text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Em có suy nghĩ gì về vẻ đẹp tâm hồn của một con người? Bài làm Một con người dù mang bên ngoài một vẻ đẹp đẽ, kiêu sa đến mấy cũng khó có thể được coi là "người đẹp" nếu như không có một tâm hồn đẹp đẽ, trong sáng, vẻ đẹp tâm hồn không phải là thứ trang sức bên ngoài mà đó chính là yếu tố làm nên nét đẹp chân chính ở mỗi con người. Vẻ đẹp tâm hồn sẽ được lý giải theo hai cách: một cách theo ngôn ngữ học, coi đẹp là thiện, người có tâm hồn đẹp tức là có tấm lòng lương thiện. Nếu lý giải theo kiểu này sẽ hoàn toàn là vấn đề luân lý, đạo đức. Cách lý giải thứ hai mang ý nghĩa Mĩ học, người có tâm hồn đẹp phải mang một lý tưởng cao đẹp. Hai cách lý giải trên sẽ dẫn đến hai tiêu chuẩn, yêu cầu khác nhau, khi thực thi sẽ có hai phương pháp, con đường khác nhau. Ý nghĩa thứ nhất, vẻ đẹp tâm hồn là một quy phạm đạo đức phổ biến. Nó yêu cầu mọi người đều phải đạt tới. Ý nghĩa thứ hai chỉ là một lý tưởng mê hoặc người ta. Nếu coi nó là một quy phạm đạo đức phổ biến, sẽ bị xa rời thực tế. Nếu trong nhận thức không chuẩn xác thì hành động dễ bị lẫn lộn. Tâm hồn chính là ý thức tư tưởng nội tại của con người, giống như nhận thức, quan niệm, động cơ lý tưởng… Tâm hồn của một con người tốt đẹp hay xấu xa là điều vô cùng quan trọng. Tấm lòng lương thiện, chính nghĩa mới có thể đồng tình thương cảm, vì việc công không vì tư lợi, coi việc giúp người là niềm vui, lập trường kiên định, lý tưởng cao đẹp, vì nước vì dân, có chí vươn lên trong cuộc sống. Chính từ những biểu hiện tốt đẹp của mỗi con người ta mới có thể nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của họ. Vì vậy không chỉ nói tầm quan trọng của tâm hồn một cách cô lập. Bởi tâm hồn vốn là một từ vô hình, nếu không thông qua các hoạt động cảm tính như ngôn ngữ, hành động, tình cảm, thực tiễn xã hội… sẽ không thể hiểu nó một cách chính xác. Đồng thời, biểu hiện tâm hồn của con người không phải lúc nào cũng đổng nhất với nhau, có kẻ bề ngoài đường hoàng chững chạc nhưng đầu óc đen tối, có người có những ước mơ tốt đẹp, nhưng lại không có đủ nghị lực đê thực hiện nó. Nếu nhìn một cách cô lập, trên phương diện nào đó có thể phù hợp với đẹp hoặc thiện nhưng thực tế không phải thế, thậm chí hoàn toàn ngược lại. vẻ đẹp và cái thiện chân chính phải hài hoà giữa biểu hiện bề ngoài với nội tâm, lời nói và việc làm phải nhất trí cao độ, lý luận phải đi đôi với thực tiễn. Một biểu hiện bề ngoài tao nhã tương ứng với bản chất nội tại chân thật không thể tự nhiên mà có được mà là kết quả của sự tu dưỡng của cá nhân cộng với ảnh hưởng cũa môi trường xã hội, giáo dục. Ví dụ một vận động viên biểu diễn thể dục, hoặc bằng nghệ thuật cao siêu, hoặc bằng những tư thế đẹp, hoặc bằng động tác linh lợi cương cường khiến khán giả nhìn thấy được sức sống vẻ đẹp trí tuệ, cơ bắp, tình cảm của mình và khán giả được hưởng thụ cái đẹp. Vẻ khoẻ đẹp này, nếu không có sự nghiêm túc học hỏi của cá nhân, sự khổ công rèn luyện, sự giúp đỡ của thầy, của bạn thì liệu có đạt được chăng?
Suy nghĩ về vẻ đẹp tâm hồn của một con người
657
Đề bài: Suy nghĩ của em về ô nhiễm môi trường không khí Bài làm Truyền thông, báo chí và dư luận đã có rất nhiều phản hồi về vấn đề ô nhiễm môi trường. Bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu giải pháp, bao nhiêu sự tuyên truyền về hậu quả của tình trạng ô nhiễm môi trường cho cuộc sống con người nhưng dường như vẫn còn rất nhiều người không hiểu rõ về sự nghiêm trọng của vấn đề này. Để rồi tình trạng môi trường lên tới mức báo động. Ngoài ô nhiễm nước, ô nhiễm đất thì ô nhiễm không khí cũng đang là một vấn đề có nhiều điều quan ngại. Ô nhiễm không khí là sự thay đổi có trong thành phần của không khí. Không khí bị nhiễm các khí lạ, khói, bụi, hơi, làm giảm tầm nhìn, gây biến đổi khí hậu. Gây hại đến sức khỏe con người và các loài sinh vật trên trái đất. Đồng thời cũng gây hại đến môi trường tự nhiên. Ô nhiễm không khí đe dọa sự phát triển của con người, trong đó vấn đề về sức khỏe lên đến tình trạng báo động, ô nhiễm không khí và người sống trong môi trường có không khí bị ô nhiễm rất dễ bị các bệnh về tim mạch, ung thư phổi và đột quỵ, cùng hàng loạt các vấn đề liên quan đến hô hấp. Chất gây ô nhiễm không khí có thể có nguồn gốc tự nhiên hoặc cũng có thể do con người gây ra. Tro từ phun trào núi lửa, bụi không khí là hai nguyên nhân điển hình cho việc gây ra ô nhiễm không khí từ tự nhiên. Ngoài ra nguyên nhân gây ô nhiễm không khí từ tư nhiên còn từ gió, do các bụi bẩn, các chất khí có thể bị gió đẩy đi làm lan rộng những vùng bị ô nhiễm. Bão sinh là NOx – một chất gây ô nhiễm môi trường nặng, và cũng gây ảnh hưởng đến bầu không khí chung. Tiếp đến là nguyên nhân do cháy rừng khiến cho lượng Nito Oxit trong không khí tăng… ngoài ra vẫn còn có nhiều nguyên nhân khách quan khác. Tuy nhiên, vấn đề trở thành thực trạng gây nhức nhối như hiện nay phần lớn và chủ yếu là nguyên nhân từ con người, những hoạt động kinh tế của con người đã làm cho ô nhiễm không khí nhiều lần lên tới mức báo động. Từ các hoạt động trong sinh hoạt như nấu nướng bằng than củi đến vấn đề giao thông do lượng khói bụi từ các phương tiện xe máy, ô tô…, nhất là như ở nước ta, nền kinh tế vẫn chưa thực sự phát triển, cơ sở hạ tầng giao thông đô thị cùng với các phương tiện tham gia giao thông còn thô sơ sử dụng nhiều nhiên liệu khí đốt để hoạt động cũng gây cho tình trạng ô nhiễm không khí thêm nặng nề.Đặc biệt, tại nước ta còn một vấn đề đó của sự hội nhập hợp tác quốc tế, những tập đoàn lớn của các nước phát triển tập trung mở rộng sản xuất các mặt hàng tại nước ta thì vấn đề ô nhiễm do chất thải, chất khí từ các hoạt động sản xuất sẽ ảnh hưởng đến môi trường rất nhiều, trong đó có vấn đề ô nhiễm không khí. Ô nhiễm không khí gây hại cho tất cả các sinh vật sống trên trái đất, động vât và thực vật bị nhiễm độc từ không khí khả năng miễn dịch sẽ kém đi rất nhiều. Con người bị nhiễm phải các chất độc do không khí bị ô nhiễm cũng dễ dàng bị các bệnh về đường hô hấp, bệnh về tim mạch… Vì một cuộc sống sạch đẹp, không khói bụi, không ô nhiễm, từng cá nhân, hộ gia đình cùng các đoàn thể xã hội cần có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sống xung quang mình, môi trường không khí sạch thì con người có thể hít thở những nguồn không khí có lợi cho sức khỏe, sức khỏe tốt, con người có thể làm được nhiều điều có ích cho cuộc sống.
Suy nghĩ về ô nhiễm môi trường không khí
719
Đề bài: Suy nghĩ của em về ô nhiễm môi trường nước Bài làm Kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống của người dân cũng ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên cùng với đó, cuộc sống con người lai bị đe dọa bởi nhiều vấn đề, trong đó có tình trạng ô nhiễm môi trường nước, khiến sức khỏe của con người bị ảnh hưởng trầm trọng Nước uống là một phần vô cùng quan trọng trong việc duy trì sự sống cho con người và các sinh vật khác trên trái đất. Nước chiếm khoảng 70% khối lượng của cơ thể và nước là một thành phần vô cùng quan trọng trong quá trình trao đổi chất cho cơ thể. Theo các nghiên cứu khoa học, con người cần đảm bảo cung cấp khoảng 2,0 lít nước trong một ngày cho cơ thể để đảm bảo tình trạng ổn định nhất. Con người cần nhất là nước sạch, bởi nước sạch là loại nước đủ độ tinh khiết tối thiểu để con người và các sinh vật khác như động vật và thực vật có thể uống, tiêu thụ, hấp thụ dưỡng chất, đồng thời nước sạch mới có khả năng không có những tác hại thâm nhập vào cơ thể con người. Nước uống cung cấp cho các hộ gia đình, các hoạt động trong công nghiệp chế biến, thương mại cần phải được đảm bảo sạch vả chất lượng để bảo vệ sức khỏe lâu dài cho người dân. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề nước đang có rất nhiều vấn đề cần bàn luận, đặc biệt tình trạng ô nhiễm môi trường nước ngày càng có sự gia tăng theo diện rộng. Đây là một vấn đề rất đáng quan ngại. Hiện nay, đa số các sông hồ tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, thường là nơi có dân cư đông đúc cũng như tập trung nhiều các nhà máy, các khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nguyên nhân chính là do lượng rác thải lớn từ sinh hoạt dân cư và từ các hoạt động công thương nghiệp đều không được qua xử lý mà đã đổ trực tiếp ra các sông hồ. Điều đáng nói ở đây là tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng. Tuy nhiên khách quan mà nhìn nhận, nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước không chỉ do từ rác thải, nó còn có rất nhiều nguyên nhân tự nhiên khác như các hiện tượng như gió bão, lũ lụt, xác của các sinh vật khi chết ngấm vào lòng đất…Tuy nhiên, những nguyên nhân tự nhiên này cũng chỉ làm cho môi trường bị ô nhiễm ở mứ độ nhẹ, nguyên nhân chính làm cho môi trường nước bị ô nhiễm lên đến tình trạng đáng báo động như hiện nay vẫn là do các hoạt động của con người, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, rác thải chăn nuôi, rác thải nhà máy, đông dân và dân số tăng đều đặn cũng dẫn đến lượng rác thải tăng. Ý thức của người dân khi vô tư xả rác bừa bãi cũng rất đáng quan ngại cho vấn đề giữ gìn môi trường nước. Cần có những biện pháp giải quyết triệt để các vấn đề này. Cần có hệ thống xử lý rác thải và xử lý nước thải cùng các biện pháp cải thiện để nguồn nước ngày càng sạch. Có những chủ trương, chính sách dân vận nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ nguồn nước nói riêng. Các doanh nghiệp, các hộ chăn nuôi quy mô lớn phải có các quy chuẩn trong sử dụng nước và xử lý nước thải, nghiêm cấm xả rác bừa bãi xuống các dòng sông, ao, hồ. Vì cuộc sống của chính bản thân mình và của chính những người thân của mình, hãy chung tay bảo vệ nguồn nước và bảo vệ môi trường sống của xung quanh luôn được xanh, sạch, đẹp.
Suy nghĩ về ô nhiễm môi trường nước
684
Đề bài: Suy nghĩ của em về ô nhiễm môi trường đất Bài làm Không khí, nước và cả đất đều là những nhân tố vô cùng quan trọng cho sự sống của con người trên trái đất này. Tuy nhiên vẫn đề trọng tâm hiện nay là ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất đang ngày càng có nguy cơ gia tăng, lan ra diện rộng và hệ lụy của những vấn đề không ở đợi đến đâu xa, mà ngay khi bị tác động, nó cũng ngay lập tức gây nhiều tai hại trực tiếp đến cuộc sống con người. Bài văn nghị luận này sẽ nêu trọng điểm về vấn đề ô nhiễm môi trường đất. Ô nhiễm đất là do đất trong môi trường tự nhiên bị nhiễm các chất độc, có hại từ quá trình đào thải rác, chất thải trong các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và rác thải sinh hoạt với các chất độc hại ngấm trong đất. Nguyên nhân khiến đất bị ô nhiễm là do rác thải từ sinh hoạt, chăn nuôi, các hoạt động công nghiệp ngấm vào lòng đất. Mưa axit xả xuống ngấm vào lòng đất, tro than, nước thải, thuốc trừ sâu và thuôc dệt cỏ…Các chất thải thường không được qua quá trình xử lý đã thải trực tiếp vào môi trường. Hiện tượng đất nhiễm trì, nhiễm chất hóa học do thuốc trừ sâu, đặc biệt các vùng đất thuộc các nhà máy, khu công nghiệp, đất bị nhiễm các chất thải hóa học trở thành vấn nạn nhức nhối, nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến các hộ dân sống xung quanh và lân cận. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất có cả về nguyên nhân tự nhiên, nhưng tồn đọng nhiều nhất vẫn là những nguyên nhân từ phía con người. Người dân xả rác bừa bãi trên nền đất, không qua quá trình xử lý, lọc thải, tình trạng này lại rất khó kiểm soát. Thứ hai, sự chấp hành các quy phạm liên quan đến bảo vệ môi trường trong đó có môi trường đất của các doanh nghiệp còn rất kém, bất chấp pháp luật, bất chấp dư luận, nhiều doanh nghiệp vô tư xả chất thải vào môi trường, ảnh hưởng đến môi trường không khí, nước và cả đất. Trong đó, không thể không nói đến hệ thống quản lý về các vấn đề môi trường của các cấp, các ngành chức năng có liên quan ở nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập. Cần có những biện pháp thiết thực để ngăn chặn và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường đất như chú trọng phối hợp hành động giữa những cơ quan có chức năng với các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất và trong quá trình sản xuất có xả thải rác ra môi trường để tìm ra hướng giải quyết ổn thỏa nhất. Tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường đất và hậu quả của việc ô nhiễm đến sức khỏe và hệ sinh thái để có các biện pháp cho việc bảo vệ môi trường đất nói riêng và môi trường sinh thái nói chung
Suy nghĩ về ô nhiễm môi trường đất
552
Trong một lần trả lời phỏng vấn, nghệ sĩ Thành Lộc phát biểu: “Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc” Suy nghĩ của anh chị về phát biểu trên. Bài viết văn của bạn Thu Hương đến từ Nghệ An gửi đến ban biên tập website. Bài làm .Oprah Winfey đã từng nói thế này: “Tôi đã luôn biết rằng mình là một ngôi sao lớn chờ thời”. Bạn biết không, khi đọc câu này, tim tôi đã đập chậm lại một nhịp vì tôi đã luôn nghĩ về mình như thế. Không hẳn là tôi cho mình là một ngôi sao lớn, nhưng tôi luôn tin rằng bản thân mình đặc biệt và mỗi chúng ta đều là những cá thể vô cùng đặc biệt theo những cách khác nhau. Điều quan trọng khiến chúng ta trở nên khác biệt, trở nên đặc biệt hơn bởi chúng ta lựa chọn những cách sống không giống nhau. Tôi đồng ý với phát biểu của nghệ sĩ Thành Lộc, khi ông cho rằng: “Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc.” “cách sống” chính là cách mà chúng ta nhìn cuộc sống, là thái độ của ta đối với cuộc đời, với mọi người và với chính bản thân ta. Còn “hạnh phúc” là một trạng thái thỏa mãn, sung sướng khi mình đạt được một điều gì đó. Hạnh phúc là một khái niệm trừu tượng không thể nắm bắt được, chỉ cảm nhận được thông qua trái tim. “Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc”, phát biểu của nghệ sĩ Thành Lộc đã nêu lên một quan điểm tiến bộ: mỗi người trên thế giới này đều có quyền lựa chọn con đường đi riêng của bản thân mình, miễn là bản thân thấy đúng đắn, thấy hạnh phúc khi mình lựa chọn như vậy. Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc Phát biểu của nghệ sĩ Thành Lộc là đúng đắn, sâu sắc và tiến bộ. Tiến bộ bởi lẽ, trong xã hội này vẫn nhiều người cho rằng nên đi những con đường bằng phằng bởi đã có những người đi trước rồi, như vậy chắc chắn sẽ tìm được thành công và hạnh phúc. Nhưng thế nào là hạnh phúc? Mỗi người sẽ có những định nghĩa khác nhau về hạnh phúc. Liệu có hạnh phúc chăng nếu mỗi ngày bạn thức dậy, nhìn thấy một đống công việc ngổn ngang, chán ngắt, không phù hợp với bản thân? Hạnh phúc chăng nểu mỗi ngày bạn đến công ty làm một công việc mà không với sự đam mê? Hạnh phúc chăng khi nhìn thấy ước mơ khi còn trẻ đang bị hủy hoại bởi nỗi lo về cơm, áo, gạo, tiền,… Tôi tin rằng, điều đó là không hạnh phúc. Những người trẻ thường muốn chọn con đường bản thân thấy thích. Họ muốn đi du lịch bụi, muốn khám phá thế giới nhưng cha mẹ lại muốn con mình ở nhà. Người trẻ muốn làm một công việc họ thích, làm theo đam mê nhưng cha mẹ lại muốn họ làm một công việc ổn định, đảm bảo cuộc sống. Muốn thay đổi bản thân nhưng lại sợ bạn bè chê cười. Cha mẹ lúc nào chẳng muốn con cái mình an toàn, ổn định. Nhưng cha mẹ chỉ là cha mẹ thôi, làm sao sống thay mình được. Bạn bè dù thân thiết mấy, sao hiểu ta bằng chính ta. Nên thực tế là hãy chọn điều mà bạn thấy thích. Bạn hối tiếc vì không nắm bắt lấy một cơ hội nào đó, chẳng ai phải mất ngủ. Bạn phải trải qua những ngày tháng nhạt nhẽo với công việc bạn căm ghét, người ta chẳng bận lòng. Bạn có chết mòn nơi xó tường với những ước mơ dang dở, đó không phải việc của họ. Suy cho cùng, quyết định là ở bạn. Muốn làm gì hay không là tùy bạn. Nên hãy làm những điều bạn thích, hãy đi theo tiếng nói trái tim. Hãy sống theo cách bạn cho là mình nên sống. Quyết định là ở bạn nên trách nhiệm cũng là của bạn. Nên thành công có được là của bạn. Thất bại cũng là do bạn vì không ai quyết định được cuộc đời bạn thay cho bạn nên cũng không ai gánh thay hậu quả. Lựa chọn điều mình muốn và chịu trách nhiệm cho điều mình làm. Hãy sống theo cách bạn muốn miễn là được hạnh phúc. Chọn cách sống mà mình mong muốn chưa chắc đã thành công nhưng chắc chắn sẽ hạnh phúc. Tôi nhớ đến những bác sĩ tuyến đầu chống covid, họ đã chọn cách âm thầm hi sinh, lặng lẽ cống hiến, bỏ qua những giấc ngủ để lo cho bệnh nhân, họ có thể mệt mỏi nhưng nhìn từng bệnh nhân xuất viện, họ chắc chắn sẽ hạnh phúc. Tôi cũng nhớ đến hình ảnh cô gái bé nhỏ Hoàng Thị Diệu Thuần đã viết nên cuốn sách “Như hoa hướng dương”, cô tâm sự: “Tôi muốn sống như một bông hoa hướng dương” khi đang từng ngày phải chiến đấu với căn bệnh ung thư, có những nỗi đau dường như vượt quá sức chịu đựng. Lấy tên một loài hoa hướng sáng mạnh mẽ để đặt nhan đề cho cuốn sách đầu tiên và có lẽ cũng là cuối cùng của mình, cô ấy muốn nói với chúng ta về khao khát sống mãnh liệt. Dẫu mắc căn bệnh nan y, cô vẫn nhìn đời bằng đôi mắt lạc quan, vẫn tận hưởng, vẫn làm những gì đam mê. Cô chọn cách sống mà cô mong muốn để được hạnh phúc và mai sau này, khi nhắm mắt xuôi tay có thể mỉm cười không hối hận. Con người có quyền được lựa chọn cách sống miễn là bản thân mình hạnh phúc nhưng cần hiểu là bản thân mình chỉ cảm thấy thanh thản khi hạnh phúc của mình không ảnh hưởng đến hạnh phúc của người khác. Cuộc đời của con người luôn có ba gốc rễ quan trọng: đạo đức, trí tuệ, nghị lực mà đạo đức được đánh giá hàng đầu. Đạo đức không cho phép bản thân ta làm những điều khiến người khác khổ đau để cảm nhận được hạnh phúc. Đạo đức không cho phép ta dùng thủ đoạn để đánh bại đối thủ để cảm nhận cảm giác chiến thắng. Hạnh phúc thật sự chỉ đến khi tâm hồn bạn thanh thản, hạnh phúc của bạn không làm người khác đau khổ. Tác giả cuốn sách “Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu” đã viết: “Ai cũng mãn nguyện và hạnh phúc với chính mình thì thế giới này đã tốt hơn nhiều”. Là một học sinh, bản thân em cần lựa chọn cách sống đúng đắn để không chỉ bản thân thấy hạnh phúc mà có thể góp phần nhỏ bé giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Suy nghĩ về ý kiến Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc
1,194
Suy nghĩ về ý kiến sau: Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa Hướng dẫn Suy nghĩ về ý kiến sau: Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa Bài làm Có thể nói cái đáng sợ nhất của chúng ta là mất đi niềm tin trong đời sống. Từ khi có con người xuất hiện trên trái đất này là có hợp, có tan – có hanh phúc và khổ đau; có hòa bình và chiến tranh nhưng xã hội loài người vẫn không bao giờ ngừng phát triển, bởi tất cả trong chúng ta đều nuôi dưỡng trong tâm hồn, ý chí mình về một niềm tin bền bi với cuộc đời vì sợ sự lụi tàn. Niềm tin là gì? Sức mạnh của niềm tin? Vũ khí mạnh nhất mà con người có được là gì? Liệu có phải là súng đạn, xe tăng, máy bay chiến đấu hay bom nguyên tử. Không! vũ khí tối thượng của con người đó là trí tuệ, mà thứ có sức mạnh khủng khiếp nhất là niềm tin! Vì vậy người ta mới nói: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa” (Sách Dám thành công). Niềm tin vào bản thân: Đó là niềm tin vào chính mình, tin vào năng lực, trí tuệ, phẩm chất, giá trị của mình trong cuộc sống. Đó còn là mình hiểu mình và tự đánh giá được vị trí, vai trò của mình trong các mối quan hệ của cuộc sống.Khi đánh mất niềm tin là ta đánh mất tất cả. – đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác. Câu nói là lời nhắc nhở mỗi chúng ta hãy có niềm tin vào bản thân. Đó cũng là bản lĩnh, là phẩm chất, là năng lực của mỗi người, là nền tảng của niềm yêu sống và mọi thành công. Tại sao chúng ta lại khẳng định người đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn anh ta còn đánh mất nhiều thứ khác nữa. Quả thật, mất niềm tin vào bản thân, con người sẽ không thể hiện được khả năng, khai thác hết tiềm năng, năng lực của mình. Khi không tin vào bản thân, con người dễ dàng để tuột mất cơ hội khẳng định mình và vươn tới thành công. Khi làm việc, không tin vào mình, không có chính kiến, con người dễ lung lay trước dư luận, dễ rơi vào tình trạng Đẽo cày giữa dường, Xôi hỏng bỏng không. Trong cuộc sống, chúng ta muốn thành công cũng phải tác làm việc nhưng khi con người không tin vào chính mình thí sẽ không thể thuyết phục người khác tin mình Trong thực tế cuộc sống, có những người mới va vấp, thất bại lần đầu nhưng không làm chủ được mình, không tin vào mình có thể gượng dậy mà từ đó dẫn đến thất bại. Một học sinh nhút nhát, e sợ, không tin vào năng lực bản thâna mình khi đi thi sẽ dẫn đến làm bài không tốt. Cũng có những học sinh thi trượt, tỏ ra chán nản, không còn niềm tin vào bản thân, dễ bỏ cuộc nên sẽ khó có được thành công. Trong mọi hoàn cảnh sống, đặc biệt khi gặp những khó khăn, thử thách cần nêu cao bản lĩnh, không đánh mất niềm tin vào chính mình. Luôn sống tự tin nhưng tránh chủ quan. Phải cảnh giác với những việc tự tin mù quáng. Phải tỉnh táo để biết lắng nghe, biết học hỏi, hợp tác; biết tu dưỡng phẩm chất và trau dồi năng lực của bản thân vì đó là cơ sở của lòng tự tin. Nguồn: Bài văn hay
Suy nghĩ về ý kiến sau_ Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa
659
Đề bài: Tiền không phải là tất cả. Bạn nghĩ gì về ý kiến này? Bài làm Có một câu nói hài hước rằng: “Có nhiều thứ không thể mua được bằng tiền, nhưng có thể mua được bằng… nhiều tiền". Quan niệm về giá trị đồng tiền của mỗi người hoàn toàn khác nhau. Có người xem nó là ông chủ tốt, người khác lại xem nó là đầy tớ tồi. Nhiều người cho rằng tiền là chiếc chìa khóa vạn năng, có thể làm được mọi thứ. Có đúng thế không? "Tiền không phải là tất cả" Còn bạn, bạn có tin tiền là chiếc đũa thần đầy quyền lực đối với tất cả mọi thứ trên đời này? Riêng đối với tôi, tiền – không là tất cả. 1. Tiền không mua được tri thức? Dinh, 24 tuổi, học lực ở mức trung bình. Thế nhưng, cô vẫn tiến đều trên con đường công danh. Đó là nhờ vào “năng khiếu" xài tiền của mẹ. Tiền mua cho Dinh bằng tú tài loại giỏi. Tiền đưa cô vào Đại học Y khoa Cuối cùng, tiền đưa cô vào làm việc tại một bệnh viện Răng – Hàm – Mặt lớn tại thành phố. Thế nhưng, sau khi Dinh nhận việc được vài tháng, đoàn thanh tra về kiểm tra nhân sự đột ngột. Bằng giả của Dinh được phơi bày. Dĩ nhiên, ngay lập tức, cô bị đình chỉ công tác. Dinh mất tất cả. Không việc làm, không tương lai. Suốt ngày, cô chỉ còn biết tự giam mình trong phòng chẳng dám gặp gỡ bạn bè. Dinh đâu phải là trường hợp hi hữu. Báo chí đã từng phanh phui ông quan huyện nọ, bà chuyên viên kia, vị quan sở, quan tỉnh ấy đã “xài” bằng giả bằng tiền, đã leo chức, mua chức bằng tiền, khiến cho nhiều người phả: “ở” ra, rồi tự hỏi: “Chuyện lạ mà như thật!”, “Chuyện thật mà như bịa”. Đồng tiền ghê gớm quá! 2. Tiền có mua được hạnh phúc? Minh, 24 tuổi, là bác sĩ mới ra trường, được đánh giá là một thầy thuốc đầy tiềm năng. Anh chỉ có một cái “tội” là quá nghèo, không đủ khả năng “lo” vào các bệnh viện để làm việc. Luôn cháy bỏng ước mơ được đổi đời, anh quyết tâm trụ lại thành phố để kiếm tiền. Anh chớp được cơ hội khi một tiểu thư con nhà giàu yêu anh. Đám cưới được tổ chức rình rang. Nhờ “phúc" vợ, Minh mở phòng mạch tại nhà. Vốn giỏi chuyên môn lại khéo giao tiếp, phòng mạch của Minh ăn nên làm ra. Hai năm sau, anh đưa mẹ và em gái lên thành phố sinh sống. Cùng từ đó, Minh rơi vào tình trạng khổ tâm khi luôn phải đứng giữa hai bên tình – hiếu. Nhìn nàng dâu kênh kiệu, coi thường chồng, người mẹ thương con chỉ biết khóc thầm. Nhiều lần bà còn đòi về quê sống. Thấy em chồng mở tiệm thuốc gần nhà bằng “khúc ruột” cùa mình, cô vợ suốt ngày đay nghiến. Chỉ tội cho Minh, lúc an ủi mẹ, khi khuyên can vợ, lúc bảo ban em, lúc nào anh cũng cảm thấy buồn, thấy căng thẳng. Anh luôn là tâm điểm của mọi sự xung đột trong gia đình. Thậm chí, khi các “đương sự” không thể đổ bực bội lên người khác, họ chọn anh! Minh luôn tự hỏi, giờ đây, mình đã có nhiều tiền, nhưng sao không thể thảnh thơi, vui vẻ như từng mong ước? 3. Tiền không thể mua được tình yêu? Ngày đi học, tối bán hàng thuê, cuộc sống của Thanh, 19 tuổi, khó khăn như bao sinh viên xa quê khác. Hoàng, 28 tuổi, là một giám đốc trẻ thành đạt. Anh thân với ông chủ cua Thanh. Nhiều lần đến chơi, thấy cô dễ thương, hiền lành. Hoàng nảy sinh tình cảm nên theo đuổi. Mọi người đinh ninh thế nào Thanh cũng gật đầu vì kiếm đâu ra người đàn ông vừa tài giỏi, vừa tốt bụng. Nể lời chủ, Thanh nhận lời đi uống nước với giám đốc Hoàng. Mọi người nhanh chóng nói ra nói vào rằng: “Lọ Lem gặp Hoàng tủ”. Nhưng sau đó. ai cũng ngạc nhiên khi biết cô một mực từ chối tình cảm của Hoàng. Ông chủ dò hỏi: ''Hoàng là người tốt, biết làm ăn và giàu có. Anh ấy sẽ giúp em trong cuộc sống, thậm chí đỡ đần cả gia đình em ở quê. Sao em lại bỏ lỡ cơ hội?” Thanh chỉ nói nhẹ nhàng: “Đơn giản là vì em không yêu anh ấy. Con tim có lí lẽ riêng của nó. Và tình yêu lại không định giá bằng tiền”. 4. Tiền có thật là chìa khóa vạn năng? Tiền có thể mua ngôi nhà, nhưng không mua được tổ ấm Tiền có thế mua được chiếc giường, nhưng không mua được giấc ngủ Tiền mua được chiếc đồng hồ, nhưng không mua được thời gian. Tiền có thể mua được thuốc, nhưng không mua được sức khỏe… Chắc chắn còn rất nhiều điều thuộc về chiều sâu bên trong của con người là vô giá. Tiền rất quan trọng trong cuộc sống. Chúng ta vật vã phấn đấu học tập, làm việc cùng một phần vì nó. Nhưng tiền có bao giờ mua được nhân phẩm và lương tâm đâu! Bạn đừng bao giờ biến mình thành nó lệ của đồng tiền.
Suy nghĩ về ý kiến “Tiền không phải là tất cả”
891
Suy nghĩ về ý kiến: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo Hướng dẫn Suy nghĩ về ý kiến: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo Bài làm Trong cuộc sống để thực hiện được những ước mơ và mục tiêu của bản thân mình thì chúng ta phải lao động. Bởi chỉ có lao động thì chúng ta mới hiểu được giá trị của cuộc sống cách thực hiện được những ước mơ và hòa bão của mình đang xây dựng. Khi chúng ta có những ước mơ, khát vọng sẽ thôi thúc chúng ta có đam mê phải thực hiện chúng và lao động sẽ giúp chúng ta thực hiện. Nói về vấn đề này M.Gorki có câu: “ Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo”. Để hiểu rõ hơn và câu nói trên chúng ta cùng hiểu nghĩa của lao động là gì? Lao động là quá trình tạo ra của của vật chất và tinh thần cho nhu cầu của bản thân và xã hội. Những hoạt động này sẽ giúp cho chúng ta chúng ta có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm hơn trong quá trình thực hiện ước mơ của chính mình. Từ đó chúng ta hiểu hơn về giá trị của lao động và ước mơ để có một tương lai tốt đẹp hơn. Mỗi người đều có nhưng ước mơ, hoài bão về một cuộc sống tốt đẹp hơn và để có cuộc sống tốt đẹp thì chúng ta phải lao động. Và M.Gorki đã khẳng định một cách sâu sắc về vai trò của lao động đối với mỗi người và xã hội là vô cùng quan trọng. lao động không những giúp mình có được của cải trang trai cho cuộc sống của bản thân, gia đình mà nó làm cho nhu cầu xã hội ngày càng phát triển hơn. Khi chúng ta lao động chúng ta cũng thấy vui vẻ và thoải mái hơn như vậy đầu óc chúng ta trong khi làm việc có thể sáng tạo được nhiều cái mới mẻ và giúp ích cho cuộc sống. Đồng thời lao động giúp cho chúng ta khẳng định bản thân, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ, tri thức. Nhưng ta thấy rằng trong thực tế, lao động không phải đơn giản có nhiều người gặp rất nhiều khó khăn, mong muốn của họ là sáng tạo ra những thứ gì đó có thể giúp công việc của họ có thể dễ dàng hơn và nhanh hơn. Những ước mơ trong lao động ấy đã thôi thúc sự sáng tạo ở bên trong con người và nâng cánh cho ước mơ bây cao hơn. Phải lao động thì chúng ta mới được giá trị của việc thực hiện ước mơ như thế nào. Một người rất đáng được khen ngợi và là tấm gương sáng cho mọi người học tập là học sinh Đỗ Bằng Định – học sinh của trường Trung học phổ thông Phạm Ngũ Lão –Đông Anh –Hà Nội. Học sinh nay xuất thân trong một gia đình làm nông nghiệp nên từ nhỏ cậu đã phải phụ giúp gia đình. Cậu nhận thấy được sự khó khăn vất vả này. Từ đây cậu nuôi dưỡng ước mơ chế tạo một chiếc máy tách vỏ hạt đậu. Tuy là một sáng tạo nhỏ nhưng qua đây đã co thấy cậu là một người thông minh, có ước mơ và cố gắng thực hiện ước mơ của chính mình trong quá trình vừa học vừa lao động. nghĩ về ý kiến: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo Không chỉ riêng Đỗ Bằng Định mà nước ta còn có rất nhiều người tài như vậy. Nhiều người vừa học vừa làm để củng cố thêm kiến thức của mình. Và trong thời gian lao động ấy đã giúp chúng ta hiểu ra rất nhiều thức về cuộc sống này. Trong quá trình ấy nếu chúng ta làm việc có trách nhiệm, có sự nhiệt tình chúng ta sẽ thấy lao động giúp cho cuộc sống của chúng ta vui tươi hơn, có nhiều bạn mới và chúng ta sẽ hoàn thành tốt công việc của chính mình. Đồng thời khi chúng ta lao động, chúng ta đang kiếm được ra một phần của cải việt chất giúp chúng ta trang trải cho cuộc sống hiện tại. Và khi cuộc sống được thoải mái hơn tinh thần của chúng ta cũng vui vẻ hơn. Khi cuộc sống của mỗi người càng phát triển cũng đồng nghĩa với việc xã hội cũng phát triển ngày càng tốt đẹp hơn. Ý kiến trên của M.Gorki là hòa toàn đúng đắn. Như vậy mỗi chúng ta cần phải học tập và lao động tích cực, phát huy những điểm mạnh có sẵn bên trong và đề ra những mục tiêu của cuộc sống để có động lực lao động và hoàn thành tốt mục tiêu mà mình đề ra. Đồng thời mỗi người cũng nên học hỏi không ngừng nghỉ bởi việc học là việc của sốt đời nên dù ở độ tuổi nào chúng ta cần cố gắng học tập những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nhưng có một số bạn tuy có lao động nhưng không có sáng tạo trong công việc, coi việc lao động là trách nhiệm của bản thân và thực hiện trách nhiệm để kiếm tiền mà không quan tâm sự sáng tạo của mình trong công việc sẽ có lợi với bản thân như thế nào. Còn với các bạn học sinh, khi đi học chủ yếu là dựa vào gia đình và không chịu lao động và sáng tạo bản thân. Điều này rất đáng phê phán, nếu mỗi người không chịu thay đổi suy nghĩ, lối sống chúng ta luôn thấy cuộc sống luôn tẻ nhạt. Từ đây ta thấy được chỉ lao động mới có những điều kiện tốt giúp chúng ta thực hiện được những ước mơ và giúp được ước mơ của chúng ta bay cao, bay xa. Đồng thời, mỗi ngày hãy cố gắng lao động một cách nhiệt huyết, nhiệt tình để thấy lao động rất tốt đẹp. Bởi thế mà có câu nói “lao động là vinh quang”.
