm chạy thận” đã phải chịu những cái kết bi thảm như thế. Nhiều đêm con bỗng choàng tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa mà lạnh toát sống lưng bởi vừa trải qua một cơn ác mộng tồi tệ … Con sợ mẹ lại phải đi cấp cứu, và sợ nhỡ nhà mình không đủ tiền để nộp viện phí thì con sẽ mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời này. Mỗi buổi mẹ đi chạy thận là mỗi buổi cả bố và con đều phấp phỏng, bồn chồn, lo lắng. Mẹ về muộn là lòng con nóng như lửa đốt, còn bố thì cứ đi đi lại lại và luôn hỏi “bao giờ mẹ mày mới về?”. Với con cơ hội là 50/50, hoặc là mẹ chạy thận an toàn và về nhà, hoặc là … Con lo sợ hơn khi đọc báo thấy bảo có người không đủ tiền trả phần ít ỏi chỉ là 5% bảo hiểm y tế, tiền thuốc men mà phải về quê “tự điều trị”. Với những bệnh nhân phải chạy thận, như thế đồng nghĩa là nhận bản án tử hình, không còn đường sống. Con bỗng hoảng sợ tự hỏi nếu không còn BHYT nữa thì sao? Và nếu ông mất thì sao? Chi tiêu hàng ngày nhà mình giờ đây phần nhiều trông chờ vào tiền lương hưu của ông, mà ông thì đã già quá rồi … Mẹ ơi, tiền quan trọng đến thế nào với gia đình mình thì chắc mẹ hiểu rõ hơn con. Cứ nghĩ đến tiền là con lại nhớ đến những đêm bố mất ngủ đến rạc cả người, nhớ đến những vết chích ven sưng to như quả trứng gà của mẹ, nhớ đến cả thìa đường pha cốc nước nóng con mang cho mẹ để mẹ uống bồi bổ mỗi tối. Mẹ chắt chiu đến mức sữa ông thọ rẻ tiền mà cũng không mua để tự bồi dưỡng sức khỏe cho mình. Con sợ tiền mà lại muốn có tiền. Con ghét tiền mà lại quý tiền nữa mẹ ạ. Con quý tiền và tôn trọng tiền bởi con luôn biết ơn những người hảo tâm đã giúp nhà mình. Từ những nhà sư tốt bụng mời mẹ đến chùa vào cuối tuần, những cô bác ở Hội chữ thập đỏ quyên góp tiền giúp mẹ và gia đình mình. Và cả những người bạn xung quanh con, dù chưa giúp gì được về vật chất, tiền bạc nhưng luôn quan tâm hỏi thăm sức khỏe của mẹ… Nhờ họ mà con cảm thấy ấm lòng hơn, vững tin hơn. Con cảm thấy bất lực ghê gớm và rất cắn rứt lương tâm khi mẹ không đồng ý với các kế hoạch của con. Đã có lúc con đòi đi lao động, đi làm gia sư hay đi bán bánh mì “tam giác” như mấy anh sinh viên con quen để kiếm tiền giúp mẹ nhưng mẹ cứ gạt phăng đi. Mẹ cứ một mực “tống” con đến trường và bảo mẹ chỉ cần con học giỏi thôi, con giỏi thì mẹ sẽ khỏe. Vâng, con xin nghe lời mẹ. Con vẫn đến trường. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để mẹ và bố vui lòng. Nhưng mẹ hãy để con giúp mẹ, con đã nghĩ kĩ rồi, không làm gì thêm được thì con sẽ nhịn ăn sáng để tiết kiệm tiền. Không bán bánh mì được thì con sẽ ăn cơm với muối vừng. Mẹ đừng lo mẹ ạ, mẹ hãy an tâm chạy chữa và chăm sóc cho bản thân mình. Hãy để con được chia sẻ sự túng thiếu tiền bạc cùng bố mẹ. Vậy con khẩn thiết xin mẹ đừng cằn nhằn la mắng con khi con nhịn ăn sáng. Mẹ đừng cấm đoán con khi con đi lấy chầy, cối để giã lạc vừng. Dù con đã sút 8 cân so với năm ngoái nhưng con tin rằng với sự thấu hiểu lẫn nhau giữa những người trong gia đình thì nhà ta vẫn có thể sống yên ổn để đồng tiền không thể đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định hạnh phúc nữa. Đứa con ngốc nghếch của mẹ. Bài làm 3 vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội Từ xa xưa, khi con người bắt đầu đặt chân lên mặt đất, họ đã nghĩ ra rất nhiều phương tiện giao tiếp, trao đổi Đó có thể là lời nói, chữ viết hay hình vẽ. Thế nhưng có một loại phương tiện trao đổi có cái tên lạ lùng nhất: ‘đồng tiền’. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, đồng tiền đã và đang khẳng định sức mạnh ghê gớm của mình đối với cuộc sống hiện tại. Nhưngliệucái sức mạnh ấy có hoàn toàn mang lại điều tốt, hay vẫn tồn tại những điều đen tối sau hình ảnh đồng tiền? Đồng tiền là phương tiện mua bán, trao đổi các đồ dùng, vật dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. đồng tiền có thể được sử dụng để chu cấp một cuộc sống đầy đủ cho mỗi con người. Trong cuộc sống hiện đại, đồng tiền còn thể hiện mức độ khá giả của một cá nhân hay một gia đình. Nhưngliệunó có mang lại hạnh phúc và niềm vui cho mỗi chúng ta? Có thể coi loại tiền đầu tiên mà con người sử dụng là tiền xu. Nhiều thế kỷ trước, ở nhiều nước châu Âu và châu Á, con người đã biết tiêu tiền xu. ở Trung Quốc, người ta xâu những đồng tiền xu lại bằng dây để tiện mang đi mua bán, trao đổi. Loại tiền sử dụng nhiều sau này là tiền giấy. ở Việt Nam, tờ tiền giấy đầu tiên được in ấn từ thời nhà Hồ tới nay, tiền Việt Nam đã có những mệnh giá cơ bản từ1000 đồng đến 1 triệu, 1tỷ đồng. Tiền xu vẫn được sử dụng nhưng có phần hạn chế. Hiện nay, đồng tiền còn có thể tượng trưng cho sức mạnh của nền kinh tế mỗi quốc gia. Người ta đem giá trị của đồng tiền các nước lên sàn giao dịch chứng khoán. Từ đó, có thể nhận xét được về nền kinh tế hay tầm ảnh hưởng của một quốc gia nào đó đối với toàn thế giới. đồng tiền còn là một phương thức liệu quả để quảng bá nền văn hóa mỗi quốc gia. Tiền của úc có in hình chú chim kiv/i đặc trưng, tiền của Mỹ in hình tổng thống Washington, tiền xu Việt Nam có hình ảnh chùa Một Cột ở Hà Nội,… Nếu bạn dành thời gian quan sát những đồng tiền, chúng sẽ nói cho bạn biết nhiều điều về quốc gia nơi nó được in ấn. Đồng tiền, với người châu Âu, còn thể hiện tình đoàn kết và sức mạnh của cả khối kinh tế – đó là đồng Euro. Đồng Euro được lưu hành rộng rãi trong tất cả các nước thành viên EU chính là minh chứng cho tình hữu nghị của tất cả các quốc gia này. Hiện nay khi công nghệ thông tin ngày một phát triển, người ta sáng tạo ra cách giữ và bảo quản tiền bạc một cách an toàn: lập tài khoản điện tử, giao dịch bằng thẻ tín dụng, chi phiếu, rút tiền bằng thẻ ATM,… Quả thực, cuộc sống con người càng đi lên thì vai trò của đồng tiền lại càng được khẳng định. Thế nhưng lại có câu ‘đồng tiền là con dao hai lưỡi’ là vì sao? Đồng tiền thực chất không phải là điều xấu nhưng nhiều người đã quan niệm sai lầm về ý nghĩa của đồng tiền. Họ lầm tưởng tiền bạc là cuộc sống, tiền có thể mua được tất cả: danh vọng, hạnh phúc, niềm vui,… Họ làm mọi cách đểcó tiền: từ trộm cắp, móc túi, cướp của, giết người rồi đến cả tham nhũng, rửa tiền. Nhưng họ làm như vậyliệucó được kết quả tốt đẹp? Câu trả lời là không. Những người bộ trưởng, thứ trưởng, những con người đại diện cho nhân dân lại là những con người dễ biến chất nhất. Những cái tên như Mai Văn Dâu, Nguyễn Việt Tiến, Lã Thị Kim Oanh, hẳn còn để lại nhiều ấn tượng với mỗi người chúng ta. Họcó thể vui vẻđược một chốc, một lát vì làm giàu quá nhanh. Song kết quả là gì, chỉ là những lời tuyên án tử hình, tù chung thân, nghe thật lạnh lùng và tàn nhẫn. Còn có những con người hy vọng kiếm tiền, làm giàu một cách nhanh chóng. Họ đổ cả tiền của vào ván bài đỏ đen, vào sàn chứng khoán cổ phiếu. Họcó thể may mắn một, hai lần nhưng liệu có thể may mắn mãi? Nhiều người đã phải trắng túi chỉvì đặt tiền của vào những nơi đó. Nhiều người phải thế chấp cả của cải, ngôi nhà mình đang sống chỉvì những đồng tiền không chứa đựng mồ hôi, nước mắt. Điều tôi muốn nói với các bạn ở đây không phải là sự chỉ trích, phê phán đồng tiền. đồng tiền bản thân nó không xấu, chỉvì con người mà đồng tiền biến chất. Đề tham khảo: Quan niệm của Nguyễn Du về đồng tiền trong Truyện Kiều và quan niệm của anh (chị) về đồng tiền trong cuộc sống hôm nay. Nguyễn Du là đại thi hào nổi tiếng của Việt Nam. Tư tưởng nhân văn, nhân đạo vì công lí, vì con người của ông được cả nhân loại ngưỡng mộ. Nguyễn Du đã nhận thấy rõ ma lực của đồng tiền trong xã hội phong kiến đương thời và thể hiện sinh động điều đó trong kiệt tác Truyện Kiều. Như mọi người đều biết, đồng tiền ra đời như một phát minh vĩ đại đánh dấu sự tiến bộ của loài người và làm thay đổi bộ mặt thế giới vì nó giữ vai trò trung gian giúp con người mua bán, trao đổi hàng hóa… Nhờ đồng tiền, mọi giao dịch được thuận lợi, sản xuất phát triển, con người giao lưu, giao tiếp dễ dàng. Vì thế bản chất của đồng tiền là tốt, là tích cực. Thế nhưng một số kẻ đã thao túng và làm biến đổi bản chất tốt đẹp của đồng tiền. Chúng luôn coi đồng tiền là mục đích, là công cụ vạn năng có thể giúp chúng làm bất cứ việc gì mà không cần phân biệt tốt, xấu, đúng, sai. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đề cập đến cả hai mặt tốt và xấu của đồng tiền. Nguyễn Du không có thái độ một chiều hoặc cực đoan khi nói đến đồng tiền, ông đã sáng suốt phát hiện ra tác dụng tích cực của đồng tiền cũng như tác hại ghê gớm của nó thông qua hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện. Nguyễn Du đã vạch mặt bọn mặt người dạ thú, vì đồng tiền mà bán rẻ lương tâm. Đó là thằng bán tơ tự nhiên vu oan cho gia đình Vương ông; là bọn sai nha đầu trâu mặt ngựa hung hãn, tàn bạo đã đánh đập Vương ông, vương Quan và cướp bóc, phá phách vô tội vạ. Đó là tên quan xử kiện chẳng cần biết phải trái, thực hư, chỉ cần khảo tra cho ra tiền: Có ba trăm lạng việc này mới xong. Đó là tên buôn người Mã Giám Sinh lừa gạt, đểu cáng, mượn danh nghĩa đi cưới vợ mà: Cò kè bớt một thêm hai, Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm. Đó là mụ Tú Bà chủ lầu xanh, chuyên kiếm chác tiền bạc trên thân thể, nhân phẩm của người phụ nữ. Lúc nào mụ cũng nghĩ đến tiền và chỉ sợ Kiều bỏ trốn thì: Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma. Đó là tên ma cô Sở Khanh tráo trở, nhâng nháo, vô liêm sỉ, chỉ vì tham tiền mà sẵn sàng làm tay sai cho Tú Bà để lường gạt Thúy Kiều, buộc nàng phải tiếp khách làng chơi. Đó còn là lũ côn đồ Ưng, Khuyển chuyên sống bằng nghề đâm thuê chém mướn, bắt cóc, đốt nhà… không ghê tay. Nguyễn Du đã lớn tiếng tố cáo chúng là những kẻ: Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền và Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham. Cả một xã hội tàn bạo nhan nhản lũ ruồi xanh và những kẻ táng tận lương tâm nô lệ của đồng tiền. Nguyễn Du đã mổ xẻ, phanh phui bộ mặt gớm ghiếc của chúng bằng lời thơ căm giận: Trong tay sẵn có đồng tiền, Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì! Ma lực của đồng tiền trong xã hội phong kiến thật là khủng khiếp! Nó làm cho gia đình Thúy Kiều tan tác. Nó đày đọa vương ông, vương Quan, nó chia rẽ mối lương duyên đẹp đẽ giữa Kim Trọng, Thúy Kiều; nó làm cho Thúy Kiều phải chịu đọa đày suốt mười lăm năm trời đằng đẵng. Tuy nhiên, Nguyễn Du không câu nệ, cứng nhắc trong cách nhìn đồng tiền. Ông nhận thấy rằng đồng tiền ở trong tay kẻ ác thì vô cùng xấu xa, nhưng với người lương thiện thì đồng tiền luôn thể hiện tính chất tích cực. Trước cảnh gia đình bị tai bay vạ gió, cha và em bị bắt, bị đánh đập dã man, nhà cửa bị phá phách, cướp bóc, Thúy Kiều trăn trở, suy nghĩ tìm cách làm sao cứu cha, cứu em thoát nạn lúc này? Trong đám nha dịch có người thư lại già họ Chung đã mách nhỏ: Có ba trăm lạng việc này mới xong. Nhưng lấy đâu ra tiền bây giờ? Không còn con đường nào khác, Thúy Kiều đành quyết định bán mình chuộc cha. Đó là một quyết định đau đớn nhưng sáng suốt. Trong lịch sử văn chương Việt Nam, có lẽ đây là lần đầu tiên một nhà thơ ca ngợi một cô gái biết hi sinh tình yêu, hi sinh tuổi trẻ để cứu cha, cứu em Trong cơn vạ gió tai bay bất kì. Thúy Kiều là nạn nhân của đồng tiền nhưng nàng cũng biết quý trọng đồng tiền khi đồng tiền giúp nàng đền ơn những người đã cưu mang nàng mỗi khi hoạn nạn. Thúy Kiều đã trân trọng đáp nghĩa Thúc Sinh trong dịp báo ân, báo oán: Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân, Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là. Đền ơn cứu mạng của sư Tam Hợp, vãi Giác Duyên: Nhớ khi lỡ bước sảy vời, Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương. Nghìn vàng gọi chút lễ thường, Mà lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân! Theo suy nghĩ của Thúy Kiều thì việc trả ơn chỉ là một hành động bày tỏ tấm lòng tri ân sâu nặng chứ không bao giờ đền đáp cho hết được. Với nàng, non vàng, nghìn vàng cũng chỉ là lễ thường, chứ chưa dễ đền bồi tấm thương, chưa xứng với bát cơm Phiếu Mẫu. Như vậy, cái nhìn của Nguyễn Du về vai trò đồng tiền trong xã hội ià cái nhìn rất nhân văn, rất tiến bộ. Nhà thơ lên án đồng tiền khi nó bị kẻ xấu làm cho biến chất, nhưng lại trân trọng những đồng tiền tình nghĩa trước sau. Nhà thơ căm thù những kẻ táng tận lương tâm vì tiền mà sẵn sàng chà đạp lên lương tâm đạo lí, nhưng lại trân trọng những người như Thúy Kiều biết dùng đồng tiền vào việc cứu cha, cứu em và đền đáp ân tình, ân nghĩa. Quan niệm của Nguyễn Du về đồng tiền trong Truyện Kiều là vậy, còn quan niệm về đồng tiền của con người trong cuộc sống hôm nay thì sao? Có điều lạ là Nguyễn Du nêu bản chất đồng tiền không chỉ đúng với thời đại ông sống mà còn đúng với muôn đời. Ngày nay, đồng tiền trong nền kinh tế thị trường cũng vẫn tồn tại song song hai mặt tích cực và tiêu cực. Đối với người lao động lương thiện, đồng tiền là mồ hôi nước mắt, là chén cơm manh áo. Đối với xã hội, đồng tiền là động lực thúc đẩy lao động sản xuất, là phương tiện trao đổi hàng hóa, là món quà giúp đỡ lẫn nhau trong lúc ngặt nghèo, trong cơn hoạn nạn. Nhưng với kẻ xấu, đồng tiền có một ma lực cuốn hút, chi phối toàn bộ cuộc sống của họ. Họ mải mê chạy theo lợi nhuận mà quên đi tình nghĩa, có khi tàn nhẫn, lạnh lùng, vô cảm giẫm đạp lên đạo lí, pháp luật. Vì vậy, họ trở thành nô lệ của đồng tiền và sẽ phải gánh chịu những hình phạt do chính đồng tiền mang lại. Đồng tiền vốn không xấu vì nó là phương tiện trao đổi trong cuộc sống, là kết quả lao động của những con người chân chính. Nhưng những kẻ kiếm tiền bằng hành động bất chính thì đó là đồng tiền tội lỗi. Quan niệm về đồng tiền của Nguyễn Du nhắc nhở mọi người hãy suy nghĩ kĩ càng về cách kiếm tiền và sử dụng đồng tiền sao cho đúng đắn. Nguồn:
Suy nghĩ về vai trò của đồng tiền đối với con người và xã hội
5,496
Đề bài: Suy nghĩ của em về việc học của học sinh ngày nay Bài làm Người xưa như đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành đến khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó thì đã còn có những câu: “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lí” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải). Suốt một chặng đường lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Dường như những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác và qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Và nếu như muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đưòng duy nhất là học suốt đời. Khi nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, hay một tư duy hợp lí. Tất cả những điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì ngay từ lúc nhỏ, thì dường như bất kì ai cũng phải được học hành. Và trong suốt mười hai năm ở trường phổ thông, một học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Ngoại ngữ… Tuy thế, nhưng học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và mới có thể nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng hay thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì nó sẽ gây tốn thời gian, tiền bạc mà kết thu được chẳng đáng là bao. Thực tế đã chứng minh và cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học không ngoài là nhằm phục vụ mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu như ta đơn thuần làm việc theo thói quen kinh nghiệm có sẵn thì chắc chắn công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Có thể thấy rằng cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn và nói chung không cẩn nhiều đến trí tuệ. Còn khi đối với những công việc phức tạp hơn và liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Và con người muốn đạt hiệu quả trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học và phải được đào tạo bài bản chính theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc thì con người vẫn phải học tập không ngừng nghỉ và bằng mọi hình thức khác nhau. Nhất là trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay tri thức (chất xám) của con người là tiền đề vô cùng quan trọng. Con người ta có nắm vững lí thuyết, thì lúc đó chúng ta mới làm được những công việc phức tạp.Có thể nói những lí thuyết khoa học có tác dụng soi sáng và chỉ đường, dẫn đường cho kĩ năng thực hành, nên con người chắc chắn sẽ rút ngắn được thời gian mò mẫm, tìm hiểu thực tiễn, do đó sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc. Và việc học không chỉ là quá trình rèn luyện tri thức mà còn là quá trình rèn luyện tình cảm và đạo đức. Con người ngoài cái trí thì còn cần phải có cái tâm. Học chính là việc để thấu hiểu những lẽ huyền bí, không biết của cuộc đời, của vũ trụ như đã chứa đựng trong những kiến thức toán đơn giản hoặc trong các quy luật thịnh suy của một xã hội. Dường như không hòa cái tâm của mình vào trong cuộc đời, vào vũ trụ để lắng tìm và sẽ đượccảm nhận thì làm sao có được những tín hiệu mách bảo cho trí tuệ con đường đến những lẽ huyền diệu và bí ẩn kia được?Như vậy, là đã có biết bao kiến những thức mới, kiến thức mới tinh về cuộc đời, vẽ thế giới ngoài kia mà chúng ta tìm kiếm được không chỉ bằng trí mà còn bằng cả tâm hồn. Điều quan trọng nhất có thể nói chính là đã học thì phải học đều các môn khoa học tự nhiên khoa học xã hội. Văn, Sử cũng là những môn học cần thiết, nếu như không nói là đặc biệt quan trọng để tạo nên nhân cách con người được. Và nếu như chúng ta không coi trọng các môn này thì tâm hồn sẽ khô cứng, con người sẽ trở nên vô cảm trước con người và cuộc đời mà dẫn đến thái độ dửng dưng trước vẻ đẹp phong phú và sự giàu có của những giá trị lịch sử văn hóa dân tộc. Và cũng sẽ không ai trách chúng ta khi chỉ thích học những môn như Tin học, Kinh tế Ngoại ngữ. Nhưng nếu như bạn chỉ giỏi chữ số mà quên chữ viết, giỏi kĩ thuật mà kém văn hóa thì là thiệt thòi rất lớn cho mỗi con người. Có thể thấy việc học hành quan trọng như vậy, do đó chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của việc học hành. Đúng là việc “Nếu không có học hành đến nơi đến chốn thi lớn lên, chúng ta sẽ chẳng làm được việc gì có ích”. Và những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở và cuộc đời nếu như biết đem áp dụng vào thực tiễn sẽ mang lại nhiều thành quả tinh thần vật chất cho cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội. Tri thức loài người có thể nói mênh mông như biển cả (“Bể học vô bờ”). Dầu cho chúng ta có miệt mãi học suốt cuộc đời thì cũng như chỉ là tiếp thu được một phần rất nhỏ Bác Hồ dạy: “Học ở trường, học trong sách vở; học lẫn nhau và học ở dân”. Lênin cũng từng khuyên thanh niên: “Học! Học nữa! Học mãi!”. Đó còn là những lời khuyên chí lí, chí tình có giá trị đối với mọi thời đại. Và nếu như không coi trọng việc học thì chúng ta sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của đất nước,giai đoạn mới.