Suy nghĩ về ý kiến_ Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo
1,072
Suy nghĩ về ý kiến: Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường Hướng dẫn Suy nghĩ về ý kiến: Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường Bài làm Tôi nghe đâu đó có người từng nói rằng: “ Sức mạnh không đến từ thể chất, nó đến từ ý chí bất khuất”. Như vậy, ý chí có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Nó giúp con người vượt qua các hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống từ đó tạo ra động lực cho con người phát triển vươn tới thành công. Dù bạn có vật ngã như thất nào, có đau đớn ra sao chỉ cần bạn có ý chí quyết tâm bạn sẽ vượt qua được mọi thử thách của cuộc sống. Cũng đồng với quan điểm trên có ý kiến cho rằng:” Nơi nào có ý chí, nói đó có con đường”. và ý kiến này đã được đặt làm nhan đề cho một cuốn sách cùng tên. Để hiểu rõ hơn về ý kiến này chúng ta cùng đi tìm hiểu lần lượt nghĩa của từ cụm từ trong câu. Đầu tiên chúng ta cùng tìm hiểu nghĩa của từ ý chí, ý chí là khả năng xác định mục tiêu trong cuộc sống của mỗi người để từ đó thôi thúc con người hành động và hướng tới mục đích muốn đạt được. Dù chúng ta có gặp khó khăn thì chỉ cần chúng ta có ý chí quyết tâm chắc hẳn chúng ta sẽ vượt qua khó khăn một cách dễ dàng hơn. Còn “con đường” có thể hiểu theo nhiều nghĩa như con đường đi đến tương lai, con đường đến với sự thành công, thành đạt của mỗi người. Nhưng dù hiểu theo nghĩa nào thì con đường ở đây là một con đường đưa cuộc sống của mỗi người trở lên tươi đẹp và có ý nghĩa hơn. Từ đây ta hiểu rõ hơn về ý nghĩa của ý kiến “ Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường” nghĩa là ai có ý chí vượt qua gian khó, dám đối mặt với gian khó thử thách thì người đó sẽ thành công. Bởi chỉ những ai có ý chí và nghị lực thì mới tiến tới tương lai tốt đẹp được. Cũng như cơ hội chỉ đến với chúng ta một lần nếu chúng ta không cố gắng nắm bắt nó sẽ đi mất. mà khi cơ hội đi mất rồi chúng ta rất khó có thể tìm được cơ hội tốt để phất triển bản thân. Nhưng dù có như vậy đi chăng nữa chúng ta cũng không được nản lòng mà phải cố gắng vượt qua như vậy cô hội sẽ đến với chúng ta lần nữa. Có bao giờ bạn tự hỏi rằng: “Tại sao con người cần phải có ý chí?”. Như chúng ta đã thấy không phải ai sinh ra đã là người thành công và hạnh phúc. Để có được thành công và jhajnh phúc họ phải đánh đổi rất nhiều thức như thời gian và sức lực. Mà “Chẳng con đường nào trải bước trên hoa hồng mà bàn chân ta không thấm đau vì những mũi gai”. Như vậy con đường thành công và hạnh phúc ấy rất khó đi, nhiều gai góc, sỏi đá và không bao giờ bằng phẳng để chúng ta có thể đi dễ ràng được. Để đi được trên con đường đó chúng ta cần phải có ý chí. Ý chí sẽ giúp chúng ta kiên cường hơn và dám đương đầu với được thánh. Mỗi một lần dám đối mặt với những khó khăn là một lần chúng ta trưởng thành hơn trong cuộc sống. Nhưng cũng không phải ai dám đối mặt cũng có thể vượt qua được mọi thứ đôi khi chúng ta còn thấy sự thất bại, sự nản lòng và sự chùn chân trong đó. Khi ấy, ý chí lại càng đó một vai trò vô cùng quan trọng để giúp chúng ta làm lại và cố gắng vượt qua thất bại để đến được thành công. Người ta thường nói: “ Thất bại là mẹ thành công” như vậy mỗi một lấn thất bại chúng ta lại nhận được một bại học quý báu của cuộc sống để khi chúng ta làm lại chúng ta thấy rõ được những khuyết điểm mình đang gặp phải và phát huy tốt hơn nhưng ưu điểm mình đang có. Nhưng nếu chúng ta thiếu đi ý chí tức là chúng ta đang hạ thấp bản thân mình đầu hàng trước bản thân mình và người khác. Trong khi người khác đang phát triển rực rỡ thì chúng ta lại như những con sâu đang ăn mòn xã hội. Không dám vượt qua chính bản thân mình thì làm sao có thể vượt qua được người khác. Và chính chúng chúng ta luôn là những người thất bại. Trong những trang sách của tác phẩm cùng tên “ Nơi nào có ý chí, nơi nào có con đường” đã ghi lại rất nhiều tên, dấu ấn của những người trẻ tuổi dám đương đầu với khó khăn, thử thách vượt nên nghịch cảnh của bản thân để đặt chân đến cái tương lai tươi đẹp được gọi là thành công. Đặc biệt là cái tên Nick Vuijic, anh sinh ra đã không được giống người bình thường hay người ta gọi là người khuyết tật, hàng ngày chịu sự chế giễu, mỉa mai của những người xung quanh đã có lần anh đã nghĩ đến việc sẽ từ bỏ sự sống của chính mình. Nhưng sau cùng anh nhận ra được trong cuộc sống này còn có nhiều người còn thiệt thò hơn chính mình và anh có suy nghĩ tích cực hơn và sau đó nhờ vào ý chí quyết tâm anh đã tahy đổi hoàn toàn chính bản thân mình khiến nhiều người đáng khâm phục. Và sau này anh tốt nghiệp đại học với tấm bằng kép trở thành nhà diễn thuyết, tuyên truyền động lực và đại sứ truyền cảm hứng sống nổi tiếng trên toàn thế giới. “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” như vậy chỉ cần chúng ta có ý chí chúng ta sẽ vượt qua được tất cả. “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường” rất hay và có ý nghĩa muốn gửi gắm đến nhân loại một thông điệp sâu sắc của của sống giúp mỗi con người tự nhìn nhận và hoàn thiện bản thân hơn vì tương lai lai của chính mình nói riêng và của toàn xã hội nói chung.
Suy nghĩ về ý kiến_ Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường
1,123
Suy nghĩ về ý kiến: Rèn luyện kỹ năng sống cũng quan trọng như tích lũy kiến thức Hướng dẫn Suy nghĩ về ý kiến: Rèn luyện kỹ năng sống cũng quan trọng như tích lũy kiến thức 5 (100%) 1 đánh giá Bài làm Trong xã hội ngày càng phát triển, chúng ta luôn phải đối mặt với những khó khăn và thách thức từ môi trường học tập và làm việc. Chính môi trường này giúp chúng ta rèn luyện bản thân và để có thể rèn luyện tốt chúng ta cần phải rèn luyện kỹ năng sống. Vì thế mà có ý kiến cho rằng: “ Việc rèn luyện kỹ năng sống cũng quan trọng như tích lũy kiến thức”. Vậy chúng ta cùng tìm hiểu kỹ năng sống là gì? Tích lũy kiến thức là gì? Tại sao việc rèn luyện kỹ năng sống cũng quan trọng như tích lũy kiến thức? Kỹ năng sống là tư trang có thể giúp chúng ta giải quyết khó khăn trong mọi tình huống bất ngờ trong cuộc sống hằng ngày như việc kỹ năng sơ cứu vết thương, kỹ năng làm việc, kỹ năng sinh tồn,… Tích lũy kiến thức là quá trình học tập trên lớp, trong sách vở từ đó có những kiến thức về tự nhiên và xã hội. Việc rèn luyện kỹ năng sống là một quá trình tích lũy kinh nghiệm sống, vốn sống để có những kinh nghiệm trong cuộc sống. Để khi chúng ta gặp bất cứ một vấn đề gì cũng có thể bình tĩnh để tìm ra lối giải quyết. Mà để có được những kinh nghiệm chúng ta phải được trải nghiệm thực tế. Việc rèn luyện kĩ năng sống là rất cần thiết đối với mỗi người bởi kĩ năng sống là những trải nghiệm thực tế giúp chúng ta phát triển cuộc sống một cách nhanh chóng. Việc tích lũy kiến thức cũng quan trọng nhưng không đồng nghĩa một người giỏi kiến thức là người giỏi và thành đạt. Đôi khi những người có kiến thức học tập bình thường nhưng họ có được kĩ năng sống, có được trải nghiệm họ lại thành công hơn. Bởi khi gặp những vấn đề trong thực tế thì người có kĩ năng sống sẽ giải quyết vấn đề nhanh hơn người có nhiều tích lũy kiến thức. Nhưng chúng ta thấy đấy, cuộc sống ngày càng phát triển thì chúng ta càng có nhiều cơ hội học hỏi và thành công. Do đó, việc rèn luyện kĩ năng sống và tích lũy kiến thức là hai yếu tố tạo nên thành công. Chúng không thể tách rời nhau và cùng bổ trợ tạo nên một con người hoàn chỉnh. Từ đây ta hiểu được rằng việc rèn luyện kĩ năng sống cũng quan trọng như tích lũy kiến thức. Có lẽ trong chúng ta ai cũng mong muốn mình có một tương lai tốt đẹp và trở thành người thành đạt trong cuộc sống. Và để làm được việc này chúng ta phải thay đổi bản thân và học hỏi rèn luyện bản thân theo chiều hướng tích cực. Bên cạnh việc cố gắng học tập tốt những kiến thức trong sách vở thì chúng ta cần cố gắng tham gia nhiều hơn các lớp kỹ năng mềm để cải thiện cuộc sống hơn. Tham gia tích cực vào những hoạt động của trường lớp, địa phương để được học hỏi một cách toàn diện hơn. Bởi như vậy chúng ta có thể tự tin hơn trong mọi trường hợp có thể ở tư thế chủ động và chấp nhận vượt qua một cách dễ dàng. Chúng ta cũng thấy kỹ năng thuyết trình giữa đám đông là một kỹ năng vô cùng khó và quan trọng. Những người làm được như vậy đa số là những người thành công. Bởi việc thuyết trình lưu loát, thuyết phục không phải ai cũng có khả năng làm được mà bản thân những người làm được đã phải rèn luyện một quá trình mới có thể làm được như vậy. Chưa kể khi thuyết trình giữa đám đông chúng ta thường bị xa chấn tâm lý nên có thể rất run, đôi khi lại quên mình đang nói cái gì từ đó làm cho bài thuyết trình bị gián đoạn, không thuyết phục người nghe. Như vậy, chúng ta phải cố gắng rèn luyện kỹ năng sống ở mọi nơi và cố gắng học hỏi những người thành công trước. Đặc biệt điều đó được thể hiện trong các bạn học sinh, chỉ chú tâm và kiến thức mà khi đi thực hành thì kĩ năng vận dụng cực kì kém. Khi gặp những vấn đề thực tiễn thì liên hệ rất kém bởi họ không quan tâm vấn đề xã hội và không tìm hiểu các vấn đề trong xã hội thì sẽ không thể liên hệ được. Tuy nhiên, bên cạnh đó có một số bạn liên hệ rất tốt các vấn đề trong xã hội bởi các bạn học sinh này không chỉ học tập những vấn đề trên lớp mà còn trau dồi cho mình kỹ năng sống thực tiễn từ đó giúp các bạn học sinh này học tập rất tốt. Để trở thành một người thành công chúng ta cần phải cố gắng rèn luyện về cả hai mặt là kiến thức và kỹ năng sống để có thể giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội mà chúng ta gặp phải. Từ đó có thể giải quyết khó khăn một cách nhanh nhất và chủ động nhất. Đồng thời chúng ta cần phê phán những người có lối sống lệch lạc, lười biếng không chăm lo việc học tập mà tham gia vào các hoạt động xấu có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ.
Suy nghĩ về ý kiến_ Rèn luyện kỹ năng sống cũng quan trọng như tích lũy kiến thức
975
Suy nghĩ về ý kiến: “Biết mình không biết là một bước tiến dài dẫn đến sự hiểu biết” – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về ý thức học tập Đề bài Benjamin Disraeli – chính trị gia người Anh thế kỉ XIX – từng phát biểu: “Biết mình không biết là một bước tiến dài dẫn đến sự hiểu biết”. Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm trên. Hướng dẫn làm bài Đề bài yêu cầu luận bàn về mối quan hệ giữa biết và không biết, thực chất là bàn về sự tự ý thức và nỗ lực hoàn thiện mình của mỗi cá nhân, trước hết trên lĩnh vực tri thức. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – “Biển học vô bờ” – người xưa từng nói vậy. Không ai cố thể biết hết được mọi điều, do vậy, con người ta cần phải học hỏi không ngừng suốt cả cuộc đời, học ở mọi nơi, mọi lúc, học từ nhiều đối tượng khác nhau. – Sự hiểu biết ở mỗi con người là kết quả của một quá trình dài phấn đấu, đi từ chưa biết đến biết. Nhưng khi đã có một vốn hiểu biết nhất định, người ta dễ thoả mãn. Chính sự thoả mãn này là lực cản khiến cho quá trình nhận thức của ta chững lại. vốn kiến thức do vậy không được làm đầy thêm. Tự nhiên, ta bỗng trở thành một kẻ thiếu hiểu biết. – Tuy nhiên, muốn tiến bộ thực sự, con người không thể dừng lại ở chỗ thừa nhận sự không biết của bản thân, vấn đề quan trọng là phải biết điều mình không biết để đặt kế hoạch chiếm lĩnh nó trong tương lai. Có lẽ, đây chính là tư tưởng cốt lõi mà Benjamin Disraeli muốn phát biểu trong câu: “Biết mình không biết là một bước tiến dài dẫn đến sự hiểu biết”. Nếu câu nói của Khổng Tử tập trung luận về chữ “biết” (tri) có dáng dấp tĩnh tại thì câu của Benjamin Disraeli lại nghiêng về vạch ra con đường chiếm lĩnh tri thức cho mỗi chúng ta. – Biết điều mình không biết đồng nghĩa vói việc nhận ra sự thiếu hụt của bản thân vói tư cách là người hiểu biết, người có khát vọng vươn lên hoàn thiện nhân cách. Đã thiếu hụt thì phải tìm cách lấp đầy. Con người ở đây là con người đi tới chứ không phải là con người đứng lại để chiêm nghiệm. Từ điểm này, ta có thể nhận ra những nét khác biệt giữa hai mẫu hình con người mà hai nhà chính trị – tư tưởng muốn xây dựng. – Câu nói của Benjamin Disraeli trước hết muốn khơi dậy nỗ lực hoàn thiện mình ở những con người cá nhân cụ thể. Tuy nhiên, ý nghĩa của nó còn rộng hơn thế. Ta nhận ra ở đây những vấn đề mang tầm nhân loại. Biết điều mình không biết là một nhận thức then chốt. Từ nhận thức đó, con người sẽ có những hành động mạnh mẽ để phá vỡ các giới hạn hiện tại của tri thức, hiểu biết và tạo ra chân trời tri thức, hiểu biết mới.
Suy nghĩ về ý kiến_ “Biết mình không biết là một bước tiến dài dẫn đến sự hiểu biết” – Ngữ Văn 12
550
Suy nghĩ về ý kiến: “Có những cái bền chắc là hạnh phúc, có những cái bền chắc là tai hoạ.” – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về sự bền chắc Đề bài: Có những cái bền chắc là hạnh phúc, có những cái bền chắc là tai hoạ. Anh chị hãy viết một bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên. Hướng dẫn làm bài Đề bài này đòi hỏi người viết phải có cái nhìn rộng, hiểu được cái bền chắc được đề cập ở đây là phẩm tính của những sự vật, đối tượng khác nhau. Phải có sự phân biệt giữa cái bền của những gì có giá trị, có ý nghĩa, rất cần cho cuộc sống với cái bền của những gì vô dụng, thậm chí là tai ương cho con người. Trên cơ sở nhận thức ấy, người viết tập trung làm nổi bật quan điểm của mình bằng lí lẽ và dẫn chứng lấy từ thực tế. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Trước đây, Nguyễn Trãi từng chiêm nghiệm: Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi. Hoa đẹp thế, sao sớm nở tối tàn, cỏ đáng ghét thế, sao bốn mùa tươi tốt? Hãy để sang một bên tâm lí yêu hoa ghét cỏ (vốn là tâm lí chung của của dân nông nghiệp), điều ta thấy ở câu thơ Nguyễn Trãi là độ bền khác nhau của từng đối tượng mà nhà thơ tỏ ra rất thấu hiểu. Một sự vật, một hiện tượng nào đó được xem là bền khi trụ vững được với thời gian. Với thời gian, không gì là không thay đổi. Có những thứ thay đổi rất nhanh, có những thứ thay đổi tương đối chậm. Những gì biến đổi chậm, giữ được lâu dài hình dáng, tính chất thì được xem là có độ bền chắc. – Hằng ngày, có biết bao vật dụng gắn với đời sống của cá nhân chúng ta. Một chiếc áo ta mặc, một cái điện thoại hoặc máy tính ta dùng, một chiếc xe ta thường đi… Sẽ may mắn biết bao nếu ta gặp được những đồ vật dùng lâu mà không hỏng hóc, nghĩa là có độ bền. Một hãng sản xuất máy giặt của Nhật Bản đã quảng cáo cho sản phẩm của mình bằng câu: Ba mươi năm vẫn chạy tốt! Họ biết đánh vào tâm lí khách hàng bằng việc đề cao độ bền của những chiếc máy dò hãng mình chế tạo. Các nhà khoa học trên thế giới hiện nay đang tập trung trí tuệ để nâng cao độ bền vật liệu dùng trong nhiều ngành công nghiệp. Thử hỏi, một chiếc máy bay chở hành khách, một chiếc tàu vũ trụ mà không được đảm bảo bằng những vật liệu bền chắc, thì tình hình sẽ ra sao? – Văn minh vật chất của nhân loại được duy trì từ xưa đến nay cũng nhờ có những công trình vĩ đại. Những kì quan của thế giới như kim tự tháp ở Ai Cập, Vạn Lí Trường Thành của Trung Quốc, hai ngôi đền Angkor Wat, Angkor Thom ở Campuchia… đã tồn tại hàng trăm, hàng ngàn năm nay, mặc dù chúng cũng đang bị thời gian đe doạ. Nếu những kiệt tác kiến trúc ấy không vững bền với mưa nắng, nhân loại trong tương lai liệu có còn cơ hội được chiêm ngưỡng chúng nữa không? Câu chuyện tương tự cũng thường xuyên đặt ra với những kiệt tác hội hoạ trọng các viện bảo tàng. Ở đó, các chuyên gia đã phải tìm tòi, nghiên cứu nhiều phương cách khác nhau để làm sao giữ được độ bền của những bức tranh nổi tiếng. – Tuy nhiên, bên cạnh những sự bền chắc cần thiết, còn vô số sự bền chắc trở thành tai ương cho cuộc sống của con người. Trong bản thân chúng ta, có những thói xấu cứ bám dai dẳng. Sự lười biếng, vô cảm, sự đố kị, ghen ghét, sống thiếu lí tưởng, thiếu mục đích, thích hưởng thụ mà không muốn làm việc… những thứ đó, “ban đầu là mạng nhện, sau là dây cáp”. Khi đã là “dây cáp”, chúng có độ bền đáng sợ, loại bỏ chúng là điều không dễ. Thông thường, hình thành một thói quen tốt thì hết sức khó khăn, nhưng chỉ cần lơ là, thiếu trách nhiệm với bản thân, một thói quen xấu sẽ nhanh chóng ngự trị. Sự bền chắc của những điều xấu xa đúng là một thứ tai hoạ. – Bài học cho bản thân: Phân biệt được những sự bền chắc tích cực và những sự bền chắc tiêu cực (trong bản thân và trong đời sống xã hội) để có thái độ và hành động đúng đắn. (Cần chọn được các dẫn chứng tiêu biểu đưa vào bài để lập luận có sức thuyết phục.)
Suy nghĩ về ý kiến_ “Có những cái bền chắc là hạnh phúc, có những cái bền chắc là tai hoạ.” – Ngữ Văn 12
828
Suy nghĩ về ý kiến: “Hãy biết nhớ nhưng cũng cần biết quên!”– Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Hãy biết nhớ nhưng cũng cần biết quên Đề bài Hãy biết nhớ nhưng cũng cần biết quên! Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về lời khuyên trên đây? (Trình bày trong một bài văn khoảng 600 chữ) Hướng dẫn làm bài Nhớ và quên là những trạng thái tâm lí khác nhau của con người. Nhớ, đương nhiên là điều rất quan trọng đối với mọi cá nhân, nhờ nó mà con người mới tồn tại và hoạt động. Con người thường nhớ những gì? Những điều đó có vai trò như thế nào trong đời sống, trong học tập và nghiên cứu? Bên cạnh nhớ, con người còn có trạng thái quên. Vậy, quên có phải là điều bất hạnh hay không? Trong cuộc sống, có phải nhiều lúc chúng ta cần biết quên, đi nhiều điều? Đó là những câu hỏi phải được đặt ra khi giải quyết đề này. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Định nghĩa về con người, một triết gia cho rằng: Con người là loài vật có kí ức. Nói cách khác, chính sự lưu giữ trong tâm trí những gì đã qua là yếu tố để con người trở thành loài thượng đẳng trong muôn loài của thế giới. Khả năng ấy của bộ óc được gọi là nhớ. Trái ngược với nhớ là quên. Nhớ và quên là hai mặt đối lập trong hoạt động của bộ não. Đó là đối tượng nghiên cứu của các nhà thần kinh học. Xét về ý nghĩa xã hội, vấn đề sẽ trở nên đầy đủ, toàn diện hơn khi ta suy ngẫm về lời khuyên: Hãy biết nhớ nhưng cũng cần biết quên! – Con người có thể nhớ và cần phải biết nhớ điều gì? Nói một cách khái quát, người ta có thể nhớ những gì ghi dấu ấn đậm nhất trong quá khứ của bản thân. Chính trí nhớ đã giúp con người có được một “kho lưu trữ” hết sức phong phú. Trước hết, chúng ta rất cần rèn luyện để nhớ những tri thức đã được học ở nhà trường cũng như trong cuộc sống. Có khắc sâu trong trí não tri thức của các bộ môn thì học tập mới tiến bộ. Những người thông minh, học giỏi là những người có trí nhớ rất tốt. Học đâu quên đấy là hạn chế lớn đối vớ người học sinh. Chúng ta cũng cần phải nhớ nhiều điều hệ trọng, thiêng liêng, liên quan đến cuộc sống của mình. Nhớ về những người thân thương mà mình từng gắn bó. Nhớ những ân sâu nghĩa nặng mà người khác đã dành cho. Nhớ về những miền đất đã cho ta bao nhiêu kỉ niệm, cố tình không nhớ những điều đó, con người sẽ trở thành kẻ vô cảm, vô tâm, thậm chí là vong ân, bội nghĩa. Làm sao có thể chấp nhận được một con người không bao giờ nhớ đến thầy, cô giáo đã dạy dỗ mình và những bạn bè đã từng đồng cam cộng khổ? Làm sao có thể chấp nhận có ai đó không còn nhớ gì đến cả quê hương của mình? Xét về phương diện này, nhớ không đơn thuần là trạng thái tâm lí, mà đã thuộc về vấn đề đạo lí. Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây chính là những biểu hiện của đạo lí mà người Việt luôn luôn đề cao. – Trong cuộc sống, con người cần phải quên đi nhiều điều. Trước hết, hãy quên đi những gì mà mình đã làm cho người khác. Từng giúp đỡ ai về vật chất hay về tinh thần, đã bênh vực ai trong lúc người ta đối diện với bất công, từng an ủi ai trong lúc cô đơn, buồn tủi… những việc làm đó đương nhiên là rất tốt đẹp. Tuy nhiên, sẽ đẹp hơn, nếu ta biết quên đi tất cả để tránh sa vào sự kể công một cách tầm thường. Quên đi những lỗi lầm của người khác cũng là một điều rất cần thiết, sống trên đời, không ai là người hoàn hảo. Bên cạnh những ưu điểm, con người còn có những chỗ bất toàn. Hãy gạt khỏi trí nhớ những điều không hay mà người khác đã gây ra cho ta, để tâm hồn luôn thanh thản. Có như vậy, ta mới thoát khỏi định kiến, để có cái nhìn tươi sáng hơn về cuộc đời.
Suy nghĩ về ý kiến_ “Hãy biết nhớ nhưng cũng cần biết quên!”– Ngữ Văn 12
761
Suy nghĩ về ý kiến: “Quê hương và chốn lập nghiệp” – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về lập nghiệp Đề bài: Quê hương và chốn lập nghiệp. Hãy bộc lộ suy nghĩ của mình về vấn đề trên bằng một bài viết có độ dài khoảng 600 chữ. Hướng dẫn làm bài Đề bài yêu cầu phát biểu suy nghĩ về điều luôn làm cho những người trưởng thành phải bận lòng, từ đó gợi mở những nhận thức mói về không gian sống của chúng ta hôm nay cùng các nghịch lí của nó. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Quê hương và chốn lập nghiệp là những khái niệm khác nhau. Quê hương chỉ định nơi “chôn rau cắt rốn”, nơi mình sinh ra và lớn lên, cũng chỉ định một giá trị lớn của cuộc đời, không ai có thể tuỳ tiện vứt bỏ. Khái niệm quê hương có sự giãn nở rộng hẹp khác nhau: nó có thể là một làng, một xã, một huyện, một tỉnh, cũng có thể là một nước (quốc gia). Chốn lập nghiệp chỉ định nơi ta tạo dựng sự nghiệp cho mình, nơi ta hiện sống và làm việc. Con người có thể lập nghiệp tại chính quê hương mà cũng có thể ở những miền đất khác, trong hoặc ngoài nước. – Trong những thời đại lịch sử trước đây, phần đông con người sống với suy nghĩ giản dị: sinh ra ở đâu thì sống, làm việc và chết ở đó. Điều này dường như mang ý nghĩa tất yếu. Nhưng trong thời hiện đại – thời đại của sự giao lưu trên quy mô toàn Gầu – nhận thức trên đã bộc lộ “vấn đề”. Quê hương vẫn được xem là một giá trị thiêng liêng nhưng nó không còn quá trói buộc mọi lựa chọn của con người. Người ta làm việc và sống ở nơi khác mà vẫn có thể không bị mang tiếng là bội bạc với quê hương. Theo đó, khái niệm quê hương cũng mở rộng nội hàm, làm xuất hiện những khái niệm mới như “quê hương thứ hai”, “quê hương mới”… – Trong suy nghĩ của không ít người, quê hương thường gắn liền với ý niệm về sự “nghèo khó”, “chật hẹp”. Đó là một trong những nguyên cớ thúc đẩy họ ra đi, “dựng cơ đồ” ở những chốn khác, thuận lợi hơn. Sự lựa chọn này hoàn toàn chính đáng, không có lí do gì để ngăn trở, nhất là khi chúng ta đã có nhận thức đầy đủ về quyền tự do của con người cá nhân. Tại chốn lập nghiệp (không phải là quê hương), người ta có thể đóng góp được nhiều nhất cho xã hội, và qua đó cũng gián tiếp đóng góp cho quê hương. Điều đó rõ ràng là tốt đẹp. Quê hương có thể tự hào về những người con của mình đã thành danh ở xứ khác. – Sự lựa chọn trong cuộc đời thật đa dạng. Có người muốn lập nghiệp ngay tại chính quê hương mình với mong muốn làm cho quê hương ngày càng giàu mạnh, thoát khỏi cái tiếng “nghèo khó”, “chật hẹp”. Đây hiển nhiên là một điều đáng biểu dương. Tuy nhiên, theo cái nhìn cởi mở, ta không thể lấy sự lựa chọn này làm chuẩn mực để đo những sự lựa chọn khác, vấn đề quan trọng là trong lòng anh có còn chỗ cho quê hương không? Đóng góp cho quê hương, từ xa, vẫn là một sự đóng góp đáng được tôn vinh, trân trọng. – Đối với con người hiện đại, những ràng buộc đối với quê hương chỉ bằng sợi dây nguồn cội, bằng những giá trị mặc định từ xưa rõ ràng là không đủ. Quê hương chỉ thực sự trở thành hai tiếng có ý nghĩa vẫy gọi khi quê hương là chốn trở về đầy hấp dẫn với chính sách thu hút nhân tài được thực hiện có hiệu quả, là trung tâm kết nối mọi người ở mọi vùng miền của Tổ quốc và ở mọi nơi trên thế giới. Lúc đó, khái niệm chốn lập nghiệp không còn đối lập với khái niệm quê hương và khái niệm trở về cũng mang một nội hàm mới, ý nghĩa mới, có thể giúp cho người ta yên tâm sống, làm việc và cống hiến, dù họ đang ở không gian nào.
Suy nghĩ về ý kiến_ “Quê hương và chốn lập nghiệp” – Ngữ Văn 12
745
Suy nghĩ về ý kiến: “Sống là chuyển động và hành động” – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về thái độ sống tích cực Đề bài Sống là chuyển động và hành động. Phát biểu ý kiến của anh (chị) về vấn đề trên bằng một bài văn khoảng 600 chữ. Hướng dẫn làm bài Đề muốn đánh thức những ý nghĩ lạc quan về cuộc đời và thái độ sống tích cực của thanh niên, cần bộc lộ được khát khao vươn tới và những kế hoạch tương lai của bản thân qua việc phát biểu suy nghĩ về vấn đề này. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Để nhận diện bản chất của cuộc sống, chúng ta thường dùng những từ, cụm từ như “phức tạp”, “đầy biến động”, “không ngừng đi tới”… Đó quả là những từ, cụm từ xác đáng, có ý nghĩa khái quát cao. Cuộc sống được tạo nên bởi hoạt động sống, hành động sống, hành vi sống của mọi con người. Bởi vậy, không có gì khác, bản chất nói trên của cuộc sống phản ánh chính bản chất của cái được gọi là sống. Cuộc sống và sống là những khái niệm khác nhau nhưng thống nhất với nhau. Tường giải một khái niệm sẽ tạo tiền đề để nắm bắt đúng nội hàm của khái niệm còn lại. – Từ muôn xưa, sống luôn luôn là chuyển động và hành động. Tuy nhiên, trong bối cảnh hôm nay, việc nhắc lại điều này không hề vô nghĩa, bỏi như chúng ta thấy, cuộc sống bây giờ xem ra chuyển động gấp gáp hơn, năng động hơn, có nhịp độ khẩn trương hơn, do sự tiến bộ của văn minh, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, do những nỗ lực cải tạo không ngừng của con người đối vói môi trường, hoàn cảnh sống. – Nói tới chuyển động và hành động ở đây thực chất là nói tới sự chủ động, năng động của chúng ta trong cuộc sống, nói tới sự linh hoạt nhập cuộc, tới khả năng song hành cùng thời đại của mỗi một con người. Chuyển động không phải chỉ là vấn đề của cơ thể, thể chất hay là sự dịch chuyển vị trí của con người trong không gian. Chuyển động trước hết phải được bắt đầu từ nhận thức, quan niệm, gắn liền vói đổi mới cách tư duy về nhiều vấn đề của tồn tại. Cuộc sống đi lên, mọi thứ đều thay đổi. Nếu cố chấp, bảo thủ, khư khư giữ những tín điều, giáo điều đã bị phủ nhận theo quy luật thì chúng ta luôn đứng trước nguy cơ tụt hậu. Điều này đúng với cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như đúng với lộ trình phát triển của cả một đất nước, dân tộc. Tất nhiên, chuyển động ở đây khác xa với kiểu hành xử cơ hội “gió chiều nào xoay chiều ấy”. Nó phải được đặt trên nền tảng của tư duy biện chứng vốn giúp ta thấy rõ bước đi tất yếu của cuộc sống để ta biết điều chỉnh suy nghĩ, hành vi, hành động của mình cho phù hợp. Trong mệnh đề đã nêu, hành động là hệ quả tất yếu của chuyển động. Nó giống như những biểu hiện cụ thể của sự chuyển động, thay đổi từ sâu trong nhận thức. Hơn thế, nó gắn liền với chiến lược can dự vào đời sống theo cách tích cực nhất, nhằm thúc đẩy mọi thứ phát triển thuận chiều. – Tuổi thanh niên, hơn bất cứ lứa tuổi nào khác, Mặn nồng hứa hẹn biết bao hoa (Tố Hữu), là tuổi có khả năng nắm bắt mọi cơ hội của cuộc đời một cách nhạy bén và thành công nhất. Chúng ta không thể để phí nó, chôn vùi nó bằng thái độ thụ động, ù lì, sợ sệt. Chỉ có chuyển động và hành động, chúng ta mới có thể bộc lộ được hết những phẩm tính thanh niên của bản thân trên hành trình hướng về một ngày mai tươi sáng.
Suy nghĩ về ý kiến_ “Sống là chuyển động và hành động” – Ngữ Văn 12
691
Suy nghĩ về ý nghĩa bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương Hướng dẫn Ý nghĩa bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Mở bài: Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời chống Mỹ. Trọn cuộc đời ông sống gắn bó và viết về đời sống và chiến đấu của nhân dân Nam bộ. Ông vận dụng lời ăn, tiếng nói, câu hát, câu hò của người nông dân vào trong thơ ca. Bởi thế, thơ Viễn Phương dễ nhớ, giàu cảm xúc, nhưng không bị lụy, cường điệu nỗi đau. Ý thơ nền nã, dịu nhẹ như thì thầm, man mác, bâng khuâng, day dứt, không gút mắt, cầu kỳ, kênh kiệu, khoa ngôn. Hình ảnh nào trong đời sống anh cũng tìm thấy chất thơ. Bài thơ Viếng lăng Bác là tác phẩm được biết đến nhiều nhát của Viễn Phương. Thân bài: Tháng 4/1976, sau khi nước nhà thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành, Viễn Phương cùng đoàn khách nam bộ ra thăm lăng Bác. Bài thơ ra đời trong dịp đó. Bài thơ là cảm xúc chân thành và cảm động của nhà thơ đối với lãnh tụ, đối với đất nước. Mở đầu bài thơ là lời thông báo với Bác đầy yêu thương về sự xuất hiện của nhà thơ: Con ở Miền nam ra thăm lăng Bác Cách gọi “Bác” xưng “con” thật trìu mến, gần gũi, yêu thương và đầy tự hào. Cách gọi ấy vừa là biểu thị tấm lòng yêu kính vừa tha thiết bày tỏ niềm háo hức mong chờ từ lâu trong lòng tác giả. Lời giới thiệu rưng rưng xúc động về mảnh đất “miền Nam” chịu nhiều đau thương, gian khó. Phép nói giảm, nói tránh từ “thăm” đến “viếng” nhằm bọc lộ niềm thương yêu tiếc nối. Nó khẳng định Bác vẫn mãi trong lòng mỗi chúng ta. Sự ngỡ ngàng của nhà thơ khi nhìn thấy lũy tre xanh quanh lăng Bác. Một màu xanh êm dịu, như màu của khắp mọi miền quê trên đất nước: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. Hình ảnh hàng tre đươc miêu tả qua một loạt các chi tiết cụ thể: tre xanh xanh, tre bát ngát, tre thẳng hàng… Từ cảm thán “ôi” bộc lộ niềm ngạc nhiên thích thú và bâng khuâng xao xuyến của nhà thơ. Hình ảnh hàng tre vừa mang nghĩa tả thực vừa mang nghĩa ẩn dụ tượng trưng khắc sâu ấn tượng tre xanh là biểu tượng của dân tộc Việt Nam. Biện pháp nhân hóa hàng tre “đứng thẳng hàng” như người chiến sĩ canh gác làm ta tự hào về con người Việt Nam dù có “bão táp mưa sa” vẫn luôn hiên ngang, bất khuất. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân… Khổ thơ lặp lại hai lần cấu trúc “ngày ngày mặt trời đi” và ” ngày ngày dòng người đi” là một dụng ý nghệ thuật để khái quát lên qui luật của tình cảm con người. Nếu hình ảnh “mặt trời” ở câu một gơi tả cái rực rỡ của thiên nhiên, là nguồn sáng sưởi ấm cho nhân loại thì hình ảnh “mặt trời trong lăng” ở câu hai chính là Bác Hồ, có cảm xúc và tâm trạng ngỡ ngàng, thán phục trước vẻ đẹp của mặt trời mọc lên ở chốn trần gian. Hình ảnh “mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ để ngợi ca Bác, đồng thời bày tỏ niềm biết ơn chân thành của cả dân tộc Việt Nam dành cho người. Cùng dòng người trước lăng, lòng nhà thơ có bao niềm liên tưởng. Dòng người hay dòng hành trình ngợi ca vinh quang của Bác. Tràng hoa hay chính những cuộc đời đẹp nhất, sự cống hiến đẹp nhất của mỗi con người xin dâng như báo công với Bác. Phép hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân” lấy mùa đẹp nhất trong năm tính tuổi đời của Bác. Câu thơ kéo dài tha thiết bởi dấu chấm lửng… như cảm xúc kính yêu, xúc động không nói hết thành lời. Khi bước vào trong lăng, đứng trước linh cữu thiêng liêng của Người, nhà thơ không khỏi ngậm ngùi: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! Các từ ngữ giản dị miêu tả giấc ngủ của Bác yên bình, thanh thản. Người chỉ thực sự ngủ yên khi vầng trăng, biểu tượng của hòa bình sáng soi hai miền Nam – Bắc. Từ “giấc ngủ bình yên” gợi ta liên tưởng đến bao tháng ngày trằn trọc không ngủ được trong cuộc đời của Người. Một canh… hai canh… lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành Canh bốn canh năm vừa chọp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. (Không ngủ được) Hay những đêm rừng chiến khu, vì lo cho vận mệnh đất nước mà thao thức thâu đêm: Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. (Cảnh khuya) Đọc thơ Bác, chúng ta càng hiểu và thương được đời cách mạng truân chuyên của Bác nhiều hơn. Nhà thơ đã thi vị cái chết thành “giấc ngủ” là phép nói giảm, nói tránh đồng thời hình dung ánh đèn thành vầng trăng- người bạn tri kỉ những năm người còn sống. Trong thơ bác đã từng tràn ngập ánh trăng. trăng của bầu trời cao xanh cũng là trăng trong tâm hồn bình dị của Bác. trăng không xa lạ, lúc nào trăng cũng gần gũi đồng hành cùng người trên mọi nẻo đường gian nan. Đó là những đêm xuân trên dòng sông, trăng soi sáng cả bầu trời: Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. (Nguyên tiêu) Đó là những đêm trong tù đày, một mình nơi đất khách quê người, trăng là bạn đường, là người đồng chí kiên trung: Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. (Ngắm trăng) Qua trang thơ của Bác, chúng ta hiểu hơn về chất thi sĩ trong tâm hồn người chiến sĩ. Nay người đã yên giấc ngàn thu, vầng trăng ấy tìm về hoài niệm, vẫn ở bên người, tiếp tục đồng hành cùng người trong một thế giới siêu nhiên. Dù tin tưởng như thế, nhưng nhà thơ không khỏi xót xa và tiếc thương. Niềm đau sót thể hiện trong sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm của nhà thơ. Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! Cặp quan hệ từ “vẫn biết”,“mà sao” chứa nghịch lý giữa trái tim và lí trí. Vẫn biết và tin rằng Bác còn mãi với non sông như trời xanh vĩnh hằng nhưng không thể là không đau xót. Sự ra đi của Bác là một tổn thương mà ai cũng đau nhói trong tim. Động từ “nhói” và dấu chấm cảm bộc lộ niềm tiếc thương đã trở thành một nỗi đau trước sự ra đi vĩnh viễn của Người. Cuộc viếng thăm mau chóng đã đến lúc chia rời. Niềm mong nhớ và luyến lưu ngập tràn trong lời chào tạm biệt: Mai về miền Nam thương trào nước mắt. Câu thơ như một lời trào thành kính của người miền Nam với Bác. Cách nói mộc mạc, chân thật của người Nam Bộ in dấu trong thơ. Bởi vì chỉ một từ thưong là trọn vẹn bao nhiêu yêu, quí, kính trọng và biết ơn đến vô cùng. Trong tâm trạng ngập tràng niềm yêu kính, nhà thơ bày tỏ những nguyện ước chân thành. Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Điệp ngữ “muốn làm” lặp lại ba lần như tha thiết bày tỏ khát khao muốn làm con chim dâng cho đời tiếng hót. Muốn làm đoá hoa để lặng lẽ toả hương. Hình ảnh cây tre được nhân hoá mang phẩm chất con người là hình ảnh những người con trung hiếu luôn trung thành với sự nghiệp Bác để lại cho non sông. Từ hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương quanh lăng Bác, nhà thơ đã suy nghĩ, liên tưởng và mở rộng khái quát thành một hình ảnh hàng tre mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Dù gặp bão táp mưa sa – gặp những thăng trầm trong cuộc kháng chiến cứu nước và giữ nước, vẫn “đứng thẳng hàng”, vẫn đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục.Niềm xúc động và tự hào về đất nước, về dân tộc, về những con người Nam Bộ kiên trung. Nó mở đầu, kết thúc bài thơ là một biểu tượng dân tộc Việt Nam luôn mãi bên Người. Các hình ảnh trong thơ đơn giản tượng trưng cho những mong ước chân thành muốn được hóa thân thành mộ phần vĩnh hằng của đất nước. Ước nguyện thiêng liêng ấy ta đã một lần bắt gặp trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến. Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. Kết bài: Với lời thơ giản dị, mộc mạc nhưng cảm xúc tha thiết chân thành, hình ảnh thơ đẹp, giàu chất suy tưởng, giọng điệu thơ phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào nhà thơ Viễn phương đã thể hiện thật chân thành và cảm động lòng yêu kính và biết ơn sâu nặng đối với Bác Hồ, đối với đất nước. Bài thơ kết thúc nhưng nỗi niềm luyến lưu hoài vọng cứ còn vang mãi trong tâm khảm của mỗi con người.