Suy nghĩ về việc học của học sinh ngày nay
1,096
Đề bài: Em có suy nghĩ gì về việc học môn Lịch sử? Hãy viết bài văn ngắn nêu lên suy nghĩ của bản thân Bài làm Lịch sử là môn học mang lại nhiều tri thức và ích lợi. Đó chẳng những là môn học “ôn cố tri tân” mà còn giúp người học phát triển tư duy biện chứng. Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn: Lịch sử không phải là môn học được coi là "thời thượng”. Thứ nhất đó không phải là những ”môn chính” như Văn, Toán hay Anh. Thứ hai, đó chỉ là môn học thi trong khối c – khối thi cũng không được các bạn học sinh lựa chọn nhiều. Hay nói một cách khác, trong thời đại phần lớn các bậc phụ huynh và các bạn học sinh đang hướng đến việc học một cách thực dụng: chỉ học tập trung vào những môn chính, những môn thi tốt nghiệp, những môn thi đại học thì môn Lịch sử – dù cỏ nhiều ích lợi cũng mang một số phận hẩm hiu như nhiều môn học "phụ” khác: không được nhiều học sinh quan tâm yêu thích. Và thậm chí, có quan tâm yêu thích, nhiều người cũng không đủ dũng cảm để đi theo vì cơ hội mở ra cho môn học này quá ít ỏi. Không chỉ vậy, phương pháp dạy và học môn Lịch sử còn nhiều hạn chế chưa gợi được hứng thú của học sinh đối với môn học. Tư liệu hình ảnh còn nghèo nàn, việc lên lớp của thầy cô còn thiếu sinh động do hạn chế về đồ dùng dạy học,… Vậy nên chăng, cần có sự đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy – học bộ môn này?
Suy nghĩ về việc học môn Lịch sử
294
Đề bài: Bạn nghĩ gì về việc tự học Bài làm Ta không thể ghét sự tự học được: nó là một cuộc du lịch. J.J Ru-xô và V. Huy-gô, hai văn hào ở Pháp đều ca tụng thú đi chơi bộ. J.J Ru-xô nói: “Lúc nào muốn đi thì đi, muôn ngừng thì ngừng, muốn vận động nhiều hay ít tùy ý. Cái gì thích thì nhận xét, cảnh nào đẹp thì ngừng lại. Chỗ nào tôi thấy thú thì tôi ở lại. Hễ thấy chán thì tôi đi, tôi chỉ tùy thuộc tôi, tôi được hưởng tất cả sự tự do mà một người có thể hưởng được”. Suy nghĩ về việc tự học Còn V. Huy-gô thì viết: “Người ta được tự chủ, người ta tự do, người ta vui vẻ. Người ta đi, người ta ngừng, người ta lại đi, không có gì bó buộc, không có gì ngăn cản”. Cái thú tự học cũng giống như cái thú đi chơi bộ ấy. Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gấp trăm lần du lịch bằng chân, vì nó là du lịch trong không gian. Những hiểu biết của loài người là một thế giới mênh mông. Kể làm sao hết được những sự vật hữu hình và vô hình mà ta sẽ thấy trong cuộc du lịch bằng sách vở? Ta cũng được tự do, muốn đi đâu thì đi, ngừng đâu thì ngừng. Bạn thích cái xã hội thời Đường bên Trung Quốc thì đã có những thi nhân đại tài tả viên “Dạ minh châu” của Đường Minh Hoàng, khúc “Nghê thường vũ y” của Dương Quý Phi cho bạn biết. Tôi thích nghiên cứu đời con kiến, con sâu – mỗi vật là cả một thế giới huyền bí đây, bạn ạ – thì đã có J. H. Pha-brơ và hàng chục nhà sinh vật học khác sẵn sàng kể chuyện cho tôi nghe một cách hóm hỉnh hoặc thi vị. Đương học về kinh tế, thấy chán những con số ư thì ta bỏ nó đi mà đi coi cảnh hồ Ba Bể ở Bắc Cạn hay cảnh núi non ở Thụy Sĩ, cảnh trời biển ở Ha- oai. Hoặc không muốn học nữa thì ta gấp sách lại, chẳng ai ngăn ta cả. Ta lại được quyền lựa chọn giáo sư. Ta được học họ mà bỏ ngang, họ không hề giận, lúc khác muốn học lại thì họ vẫn sẵn sàng chỉ bảo. Giáo sư của ta nhiều vô kể, ta tha hồ lựa chọn. Họ sống đồng thời với ta hoặc trước ta cả chục thế kỉ, ở ngay trong xứ ta hoặc cách ta cả vạn cây số. Hết thấy đều tự thân đem những tinh hoa nhất của họ ra dạy ta mà đối với ta lễ phép và ôn tồn, thân mật như bạn bè. Nào phải họ chỉ dạy ta mà thôi. Họ còn an ủi ta nữa, kể lể tâm sự với ta. Ta thấy trong nỗi buồn khổ, lo lắng của họ, nỗi buồn khổ, lo lắng của ta và ta hiểu rằng chúng ta không phải cô độc trong thế giới này. […] Tự học còn là một thú vui thanh nhã, nó nâng cao tâm hồn ta lên. Ta thấy như tự bắc được một cái cầu giữa tâm hồn ta và tâm hồn của các danh nhân trong muôn thuở. Chắc bạn còn nhớ lời của Vôn-te: “Người siêng học lần lần tự khoác cho mình một cái tôn trọng mà chức tước, của cải đều không cho được”. […] Thiêng liêng thay sự tự học! Mỗi lần vào một thư viện công cộng, tôi đều có cảm giác rờn rợn mà lâng lâng như vào một tòa đền. […] Ở đây không có hương, không có trầm nhưng có hàng chục hàng trăm người đang tụng niệm, vì đọc sách có khác chi tụng kinh và sách nào đứng đắn mà chẳng là một cuốn kinh?
Suy nghĩ về việc tự học
666
Suy nghĩ về văn bản “Mẹ hiền người thầy dạy con” Hướng dẫn Gần đây, Thứ Sơn đề thơ vào bức tranh “Tiễn Tu đình dạ phỏng thu kinh đồ”: “Tân cần câu hỏa dạ đăng minh, Nhiễu tất thư thanh họa phỏng thanh. Thủ chấp nữ công, thính cú độc, Tu trì từ mầu thị tiên sinh” Bức tranh “Đêm mẹ dệt vải, con đọc sách” một kiệt tác treo trong Tiễn Tu đình. Bài tuyệt cú có nghĩa là: “Nghèo khổ, chăm chỉ trước ánh đèn thâu đêm, Vây quanh gối mẹ là tiếng đọc sách và tiếng thoi dệt vải. Tay thì cầm thoi đưa, tai thì nghe con đọc sách, Mới hay mẹ hiền chính là người thầy dạy con vậy” (Theo “Tùy viên thi thoại”- Viên Mai) * Lời bình: Tranh đã đẹp, lời thơ lại hay. “Thi trung hữu họa; họa trung hữu thi” là vậy. Cái gốc tạo nên cái đẹp của bức tranh, cái hay của bài thơ treo ở Tiễn Tu đình là gì? Đó là hình ảnh người mẹ nghèo, chong đèn thâu đêm để vừa dệt vải vừa chăm sóc việc học hành của con. Mẹ lấy gương cần cù của mình, tình thương của mình để khích lệ con biết dùi mài kinh sử, biết chăm chỉ đèn sách. Ca dao ta có nhiều câu rất hay nói về người mẹ: –“Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”… –“Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông”… Mặc dù chưa bao giờ được xem bức tranh kiệt tác “Đêm mẹ dệt vải, con đọc sách” nhưng bài thơ đề dưới bức tranh là một ý tưởng đẹp. Đặc biệt ý thơ “mẹ hiền – người thầy dạy con” đã làm cho chúng ta thấm thía về’ tình thương, đức hi sinh và công ơn trời bể của người mẹ hiền thân yêu của mỗi chúng ta.
Suy nghĩ về văn bản Mẹ hiền người thầy dạy con
300
Đề bài: Suy nghĩ của em về văn hóa giao thông Bài làm Giao thông luôn là vấn đề nan giản của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam ta, và vấn đè này còn có nhiều điều đáng nói hơn cả. Bao nhiêu số liệu về tai nạn giao thông được công bố, bao nhiêu lời cảnh báo giao thông được đưa ra, bao nhiêu biện pháp phòng ngừa được đề xuất, rất cần sự chung tay hợp tác của cộng đồng người tham gia giao thông nhưng đến nay, văn hóa giao thông vẫn là điều gây nhức nhối, cần có sự nhìn nhận, suy xét lại rất nhiều. An toàn giao thông là an toàn cho chính mình, cho gia đình, những người thân và toàn xã hội. Thực tế tình trạng giao thông luôn diễn biến vô cùng phức tạp. Các phương tiện truyền thông, báo chí, truyền hình rang rảng thông báo tình trạng, nguyên nhân rồi biện pháp giải quyết nhưng tình trạng này vẫn chưa có sự giải quyết thấu đáo nhất. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như cơ sở hạ tầng còn kém chất lượng, tuy nhiên nguyên nhân chính hơn cả vẫn là do ý thức của người dân đối với việc tuân thủ các biện pháp an toàn giao thông là vẫn rất kém – hay có nghĩa rằng văn hóa giao thông của người dân nước ta rất cần được đem ra bàn luận. Ở khía cạnh thứ hai, người tham gia giao thông có văn hóa là người có tinh thần vì cộng đồng cao. Không chen lấn xô đẩy, biết giúp đỡ các nạn nhân, giúp đỡ trẻ em người già, nhường đường cho xe cứu thương, kịp thời báo cáo đến các cơ quan có chức năng nếu phát hiện có tình trạng xấu về giao thông kể cả vấn đề liện quan đến cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, thực trạng hiên nay, một bộ phận người dân có “văn hóa giao thông” còn rất kém, đặc biệt là các bạn trẻ, tình trạng không đội mũ bảo hiểm, phóng nhạnh vượt ẩu, chở quá số người được quy định, tình trạng đi ngược chiều, cố tình đi vào đường cấm gây cản trở cho giao thông và những người có ý thức tốt trong tham gia giao thông rất nhiều. Ngay cả những vấn đề dừng đỗ xe không đúng quy định cũng gây nhiều bất cập. Cải thiện tình trạng giao thông nằm trong tầm tay mỗi người, nó có ở ý thức của mỗi người. Hãy bắt đầu từ những việc tưởng như nhỏ nhặt nhất, nhỏ bé nhất như đội mũ bảo hiểm, thắt dây an toàn khi lái các phương tiện xe máy, ô tô. Đi đúng làn đường quy định và dừng đỗ đúng làn đường quy định. Nghiêm túc chấp hành luật giao thông, không lạng lách, đánh võng, chở quá số người quy định, không uống rượi bia khi lái xe, luôn biết giúp đỡ những người tham gia giao thông khác. Bảo vệ, giữ gìn các tài sản công về cơ sở hạ tầng giao thông đường phố, giữ hìn đường phố luôn xanh, sạch, đẹp. Có ý thức nghiêm túc, tự giác thực hiện đồng thời ra sức tuyên truyền cho mọi người biết về văn hóa và các cách ứng xử khi tham gia giao thông An toàn giao thông sẽ mang lại hạnh phúc cho mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội. Mỗi người dân, nếu biết đồng lòng hành động đúng đắn và suy nghĩ thiết thực về văn hóa giao thông thì vấn đề giao thông an toàn sẽ rất dễ dàng.
Suy nghĩ về văn hóa giao thông
622
Suy nghĩ về văn hóa ứng xử của con người hiện nay Hướng dẫn Văn hóa ứng xử thể hiện sâu sắc phẩm chất đạo đức của con người Mở bài: Hằng ngày, khi đi học, đi làm, ta vẫn bắt gặp những con người tốt. Họ tận tình nhắc nhở ta về việc ta quên bật đèn xho xe máy vào ban đêm, quên gạt chông chống xe,.. Thậm chí còn ân cần giúp đỡ khi ta gặp sự cố trên đường. Ngược lại, có những người bỏ mặt làm ngơ trước những sơ xuất của người khác, buông lời khó nghe hoặc hành hung người khác chỉ cần một va chạm nhỏ hay một hành động trái ý nào đó. Mỗi cách ứng xử thể hiện một kiểu người khác nhau và bản lĩnh ứng xử của con người. Thân bài: Văn hóa ứng xử là gì? Ứng xử là thể hiện thái độ, hành động thích hợp trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác. Văn hóa ứng xử là cách xử sự tốt đẹp của con người trong cuộc sống phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và đạo lí được xã hội đã quy định hoặc công nhận. Văn hóa ứng xử sẽ bao gồm những chuẩn mực xã hội về mọi hành vi của con người như trang phục, cách nói năng, cử chỉ, ăn uống… trong quan hệ với người khác, đặc biệt là ở nơi công cộng. Những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong xã hội ngày nay: Trong quá khứ, dân tộc ta có một nền văn hóa với cung cách ứng xử vô cùng tốt đẹp. Hệ thống lễ nghi và chuẩn mực làm người tuy không được lập thành văn bản nhưng con người Việt Nam ta đã biết tuân thủ tốt các nghuyên tắc ấy. Người Việt biết sống khiêm nhường, lễ độ, hòa nhã và thân thiện. Đó cũng là nét đẹp mà các vị khách nước ngoài đánh giá về chúng ta. Có nhiều người có hành vi ứng xử văn minh, lịch sự và cao thượng khiến chúng ta kính trọng và khâm phục. Họ nhiệt tình nhắc nhở về những sơ xuất của người khác. Khi gặp người hoạn nạn, họ tận tình giúp đỡ, động viên, ủng hộ hết sức chu đáo. Không những bản thân học có hành vi ứng xử văn hóa nơi công cộng mà họ còn trở thành tấm gương sáng cho người khác noi theo. Văn hóa giao thông thật sự trở thành một mối nguy, với quyền chiếm ưu thế thuộc về những kẻ bất chấp luật lệ, khiến những người hiền lành luôn phải mang tâm lý chấp nhận thua thiệt để được yên thân, và tự nhủ “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Nhiều người chỉ vì một va chạm nhỏ mà lập tức buông lời khó nghe hoặc gây sự, hành hung người khác. Hành vi xô lấn, chèn ép, gây ồn ào trong đám đông không tuân thủ luật lệ hay tín hiệu điều khiển trở thành hiện tượng quen thuộc. Một khi văn hóa ứng xử trở nên thấp kém thì nhân cách của con người cũng xuống cấp trầm trọng. Điều nguy hại nhất là nó có thể tạo nên sự chai sạn, vô cảm trong tâm hồn người khác, khiến người khác không còn tin tưởng vào lòng tốt. vào những điều tốt đẹp vốn có trong xã hội. Tại sao phải có lối ứng xử văn hóa tốt đẹp khi ra ngoài xã hội? Mỗi cá nhân là một phần tử trong xã hội, chịu những tác động mạnh mẽ từ tập thể và cộng đồng. Nếu mỗi các nhân có lối ứng xử văn hóa tốt đẹp sẽ tạo nên văn hóa cộng đồng lành mạnh, tiến bộ. Xã hội luôn tôn trọng sự tự do lựa chọn của con người. Nghĩa là mỗi cá nhân có quyền tự do lựa chọn cách ăn mặc, lối ứng xử, ngôn ngũ, lời nói,… miễn là không làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người khác và của xã hội. Thế nhưng, không ai muốn sống trong một xã hội mất trật tự, ai muốn gì thì làm nấy. Bởi thế, ở xã hội nào cũng luôn có những nguyên tắc ứng xử phù hợp với số đông và nền văn hóa dân tộc. Tuân thủ văn hóa giao tiếp nơi công cộng thể hiện lối sống lịch sự, nhã nhặn, tôn trong người khác. Xây dựng lối ứng xử có văn hóa nơi công cộng như thế nào? Trước hết là nâng cao giáo dục đạo đức và văn hóa trong nhà trường. Nhà trường là môi trường học tập và rèn luyện tốt nhất đối với con người. Nội dung và chương trình giáo dục quyết định phần lớn sự định hình lối ứng xử cảu con người trong xã hội. Để nâng cao văn hóa ứng xử trong xã hội, cần bắt đầu điều chỉnh từ thế hệ trẻ và gốc rễ phải là từ gia đình. Vì đây mới là nơi trẻ học được những giá trị sống thật sự và những kỹ năng sống trong cuộc đời. Các bậc bố mẹ trước hết phải làm gương cho con. Thực tế cho thấy, dù hoàn cảnh xã hội có tha hóa đến đâu, nếu giữ được nếp nhà thì người trẻ sẽ có bản lĩnh đối phó với cái xấu. Con cái không giống ai bằng giống cha mẹ. Sự kế thừa các năng lực và nhân cách gia đình là quy luật tất yếu của quá trình phát triển con người. Ở những nơi công cọng như công viên, nhà hát, thư viện, trung tâm mua sắm,…. cần có quy định ứng xử rõ ràng cho cả người tham dự và nhân viên. Nếu không có cơ chế bắt buộc thi hành thì văn hóa ứng xử sẽ không thể nhân rộng, thậm chí ngày càng thui chột đi. Sự phát triển kinh tế nhanh chống khiến cho sự cập nhật thông tin của con người có nhiều thiếu sót. Các nhà văn hóa và cơ quan chức năng cần tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục đưa những quy tắc ứng xử tiến bộ và phù hợp mới đến gần hơn nữa với người dân. Mọi hành vi côn đồ, thô lỗ, bạo lực xảy ra nơi công cộng cần bị lên án và xử lí nghiêm khắc để ổn dịnh trật tự an ninh, trấn áp kẻ xấu, bảo vệ người hiền lành, tạo niềm tin vững chắc trong xã hội. Và quan trọng hơn tất cả là mỗi con người phải có ý thức ứng xử có văn hóa nơi công cộng. Cần khiêm nhường, kiên nhẫn và bao dung mỗi khi ta bước vào cuộc sống. Cuộc sống bề bộn, thật khó có sự công bằng hay lợi ích cho tất cả. Bởi thế, mỗi cá nhân biết sống vì mọi người, biết nhường nhịn, tôn trọng người khác sẽ không có những xích mích, xung đột nào xảy ra nữa. Bài học về hành vi ứng xử văn hóa nơi công cộng: Rèn luyện lối sống hiền hòa, văn hóa và lành mạnh là trách nhiệm của mỗi học sinh trước khi bước vào đời. Vật chất làm con người thoải mái trong đời sống còn văn hóa làm giá trị con người. Kết bài: Trong thời đại ngày nay, tâm lí coi trọng vật chất khiến cho văn hóa ứng xử của con người bị suy thoái nghiêm trọng. Thế nhưng, đó chỉ là giai đoạn chuyển tiếp giữa thời kì xây dựng và thời kì phát triển ổn định mà thôi. Một xã hội phồn vinh, tiến bộ và văn hóa sẽ hình thành trong tương lai nếu mỗi cá nhân đều phấn đấu xây dựng. Bởi thế, không có gì quan trọng hơn là bồi dưỡng những giá trị văn hóa tốt đẹp cho chính mình, sẵn sàng bước vào cuộc sống rộng lớn hơn.
Suy nghĩ về văn hóa ứng xử của con người hiện nay
1,331
Suy nghĩ về văn hóa ứng xử nơi công cộng của giới trẻ hiện nay Hướng dẫn r-rất hay:))) cần phát huy thêm nhiều bài để con e chúng ta được học hỏi và tìm tòi ( chúc thi đậu tuyển sinh 10 nhé các em )
Suy nghĩ về văn hóa ứng xử nơi công cộng của giới trẻ hiện nay
45
Suy nghĩ về vấn đề học sinh đối với internet ngày nay Hướng dẫn phần kết thiếu liên hệ thực tế r
Suy nghĩ về vấn đề học sinh đối với internet ngày nay
20
Suy nghĩ về vấn đề mê trò chơi điện tử mà sao nhãng học tập – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Nghị luận xã hội lớp 9 Đề bài: Nhiều bạn học sinh hiện nay vì ham mê trò chơi điện tử mà sao nhãng học tập, mắc khuyết điểm,… Ý kiến của em về hiện tượng này như thế nào? 1. Yêu cầu – Nghị luận về một vấn đề xã hội mang tính thời sự hiện nay: Hiện tượng ham mê trò chơi điện tử mà sao nhãng việc học, có người còn phạm sai lầm. – Cần đưa ra được những ý kiến đánh giá đúng về hiện tượng trên các mặt: tích cực, tiêu cực và giải pháp. – Bố cục cần cân đối giữa việc nêu mặt tích cực và tiêu cực, nhấn mạnh phần tiêu cực để phê phán và nêu giải pháp khắc phục. 2. Gợi ý – Ý kiến đưa ra nên xuất phát từ thực tế cuộc sống và qua các phương tiện truyền thông mà mình biết. – Nên đặt ra một số câu hỏi để giải quyết vấn đề một cách thấu đáo, ví dụ: + Trò chơi điện tử có gì hấp dẫn? Tại sao nó được mọi người say mê.? + Những mặt nào là lợi ích của trò chơi điện tử? + Những mặt nào là tác hại? + Hiện tượng nào cần báo động cho học sinh từ trò chơi điện tử? + Nguyên nhân của hiện tượng là gì? + Phương hướng giải quyết hiện tượng trên như thế nào? Bài viết cần có dẫn chứng minh hoạ. Cần kết hợp nghị luận với tự sự và biểu cảm. 3. Lập dàn ý a.Mở bài: Dẫn dắt vào vấn đề tại sao phải bàn về trò chơi điện tử. b. Thân bài – Thực trạng của việc phát triển trò chơi điện tử. Trò chơi điện tử phát triển mạnh, có mặt tại mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn. Số hàng dịch vụ điện tử rất nhiều. Một số học sinh ham chơi điện tử đến mức có hại sức khoẻ, bỏ học hành, kết quả học tập