Suy nghĩ về ý nghĩa bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương
1,734
Suy nghĩ về ý nghĩa câu nói Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy điều ác nhỏ mà làm Hướng dẫn Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy điều ác nhỏ mà làm Mở bài: Trong cuộc sống, nhiều người muốn làm điều thiện và tránh xa những điều ác. Tuy nhiên, không ít người cho rằng làm điều thiện là phải làm một việc gì hết sức lớn lao, cao cả, còn nếu chẳng may làm một điều ác nhỏ thì cũng không làm ảnh hưởng tới nhân cách của một con người. Những người có quan niệm như vậy cần suy nghĩ một cách nghiêm túc trước lời khuyên: “Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy điều ác nhỏ mà làm” Thân bài: Điều thiện là những điều tốt đẹp trong cuộc sống, đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho con người. Điều ác là những điều xấu xa, ác độc trong cuộc sống, gây ra đau khổ cho con người. Như thế có nghĩa là những gì có thể mang lại sự hữu ích đối với cuộc sống, làm an lạc tinh thần thì gọi là điều thiện. những gì có thể làm tổn hại, hủy hoại, tiêu diệt đối với cuộc sống, khiến con người kih hãi gọi là điều ác. Cuộc sống con người hết sức phức tạp. Bởi con người có lí trí, có trí tuệ, có lòng tham, lòng đố kị và hơn thua lẫn nhau. Nghĩa là mỗi các nhân đều muốn phần tốt đẹp, phần nhiều hơn thuộc về mình. Từ đó sự tranh đua, chiếm đoạt, hãm hại lẫn nhau nảy sinh từ bản chất của con người. Chính vật chất và lòng tham của con người khiến con người nhiều khi trở nên mù quáng. Làm việc thiện luôn là hành động hữu ích. Có thể nó chỉ mang lại một cái lọi nhỏ cho bản thân hoặc cho người khác hoặc chẳng có lợi ích gì. Thế nhưng, nó có thể tạo gốc cho căn lành, là nền tảng của những điều tốt đẹp sẽ nảy sinh trên đó. Việc làm điều thiện dù nhỏ cũng phản ánh vẻ đẹp của nhân cách con người. Giá trị đích thực của mỗi con người chính là ở phẩm đức chứ không phải vật chất. Người biết làm điều thiện luôn có tâm hồn rộng mở, hướng đến người khác, không vị kỉ, không cầu lợi, không tham lam hay tàn bạo. Làm điều ác dù nhỏ cũng có tác hại lớn. Cái ác dù nhỏ, nếu không ngăn chặn sẽ gây ra hậu quả khôn lường. Một chiếc đinh nhỏ rãi trên đường có thể gây ra thiệt hại lớn về tài sản, về tính mạng. Một chất đọc nhỏ thẻ xuống dòng kênh cũng có thể giết hại biết bai sinh thể. Một lời nói tàn ác có thể làm đau đớn biết bao tâm hồn. Bởi thế, việc ác tuy nhỏ nhưng phải nhất quyết không được làm. Thế nhưng, cũng cần hết sức cẩn thận khi đánh giá một sự việc xảy ra là việc xấu hay việc ác. Việc xấu là việc gây ra bởi những kẻ xấu, có tính chất nhất thời, gây nên những tổn hai nhỏ. Việc ác là việc gây ra bởi kẻ ác, có mục đích làm tổn hại người khác, mức độ tổn hại nhỏ nhưng dai dẳng, lâu dài. Hãy làm những gì chúng ta cảm thấy có thể mang đến lợi ích cho cuộc sống của chính chúng ta. Không chờ đợi điều thiện lớn mới làm, làm điều thiện từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống hằng ngày. Nhặt một mảnh chai vỡ giữa đường, giúp một em nhỏ, một người già qua đường, giúp bạn trong lúc khó khăn với tinh thần “một miếng khi đói bằng một gói khi no”… Mỗi một việc làm tốt đẹp là một bông hoa nở giữa cuộc đời. Không chờ điều ác lớn mới tránh mà tránh xa điều ác từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống hằng ngày. Việc gì có thể gây tổn hại đối với người khác dù nhỏ cũng tuyệt đối không làm. Bởi cuộc sống rất công bằng. Cho đi một điều thiện sẽ được nhận lại một điều thiện. Cho đi một việc ác sẽ nhận lấy một điều ác khác. Kẻ yếu đuối thường tin vào may mắn. Người mạnh mẽ tin vào nhân quả ở đời. Kết bài: Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo là chân lí bất biến. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm. Chớ thấy điều ác nhỏ mà làm. Mỗi một tác động của chúng ta vào cuộc sống sẽ nhận về một giá trị tương xứng. Sống ở đời đừng so đo tính toán thiệt hơn. Bởi mặt đất không bao giờ là bằng phẳng, cuộc đời này cũng thế. Hãy nghĩ đến ngày sau, những lúc ta gặp khó khăn sẽ được muôn người giúp đỡ bởi cảm cái ân nghĩa xưa kia mà không ngừng cố gắng làm được nhiều việc tốt ngay từ hôm nay.
Suy nghĩ về ý nghĩa câu nói Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy điều ác nhỏ mà làm
853
Suy nghĩ về ý nghĩa câu nói: Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích Hướng dẫn Hãy viết một bài văn để thuyết phục bạn: Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích Mở bài: Học tập là một nhu cầu thiết yếu đối với con người. Học tập giúp con người hiểu biết nhiều điều, làm được nhiều việc có ích cho đời. Học tập là con đường vô cùng gian khó. Muốn học tập thành công đòi hỏi ở người học rất nhiều công sức và thời gian. Vì thế học tập là việc cần phải được thực hiện khi còn trẻ và duy trì xuyên suốt cuộc đời như người xưa từng dạy: nếu khi còn trẻ t không chịu học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích. Thân bài: Đối với lứa tuổi học sinh, học tập là tiếp thu kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo. Đồng thời phải biết mở rộng việc học trong đời sống hàng ngày bằng năng lực quan sát và nghiên cứu. Vừa học tập theo chương trình giáo dục của quốc gia vừa tự học để mở nhận thức, nâmg cao năng lực và tích lũy kinh nghiệm làm việc, kinh nghiệm sống. Do đó muốn học phải hỏi, muốn giỏi phải thực hành. Đó là con đường chiếm lĩnh tri thức chắc chắn, hiệu quả và bền vững nhất. Có người nói rằng nỗi vất vả trong việc học chỉ là tạm thời, rồi nó cũng sẽ qua đi còn nỗi khổ đau vì không chịu học sẽ là mãi mãi. Nghĩa là công việc học tập sẽ mang lại cho chúng ta thành công, niềm vui và hạnh phúc. Bởi thế, không nên vì một khó khăn, trở ngại nào đó mà rời bỏ nhiệm vụ học tập trong cuộc sống này. Nhỏ không học lớn lên làm việc gì cũng thấy khó, bản thân sẽ sống trong nghèo khổ, khổ đau. Thực tế những ai không chăm lo học tập từ nhỏ, lơn lên thường trở thành người kém cỏi, chẳng làm nên việc gì lớn lao. Còn những người có tinh thần học hỏi đều dễ thành công trong cuộc sống Trần Minh “khố chuối” rất nghèo nhưng có ý chí quyết tâm học tập mà sau đổ trạng nguyên. Châu Trí quét lá đa, đốt láy ánh sáng để học sau đỗ đàu kì thi Hương. Nguyễn Hiền chăn trâu học ké con nhà phú ông đổ trạng nguyên. Tiến sĩ sĩ nông học Lương Định Của đã lao động cần cù lai tạo giống lúa mới. Ông bà Mari curie đã chiết lọc 8 tấn quặng để khám phá ra các nguyên tố. Lu-I-Pasteur nhà bác học pháp thế kĩ XIX bỏ cả đời mình nguyên cứu vi sinh vât để tìm ra vắc xin chủng ngừa bệnh dại cho con người. Mọi thứ đều sẽ nhàm chán, trừ học hỏi. Việc cố gắng học hỏi đem lại cho ta nhiều phương tiện, phương cách hay sự lựa chọn thay vì cam chịu số phận “không biết gì”. Ngay trong thời đại công nghệ như ngày nay, không học tập không thể hòa nhập được với cuộc sống của mọi người. Học tập đem đến cho con người biết bao hạnh phúc. Đến người bị liệt cả hai tay như thày giáo Nguyễn Ngọc Ký tập viết bằng chân để học tập. Bởi thầy biết chắc rằng chỉ có học tập mới có thể giúp thầy vượt len trên số phận và sống một cuộc sống có ý nghĩa. Còn biết bao nhiêu người khuyết tật khác đang ngày đêm học tập thì một người còn lành lặn, khỏe mạnh mà lười biếng, chán nản, thất vọng là điều đáng xấu hổ. Vì thế bạn cần nghĩ đến việc học tập tốt ngay từ bây giờ để sau này có cơ hội giúp cho con người và xã hội nhiều hơn. Kết bài:
Suy nghĩ về ý nghĩa câu nói_ Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích
683
Suy nghĩ về ý nghĩa câu tục ngữ Có chí thì nên Hướng dẫn Có ý chí thì làm việc gì cũng nên Mở bài: Sự khác biệt lớn nhất giữa người chiến thắng và kẻ thất bai không phải là sức mạnh, tiền bạc hay địa vị mà chính là ở ý chí. Ý chí mạnh mẽ biến việc khó thành việc dễ, giúp ta kiên trì, bền bỉ trong công việc, vượt qua khó khăn, trở ngại đễ đạt đến thành công. Bởi thế, người xưa từng nói: có chí thì nên. Thân bài: Thế nào là có chí thì nên? Có chí nghĩa là có nghị lực, quyết tâm vững vàng. Nên là đạt đến thắng lợi, thành công trong cuộc sống. Câu tục ngữ ngắn gọn bốn từ, tách hai vế sóng đôi bổ sung kết hợp chặt chẽ như một quy luật tất yếu trong cuộc sống. Khẳng định đức kiên nhẫn, bền bỉ chính là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công. Đó là một lời khuyên, một bài học mà ông cha ta đã đúc kết từ ngàn đời truyền lại cho con cháu hôm nay và mai sau; có sự kiên trì nhẫn nại và quyết tâm lớn thì việc gì cũng làm xong cho dù việc đó rất khó khăn tưởng như khong thể hoàn thành được. Tại sao có chí thì nên? Con người ai cũng muốn thành đạt trong công việc nhưng con đường dẫn đến thành công thường quanh co khúc khuỷu và lắm chông gai. Bác Hồ đã từng khẳng địn trong bài “Đi đường” Núi cao rồi lại núi cao trập trùng” Xác định được điều ấy, chúng ta mới xác định được lập trường, lí tưởng,mục đích và trước mọi chông gai khó khăn chúng ta mới sẵn sàng đối phó. Và lúc này ý chí, nghị lực là yếu tố đầu tiên giúp ta vượt qua trở ngại đó. Ý chí sẽ giúp chúng ta có niềm tin vững vàng và chính trong gian khổ đó, trước những tai ương gặp trong đời sẽ nung rèn tinh thần chúng ta thêm hăng hái, tôi luyện hơn. “Ví không có cảnh đông tàn Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân Nghĩ mình trong bước gian truân Tai ương, rèn luyện tinh thần thêm hăng” Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc ra phải thực hiện chiến lược trường kì kháng chiến. Từ cuộc kháng chiến chống quân Minh của vua tôi nhà Lê cách đây mấy thế kỉ, cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân ta. Tất cả đều thể hiện ý chí, nghị lực kiên cường, bất khuất của dân tộc. Cuối cùng chính sự bền chí ấy dẫn chúng ta đến thắng lợi vẻ vang giữ vững chủ quyền độc lập dân tộc. Trong cuộc sống lao động sản xuất, nhân dân ta cũng thể hiện đức tính kiên nhẫn, bền bĩ đáng khâm phục. Nhìn con đê sừng sững ven sông Hồng, chúng ta mới hiểu được tổ tiên ta đã kiên trì, nhẫn nại tới mức nào để tạo bức tường thành ngăn dòng nước luc bảo vệ mùa màng Có chí vững vàng sẽ giúp chúng ta thêm nghị lực, sức mạnh để đối phó với khó khăn. Có những việc tưởng chừng không làm được nhưng có ý chí giú ta dễ dàng khuất phục cho dù có là việc đào núi lấp biển, ý chí giúp chúng ta trước khó khăn có thêm sáng tạo để giải quyết. “Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên” Bài học nhân thức: Chúng ta mạnh dạn phê phán những kẻ ngại khó sợ khó hay nản ý ngã lòng bi quan trước khó khăn. Nhưng đừng nghĩ rằng chủ quan tự mãn là thái độ đúng đắn. Lời khuyên của ông cha luôn đúng đắn thiết thực. Nó còn ý nghĩa hơn khi chúng ta thực hiện lời dạy đó. Vận dụng trong hoàn cảnh thực tế ngày nay, câu tục ngữ là bài học quý báu. Sống ở trên đời bất cứ việc gì khi đã xác định được mục đích, muốn đến thành công không dễ dàng. Nếu có ý chí nghị lực vững vàng, chúng ta sẽ vượt qua được thử thách. Có ý chí sẽ rèn luyện được tinh thần tự chủ không dựa dẫm, tự tin trong cuộc sống. Chúng ta phải đương đầu với mọi gian lao thử thách, xác định lý tưởng mục đích làm việc vững vàng. Đừng sợ thất bại. Nếu vấp ngã phải dũng cảm đứng lên, tự tin bước lại từ đầu, để đạt tới mục đích, đem hết khả năng của mình góp phần vào sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước. Kết bài: Câu tục ngữ Có chí thì nên ngắn gọn, súc tích mà bao hàm sâu xa. Đó là sự đúc kết kinh nghiệm từ cuộc sống chiến đấu và lao động, ông cha ta khuyên nhủ mọi người phải kiên trì nhẫn nại để có thể vượt qua những khó khăn, thử thách đạt tới thành công.
Suy nghĩ về ý nghĩa câu tục ngữ Có chí thì nên
846
Suy nghĩ về ý nghĩa của hoạt động chào cờ ở trường học hiên nay Hướng dẫn Lễ chào cờ đầu tuần ở trường học, một hoạt động có ý nghĩa thiêng liêng Chào cờ là một hành động mà không người dân nào không biết. Đó là một nghi thức trang trọng nhằm thể hiện niềm yêu thương, lòng kiêu hãnh, tự hào khi được là con dân đất Việt, đồng thời cũng thể hiện sự biết ơn đối với các thế hệ cha anh vì đã đổ máu hi sinh để đổi lấy độc lập tự do cho đất nước, để thắm thêm nữa cái màu đỏ oai hùng của lá quốc kì thiêng liêng. Thế nhưng việc chào cờ trong xã hội hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đáng để bàn tới. Nó đã, đang diễn ra và xảy ra theo cả hai chiều hướng hoàn toàn trái ngược: tốt và xấu. Quốc ca là bài hát được nhà nước quy định dùng để giao tiếp quốc tế hoặc hát vào buổi lễ chào cờ đầu tuần ở tất cả các cơ quan, trường học, công sở trong cả nước. Quốc ca là một bài hát ca ngợi tinh thần yêu nước, khơi gợi và tán dương truyền thống, lịch sử đấu tranh của một dân tộc. Lời bài hát hùng hồn, nghiêm trang, được thực hiện một cách nghiêm túc đầy trang trọng. Thế nhưng hiện nay, trong lúc chào cờ, nhiều bạn học sinh thản nhiên quay sang nói chuyện với bạn khác, rồi cười, rồi giỡn. Có bạn không chịu hát Quốc ca bài hát mang trong mình tinh thần thiêng liêng bất khuất của dân tộc, thậm chí có bạn còn cố ý xuyên tạc, hát sai lệch lời bài hát đến mức lố bịch để làm trò vui cho các bạn khác lại được một phen khác cười đùa và giỡn. Khi đang hát quốc ca một số người còn hát nhép. Không hát theo nhạc. Những hành động vô ý thức đó không chỉ làm khó chịu những người nghiêm túc khác cũng đang chào cờ, mà còn là sự sỉ nhục to lớn đối với quốc kì Việt Nam, với đất nước Việt Nam, đối với bao nhiêu năm trời đấu tranh gian khổ của nhân dân cho một quốc gia độc lập như hôm nay. Ở một số nơi còn có hiện tượng mở máy cát xét hát Quốc ca khi chào cờ, học sinh chỉ việc đứng nhép miệng theo lời nhạc, hoặc tệ hơn, chỉ cần đứng im trong khi giai điệu hùng dũng của bài Tiến quân ca cất lên. Tất nhiên tiếng hát của cát xét có hay cách mấy thì cũng không sao bằng được tiếng hát cất lên từ trái tim ta, từ tận đáy lòng ta, từ sâu thẳm tâm hồn ta. Nguyên nhân của hiện tượng tiêu cực trên có lẽ là do ý thức của chúng ta chưa cao, và lòng yêu nước tồn tại bên trong chúng ta chưa đủ lớn. Nhiều bậc cha mẹ hiện nay do mải mê lo việc kiếm tiền và xoay vòng trong cái guồng quay của cuộc sống đã quên mất trách nhiệm giáo dục con cái những điều hay lẽ phải, cái nào là tốt nên làm, hành động nào là xấu không nên làm,… Nhà trường đã giáo dục và rèn luyện học sinh hát quốc ca hết sức nghiêm túc. Mặt khác, hoạt động này diễn ra thường xuyên và liên tục nhằm để củng cố và khắc sâu ý nghĩa bài hát quốc ca và hoạt động chào cờ trong trường học, khơi bừng lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Song, nhiều học sinh thiếu ý thức, không nghiêm túc khi chào cờ và hát Quốc ca. Họ xem thường hoạt động chào cờ và cố tình không chấp hành hiệu lệnh. Mỗi gia đình cũng cần phải ý thức giáo dục ý thức nghiêm túc khi chào cờ và hát quốc ca trong trường học và cộng đồng. Hãy giáo dục cho giới trẻ lòng yêu nước và thực hiện lòng yêu nước bằng hoạt động hát quốc ca. hãy giáo dục cho giới trẻ biết yêu nước qua những tình yêu nho nhỏ như yêu gia đình, yêu bạn bè, trường lớp, yêu quê hương đất nước và thể hiện tình yêu ấy bằng những hoạt động thiết thực, cụ thể. Khi đã yêu nước thì ta phải tôn trọng tình yêu đó, phải tôn trọng Quốc kỳ, tôn trọng những buổi sáng chào cờ, tôn trọng việc hát Quốc ca trong những giờ chào cờ ấy. Đó mới là biểu hiện của một con dân nước Việt Nam. Chào cờ không nghiêm túc làm xấu đi hình ảnh của con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Nếu một người nước ngoài đến Việt Nam và vô tình chứng kiến một buổi lễ chào cờ mà học sinh hát như không hát, hay thậm chí không hát, vừa hát vừa cười đùa, giỡn hớn Đó là thật vô ý thức. Buổi chào cờ là khoảng khắc, là thời gian, là phút giây đáng trân trọng nhất của mỗi người, vì vậy không nên phá hỏng nó hay làm nó trở thành một vở kịch nhạt nhẽo, vô nghĩa. Chúng ta hãy kêu gọi họ, những người vẫn chưa có ý thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của việc chào cờ. Phải nhìn nhận hát quốc ca là một hoạt động thiêng liêng. Quốc ca là bài hát xuyên suốt đời người. Mỗi học sinh hãy nâng cao ý thức nghiêm túc trong việc hát quốc ca để thể hiện trách nhiệm và tình yêu đối với tổ quốc.
Suy nghĩ về ý nghĩa của hoạt động chào cờ ở trường học hiên nay
961
Suy nghĩ về ý nghĩa của hạnh phúc Hướng dẫn Mục đích cuối cùng của đời người là được sống hạnh phúc Mở bài: Mục đích của mọi sự tồn tại, mọi sự nỗ lực, mọi sự hi sinh không phải là tiền bạc, không phải là tình yêu mà chính là hạnh phúc. Hạnh phúc là mục đích con người luôn hướng đến dù họ là ai, họ đang ở trong hoàn cảnh nào. (Suy nghĩ về hạnh phúc) Thân bài: Hạnh phúc là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau về ý nghĩa thực sự của hạnh phúc. Có người cho rằng hạnh phúc là trạng thái sung sướng khi cảm thấy hoàn toàn được toại nguyện. Hạnh phúc là một trong những cảm giác tuyệt vời nhất mà con người trải nghiệm trong cuộc đời. Hạnh phúc là một giá trị sống quan trọng của con người. Nó là một trong ba quyền cơ bản của con người (quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc). Có người lại cho rằng hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao. Cảm xúc ấy được cho rằng chỉ có ở loài người. Nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí. Dù hiểu theo nghĩa nào thì hạnh phúc vẫn là khái niệm rất trừu tượng. Tùy từng người, từng lĩnh vực, từng hành vi, từng hoàn cảnh, từng thời điểm khác nhau… hạnh phúc mang nhiều ý nghĩa riêng và thậm chí trái ngược nhau. Có hạnh phúc lớn lao như vừa đạt được một điều gì đó rất lớn trong cuộc sống. Nhưng có lúc hạnh phúc rất đỗi bình dị… Có hạnh phúc ngẫu nhiên, bất chợt đến ngoài mong đợi. Nó mang đến cảm giác lâng lâng khó tả, nghẹn ngào. Nó để lại trong lòng người một ấn tượng khó phai và thường mang tính ngắn ngủi. Có hạnh phúc tất nhiên, là kết quả của một quá trình phấn đấu. Đó là cảm giác của sự mãn nguyện. Nó mang dư âm sâu lắng và tồn tại bền bỉ vì nó là kết tinh của những nỗ lực và cố gắng. Khi nào ta sẽ được hạnh phúc? Hạnh phúc đến khi ta được thỏa mãn những nhu cầu, những mong muốn của bản thân. Ví như khi đạt được thành tích cao trong học tập, thành công trong sự nghiệp, có địa vị, quyền lực, danh vọng… khiến ta hài lòng về cuộc sống, cảm thấy tự tin vào bản thân và thêm tin yêu cuộc sống. Hạnh phúc cũng nảy sinh khi ta thỏa mãn nhu cầu về tinh thần. Được hiểu biết, thực hiện được khát vọng, đạt được ước mơ, có chí hướng để đi tới, không bế tắc… Hạnh phúc là sự thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ. Khi đọc được tác phẩm hay ta thấy hân hoan trong lòng. Khi xem được vở kịch hay cuốn phim xuất sắc. Hiểu được ý nghĩa của nó ta cảm thấy cuộc đời thêm ý nghĩa. Ta thấy yêu thương và cảm thông cho người khác. Thấy cuộc sống ở gần ta hơn. Và đó là cảm giác hạnh phúc. Hạnh phúc là khi cảm thấy thoải mái và bằng lòng với những gì đang có. Những người hạnh phúc biết chấp nhận chính mình, chấp nhận cả những khiếm khuyết của bản thân. Họ không mất thời gian quý giá của cuộc đời vào những chuyện buồn khổ hay tiếc nuối. Họ biết chấp nhận những bất trắc, khó khăn như một phần tất yếu của cuộc sống. Hạnh phúc là hài lòng với những gì mình đạt được. Khi đã bằng lòng với cuộc sống là tự giải thoát khỏi sự dằn vặt, tham vọng và dục vọng của bản thân. Khi đó tinh thần thanh thản, thoải mái, lòng được bình an, hạnh phúc. Do vậy, có người tìm kiếm cả cuộc đời cũng không thỏa mãn được nỗi niềm hạnh phúc của riêng mình. Lại có người sống hạnh phúc ngay cả những thời khắc khó khăn nhất của cuộc đời. Tình yêu là trạng thái đem lại cho ta nhiều hạnh phúc nhất. Ta hạnh phúc khi trái tim rung động trước người khác phái. Ta được trải nghiệm những cảm giác hồi hộp, nhớ nhung, mong đợi, lo lắng, bồn chồn, hờn ghen… Được yêu là động lực để hoàn thiện bản thân mình. Ta hạnh phúc khi biết rằng sự tồn tại của mình có ý nghĩa với ai đó. Hạnh phúc là được sống bên cạnh mọi người trong đó có người thân của mình. Mỗi ngày ta được nhìn thấy họ vui vẻ, mạnh khỏe. Hạnh phúc là khi phát hiện ra rằng có người đang nhớ tới mình, đang nghĩ về mình, đang yêu quý mình. Hạnh phúc là khi được sẻ chia tâm tư, tình cảm tốt đẹp. Khi ốm đau có người hết lòng quan tâm và chăm sóc. Khi cô đơn có người an ủi. Khi chán nản, mệt mỏi có người động viên. Khi buồn có người ngồi im lặng nghe mình tâm sự. Hoặc khi vấp ngã có người nâng đứng dậy… Hạnh phúc có thể nở hoa trong lòng chúng ta. Nếu mỗi ngày chúng ta biết sống tốt đẹp ta sẽ được hạnh phúc. Biết làm những việc hữu ích và luôn yêu thương người khác mà không bận tâm về lợi ích của mình. Người hạnh phúc luôn tràn đầy cảm hứng và lạc quan. Họ luôn vui tính, biết dành thời gian để vui đùa, chứ không phải lúc nào cũng mang vẻ mặt cau có. Hạnh phúc chỉ có khi con người sống thật với mình. Sống theo trái tim của mình chứ không phải núp dưới một tấm mặt nạ nào. Không phải sống bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo. Có thể khóc khi buồn, có thể cười khi vui, có thể làm những việc mình thích. Mình có thể bộc lộ cảm xúc của mình mà không cần phải kìm nén… Hạnh phúc là đấu tranh. Hạnh phúc không bỗng dưng mà có mà phải đấu tranh. Phải cố gắng sống hết mình vì bản thân và vì người khác. Nếu mình không cố gắng giành trái tim người mình yêu thương, thì người khác sẽ có nó. Nếu không đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm thì đất nước đâu có cuộc sống hòa bình hạnh phúc như bây giờ. Sống dấn thân với đời. Tận tụy làm việc để hướng tới những giá trị đạo đức cao cả là hành trình đầy thú vị, đầy hạnh phúc. Bởi vì đằng sau mỗi vất vả, khó khăn bao giờ cũng là những niềm hạnh phúc để con người trải nghiệm. Cùng những kinh nghiệm sống đầy ý nghĩa để con người khám phá. Những ai chưa từng đau khổ thì những kẻ ấy không bao giờ biết tận hưởng được hạnh phúc. Ta cần phải làm gì để có được hạnh phúc? Muốn hiểu thế nào là Tình yêu và hạnh phúc, phải biết sống cho kẻ khác. Nghĩa là phải biết yêu (Godwin). Tiêu diệt được mọi lo âu phiền toái trong tâm hồn, ấy là đã tìm được một nguồn hạnh phúc vĩ đại. Tình yêu và hạnh phúc là hình với bóng, nếu biết bảo vệ thì hạnh phúc sẽ thành sự thật. Ngược lại, nếu không biết bảo vệ thì hạnh phúc chỉ là một hình ảnh ảo tưởng không bao giờ có thật Khi được hạnh phúc không nên đắm chìm trong hư ảo mà bỏ qua những vấn đề thực tế hiện tại đang xảy ra xung quanh. Cũng đừng tự phụ mà quên đi theo tư tưởng và mục đích ta đã chọn. Nên cảm nhận hạnh phúc mình đang có. Không nên đánh mất những niềm hạnh phúc của hiện tại để luyến tiếc quá khứ. Dốc hết hi vọng vào tương lai là sai lầm khiến ta không có được hạnh phúc. Càng hạnh phúc càng nên nghĩ đến trách nhiệm và bổn phận của mình. Càng biết chia sẻ yêu thương, biết cố gắng mang lại hạnh phúc cho cha mẹ và người thân bằng tình yêu thương chân thành nhất. Lòng tốt, lòng biết ơn, sự tha thứ, tính độ lượng, sự kiên nhẫn, lòng tin vào chính mình, là con đường đưa chúng ta thẳng tiến đến những niềm hạnh phúc đích thực của cuộc sống. Kết bài: Hạnh phúc là nhận ra con đường đưa mình đến hạnh phúc. Từ đó nỗ lực vun trồng hạnh phúc trên đường đời. Hạnh phúc chỉ tồn tại với những ai biết phấn đấu, kiên trì. Hãy biết cách để đứng dậy khi vấp ngã, biết cách để quên đi nỗi đau. Hãy biết tiến lên phía trước một cách lạc quan. Hãy luôn nghĩ rằng hạnh phúc đang nằm trong tầm tay của mỗi người. Điều quan trọng là có nắm giữ được nó hay không.
Suy nghĩ về ý nghĩa của hạnh phúc
1,515
Suy nghĩ về ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc sống Hướng dẫn Suy nghĩ về ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc sống Mở bài: Để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc và thành công, mỗi người cần có nhiều đức tính. Một trong những đức tính cần có đó là lòng vị tha. Thân bài: Vị tha là gì? Vị tha có nghĩa là sống vì người khác (vị = vì; tha = người khác), không ích kỷ, không vì riêng mình, không mưu lợi cá nhân. Lòng vị tha là sự hy sinh một điều gì cho ai đó không phải là bản thân mình (ví dụ hy sinh thời gian, tiền bạc, của cải) mà không kỳ vọng sẽ được ghi nhận hay sự đền đáp hoặc lợi ích dù là trực tiếp, hay gián tiếp từ phía người nhận hoặc cộng đồng. Lòng vị tha chính là biểu hiện cao đẹp nhất phẩm chất nhân hậu của con người. Nó không đòi hỏi gì nhiều ngoài một trái tim biết chia sẻ vui buồn, biết yêu thương đồng loại. Những biểu hiện của lòng vị tha: Trong công việc: – Người có lòng vị tha là người luôn đặt mục đích của mọi việc làm là vì người khác, vì xã hội. Nếu có vì mình cũng luôn cố gắn với lợi ích chung của mọi người. – Khi làm việc luôn giành phần khó khăn về mình, không lười biếng, tránh né, đùng đẩy công việc cho người khác. Khi gặp khó khăn biết đứng ra gánh vác trọng trách. Trong quan hệ với mọi người: – Người có lòng vị tha luôn sống hòa nhã, vui vẻ, thân thiện với mọi người. Họ dễ đồng cảm, chia sẻ và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Họ cũng biết kìm nén cảm xúc của riêng mình để làm vui lòng người khác. – Luôn nghĩ về người khác trước khi nghĩ đến mình (lo trước cái lo cỉa thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). – Người có lòng vị tha dễ thông cảm à tha thứ lỗi lầm của người khác. Họ ít khi bắt bẻ hay gây khó dễ cho người khác khi họ mắc lỗi lầm. – Người có lòng vị tha luôn trăn trở, day dứt về những hành động và lời nói. Không bao giờ họ làm phương hại đến người khác. Ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc sống: Đối với bản thân – Có lòng vị tha mới được đức hi sinh, tinh thần xả thân, mới chiến thắng được lòng vị kỉ, chủ nghĩa cá nhân. Đó là cơ sở để hoàn thiện nhân cách. Cuộc sống luôn có những xung đột xảy ra. Hãy tha thứ cho những người đã làm bạn tổn thương. Vì đó là cách tốt nhất để kết nối tình cảm và tìm lấy sự an bình cho tâm hồn. – Người có lòng vị tha được mọi người yêu mến, nể trọng. Bởi vậy, họ thường được giúp đỡ và dễ thành công trong cuộc sống. Đối với xã hội – Lòng vị tha có thể cảm hóa được người tha hóa, giúp họ tìm lại được niềm tin vào chính mình và trở lại cuộc sống lương thiện. Lòng vị tha cũng có thể chuyển hóa những hoàn cảnh xấu trở nên tốt đẹp hơn. – Lòng vị tha là động lực xây nên những giá trị khoa học và nghệ thuật đích thực đóng góp cho con người. Nhà thơ Đỗ Phủ khi xưa ước mơ về ngôi nhà chung che bão tố khắp văn sĩ trên đời. Nam Cao coi tình thương đồng loại là nguyên tắc sống, là lẽ sống của con người. Trong khi tổ chức đời sống chưa hợp lí, chưa bình đẳng giữa con người thì tình yêu thương vị tha là phương cách duy nhất hữu ích để cân bằng. Yêu thương sẽ dành cho người thiệt thòi một cơ hội được học tập, vươn lên và bình đẳng nhau trong những giá trị chung tốt lành của xã hội. – Lối sống vị tha phù hợp với xu thế của thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa, trên cơ sở hợp tác và chia sẻ. – Sống vị tha không có nghĩa là nuông chiều những thói hư tật xấu, bao biện dung túng những khuyết điểm. Sống vị tha phải có bản lĩnh cá nhân, luôn có chủ kiến cá nhân, không lệ thuộc vào người khác. – Phê phán lối sống vị kỉ, chỉ biết sống cho bản thân mình, lạnh lùng, dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại. Lối sống ích kỉ sẽ gây ra sự mất đoàn kết, làm suy giảm sức mạnh tập thể, của động đồng. – Phê phán những làm từ thiện nhưng không phải xuất phát từ tâm mà để nổi tiếng. Bài học nhận thức: – Rèn luyện đức tính vị tha bằng cách luôn tự hỏi bản thân đã gì cho người khác trước khi cho bản thân mình. – Biết tha thứ cho người khác và cũng tha thứ cho bản thân mình. – Biết lắng nghe cũng như biết chia sẻ với người khác những điều không vừa ý. Kết bài: Vị tha không có nghĩa là sẽ tha thứ mọi lỗi lầm. Có những việc làm không thể tha thứ được. Cũng có những người ta không thể tha thứ được. Sống có lòng vị tha là phải biết đấu tranh chống lại cái xấu, kẻ xấu, bảo vệ công lí.
Suy nghĩ về ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc sống
909
Suy nghĩ về ý nghĩa và lợi ích của việc học môn Ngữ văn Hướng dẫn Lợi ích to lớn của việc học tốt môn Ngữ văn Mở bài: Từ lúc chưa có khoa học, văn chương và nghệ thuật đã ra đời. Bắt nguồn từ cuộc sống, văn chương chứa đựng trong mình những gì mà cuộc sống vốn có, mở ra những thế giới chưa có và hướng con người đi đến tương lai. Văn chương trở lại bồi đắp cho cuộc sống ấy thêm tươi xanh và đẹp đẽ. Việc đọc văn, học văn từ đó mà trở nên ý nghĩa vô cùng. Phải biết rõ giá trị của các tác phẩm văn chương mới có thể hiễu rõ vai trò không thể thay thế được của văn chương. Từ đó mà thêm trân trọng, tôn quý các giá trị nghệ thuật trong cuộc sống này. Thân bài: Học văn là gì? Học văn là cảm thụ và tiếp nhận cái hay, cái đẹp cả về giá trị nội dung lẫn hình thức của một tác phẩm văn chương. Từ việc thấu hiểu mà tự xây dựng ý thức của bản thân và kiện toàn các năng lực có ở con người. Cốt lõi của việc học văn là rèn luyện con người biết yêu cái đẹp, có lối sống nhân văn, trở thành một con người có ích cho xã hội. Ý nghĩa và lợi ích của học văn Không ai có thể phủ nhận được vai trò và ý nghĩa văn chương trong đời sống con người. Văn chương vừa có thế thay đổi một thế giới tàn ác,vừa làm cho lòng người trong sạch hơn. Nội dung văn chương là phản ánh hiện thực. Hiện thực ấy mang tính hình tượng cụ thể, sinh động. Đó là đời sống, tư tưởng, tình cảm của con người thông qua cái nhìn và tình cảm của người nghệ sĩ. Tác phẩm văn chương lay động cảm xúc, đi vào nhận thức,tâm hồn người đọc bằng con đường tình cảm. Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho người đọc sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng. Đến với một tác phẩm văn nghệ, chúng ta sống cùng cuộc sống được miêu tả trong đó, được yêu ghét, buồn vui đợi chờ, cùng với các nhân vật và người nghệ sĩ. Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi mà vào đốt lửa trong lòng khiến chúng ta phải tự bước lên đường. Chương trình dạy và học bộ môn ngữ văn được cố kết dựa trên chức năng, vai trò và ý nghĩa lớn lao ấy. Quan trọng hơn hết, đối với việc dạy và học văn, đem lại cho người học những lợi ích vô cùng to lớn và không thể thay thế được. Đó là khả năng nâng cao phẩm chất và làm thay đổi con người theo chiều hướng tốt đẹp, hướng đến chân, thiện, mĩ. Về năng lực: Chương trình môn Ngữ văn mới giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp ở tất cả các hình thức đọc, viết, nói và nghe; năng lực thẩm mỹ; năng lực tưởng tương; năng lực tư duy. Đặc biệt là năng lực lập luận, phản biện. Thong qua nội dung, kiến thức phổ thông nền tảng về văn học giao tiếp và Tiếng Việt, góp phần phát triển vốn tri thức căn bản của một người có văn hóa; hình thành và phát triển con người nhân văn, biết tiếp nhận, cảm thụ, thưởng thức, đánh giá các giá trị cao đẹp trong văn học và cuộc sống. Chương trình môn Ngữ văn còn góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực khác như năng lực tự chủ và tự học; năng lực hợp tác, năng lực giả quyết vấn đề và sáng tạo. Chẳng hạn, năng lực thẩm mỹ được phát triển nhò những xúc cảm lành mạnh, cao cả từ vẻ đẹp của các hình thức ngôn từ, vẻ đẹp của con người, thiên nhiên và sự việc trong tác phẩm văn học. Qua những văn bản chọn lọc đặc sắc, học sinh có được những trải nghiệm thú vị trong đọc, viết, nói, nghe và rút ra được nhưng bài học cụ thể, sau sắc; có khả năng làm chủ dược cảm xúc, hành vi cũng như khả năng ứng xử phù hợp trước các tình huống phức tap đặt ra trong cuộc sống; khả năng phản hồi một cách tích cực và hiệu quả nhưng nội dung đã đọc. Qua yêu cầu viết các kiểu văn bản, chương trình có khả năng giúp học sinh suy nghĩ đọc lập, sáng tạo, khả nưng tìm kiems, lựa chọn cách giải quyết vấn đề, đề xuất giải pháp. Hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất cao đẹp; yêu quê hương, đất nước,con người, chăm chỉ sống trung thục và có trách nhiệm. Qua những tác phẩm văn học chọn lọc và dặc sắc, môn ngữ văn giúp học sinh có cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hieur con người, biết đồng cảm, sẻ chia, có lòng trác ẩn, vị tha, có cá tính và đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với tiếng Việt và văn học, ý thức về cội nguồn và bản sắc dân tộc đẻ góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam; giúp học sinh thấy rõ vai trò và tác dụng của môn học đối với dời sống của mỗi con người, có thói quen và niềm vui đọc sách, có tinh thần tiếp thu tinh hoa và văn hóa của nhân loại, có khả năng hội nhập quốc tế, có ý thức, thái độ và tác phong của một công dân toàn cầu. Kết bài: Cốt lõi của giáo dục là giúp người học phát triển bản thân, bồi dưỡng ở họ những phẩm chất và năng lực tốt đẹp phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm của bộ môn Ngữ văn. Trong mọt thế giới mới, con người không những có thể làm việc thành công mà còn phải sống đẹp. Bởi vậy, bồi dưỡng tâm hồn cao đẹp, biết trân trọng và tận hưởng các giá trị cuộc sống và biết tìm kiếm hạnh phúc là một nhiệm vụ hết sức cần thiết.