giảm sút. Có học sinh mải chơi bị bạn xấu rủ rê, mắc phải tệ nạn xã hội. – Nguyên nhân của những hiện tượng trên là gì? Tính hấp dẫn của trò chơi điện tử. Ý thức tự giác của mỗi học sinh chưa cao. Một số gia đình quản lí con chưa tốt. – Phương hướng giải quyết vấn đề Mỗi học sinh cần có ý thức thực hiện quy định của cha mẹ về thời gian chơi điện tử để không ảnh hưởng tới kết quả học tập Cần tránh những trò chơi không hợp tuổi, có nội dung không lành mạnh. Cha mẹ cần quan tâm đến việc chơi và học của con em mình. Chính quyền cần tổ chức nhiều hoạt động cho thiếu niên, cần quản lí dịch vụ điện tử c. Kết bài: Hãy cảnh giác với các trò chơi điện tử. 4. Bài làm minh hoa Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học và công nghệ. Chính vì vậy mà nhu cầu giải trí của con người càng tăng cao. Một trong những hình thức giải trí thu hút được số đông mọi người là trò chơi điện tử. Nhưng hiện nay, một số bạn trẻ đang quá lạm dụng trò chơi điện tử, dẫn tới những hiện tượng không hay xảy ra trong xã hội. Hậu quả của sự việc trên là: sau nhiều ngày ngồi lâu, chăm chú vào màn hình máy vi tính, sức khoẻ của nhiều người giảm sút. Nhiều bạn do ham chơi còn mắc một số bệnh như: cận thị, rối loạn thần kinh,… Thậm chí, nếu chơi quá nhiều còn có thể gây hôn mê vì thần kinh làm việc làm việc quá căng thẳng. Kéo theo đó là kết quả học tập yếu dần do dành thời gian cho các trò chơi. Điều đó không những gây phiền lòng cha mẹ và thầy cô giáo, nghiêm trọng hơn, nó đã làm suy hổng thêm vốn kiến thức mà họ đã dày công thu nhập bấy lâu. Nhưng đáng cảnh báo nhất là hiện tượng trộm cắp vặt, các hành vi thuộc nhiều loại tệ nạn xã hội. Tình trạng trộm cắp chỉ là hành động bước đầu khi nhiều người thiếu tiền chơi điện tử. Một hai lần lấy của nhà đì. Lâu dần cũng thành quen, hình thành bản tính xấu trong con người họ. Hậu quả lớn thứ hai của trò chơi điện tử là dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội. Nhưng ta biết rằng, hiện nay hình thức chơi điện tử đã cải tiến, đó là người chơi có thể giao đấu trực tiếp với đối thủ nếu cả hai đều ở trên mạng. Nhiều trò chơi hiện đại có thể gia nhập, mọi người có thể biết tới tên tuổi của nhau. Nhưng do mâu thuẫn khi chơi hay nói chuyện, hai địch thủ đối đầu nhai;, không còn qua những trò chơi mà qua thực tế. Cuộc đối đầu ấy đã trở thành một cuộc lăng mạ nhau hay thậm chí gây gổ – đối với một số đối tượng hư hỏng. Từ một một người ngoan ngoãn, hiền lành, khi quá ham mê trò chơi điện tử, rất có thể bạn sẽ trở thành một người hoàn toàn khác. Để khẳng định mình thắng thế, dù ở trong game hay thực tế, họ bất chấp, làm mọi thứ. Cho dù điều đó là phạm pháp. Hậu quả thứ ba và cũng là đáng lo ngại nhất, nếu sự việc trên tiếp diễn thì trò chơi điện tử sẽ tạo ra một thế hệ con người mới, chỉ biết ăn chơi mà không lao động. Đó là điều không thể chấp nhận đối với một nước đang rất cần sự giúp đỡ của thế hệ thành niên để có thể trở thành nước công nghiệp. Những hiện tượng không đáng có trên còn do trách nhiệm của những phụ huynh và ý thức của mỗi học sinh. Nhiều phụ huynh đã đặt toàn bộ sự tin tưởng vào con mình, chỉ biết vùi đầu vào kinh doanh kiếm tiền mà quên mất việc chăm sóc, dạy dỗ con. Thiếu sự chăm lo của bố mẹ, các bạn đã không biết điểm dừng, vô tư, yên tâm ngồi trong quán điện tử cả ngày mà không sợ bị ai bắt gặp. Nhưng không vì đổ trách nhiệm cho bố mẹ mà tuổi trẻ chúng ta không có lỗi. Do ý thức kém của mỗi học sinh khi chơi cũng như khi học, một số bạn đã mắc phải những sai lầm đáng xấu hổ. Không những coi thường môn học, các bạn còn bị rủ rê mà sao nhãng mất trách nhiệm của mình. Nếu mỗi học sinh chúng ta đều tự nhận thức được cách chơi điện tử lành mạnh, có mức độ, thì sẽ không còn tồn tại những tai tiếng. Trò chơi điện tử thật thú vị nhưng cũng có hại khi chúng ta lạm dụng nó. Và thiết thực là nhà nước nên xây dựng các trung tâm giải trí, các trò chơi dân gian để thu hút các bạn trẻ. Như vậy chúng ta có thể tránh được tình trạng gia tăng số lượng con nghiện trò chơi điện tử. Trò chơi điện tử thật hấp dẫn, nhưng tác hại mà nó đem lại là không nhỏ. Vì vậy chúng ta hãy thưởng thức nó đúng cách và đúng mực. Hãy cảnh giác với trò chơi hấp dẫn nhưng cũng không ít tai hại này. (Nguyễn Kim Chi, lớp 9A2, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Chơi trò chơi điện tử, kể cả việc chơi game (trò chơi) và chat (tán gẫu) trên mạng đang trở nên khá phổ biến trong những năm gần đây ở nước ta. Đã có không ít những “tai nạn” xảy ra với những người ham mê thái quá. Vấn đề đã được không ít các bài báo lên tiếng báo động. Bạn đã bàn đến trò chơi này một cách nghiêm túc. Một mặt phân tích mặt hấp dẫn của các trò chơi điện tử (giải trí, thư giãn, giúp tự tin, rèn luyện sự nhanh nhạy, kiên trì, bền bỉ,…). Mặt khác chỉ ra những tác hại của việc ham mê thái quá: mất thời gian, tốn tiền bạc, hại sức khoẻ, từ đấu trên mạng đến đánh nhau ngoài đời thực,… Hơn nữa, một số bạn nảy sinh tính xấu khi không có tiền chơi, khi lừa dối cha mẹ. Nhìn chung, cách đặt vấn đề đúng đắn, sự phân tích có lí, có tình ; cơ sở lập luận đúng đắn. Một bài nghị luận xã hội viết chắc tay.
Suy nghĩ về vấn đề mê trò chơi điện tử mà sao nhãng học tập – Ngữ Văn 9
1,451
Đề bài: Suy nghĩ về vấn đề tham nhũng qua truyện "Nhưng nó phải bằng hai mày" Bài làm Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện cười chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, mỗi câu chuyện đem đến cho người đọc những tiếng cười với những cung bậc khác nhau: tiếng cười hài hước, dí dỏm, tiếng cười mỉa mai, châm biếm, đả kích, có cả tiếng cười phê phán lật tẩy… Nhưng nó phải bằng hai màv là tiếng cười như một đòn roi đối với nạn tham nhũng trong việc xử kiện của bọn quan lại trong xã hội phong kiến suy tàn. Câu chuyện kể về việc hai người nông dân là Cải và Ngô đánh nhau rồi cùng nhau đi kiện. Cải sợ kém thế lót trước năm đồng, Ngò lo lót mười đồng. Khi xứ kiện thầy Lí xử nhẹ cả hai, vẫn phạt Cải chục roi. Cải xòe năm ngón tay ngụ ý nhắc thầy lí số tiền đã lo lót. Nhưng thầy Lí lấy năm ngón tay của bàn tay trái úp lên mặt của bàn tay phải, ám hiệu số quan tiền Ngò đã lo lót lớn gấp đôi. Hài hước nhất là thầy Lí còn nói: “Tao biết mày phải, nhưng nó phải bằng hai mày”. Nhưng nó phải bằng hai mày… Qua cách xử kiện và qua lời nói của thầy Lí, ta thấy trong thời phong kiến suy tàn, với nạn tham nhũng nặng nề, chân lí bị bóp méo, công lí bị thiên lệch trắng trợn. Cái chất hài hước trong nụ cười dân gian được tạo bởi nghịch lí giữa cái tính duy nhất của “lẽ phải'' với cái có thể so sánh song hành: “Mày phải, nhưng nó còn phải bằng hai mày”. Câu chuyện ở đây không chỉ dừng lại ở tiếng cười hồn nhiên nữa mà đó là tiếng cười đả kích và châm biếm, tiếng cười như một đòn roi quất thẳng vào mặt bọn quan lại, công lí không có chỗ đứng trong, tiền bạc trở thành một vũ khí sắc nhọn nhất trong mọi mối quan hệ. Qua việc xử kiện, ta thấy được bộ mặt nhơ nhuốc của thầy Lí nói riêng và của bọn quan lại nói chung, đó là tệ tham nhũng, là nạn đục khoét những người dân nghèo vô tội. Đúng như lời của một bài ca dao xưa: “Con ơi,nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” Tuy nhiên, Cải và Ngô đáng thương song thật đáng giận. Trước thực tế hai người đánh nhau, cả hai đều muốn đổ tội cho nhau nên mới cùng đến hối lộ thầy Lí mong giảm tội cho mình, đổ tội cho người. Thế cho nên mới nảy sinh thói xấu của quan tham, tạo điều kiện cho thói đục khoét. Nhưng quan trọng hơn, là chính những người bình dân này đã tạo ra cái cảnh đổi trắng thay đen: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”. Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang nêu cao tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sống trong sạch, giản dị, chí công vô tư. Chúng ta đang tích cực đấu tranh chông tham nhũng. Đây là một cuộc chiến gian nan, trường kì và vô cùng phức tạp, đòi hỏi tất cả mọi người, từ thầy Lí đến Cải và Ngô, từ lãnh đạo đến nhân dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Hơn bao giờ hết, nhân dân ta đều đã hiểu rằng, nếu không đẩy lùi được nạn tham nhũng thì chẳng những kinh tế đất nước không thoát được khỏi đói nghèo, mà lẽ phải, sự thật, công lí đều bị bóng đen của đồng tiền bao phủ. Là học sinh, chúng ta cũng phải sớm có ý thức chống tham nhũng, xây dựng xã hội Việt Nam trong sạch và văn minh.