Suy nghĩ về ý nghĩa và lợi ích của việc học môn Ngữ văn
1,090
Đề bài: Suy nghĩ của em về ý thức học tập Bài làm Giáo dục, học tập chính là thước đo, cũng là niềm hy vọng của sự phát triển ở một đất nước. Có học tập, có kiến thức con người trong xã hội đó với hướng tới sự toàn diện cả về văn hóa lẫn nhận thức về tầm nhìn về khả năng cải thiện nền kinh tế. Cũng như ở nước ta hiện nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu. Tuy nhiên, một mặt trái đặt ra, đó là không phải học sinh, sinh viên hay cả đến phụ huynh học sinh cũng hiểu rõ được mục đích học tập và có ý thức học tập đúng đắn. Ý thức học tập là khi học sinh nhận thức được rõ ràng, đầy đủ và đúng đắn về vấn đề vai trò và lợi ích của việc học tập với sự phát triển chung của con người và sự tiến bộ chung của nhân loại. Việc học sinh, sinh viên có ý thức học tập tốt sẽ dẫn đến việc học tập tích cực, có mục đích, phương pháp rõ ràng Kiến thức của nhân loại là rộng lớn mênh mông và việc học tập của con người không phải chỉ cần theo giai đoạn mà sẽ là mãi mãi như câu nói của Lênin: “Học, học nữa, học mãi” và học tập cũng chính là là quá trình gieo hạt giống tri thức vào tâm hồn, có tri thức, có trí tuệ sẽ tạo nên một nền tảng tương lai tốt đẹp cho con người. Tuy nhiên có thể thấy rằng, học sinh thời hiện đại ngày nay có ý thức học tập thua xa với thế hệ trước. Kinh tế – xã hội phát triển và học sinh, sinh viên ngày nay có sự đầu tư vào việc học tập rất nhiều nhưng một phần trong số học không có hững thú học tập, đến lớp cũng chỉ vì miễn cưỡng, trong giờ học thiếu nghiêm túc, hay làm việc riêng. Học tập một cách thụ động, chỉ cốt có bài kiểm tra, qua môn. Nguyên nhân chính của việc ý thức học tập của học sinh, sinh viên ngày càng kém hiện nay chính là do sự phát triển của kinh tế – xa hội không bắt kịp được sự phát triển của các trào lưu văn hóa. Chiến tranh mới qua đi và hòa bình lặp lại mới được mấy chục năm mà các giá trị truyền thống dường như đã bị phai nhạt đi nhiều. Sự phát triển của kinh tế xã hội, kéo theo sự du nhập của các nền văn hóa khác mà giới trẻ dễ dàng bắt nhịp nhưng không ăn nhập được với văn hóa chung. Con người ta thấy rằng cuộc sống của các quốc gia trên thế giới rất văn minh, rất tôn trọng cá nhân và họ cũng trở nên du nhập tư tưởng, buông thả bản thân. Tuy nhiên cũng không thể không suy xét một cách toàn diện để nhận thấy một hiện trạng nữa đó là phương pháp giáo dục của nước ta còn đặt nặng lý thuyết mà ít vận dụng thực hành khiến học sinh chán nản trong mỗi giờ học với lý thuyết dài dằng dặc Nhưng điều quan trọng vẫn là ý thức học tập của các em phải do chính các em chủ động cải thiện nếu không kết quả học tập của các em sẽ thấp kém và dẫn tới hệ lụy là lực lượng lao động kém chất lượng, như vật sự phát triển chung của kinh tế – xã hội sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều. Mỗi người chúng ta cần có ý thức học tạp đúng đắn để có thể thu lượm được những kiến thức bổ ích, hướng tới sự thành công của cá nhân và hạnh phúc của cả cộng động.
Suy nghĩ về ý thức học tập
653
Đề bài: Hãy nói lên những suy nghĩ khi đọc đoạn thơ sau đây của Tố Hữu: "Nếu là con chim, là chiếc lá. Thì chim phải hót, chiếc lá phải xanh. Lẽ nào vay mà không trả. Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.". Bài làm Thơ hay không chỉ giàu cảm xúc mà còn lấp lánh chất trí tuệ, lí trí, mang hàm nghĩa sâu xa. Tôi rất thích khi đọc đoạn thơ sau đây, rút trong bài Một khúc ca xuân của Tố Hữu viết vào tháng 12 năm 1977: Nếu là con chim, là chiếc lá Thì chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho, đâu chí nhận riêng mình. Đoạn thơ đã gợi lên trong tâm trí tôi bao suy nghĩ, bao điều lí thú. Tác giả đã nêu lên một quan niệm sống tích cực, sống đẹp trong mối quan hệ nhân sinh: vay và trả, cho và nhận giữa cộng đồng đối với mọi người, nhất là thế hệ trẻ. Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình. 1. Đoạn thơ đẹp, đẹp giản dị, đẹp hồn nhiên. Con chim và chiếc lá vừa là biểu tượng cho sự sống, vừa là hình tượng của ngôn ngữ thi ca: “Chim phải hót, chiếc lá phải xanh”. Chim hót vì sống theo bản năng, được sống, được bay lượn trong ánh sáng và bầu trời tự do. “Lá phải xanh”, lá được nuôi dưỡng bàng nước, bằng màu mỡ của đất, bằng khí trời và ánh sáng. Được sống trong tự nhiên nên “chim phải hót, chiếc lá phải xanh”. Đó là quy luật của tự nhiên, quy luật cua sự sống muôn đời và vĩnh hằng. Màu xanh của lá, tiếng hót của chim trời còn là vẻ đẹp cùa thiên nhiên, đem lại vẻ đẹp kì diệu của sự sống. 2. Từ chim hót, lá xanh, nhà thơ nói đến vay và trả, cho và nhận, đó là quy luật của cuộc sống xã hội, của con người. Nói một cách khác, là quan niệm sống, đạo lí sống. “Vay mà không trả là vong ân bội nghĩa, đó là cách hành xử của những kẻ “ăn xổi ở thì”, của loại người bất nhân bất nghĩa. Hai tiếng “lẽ nào” là một lời khẽ nhắc: không nên làm như thế, không được ứng xử như thế. Có vay và có trả là đúng đạo lí. Vay và trả mang hàm nghĩa chịu ơn, mang ơn, và đền ơn, đáp nghĩa: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn", “Ai ơi, bưng bát cơm đầy. Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?”, là vay là trả. Trong xà lim máy chém, trên đường bước ra pháp trường của thực dân Pháp, người chiến sĩ cách mạng vẫn ngẩng cao đầu, vẫn hiên ngang, tự hào nhắc nhở mình, động viên mình: Đã vay dòng máu thơm thiên cổ Hãy trả ta cho mạch giống nòi. Qua mấy nghìn năm đằng đẵng, lớp lớp con người Việt Nam từ thế hệ này qua thế hệ khác đã đem mồi hôi và xương máu để xây dựng và bảo vệ nơi chôn nhau cắt rốn của mình, làm nên giang sơn gấm vóc, ngày thêm vẻ vang, ngày thêm giàu đẹp. Ai cũng cảm thấy nghĩa vụ thiêng liêng đối với Tồ quốc đè nặng đôi vai, gắng sức vươn lên đem tài trí góp sức cùng đồng bào “trả” món nợ cùa tổ tiên, ông cha mà mình đã “vay”, đã nhận: Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Những ai đã khuất, những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.. (Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm) 3. Khép lại đoạn thơ là một lời nhắn gửi về đạo lí làm người. “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”. Trong văn cảnh, “cho” là cống hiến, dâng hiến, là phục vụ. “Nhận” là hưởng thụ. Trong cuộc sông thời bình, đem mồ hôi, đem công sức làm ra nhiều của cải, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh là “cho”. Thời kháng chiến, tất cả mọi miền hậu phương đều hướng về tiền tuyến, thi đua “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; hàng vạn nam nữ thanh niên ào ào ra trận, quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Hàng ngàn sinh viên ưu tú “xếp bút nghiên theo việc đao cung’’ để chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tồ quốc. Có biết bao chiến sĩ, đồng bào đã “cho ", đã “hiến dâng”, đã “phục vụ”, đã hi sinh để giành chiến thắng. Nào ai đả đắn đo, đã “chỉ nhận riêng mình”. Một chữ “cho” bình dị mà chứa đựng biết bao tốt đẹp. Lúc đói rét thì nhường cơm sẻ áo, “lá lành đùm lá rách”; lúc hoạn nạn thì chung lưng đâu cật, đồng cam cộng khổ. Vì ai cũng biết sống đẹp, đã biết “cho” nhau tình thương, san sẻ, tương thân tương ái. Có “cho”, có san sẻ, có đồng cảm mới được sống hạnh phúc trong tình người rộng lớn, trong lòng đồng bào, đồng chí. Một chữ “cho" trong bài thơ Bầm ơi của Tố Hữu ngợi ca tình quân dân cả nước, ngợi ca lòng mẹ Việt Nam chắc nhiều người còn nhớ: Bao bà cụ từ tâm làm mẹ, Yêu quý con như đẻ con ra. Cho con nào áo, nào quà, Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi… Vì biết “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình", nên ai cũng biết sống đẹp làm tròn nghĩa vụ công dân; sống, lao động, chiến đấu vì sự tồn vong của dân tộc, sự bền vững của đất nước; Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vụng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên… (Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm) Những chữ như: “góp nên”, “góp cho”, “góp mình”, “để lại” trong đoạn thơ trên đã làm sáng ngời một quan niệm sống đẹp, “sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”. Đó là tình nhân ái, đức hi sinh của con người Việt Nam trong trường kì lịch sử. Nhờ có truyền thống cao đẹp đó mà nhân dân ta tự hào về đất nước Việt Nam: Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta củng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta. 4. Bước sang thế kỉ XXI, đất nước ta phát triển một cách kì diệu trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đoạn thơ trên đây của Tố Hữu vẫn còn nhiều ý nghĩa thời sự mới mẻ, nhất là đối với tuổi trẻ Việt Nam. Học giỏi, lao động tốt vì sự nghiệp đổi mới đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Học giỏi, lao động giỏi, tiến quân vào mặt trận khoa học kĩ thuật. Sống trong lao động sáng tạo, sống hạnh phúc trong tình nhân ái bao la. Hơn bao giờ hết, tuổi trẻ chúng ta mới thấy thấm thía về tình cảm, tư tưởng hàm chứa trong một vần thơ đẹp, giàu ý nghĩa: Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình
Suy nghĩ về đoạn thơ “Nếu là con chim, là chiếc lá. Thì chim phải hót, chiếc lá phải xanh. Lẽ nào vay mà không trả. Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”
1,277
Đề bài: Suy nghĩ về đoạn trích “Nỗi oan hại chồng trong Quan âm Thị Kính” Bài làm Trong những tác phẩm chèo cổ, thì vở “Quan âm Thị Kính” có sức sống khá lớn trong lòng người xem, bởi những nhân vật trong tác phẩm có tính cách vô cùng độc đáo. Trong đó, nhân vật Thị Kính khiến cho người xem cảm thấy xót xa, ám ảnh bởi những nỗi oan quá lớn mà người phụ nữ này phải gánh chịu trong cuộc sống của mình. Trích đoạn “Nỗi oan hại chồng” kể về sự oan ức của Tiểu Kính Tâm khi cô là người phụ nữ yêu chồng, hiếu thuận với gia đình chồng nhưng lại bị nghi oan là có âm mưu giết hại chồng, khiến cô đau đớn như muốn chết đi. Thị Kính là người phúc hậu, đoan trang. Cô hết sức chăm sóc cho gia đình chồng, một lòng chung thủy trước sau như một làm tròn bổn phận của người vợ, người dâu hiền trong gia đình quán xuyến công việc. Nhưng rồi một hôm khi chồng đang ngủ say, Thị Kinh thì ngồi thêu thùa đan áo cho chồng, nàng ngồi ngắm khuôn mặt chồng mình và giật mình có một sợi râu mọc ngược trông không mấy thẩm mỹ. Nghĩ vậy Thị Kính liền lấy kéo để cắt giúp chồng nhưng không may đúng lúc đó chồng của Thị Kính tỉnh giấc nhìn thấy vợ cầm kéo định tiến về phía mình cho rằng vợ mình toan giết chồng. Mẹ chồng Thị Kính là người phụ nữ đanh đá, mồm miệng khá hoạt ngôn, bà ta thấy tình hình như vậy liền hô hoán cho người dân xung quanh, hàng xóm láng giềng nghe thấy rồi vu oan cho con dâu tội giết chồng Nỗi oan của Thị Kính chồng chất lên nhau, khiến nàng sống cảnh tủi hổ, bị hắt hủi ghẻ lạnh. Bố mẹ chồng không tin nàng thì đành chịu, bởi ông bà không hiểu chuyện, hơn nữa mẹ chồng nàng dâu thường có bất hòa trong cuộc sống, hai người phụ nữ khi cùng làm hoàng hậu một gia đình thì thường xảy ra mâu thuẫn. Mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu xưa nay vẫn thế. Nhưng, người chồng đầu ấp má kề, người ngày ngày cùng chung chăn gối với Thị Kính mà cũng không hiểu bản chất, tâm địa nàng tốt hay xấu, thương chồng thật lòng hay không thì thật là khó hiểu. Một người chồng sống cùng vợ mỗi ngày mà không tin tưởng vợ, không bảo vệ vợ mà lại vu oan cho vợ có âm mưu giết mình rồi hô hoán bố mẹ khiến mọi chuyện trở nên bi kịch khó giải quyết hơn rất nhiều khi chỉ có hai người mà thôi. Anh ta là người có học, ngày đêm dùi mài kinh sử nhưng lại không có trái tim nhân hậu, không có sự rộng lượng bao dung thấu hiểu tâm sự của người con gái sống bên cạnh mình, thờ ơ với nỗi oan của vợ. Thật sự đáng trách. Những mâu thuẫn của Thị Kính khi bị mẹ chồng thường kiếm cớ la mắng, bắt nạt đáng ra làm chồng anh ta phải lên tiếng can ngăn mẹ mình, hoặc hòa giải hai người nhưng anh ta yên lặng để cho mẹ mình hành hạ Thị Kính điều này cho ta thấy anh ta không thương yêu Thị Kính mà chỉ coi cô là người giúp việc trong gia đình thì đúng hơn. Số phận của Thị Kính bi kịch không phải từ nỗi oan ghi giết chồng, mà bắt đầu từ ngày cô được gả cho Thiện Sĩ làm vợ, lấy nhầm chồng là nỗi oan lớn nhất đời cô chính vì lấy nhầm chồng mà bi kịch đời cô liên tiếp xảy ra. Đoạn trích là một đoạn trích nhiều kịch tính thể hiện sự oan khuất của Thị Kính khi sống trong gia đình chồng, nỗi oan thấu trời khiến cho cô không thể nói gì mà chỉ biết câm lặng. Số phận của Thị Kính là số phận chung của người phụ nữ xưa.
Suy nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong Quan âm Thị Kính
689
Suy nghĩ về đạo làm con Hướng dẫn Suy nghĩ về đạo làm con “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” Câu hát cất lên từ radio khiến lòng tôi chông chênh, lâng lâng. Khóe mắt cay cay. Vô tình giọt nước mắt rơi. Đạo làm con là gì vậy? Như thế nào là đạo làm con? Tôi bất chợt nhớ lại những tháng ngày bên mẹ cha. Hơi ấm từ đôi bàn tay mẹ, niềm tin yêu đầy hi vọng từ ánh mắt cha, thật kỳ diệu biết bao. Những điều thiêng liêng ấy khiến tôi cúi đầu, nghĩ suy về những gì mình đã làm, về đạo làm con mà mình đã dành cho cha mẹ trong suốt thời gian qua. Ai có thể định nghĩa được đạo làm con là gì không? Phải chăng là tiếng gọi thiết tha cất lên từ cái miệng nhỏ nhắn xinh xắn của một em bé khi vừa bặm bẹ tập nói hai từ “ba ba”, “ma ma”. Hay là những lời cảm ơn chân thành từ một cậu bé khi vừa được bố mẹ thưởng cho một món quà? Là một lời hỏi thăm khi con đi xa nhớ về gia đình?… Tôi cũng không biết hình dung như thế nào về đạo làm con. Chỉ biết rằng, mỗi lần làm cho cha mẹ cười vui, là tôi lại như được tiếp thêm bao sức mạnh để bước tiếp trên con đường mình đang đi. Công lao cha mẹ thật đúng như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn, không bao giờ cạn kiệt, cũng chẳng bao giờ bị mặt trời che lấp dù có nắng chói gay gắt đến nhường nào. Tình cha, nghĩa mẹ luôn là những điều thiêng liêng nhất, cao quý nhất. Đạo làm con nếu không cảm thấu được điều này thì thật là uổng cho bao công lao vất vả nhọc nhằn của cha mẹ. Có thể một số bạn được sinh ra trong gia đình có điều kiện. Cha mẹ không phải cặm cụi ngoài đồng ruộng, phải một nắng hai sương chân lấm tay bùn. Nhưng dù làm nghề gì đi chăng nữa cũng phải lao tâm, phải dốc hết sức mình mới có thể kiếm được đồng tiền nuôi con. Chưa kể đến có những đêm cha mẹ thay nhau thức trắng bên con vì con ốm, con sốt… Ánh mắt mẹ mong mỏi từng ngày con lớn khôn. Bàn tay cha trai sạn ngoài công trường để hàng tháng có tiền gửi về mua sữa cho con… Tất cả những gì cha mẹ làm đều vì muốn dành những điều tốt đẹp nhất cho con. Nhưng ai có thể biết rằng, đứa bé còn đang nằm trên tay mẹ kia rồi sau này sẽ trở thành người ra sao. Liệu rằng nó có thấu hiểu tình cha nghĩa mẹ mênh mông như biển trời đã dành cho nó. Vì nó mà tuổi xuân mẹ không còn. Vì nó mà đời trai trẻ của cha cũng dành hết cho công việc… Còn rất nhiều điều không thể nói hết về công ơn cha mẹ. Thế nhưng, không phải đứa con nào cũng biết dựa vào núi Thái Sơn, biết trân trọng nước trong nguồn. Một số bạn ngày ngày đi học còn ham chơi, sức hấp dẫn của những trò điện tử vô bổ còn mạnh mẽ hơn cả lời căn dặn của cha mẹ. Thậm chí, có những bạn còn sẵn sàng bỏ cả cha mẹ chạy theo lũ bạn lao vào con đường nghiện ngập, trộm cắp… Các bạn đâu biết rằng, phía sau lưng mình, mẹ đang khóc từng đêm. Những giọt nước mắt ấy lẽ ra phải được thay thế bằng nụ cười hạnh phúc khi ngày ngày con đi học về ríu rít kể mẹ nghe những bài học thú vị ở trường. Nhưng không, về đến nhà, bạn quăng cắp sách vào một xó, chạy lên phòng, bật máy tính lên và online hoặc chơi game. Cha mẹ lại lắc đầu buồn phiền mà chẳng biết phải làm thế nào nữa. Sự bất lực trước con cái có lẽ là điều đau đớn đến xé lòng mà không một người cha người mẹ nào muốn. Và rồi, cho đến một ngày kia, cha mẹ không còn nữa. Chẳng còn ai nhắc nhở ta lúc lầm lỡ, lúc sa cơ. Quay về nhà chỉ còn lại một bầu không khí vắng tanh, lặng im. Cũng chẳng có ai quát mắng khi không thể kìm chế được mình. Khi còn lại một mình, khi đói lòng, khi vấp ngã, khi giọt nước mắt lã chã rơi, bạn nhận ra rằng ta đã mồ côi thì đã quá muộn mất rồi. “Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không” Làm một người con hư quá dễ dàng. Nhưng là một người con ngoan ngoãn cũng đâu có gì là khó khăn đâu. Chỉ cần mỗi chúng ta quyết tâm. Đặc biệt là luôn làm chủ bản thân mình, không bao giờ được sa ngã vào những thói hư tật xấu. Hãy luôn ghi nhớ hình ảnh của cha mẹ trong đầu. Nhớ lời mẹ dặn. Nhớ rằng có được ngày hôm nay là công lao bao ngày vất vả mệt nhọc của cha mẹ. Khi chưa làm được gì đền đáp công ơn trời biển ấy thì cũng đừng làm vấy bẩn lên tình cha, nghĩa mẹ, lên những gì thiêng liêng nhất, cao quý nhất. Cha mẹ làm biết bao công việc to lớn, nhưng các bạn có biết rằng, chỉ cần một hành động nhỏ bé của con cái cũng đủ để làm bố mẹ cười vui. Đi học về, con lễ phép chao cha mẹ, vào phòng cất cặp sách rồi thay quần áo, phụ giúp mẹ nấu nướng, dọn dẹp. Tối đến tâm sự với mẹ những chuyện xảy ra ở trường ngày hôm nay… Niềm hạnh phúc đến từ ngay trong những điều đơn giản nhất, đơn sơ nhất. Hạnh phúc của cha mẹ chỉ cần vậy thôi. Đừng bạn nào làm cho mẹ phải khóc nữa nhé. Hãy để nụ cười tô thắm lên cuộc đời mẹ. Nếu như tuổi xuân mẹ đã dành hết cho con. Vậy thì con cũng hãy dành tuổi trẻ của mình cho mẹ. Hãy nhớ, đạo làm con là từ những điều nhỏ nhất, không phải cái gì đó to lớn lắm, vĩ mô lắm. Đọc xong bài này, hãy chạy đến ôm mẹ nhé, không cần phải nói câu yêu mẹ, chỉ lặng im thôi, mẹ cũng đủ hiểu.
Suy nghĩ về đạo làm con
1,117
Suy nghĩ về đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay Hướng dẫn Vấn đề đạo đức, tác phong của học sinh trong trường học hiện nay Bài làm 1 Mở bài: Hiện nay, tình trạng vấn đề đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay đang có dấu hiệu xuống cấp trầm trọng, trở thành mối lo ngại của các nhà quản lí giáo dục và người giáo dục trong cả nước. Thân bài: Đạo đức là một nhân tố quan trọng để đánh giá con người chúng ta. Đạo đức là các chuẩn mực về hành vi ứng xử được con người quy ước thành nguyên tắc giao tiếp trong xã hội. Đạo đức được biểu hiện qua hành động, lối sống và vẻ đẹp tâm hồn của con người. Có thể nói đạo đức là cái tốt, cái đúng ở bên trong con người được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, hành vi. Đạo đức là gốc bên trong được chuyển hóa thành lời nói và hành vi tốt đẹp bên ngoài. Tức là con người phải có nhận thức đúng, tốt về sự vật hiện tượng và từ đó có lời nói, hành vi tốt đẹp, đúng đắn với sự vật hiện tượng. Để có được nhận thức đúng cần phải có giáo dục. Đạo đức con người không phải có sẵn mà phải được giáo dục. Tác phong là một hành vi ứng xử trong đời sống xã hội và trong công việc hằng ngày. Tác phong còn có thể quyết định tính cách của mỗi con người. Tác phong là lề lối, cách thức, phong thái đã trở thành nề nếp ổn định của con người được thể hiện trong tất cả các hoạt động như học tập, làm việc, lối sống tạo nên nét riêng biệt của từng cá nhân. Có thể nói rằng đạo đức và tác phong của học sinh hiện nay đang trên đang tuộc dốc không phanh. Đạo đức đang rơi vào sự suy thoái nghiêm trọng. Nhiều học sinh hiện nay không còn như những người trước đây. Hiện tại là sự vô văn hoá, thiếu lễ độ, thiếu sự tôn trọng và không bao giờ nhận lỗi sai và sửa chữa, ngang bướng cãi lại. Đó là một điều không thể chấp nhận được. Khi trong lớp học, một số thành phần học sinh hay quậy trong lớp. Làm những cử chỉ, hành động lời nói không nên nói. Không tôn trọng giáo viên đang trong tiết đang giảng bài. Và có một vài bạn cả gan chửi thề trong lớp và còn khi quá đáng hơn là chửi lại thầy cô giáo. Tác phong đi học lôi thôi lết thết không ra hệ thống gì cả. Còn coi thường nội quy nhà trường mang dép đi học, sơn móng tóc, để tóc kiểu hiện đại bây giờ. Cũng vì thế từ đó sinh ra nạn bạo lực học đường nghiêm trọng. Cũng chỉ vì chúng ta thiếu đạo đức và tác phong không có nên mới sinh ra nhiều chuyện không đáng. Sự hẹn nhau để giải quyết cũng là do đạo đức tác phong mỗi người không có. Hiện tượng học sinh mang và sử dụng điện thoại trong giờ học vẫn còn diễn ra. Học sinh trốn học, bỏ tiết, hút thuốc lá trong trường học là vấn đề làm đâu đầu nhà trường và các thầy cô giáo. Càng khuyên ngăn thì càng dẫn đến tình trạng đó. Và học sinh luôn bật chế độ nghe lỗ tai bên này đi qua lỗ tai bên kia. Nhiều khi không có thầy cô còn quay lưng nói xấu thầy cô. Đó là một điều đáng trách. Từ khi đó, phòng giáo dục và nhà trường cùng các thầy cô đã nghĩ ra nhất nhiều cách cải tạo lại học sinh hiện nay. Tuyên truyền sự tác hại của việc đó là bồi dưỡng đạo đức, dạy lại các tác phong tốt hơn. hướng học sinh vào các hoạt đông học tập và rèn luyện hữu ích, xa rời cái xấu, hướng đến nhận thức toàn diện. Có nhận thức tốt mới có hành động đúng, là cơ sở để hướng đến một kết quả hoàn thiện. Nhà trường cùng các giáo viên hợp tác với cha mẹ học sinh. Tạo nề nếp lại cho học sinh khi còn có thể. Quan tâm học sinh hơn, nêu những cái xấu và thực hiện cái tốt. Sự trạng như hiện nay cũng 1 phần do xã hội quá thay đổi nhiều. Sự thích thú tò mò học sinh trỗi dậy. Vì thế phải ngăn chặn kịp thời đúng thời điểm. Đừng để nó đi quá xa hơn. Kết bài: Có tác phong và đạo đức thì nhiều người sẽ yêu thương quý mến ta hơn. Có sự tôn trọng đối với mình. Tin tưởng chúng ta nhiều hơn. Đạo đức chính là giá trị nền tảng quan trọng nhất của con người. Bác Hồ cũng đã từng nhắc nhở rằng thanh niên phải có đức, có tài; có tài mà không có đức thì sẽ gây họa cho xã hội. Bởi thế, giáo dục đạo đức trong sạch, vững mạnh cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường hiện nay. Bài làm 2 Đạo đức là một nhân tố quan trọng của nhân cách và được xem là khái niệm của mỗi con người, nó thuộc về vấn đề: tốt, xấu, đúng, sai, lành, ác, hiền, dữ, trong phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắt đạo đức và trừng phạt mà có khi còn được gọi là giá trị đạo đức. Đạo đức gắn liền với văn hóa, chủ nghĩa, triết học và pháp luật của xã hội. Chúng ta nói một cách dễ hiểu, đạo đức là những khuynh hướng tốt trong tâm hồn mỗi con người, mà những khuynh hướng đó tạo nên những lời nói, hành vi bên ngoài phù hợp với những quy tắc xử sự của cộng đồng, xã hội khiến cho mọi người xung quanh được an vui, lợi ích và chuyển hóa. Theo những tài liệu của sở giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, đạo đức – hạnh kiểm học sinh trong trường phổ thông được đánh giá là tốt, khá và đạt yêu cầu trên 98%. Tuy nhiên, kết quả đánh giá này có đúng với tình hình thực tế trong xã hội hay không là vấn đề cần phải bàn thêm và đáng được mọi người quan tâm. Bởi lẽ, hiện nay, đạo đức học sinh đang là vấn đề được dư luận xã hội bàn tán, quan tâm và mỗi người đều đánh giá khác nhau, mỗi ý kiến đều rất đúng: có khen ngợi, đồng tình ủng hộ và dĩ nhiên cũng phải có phê phán gay gắt. Số liệu của sở và các ý kiến khác nhau trong dư luận xã hội về đạo đức học sinh chỉ là đánh giá chung. Đánh giá chung này khác hẳn là đánh giá riêng cho từng bậc học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học. Mỗi bậc học vấn đề đạo đức và môn đạođức có nội dung phù hợp với lứa tuổi và cách đánh giá khác nhau. Nói như thế này không có nghĩa là xem nhẹ các đánh giá trên đối với từng bậc học, quan trọng nhất là bậc tiểu học – bậc nền tảng trong quá trình hình thành nhân cách con người, mà cần phải kiểm tra kĩ càng lại, trên cơ sở đó có biện pháp thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh tốt hơn, đáp ứng được sự đòi hỏi ngày càng cao và bền vững của xã hội phát triển. Có thể nói đạo đức là cái tốt, cái đúng ở bên trong con người được biểu hiện ra bên ngoài, lời nói, hành vi. Đạo đức là gốc bên trong được chuyển hóa thành lời nói và hành vi tốt đẹp bên ngoài. Tức là con người phải có nhận thức đúng, tốt về sự vật hiện tượng và từ đó có lời nói, hành vi tốt đẹp, đúng đắn với sự vật hiện tượng. Để có được nhận thức đúng chúng ta cần phải có giáo dục. Đạo đức con người không phải có sắn mà phải được giáo dục. “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục tạo nên”(Hồ Chí Minh). Giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng phải được thực hiện ngay từ lúc nhỏ, ngay từ lứa tuổi tiểu học. Có rất nhiều phương pháp giáo dục đạo đức cho trẻ tiểu học nhưng có lẽ trường tiểu học là nơi có thể làm tốt công tác giáo dục đạo đức. Như nhiều người đã biết, trẻ tiểu học dễ dàng học được điều tốt và cũng dễ dàng bị nhiễm điều xấu. Nếu ngay từ lúc này mà không có sự đầu tư, quan tâm về giáo dục đạo đức thì sau này rất khó cho việc hình thành nhân cách người sau này. Chính vì vậy môn học đạo đức con người và những hành vi ứng xử theo các chuẩn mực của xã hội. Nhà trường phải làm tốt chức trách này. Đối với việc dạy học môn đạo đức, các thầy cô giáo trong trường tiểu học được tập huấn đối với phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với lứa tuổi. Đó là các phương pháp giảng dạy, nêu gương, tác động, thuyết phục, khích lệ. Trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, lời nói đi đôi với việc làm của giáo viên và học sinh. Để tiến hành giáo dục đạo đức có hiệu quả cao, mỗi nhà trường tiểu học thường xuyên kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường hoạt động của học sinh là gia đình, nhà trường và xã hội. Hình thức dạy học đạo đức trong nhà trường tiểu học rất phong phú và đa dạng, không chỉ đóng khung trong các phòng học với các giờ giảng dạy theo chương trình quy định mà còn đưa các nội dung, chủ đề giáo dục vào mọi hoạt động thực tiễn của cá nhân và tập thể học sinh tại trường lớp, ngoài xã hội qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: sinh hoạt dã ngoại, lao động công ích, thể thao, văn nghệ, tham quan di tích lịch sử hoặc các hoạt động xã hội từ thiện như: giúp đỡ các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh liệt sĩ, các học sinh có hoàn cảnh khó khăn, các trường ở vùng sâu vùng xa, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt.
Suy nghĩ về đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay
1,797
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua chuyện “Chiếc lược ngà” – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn văn nghị luận lớp 9 Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. 1. Yêu cầu – Yêu cầu “suy nghĩ” cũng chính là nghị luận. – Nội dung nghị luận: Đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh. – Cơ sở để bàn luận là đoạn trích truyện ngắn Chiếc ỉược ngà của Nguyễn Quang Sáng. 2. Gợi ý – Tìm đọc toàn bộ truyện ngắn này trong sách tham khảo. – Phân tích đoạn trích để chứng minh chiến tranh có thể tạo ra sự xa cách, gây ra sự hiểu lầm, nhưng chiến tranh không làm mất đi tình cha con mà tình cảm ấy còn sâu nặng hơn. – Bố cục bài có thể theo nhiều cách khác nhau, miễn là khi phân tích làm rõ được luận điểm chính. 3. Lập dàn ý a. Mở bài – Tình cảm gia đình trong đời sống tinh thần của con người. – Truyện ngắn Chiếc lược ngà kể về tình cha con trong chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ. b. Thân bài – Chiến tranh đã khiến gia đình ông Sáu lâm vào cảnh chia li. – Ông Sáu thoát li đi khárig chiến khi ông chưa biết mặt đứa con gái (bé Thu) chỉ biết nó qua ảnh. Bé Thu cũng không biết mặt cha, chỉ biết qua tấm hình một người chụp với má. + Chiến tranh không thể chia cắt tình cảm gia đình, tình cha con. Tình cảm yêu thương của họ được thể hiện vô cùng cảm động. + Bé Thu đã thể hiện tình yêu cha một cách đặc biệt. Sự xa cách, lạnh nhạt khi mới gặp cha. Thái độ ngang ngạnh, hỗn xược của Thu với ông Sáu trong những ngày ông Sáu ở nhà, cố công làm thân với con (sự ương ngạnh, thái độ có phần như hỗn xược của Thu chính là thể hiện tình yêu thương sâu sắc của Thu dành cho người cha mà Thu vẫn thấy trong tấm hình – người cha đích thực của em). Thái độ yêu quý bồng bột, sôi nổi hồn nhiên củà bé Thu khi nhận ra sự thật: Ông Sáu là người cha mà bé hằng mong nhớ. – Tình cảm của ông Sáu với con. Khi xa con, nhớ con, ngắm con qua tấm hình nên khi gặp con mừng không nén nổi. Thương con nên dù đau khổ trước sự lạnh nhạt của con, ông vẫn cố gắng làm thân, chăm sóc, mong con hiểu ra. Khi không kiềm chế được nỗi thất vọng, ông đã đánh con và sau này ân hận mãi. Ông hạnh phúc khi được con nhận ra ông là cha nó, được nghe tiếng “ba” từ bé Thu. Xa con, ông dồn hết tình thương vào việc làm chiếc lược ngá cho con. Trước khi hi sinh, ông tập trung sức lực cuối cùng nhờ bạn trao cây lược cho con – tình cha con không chết. c. Kết bài: Câu chuyện khẳng đỊnh chân lí: chiến tranh có thể huỷ diệt cuộc sống, nhưng không thể huỷ diệt tình cảm gia đình thiêng liêng của con người. 4. Bài làm minh hoạ Bài 1 Trong bất cứ hoàn cảnh nào thì tình cảm gia đình luôn gắn bó không thể tách rời. Và trong chiến tranh thì tình cảm đó càng được thể hiện một cách sâu sắc. Ta có thể thấy được tình cảm này qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Ông Sáu rất buồn khi phải xa gia đình của mình nhưng vì nền độc lập của đất nước nên ông Sáu đã quyết định tham gia kháng chiến. Ông Sáu thoát li đi kháng chiến khi ông chỉ biết mặt đứa con gái qua tấm ảnh. Tám năm sau, trong một lần về thăm nhà trước khi nhận công tác mới, ông được gặp con. Việc trở lại gia đình sau từng ấy năm xa cách không có gì là đặc biệt cả. Nhưng cuộc chiến tranh quá dài đã tạo nên một tình huống mà chính một người cán bộ già dặn là ông Sáu cũng không thể nào ngờ: đứa con gái mà ngày đêm ông mong nhớ đã không nhận ra ông. Tình huống này giống như một nhát cắt vào mối tình phụ tử. Chiến tranh, bom đạn đã cướp đi người cha của bé Thu – ông Sáu. Ông Sáu cũng như bao người dân Việt Nam khác đều nghĩ rằng: một khi chưa có độc lập thì một gia đình nhỏ bé của ông cũng chưa được hạnh phúc. Bé Thu đột ngột thay đổi, khi nó bắt đầu nhận ra ông Sáu chính là người cha mà nó mong nhớ. Nhưng khi nó bắt đầu hiểú ra thì thời gian không còn nữa. Trong lúc bất ngờ nhất nó đã cất tiếng gọi ba, tiếng gọi mà nó đã đè nén bao lâu nay. Nó ôm chặt lấy ba nó như không muốn mất đi người ba mà nó đã chờ đợi bao lâu nay. Hoá ra chính thái độ ương ngạnh có phần hỗn xược của Thu lại là tình yêu thương ba sâu sắc ; tình cảm bền chắc này được bé Thu thể hiện rất đỗi hồn nhiên. Phải xa con nên ông nhớ con da diết, ngày nào ông cũng ngắm đứa con gái qua tấm hình. Cho đến ngày được trở về thì ông không kìm nén nổi cảm xúc, ông đã lao nhanh lên bờ, vừa chạy vừa gọi con. Tiếng gọi mà ông đã chờ sau bảy, tám nặm xa cách vừ& đau đớn vừa chứa đầy tình yêu thương. Vì thương con nên ông rất đau khổ trước sự lạnh lùng của con, nhưng ông vẫn cố làm thân, chăm sóc và mong con hiểu ra. Khi không kìm chế được nỗi thất vọng ông đã đánh con để rồi sau này ân hận mãi. Ông Sáu đã rất hạnh phúc khi được nghe Thu gọi ba, sau ba ngày phải chịu sự lạnh nhạt của con thì giờ đầy, điều đó đã được bù đắp bằng tình yêu mà bé Thu đã dành cho ông trước khi ông lên đường. Xa con ông dồn hết tâm trí vào làm chiếc lược và tẩn mẩn khắc tìừig nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”, ông khắc chiếc lược bằng cả tấm lòng, bằng tất cả nỗi nhớ, tình yêu thương của ông dành cho bé Thu. Nhưng thật không may, bom đạn, chiến tranh một lần nữa lại mang ông đi, lần này là đĩ xa mãi mãi không trở về nữa. Ông tập trung hết sức lực cuối cùng nhờ người bạn trao cây lược mà ông đã dồn hết tâm huyết làm nó để dành tặng con gái của mình. Tuy thân xác ông không còn được trở về với gia đình nhưng tâm hồn ông thì luôn ở bên con và gia đĩnh của mình. Câu chuyện với những tình huống éo le mà cảm động và diễn biến tâm trạng nhân vật phức tạp được miêu tả hết sức tinh tế đã khiến cho ta phải rung động trước tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Chiến tranh có thể huỷ diệt được cuộc sống, nhưng không thể huỷ diệt tình cảm gia đình thiêng liêng của con người. (Phạm Quỳnh Anh, lớp 9B, Trường THCS Trưng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bạn đã nắm được cách viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học. Vấn đề tình cảm gia đình mà nổi bật là tình cảm cha con trong chiến tranh. Tuy nhiên, người viết mới dừng ở mức tóm tắt lại nội dung tác phẩm mà hầu như chưa trích ra những từ ngữ, câu văn và những chi tiết quan trọng để phân tích, khẳng định và chứng minh cho những luận điểm của mình. Bài 2 Trong đời sống tinh thần của con người, gia đình và tình cảm gia đình là những điều thiêng liêng nhất. Nhưng chiến tranh đã chia cắt những con người trong một mái nhà, khiến người mẹ phải mất con, vợ phải xa chồng, những đứa con sinh ra không được thấy mặt cha. Truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện một phần trong những điều thiêng liêng ấy. Tình cha con sâu nặng giữa ông Sáu và bé Thu bị chia cắt trong lòng người đọc với sự cảm thông sâu sắc bởi cuộc kháng chiến chống Pháp. Thế nhưng du chiến tranh có tàn khốc, bom đạn có ác liệt đến đâu cũng không thể chia cắt tình cảm gia đình, tình cha con. Bé Thu đã thể hiện tình yêu thương với người cha trong tấm ảnh một cách thật đặc biệt. Nó tỏ ra xa cách, lạnh nhạt với ông Sáu, cả thái độ ngang ngạnh, hỗn xược khi ông Sáu cố làm thân trong ba ngày ở lại nhà. Đó ià vì bé Thu luôn không coi người đàn ông có vết thẹo đáng sợ ấy là “ba” của mình. Sự ương ngạnh, thái độ có phần như hỗn xược của Thu chính là thể hiện tình yêu thương sâu sắc của Thu dành cho người ba mà Thu vẫn thấy trong tấm hình – người đàn ông hiền lành không có vết thẹo từng chụp hình cùng má nó. Cũng chính vì vậy mà bé Thu nhất quyết không chịu gọi ông Sáu dù chỉ một lần tiếng ba. Tới khi bé Thu hiểu rõ mọi chuyện thì thời gian không còn nữa, ông Sáu sắp phải ra đi, nó mới bày tỏ tình cảm của mình một cách cuống quýt, vội vàng mà cũng thật quyết liệt. Nó bỗng kêu thét lên tiếng “ba”, tiếng kêu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người. Chắc hẳn, nó đã dồn nén tiếng gọi này từ lâu lắm để dành cho người cha đích thực và phải đợi đến gần phút ra đi, nó mới nhận ra ông Sáu chính là người cha mà nó hằng mong nhớ. Tiếng gọi ba “lúc ấy mới vỡ tung ra từ đáy lòng đứa trẻ, làm mọi người sửng sốt. Bé Thu chạy như bay đến bên ông, nó hôn ông, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má”. Dường như nó cảm thấy hối hận vì đã không nhận ra ông sớm hơn, đã lạnh nhạt, hỗn xược với người cha yêu quý chỉ vì “vết thẹo dữ dằn” trên khuôn mặt hiền lành ấy. Nhưng dù sao, nó cũng chỉ là một đứa bé không biết giả dối. Lòng yêu cha mà nó đã giấu kín là dành cho người cha chụp hình với má nó. Chính vết thẹo chiến tranh đã cướp đi của bé Thu quãng thời gian vui vẻ được ở bên cha, làm hai người như lạc vào hai thế giới xa lạ, không hiểu nhau, không thể gần nhau, dù tình cảm cha con luôn gắn kết họ lại. Nhưng dù thái độ của nó với ông Sáu là ngang ngạnh, là hỗn xược, thì tình cảm mà nó dành cho người cha vẫn chỉ là một. Giờ đây, nó ôm chặt ông Sáu bằng tất cả sức mình, níu giữ ông lại như sợ mất đi một thứ gì đó quý giá nhất. Người cha trẻ đẹp chụp cùng má nó giờ như đẹp hơn khi có vết thẹo trên mặt, một dấu tích anh hùng. Dường như, ngay từ giờ phút thức tỉnh đó, Thu bắt đầu thay đổi. Cô bé không chỉ yêu cha mà còn thương cha, tự hào về cha. Câu chuyện với những tình huống éo le và diễn biến tâm trạng nhân vật phức tạp được nhà văn Nguyễn Quang Sáng miêu tả tinh tế đã khiêh người đọc cảm động trước tình cha con sâu nặng của cha con ông Sáu. Đọc truyện, chúng ta hiểu rằng chiến tranh có thể huỷ hoại cuộc sống, bom đạn có thể vùi lấp thân thể nhưng không thể cướp đi tình cảm gia đình thiêng liêng của con người. (Đinh Hà Trang, lớp 9A1, Trường THCS Trưng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bạn đã nắm được cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học. Đó là vấn đề tình cảm gia đình mà cụ thể là tình cảm cha con trong chiến tranh. Bài viết đã đề cập đến việc chiến tranh làm chia lìa gia đình, chia rẽ tình cha con gây ra cảnh trớ trêu đau lòng. Người cha muốn gặp con, bày tỏ tình cảm yêu thương con, trong khi đưa con lại từ chối vì một thời gian dằng dặc nó chỉ biết mặt cha qua ảnh. Sự bướng bỉnh của Thu chính là thể hiện tình yêu mà bé dành cho người cha chưa biết mặt. Ông Sáu vô cùng đau khổ vì bị con từ chối. Ông càng cố làm thân thì con càng xa, bất lực và tuyệt vọng, ông đánh con để rồi vô cùng ân hận. Chính vào lúc không ngờ đến thì bé Thu lại nhận gọi ông Sáu là ba. Người viết đã trích được những lời nói, cử chỉ, chi tiết quan trọng để khẳng định chiến tranh có thể làm chia lìa gia đình, gây ra sự ngộ nhận, hiểu lầm nhất thời, nhưng nó không thể cướp đi tình cảm thiêng liêng của gia đình, tình, cảm cha con bất tử của ông Sáu với bé Thu.