Suy nghĩ về vấn đề tham nhũng qua truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày”
645
Suy nghĩ về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng Đề bài: Suy nghĩ về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí. – Vấn đề cần bàn luận là “Thanh niên phải sống có lí tưởng”. – Bài viết cần có luận điểm rõ ràng, luận cứ đầy đủ và lập luận rành mạch. – Cần trình bày được những suy nghĩ về lí tưởng sống cao đẹp, phê phán cuộc sống tầm thường, ích kỉ, cá nhân và nêu lên lí tưởng sống cho thanh niên. 2. Gơi ý – Cần làm rõ lí tưởng sống là gì, vì sao cuộc sống lại phải có lí tưởng ; lí tưởng sống như thế nào được coi là tiến bộ, tốt đẹp? Những biểu hiện nào là trái với lí tưởng sống tốt đẹp? – Trong bài viết cần làm cho mọi người biết về những tấm gương có lí tưởng sống cao đẹp. – Những suy nghĩ về “lí tưởng sống” và phương hướng phấn đấu của bản thân. – Cần kết hợp nghị luận với các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm một cách thích hợp. 3. Lập dàn ý (dàn ý chung) a. Mở bài: Lí tưởng sống và cuộc đời của mỗi con người. b. Thân bài – Lí tưởng sống là gì? Vì sao con người cần sống có lí tưởng? – Suy nghĩ của người viết về cuộc sống có lí tưởng. – Những tấm gương về cuộc đời những người có lí tưởng sống cao đẹp. – Phê phán cách sống ích kỉ, cá nhân của những người không có lí tưởng. c. Kết bài: Suy nghĩ về việc phấn đấu cho lí tưởng sống phục vụ cho đất nước và dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay. 4. Bài làm minh hoa Nhà văn Pháp Đ. Đi-đơ-rô từng quan niệm: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu như mục đích bình thường”. Đây là một quan niệm đúng và rất phù hợp vói thế hệ trẻ Việt Nam. Là thanh niên, phải có lí tưởng sống cao đẹp. Vậy lí tưởng là gì? Theo tôi, lí tưởng chính là mục đích sống. Nói đến lí tưởng có nghĩa là nói đến mục đích sống cao đẹp. Lí tưởng sống cao đẹp là lí tưởng sống mình vì mọi người. Mỗi một con người muốn sống có ý nghĩa phải sống có mục đích, có lí tưởng cao đẹp. Lí tưởng của người thanh niên Việt Nam trong những giai đoạn cách mạng vừa qua là sống chiến đấu để bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các lớp thanh niên Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ vừa qua thực sự đã trở thành mũi nhọn xung kích – lực lượng tiên phong của cách mạng giải phóng dân tộc Họ đã tham gia nhiệt tình vào cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, họ đã “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lại”. Hạnh phúc cao đẹp nhất là được sống chiến đấu và hi sinh cho cách mạng. Chính vì sống có lí tưởng cao đẹp vì sự nghiệp chung cho nên nhiều thế hệ Việt Nam dù “bình thường” nhưng rất “vĩ đại”. Tại sao sống cần lí tưởng và lí tưởng sống phải cao cao đẹp? Bởi vì con người luôn muốn sống hạnh phúc, và hạnh phúc là cả cuộc đời. Có những hạnh phúc bình thường như ăn ngon, mặc đẹp, vợ hiền, con ngoan, bạn tốt,… và hạnh phúc có thể đến từ gia đình, tiền bạc, bạn bè, cha mẹ, người yêu. Lí tưởng sống của đời người chỉ có chừng ấy cũng từng đã khiến con người ta phải cố gắng, mưu cầu mà có được! Nhưng có những lí tưởng sống rất tầm thường của kẻ có mong muốn có nhiều tiền, có sự giàu sang để trấn áp, để khinh rẻ kẻ khác, dùng đồng tiền để khuynh đảo người xung quanh. Lí tưởng sống như vậy dễ dàng làm bạn với tội ác, với cái xấu. Muốn sống đẹp phải có lí tưởng sống cao đẹp. Người có lí tưởng sống cao đẹp thường rất hạnh phúc khi hi sinh cho người khác, hạnh phúc bởi được cống hiến cho cuộc đời chung. Điều vĩ đại mà Anh-xtanh, Ê-đi-xơn, Pát-xtơ, đặc biệt là Các Mác, Lê-nin, Hồ Chí Minh, hay Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… làm được cho hậu thế chắc chắn đã được nuôi dưỡng trong tâm huyết họ lí tưởng sống thật cao cả cho muôn người! Lí tưởng là lẽ sống của cuộc đời. Lí tưởng phải cao đẹp thì tâm hồn mới thanh cao và hành động phi thường! Lí tưởng cao cả, đẹp đẽ của con người là điều kiện để con người sống có ý nghĩa và sống xứng đáng. Trên cơ sở đó, chúng ta có. quyền phê phán đối với những mưu cầu đời sống tầm thường: sống chỉ được muốn hưởng thụ vật chất, sống ích kỉ chỉ lo cho mình và không quan tâm đến hạnh phúc của kẻ khác. Trong cuộc đời mỗi con người, lí tưởng sống – lẽ sống cuộc đời – được hình thành rõ ở tuổi thanh niên. Tố Hữu nói: Thành niên phải biết ước mơ và hành động! Và cũng chính nhà thơ ở cái tuổi học trò đã gặp được “mặt trời chân lí’ – lí tưởng cách mạng, lí tưởng sống cao đẹp khiến nhà thơ cảm thấy trái tim “bừng nắng hạ”, thấy tâm hồn là “vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim”. Lí tưởng sống cách mạng đã cho nhà thơ một quan niệm sống mới “Tôi buộc hồn tôi với mọi người – Để tình trang trải với muôn nơi – Để hồn tôi với bao hồn khổ – Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”,… Hay nói như người thanh niên Nga Pa-ven Coóc-sa-ghin, lí tưởng sống cao đẹp chính là biết sống có mục đích chân thành mà vô cùng cao cả “Tôi muốn cống hiến cho cách mạng đến tế bào sống cuối của đời mình”. Ở Việt Nam có rất nhiều những tấm gương sống theo lí tưởng sống cao đẹp. Đó là Lí Tự Trọng, người thanh niên cộng sản trẻ tuổi, đã sớm nhận ra “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không có con đường nảo khác!” và đã đi theo con đường phấn đấu và hi sinh cho công cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc. Người thợ điện Nguyễn Văn Trỗi cũng sớm nhìn thấy “Lí tưởng sống của đời tôi là hạnh phúc của đồng bào tôi. Còn thằng giặc Mĩ thì không ai có hạnh phúc nổi cả…” và anh đã chọn hướng đi cho cuộc đời là đấu tranh giải phóng miền Nam khỏi ách đô hộ của đế quốc Mĩ. Lí tưởng sống cao đẹp có nhiều biểu hiện khác nhau nhưng chung quy lại, sống có lí tưởng nghĩa là biết sống vì hạnh phúc của con người. Có khi nó là sự cống hiến bền bỉ, miệt mài trên vùng núi cao hơn nghìn mét nơi lặng lẽ Sa Pa để đo độ nắng, độ gió. để tìm ra một giống cây mới. Cũng có khi đó là một nguyện ước được “lặng lẽ dâng cho đời” những sức lực của con người với những việc làm nho nhỏ nhưng có ý nghĩa: Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến. (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ) Chính vì thế đã là thanh niên là phải biết tìm và tìm được lí tưởng sống cao đẹp cho cuộc đời mình. Tương lai của tuổi trẻ hôm nay – những người chủ nhân đất nước sắp tới – tuỳ thuộc vào sự khẳng định lí tưởng sống của tuổi trẻ Việt Nam. Đất nước còn nghèo, dân ta còn lạc hậu, nếu tha thiết với cuộc đời chung thì ắt hẳn mỗi chúng ta phải biết sống, học tập, lao động và chiến đấu quên mình. Lời nói của Đ. Đi-đơ-rô như nhắc nhở mỗi người biết chọn lẽ sống cao đẹp. Mỗi con người hôm nay dù ở vai trò xã hội nào, cũng sẽ hiểu sâu xa đất nước và dân tộc làm gì, ta phải làm gì! Cảm ơn những tấm gương sống cao đẹp của từng vĩ nhân kim cổ – những tấm gương đẹp về mục đích sống cho chúnig em noi theo. Là chủ nhân của đất nước ngày mai, thế hệ trẻ chúng em quyết tâm hướng cuộc đời vào xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng to đẹp hơn” bằng hành động cống hiến chân thành của mình. (Nguyễn Bảo Nguyên, lớp 9H2, Trường THCS Trưng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Lí tưởng sống là một vấn đề không dễ luận bàn, mặc dù người nào cũng phải sống có lí tưởng, hay nói hẹp hơn là sống có mục đích, sống theo phương châm nhất định. Bạn đã chỉ ra rằng mỗi con người có thể chọn một cách sống, một lí tưởng để theo đuổi. Nhưng lí tưởng sống đúng đắn, tiến bộ và tích cực là sống cho mình và sống cho mọi người. Trong hoàn cảnh cụ thể, có khi phải hi sinh cuộc sống riêng vì lợi ích chung. Ví dụ như thời chống Mĩ cứu nước, việc hi sinh vì độc lập, vì tự do của dân tộc là lí tưởng của mọi người.
Suy nghĩ về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng – Ngữ Văn 9
1,640
Đề bài: Nêu suy nghĩ của em về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng. Bài làm Nhà văn Pháp Đ.Đi-đơ-rô từng quan niệm: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu như mục đích bình thường.” Đây là một quan niệm đúng và rất phù hợp với thế hệ trẻ Việt Nam. Là thanh niên, phải có lí tưởng sống cao đẹp. Lí tưởng của người thanh niên trong những thế hệ cách mạng vừa qua là sống chiến đấu để xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Thanh niên thực sự đã trở thành mũi nhọn xung kích- lực lượng tiên phong của cách mạng giải phóng dân tộc. Hạnh phúc cao đẹp nhất là được sống chiến đấu và hi sinh cho cách mạng. Chính vì sống có mục đích, mục đích cao đẹp vì sự nghiệp chung cho nên nhiều thế hệ Việt Nam dù “bình thường” nhưng rất “vĩ đại”. Chúng ta đã từng gặp họ trong các tác phẩm văn học. Đó là anh thanh niên một mình lặng lẽ làm việc và cống hiến cho đất nước trên đỉnh núi Yên Sơn – Sa Pa. Đó là các chàng trai nông dân dám từ bỏ hạnh phúc riêng để cầm súng bảo vệ Tổ quốc trong bài Đồng chí. Đó là những người lính lái xe ra trận vẫn lạc quan, ung dung “buồng lái ta ngồi” dù xe không có kính. Tại sao sống cần mục đích và mục đích phải cao đẹp? Bởi-vì con người luôn muốn sống hạnh phúc, và hạnh phúc là cả cuộc đời. Có những hạnh phúc bình thường như ăn ngon, mặc đẹp, vợ hiền, con ngoan, bạn tốt., và hạnh phúc có thể đến từ gia đình, tiền bạc, bạn bè, cha mẹ, người yêu. Mục đích của đời người chỉ có nhường ấy cũng từng đã khiến ta phải cố gắng, mưu cầu mà có được! Nhưng có mục đích rất tầm thường của kè mong muốn có nhiều tiền, có sự giàu sang để trấn áp, đế khinh rẻ kẻ khác, dùng đồng tiền để khuynh đảo người xung quanh. Mục đích sống như vậy dễ dàng làm bạn với tội ác, với cái xấu. Muốn sống đẹp phải có mục đích sống cao đẹp. Kẻ có mục đích cao đẹp thường có hạnh phúc khi hi sinh cho người khác, hạnh phúc bởi được cống hiến cho cuộc đời chung. Điều vĩ đại mà Einsten, Edỉcon, Pasteur, những Marx, Lênin, Hồ Chí Minh hav cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… làm được cho hậu thế chắc chắn đã được nuôi dưỡng trong tâm huyết họ mục đích thật cao cả cho muôn người! Mục đích là lẽ sống của cuộc đời. Mục đích phải cao đẹp thì tâm hồn mới thanh cao và hành động phi thường! Mục đích cao cả, cao đẹp của người là điều kiện để sống và sống xứng đáng. Chúng ta có biết phê phán trên cơ sở đó, đối với những mưu cầu đời sống tầm thường: sống chỉ được muốn hưởng thụ vật chất, sống ích kỉ chỉ lo cho mình và không quan tâm đến hạnh phúc của kẻ khác. Thường thì mục đích – lẽ sống cuộc đời – hình thành rõ đối với thanh niên. Tố Hữu nói: Thanh niên phải biết ước mơ và hành động. Từ đo, ta biết ngợi ca mục đích sống cao cả của thanh niên như Paven c lucsaghin “Tôi muốn cống hiến cho cách mạng đến tế bào sống cuối của đời mình”; như Lí Tự Trọng nói “Con đường của thanh niên chỉ có thế là con đường cách mạng chứ không có con đường nào khác!” hay anh Trỗi phát biểu “lí tưởng sống của đời tôi là hạnh phúc của đồng bào tôi. Còn thằng giặc Mĩ thì không ai có hạnh phúc nổi cả..”; hay như lời tâm nguyện của nhà thơ Thanh Hải: “…Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến…” (Thanh Hải) Chính vì thế đã là thanh niên là phải biết tìm và tìm được mục đích sống cao đẹp cho cuộc đời mình. Tương lai của tuổi trẻ hôm nay – những người chủ nhân tương lai đất nước sắp tới – tùy thuộc vào sự khẳng định, vào mục đích của cuộc đời tuổi trẻ Việt Nam. Đất nước còn nghèo, dân tộc còn lạc hậu, nếu tha thiết với cuộc đời chung thì ắt hẳn mỗi chúng ta phải biết sống học tập, lao động và chiến đấu quên mình. Lời nói của Đ.Đi-đơ- rô như nhắc nhở mỗi người biết chọn lẽ sống cao đẹp. Mỗi con người hôm nay dù ở vai trò xã hội nào, cũng sẽ hiểu sâu xa đất nước và dân tộc làm gì ta phải làm gì! Cảm ơn những tấm gương sống cao đẹp của từng vĩ nhân kim cổ – những tấm gương đẹp về mục đích sống cho chúng em noi theo. Là chủ nhân của đất nước ngày mai, thế hệ trẻ chúng em quyết tâm hướng cuộc đời vào xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, bằng hành động cống hiến chân thành của mình.