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua chuyện “Chiếc lược ngà” – Ngữ Văn 9
2,288
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện Chiếc lược ngà Hướng dẫn Bài viết số 6 lớp 9 đề 3 bài 1: Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà cũa Nguyễn Quang Sáng. Chiến tranh! Hai tiếng vang lên nghe thật thương tâm, cũng chính vì hai tiếng đó mà bao người phải khổ đau. Chiến tranh tàn khốc, gây ra các cuộc sinh ly tử biệt, vợ xa chồng, cha xa con, con xa nhà. Chiến tranh không thể tha thứ khi đã cướp đi sinh mạng, xương máu của biết bao người con Việt Nam, nhưng một phần nào, ta cũng càm ơn chiến tranh, bởi vì không có nó, những tình cảm thiêng liêng nhất của cuộc đời không thể nào bộc lộ ra hết được, tình yêu đôi lứa, tình đồng chí đồng đội, tình yêu quê hương, và đặc biệt nhất là tình cảm gia đình. Nguyễn Quang Sáng một nhà văn của thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã ngưỡng mộ trước thứ tình cảm cao đẹp này, ông đã khai thác và xây dụng nên câu chuyện về cuộc gặp gỡ của hai cha con đầy xúc động, đó là “ Chiếc lược ngà” được ông viết vào năm 1966. Câu chuyện kể về cha con ông Sau và bé Thu sau hơn tám năm xa cách mới có dịp gặp lại nhau, nhưng Thu đã không nhận ra cha mình chỉ vì một vét thẹo dài trên má, thay vào đó là sự vô cảm, thờ ơ như căm ghét ông. Nhưng rồi thật bất ngờ, khi ông Sáu chuẩn bị lại đi, Thu mới chịu kêu lên tiếng “ba” với ông Sáu, không còn đủ thời gian để yêu thương nhau, ông Sáu đã ra chiến khu và làm chiếc lược cho con mình. Nhưng cũng sau khi ông làm sau, ông đã hy sinh bởi bọn giặc, trong vài giây cuối cuộc đời, ông đã kịp trao lại chiếc lược cho bác Ba- người bạn của ông – và nhờ đưa lại cho Thu, rồi ông mới ra đi. Đọc qua truyện ngắn này, ta mới thấy được tình cảm gia đình, cụ thể là tình cảm cha con thiêng liêng và cao đẹp biết nhường nào. Trong hoàn cảnh khó khăn nhất đó là chiến tranh, tình cảm ấy vẫn không biến mất mà vẫn còn ẩn chứa trong mỗi con người. Điều đó đã được thể hiện một cách sâu sắc qua nhân vật ông Sáu. Ông Sáu cũng như bao người nông dân Việt Nam khác, ông phải đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, mà đành bỏ lại phía sau những gì thân thương nhất của đời mình, ruộng nương, nhà cửa, vợ và cả người con chưa đầy tuổi của mình. Xa nhà suốt tám năm, từng nỗi nhớ lại càng lớn thêm và ngày càng chồng chất “Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương” Nhớ quê, nhớ nhà, nhớ tình làng nghĩa xóm, và ông nhớ da diết đứa con gái của mình. Bởi vì xa con đến tám năm, chưa một lần ông được nghe thấy tiếng nói của con, chưa một lần tận mắt thấy người con bé bỏng, có chăng chỉ là một tấm hình mà vợ ông đã gửi, hòa bình lập lại, được về nhà chỉ có ba ngày ngắn ngửi, ông vô cùng hạnh phúc. Cùng người bạn, bác Ba, ông về thăm nhà, cốt là để gặp con mình, đã xa con quá lâu nên lòng ông cứ nôn nao khi đến gần hơn với nhà, “…cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh”. Và lòng háo hức, niềm khát khao được thấy con, đã thúc giục ông không thể chậm trễ được nữa khi nhìn thấy đứa bé giống đứa con mà mình đã nhìn qua tấm ảnh, “…không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với.”.Rồi hành động đã chuyển thành tiếng nói và những biểu hiện trên khuôn mặt ông, ông kêu to một tiếng: – Thu! Con, lại gần con ông xúc động vô cùng “..vết thẹo dài trên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ.”, bật lên hai câu với giọng run run: “-Ba đây con!”. Qua tất cả những điều đó, ta thấy được ở ông là một niềm thương con da diết, nhớ con và khao khát gặp con, chính vì thế ông đã không ngăn cản được cảm xúc của mình dâng trào. Nhưng con người ta lại hy vọng quá mức vào một điều để rồi thất vọng cũng vì điều đó, từ một cảm giác vui sướng tột cùng, thay vào đấy là sự hụt hẫng vô bờ của cảm xúc, ông bàng hoàng trước sự sợ hãi, lạnh lùng, xa lánh của bé Thu, niềm háo hức đã trở thành nỗi đau, “…nỗi đau như khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Đó chắc chắn là một cảm giác rất đau đớn và thất vọng, nỗi đau ấy có lẻ còn đau hơn khi ông phải hy sinh trên mặt trận, khi ông mong quay về sẽ được nghe lại tiếng gọi: “ Ba” mà ông chưa từng được nghe từ đứa con bé bỏng của mình, qua đó ta thấy lòng yêu thương con của ông Sáu là rất chân thực và vô cùng to lớn. Nhưng tình phụ tử không cho phép ông khóc ngay lúc này, chính vì yêu con, mà trong mấy ngày nghỉ phép ông không ghét con mà tiếp tục vỗ về và chăm sóc con, làm mọi cách để con có thể kêu lên một tiếng:”Ba” duy nhất. Nhưng trớ trêu thay, ông càng tỏ ra yêu thương bé Thu, cố gắng xóa bỏ một đoạn ngăn cách giữa hai cha con, thì Thu lại nới rộng thêm khoảng cách đó ra. Thứ ông nhận được chỉ là những lời nói trống không, sự vô cảm tàn nhẫn của bé Thu. Nỗi đau tinh thần lại càng lớn dần, khiến ông không thể khóc mà chỉ cười được thôi “Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh cười vậy thôi”, nụ cười mang trong đó là sự ngượng ngạo, sự bất đắc dĩ, cười chỉ để quên đi nỗi đau vô bờ bến nhưng nỗi đau vẫn còn trong lòng. Và từ tâm trạng thất vọng, ông đã trở thành tuyệt vọng khi bé Thu hất trứng cá ra khỏi bát, không thể kìm nén được nữa, bây giờ cũng không thể cười được, nên ông đành giận dữ và đánh thật mạnh vào mông bé Thu rồi hét lên rằng: “ Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?”. Thật là khổ tâm cho ông, tình yêu chưa thể hiện được bao nhiều, đã phải đánh con, nỗi đau đánh con còn lớn hơn cả nỗi đau con không nhận ra cha, bởi vì đánh con tức là phủ nhận tất cả niềm yếu thương mà ông đã dành cho con mình, nhưng ông đành thế, vì ông muốn con biết ông chính là người cha của em. Và rồi, nỗi tuyệt vọng càng kéo dài không nguôi đi được, nhưng ông vẫn không ghét con, chào tạm biệt con ông cũng chỉ nói nhỏ nhẹ: “ Thôi! Ba đi nghe con! “. Nhưng một lần nữa, chuyện lại càng trớ trêu và đầy bất ngờ, lúc ông cảm thấy không còn một chút hy vọng gì thì bé Thu lại kêu dài một tiếng như xé toang cả khoảng không gian im lặng: “ Ba…a…a…Ba” và điều đó là một món quá vô cũng ý nghĩa đối với ông, yêu con mà phải chịu cảnh thờ ơ của con đến mức giận dữ không kìm nén được thì giờ đây còn gì bất ngờ và hạnh phúc hơn nữa. Chính tiếng kiêu tha thiết của bé Thu đã làm một người lính như ông phải tỏ ra mềm yếu, và xúc động vô cùng, không thể nào ngăn được ông trào nước mắt “…anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con.” Niềm vui sướng có pha lẫn một chút tiếc nuối vì giờ đây ông không thể dành thời gian yêu thương con được nữa, ông phải đi rồi, bởi vậy, mang theo lời hứa “chiếc lược” cũng là lời hứa sẽ quay về nhà để được ở bên con nhiều hơn. Nhưng ước sao ông hãy ở lại bên bé Thu một lúc mà đừng ra đi quá sớm, bởi vì lúc ông lần đầu nghe tiếng gọi “Ba” của Thu cũng là lần cuối cùng mà ông được nghe và thấy mặt con. Ở chiến khu, lòng nhớ con lại càng lớn dần lên, chính vì nhớ con mà ông rất ân hận vì đã trót đánh con, và lòng yêu thương con càng thôi thúc ông làm chiếc lược tặng con mình. Hãy thử cảm nhận được sự vui sướng khi ông tìm thấy chiếc ngà voi làm chiếc lược cho con mình, bằng một vỏ đạn ông “…cưa từng chiếc răng lược, thân trọng tỉ mỉ cố công như người thợ bạc.”, giờ đây ta có thể thấy được chính tình phụ tử, tình cảm gia đình khiến chúng ta như biến thành một con người khác, cũng như ông Sáu là một người lính, nhưng với sự nhớ con vô bờ bến, ông đã trở thành một nghệ nhân kiệt xuất với dụng cụ chỉ là một vỏ đạn và thứ ông chỉ có thể làm duy nhất là chiếc lược ngà cho riêng con gái mình. Không chỉ vậy, thời gian ông làm chiếc lược là thời gian mà ông cảm thấy hạnh phúc nhất, khắc lên trên cây lược dòng chữ: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”, ông muốn ghi dấu thời khắc quan trọng này, chính tình cha con đã làm ông thêm mạnh mẽ để có thể quên đi mùi đạn khói của chiến tranh mà vẫn tiếp tục nâng niu chiếc lược cho con gái. Nhưng rồi mọi chuyện thật tồi tệ, chiến tranh tàn ác hơn thế, tạo ra vết thẹo để Thu không nhận ra cha, lại còn dập tắt một niềm khao khát nhỏ nho là được tận tay trao chiếc lược cho đứa con gái của mình, ông Sáu đã bị chiến tranh giết chết, một vỏ máy bay giặc bắn vào người ông. Tưởng như một vết thương nặng có thể khiến ông ra đi lập tức, nhưng ông trút hết những hơi thở cuối cùng bằng việc thò tay vào chiếc túi đẫm máu để lấy ra chiếc lược ngà và trao lại cho người đồng đội nhờ đưa cho bé Thu, đến lúc đó, ông mới chịu “…nhắm mắt đi xuôi”. Một hành động thật thiêng liêng cao đẹp, chính tình phụ tử đã góp sức cho ông làm công việc cuối cùng này, “…tình cha con là không thể chết được.”, tình cha con được khẳng định là một tình cảm bất diệt, cao quý, chiến tranh có thể làm sứt mẻ tình cảm gia đình, những không thể làm tổn thương đến tình cảm cha con, bởi vì trong chiến tranh, tình cha con lại càng sâu nặng và thắm thiết hơn, chiếc lược ngà mà ông Sáu đã gửi lại ở cuối đoạn trích chính là một nhân chứng chân thực nhất về tình cảm đẹp đẽ này. Tình cảm của ông Sáu đối với bé Thu là vô bờ bến nhưng với bé Thu, em cũng rất yêu cha mình. Xa cha từ khi còn nhỏ, mới khi biết nói và biết cảm nhận, em đã có thể thấy thiếu vằng hình ảnh của người cha, người trụ cột trong gia đình mình. Cha là ai? Cha trông thế nào? Chắc những câu hỏi đó vẫn hay vương vần trong tâm trí em, hình ảnh người cha duy nhất mà em thấy được là qua bức ảnh cũ kĩ mà ông Sáu đã chụp với vợ. Chính vì vậy, một hình ảnh người cha trong tấm ảnh đã ăn sâu vào tâm trí và suy nghĩ của em, nên không có gì quá ngạc nhiên khi em tỏ ra “ngơ ngác, lạ lùng” khi mới gặp ông Sáu, phản ứng đầu tiên là“mặt bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “ Má! Má! ””, đó là một cảm giác sợ hãi, cảm giác như thế mình mất ba rồi, qua đấy, ta thấy bé Thu thật trẻ con và thật yêu cha, chính vì trẻ con mà khi thấy vết sẹo trên má ông Sáu thì không cần nghĩ, em vẫn không tin đó là cha, yêu cha bởi vì chỉ có thương nhớ người cha mà em không chấp nhận ai khác làm cha của mình. Rồi trong những ngày nghĩ phép của ông Sáu, đáp lại một niềm mong mỏi kêu lên tiếng “Ba” của ông, Thu chỉ tỏ ra thờ ơ với ông, nói trống không và kiên quyết không kêu lên tiếng “Ba” nào mà tự mình làm công việc chắt nước. “-Vô ăn cơm!… Cơm chín rồi!… Con kêu rồi mà người ta không nghe…. Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái…. Cơm sôi rồi nhão bây giờ!” Hàng loạt những câu nói của bé Thu cho thấy một sự ngang ngạnh, bường bỉnh của cô bé. Từ “người ta” mà em dùng để gọi ông Sáu cho thấy một sự nhất quyết không lên bất cứ tiếng “Ba” nào. Nhưng ta lại cảm thấy đáng thương hơn là đáng trách bé Thu, xuất phát từ lòng yêu cha, nhớ cha và mong mỏi gặp cha, cô bé chắc chắn không gọi bất cứ ai là “Ba” nếu như chưa tin chắc đó là “Ba” mình, chính vì xa lánh ông Sáu ta mới thấy bé Thu yêu ba mình, thật là một tâm hồn ngây thơ của trẻ con. Và rồi, sự ngang ngạnh đã đến mức đỉnh điểm, dẫn đến phản ứng quyết liệt, Thu hất trứng cá ra khỏi bát khi được ông Sáu gắp cho và bị ông Sáu đánh thật mạnh vào mông. Tưởng chừng sau cái đánh đó, cô bé sẽ khóc lên nhưng không “…nó cầm đũa, gắp lại trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm…. mở lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật, rồi lấy dầm bởi qua sông.”, hành động bất ngờ nhưng cũng thật tự nhiên, bé Thu mạnh mẽ khi không khóc tiếng nào, thay vào đó như là một việc làm trút giận lên chiếc dây lòi tói, nhưng bên trong đó, ta còn cảm thấy rằng, dường như tâm trí bé Thu đã có suy nghĩ ông Sáu là ba của mình, bởi vì thế mà em mới không cãi lại ông Sáu, em khua lòi tói để ông Sáu nếu là cha thì phải đi tìm để dỗ dành mình, toàn bộ hành động tuy thật trẻ con nhưng lại rất đáng thương cho một cô bé như Thu. Và sau khi nghe được bà giải thích, Thu mới hối hận nghĩ lại, trăn trở suốt đêm, thở dài và không ngủ được. Đến khi ông Sáu ra đi, cô bé mới để cho cảm xúc của mình được bộc lộ ra hết. “…kêu thét lên: – Ba…a…a…ba!…. …-Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con. …Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa” Đó là một tình cảm đã dồn nén từ rất lâu rồi, hơn tám năm rồi, Thu chỉ mong được biểu lộ tình cảm với ba thôi, tình cảm ấy được thể hiện thật mãnh liệt nhưng lại hòa đẫm sự hối hận của bé Thu. Cái trẻ con trong bé Thu còn được thể hiện lần cuối khi xin ông Sáu mua chiếc lược cho mình. Đó là kết thúc cho một cuộc gặp gỡ cảm động và thật thiêng liêng. Qua cuộc gặp gỡ ấy, ta thấy Nguyễn Quang Sáng tuy không đề cập đến chiến tranh nhưng chiến tranh vẫn luôn hiện lên qua vết thẹo của ông Sáu. Kết quả của tám năm đi lính xa nhà của ông sáu cũng là nguyên nhân khiến bé Thu không nhận ra cha mình, giá như không có vết thẹo ấy thì bé Thu đã được hưởng ba ngày tuyệt vời trong tình yêu thương của cha mình, nhưng nếu không có vết thẹo ấy, tình cảm gia đình cũng không được thử thách và bộc lộ lên được, tình cảm cha con mà vì thế đã trở nên thiêng liêng cao đẹp hơn trong tình cảnh chiến tranh. Câu chuyện với tình huống bất ngờ độc đáo, khi bé Thu không nhận ra cha mình, qua đó làm nổi bật lên tính cách, tình cảm cha con thực sự giữa ông Sáu và cả bé Thu. Ngôi kể bằng nhân vật bác Ba tạo nên sự chân thực, khách quan và tự nhiên làm tăng thêm yếu tố cảm xúc. “Chiếc lược ngà” là một câu chuyện cảm động và rất chân thực của Nguyễn Quang Sáng. Bằng một sự cảm nhận chân thực về tình cảm gia đình trong chiến tranh, ông đã gợi lên một tình cảm cao đẹp, thiêng liêng, đẹp đẽ, và trên thực tế còn rất nhiều tình cảm khác mà ta cần phải trân trọng và giữ gìn. Bài làm 2: Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn chiếc lược ngà. Chúng ta đang sống trong một đất nước hoà bình, được sự dìu dắt, yêu thương của cha mẹ, được đùa vui dưới mái trường đầy ắp tiếng ca. Chúng ta có thể quên được chăng những trang sử hào hùng ấy, ngày các lớp cha anh đi trước đã hi sinh cả tính mạng. Máu của các anh đã nhuộm màu phì nhiêu cho đất nước, sự hi sinh tươi đẹp cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay. Các anh đã hi sinh cả thể xác lẫn tinh thần, hi sinh cả những hạnh phúc mà lẽ ra các anh phải được hưởng. Chiến tranh, vùng trời của tan thương và chết chóc. Trong mưa bom lửa đạn, trong chất cay xè của mùi thuốc súng, tình cảm cao đẹp nhất của tình đồng chí đồng đội trào dâng. Những bùi ngùi dấu tận đáy lòng của những người cha lên đường chiến đấu gởi lại quê hương đứa con thân yêu nhất của mình để rồi trong giờ phút hiếm hoi giữa cuộc hành quân nỗi nhớ con không còn dấu được. Tình cảm thiêng liêng ấy càng mãnh liệt hơn trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1945, tập kết ra Bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thuộc nhiều thể loại: Truyện ngắn có “Con chim vàng”, “Người quê hương”, “Chiếc lược ngà”, “Người đàn bà đức hạnh”, “Vẽ lại bức tranh xưa”… Các tiểu thuyết “Đất lửa”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu” được nhiều độc giả biết đến và đặc biệt là kịch bản phim nổi tiếng “Một thời để nhớ một thời để yêu”. Có lẽ vì sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truỵên ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích SGK đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử. “Chiếc lược ngà ” được viết vào năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Nội dung văn bản trong SGK là cuộc gặp gỡ của anh Sáu – một người xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con gái anh không nhận cha, trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với cha. Điều đó làm anh Sáu đau lòng, nhưng anh vẫn yêu thương con bằng tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, anh Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy Bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau.Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra mấy ngày trước do nhìn thấy trên mặt anh Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy anh không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện, em cất tiếng gọi “Ba…ba!..” và hẹn “Ba mua cho con một cây lược nghe!”. Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn hết tình cảm yêu quí nhớ con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu anh đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt anh còn kịp trao cây lược cho người bạn, gửi về tận tay cho con. Truyện được viết theo lời kể qua cái nhìn của ông Ba – nhân vật xưng tôi. Tuy đây là một đề tài khá phổ biến trong văn chương nhưng chính vì thế mà giá trị nhân văn của truyện càng trở nên sâu sắc. Truyện xoay quanh một kỉ vật đơn sơ mà vô giá ấy là chiếc lược ngà. Nhưng suốt cả câu chuyện, suốt những quãng đời, suốt cả cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị và thiêng liêng bậc nhất cõi đời này: tiếng cha!. Câu chuyện “Chiếc lược ngà” đã kể lại thật cảm động về cuộc gặp gỡ và những tình cảm của cha con anh Sáu. Hình ảnh anh Sáu đã để lại trong lòng người đọc nỗi cảm thông, yêu mến và những ấn tượng sâu sắc. Cũng như bao người khác anh Sáu đi theo tiếng gọi của quê hương đã lên đường chiến đấu, để lại người vợ và đứa con thân yêu. Sự xa cách càng làm dâng lên trong anh nỗi nhớ nhung tha thiết đứa con gái mà khi anh đi nó chưa đầy một tuổi. Nỗi nhớ ấy đã trở thành niềm khao khát, mơ ước cháy bỏng trong lòng anh. Chính vì vậy mỗi lần vợ lên thăm là một lần anh hỏi “Sao không cho con bé lên cùng?’’. Không gặp được con anh đành ngắm con qua ảnh vậy … Mặc dầu tấm ảnh đó đã rách nát, cũ kĩ lắm rồi, nhưng anh luôn giữ gìn nó vô cùng cẩn thận, coi nó như một báu vật. Còn đối với con gái Thu của anh thì sao? Từ nhỏ đến hồi tám tuổi nó chỉ được biết ba nó qua ảnh và qua lời kể của bà ngoại và má. Dù được sống trong tình yêu thương của mọi người nhưng có lẽ Thu cũng cảm thấy thiếu hụt một tình thương, sự che chở của người cha. Chắc bé Thu từng giờ từng phút trông chờ ba nó lắm nhỉ? Và tám năm trời là những năm tháng dài đằng đẳng ấy cũng làm tăng lên trong lòng hai cha con anh sáu nỗi nhớ nhung, mong chờ, anh Sáu ao ước gặp con, còn bé Thu ao ước găp bố. Thế rồi niềm ao ước ấy đã trở thành hiện thực. Anh Sáu được nghỉ phép. Ngày về thăm con, trên xuồng mà anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào. Những điều ấy choáng hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ đứa con sẽ chạy tới ôm xiết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách… Hẳn vì quá xúc động nên lúc ấy anh Sáu đã có những cử chỉ mà ngay cả người bạn của anh cũng không ngờ tới “giọng anh tập bập run run”, anh dang hai tay chờ đó con và sải những bước dài đến gần con. Tưởng rằng con bé sẽ chạy tới nhào vào lòng anh nhưng không ngờ bỗng nó hét lên “má…má” và bỏ chạy. Tại sao Thu lại có những hành động như vậy? Nó yêu ba nó lắm cơ mà? Nó mong ba về từng ngày từng giờ. Vậy mà tất cả đều lật ngược với nó. Ba nó thật đây, sao nó không nhận? Hành động của con bé khiến anh sững sờ. Bao yêu thương, mong chờ mà anh dồn nén bấy lâu dường như tan biến hết chỉ còn lại trong anh là nỗi đau khổ vô bờ. Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những nghi ngờ, xoá tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: “Ba yêu con nhiều lắm Thu à!” và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng “Con cũng yêu bố nhiều lắm ạ!” thế nhưng không… những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: “Vô ăn cơm!”. Câu nói của con bé như đánh vào tâm can anh, nhưng anh vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm.” Thế nhưng Thu vẫn bướng bỉnh không chịu gọi ba, đã vậy còn bực dọc nói mấy câu “Cơm chín rồi!” và “Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Đến lúc này anh chỉ biết “nhìn con bé vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Tôi thoáng nghĩ đến cảm xúc lúc này và những câu hỏi xoay quanh anh. Tại sao thế nhỉ? Thu làm vậy là sao? Ba nó sao nó không chịu nhận? Nhìn nó tôi như có cảm giác nó cự nự, quyết không chịu gọi ba. Thái độ này thật không đúng với tình cha con xa cách bấy lâu, hay con bé đang giận ba vẩn vơ gì đó chăng? Cao trào của câu chuyện càng nâng cao khi nồi cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước, nó đã phải cầu cứu đến người lớn. Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua không thể “chiến tranh lạnh” được nữa – nó buộc phải gọi ba để giúp đỡ. Nhưng nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong! Chỉ cần nói lên cái tiếng ba ấy thế thôi, là nó sẽ thoát khỏi thế bí. Nhưng quyết không! Nó vẫn hành động theo sự bướng bỉnh tự mình làm lấy một công việc nguy hiểm và quá sức! Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc. Điều ấy làm cho người cha, người bạn của cha và cả người đọc phải đau lòng. Còn gì đau khổ bằng người cha giàu lòng thương yêu con mà lại bị chính đứa con ấy chối bỏ! Dưòng như sự lạnh lùng và bướng bỉnh của bé Thu đã làm tổn thương những tình cảm đang trào dâng tha thiết nhất trong lòng ông. Vì quá yêu thương con nên anh Sáu không cầm nổi cảm xúc của mình. Trong bữa cơm, cưng con, anh gắp cho nó cái trứng cá nhưng bất ngờ nó hất tung cái trứng ra khỏi chén cơm. Giận quá, anh đã vung tay đánh và quát nó. Có lẽ việc đánh con bé là nằm ngoài những mong muốn của ông. Tất cả cũng chỉ là do anh quá yêu thương con. Có thể coi việc bé Thu hết cái trứng ra khỏi chén như một ngoài nổ làm bùng lên những tình cảm mà lâu nay anh dồn nén và chất chứa trong lòng. Nhưng khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng: Chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đáng quý. Chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đơn giản vì lúc bấy giờ trong trí nhớ thơ ngây của Thu thì cha em đẹp lắm. Vì bom đạn quân thù, cha mang sẹo trên mặt. Đấy là điều đau khổ vậy mà nó không hiểu, lại xa lánh khiến cha đau khổ thêm. Cô bé không tin, thậm chí còn ngờ vực, điều đó chứng tỏ cô bé không dễ tin người. Cả bạn của cha, cả mẹ xác nhận là cha nhưng không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng mình thì cô bé vẫn chưa gọi. Nó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường. Đây chính là cái mầm sâu kín sau này làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giải phóng. Đến khi được bà ngoại giảng giải về cái thẹo trên má ba, thì Thu mới vỡ lẽ đó thực là ba mình. Hình ảnh người cha thân yêu trên ảnh, người cha kính mến mà cô ghi sâu trong lòng, đến lúc ấy mới nhập vào người đang xưng ba có vết thẹo dài đây. Đã vỡ lẽ thì tình yêu ba nhân lên gấp bội nhưng … đã muộn rồi. Song đến giây phút cuối cùng, trước khi anh Sáu đi xa thì tình cảm thiêng liêng ấy bỗng cháy bùng lên. Lúc ra đi, chân anh ngập ngừng không muốn bứơc. Hẳn rằng anh Sáu muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó lại giẫy đạp và bỏ chạy nên anh chỉ đứng đấy nhìn nó với cặp mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu. Trong ánh mắt của anh, chất chứa bao yêu thưong mà anh muốn trao gởi tới con. “Thôi ba đi nghe con”. Phải chi bé Thu hiểu được ánh mắt của ba nó, hiểu được tâm trạng của ba nó lúc này nhỉ? Rồi bỗng nó chạy đến kêu thất thanh “Ba…a….a…ba!”. Tiếng kêu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Tiếng kêu bật lên sau bao năm kìm nén, chờ đợi khắc khoải. Đó cũng là cái tiếng ba mà anh Sáu đã chờ đợi suốt tám năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó thét lên. Nó vỡ ra còn lòng người đọc thì nghẹn lại. Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa. Cùng với cử chỉ “vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, làn tóc tơ sau ót nó dựng đứng lên”. “Vừa ôm chặt lấy cổ ba, nó vừa nói trong tiếng khóc “Ba…ba…không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con”. Nó ôm hôn anh Sáu và “hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”, biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với ba. Và khi nghe anh Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, cô bé hét lên “không”, rồi hai tay xiết chặt cổ, dang cả hai chân quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc. Phải chăng lúc ấy Thu thật sự thấy xót xa, ân hận về lỗi lầm của mình, thật sự thấy xót thương người cha đau khổ? Nó mếu máo “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba…”. Tất cả lời nói thể hiện rõ tính cách của một cô bé bồng bột thơ ngây và chứng tỏ lòng yêu thương vô bờ của em đối với ba. Thật sâu sắc và cao đẹp biết bao. Có lẽ lúc này bé Thu đã trở thành một nguời lớn thực sự. Tất cả sự dỗi hờn của bé Thu lúc này đều chuyển thành lòng yêu thương sâu sắc ba nó. Trong cái ương ngạch, bướng bỉnh, trong cái giận dỗi và cả sự hối hận của Thu, ta vẫn thấy bé thật thơ ngây, thật đáng yêu. Về phần anh Sáu hạnh phúc đến với anh quá đột ngột khiến cổ anh nghẹn lại. Không kìm được xúc động, anh Sáu đã khóc. Giọt nước mắt của anh là giọt nước mắt của vui sướng, hạnh phúc. Và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con…Thế là con bé đã gọi anh bằng ba. Ai có thể ngờ được một người lính đã dày đạn nơi chiến trường và quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng mềm yểu trong tình cảm cha con. Sau bao năm tháng mong chờ, đau khổ, anh Sáu đã được đón nhận một niềm vui vô bờ. Bây giờ anh có thể ra đi với một yên tâm lớn rằng ở quê nhà có một đứa con gái thân yêu liôn chờ đợi anh, từng giây từng phút mong anh quay về. Tình cảm của anh Sáu dành cho bé thu trở nên mãnh liệt hơn, cao cả, thiêng liêng và cảm động hơn bao giờ hết là việc anh tự tay làm chiếc lược nhà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một cái lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng. Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng loé lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý gí ấy. Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt và trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hoá thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc ”, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao! Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu. Nhưng đó là điều trăn trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô bé Thu. Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mã bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại. Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện vè hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc hoạ rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh. Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không còn tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà các thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta. Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không có sự bi luỵ xaỷ ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xich lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca chiến thắng. Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm. Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy. Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để thông qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước. Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rẳng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt! Bài làm 3: Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng Nguyễn Quang Sáng quê ở An Giang, ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ.“Chiếc lược ngà” là một tác phẩm tiêu biểu của ông. Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý, truyện đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Trong chiến tranh, con người phải chịu nhiều mất mát, thiệt thòi, hy sinh về tình cảm gia đình. Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi. Sau tám năm xa cách ông mới có dịp trở về thăm nhà, nhưng trớ trêu thay, Thu không nhận ông là ba. Phút đầu gặp gỡ, Thu ngờ vực, lảng tránh,thậm chí còn sợ hãi bỏ chạy vì: “vết thẹo bên má phải cứ mỗi khi anh xúc động thì nó lại đỏ ửng lên, giật giật trông rất dễ sợ ”. Trong những ngày ông Sáu ở nhà, Thu cương quyết không nhận ông là cha mặc dù ông đã tìm mọi cách để gần gũi,v ỗ về cô bé. Có những lúc, lâm vào thế bí, nó cũng chỉ nói trổng: “Vô ăn cơm”, “cơm sôi rồi,chắt nước giùm cái”, “cơm sôi rồi, nhão bây giờ”… Trong bữa cơm, ông Sáu âu yếm gắp cho con miếng trứng cá to, không ngờ bé phản ứng một cách quyết liệt: “bất thần hắt miếng trứng cá ra khỏi bát làm cơm bắn tung toé cả ra mâm”. Bị ông Sáu đánh vào mông, Thu bỏ về nhà ngoại và còn “cố ý làm cho dây lòi tói khua rổn rảng ”…Sự ương ngạnh, bướng bỉnh của Thu không hoàn toàn đáng trách bởi em còn quá nhỏ để hiểu được sự éo le, khắc nghiệt trong hoàn cảnh xa cách của chiến tranh và những người lớn trong gia đình cũng chưa kịp chuẩn bị cho em đón nhận những khả năng bất thường đó. Em không nhận ông Sáu là cha vì ông có vết thẹo dài trên má không giống bức hình chụp chung với má mà em biết. Điều đó chứng tỏ tình cảm của Thu dành cho ba thật sâu sắc.- Em chỉ bộc lộ tình yêu sâu sắc của mình với ba khi biết chắc đó là ba. Buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ của Thu đột ngột thay đổi. Trong đêm bỏ về nhà ngoại Thu đã được bà giải thích về vết thẹo. Bé hiểu ra, ân hận và hối tiếc vô cùng: “nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Phút chia tay “vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông thật dễ thương”. Khi ông Sáu nhìn con để chào từ biệt, “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao” tình cha con bị dồn nén bấy lâu chợt bùng lên mạnh mẽ, hối hả,cuống quýt. Nó thét lên gọi ba“tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa”. Hành động của Thu cũng thay đổi “nó nhảy thót lên, dang cả hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn ba nó cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”…Tất cả những hành động,thái độ đó của Thu đều bắt nguồn từ tình cảm dành cho người ba mà bé hằng yêu kính, tôn thờ và không ai có thể thay thế được. Tình cảm của Thu thật mạnh mẽ, sâu sắc và cũng dứt khoát, rạch ròi. Ở Thu có nét cứng cỏi đến ương ngạnh nhưng vẫn có nét ngây thơ, hồn nhiên của con trẻ. Bằng tâm hồn nhạy cảm, một trái tim nhân hậu và tấm lòng chan chứa yêu thương đối với trẻ em, Nguyễn Quang Sáng dường như đã cảm nhận đến tận cùng những biểu hiện tình cảm của nhân vật để miêu tả một cách sinh động và tinh tế. Nhân vật chính thứ hai trong tác phẩm là nhân vật ông Sáu. Tình cảm của ông đối với con gái nhỏ được biểu hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà. Khi xuồng chưa kịp cập bến, trông thấy con ông đã vội vàng “nhảy lên bờ,khom người, hai tay đưa về phía trước, miệng lắp bắp: “ba đây con! ba đây con.” Những tưởng bé Thu sẽ ào tới, ôm lấy cổ ba cho thoả những tháng ngày xa cách. Nhưng không, ông hẫng hụt, bất ngờ khi thấy: “bé tròn mắt ngơ ngác nhìn rồi sợ hãi bỏ chạy ”. Thời gian ở nhà không nhiều nên ông Sáu không đi đâu xa, suốt ngày chỉ tìm cách gần gũi, vỗ về con, mong con gọi một tiếng ba mà không được. Có lúc giận quá ông đã đánh con. Lúc chia tay tình yêu mãnh liệt của bé Thu khiến ông cảm động “một tay ôm con,tay kia lấy khăn chấm nước mắt ”. Cảm động và đau đớn hơn khi biết rằng đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh được nghe tiếng ba thân thương từ cô con gái nhỏ, bởi vì sau đó, chẳng bao giờ anh có thể trở về được nữa! Trong những ngày ở khu căn cứ, anh ân hận vì đã trót đánh con. Nhớ lời con dặn, khi kiếm được một khúc ngà anh vui mừng như trẻ nhỏ “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Những ngày sau đó bao nhiêu tình cảm yêu quí,nhớ thương con anh dồn cả vào việc làm cây lược. Anh cặm cụi “cưa từng răng lược, anh còn khắc lên đó dòng chữ nhỏ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”…Những lúc nhớ con anh mang cây lược ra mài lên tóc mình cho cây lược thêm óng mượt: “Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc dài của con nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”. Có lẽ những lúc ấy anh mong có một lần về phép thăm nhà để anh tự tay mình cầm cây lược chải tóc cho con …Đau đớn thay chiến tranh khiến anh chẳng bao giờ có thể trở về bên con gái anh được nữa. Anh bị hy sinh trong một trận càn. Trước lúc hy sinh, “dường như chỉ có tình cha con là không thể chết”, anh cầm cây lược trao cho bạn với niềm mong mỏi không còn có thể cất được thành lời. Từ lúc ấy, cây lược bằng ngà đã trở thành kỷ vật, thành biểu tượng thiêng liêng của tình phụ tử. Những dòng cuối cùng của truyện khép lại trong nỗi buồn mênh mông mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chủ đề của chuyện không mới lạ, nhưng tác giả thành công bởi đã khai thác tình cha con trong những tình huống éo le cảm động. Cách lựa chọn ngôi kể, tạo lập tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lý cùng với việc miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế, sâu sắc đặc biệt là tâm lý trẻ thơ đã giúp truyện có được vị trí riêng trong lòng độc giả. Câu chuyện về chiếc lược bằng ngà không chỉ nói lên tình cha con sâu nặng thắm thiết mà còn gợi cho người đọc suy ngẫm và thấm thía những mất mát đau thương mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu gia đình. Bởi vậy mà em càng thêm trân trọng cuộc sống hoà bình mà chúng ta đang có hôm nay. Bài làm 4: Suy nghĩ về tình cảm cha con qua truyện ngắn Chiếc lược ngà Trong mỗi chúng ta, ai mà chẳng được sống trong những giây phút xúc động của tình cảm gia đình. Đến với văn học ta càng cảm nhận rõ nét hơn sự rung cảm đến tột cùng đó. Nếu đến với “ Bếp lửa” của Bằng Việt ta được sống lại cuộc sống êm đềm bên người bà… Đến với “ Tắt đèn” của Ngô Tất Tố ta được chìm ngập trong tình mẹ con sâu nặng…Thì đến với tác phẩm “ Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện thật cảm động tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu. Dưới cây bút tài ba của nhà văn ta được đến với những tình huống vô cùng độc đáo và bất ngờ, qua đó càng nhấn mạnh tình cảm cha con sâu sắc cao đẹp trong cảnh ngộ éo le. Cái cảnh ngộ đã làm bé Thu và ông Sáu trở nên xa cách và lạnh lùng. Sau tám năm xa cách gia đình, vợ con để đi chiến đấu lúc nào ông Sáu cũng nuôi trong mình hy vọng là được về thăm nhà. Thế rồi cái ước mơ đó đã trở thành hiện thực, ông được về thăm nhà, thăm vợ con. Lúc về đến nhà ông vô cùng hồi hộp được nhìn thấy đứa con sau bao năm xa cách, nhưng ông càng hy vọng bao nhiêu thì càng thất vọng bấy nhiêu. Bé Thu – con gái ông đã không nhận ra cha bởi vì cái vết thẹo dài trên má. Đã làm cho ông Sáu đau lòng nhưng ông vẫn yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Chỉ vì cái vết thẹo mà chiến tranh tàn khốc đã gây nên đã tạo ra những bi kịch đáng buồn, là bức rào ngăn cản cha con. Đọc tác phẩm, ta thấy trong mình sục sôi sự căm ghét chiến tranh, không những gây nên sự hy sinh đau khổ mà còn gây lên những trớ trêu mà ngay cả những đứa trẻ thơ ngây, hồn nhiên cũng phải gánh chịu. Hành động chạy vụt đi của bé Thu khi ấy cũng chỉ là xuất phát từ tình yêu mà bé dành cho cha, vì người cha trước mặt không giống với người cha trong ảnh mà mẹ đã chỉ. Bé cũng chỉ là nạn nhân của chiến tranh, không được sống gần gũi, yêu thương của cha mà phải xa cha từ nhỏ. Nhưng vết thẹo dài trên mặt ấy chỉ là bức cản tạm thời, nó đã không che lấp được tình cha con. Tình cha con sâu nặng đã vượt lên trên tất cả sự đau thương mất mát để được bên nhau. Tuy chỉ là nhưng giây phút ngắn ngủi nhưng chứa đựng là những kỷ niệm khó quên trong tâm hồn bé Thu và ông Sáu. Mà có lẽ, ta không thể không xúc động trước tình cảm yêu thương tha thiết của ông Sáu dành cho đứa con gái.Ôi! ta phải thốt lên trước những hành động suy nghĩ của ông Sáu khi ở căn cứ. Vì nỗi nhớ thương con da diết đã khiến ông dồn hết tâm trí và sức lực những lúc dỗi dãi ông chau chuốt làm cho con một chiếc lược thật đẹp bằng ngà voi. Cái hình ảnh ấy cứ thấp thoáng đâu đây: “ Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Chiếc lược đã trở thành vật thiêng liêng quý giá chứa đựng bao nỗi nhớ thương yêu con của ông Sáu. Ông đã từng tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc khi được tận tay trao chiếc lược cho con nhưng tất cả đã trở thành kỷ niệm, ông Sáu đã hy sinh. Một lần nữa người đọc lại thấm thía về sự mất mát hy sinh của chiến tranh. Tóm lại, khi đọc tác phẩm “ Chiếc lược ngà” với cốt truyện chặt chẽ, bất ngờ đã đưa người đọc đến với tình cảm cha con sâu nặng nhưng vô cùng éo le trong cảnh ngộ chiến tranh. Qua đó Nguyễn Quang Sáng muốn gửi đến bạn đọc rằng: tình cảm cha con là một tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý đối với mỗi chúng ta. Vậy nên chúng ta hãy biết trân trọng tình cảm và quý mến tình cảm ấy. Chúc các bạn học giỏi!