Suy nghĩ về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng
887
Suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và tương lai đất nước qua Top 10 từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất tại Việt Nam năm 2016. Hướng dẫn Tuổi trẻ và và vấn đề sử dụng internet Mở bài: Google là tên một công ty Internet có trụ sở tại Mỹ, được sáng lập bởi Larry Page và Sergey Brin. Google đồng thời cũng là một công cụ tìm kiếm thông tin được kết nối toàn cầu. Đây là công cụ tìm kiếm được đánh giá là hữu ích và mạnh mẽ nhất thế giới hiện nay. Google đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực của thế hẹ trẻ ngày nay. Thân bài: Cuối năm 2016, Google công bố danh sách tìm kiếm nổi bật trên Google tại Việt Nam. Tựa game giải trí “Slither” (rắn săn mồi) đứng top 1 danh sách này. Trò Slither được mô phỏng theo game Rắn săn mồi vốn rất quen thuộc với mọi người, nhưng có thêm các tính năng mới như game thủ có thể tương tác với người chơi trên khắp thế giới để tạo ra các tình huống ganh đua thú vị. Tiếp đó, từ khóa Vietlot, một chương trình sổ số điện tử vừa mới xuất hiện trong thời gian gần gây đã không ngừng gây bão trên các trang mạng với giải thưởng lên tới vài chục tỉ đồng thu hút nhiều sự chú ý, đặc biệt là vào những kì xổ số có giá trị tiền thưởng cao. Nằm trong danh sách này còn có các từ khóa như: Euro 2016, Chúng ta không thuộc về nhau, Phía sau một cô gái, Pokemon Go,Vietlott, Minh Béo, Hậu duệ mặt trời, Vợ người ta, thức danh hài. Nhìn vào danh sách các từ khóa và tin tức được tìm kiếm nhiều nhất năm 2016, ta có thể nhận thấy xu hướng quan tâm của người Việt Nam thiên về tính giải trí cao. Trong số các từ khóa và tin tức được tìm kiếm nhiều nhất có 3 bài hát, 2 trò chơi, 1 bộ phim nước ngoài, 1 chương trình truyền hình, 1 loại hình số, 1 giải bóng đá châu Âu và một nhân vật tai tiếng. Phần tin tức nổi bậc bao gồm: 1 tin thời sự về thiên tai, 1 tin giáo dục, 2 tin chính trị, 1 tin bóng đá, 1 tin loại hình số, 1 tin sự kiện, 1 tin nhân vật nổi tiếng, 1 tin nhân vật tai tiếng, 1 tin xã hội. Top 10 tin tức quốc tế được tìm kiếm nhiều nhất 2016 cũng được liệt kê xoay quanh các vấn đề về sự kiện bóng đá, tình hình chính trị, bệnh dịch: Lịch thi đấu Euro 2016, Olympic Rio 2016, Bầu cử Tổng thống Mỹ, Ngày tận thế, Siêu trăng, Tình hình Syria, Virus Zika, Iceland, Black Friday, Futsal World Cup. Xu hướng quan tâm của giới trẻ: Có thể thấy, vấn đề quan tâm lớn nhất của giới trẻ hiện nay là nhưng tin tức mang tính giải trí, tin tức giật gân, sự kiện đình đám nhằm thỏa mãn tính tò mò, hiếu kì. Không có một từ khóa hay tin tức nào thuộc lĩnh vực kinh tế nằm trong Top mặc dù chương trình khởi nghiệp và năm 2016 là năm quốc gia khởi nghiệp được nhà nước phát động mạnh mẽ cũng không được giới trẻ quan tâm nhiều. Mức độ tìm kiếm các từ khóa về lĩnh vực giáo dục cũng hết sức hạn chế. Tuổi trẻ ngày nay chỉ quan tâm đến thi cử, không hề quan tâm đến các vấn đề và chương trình học tập nhằm nâng cao tri thức quốc gia dù các tổ chức giáo dục và chương trình học tập tiến bộ đang ồ ạt tiến vào Việt Nam. Số liệu tổng kết của Google phản ánh một cách chân thực bộ mặt xã hội Việt Nam qua một năm dựa trên các dữ liệu tìm kiếm. Rõ ràng nó không thể phản ánh toàn diện những gì đang diễn ra ở nước ta nhưng cũng đủ cho chúng ta thấy xu hướng phát triển của thế hệ trẻ hôm nay. Dù rằng mức độ hòa nhập kinh tế và văn hóa của nước ta diễn ra rất mạnh mẽ, thanh niên Việt Nam được đánh giá là năng động, sáng tạo, giàu khát vọng. Thế nhưng, vẫn còn một bộ phận đông đảo các bạn trẻ tuổi lười biếng, ít quan tâm đến công việc, lo hưởng thụ đời sống vật chất dễ bị thu hút bởi các chương trình giải trí đơn thuần. Mặt khác, nhu cầu giải trí, hưởng thụ của con người được đề cao chứng tỏ con người trong xã hội có nhiều nỗi lo về vấn đề khác như: chính trị, quân sự, kinh tế,…Nhưng những thông tin trên phần nào phản ánh lối sống đơn giản hời hợt, chú trọng đến nhu cầu giải trí thực dụng của cá nhân hơn là những vấn đề có ý nghĩa nhân văn, cao cả, có tầm ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội… Trong thời gian gần đây, nhà nước bắt đầu quan tâm đến việc quản lí và định hướng các cơ sở dữ liệu, hạn chế, kiểm soát và loại bỏ những thông tin mang tính đồi trụy, bạo lực, phản cảm, thù địch,… và khuyến khích, tăng cường những thông tin hữu ích nhằm giúp thanh niên thông qua trang mạng có những nhận thức hữu ích và định hướng rõ ràng, nâng cao tư tưởng và bản lĩnh sống. Cần phải làm gì để sống đúng với xu hướng chung của thời đại: Tuy nhiên, ngoài công cụ tìm kiếm Google, tại Việt Nam cũng còn có nhiều công cụ tìm kiếm và các trình duyệt tương tác khác. Sự tổng kết của Google chỉ phản ánh một phần lượng thông tin đang thịnh hành tại nước ta. Hiện nay, hầu hết tuổi trẻ Việt Nam đang hăng say học tập và lao đông, không ngừng sáng tạo và tìm kiếm một hướng đi cho riêng mình trong xu hướng số hóa toàn cầu. Tấm gương của Nguyễn Hà Đông thành công với công ty lập trình game không những đạt được thành công lớn mà còn khiến cho thế giới phải ngỡ ngàng về sức sáng tạo của tuổi trẻ Việt Nam. Nhiều thành niên khác cũng đồng loạt thành công khi khởi nghiệp với công việc nuôi cấy đông trùng hạ thảo, mở website bán hàng, nghiên cứu công nghệ, sản xuất sản phẩm nông nghiệp an toàn,… Tất cả đã gây được cảm hứng to lớn cho những ai chưa thành công và không ngừng nuôi dưỡng ước vọng. Tuổi trẻ ngày nay cần sống có ước mơ, hoài bão và lý tưởng cao đẹp. Hãy chăm chỉ học tập và không ngừng rèn luyện bản thân đử nghị lực sẵn sàng vượt qua khó khăn thử thách vươn lên làm giàu, cống hiến sức mình xây dựng quê hương đất nước. Kết bài: Tuổi trẻ ngày nay hãy quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng của đất nước, mang tính nhân văn sâu sắc để sống có trách nhiệm với bản thân, với đồng bào, với đất nước. Tương lai của đất nước phụ thuộc vào tuổi trẻ hôm nay. Bởi thế, những gì các bạn rèn luyện hôm nay sẽ trở thành sức mạnh ở ngày mai. Tương lai của các bạn góp phần tạo dựng và quyết định tương lai của đất nước.
Suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và tương lai đất nước qua Top 10 từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất tại Việt Nam năm 2016.
1,254
Suy nghĩ về vấn đề tình yêu trong lứa tuổi học sinh ngày nay Hướng dẫn Thầy có thể làm một bài văn để mở rông ý nghĩa của câu nói này không ạ! Câu nói là:” Kẻ mạnh không phải là kẻ thắng, kẻ thắng mới là kẻ mạnh “
Suy nghĩ về vấn đề tình yêu trong lứa tuổi học sinh ngày nay
48
Trong cuốn “Dagestan của tôi”, nhà thơ Nga Raxun Gamzatop có viết: “Những chiếc bình đẹp nhất Nặn từ đất bình thương Như câu thơ đẹp nhất Từ những chữ bình thường” Ý thơ đã gợi cho anh chị suy nghĩ về vẻ đẹp của ca dao. Bài viết văn của bạn Thuỷ Vy đến từ Huế gửi đến ban biên tập website. Bài làm Grandi từng khẳng định: “Không có nghệ thuật nào là không hiện thực”. Cuộc sống là nơi bắt đầu và là nơi đi tới của văn chương. Hơn bất cứ một loại hình nghệ thuật nào, văn học gắn chặt với hiện thực cuộc sống và hút mật ngọt từ nguồn sống dồi dào đó. Văn học và đặc biệt là ca dao bắt rễ từ hiện thực nhưng được thể hiện qua ngôn từ- yếu tố đầu tiên, yếu tố thứ nhất của văn học. Như nhà thơ Nga Raxun Gamztop từng viết: “Những chiếc bình đẹp nhất Nặn từ đất bình thương Như câu thơ đẹp nhất Từ những chữ bình thường”. Những chiếc bình trị giá hàng chục triệu, vài trăm ngàn đola vẫn được nặn từ đất bình thường- thứ đất thô, có sẵn trong tự nhiên. “câu thơ đẹp nhất” là những câu thơ phải đọng lại cảm xúc trong lòng độc giả. Mượn cách diễn đạt hình ảnh, lối nói so sánh, Raxun Gamzatop đã khẳng định: Nếu như những chiếc bình gốm đẹp nhất được nhào nặn từ đất bình thường, thì ca dao dân gian cũng như vậy. Bản thân nó đã tự dâng hiến cho đời những áng thơ vô giá được chưng cất nên bởi những con chữ rất bình thường. Nhưng cũng bởi những con chữ giản dị ấy mà ca dao được nhiều người biết đến, truyền tải những thông điệp không hề “bình thường”, mà mang những nội dung trong sáng, cao quý vô ngần. Những chiếc bình đẹp nhất Nặn từ đất bình thương Như câu thơ đẹp nhất Từ những chữ bình thường Tại sao ca dao lại là những câu thơ đẹp nhất? Sáng tác thơ nói chung và ca dao nói riêng chính là để thể hiện những tư tưởng, tình cảm, những ước mơ, khát vọng người cầm bút. Thơ là tiếng nói của tình cảm khi tình cảm ấy ở độ sâu sắc, mãnh liệt nhất. Ca dao cũng nằm trong quy luật cảm xúc ấy. ca dao bắt rễ từ lòng người, ca dao đã thể hiện trực tiếp những yêu thương, sướng vui, đau khổ của người bình dân trong cuộc sống trăm đắng ngàn cay dưới xã hội xưa. Đó là những câu ca dao vô cùng quen thuộc: Tay nâng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau. Hay: Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre vừa đủ lá đan sàng nên chăng? Ca dao là “Thơ của mọi nhà” (Xuân Diệu). Ca dao là những tượng đài ngôn từ bất hủ về tâm hồn, trái tim, tài năng của nhân dân. Ngôn ngữ của ca dao – dân ca là lời đề tựa rất sinh động cho tư duy, tâm hồn, ngôn ngữ của nhân dân các miền trên Tổ quốc. Chịu tác động của những đặc trưng của văn học dân gian, trực tiếp nhất là tính tập thể, tính truyền thống, ca dao là những câu thơ đẹp nhất bởi ca dao là sáng tác của tập thể nhân dân, và những gì chỉ là tiếng nói tình cảm chung của tất cả mọi người, những gì hướng đến vẻ đẹp nhân văn nhất mới được lưu truyền đến muôn đời. Tôi xin trích ý của Xuân Diệu : Ca dao – dân ca Bắc Bộ như “hòn đá