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện Chiếc lược ngà
9,285
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà (bài 2) Hướng dẫn Đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh được thể hiện vô cùng cảm động qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng Mở bài: Nguyễn Quang Sáng là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của nền văn học kháng chiến chống Mỹ. Là một nhà văn, đồng thời là một người lính, Nguyễn Quang Sáng có điều kiện đi sâu vào đời sống và chiến đấu của các chiến sĩ. Thế nhưng, ông không khai thác các sự kiện trọng đại như các nhà văn khác. Ngòi bút của ông hướng vào những nhân vật bình thường, nhưng truyền tải được lí tưởng cách mạng sâu sắc. Mỗi tác phẩm là một sự hòa hợp giữa cái chung và cái riêng, giữa lí tưởng và tình cảm cá nhân. Qua truyện ngắn Chiếc lược ngà, người đọc nhận rõ điều đó. Từ câu chuyện nhà của anh Sáu, tác phẩm thể hiện sâu sắc và cảm động đời sống tình cảm gia đình của các chiến sĩ trong chiến tranh vừa rất khốc liệt vừa hết sức tha thiết. Thân bài: Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết 1966, tại chiến trường Nam Bộ, trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra gay go, ác liệt nhất. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện gia đình anh Sáu-một cán bộ kháng chiến. Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến từ lúc bé Thu mới một tuổi. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, anh mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Chỉ vì vết sẹo trên mặt anh mà khiến bé Thu không nhận ra anh là cha. Bởi thế, Thu đã đối xử với anh như người xa lạ. Đến khi Thu nhận ra cha nhờ ngoại giải thích, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải lên đường trở về khu căn cứ. Cảnh chia tay của hai cha con trên bến sông khiến những người có mặt cảm động không cầm được nước mắt. Ở khu căn cứ, anh dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con. Trong một trận càn của giặc, anh Sáu hi sinh. Trước lúc ra đi mãi mãi, anh đã kịp trao cây lược cho bác Ba-người đồng đội thân thiết và nhờ bạn chuyển cho con gái. Vì cuộc chiến, anh Sáu phải rời bỏ gia đình lên căn cứ khi đứa con bé bỏng chưa tròn một tuổi. Khi đứa con chưa nhận kịp ra khuôn mặt của cha, chưa biết ghi khắc vào kí ức hình bóng thân yêu ấy. Bao nhiêu năm anh Sáu biền biệt là bấy nhiêu năm bé Thu mong nhớ. Nó chỉ biết anh qua tấm ảnh cũ mà mẹ nó đưa cho nó. Nó gìn giữ hình bóng ấy trong trái tim thơ dại như một báu vật không ai có thể xúc phạm đến. Thật tội nghiệp con bé, chỉ tại chiến tranh mà nó đã không thể có được một tuổi thơ tươi đẹp bên cha, không có được sự che chở của cha và những kỉ niệm có cha ở trong đời. Đó là một mất mát to lớn, đủ sức làm tổn thương những tâm hồn dù mạnh mẽ đến thế nào đi nữa. Anh Sáu rất hiểu điều đó. Xa vợ, xa con, xa mái ấm gia đình giữa lúc như thế này đối anh là một điều thật khó khăn. Nhưng cuộc chiến đang vẫy gọi và anh đã mạnh mẽ lên đường, để lại tình riêng hướng đến lý tưởng. Bao nhiêu năm xa con, không ngày nào anh thôi nhớ đến con. Anh mường tượng hình dáng của con, nghĩ đến con khi ở một mình. Chị Sáu nhiều lần lên cứ thăm ông có kể về con càng làm anh muốn trở về ôm lấy con bé cho thỏa khao khát bao năm xa cách. Chiến tranh đã tàn bạo ngăn cách và tước đoạt đi của con người những những quyền lợi thiêng liêng nhất. Họ vốn thuộc về nhau, trong gia mái ấm gia đình. Thế mà bây giờ tuy gần mà lại rất xa, chỉ nghe chứ không được gặp. Tình cha con chỉ tồn tại trong tâm hồn của họ, sống trong trái tim họ. Tình vợ chồng cũng chỉ một vài lần gặp gỡ trong chừng ấy năm. Nỗi khát khao đoàn tụ tưởng chừng có thể làm rụng vỡ trái tim, chai sạn tinh thần. Đến đây, người đọc cũng không khỏi ngỡ ngàng và vội đi tìm câu trả lời: tại sao lại như thế? Có thể anh Sáu sẽ hoài nghi chị Sáu nhưng trong lòng anh không hề nghĩ như thế. Anh cố gần con bé hơn nữa nhưng càng gần bé Thu càng cự tuyệt. Nỗi đau đớn quặn thắt trong trái tim anh. Bởi tình yêu của người cha quá lớn mà hoàn cảnh lại đặt ra thách thức khắc nghiệt quá. Anh chỉ có vẻn vẹn ba ngày ở bên gia đình. Nhà văn không để người đọc đời chờ lâu hơn nữa. Tình huống đã được nhà văn cởi mở. Nhờ bà ngoại mà bé Thu đã hiểu ra vết sẹo trên mặt của anh Sáu. Thế nhưng, thật éo le thay, khi cha con nhận ra nhau cũng là lúc anh Sáu phải trở về căn cứ. Tình cha con chỉ kịp nảy nở trong khoảng khắc và phải chia ly biền biệt. Tiếng kêu tha thiết, tiếng khóc nghẹn ngào của Bé thu trên bến sông trong buổi sớm hôm ấy mãi mãi ám ảnh trong lòng người đọc, nhắc nhở con người về sự tàn khốc của chiến tranh, về những mất mát đau thương vô bờ bến mà dân tộc ta đã gánh chịu, đã trải qua. Chiến tranh đã gây nên nghịch cảnh, dựng nên những màn kịch thách đố con người. Nhưng họ vẫn sống và sống cao đẹp. Bé Thu sau này cũng trở thành một cô giao liên dũng cảm, cũng ra mặt trận làm nhiệm vụ, tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước. Và khi cô nhận lấy chiếc lược từ tay người đồng đội của cha cô không khỏi nghẹn ngào. Chiến tranh có thể ngăn cách họ nhưng không thể nào giết chết tình yêu thương trong họ. Họ vẫn sống và sống anh hùng. Kết bài: Qua “Chiếc lược ngà”, người đọc nhìn rõ sự tàn khốc của chiến tranh. Nó gây nên những vết thương khủng khiếp, nó làm tổn thất tình cảm gia đình, nó cắt rạch vào trái tim niềm đau nhức nhối, dai dẳng không bao giờ nhạt phai. Truyện còn giúp người đọc nhận ra đời sống tình cảm mãnh liệt của con người Việt Nam, vẻ đẹp rực rỡ của tâm hồn Việt Nam. Chiến tranh dù khốc liệt đến đâu cũng không hủy diệt được tình cảm gia đình vốn được giấu kín và gìn giữ trong những trái tim. Chiếc lược ngà xứng đáng là một bài ca hào hùng và cảm động về tình cảm gia đình thiêng liêng, bất diệt trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt; là khúc hát ra trận hùng tráng, sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà (bài 2)
1,243
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà (bài 3) Hướng dẫn quá ngắn
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà (bài 3)
22
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà-Nguyễn Quang Sáng Hướng dẫn má ơi dài quá
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà-Nguyễn Quang Sáng
24
Suy nghĩ về đức hạnh và tấn bi kịch của nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Hướng dẫn Tấn bi kịch cuộc đời của nhân vật Vũ Nương và thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến nước ta “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyện thứ 16 và cũng là truyện tiêu biểu nhất trong thiên truyện Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật Vũ Nương. Thông qua cuộc đời và số phận đầy bi kịch, khổ đâu của nhân vật Vũ Nương tác giả đã phơi bày bộ mặt xấu xa, bất nhân của xã hội phong kiến đương thời đã chà đạp lên số phận con người. Đặc biệt là thân phận người phụ nữ. “Chuyện người con gái Nam Xương” được xây dựng dưuạ trên một câu chuyện có thật là “Vợ chàng Trương” vốn được lưu truyền trong nhân gian. Trên cơ sở một câu chuyện cổ tích, Nguyễn Dữ đã có những hư cấu và sáng tạo tình tiết kì ảo để “Chuyện người con gái Nam Xương” trở thành một áng văn hấp dẫn, đặc sắc, giàu giá trị nhân văn. Vũ Thị Thiết (thường gọi là Vũ Nương) quê ở Nam Xương. Vũ Nương là con nhà nghèo khó, đẹp người đẹp nết. Nàng có chồng là Trương Sinh, gia tư khá giả lại có tính hay đa nghi, đề phòng quá mức. khi chồng đi lính, Vũ Nương ở nhà thay chồng tận tình phụng dưỡng mẹ già, chăm lo con nhỏ. Giặc tan, Trương Sinh trở về, đau buồn vì nghe tin mẹ mất. Bởi tin lời nói ngây thơ của con trẻ, Trương Sinh cho rằng vợ mình đã thất tiết nên đã có những hành động sỉ nhục, lăng mạ, và đánh đập Vũ Nương tàn tệ khiến nàng phải tìm đến cái chết trên bến Hoàng Giang. Cảm động trước mối oan tình của Vũ Nương, Linh Phi đã cứu nàng và cho nàng về sống ở thủy cung. Nhờ có Phan Lang, Trương Sinh hiểu ra mọi việc, chàng rất hối hận nhưng tất cả đã muộn màng. Chàng nghe lời lập đàn giả oan cho vợ. Vũ Nương hiện về nói lời cảm tạ nhưng nàng không trở về nữa. Câu chuyện khép lại khiến người đọc không nguôi day dứt và cảm thương cho nhân vật. Tuy nàng đã được giải oan, nhưng hạnh phúc xưa kia đã không còn nữa. Đời đời kiếp kiếp nàng phải sống xa lìa chồng con, mãi cô đơn nơi góc bể chân trời. Đó là một bất công lớn đối với một con người hiền lành, đoan chính và xinh đẹp như nàng. Ở nhân vật Vũ Nương là hội tụ vẻ đẹp của một con người lý tưởng, có đầy đủ vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam. Trước hết, Vũ Nương là một người con gái có ngoại hình xinh đẹp, lại thêm tính cách cao quý. Vẻ đẹp ấy được Nguyễn Dữ giới thiệu ngày từ đầu thiên truyện: “Vũ Thị Thiết… tính đã nết na thùy mị, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Sự kết hợp toàn vẹn giữa vẻ đẹp hình dung và vẻ đẹp tâm hồn khiến cho Vũ Nương trở thành mẫu người lý tưởng của xã hội phong kiến đương thời. Cũng chính vì thế mà Trương Sinh đem lòng say mê, đã không ngại ngần xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ. Khi về làm vợ Trương Sinh, những phẩm chất tốt đẹp ấy có dịp để thể hiện, phô bày. Nàng tỏ ra hiểu tính chồng, hết lòng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải dẫn đến thất hòa. Nàng luôn cư xử đúng mực, hết lòng vun vén cho hạnh phúc gia đình. Khi tiễn chồng ra trận, nàng ân cần gửi lòng tha thiết, chỉ mong cầu được bình an, chẳng mong gì công danh phú quý: “Chàng đi chuyến này thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình an….”. xong nàng ứa nước mắt, lòng buồn bã khôn xiết. Khi Trương Sinh ở ngoài mặt trận, Vu Nương một mình ở nhà thay chồng phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy con thơ, canh cánh bên chồng nỗi mong nhớ người biên ải mà đêm dài thao thức. Người mẹ vì tuổi già sức yếu, không thể đợi con trở về, đã sớm xa lìa sự sống. Trước khi mất còn trối lời cảm ơn và cầu mong phúc lành cho con dâu hiếu thảo: “Xanh kia quyết chẳng phụ con như con đã chẳng phụ mẹ”. Có thể nói, Vũ Nương đã sống trọn vẹn đức hạnh đối với gia đình. Nàng vừa là một người vợ đảm đang, người mẹ tận tụy, vừa là một con dâu hết lòng hiếu thuận. Tấm lòng của nàng có thể làm cảm động trời đất. Không những thế, đối với xung quanh, nàng rất hòa nhã nhu mì khiến cho ai cũng mến yêu cảm phục. Nàng chính là một mẫu mực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến cần có. Thế nhưng, cuộc đời nàng lạẫmảy ra nhiều bất hạnh hết sức thương tâm. Tuy nhiên, nàng luôn biết giữ phận, làm việc chu đáo, giữ được hòa khí vợ chồng. Cuộc sống có vẻ bình yên nhưng có lẽ đối với nàng có chút căng thẳng, hạnh phúc gắng gượng. Người phụ nữ xưa luôn bị coi thường. Trải qua thời gian, họ đã biết cam chịu, chấp nhận hoàn cảnh và không ki nào tỏ ra lấn lướt hay ngang bằng với chồng. Bởi thế, tuy Trương Sinh có đôi điều hằn học, nàng cũng khôn khéo mà làm tan được cơn giận, gia đình lúc nào cũng thuận hòa. Chiến tranh gây ra cảnh ly biệt. Chiến tranh hắc sâu tính cách cách của Trương Sinh, làm cho tính đa nghi của chàng có dịp bùng phát lớn. Tuy không nói mọt lời nào nhưng có lẽ Trương Sinh không hề tin vợ. Ra trận, chàng không hề nói một lời từ biệt, cứ lẳng lặng mà đi. Bởi thế, khi trở về, chỉ cần một dấu hiệu nhỏ thôi, một dấu hiệu mơ hồ chưa chắn chắn – lời nói ngây thơ của con trẻ – đã khiến chằng vin vào đó, coi đó là bằng chứng kết tội vợ mình thất tiết. Những hành động hồ đồ, tàn bạo của Trương Sinh đã khiến cho Vũ Nương rơi vào quẫn bách, tuyệt vọng mà tìm đến cái chết. Chi tiết Vũ Nương gieo mình xuống bến sông Hoàng Giang là hình ảnh có sức ám ảnh lớn, khiến cho người đời mãi mãi xót xa ề tấn bi kịch đẫm đầy nước mắt của người phị nữ tốt đẹp nhưng chịu nhiều oan ức, là tấn bi kịch cái đẹp bị chà đạp, bị rẻ rúng, bị vùi dập không thương tiếc, là bản án đanh thép tố cáo bộ mặt tàn bạo, bất nhân của xã hội phong kiến đương thời. Chốn thủy cung, Vũ Nương vẫn không nguôi nhớ chồng con, gia quyến. Dù chốn trần gian đã đoạn tuyệt nhưng lòng vẫn đau đáu hướng về nơi xưa cũ. Nàng muốn trở về nhưng ngại vì mối oan tình chưa được minh giải. Cho đến khi nàng được giải oan thì cũng là lúc nàng quyết định không trở về nữa dù nghĩa vợ chồng vẫn còn quyết luyến, tình mẹ con còn rất thiết tha. Tuy Trương Sinh đã hiểu được sự tình, lập đàn minh oan cho nàng nhưng trong lòng Trương Sinh nghiệp chướng chưa được giải trừ, tính hoài nghi, lòng ghen tuông, sự tàn bạo, ích kỉ vẫn chưa được trút bỏ. Trần gian đã không còn chốn cho nàng nương thân. Không lúc này thì lúc khác, không bi kịch này thì cũng là bi kịch khác nhất định sẽ đổ lên số phận của nàng. Hình tượng nhân vật Vũ Nương chính là hiện thân của tấm lòng vị tha, của vẻ đẹp của người phụ nữ. Song cuộc đời nàng lại có quá nhiều nỗi đớn đau, bất hạnh. Ngòi bút của Nguyễn Dữ đã hướng đến thể hiện và trân trọng, ngợi ca vẻ ddpj ấy và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ và ước mơ về một cuộc sống tười đẹp cho những con người bình thường, có phẩm chất tốt đẹp. Thiên truyện còn là lời tố cáo mạnh mẽ chế độ phong kiến hà khắc, cửa quyền, nhẫn tâm đẩy con người vò bước đường cùng không lối thoát.
Suy nghĩ về đức hạnh và tấn bi kịch của nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
1,480
Suy nghĩ về đức tính giản dị của Bác Hồ Hướng dẫn Đức tính giản dị – một phẩm chất cao quý của Bác Hồ Bài làm 1: Mở bài: Thật không có lời lẽ nào có thể nói hết những đức tính tốt đẹp của Bác Hồ – vị cha già kính yêu của dân tộc. Không phải là tôn sùng lãnh tụ hay thần tượng hóa cá nhân một cách sáo rỗng, ở Bác Hồ hội tụ một cách hoàn hảo những phẩm chất cao quý vốn có ở con người. Trong đó nổi bậc nhất là đức tính và lối sống giản dị, thanh bạch, hiền hòa mang đậm phong cách Đông phương. Văn bản Lối sống giản dị của Bác Hồ của tác giả Phạm Văn Đồng cho ta hiểu rõ hơn về vẻ đẹp của Người. Thân bài: Viết về Bác Hồ, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không dùng những lời lẽ to lớn hay cao ngạo, cũng không áp đặt cái nhìn cá nhân khi nói về lãnh tụ – người thầy vĩ đại, người đồng chí thân thiết của ông. Tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ lôi cuốn người đọc bằng tư tưởng sâu sắc và giản dị, tình cảm sôi nổi, lời văn trong sáng hấp dẫn. Bằng cách viết như kể chuyện tâm tình, tác giả đã làm nổi bậc đức tính và lối sống vô cùng giản dị của Bác. Bác Hồ giản dị trong đời sống, trong cách ăn, cách ở và cả trong mối quan hệ với mọi người. Cả trong cách viết hay lời nói, người cũng hết sức giản dị và điềm đạm. Qua những chứng cứ cụ thể và nhận xét sâu sắc, thắm đượm tình cảm chân thành người đọc thấy được ở Bác, sự giản dị hòa hợp với đời sống tinh thần phong phú, với tư tưởng và tình cảm cao đẹp. Với một sự nghiệp chính trị lay trời chuyển đất, thế mà đời sóng của Người lại vô cùng giản dị và khiêm tốn. Dù lúc còn trẻ tuổi hay khi đã trở thành Chủ tịch nước, Bác Hồ vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quý của một người chiến sĩ cách mạng, tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, trong sáng, thanh bạch và tuyệt đẹp. Trước hết là ở trong đời sống, Bác Hồ sống cuộc đời giản dị hiếm có. Đức tính giản dị thể hiện ngay trong bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống. Nơi ở của Bác là ngôi nhà sàn vẻn vẹn chỉ có vài ba gian phòng. Bao quanh là khu vường với đủ loại cây trồng mà Người đã tự tay trồng lấy. Trong lúc tâm hồn Bác lộng gió thời đại thì căn nhà nhỏ ấy cũng luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao. Đồ dùng của Bác cũng chẳng có gì nhiều. Không bao giờ người xa hoa, lãng phí mua sắm những thứ không cần thiết hoặc chưa cần dùng tới. Ngoài cái vali với vài bộ quần áo, đôi dép cao su, một vài món đồ kỉ niệm, gia sản của Bác không có gì thêm nữa. Trong đời sống của mình, việc gì Bác tự làm được thì không cần người giúp. Cho nên, quanh bác cũng chẳng có nhiều người phục vụ. Bác cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như thế nhưng chớ hiểu lầm rằng Bác sống khác khổ theo lối nhà tu hành khổ hạnh hay kiểu nhà hiền triết ẩn đạt. Bác luôn đứng giữ cuộc đời, tận lực vì đất nước. Đời sống Bác giản dị, thậm chí là khắc khổ bởi vì Người sống sôi nổi, tinh thần phong phú, tất cả vì cuộc đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần chúng nhân dân. Khi cả dân tộc lầm than đói khổ, Người không cho phép mình lãng phí bất kì một tài sản nào của nhân dân, cũng không một mình mà tận hưởng sự sung sướng. Mặc khác, đời sống vật chất giản dị càng hòa hợp với đời sống tinh thần phong phú, với những giá trị tư tưởng, tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất. Bác Hồ còn giản dị trong cả cách viết, cách nói, cách đối xử với mọi người. Khi viết, bác luôn hướng đến đối tượng người đọc, với lời lẽ chân thành, dễ hiểu nhất. Mục đích là làm sao cho dông đảo quần chúng nhân dân hiểu được, nhớ được. Lời bác nói lúc nào cũng nhẹ nhàng, đầm ấm. Chưa bao giờ ta thấy Bác nặng lời chỉ trích một ai. Ai có lỗi thì Bác phê bình, nhắc nhở. Ai có công, Bác khen ngợi, trọng thưởng. Với người lớn tuổi, Bác lễ phép, kính trọng. Với trẻ em, nhi đồng, Bác mến yêu, giáo dục. Với anh em đồng chí, Bác khiêm tốn, tôn trọng và lắng nghe. Trong công việc, lúc nào Bác cũng kiên trì, quyết liệt. Bởi thế mà, nhân cách và đức độ của Người đã trở thành niềm cảm phục, chiếm lĩnh hàng triệu trái tim người Việt Nam từ trước đến giờ. Không những người Việt Nam ta dành cho Bác những lời khen ngợi và tình cảm mến yêu to lớn mà cả anh em đồng chí quốc tế cũng kinh ngạc và cảm phục về cuộc đời và lối sống của Người. Chủ tịch Thượng nghị viện Chi-lê Xan-va-đo A-giên-đê, sau khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tháng 5-1969, nhận xét: “Chưa bao giờ chúng tôi thấy sự giản dị và sự vĩ đại lại kết tinh ở một con người như Hồ Chí Minh”. Ông M.Kha-li của Cộng hòa A-rập thống nhất khẳng định: “Thiên thần thoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc sống giản dị, khiêm tốn”. Kết bài: Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Bác Hồ mãi mãi là một niềm tự hào lớn lao của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đời ấy cao đẹp không những nó vĩ đại mà còn bởi nó rất khiêm nhường và giản dị đến kinh ngạc. Lối sống và nhân cách, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là ngọn đèn sáng bất diệt soi hướng cho dân tộc Việt Nam bước đến tương lai. Bài làm 2: Bác Hồ là một người cha già đáng kính luôn hiện hữu trong tim của chín mươi ba triệu người dân Việt Nam. Người anh hùng của cả dân tộc, luôn là tấm gương sáng ngời cho chúng ta noi theo. Ở Bác có rất nhiều phẩm chất tốt đẹp, đặc biệt là lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên của Bác. Dù là Chủ tịch nước nhưng Bác chỉ có bộ quần áo nâu và cái nhà sàn vài ba phòng đơn giản, nhưng Bác lại có tất cả trái tim của những người con đất Việt. Bác và thiên nhiên như người bạn thân thiết không thể tách rời, những lúc rảnh rỗi Bác luôn chăm sóc cây, tưới nước, tỉ mỉ cắt tỉa từng chiếc lá. Bác không chọn nơi thành phố ồn ào nhộn nhịp mà lại chọn đồng quê yên bình, luôn làm lòng người thoải mái để làm căn cứ cho quân đội. Bác hòa nhập cùng với thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Điều đó thể hiện qua những câu văn, câu thơ của Người. Trong những bài thơ của Bác đa phần đều là những xúc cảm, cảm hứng về thiên nhiên tuyệt đẹp. Không những có đức tính giản dị và lòng yêu thiên nhiên sâu sắc, Người còn rất gần gũi với các đồng chí và nhân dân, tựa như một người cha ấm áp. Dù cho thời gian có trôi đi, Người vẫn luôn là ánh sáng của Việt Nam. Là người cha đã bảo vệ và hi sinh cho đất nước luôn được mọi người ngưỡng mộ. Những hành động và bài học của Người luôn là những điều đáng quý để chúng ta học tập.
Suy nghĩ về đức tính giản dị của Bác Hồ
1,360
Đề bài: Suy nghĩ về đức tính tự tin Bài làm Trong thực tế cuộc sống, ta có thể thấy được rất nhiều những danh nhân, những con người thành đạt với sự thành công trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta thường hay đặt câu hỏi rằng tại sao và bằng cách nào mà những người như thế có thể tiếp cận được sự thành công, ngoài những đức tính, phẩm chất cần thiết như sự chăm chỉ, tài năng, linh hoạt trong giao tiếp, may mắn,… Để có được những sự thành đạt như thế, con người cần có một phẩm chất không kém phần quan trọng ở thời đại này, đó chính là sự tự tin. Vậy sự tự tin là gì và nó có tầm quan trọng như thế nào trong cuộc sống mỗi con người? Tự tin là tin vào chính bản thân mình, tin vào chính giá trị, những phẩm chất tốt đẹp đang tồn tại bên trong con người mình, tin vào những thành công, những thành quả mà mình đã đạt được trong quá khứ để vững bước đón nhận những thử thách mới trong tương lai; tin vào tài năng của mình, những ước mơ tốt đẹp mà mình theo đuổi và tin rằng dù có phải thất bại đi chăng nữa, mình vẫn có thể thực hiện được nó ở những lần sau. Suy nghĩ về đức tính tự tin Tự tin trái ngược với sự hèn nhát, rụt rè, thiếu niềm tin vào bản thân và lo sợ phải thất bại, không dám theo đuổi ước mơ. Sự tự tin trong cuộc sống có thể được biểu hiện ở những việc làm nhỏ nhất như tự tin thuyết trình bài học trước lớp, tự tin đóng góp phát biểu ý kiến của mình cho tập thể lớp; cho đến những việc làm lớn hơn như công bố phát minh của một nhà khoa học hay một nhà văn cho ra đời tác phẩm của mình trước công chúng, và còn rất nhiều biểu hiện của sự tự tin trong cuộc sống mà chúng ta không thể kể hết. Tự tin là một phẩm giá mà mỗi cá nhân cần phải hướng tới và rèn luyện để có thể tồn tại và phát triển trong cuộc sống và sự nghiệp. Với sự tự tin, chúng ta sẽ tạo được một nền móng vững chãi trong tâm hồn, một bản lĩnh vững chắc của bản thân, từ đó chúng ta có thể xác định rõ rang rằng: chúng ta là ai trong cuộc đời này, xác định rõ con đường chúng ta sẽ đi trong cuộc đời, sự nghiệp. Chỉ có thế chúng ta mới có thể hình thành và theo đuổi ước mơ đúng đắn của chính bản thân mình, cũng là thể hiện bản thân. Đồng thời, sự tự tin trong cuộc sống hay công việc thường nhật mang đến cho ta khả năng quyết đoán trong việc lựa chọn khi mắc phải những vấn đề cần sự giải quyết. Những sự lửa chọn có thể là rất nhỏ như chọn đề trong một bài kiểm tra Văn hay lớn hơn là sự chọn ban ngành, công việc mà chúng ta sẽ làm trong tương lai, dù là lớn hay nhỏ thì sự tự tin và quyết đoán cũng đều ảnh hưởng đến kết quả mà chúng ta đạt được sau này. Nếu không có sự tự tin thì làm sao chúng ta dám chọn đề văn khó hơn trong khi chúng ta đủ khả năng làm được, hay là chọn ban ngành mà mình yêu thích để mà theo đuổi. Kế đến, người tự tin sẽk hông ngần ngại trước bất cứ một công việc nào dù công việc đó có quá sức với họ đi chăng nữa và họ có thể thất bại. Qua đó, ta có thể thấy được: tự tin như một nguồn động lực giúp cho ta có thể chấp nhận đương đầu với những thử thách trong cuộc sống, dù thành công hay thất bại thì đó cũng là cơ hội để chúng ta học thêm những kiến thức mới, phát hiện, đào sâu những phẩm chất tồn tại bên trong con người chúng ta mà bấy lâu naychúng ta không biết. Nếu ta không chịu đứng ra thuyết trình bài học của mình trước lớp thì làm sao chúng ta có thể biết kĩ năng nói của mình đến đâu để mà sửa chữa, bồi dưỡng? Quan trọng hơn, sự tự tin sẽ tiếp cho ta thêm sức mạnh và nghị lực để có thể vượt qua thất bại, khó khăn trước mắt để tiến lên phía trước, đồng thời cũng là chìa khóa dẫn đến thành công trong công việc. Điển hình cụ thể hơn: những người nói tiếng Anh giỏi chắc chắn phải có nhiều lần đứng ra nói chuyện với người khác, người nước ngoài bằng tiếng Anh, cũng phải vấp những lỗi về ngữ pháp, cách dùng từ, nhưng sự tự tin trong giao tiếp đã giúp họ vượt qua và đạt được thành công trong việc học ngoại ngữ. Cuộc sống luôn đầy rẫy những thử thách, nếu chúng ta không tự tin, tin vào chính mình để vượt qua thì thành công sẽ khó mà đến với chúng ta. Hầu như ai cũng biết, tự tin là một kĩ năng, phẩm chất cần thiết cho con người. Thế nhưng không phải ai cũng có trong người sự tự tin ấy. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn quan sát thấy được những người nhút nhát, thiếu niềm tin vào bản thân, hay thích dựa dẫm vào kẻ khác, vào cha mẹ, dẫn đến sự thiếu kĩ năng và kiến thức cần thiết. Điển hình là một số bạn trẻ, dù đã bước sang tuổi trưởng thành rồi mà vẫn không tự tin dấn thân vào đời, tự lập để mà kiếm sống, vẫn ăn bám vào cha mẹ cung cấp, kĩ năng sống thì không có, sống vật vờ vô ích như một người thừa của xã hội. Một số kẻ còn thiếu tự tin đến mức không dám chấp nhận những thử thách trong công việc, để học những cơ hội thăng tiến bay qua mà không muốn nắm bắt vì sợ thất bại, không tin vào những khả năng của bản thân mình có thể làm được. Trong việc chọn ngành nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT, đa số các bạn học sinh đều thi vào những trường như Kinh tế, Bách khoa, Ngoại thương,… với những ngành thật “hot” có thể gặt tiền nhiều mà không nghĩ đến tài năng của mình không thuộc những phạm trù của những ngành nghề ấy, không tự tin vào năng lực thực của mình mà chỉ muốn a dua theo kẻ khác. Tệ hơn nữa là có một số người tự tin quá mức đâm ra chủ quan, tự phụ vào chính bản thân mình, xem trọng và đề cao cái tôi của mình, xem thường người khác. Ắt hẳn khi còn bé, chúng ta đã đều được đọc truyện ngụ ngôn “Rùa và Thỏ”, Thỏ đã chủ quan quá mức nên thua ê chề trong cuộc đua với Rùa. Những người chủ quan như thế sẽ khó tránh khỏi thất bại. Đồng thời, hcúng ta cũng cần phải hiểu tự tin thôi vẫn chưa đủ để dẫn đến thành công, cần có sự hỗ trợ của đức tính khác như cần cù, sự khéo léo, linh hoạt trong công việc,… và cả sự giúp đỡ của người khác để vươn tới thành công mai sau. Việc rèn luyện một phẩm chất cho mình là một việc không dễ dàng thực hiện. Là một học sinh, trước tiên em phải ra sức học tập thật là tốt để tạo cho mình một nền móng kiến thức thật vững chãi, không ngừng ra sức học hỏi để phát huy tài năng bản thân. Từ đó, em có thể thực hiện việc rèn luyện từ những công việc làm nhỏ nhất như tự tin giơ tay phát biểu ý kiến của mình trước lớp, khắc phục sự rụt rè sợ sai khi phát biểu xây dựng bài học, kế đến nữa, em sẽ tham gia các hoạt động của trường, lớp, đoàn thể, tự tin trong giao tiếp và dũng cảm xung phong nhận lãnh những trách nhiệm phù hợp với sức của mình để thực hiện nó. Đến kì thi Đại học, sẽ chẳng có lí do gì để em từ chối thi vào trường Xã hội nhân văn khoa Tâm lý học, theo đuổi ước mơ của chính em. Về phía gia đình, đặc biệt là các bậc cha mẹ cần đặc biệt chú ý rèn luyện đức tính tự tin cho con em mình ngay từ khi chúng còn nhỏ, như khen con khi con làm việc tốt, tôn trọng, khuyến khích những quyết định riêng tư chính đáng của con cái và biết lắng nghe, động viên, an ủi chúng khi cần thiết. Về phía nhà trường và xã hội, cần có những buổi hội thảo dành cho giới trẻ về “sự tự tin”, giáo dục một cách rõ ràng mà không sơ sài chung chung, gần gũi mà không cứng nhắc và lý thuyết suông, gần gũi với thực tế cuộc sống của chúng em, chú trọng hơn về việc tư vấn tâm lí tuổi vị thành niên, định hướng tương lai cho học sinh. Tự tin là chiếc chìa khóa dẫn đến sự thành đạt trong cuộc sống, vậy chúng ta hãy rèn luyện nó ngay từ bây giờ để trở thành một con người năng động, bản lĩnh trong xã hội, tồn tại một niềm tin mãnh liệt vào bản thân trước chông gai cuộc đời.
Suy nghĩ về đức tính tự tin
1,629
Suy nghĩ về ước mơ qua câu chuyện Truyền thuyết Con chim Kiwi Hướng dẫn Suy nghĩ về ý nghĩa của ước mơ qua câu chuyện Truyền thuyết Con chim Kiwi Mở bài: Trên trái đất này, từng khoảnh khắc trôi qua, có biết bao người đang đấu tranh vượt lên trên nghịch cảnh để sinh tồn. Có biết bao nhiêu con người đang ngày đêm đấu tranh giành giật sự sống trong bệnh tật. Dù chỉ còn một cơ hội mong manh, họ vẫn không ngừng hi vọng và nghĩ về tương lai. Họ chưa bao giờ từ bỏ ước mơ, như con chim Kiwi xứ New Zealand luôn ước mơ được một lần bay vào không trung. Và một lần, nó đã dũng cảm thực hiện ước mơ ấy dù không có đôi cánh hoàn hảo. Thân bài: Truyền thuyết con chim Kiwi Chuyện kể rằng chú chim Kiwi không có lông và cánh nên không thể bay được. Ước mơ của chú là có thể bay qua cánh rừng. Bởi vậy, chú đã nuôi mơ ước đó và không ngừng khao khát làm điều lớn lao ấy. Hằng ngày chú dùng dây thừng buộc những thân cây và dùng đinh để đóng góc cây vào vách núi. Cứ thế cứ thế, ngày này qua ngày khác, chú nỗ lực đóng những thân cây vào vách núi. Không biết tự khi nào chú đã làm việc một cách không mệt mỏi. Khi gốc cây cuối cùng được đóng vào vách núi, Kiwi đã thả mình bay từ trên đỉnh núi qua những thân cây bằng tất cả tình yêu và sự cố gắng không ngừng đối với ước mơ của mình. Chú chim nhỏ đã được tận hưởng cảm giác được băng qua cánh rừng dù có phải chết. Câu chuyện nhắc nhở chúng ta rằng sống phải luôn có ước mơ và bằng nghị lực của mình dũng cảm thực hiện ước mơ ấy. Có thể ước mơ của bạn không được mọi người ủng hộ, không được nhìn nhận nhưng nếu bạn tin tưởng vào bản thân, bạn sẽ làm được tất cả. Tại sao sống cần phải có ước mơ? Hiện thực cuộc sống lúc nào cũng khắc nghiệt. Muốn đạt được một thành quả nào đó chúng ta phải không ngừng nỗ lực. Thế nhưng, không phải sự nỗ lực nào cũng đạt đến mục đích. Đôi khi chúng ta thất bại, bị tổn thất, thậm chí là bị hủy diệt. Trong hoàn ảnh đó, ước mơ là nguồn sức mạnh. Sống có ước mơ tạo ra cho ta niềm tin tưởng vượt lên nỗi đau thương, mất mát tiếp tục cố gắng chiến thắng nghịch cảnh. Rất nhiều năm sau, khi mẹ đã qua đời và Edison đã trở thành một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất thế kỷ, ông ngồi xem lại những vật dụng cũ trong gia đình. Đột nhiên, ông tìm thấy tờ giấy gấp lại trong góc ngăn kéo bàn. Ông mở ra và nhìn thấy dòng chữ được viết trên đó: “Con trai bà là một kẻ đần độn. Chúng tôi sẽ không để nó đến trường nữa”. Ông đã khóc trong nhiều giờ liền, sau đó viết vào nhật ký: “Thomas Alva Edison là một đứa trẻ đần độn, nhờ người mẹ anh hùng mà trở thành thiên tài của thế kỷ”. Chính những ước mơ cháy bỏng đã giúp Edison vượt lên được “sự đần độn” của mình đạt đến thành công. Cuộc sống sẽ trở nên nghèo nàn và nhàm chán nếu con người sống mà không có ước mơ. Có thể những ước mơ ấy ta không đạt được nhưng nó gây cho ta niềm cảm hứng, sự tin tưởng và không ngừng phấn đấu để sống có ý nghĩa. Ước mơ giống như một tố chất kích thích con người khám phá thế giới và sáng tạo ra những gì chưa có, góp phần vào việc phát triển tri thức và cuộc sống con người. Làm thế nào để sống có ước mơ? Hãy tin tưởng vào bản thân, ước mơ tự nó sẽ đến. Bởi chỉ khi bạn tin tưởng vào chính mình bạn mới có đủ dũng cảm và sự quả quyết thực hiện những điều mình suy nghĩ. Ước mơ là của riêng bạn, được hình thành trong đầu óc bạn, thế nên chỉ có bạn mới hiểu hết được nó và đủ nghị lực để biến nó thành hiện thực thông qua các hành động. Hãy luôn sống vì người khác và mỗi hành động đều hướng đến xây dựng cuộc sống ngày càng trở nên tốt đẹp. Ước mơ của bạn sẽ trở nên nhỏ bé và ích kỉ nếu bạn chỉ nghĩ dến lợi ích bản thân mình. Người sáng tạo ra chiếc máy cày bởi thương người nông dân vất vả; người chế tạo ra thuốc chữa bệnh bởi thương những bệnh nhân đau đớn trong bệnh tât,… Họ ước mơ làm một cái gì đó giúp cho con người bớt khổ đau bởi thế họ vĩ đại. Không bao giờ đầu hàng trước nghịch cảnh đó là bí quyết giúp bạn có được những mơ ước lớn lao. Cuộc sống vốn khắc nghiệt, luôn đặt ra cho ta những thử thách. Mỗi khi gặp thất bại bạn hãy tin vào những điều tốt đẹp sẽ đến ở tương lai. Có thể là viễn tưởng nhưng ít nhất nó giúp ta tiếp tục chiến đấu để sinh tồn. Thế nhưng có biết bao người đã sớm buông bỏ khát vọng, chấp nhận thất bại dù rằng đó chưa phải là bước đi cuối cùng. Họ sớm bị hoàn cảnh khuất phục và làm rệu rã những ước mơ. Cũng có những người sống không hề có ước mơ, hoài bão hay khát vọng gì lớn lao. Họ chấp nhận một cuộc sống tự nhiên, tầm thường và hèn kém. Những người như thế thật đáng chê trách. Từ câu chuyện của chú chim Kiwi khiến ta sự tỉnh nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống và ước mơ vươn đến những điều lớn lao. Có thể chú chim nhỏ ấy không lường hết được những hiểm nguy sẽ đến, cậu ấy liều lĩnh và mù quáng lao xuống vách núi. Nhưng chính sự liều lĩnh ấy lại làm nên điều vĩ đại: cậu ấy phát hiện ra mình có thể bay được. Hãy sống luôn mơ ước nhưng cũng đừng quá ảo vọng mà làm việc mù quáng, dại dột. Phải luôn cân nhắc về khả năng hiện thưc mơ ước của mình và ý nghĩa của nó trong cuộc sống. Bất cứ một điều mới mẻ nào được tạo ra, bạn hãy nên nhơ điều đó sẽ mang lại lợi ích cho bản thân và nhân loại. Có như vậy mơ ước chính là mơ ước chứ không phải là ảo tưởng xa xôi.
Suy nghĩ về ước mơ qua câu chuyện Truyền thuyết Con chim Kiwi
1,143
Suy nghĩa về ý nghĩa câu tục ngữ tốt gỗ hơn tốt nước sơn Hướng dẫn Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Mở bài: Trong cuộc sống và nhất là ngày nay không ít người chỉ dựa vào hình thức bên ngoài, tiền tài, danh vọng, địa vị xã hội để đánh giá người khác mà không biết rằng cái đẹp của một người không phải nằm ở dáng vẻ bên ngoài mà chủ yếu là cái đẹp ở tâm hồn, nhân cách đạo đức của người đó. Chính vì vậy từ xưa cha ông ta đã dạy: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Thân bài: Trước đây, hầu hết vật dụng trong nhà đều làm từ gỗ. Do đó khi đánh giá bất kì một đồ vật nào đó, thường người ta sẽ cắn cứ vào chất liệu gỗ bên trong bởi dẫu cho nước sơn bên ngoài có hào nhoáng đẹp đẽ cách mấy mà chất liệu gỗ bên trong không tốt thì đồ vật cũng không thể bền được. Cũng vậy khi đánh giá một con người đừng nên quá chú trọng hình thức bên ngoài bởi cái đẹp thực sự, cái làm nên giá trị của con người chính là tài năng, đạo đức và lối sống của người đó chứ không nằm ở vẻ bề ngoài hào hoa, lịch lãm. Có những con người mà trong lần đầu gặp gỡ, tâm hồn ta đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp bên ngoài vô cùng hấp dẫn, hào hoa, lịch lãm. Nhưng rồi khi có dịp tiếp xúc với những con người đó, ta ngỡ ngàng nhận ra đằng sau cái vẻ bề ngoài hào nhoáng, xinh đẹp ấy là một con người tầm thường, có một đời sống tâm hồn nhạt nhẽo, đơn điệu; một sự hiểu biết hạn hẹp, với những suy nghĩ toan tính vụn vặt, ích kỷ, nhỏ nhen. Thậm chí cái vẻ bề ngoài “thơn thớt nói cười”, hiền lành tử tế đó là để ngụy tạo, lừa dối người khác. Họ dùng cái hình thức tử tế bề ngoài để che đậy những hành động sai trái bất lương của một kẻ có tâm địa tàn nhẫn, độc ác. Và khi nhận ra bản chất của con người đó thì trong mắt ta họ không còn đẹp nữa và dĩ nhiên họ không còn xứng đáng để ta tôn trọng. Tóm lại trong cuộc sống phải thận trọng trong cách nhìn nhận, đánh giá người khác. Đừng để hình thức bên ngoài che mắt, đánh lừa mình. Phải luôn luôn ý thức rằng cái làm nên giá trị con người chính là tài năng, đức độ và những phẩm chất tốt đẹp bên trong con người đó chứ không phải do hình thức bên ngoài quyết định. Câu tục ngữ là lời khuyên về cách rèn luyện, tu dưỡng với mỗi con người. Trong cuộc sống hằng ngày, con người phải lo tu dưỡng tài năng, trí tuệ, những phẩm chất tốt đẹp bên trong tâm hồn, đừng quá chú trọng chạy theo hình thức bên ngoài. Bởi hình thức bên ngoài là cái gì đó rất tạm bợ, phù phiếm, sẽ bị thời gian làm cho tàn phá, phai nhạt, nhưng cái đẹp trong tâm hồn con người thì còn mãi với thời gian. Cũng vậy, một con người dù có tài năng, học thức nhưng nếu bề ngoài quá ư xoàng xĩnh, thiếu tế nhị, cư xử vụng về thì đó cũng chưa phải là con người hoàn thiện. Cái đẹp thật sự bao giờ cũng có sự hài hòa của hai mặt nội dung, hình thức. Phê phán những con người chỉ chạy theo hình thức, mà không chú trọng bồi đắp, làm đẹp tâm hồn, mở mang sự hiểu biết của mình. Đồng thời tránh những trường hợp quá coi trọng, đề cao nội dung mà không coi trọng hình thức. Kết bài: Ý nghĩa câu tục ngữ tốt gỗ hơn tốt nước sơn giúp ta nhận rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa hình thức bề ngoài và phẩm chất bên trong. Chính phẩm chất bên trong mới là yếu tố quyết định giá trị của vật của người. Hình thức bên ngoài góp phần làm đẹp và tôn vinh giá trị ấy. Bởi thế, cần có nhận thức và hành động đúng đắn để tạo dựng và khẳng định những giá trị đích thực ở bản thân mình.
Suy nghĩa về ý nghĩa câu tục ngữ tốt gỗ hơn tốt nước sơn
730
Suy ngẫm của bạn về tuổi 20 Hướng dẫn Suy ngẫm của bạn về tuổi 20 Thời gian không bao giờ quay lại và mỗi người chỉ có một lần được sống lứa tuổi hai mươi. Tuy vậy, đã có rất nhiều người quên đi lẽ sống giản đơn đó. Hằng ngày, trên báo vẫn xuất hiện những mẩu tin về vụ ẩu đả hay cướp giật mà thủ phạm là những gương mặt non nớt trên áo còn chưa xoá bảng tên. Và họ đang quên hay cố tình quên mình chỉ được sống một lần với “tuổi hai mươi”. Cùng lúc ấy, trên các giảng đường đại học, trong các thư viện, thậm chí ở các góc khuất của một nhà sách, có những con người đang cặm cụi góp nhặt tri thức. Vì họ hiểu tuổi hai mươi chỉ đến một lần. Một quán bar, một vũ trường, những viên thuốc lắc, những con người quằn quại theo điệu nhạc. Bọn họ đang quên hay cố tình quên mình chỉ được sống một lần với tuổi hai mươi? Một chiếc áo xanh, một cây cầy mới xây, những gương mặt lem luốc, những con người tình nguyện, những nụ cười và những bài học về lòng nhân ái, về sự sẻ chia. Những người con traỉ, con gái ấy hiểu rằng, tuổi hai mươi chỉ đến một lần. Hai mươi tuổi chỉ là một khoảng thời gian xác định theo ý nghĩa số học của nó, “tuổi hai mươi” lại là quãng đời đẹp nhất, tràn đầy sức sống nhất. Quãng đời mà tạo hoá đã trao tặng chọ mỗi chúng ta với mong muốn chúng ta hãy sống thật ý nghĩa trong từng giây, từng phút. Nhưng không phải ai cũng nhận ra đó là một món quà tặng có kì hạn. Có người nhận ra điều đó khi đã quá già. Họ đã nhận ra mình đã bỏ mất khoảng thanh xuân để nó trôi qua vô ích. Họ đã phải sống vật vờ, sống mà không biết đến ý nghĩa, biết đến hạnh phúc. Hàng ngày trên các ngả đường, ta vẫn thường thấy những thanh niên tụ tập đua xe và họ xem đó là niềm vui là sự chiến thắng chính mình trước tốc độ kinh hồn. Mỉa mai thay, khi họ cho đó là niềm tự hào! Có những thanh niên ngày ngày tháng tháng dùng tiệm internet làm mồ chôn thời gian của mình và họ đã sống hoài, sống phí thanh xuân của mình. Vậy mà mỉa mai thay, họ đang tự hào mình là những game thủ “kiệt xuất”! Họ đâu biết rằng, họ đang thêu đốt tuổi hai mươi của mình; họ đâu biết rằng mình đang dần dần trở nên “đời thừa” và là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Ngày ngày hí húi bới đất làm tổ, đêm thì đi ăn uống và tụ tập chúng bạn nhảy múa dông dài. Sống như vậy, sống tồi quá. Tôi không muốn đến lúc nhắm mắt vẫn phải ân hận rằng chẳng biết đằng cuối cánh đồng mênh mông kia còn những gì lạ và cuộc đời ở đấy ra sao?”. Để không phải thốt lên những lời tiếc nuối ấy, theo tôi, điều quan trọng nhất là hạn phải chuẩn bị cho mình một hành trang sống bao gồm ước mơ, nghị lực và bản lĩnh sống. Người không có ước mơ sẽ chỉ có một “tuổi hai mươi” vô nghĩa. Người không có nghị lực, ước mơ chỉ là ước mơ. Người không có bản lĩnh sống sẽ dễ vấp ngã và dễ đầu hàng trước thử thách. Tuổi hai mươi của bạn luôn là đẹp nhất. Để cho quãng đời thanh xuân thêm xanh, chúng ta hãy chọn cho mình một ước mơ, một lí tưởng sống và điều quan trọng là phấn đấu để đạt được mục tiêu đó. Quá trình gian khổ đó, bạn biết rằng chính bản thân mình đang sống thật ý nghĩa với “tuổi hai mươi. Tôi yêu 20!
Suy ngẫm của bạn về tuổi 20
669
Suy ngẫm về hình tượng nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ Chồng A Phủ Hướng dẫn Suy ngẫm về hình tượng nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ Chồng A Phủ Bài làm Nếu ai từng một lần đến với Tây Bắc, đến với những bản làng hiền hòa chìm trong sương, đến với những phong cảnh núi rừng hùng vĩ trữ tình, đến với cuộc sống tươi vui của những đứa con nơi núi rừng hẳn không nghĩ rằng, những con người nơi đây từng khổ cực tram bề. Cảnh đói nghèo cơ cực cùng sức nặng cường quyền và thần quyền đè nặng lên đôi vai những số phận bé nhỏ. Nhưng đằng sau tất cả vẫn là sức sống mãnh liệt, mạnh mẽ. Và Tô Hoài đã phản ánh những điều ấy qua hình tượng nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Vợ chồng A Phủ là một trong những sáng tác xuất sắc nhất làm nên tên tuổi nhà văn của núi rừng Tây Bắc. Thành công của Tô Hoài trong việc phản ánh chân thực cuộc sống, khát vọng của con người Tây Bắc không chỉ qua việc xây dựng hình tượng nhân vật Mị mà bên cạnh số phận người con gái Mèo ấy, hình tượng A Phủ – chàng trai vùng cao cũng để lại trong lòng người những day dứt, những ám ảnh. Cũng giống như khi kể về cuộc đời của Mị, Tô Hoài đã tái hiện cuộc đời nhân vật theo dòng thời gian hồi tưởng thì đến A Phủ, ông cũng để nhân vật xuất hiên trong hoàn cảnh bị bắt về phạt vạ ở nhà Thống lí Pá Tra. Để từ đó, đi sâu khắc họa hình ảnh, số phận nhân vật. Theo dõi những tình tiết về cuộc đời A Phủ, tôi càng thấu hiểu hơn những đau khổ, những bất công mà những con người hiền lành nơi đây phải cam chịu dưới chế độ cường quyền miền núi trước giải phóng. Đọc Vợ chồng A Phủ, tôi cứ ngỡ cảnh sống của Mị đã là nghèo hèn, cơ cực vậy mà khi A Phủ xuất hiện, tôi chợt hiểu rằng nơi đây còn biết bao cảnh đời cay đắng, đau khổ. Nếu Mị còn có một người cha làm điểm tựa tinh thần, còn có mái nhà nghèo nàn che mưa che nắng, còn đã có một quá khứ tươi đẹp thì cuộc đời A Phủ chỉ là hay bàn tay trắng và màu xám xịt u buồn. A Phủ lớn lên trong hoàn cảnh bơ vơ, cô độc: A Phủ mất cả cha và mẹ trong một trận đậu mùa khủng khiếp, từ nhỏ anh đã phải nếm trải chịu kiếp sống bơ vơ, không nơi bám víu. Đau đớn hơn, đứa trẻ mồ côi ấy còn bị coi như một món hàng. Trong nạn đói trên chính quê hương mình, “người làng đói bụng đã bắt A Phủ đưa xuống bán đổi lấy thóc của người Thái ở dưới cánh đồng”. Vậy là đến quyền được sống trên quê hương mình, A Phủ cũng bị tước đoạt. Thử hỏi còn ai đáng thương hơn thế nữa! Cũng thử hỏi có ai nghèo hơn A Phủ. Tài sản duy nhât của anh chỉ là “ một chiếc vòng vía lằn trên cổ”. Hoàn cảnh của A Phủ đem lại cho người đọc nỗi thương tâm sâu sắc về số phận con người đơn độc, nghèo khổ của xã hội. Thế nhưng cũng giống như Mị, như bao người vùng cao khác vượt lên hoàn cảnh sống thiếu thốn của mình, A Phủ đã hình thành biết bao tính cách tốt đẹp. Từ con người này toát lên bản chất cần cù, chăm chỉ của người dân lao động miền núi chất phác, trung hậu. Một mình kiếm sống, học hỏi đủ thứ nghề “biết đúc lưỡi cày lại cày giỏi và đi săn bò tót cũng rất bạo”. Anh đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống để trở thành một người lao động chân chính. Khi lớn lên, chàng trai mồ côi không chỉ hiền lành, lao động giỏi mà còn có sức khỏe hơn người “ Công việc làm hay đi săn cái gì cũng làm phăng phăng” và “A Phủ chạy nhanh như ngựa”. Tô Hoài đã viết về nhân vật bằng tất cả thái độ đồng cảm và yêu thương nhất. Nhưng tính cách làm nên vẻ đẹp nhân vật và gợi lên trong tôi ấn tượng về A Phủ đặc biệt nhất đó chính là một con người nghèo khổ mà vẫn sống đời sống tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, yêu chính nghĩa và đầy dũng cảm. Đang tuổi thanh niên, như bao chàng trai khác, A Phủ cũng cùng trai làng đem khèn, sáo, đem con quay, quả pao,… đi chơi xuân, mặc dù anh chẳng có dù chỉ là một bộ quần áo mới. Đó là niềm lạc quan yêu đời của tuổi trẻ, khát khao có được tình yêu của chàng thanh niên lương thiện. Nhưng số phận cũng chẳng dành đặc ân ấy cho A Phủ. Dù dân làng thường kháo nhau “ Ai có được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà. Chẳng mấy lúc mà giàu”. Song thực tế chẳng ai dám lấy A Phủ. Thế nhưng, A Phủ vẫn hân hoan đi chơi Tết với niềm khát khao nhiệt thành, sức sống của tuổi trẻ. Dù nghèo khổ, nhưng chàng trai ấy luôn biết yêu chính nghĩa, biết phân biệt đúng sai, biết bất bình, phản kháng một cách táo bạo trước sự lộng hành, cậy quyền của bọn con nhà giàu. Dẫu biết A Sử là con quan nhưng trong thái độ bất bình “ A Phủ chạy vụt ra, vung tay ném con quay vào mặt A Sử”, “ A Phủ xộc tới, nắm cái vòng cổ, kẹp dập đầu xuống, xé vai áo đánh tới tấp”. Hành động dữ dội của chàng trai nghèo khổ đó có nguyên nhân sâu xa từ mối hận thù giai cấp, từ sự phẫn nộ, bất bình, trước cảnh trái ngang, phi lí trong cuộc đời. Song song với hình tượng Mị, vẻ đẹp của chàng trai này một lần nữa cho tôi hiểu hơn phẩm chất tốt đẹp của con người vùng cao và sự am hiểu, thương yêu của Tô Hoài với con người nơi đây. Thế nhưng bóng đen của hủ tục lạc hậu, sự lộng hành của thế lực phong kiến miền núi mà tiêu biểu là cha con Thống lí Pá Tra đã tạo nên sự ám ảnh ghê gớm với cuộc sống những con người lương thiện nơi đây. Cũng như cuộc đời Mị, chàng trai A Phủ sôi nổi, yêu đời là thế, con người với những phẩm chất tốt đẹp là thế vậy mà cũng trở thành nô lệ cho nhà Thống lí Pá Tra. Nếu Mị bị coi là vật thế chấp cho một nương ngô mà cha mẹ cô vay nợ nhà Thống lí thì A Phủ phải làm thân trâu ngựa để trừ nợ 100 đồng bạc trắng – món nợ xuất phát từ một quy định phi lý: lệ phạt vạ tồn tại biết bao đời trên mảnh đất vùng cao. Chàng thanh niên đáng thương đã trở thành nạn nhân của thế lực thần quyền và cường quyền nơi đây. Người đọc thực sự bị ám ảnh trước hình ảnh A Phủ bị trói như một con vật, bị người ta khiêng rồi vứt huỵch xuống sàn nhà, ám ảnh bởi A Phủ “ Quỳ trước nhà giơ lưng cho người ta thi nhau đánh đập, hành hạ”. Thân phận của con người thật chẳng bằng loài vật. Cảnh người nhà Thống lí thay nhau đánh A Phủ là quang cảnh phơi bày rõ nhất tội ác man rợ, phi lý của thế lực phong kiến vùng cao. Cuộc sống của những người dân đáng thương ấy có tội ác dã man đến vô lý, có sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, có cả những nghèo khổ, cơ cực phải gánh trên vai trăm thứ phi lí, nặng nề. Ám ảnh hơn trước một A Phủ tập tễnh trong nỗi đau vừa bị đánh đập, cầm con dao đi thịt lợn hầu những kẻ vừa phạt vạ mình. Vậy là dưới sức nặng của thần quyền, của cường quyền, của bữa cúng ma nhận mặt người vay nợ, A Phủ thực sự trở thành thân trâu ngựa cho nhà Thống lí. Có thể nói, cùng với Mị, số phận A Phủ là ví dụ điển hình cho cuộc sống của những chàng trai, cô gái vùng cao trong cảnh đời nô lệ. Tô Hoài cảm nhận sâu sắc nỗi thống khổ ấy. Cảnh đời của con người nơi đây còn đau đớn, tủi cực hơn cả chị Dậu, anh Pha ở miền xuôi. Ngòi bút Tô Hoài bộc lộ thái độ căm phẫn, lời lên án gay gắt các thế lực cường quyền và thần quyền đã dồn nén cuộc đời người dân lương thiện đến bước đường cùng. Cảnh đời của Mị và A Phủ đã tái hiện lại không khí ngột ngạt của cuộc sống người dân miền núi dưới chế độ xã hội cũ. Tuy vậy, bằng tình cảm yêu thương trân trọng, bằng sự am hiểu tường tận của mình về đời sống nội tâm con người miền núi, nhà văn Tô Hoài vẫn khám phá được khát vọng sống mạnh mẽ trong tâm hồn A Phủ. Khi đối diện với ranh giới giữa sự sống và cái chết, thực cảnh bị trói đến chết, khát khao sống bừng dậy mạnh mẽ trong lòng A Phủ. Với tình yêu cuộc sống và sự gan góc vốn có, A Phủ không cam chịu cái chết mà tìm mọi cách giải thoát mình “ Đêm đến, A Phủ cúi xuống nhay đứt 2 vòng mây, nhích dần dây trói một bên tay”. Niềm ham sống đã chiến thắng nỗi sợ hãi, đã chiến thắng cả thái độ nhẫn nhục, cam chịu bấy lâu trong lòng A Phủ. Người đọc không quên được hình ảnh “ một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má xám đen lại của A Phủ”. Những giọt nước mắt đau đớn tuyệt vọng của con người ham sống, khát khao sống nhưng phải đối diện với cái chết đang đến dần mà bế tắc, tuyệt vọng. Lòng ham sống ấy càng mãnh liệt hơn khi Mị cắt dây trói cho A Phủ: Nỗi đau thể xác sau nhiều đêm bị trói, bị đánh, bị hành hạ khiến anh quỵ xuống khi vòng dây trói mở ra, nhưng bằng sức mạnh, bằng khát khao tự do mãnh liệt, anh lại vùng dậy và quật chạy. Nỗi đau thể xác, nỗi ám ảnh trước sức mạnh thần quyền và cường quyền không còn nữa. Trước mắt A Phủ lúc này chỉ có sự vẫy gọi tha thiết, sự thúc giục của 2 tiếng TỰ DO. Với những am hiểu sâu sắc của mình về đời sống tâm lý vùng cao, Tô Hoài đã phát hiện những vận động, chuyển biến trong ý thức phản kháng, đấu tranh của người dân miền núi: từ cam chịu đến đấu tranh tự phát, để rồi khi gặp ánh sáng của Cách mạng, nó đã trở thành ý thức đấu tranh tự giác. Chính những con người như A Phủ đã đi theo Cách mạng trở về đấu tranh giải phóng bản làng, quê hương. Đấy là sự vận động tất yếu trong đời sống tinh thần của nhân vật, bộc lộ niềm tin tưởng sâu sắc của nhà văn về khả năng tự đổi đời của những người dân chất phác, mộc mạc nơi này. Song song với hình tượng Mị, cuộc đời và tính cách của A Phủ có ý nghĩa tiêu biểu cho số phận, phẩm chất của người dân vùng Tây Bắc. Từ trong bóng tối của cuộc đời đau khổ và tủi nhục, họ đã vươn đến ánh sáng rực rỡ của nhân phẩm và tự do, ánh sáng của Cách mạng. Đó cũng chính là những giá trị nhân đạo mới mẻ, sâu sắc của tác phâm giàu chất thơ này.
Suy ngẫm về hình tượng nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ Chồng A Phủ
2,069
Sách là ngọn đèn sáng bất diệt Bài làm Đời sống ngày một nâng cao, yêu cầu về học thức của mỗi con người ngày càng cần thiết. Phương tiên để học hữu hiệu, đạt kết quả tốt nhất đó chính là sách. Sách đối với trí tuệ con người là quan trọng. Nó tu dưỡng nhân cách, ý thức của mỗi chúng ta. Chính vì vậy mới có câu rằng: Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người. Sách không chỉ là vật dụng mà nó còn chứa đựng những tư tưởng nhân văn, ý nghĩa sâu sa khiến người ta phải ngẫm nghĩ. Không chỉ vậy sách còn là món ăn tinh thần trong cuộc sống, tô điểm chút thi vị cho đời thường. Thế giới trong sách không đơn thuần khi ta mới nhìn qua mà đọc từng câu từng từ, xem từng hình ảnh mới cảm nhận được nét tinh hoa, sự giàu đẹp của nó. Đồng thời nó cũng là chiếc chìa khoá trước hết là mở ra cánh cổng tri thức và sau đó là mở ra cánh cổng của thành công, thăng hoa. Có thể nói tuy chỉ là một vật dụng nhỏ bé do con người tạo ra, về giá trị vật chất có thể không có mấy nhưng về giá trị tinh thần thì rất lớn. Sách là một kho tàng về tri thức. Trải qua hàng trăm năm con người đã biết ghi chép lại những hình ảnh, sự việc, vấn đề để tích luỹ, ghi nhớ và dạy dỗ con người. Nó thể hiện những sự kiện lịch sử quan trọng, những vùng miền đất mới, những công trình kiến trúc khoa học, văn hoá nghệ thuật, hay những phát minh khoa học, những công thức toán học. Đã từ lâu sách đã đi vào cuộc sống của mỗi con người, khuyên răn, chỉ bảo con người thêm hiểu biết và như người ban thân song hành. Khi chưa biết, sách là người thầy của chúng ta, khi căng thẳng, sách là nguồn đông viên an ủi giúp ta tiến bước. Khi buồn bã, giận hờn thì sách là liều thuốc xoa dịu vết thương. Sách gợi lại cho chúng ta những kỉ niệm đáng nhớ, liên tưởng cho chúng ta về một thế giới tưởng chừng vô hình trừu tượng mà lại hiển hiển trong cuộc sống. Sách còn là nguồn thông tin, trao đổi kiến thức, giao lưu giữa hàng nghìn vùng miền xa lạ, kho tàng kiến thức cho nhân loại. Có thể chứng minh rằng ý nghĩa to lớn của sách dành cho chúng ta là rất lớn. Nó tái hiện lại trạng thái, sự sống, hoạt động của con người. Nó chỉ ra một tương lai mới, hay quay về quá khứ để lấy lại những kinh nghiệm. Những trang sách thuần tuý ấy đã đi vào trong cả nền giáo dục mỗi con người. Sách không chỉ là hành trang của con người trong trường học, mà còn là hành trang của con người trong đời thường, cuộc sống, xã hội. Sách mở rộng tầm nhìn cho chúng ta về cuộc đời, chỉ bảo, thâm nhập vào tâm hồn của cuộc sống. Thế giới có sách vở là thế giới giàu tri thức, nhiều công nghệ. Thế giới không có sách là thế giới nghèo nàn lạc hậu. Những cuốn sách đã dạy chúng ta biết bao điều kì diệu trong cuộc sống, tu dưỡng đạo đức cho ta ngày một văn minh. Tất cả những điều trên đều chứng tỏ một chân lí rằng: Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ loài người. ấy vậy mà một số hành vi lại xâm phạm đến ý nghĩa cao đẹp của sách. Những cuốn sách không phù hợp tính nhân văn vẫn được bày bán công khai. Những nội dung ngang trái khiến người đọc phải bất mãn vẫn được tung ra thị trường. Thử hỏi xem phẩm chất cao quý của sách đã bị xoá mờ đi bởi những bàn tay vô trách nhiệm, những ý nghĩ xấu xa kia. Việc đọc sách để mở mang tầm hiểu biết nhưng việc chọn sách lại là nền tảng cho muc đích ấy. Một cuốn sách hay sẽ đem lại cho con người một tư tưởng, một định hướng có lợi nhất định. Những một cuốn sách xấu lại mang lại cho con người tư tưởng lệch lạc, thiếu chín chắn dẫn đến những hậu quả khó lường. Do đó chúng ta cũng thấy được cái tốt từ sách để học tập. Nhắc đến sách là nhắc tới một thế giới sáng trong, một thế giới mang tinh nhân văn, hiện thực. Do đó ta phải nhận ra được rằng: đọc sách không chỉ là tu dưỡng kiến thức mà còn là mở ra một con đường, một lối mở dẫn đến thành đạt. Một trong những thiệt thòi lớn nhất của con người là không đọc sách vì đó như một thế giới thông tin thu nhỏ dễ hiểu, dễ cảm nhận. Ngay cả những vị danh nhân thành tài, những nhà bác học uyên bác không thể phủ nhận được giá trị của sách. Tri thức của con người càng được tu dưỡng bao nhiêu thì con người lại càng cảm nhận được vai trò của sách, hiêu thêm được tác dụng mà sách đem lại.
Sách là ngọn đèn sáng bất diệt
904
Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới Hướng dẫn Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới Sách là sản phẩm kì diệu về trí tuệ, tinh thần; là kiến thức của con người đã được tích lũy, chọn lọc, tổng hợp thuộc tất cả các lĩnh vực khoa học, đời sống, tinh thần của con người. Sách có sức mạnh vượt thời gian và không gian. Từ những cuốn sách viết trên da cừu, trên thẻ tre…. từ hàng ngàn năm vẫn góp vào kho tàng tri thức nhân loại hôm nay. Sách của dân tộc này có thể được dịch ra và phục vụ cho dân tộc khác. Sách cho ta hiểu về khoa học tự nhiên, xã hội, con người.Sách giúp ta tự khám phá dân tộc, đất nước mình để từ đó yêu thêm quê hương đất nước và có trách nhiệm bảo vệ xây dựng đất nước mãi mãi trường tồn. Đồng thời, bồi dưỡng cho ta hiểu chính tâm hồn mình, hiểu người, hiểu đời, từ đó nhận thức đúng đắn về cuộc sống. Biết yêu, ghét đúng sai, tốt xấu, biết đồng cảm, chia sẻ với mọi người; biết ước mơ và khát vọng, tránh xa những cái thấp hèn và biết vươn tới những giá trị chân – thiện – mỹ trong cuộc sống. Văn hóa đọc đang thầm lặng quay trở lại nhưng vẫn chỉ tùy vào ngành nghề, mục đích từng người. Nguyên do là nền giáo dục của chúng ta còn chú trọng chưa đúng mức tới việc hướng dẫn cho học sinh thói quen đọc sách, lựa chọn sách, cách đọc sách. Bên cạnh đó, giới trẻ hiện nay bị văn hóa nghe nhìn cuốn hút mạnh và thói quen cá nhân không thích đọc sách; sách dịch còn nhiều bất cập.
Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới
303
Sáng tác một truyện ngắn có tác dụng giáo dục thiết thực đối với tuổi trẻ hiện nay Hướng dẫn Sáng tác một truyện ngắn có tác dụng giáo dục thiết thực đối với tuổi trẻ hiện nay Trời vừa sáng. Một buổi sáng mùa thu thật trong lành và ấm áp. Cô Hồng – mẹ Nam lại quảy đôi quang gánh đi bán hàng rong cho kịp bữa sáng của mọi người. Mùi xôi thơm nóng hổi khiến ai đang đói bụng cũng thèm và không thể cưỡng lại được. Cô vừa đi vừa rao “Ai xôi nóng đi”. Tiếng rao ngọt ngào, vang vọng cả con phố vừa mới bình minh. Những giọt sương long lanh còn đang lưu luyến chưa muốn rời mình khỏi kẽ lá, cành cây. Nam vươn mình tắt chiếc đồng hồ báo thức rồi lại chùm kín chăn ngủ tiếp. Tiếng điện thoại tiếp tục reo lên. Nam nghe máy với giọng còn ngái ngủ. – Dậy chuẩn bị đi học đi con. Xôi mẹ gói trong túi con đánh răng rửa mặt rồi ăn đi cho nóng. – Tiếng cô Hồng nhẹ nhàng từ đầu dây bên kia. Hiểu tính con hay ngủ nướng nên cô gọi điện gọi Nam dậy. Nam uể oải chui ra khỏi chiếc giường rồi phụng phịu: Lại xôi, ngày nào cũng xôi. Chán chết đi được. Nam cầm túi xôi chạy ra cổng ném luôn vào thùng rác. Nó chạy một mạch ra chỗ mẹ bán xôi đòi tiền đi ăn phở. Thương con, cô Hồng rút ra trong túi mấy đồng tiền lẻ còn chưa kịp vuốt phẳng phiu. Cô đếm đưa cho Nam hơn hai mươi nghìn. Nó xị mặt lẩm bẩm: – Có từng này làm sao mà đủ được – Rồi bỗng nó reo lên – Mẹ, cho con thêm tiền con muốn mua mấy quyển sách bài tập nâng cao. Mẹ Nam thấy con muốn mua sách để học liền vội vàng rút thêm tiền ra đưa cho Nam hai trăm nghìn. – Ngần này đủ không con. Mà con mua sách học môn gì? – Con mua để học mấy môn chính đó mẹ. Ngần này chắc là đủ đấy. Nam vội cầm tiền rồi chạy về nhà. Nó tỏ vẻ sung sướng lắm. Cậu ta đeo cặp sách, chạy qua chỗ mẹ chào với một câu: Con đi học đây. Cô Hồng nhìn theo con với ánh mắt đầy hi vọng. Nắng đã bắt đầu chiếu những tia yếu ớt qua cành cây, kẽ lá. Nắng của mùa thu thật dịu dàng. Thúng xôi của cô cũng đã vơi dần. Khách vẫn tiếp tục đến ngồi ăn. Cô cặm cụi dậy từ 3 giờ sáng để thổi xôi. Đôi quang gánh cô gánh bao năm nay đã làm vai cô trĩu xuống. Nhưng tất cả chẳng là gì khi cô nhìn thấy con được vui vẻ, được đầy đủ bằng bạn bằng bè. – Hôm nay tao bao tất! Thằng nào thắng còn có thưởng. Cả lũ reo hò sung sướng. Chúng tạt vào một quán điện tử trong hẻm, bắt đầu gõ gõ bàn phím. Ngoài kia, mẹ Nam đâu biết rằng con mình đang điên mê vì những trò điện tử. Số tiền mẹ đưa Nam là số tiền dành dụm để cho Nam học hành nhưng nó đâu có biết và đâu có trân trọng. Nó chỉ cần cầm được tiền trong tay là quên hết mọi thứ. Trong đầu chỉ nghĩ đến mấy trò điện tử hay hay. Cả lũ rủ nhau bỏ học để đấu với nhau. Đến tầm trưa, cả lũ đói quá mới rủ nhau đi kiếm gì ăn. Nam vừa bước ra khỏi cửa thì bất chợt nhìn thấy mẹ. Nó vội vàng chạy trốn nhưng mẹ đã kịp nhìn thấy. Vừa nhìn thấy con bước ra từ quán điện tử, cô cũng vội vàng chạy theo. Nhưng đôi quang gánh vướng víu quá, cô chưa kịp bỏ xuống thì một chiếc xe ô tô chạy ngang qua, hất tung đôi quang, cô văng người xuống đất, xe phanh không kịp. Một chân cô nằm trọn trong bánh xe. Cả góc phố xôn xao chạy lại vội vàng đưa cô đi cấp cứu. Máu chảy nhễ nhoại. Cô ngất đi, không còn biết gì nữa. Còn Nam sau khi chạy khuất tầm nhìn của mẹ đã trốn biệt tăm. Nó không hề biết rằng mẹ mình đã xảy tai nạn. Chạy một hồi nó mệt quá, dừng lại ngồi thở phì phò. Không nhìn thấy mẹ đuổi theo nữa, nó mới yên tâm. Chạy mệt, lại quá trưa, Nam đói bụng cồn cào. Nó lục túi nhưng tiền đã hết sạch rồi. Mùi xôi lúc sáng tự dưng thoang thoảng khiến cái bụng nó réo lên. Chưa bao giờ nó thấy thèm xôi như lúc này. Trời bỗng ập cơn mưa. Một cơn mưa bất chợt khiến mọi người vội vàng chạy tìm nơi trú. Nó cũng chạy vội vào một mái hiên để trú mưa. Trong nhà, người ta đang ăn những bát phở thật thơm ngon làm sao. Nó nhớ đến mẹ, nhớ đến những đồng tiền lẻ mẹ đưa để ăn phở. Giá lúc này có tiền để ăn một bát thì ngon biết bao. Nhưng tiền chơi điện tử hết rồi. Tiếc quá. Nam lấy điện thoại gọi cho bạn, nhưng chẳng thằng nào đến đón. Nam lầm bầm: Lúc tao có tiền, tao tiếc gì chúng mày. Thế mà tao mới đói một tí là chẳng thằng nào đến giúp. Nó có vẻ tức tối lắm. Thôi chạy về nhà. Nó nghĩ kiểu gì mẹ cũng đang chờ cơm rồi. Về xin lỗi mẹ, mẹ không mắng đâu. Xưa nay mẹ vẫn vậy mà. Nó bất chấp trời mưa, chạy một mạch về nhà. Nhưng về đến nhà, căn nhà trống rỗng. Nam gọi mẹ, không thấy mẹ đâu. Cũng không thấy đôi quang gánh của mẹ nữa. Linh tính nó cảm thấy có điều gì đó không hay xảy ra. Nó chạy vội đến chỗ lúc sáng nhìn thấy mẹ. Chao ôi, mọi người vẫn còn đang xôn xao kể về vụ tai nạn vừa xảy ra. Nam run lên khi nhận ra đôi quang gánh và đôi dép quen thuộc của mẹ đã được người ta xếp gọn bên lề đường. Nó hấp tấp hỏi mọi người xem mẹ mình được đưa đi viện nào rồi thuê xe ôm chạy thẳng đến đó. Tới nơi, Nam vừa chạy vừa gào thét. Nước mắt không rơi nổi nữa. Nam ân hận lắm. Không biết giờ này mẹ ra sao. Nam chạy lên phòng cấp cứu, hỏi các bác sĩ. Bác sĩ cũng đang chạy ngược chạy xuôi tìm người thân của bệnh nhân để truyền máu. Mẹ Nam bị mất nhiều máu quá. Tính mạng đang trong cơn nguy kịch. – Cháu là con ruột của mẹ cháu đây. Các bác lấy máu của cháu để truyền cho mẹ cháu đi. Đừng để mẹ cháu chết. Cháu xin các bác đấy – Nam khẩn khoản cầu xin bác sĩ. – May quá, chúng tôi cũng đang tìm người có cùng nhóm máu để lấy máu truyền. Mẹ cháu mất nhiều máu quá. Cháu qua đây làm thủ tục xét nghiệm máu – Một vị bác sĩ nói. Một chị y tá lấy máu Nam để xét nghiệm. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Nhóm máu của Nam không cùng nhóm máu với mẹ. Cầm tờ kết quả trên tay, Nam sốc và không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Mẹ Hồng không phải là mẹ ruột của mình sao? Vậy ai mới là mẹ mình đây? Bao lâu nay, mẹ Hồng luôn chăm lo cho mình có khác nào mẹ ruột? Không có một người mẹ nào lại yêu thương con mình nhiều đến mức hi sinh cả mạng sống cho mình như vậy? Tại sao chứ? … Bao nhiêu câu hỏi quay cuồng trong đầu Nam… Nam ôm mặt khóc. Một người không phải mẹ mình đã cưu mang mình suốt bấy lâu, vậy mà mình còn không hiểu, không biết, không trân trọng. Để bây giờ xảy ra chuyện đau lòng như thế này. – Vào với mẹ đi. Nam chạy vào, quỳ bên giường mẹ, nắm chặt tay mẹ không nói nên lời. Cô Hồng dùng chút sức lực cuối cùng của mình vuốt nhẹ lên mái tóc Nam. – Nam. Mẹ xin lỗi. Nhưng mẹ rất yêu con, yêu hơn cả chính bản thân mình. Từ nay con phải ngoan ngoãn, không được ham chơi nữa, phải học hành thành người, thực hiện ước mơ mà con từng nói với mẹ là muốn trở thành bác sĩ. Tiền mẹ dành dụm mẹ để trong chiếc hòm ở góc tủ quần áo của mẹ. Con hãy tự chăm sóc bản thân mình. Mẹ tin con làm được. Con trai của mẹ giỏi lắm. Nam không biết nói gì nữa. Nó dụi đầu vào mẹ mà khóc nức nở. Và rồi bàn tay mẹ cũng buông xuống. Mẹ đã trút hơi thở cuối cùng. Nam gào lên trong vô vọng. Có làm gì đi nữa thì mẹ cũng không thể trở về nữa rồi. Chỉ còn lại một mình Nam trên cõi đời này. Nam sẽ sống ra sao nữa đây? Sau những ngày lo ma chay cho mẹ, Nam nhớ đến chiếc hộp mẹ dặn. Nó mở ra, thấy có rất nhiều tiền trong đó, kèm theo một bức thư của mẹ. Nam dở ra đọc. Càng đọc, Nam càng khóc to hơn. Hóa ra, Nam chỉ là một đứa bé bị rơi ngoài lề đường được mẹ nhặt về nuôi. Mẹ không lấy chồng để dành hết thời gian và công sức chăm lo cho Nam. Khi nhặt Nam về, mẹ mới mười tám tuổi. Mẹ viết, vì mẹ cũng là một đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi từ nhỏ nên mẹ thấu hiểu nỗi đau ấy. Mẹ không muốn Nam cũng phải sống cuộc đời cơ cực và buồn tủi giống mình nên mẹ nguyện hi sinh cả tuổi thanh xuân để nuôi nam. Vậy mà Nam lại ngỗ nghịch không nghe lời mẹ, thậm chí còn lừa dối mẹ. Giờ đây Nam chỉ biết ôm di ảnh của mẹ mà khóc trong đêm. Mùi xôi lại thoang thoảng đâu đây khiến Nam nhớ mẹ vô cùng. Một người mẹ không cùng ruột thịt nhưng lại có công lao hơn cả biển trời. Nam ước thời gian có thể quay trở lại để Nam gánh đỡ mẹ những gánh xôi ra đường bán, Nam sẽ không chạy đi chơi điện tử, sẽ học hành cẩn thận, sẽ làm mẹ vui lòng. Nhưng mọi thứ đều quá muộn màng mất rồi!