lăn vạn năm được trau chuốt” và do đó “hơi thơ thoải mái ngọt ngào, như không còn khập khiễng chỗ nào nữa.” Phải chăng vì vậy mà qua bao đổi thay, ca dao vẫn còn mãi, tồn tại như những vết khắc trong trái tim muôn người, muôn đời. Sức sông trường cửu của những áng thơ- ca dao là minh chứng rõ nhất cho vẻ đẹp nhân văn của thể loại này. Làm thế nào để biết đó là tiếng nói tình cảm chung của tất cả mọi người, ngoài việc ca dao được ghi nhớ và lưu truyền lâu dài, có một con đường đặc biệt đi bằng cảm xúc, dùng trái tim và tâm hồn mình để nhận ra. Vì đi từ tâm hồn này sang tâm hồn khác, từ trái tim này tới trái tim khác nên ca dao được biết đến rộng rãi, sức sống là vĩnh cửu. Cùng là ca dao nhưng ca dao mỗi miền lại có sự khác nhau. Ca dao Nam Bộ không thiếu những câu óng ả, chải chuốt, nhưng mức độ và liều lượng không nhiều như trong ca dao Bắc Bộ. Khác với ca dao Bắc Bộ đã đạt đến hình thức cổ điển trong các phương tiện và hình thức diễn tả, nhiều câu ca dao Nam Bộ như những lời nói nôm na, câu nói trong sinh hoạt hằng ngày đi thẳng vào. Tính cách, cách sống của người Nam Bộ góp phần không nhỏ làm cho ngôn ngữ sinh họat đời thường hoạt động mạnh mẽ hơn ngôn ngữ thi ca trong ca dao. do tác động của môi trường diễn xướng trên sông nước, đồng ruộng mênh mông, mỗi dòng thơ của những câu hò chèo ghe, hò cấy, v.v… có thể kéo rất dài từ 9 đến hơn 20 âm tiết, vần và nhịp của các âm tiết đó có vẻ khá trúc trắc nhưng tạo ấn tượng rõ rệt: Anh xách cây mác nhỏ anh ra trước ngõ đốn cây tre đỏ làm cái thang nhỏ bắc từ ngõ anh đến ngõ em Hay: Tay anh gõ cắc cắc, anh ngoắc em ra Em nói: Em thương anh em đợi em chờ Sao anh bối rối như cờ bị vây? Nói cho cùng, những câu ca dao đều bắt nguồn từ lời ăn tiếng nói của nhân dân nên vô cùng bình dị nhưng mức độ đặc tả của ngôn ngữ ca dao rất cao. Nghệ sĩ dân gian luôn đi vào chính mình, gợi ra những “tài nguyên” thi ca của tâm trạng. Con người như muốn nói đến đáy, đến tận cùng các trạng thái cảm xúc bằng những từ ngữ ngỡ như không gì giản dị hơn, nhưng có sức tác động mạnh mẽ. Nói được như thế mới khỏi bứt rứt, cô đơn mới đủ lớn, nỗi niềm mới đủ thành hình : Tui than với anh hết sức, tui cũng dứt hết mình Thiếu điều cắt ruột trao cho mình, thấy chưa? hay: Đau tương tư đắp chiếu nằm liều Chờ em không tới bốn giờ chiều anh tắt hơi. Ca dao có rất nhiều cách diễn đạt các trạng thái tình cảm phong phú, tinh tế trong tâm hồn con người. Có nỗi nhớ thương được diễn tả trực tiếp: “Tôi thương người ấy nhiều nhiều Người ấy thương lại bao nhiêu mặc lòng.” Có nỗi nhớ được so sánh trực tiếp bằng sự cụ thể hóa, vật chất hóa các trạng thái tình cảm vốn ở dạng trừu tượng: Như đứng đống lửa như ngồi đống than”. Bài ca dao “Khăn thương nhớ ai này lại có nét riêng, độc đáo trong cách diễn tả. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét: “Tôi cho đây là một trong những bài ca dao hay nhất Việt Nam”. Nét độc đáo của bài ca dao này là lối biểu đạt vừa giản dị, kín đáo vừa tinh tế sâu sắc, sử dụng ngôn từ vừa giản dị vừa tinh tế. Nhân vật trữ tình trong bài ca dao “Khắn thương nhớ ai” là cô gái đang ở trong tâm trạng thương nhớ người yêu khôn nguôi. Cô gái đã mượn những hình ảnh biểu tượng “khăn, đèn, mắt” để bộc lộ nỗi niềm thương nhớ da diết của mình. Gắn liền với các hình ảnh biểu tượng này là các thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, hoán dụ và phép lặp. Nhờ những thủ pháp nghệ thuật đó mà nỗi nhớ của cô gái hiện lên thật xúc động. Không phải ngẫu nhiên bài ca dao này được người ta nhớ đến với tên gọi “Khắn thương nhớ ai”. Hình ảnh chiếc khăn ấy không chỉ là biểu tượng khơi nguồn nỗi nhớ thương của cô gái mà còn là hình ảnh được lặp lại nhiều nhất “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt” Trong cuộc sống của người xưa, khăn thường là vật trao duyên, vật kỉ niệm: “Nhớ khi khăn mở, trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Trong bài ca dao này khăn luôn quấn quýt bên người con gái như chia sẻ với họ trong nỗi niềm thương nhớ. Sáu lần từ “khăn” và ba lần câu “khăn thương nhớ ai” được láy lại như một điệp khúc bất tận, thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết. Dường như mỗi một lần hỏi là nỗi nhớ lại thêm trào dâng mãnh liệt. Hình ảnh vận động trái chiều nhau của chiếc khăn (rơi xuống đất/ vắt lên vai) cho thấy tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò của cô gái. Nỗi nhớ trong sáu dòng thơ đầu lan tỏa vào không gian, đến 4 dòng thơ tiếp theo lại xuyên suốt theo thời gian. Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm: Đèn thương nhớ ai Mà đen không tắt Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya vò võ canh tàn, và cái đốm lửa đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Ngọn đèn không chịu tắt, nỗi nhớ cứ da diết khôn nguôi. Cũng như chiếc khăn, ngọn đèn đã giúp co gái thổ lộ nỗi lòng. Nhưng dù gợi cảm bao nhiêu, thì chiếc khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp. Đến khi không kìm lòng được nữa cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình: Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên Thương nhớ đến không ngủ được, cứ trằn trọc thao thức là cách biểu lộ quen thuộc trong ca dao: “Đêm nằm lưng chẳng tới giường Trông cho mau sáng ra đường gặp anh.” Cũng la một tâm trạng ấy, nhưng trong bài ca này, hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảm sâu xa nhiều hơn. “Mắt ngủ không yên” tạo nên một đối xứng rất đẹp với “đèn không tắt” ở trên, gợi lên một cảnh tượng rất thực: cô gái giữa đêm khuya một mình đối diện với ngọn đèn mà nhớ thương người yêu. Vì “mắt ngủ không yên” nên “đèn không tắt”. Nói đèn, nói mắt cũng chỉ là để nói người mà thôi. Vì “mắt ngủ không yên” nên “đèn không tắt”. Nói đèn, nói mắt cũng chỉ là để nói người mà thôi. Ngọn đèn soi chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi nhớ thương vời vợi, khôn nguôi. Mười dòng thơ là năm câu hỏi không có lời đáp được viết theo lối vắt dòng. Điệp khúc “thương nhớ ai” trở đi trở lại như xoáy vào một nỗi niềm khắc khoải, da diết. Nỗi nhớ người yêu được bộc lộ một cách kín đáo mà gợi cảm sâu sắc, mãnh liệt. Nỗi nhớ người yêu ấy bắt nguồn từ tình yêu chân thành, tha thiết của cô gái dành cho chàng trai. Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi không yên một bề Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dạp, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát, nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giãi bày niềm lo âu của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ “lo” được điệp đi điệp lại tới hai lần. Sống trong xã hội phong kiến xưa phụ nữ là những người thấp cổ bé họng nhất, chịu nhiều bất hạnh nhất. Thân phận họ hoàn toàn bị phụ thuộc, không có gì đảm bảo. Hạnh phúc lứa đôi của họ thường bấp bênh bởi tình yêu tha thiết đâu dễ đã dẫn đến hôn nhân cụ thể. Tiếng lòng của cô gái đang yêu giãi bày niềm thương nỗi nhớ và những băn khoăn trong tình yêu. Ngôn ngữ biểu cảm: thương nhớ ai trở thành điệp khúc đi suốt bài ca dao. Hệ thống hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ gợi liên tưởng sâu sắc về thế giới nội tâm của cô gái trẻ. Lối nói trùng điệp nhấn mạnh vào tình yêu sâu nặng của của cô gái. Sự chuyển đổi hình thức câu thơ, nhịp điệu bài ca dao cũng giúp chuyển tải những cung bậc cảm xúc phong phú trong tình yêu. Bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca do với những lời lẽ bình bị, mộc mạc nhưng chân thành và sâu sắc với những hình ảnh biểu tượng, .. tất cả đã làm nên một bài ca dao còn mãi với thời gian. Ngôn từ của ca dao giản dị mà không dễ dãi, tình ý của ca dao dung dị nhưng sâu sắc, vì thế ca dao, đặc biệt là ca dao tình yêu trở thành câu hát của những chàng trai muôn đời với các cô gái muôn thuở. Nhận xét của nhà thơ Nga Raxun Gamztop rất chính xác đã chỉ ra vẻ đẹp của ca dao nói riêng cũng như thơ ca nói chung từ nội dung cho đến sức hấp dẫn của nghệ thuật. Ngôn ngữ không cần quá cầu kì, trau chuốt, đôi khi chính sự giản dị của ngôn từ sẽ tạo nên sức hấp dẫn của văn chương. Nhưng cần phải hiểu rằng: giản dị, bình thường, không đồng nghĩa với sự cẩu thả trong việc lựa chọn từ ngữ bởi “Sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Ngôn ngữ bình thường càng không phải là một thứ ngôn ngữ xác ve sau mùa hè đã im bặt tiếng kiêu mà đó là mọt thứ ngôn ngữ không ngừng biến sinh mãnh liệt. Vậy nên, người cầm bút phải nhận thức được trách nhiệm , nghĩa vụ của bản thân. Muốn tác phẩm của mình trường tồn với thời gian, ngoài sự sáng tạo- yếu tố căn bản thì cần phải biết lựa chọn ngôn từ bởi giá trị của ngôn ngữ chỉ đạt giá trị tối đa khi nó được đặt đúng chỗ, đúng văn cảnh. Bên cạnh đó, người thưởng thức phải trau dồi bản thân, có vốn kiến thức nhất định để có thể hiểu được từ ngữ mà tác giả đã dùng. “Sống đã rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân”, ngôn từ văn học vốn bắt nguồn từ ngôn ngữ của quần chúng lao động những đi vào tác phẩm văn chương, nó có thể “bình thường” nhưng nó không đơn thuần chỉ là lời nói sử dụng thông thường hằng ngày mà nó có tác dụng thể hiện những cảm xúc cô tận của cuộc đời, của tâm hồn con người một cách hình tượng. Nói cho cùng, khi cầm bút sáng tác thì người nghệ sĩ phải biết sắp đặt, phát huy vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc từ những gì giản dị nhất.
Suy nghĩ về vẻ đẹp của ca dao qua ý kiến_ Những chiếc bình đẹp nhất Nặn từ đất bình thường Như câu thơ đẹp nhất Từ những chữ bình thường
2,562