Sáng tác một truyện ngắn có tác dụng giáo dục thiết thực đối với tuổi trẻ hiện nay
1,779
Sân trường em hoặc nơi em ở thường có nhiều cây cho bóng mát. Hãy miêu tả một cây mà em yêu thích – Tập làm văn 4 Hướng dẫn GỢI Ý VD về đoạn văn tả cây tràm ở sân trường. Rễ cây tràm nhô lên khỏi mặt đất trông giống như những con trăn đang bò. Thân tràm to đến hai, ba vòng tay em ôm lại. Vỏ cây sần sùi, màu đen đậm. Vượt cao khỏi mặt đất chừng hai thước, thân tràm chẽ thành hai nhánh. Mỗi nhánh lại có nhiều cành con chìa ra bốn phía vươn lên, đỡ những chiếc lá nhỏ màu xanh có hình trăng lưỡi liềm. Những cành lá um tùm đan xen vào nhau làm cho những tia nắng mặt trời khó bề xuyên qua nổi. Mùa hè, cây tràm như chiếc dù lớn che mát cho chúng em. Giờ ra chơi, em cùng các bạn quây quần bên gốc tràm trò chuyện, vui đùa. Thỉnh thoảng vài cánh hoa tràm rơi nhẹ, đậu lên những mái tóc xanh. XEM THÊM TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Sân trường em hoặc nơi em ở thường có nhiều cây cho bóng mát. Hãy miêu tả một cây mà em yêu thích – Tập làm văn 4
180
Sóng-Xuân Quỳnh, khát vọng được hóa thân trong tình yêu vĩnh hằng Hướng dẫn Từ khi nhân loại có tình yêu là có thơ viết về tình yêu. Dù xuất phát từ trái tim nhưng tình yêu lại có cái sức mạnh thần bí của nó khiến con người luôn khát khao đi tìm, thấu nhận nhưng không thể thấu hiểu nó. Nếu Puskin hoang mang, thảng thốt khi đứng trước tình yêu: “Tôi chưa yêu bao giờ Ngỡ tình yêu là ảo mộng” Thì Tagore lại biện minh: “Trái tim anh luôn ở gần em như chính cuộc đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em hiểu được nó đâu” Đến Xuân Quỳnh, cô cũng cảm nhận tương tự dù đã cố đi tìm nó trong mọi biểu hiện. Sóng là một bài thơ đẹp thể hiện khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn liền với những dự cảm lo âu, những mong manh đầy bất ổn tràn trào trong trái tim tuổi trẻ. Xuân Quỳnh đã rất tinh tế khi biểu hiện tâm hồn của người phụ nữ luôn khao khát được yêu thương gắn bó, luôn trăn trơ lo âu, luôn được muốn hi sinh, dâng hiến cho một tình yêu tuyệt đích. Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ. Nếu sông là trái tim của tuổi trẻ, thì sóng chính là những nhịp đập của tình yêu. Bởi sông không hiểu mình muốn gì trong tình yêu bất tận nên nỗi hoang man lan tỏa thành từng đợt sóng. Sóng rời song đi tìm ra biển lớn như tình yêu muốn kiếm tìm một nhịp đập đồng điệu từ từ bản bản thể khác để sẻ chia, để thấu hiểu. Nhưng biển lớn khôn cùng, bãi bờ vô hướng, sóng càng ra xa càng thấy mình lẻ loi, vô định. Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên? Thế rồi, người con gái truy tìm cái nguồn cội của cảm xúc thiêng liêng ấy để có thể làm chủ được nó. Tình yêu được đặt trong một không gian rộng, thời gian mênh mông để dễ dàng soi chiếu: Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau Nhưng làm sao có thể thể làm được điều ấy. Sóng không có nguồn cội cũng như tình yêu khoog thể biết được nó khởi đầu từ đâu. Có thể là lần gặp gỡ đầu tiên, cũng có thể là từ tên gọi một hôm nào đó ta vô tình thoáng nghe. Cũng có thể nó đã đến sau bao lần gặp gỡ, cũng có thể là sau những khổ đau ta bắt đầu yêu nhau nồng thắm. Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức. Ở ngoài kia đại dương Trăm nghìn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở. Và càng đi tìm ta càng thấy nó đa chiều, bí ẩn vừa như ở rất gần mà lại như rất xa, vừa như thấy trên bề mặt lại đã lặn vào lòng sâu. Nhưng có một điều con sóng nào cũng xô vào bờ tan ra thành tiếng vỗ. Có lúc dịu êm mơ màng, có lúc dữ dội cuộn trào ghê gớm. Như tình yêu của đôi khi chỉ là nỗi nhơ thầm, đôi khi trở thành niềm khát vọng được cận kề, gần gũi, khát khao cháy bỏng. Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Dòng thời gian cứ trôi đi, con sóng bạc đầu ngàn năm vẫn vỗ nhưng tình yêu thì hữu hạn. Thế nên, trái tim yêu vội vã muốn như lag sóng, được hóa thân thành sóng để còn vỗ mãi đến ngàn năm trong trái tin tuổi trẻ. Xuân Quỳnh đã rất khéo léo khi đan cài hai hình tượng sóng và tình yêu của em trong một bài thơ trữ tình đầy chiêm nghiệm. Em là cái tôi trữ tình của nhà thơ, là hình tượng được miêu tả trong những cung bậc khác nhau của tình yêu. Sóng chính là hình ảnh ẩn dụ cho trái tim người phụ nữ đang yêu, là sự hoá thân, phân thân của em… Hai hình tượng ấy khi phân đôi để soi chiếu sự tương đồng, khi hoà nhập để âm vang, cộng hưởng. Trái tim người phụ nữ đang yêu soi vào sóng đế nhận ra mình, thông qua sóng để thể hiện những rung động, đam mê, khao khát… Hai hình tượng này đan cài, quấn quít với nhau từ đầu tới cuối bài thơ, soi sáng cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc, thâm thía hơn khát vọng tình yêu trào dâng mãnh liệt trong lòng nữ sĩ. Với hình tượng sóng, bài thơ làm hiện lên hình ảnh người phụ nữ đứng trước đại dương, mang tâm thế của một cá thể nhỏ bé đối diện với cái vô biên và vĩnh hằng, từ đó mà liên tưởng, suy tư, chiêm nghiệm về tình yêu như một nhu cầu tự nhận thức, tự khám phá cái tôi bản thể. Cảm xúc thơ vì thế vừa sôi nổi, mãnh liệt, vừa có chiều sâu triết lí. Bởi ta là của nhau Bởi anh là dòng sông Nước tuôn về biển biếc Bởi em là sóng bạc Ru đời anh mê say. Bởi qua bao gian khổ Anh tìm em hôm nay Dù muôn vàn cách trở Đã có nhau đêm ngày. Em ơi sông dẫu cạn Nước chẳng quên về nguồn Em ơi núi có mòn Gió vẫn hoài yêu thương Trần gian bao cay đắng? Đời người mấy thương đau? Nghìn năm chung giấc mộng Bởi ta là của nhau! Dương Lê
Sóng-Xuân Quỳnh, khát vọng được hóa thân trong tình yêu vĩnh hằng
986
Sơ lược Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân) Hướng dẫn Ngữ văn 12: Sơ lược Người lái đò sông đà VnDoc xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu Sơ lược Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân), nội dung tài liệu chi tiết và đầy đủ sẽ là nguồn thông tin hữu ích giúp các bạn học sinh nắm chắc nội dung bài học một cách đơn giản hơn. Mời thầy cô và các bạn học sinh cùng tham khảo. Học tốt Ngữ văn 12: Sơ lược Người lái đò sông đà 1. Hoàn cảnh sáng tác: – Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tập tùy bút Sông Đà (1960) – thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. – Mục đích chính của chuyến đi tới Tây Bắc của nhà văn đồng thời cũng là cảm hứng chủ đạo của cả tập bút ký là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười – “thứ vàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng. 2. Vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của hình tượng con sông Đà * Vẻ hung bạo, dữ dằn: – Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, có quãng lòng sông bị thắt hẹp lại như cái yết hầu. – Những quãng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm… – Những “hút nước” chết người luôn sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào. – Tiếng nước thác sông Đà với nhiều cung bậc dữ dội khác nhau – Quãng sông Đà với bao đá nổi, đá chìm, phối hợp cùng sóng thác như dàn thạch trận, lập nhiều phòng tuyến… sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò. * Vẻ trữ tình, thơ mộng: – Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ diễm kiều. – Nhìn ngắm con sông từ nhiều thời gian, không gian khác nhau, Nguyễn Tuân đó phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của màu nước sông Đà. Nó biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng. – “Nhìn sông Đà như một cố nhân”, nhà văn cảm nhận rõ nét cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông và nhất là cái chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên sông Đà. Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Cảm nhận và miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới. 3. Hình tượng người lái đò – Là người tinh thạo trong nghề nghiệp. + Ông lão nắm vững qui luật khắc nghiệt của dòng thác sông Đà “Nắm chắc quy luật của thần sông thần đá”. + Ông thuộc lòng những đặc điểm địa hình của Sông Đà “nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả các luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”, Sông Đà “như một thiên anh hùng ca mà ông đò thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”. – Là người trí dũng tuyệt vời: Ông sẵn sàng đối mặt với thác dữ, chinh phục “cửa tử”, “cửa sinh”, vượt qua trận thuỷ chiến với đá chìm, đá nổi, với những trùng vi thạch trận và phòng tuyến đầy nguy hiểm. Ông lái đò vượt qua bằng những hành động táo bạo và chuẩn xác. Ông hiện lên như một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm: + Ở trùng vây thứ nhất: thần sông dàn ra năm cửa đá thì có đến bốn cửa tử, cửa sinh duy nhất nằm sát bờ trái và huy động hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mặt con thuyền. Luồng sóng hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Thậm chí còn đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… nhưng người lái đò bình tĩnh giữ chắc mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất khỏi bờm sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Ngay cả lúc bị trúng đòn hiểm, mặt méo bệch đi nhưng ông vẫn tỉnh táo chỉ huy con thuyền lướt đúng vào luồng sinh. + Ở trùng vây thứ 3, thạch trận ít cửa tử hơn nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ. Nhưng ông đò không hề bất ngờ trước mưu mô hiểm độc của bọn chúng, tiếp tục chỉ huy con thuyền vượt qua trùng vây thứ 3. – Là người tài hoa nghệ sĩ: + Ông đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung nghệ sĩ. Tay lái linh hoạt, khéo léo, tài hoa như một nghệ sĩ trên sông nước: “ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”, “Vút, vút…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”. Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông con thuyền đã hoá thành con tuấn mã hiểu ý chủ- khi thì khéo léo né tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng cổng “cánh mở, cánh khép”. Con thuyền như bay trong không gian, ông đò luôn nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn; bình tĩnh và hùng dũng ngay cả lúc bị thương. + Nguyên nhân chiến thắng của ông lái đò: sự ngoan cường, dũng cảm và nhất là kinh nghiệm sông nước. Đây là hình ảnh về một người lao động mới mang vẻ đẹp khác thường. Người lái đò hiện lên như là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, tài trí và luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông chỉ huy cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan và biết nhìn thử thách đó bằng cái nhìn giản dị mà không thiếu vẻ lãng mạn. Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đã tìm được nhân vật mới cho mình, những con người đáng trân trọng, đáng ngợi ca, không thuộc tầng lớp thượng lưu đài các một thời vang bóng mà là những người lao động bình thường- chất “vàng mười của Tây Bắc”. Qua hình tượng người lái đò sông Đà, nhà văn muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày. -Đoạn văn tả trận thủy chiến, tập trung khắc họa hình tượng ông lái đò một lần nữa cho thấy sự uyên bác, lịch lãm của Nguyễn Tuân. ở đây có tri thức, có ngôn ngữ sống động của quân sự, thể thao, võ thuật, điện ảnh… 4. Nghệ thuật – Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị của tác giả. – Ngôn ngữ đa dạng, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao. – Câu văn có nhịp điệu, lúc thì hối hả, mau lẹ, khi thì chậm rãi, như tãi ra để diễn tả vẻ đẹp trữ tình rất nên thơ của con sông. 5. Chủ đề: Qua hình tượng sông Đà và người lái đò, Nguyễn Tuân muốn thể hiện niềm yêu mến thiết tha với thiên nhiên đất nước và ngợi ca những con người lao động – chất vàng mười của cuộc sống. —————————– đã giới thiệu tới bạn đọc bài: Sơ lược Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân). Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo tài liệu Soạn Văn Lớp 12 (ngắn nhất), Đề thi học kì 1 lớp 12 mà đã sưu tầm, tổng hợp. Chúc các bạn học sinh học tập hiệu quả!
Sơ lược Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)
1,408
Số phận người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc Hướng dẫn Số phận người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc Bài làm Tiếng nói tri ân trong thơ văn xuất phát từ tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, nỗi lòng của bản thân người sáng tác về cuộc đời và là sự đồng điệu trong tâm hồn bạn đọc với nhà văn, nhà thơ cho nên qua thơ, văn người Việt gián tiếp thể hiện con người, còn người đọc bắt gặp chân dung, tâm hồn, tình cảm chân dung cuộc đời tác giả Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo. Khi sáng tác văn học nhà văn đã gửi gắm tâm sự mình qua tác phẩm, mong tìm được cảm thông, chia sẻ, tìm tiếng nói tri ân trong bạn đọc, không tìm thấy tiếng nói tri ân với người đương thời, nhà văn, nhà thơ đã kí thác cho mai sau và trường hợp ” đọc tiểu thanh kí” Nguyễn Duy là tiêu biểu. Nguyễn Du thường tri ân với nhiều người ông đã sót thương cho mọi số kiếp khổ đau trong nhân gian đó là nàng Kiều, là người phụ nữ đánh đàn ở Long Thành, là Đạm Tiên…Với Tiểu Thanh đó là sự thấu hiểu nỗi khổ của người con gái sống khác dân tộc, khác thời đại, là tiếng nói tri ân của một nhân cách, với một cá nhân. Hoàn cảnh tri ngộ, tiêu điều: ” Thuở trời đất nổi cơn gió bụi” Đây là cuộc tri ngộ chỉ có một mình Nguyễn Du với người đã khuất, một nhà thơ tri ân với một nhà thơ, một người cô đơn viếng một người cô đơn, một hồn đau tìm đến một hồn đau. Nguyễn Du tri ân những người tài hoa bạc mệnh nói chung trong đó có mình. Từ chuyện một người mở rộng ra để hiểu muôn người đồng điệu với nỗi đau đớn của thế nhân. Đâu chỉ có Tiểu Thanh đó là số phận bất hạnh bao nhiêu người. Hai chữ cổ kim, gợi dòng thời gian miệt mài chảy trôi vô thủy, từ Đông sang Tây, trên đó thấp thoáng tiếng khóc Nàng Kiều, tiếng oai oán cô cầm, tiếng hát người ca nữ đất Long Thành, người hát rong ở Thái Bình, tiếng van lớn của người mẹ ăn xin đó là nỗi hận bao kiếp người, bao cuộc đời, bao thế hệ giờ đây tất cả đều đổ dồn xuống câu thơ Nguyễn Du, một mối hận chất chứa dày đặc thế mà trời không hỏi. Hỏi người người không biết, hỏi trời trời không đáp, một câu hỏi bế tắc trong tư tưởng cho lên ông tự lí giải cho mình. Tiểu Thanh đau khổ bao con người khổ đau chính là bởi nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã, thì ra chính “Chi phấn” “Văn chương” kia là nguyên nhân gây ra nỗi khổ nhường này, nó không chỉ chịu nỗi đau về thể xác mà còn chịu nỗi đau về tinh thần. Mà nhà thơ tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh. Thế là Nguyễn Du lấy hồn tôi để hiểu hồn người. Sở dĩ là bởi lẽ ông thấy mình trong cuộc đời và văn thơ Tiểu Thanh, ông ý thức được thân phận cuộc đời mình không tránh khỏi cái nghiệt ngã của số phận. Bài thơ thể hiện bi kịch tâm hồn đau đớn nhưng không cứu được đời, vừa cho thấy nỗi đau cô đơn không người chi kỉ thi hào, vì nhu cầu được tri ân mà Nguyễn Du thức tỉnh với niềm tự thương, tự đau tột độ khiến bài thơ mang yếu tố tự đau và cái tôi tự ý thức được thể hiện theo thể thơ Đường luật cô đúc, hàm xúc nhưng phảng phất giọng điệu bi truất, do nhiều thanh trắc, dấu nặng tạo cảm giác u nặng. Như vậy tiếng nói tri ân giữa người đọc và người viết mà điều văn học dân tộc nào, thời đại nào cũng hướng tới, từ đó đặt ra nhu cầu với người nghệ sĩ phải sáng tác từ cảm xúc trân thành, da diết nhất và người đọc phải sống hết mình với tác phẩm để hiểu thông điệp thẩm mĩ với tác giả, để chia sẻ cảm thông với tác giả. Khi ta đến với Nguyễn Du như đến với một con người suốt đời khắc khoải, da diết với thân phận con người. Nguyễn Du đã từng nức nở khóc thương cho những người đau khổ và chúng ta chẳng lẽ không một lần khóc cho Nguyễn Du?
Số phận người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc
777
Sống là cho và chết cũng là cho (Tạm biệt – Tố Hữu). Qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, hãy làm sáng tỏ ý nghĩa trên ấy Hướng dẫn Suy nghĩ về lối sống đẹp qua bài thơ Tạm biệt của Tố Hữu và Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải Đề bài: Trong bài thơ “Tạm biệt”, nhà thơ Tố Hữu có viết: “Xin tạm biệt đời yêu quý nhất Còn mấy vần thơ, một nắm tro Thơ gửi bạn đường, tro bón đất Sống là cho và chết cũng là cho” Em hiểu ý thơ trên như thế nào? Qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải, hãy làm rõ ý nghĩa ấy. Mở bài: Tố Hữu là một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Trọn cuộc đời ông sống và làm việc vì đất nước. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, dù nằm trên giường bệnh, ông vẫn cố gắng viết bài thơ Tạm biệt gửi lại cho đời những ưu tư, chiêm nghiệm mà trọn cuộc đời ông đã phấn đấu: Xin tạm biệt đời yêu quý nhất Còn mấy vần thơ, một nắm tro Thơ gửi bạn đường, tro bón đất Sống là cho và chết cũng là cho. (Tạm biệt, năm 2002) Bài thơ là lời tâm nguyện, là lẽ sống vì cuộc đời, là bản di cúc chúc thiết tha mà Tố Hữu gửi lại cho đời. Đối với ông, sống là cho và chết cũng là cho. Lẽ sống cao đẹp ấy một lần nữa được thể hiện thật cảm động trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải. Thân bài: * Ý nghĩa bài thơ Tạm biệt của Tố Hữu: Có thể nói Tố Hữu là nhà thơ cách mạng nổi bậc nhất thế kỉ 20. Không những ông có rất nhiều tác phẩm mà đề tài ngợi ca đời sống và chiến đấu của nhân dân là chủ đề duy nhất tràn ngập trong thơ ông. Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng. Ở ông, thơ với đời là một. Thơ ở trong đời và đời được ấp ủ ở trong thơ. Bài thơ Tạm biệt thể hiện một quan niệm sống thật đẹp của Tố Hữu. Đó cũng là lối sống của con người Việt Nam ta đã được chứng minh và khẳng định qua biết bao thời đại. Đối với Tố Hữu, con người sống là phải có lý tưởng, có ước mơ, hoài bảo và khát vọng lớn lao. Sống phải có mục đích và nguyện suốt đời phấn đấu vì lý tưởng cách mạng và sự nghiệp giải phóng nước nhà. Ngay cả trong thời bình, tư tưởng ấy cũng phải hết sức giữ gìn và phát huy. Tố Hữu từng cho rằng: “Nhà thơ chân chính phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập trường tư tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn. Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân”. Với ông, cuộc đời thật đáng yêu quý. Cuôc đời đã hào phóng ban tặng cho con người biết bao giá trị tốt đẹp. Đầu tiên là sự sống, cuộc sống, cuộc đời. Cuộc đời còn mang đến cho con người tình yêu, gia đình, tổ quốc,… và biết bao nhiêu niềm vui sướng, hạnh phúc lẫn khổ đau. Tố Hữu quấn quýt với cuộc đời ấy biết bao. Dù ở trong hoàn cảnh đau thương, ông vẫn thấy nó đẹp, nó chân thành, nó hào hùng và mãnh liệt. Đoạn thơ đã làm nổi bậc và khẳng định quan niệm sống thật đẹp. Sống đẹp có nghĩa là sống vì con người, vì cuộc đời mà tận dâng, tận hiến, vì đất nước mà tận trung, tận hiếu. Sống đẹp có nghĩa là nhận về mình những giá trị mà cuộc đời ban tặng và làm cho những giá ấy lớn lao thêm. Để, trước khi rời khỏi cuộc đời, lại gửi tặng lại cho đời những giá trị ấy. Sống là cho đâu chỉ nhân riêng mình. Cuộc sống sẽ không bao giờ là uổng phí nếu ta “sống toàn tâm, sống toàn trí, sống toàn hồn; sống toàn thân và thức nhọn giác quan” như nhà thơ Xuân Diệu đã từng tâm niệm. * Ý nghĩa lối sống tận hiến vì cuộc đời qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh hải) Thấm đẫm trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là một cuộc đời đầy thanh sắc, tươi vui, nồng thắm và ngọt ngào. Cũng giống như Tố Hữu, nhà thơ Thanh Hải viết bài thơ Mùa xuân nho nhỏ lúc nằm trên giường bệnh hai tháng trước khi ông qua đời. Thanh Hải trọn cuộc đời cũng đã gắn bó với cách mạng, với nhân dân đất nước. Ông là một chiến sĩ, đồng thời là một nhà thơ, một đứa con của đồng ruộng. Ông yêu cuộc đời như yêu chính bản thân ông. Bởi thế, với ông cuộc đời rất đẹp và nên thơ đến kì lạ. Khởi đầu cảm xúc, mở ra bức tranh màu xuân tươi xanh tràn trề sức sống: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Từ “mọc” thể hiện tư thế chủ động vươn lên của bông hoa tím. Giữa dòng sông, một bông hoa tím ngạo nghễ, ung dung giữ đất trời. “Dòng sông xanh” ấy hay cũng chính là dòng đời vạn biến. Cuộc đời con người trên dòng đời khác nào đóa hoa lênh đênh trên dòng nước vô định. Thế nhưng, dù dòng nước có đưa đẩy cánh hoa đi đâu về đâu thì nó vẫn xanh, vẫn dâng cho đời màu xanh non tơ mềm mại. Dòng sông xanh mướt màu lá cỏ, màu của sự sống. Dòng sông cũng phản chiếu ánh trời xanh thẳm ước mơ và khát vọng. Bông hoa tím trôi đi trên dòng sông xanh bỗng dưng thấy chơi vơi, lạc lõng vì nó chỉ có một mình. Nó đơn độc và sợ hãi. Cái màu tím ấy gợi buồn tha thiết. Thanh Hải đang ở những ngày cuối trong cuộc đời. Ông cảm thấy sinh lực đang cạn kiệt dần, sự sống từ từ rời bỏ ông mà đi. Màu tím u buồn phủ bóng trog tâm hồn sắp cạn tắt. Nhưng màu tím ấy cũng là màu của tấm lòng thủy chung, son sắt, là tình yêu cuộc sống của nhà thơ, dù là ở khoảnh khắc cuối cùng nó cũng vươn lên tỏa sáng. Toàn bộ vẻ đẹp khổ thơ kết động trong “giọt long lanh” rơi. Không phải là ào ào rơi xuống mà rơi từng giọt, từ từ, chậm rãi. Phải chăng đó là giọt sương đêm còn đọng lại trên lá. Hay là giọt mưa xuân vấn vương lá cỏ. hay là giọt tiếng chim chiền chiện trên bầu tròi cao rơi xuống. Có lẽ là không phải rồi. Vì bầu trời đang rõ sáng, chứng tỏ không có cơn mưa nào. Sương không thể nào rơi từng giọt vì bầu trời đang rất quang đãng. Còn tiếng lảnh lảnh kia có xu hướng vang xa chứ không kết tự lại thành giọt. Phải chăng, đó là giọt mật ngọt của cuộc đời, là giọt tình yêu cuộc sống đã kết tụ bấy lâu trong tâm hồn nhà thơ, để bây giờ trước sức sống của đất trời, vạn vật, nó rỏ ra ngoài thành “từng giọt” mềm long lanh? Thanh Hải đã đi trọn vẹn cuộc đời người, trải nghiệm không ít, chiêm nghiệm cũng nhiều. Ngay lúc này đây, ông khao khát được sống, được cống hiến nhiều hơn nữa. Người chiến sĩ không bao giờ biết đầu hàng. Họ chỉ hi sinh khi hoàn thanh nhiệm vụ. Họ chỉ hi sinh vì đất nước. Thế nên, ông trân trọng đưa tay hứng lấy tình yêu sự sống như đón nhận về mình nguồn sống mới. * Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình: Thanh Hải đi đi qua hết quảng đời đầy ắp tình yêu, nỗi khổ đau lẫn niềm tự hào sâu sắc. Ông biết ơn cuộc đời ban tặng cho ông một cuộc đời đày ý nghĩa. Cuộc đời ấy là cuộc đời cách mạng vừa đau thương vừa hết sức hào hùng. Ông gắn mình với cuộc sống thiết tha, với cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, cùng dân tộc đi đến ngày chiến thắng cuối cùng. Cuộc đời vẻ vang ấy trở thành niềm tự hào lớn lao trong trái tim nồng nhiệt ông. Thế nên, trước khi rời khỏi cuộc đời ấy, rời xa anh em, đồng chí, ông mong muốn gửi lại cho đời biết bao niềm cảm mến. Ông muốn hóa thân thành một phần nhỏ bé của cuộc đời, để được gắn kết với cuộc đời mãi mãi: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm sao xuyến. Ông muốn hóa thân làm con chim tung cánh trên bầu trời hòa bình, dâng cho đời tiếng hót ngợi ca cuộc sống. Ông muốn làm một cành hoa nở trên mặt đất dâng cho đời hương sắc thắm tươi. Ông muốn làm một nốt trầm xao xuyến trong bản hòa ca dâng cho đời thanh âm ngọt ngào, dịu ngọt. Tất cả tuy nhỏ bé nhưng tràn đầy ý nghĩa. Những điều nhỏ bé ấy tồn tại chỉ để làm đẹp cho đời mà thôi. Đó là ước nguyện cao đẹp, lời nguyện cầu cuối cùng mà Thanh Hải đã dành tặng cho cuộc đời này. Hơn thế nữa, Thanh Hải còn muốn dâng cho đời “một mùa xuân nho nhỏ”. Mùa xuân của lòng người tràn trào sức sống hòa vào mùa xuân lớn của dân tộc, của đất nước: Một mùa xuân nho nhỏ lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. Mùa xuân ấy là một mùa xuân có hoa tươi trải khắp mặt đất, nguồn sống dạt dào. Mùa xuân ấy có bầu trời cao rộng, cánh chim bay rộn rã muôn ngày. Mặt đất này của chúng ta. Bầu trời này là của chúng ta. Ta làm chủ đất trời, làm chủ sự sống. Nghĩa là Thanh Hải đã sống hết mình vì đất nước. Sống là cho đi tất cả. Bởi với ông, một người chiến sĩ kiên trung luôn suy nghĩ rằng nếu mỗi cuộc đời là một mùa xuân tươi xanh thì đất nước sẽ có một mùa xuân vĩ đại. * Một lối sống đẹp cần có cho thế hệ tuổi trẻ hôm nay: Tuổi trẻ hôm nay, những con người chưa từng trải qua đau thương của chiến tranh, chưa từng gánh chịu nỗi đau của kiếp đời nô lệ càng cần phải trân trọng và đón nhận lẽ sống, quan niệm sống cao đẹp ấy. Sống là cho và chết cũng là cho. Sống ý nghĩa, sống mạnh mẽ và trọn vẹn trong từng hơi thở. Để làm được điều ấy, trước hết, tuổi trẻ ngày nay phải xây dựng cho mình một lý tưởng sống cao đẹp. Không có gì đẹp hơn khi ta sống vì con người, vì đất nước. Tiếp nói truyền thống anh hùng của cha anh, phát huy sức mạnh dân tộc trong thời đại mới, xây dựng đất nước đủ sức sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ đã căn dặn. Tuổi trẻ phải ra sức thi đua học tập thật tốt. Trong thời đại công nghệ, tri thức là yếu tố quan trọng nhất như Lênin đã từng nói: “Tri thức là sức mạnh. Ai có tri thức người đó có sức mạnh”. Hãy học tập cái mới, cái hay của các dân tộc khác để tăng cường hơn nữa sức mạnh của bản thân, đóng góp vào sức mạnh của toàn dân tộc. Mỗi con người trở nên hoàn thiện thì cả dân tộc sẽ trở nên mạnh mẽ. Sống trân trọng và biết ơn quá khứ. Tôn vinh những giá trị cao đẹp, gìn giữ và phát huy những giá trị ấy. Sống vị tha, gắn bó với mọi người và luôn biết cho đi để được nhận về nhiều hơn. Kết bài: Tố Hữu và Thanh Hải bằng cuộc sống ý nghĩa của mình đã minh chứng rõ ràng rằng cuộc sống luôn cần phải sống đẹp.Sống có trách nhiệm với bản thân. Sau đó hãy sống vì nhân dân, vì đất nước, vì những điều vĩ đại và thiêng liêng thì cuộc đời bạn cũng vĩ đại, cũng thiêng liêng như thế.
Sống là cho và chết cũng là cho (Tạm biệt – Tố Hữu). Qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, hãy làm sáng tỏ ý nghĩa trên ấy
2,109
Đề bài: Sống đẹp là gì hỡi bạn? Bài làm Trong cuộc sống hằng ngày mỗi người chọn cho mình những cách thể hiện khác nhau hình thành lên những cách sống khác nhau: sống đẹp, sống có ích và lối sống ích kỷ, buông thả thậm chí chìm trong vòng tội lỗi. Như vậy “sống đẹp” là một lối sống tích cực mà mỗi người cần phải hướng tới. Nhưng sổng thế nào mới là lối “sống đẹp”, còn là điều băn khoăn của rất nhiều người. Đẹp” không phải chỉ là cái đẹp hình thức. Cái “đẹp” thể hiện từ những hành động cư xử nhỏ nhất trong cuộc sống đến nghị lực vươn lên trong mỗi con người. “Sống đẹp” trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ chính tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người khác, để bao dung, thứ tha … Xuất phát từ tình yêu thương nên bất cứ hành động nào dù là nhỏ nhất cũng đầy sự quan tâm, chia sẻ giữa những con người. Một sáng đến trường, bạn không sợ muộn học mà dừng lại giúp một cụ già qua đường. Mỗi ngày dành dụm tiền để ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”. Những hành động ấy dù nhỏ nhặt nhưng đều là những nghĩa cử cao đẹp. Sống đẹp là gì hỡi bạn? Lại nhớ đến hơn 30 năm trước đây, người con gái Hà Nội Đặng Thuỳ Trâm xung phong vào chiến trường Quảng Trị gian khổ bản thân chịu những thiệt thòi nhưng chị vẫn dành một tình thương bao la cho những người quanh chị. Bất lực trước một ca mổ, chị đau đớn, lo lắng cho người em nuôi giờ này đang đè nặng tang tóc, đêm chị mất ngủ. Tất cả những điều ấy đều xuất phát từ lòng yêu thương trong trái tim chị! Để chính từ những lo lắng, đớn đau ấy dân tộc Việt Nam có một người con anh dũng, kiên cường tận tụy làm người. Đó là chuyện của 30 năm trước, còn giờ đây có biết bao người ngày đêm nhen lên ngọn lửa tình yêu thương trên cõi đời này. Một nhà giáo già ngày ngày đạp xe khắp chốn bán những bức hình cụ Rùa Hồ Gươm mà thầy vô tình chụp được để lấy tiền góp vào quỹ “Vì người nghèo”. Bao nhà hảo tâm, bao con người có mỗi năm lại lắng lòng mình nhớ đến những người còn trong đói khổ bần cùng.Cuộc sống muôn màu muôn vẻ tạo nên muôn nghìn gương mặt con người khác nhau: có người tốt, kẻ xấu, có những người từng gây ra tội ác. Nhưng không có ai chưa từng sai lầm. Dẫu có lầm lạc bước vào ngõ cụt vẫn có thể quay đầu lại. Chúng ta vẫn luôn dang tay chờ đón một con người mới ở những người từng mắc tội. Mỗi dịp lễ lớn, không chỉ những người ngoài khung sắt nhà lao mới náo nức chờ đợi mà những người ở trong cũng vui mừng vì mỗi dịp ấy họ lại có cơ hội được ân xá, được trở về với người thân, bè bạn. Chào đón họ bằng lòng bao dung tha thứ, tin vào một sự thay đổi ở họ đó cũng là “sống đẹp”. Chính nhờ có lòng yêu thương mà không ít người tìm lại được chính mình. Có một nhà thơ với bút danh “Hoàn Lương” từng nửa đời làm tướng cướp trên những chuyến tàu Đà Nẵng – Nha Trang, làm đại gia buôn lậu xảo quyệt, thi nhân ấy tên là “Nguyễn Đức Tân” (Đông Mỹ – Thanh Trì – Hà Nội). Nửa đời làm việc thất đức nhưng trong trại giam được nghe lời khuyên nhủ tâm tình của giám thi, như người tỉnh cơn mê anh tâm sự:“Đêm đêm nghe tiếng vọng vangTiếng ngoài xã hội rộn ràng trong đêmĐã buồn lại thấy buồn thêmKhát thèm cuộc sống ấm êm ngoài đời”Và cuộc đời của tên tướng cướp ấy rẽ sang một ngả khác khi mãn hạn tù, anh trở thành một nhà thơ, một thành viên của đội Công an xã. Khi được hỏi làm thế nào mà cá sự thay đổi lớn trong anh như vậy, tướng cướp, thi nhân ấy trả lời nhờ có sự bao dung, tình yêu của người vợ hiền và của tất cả mọi người. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết “Sống trên đời cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”. Gió sẽ cuốn những tấm lòng thảo thơm gieo tình yêu khắp muôn nơi, mang lại ánh sáng cho miền đất tăm tối, mang lại hạnh phúc cho những người cùng khổ. Mỗi chúng ta, hãy gửi theo gió tấm lòng mình để cứu giúp bao người và để chính chứng ta là những con người có lối “sống đẹp”. “Cuộc sống không có con đường cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải làm sao để vượt qua được những ranh giới ấy” (Nguyễn Khải). Cuộc sống luôn chứa đựng những thử thách, và không ai là không vấp ngã một lần. Vậy nhưng sau cú ngã đau đớn ấy, bạn làm gì mới là điều đáng nói. Trong đầu tôi cứ thể hiện lên hình ảnh con lật đật nhỏ bé miệng luân nở nụ cười và lần nào vấp ngã cũng bật dậy, trên môi vẫn là nụ cười lạc quan. Đã bao giờ bạn được như con búp bê ấy, kiên cường và nghị lực?…Đọc Đặng Thuỳ Trâm, những dòng tâm sự của chị, từng câu từng chữ bao giờ cũng tràn ngập một lòng ham sống phi thường. “Đời phải trải qua giông tố nhưng chớ cúi đầu trước giông tố “. Câu nói tâm đắc ấy của chị, giờ đây, mỗi chúng ta cũng phải lấy đó làm châm ngôn sống cho cuộc sống của mình. Tôi được nghe thầy dậy Hoá kể câu chuyện về người học trò cũ của thầy. Anh là một học sinh chăm ngoan, học giỏi, luôn nằm trong nhóm đầu. Vậy nhưng trong kỳ thi Đại học quan trọng anh lại trượt điều tưởng như không thể đã xảy ra. Đau buồn, thất vọng về chỉnh mình, cuộc sống của một thanh niên 18 tuổi lúc ấy chỉ toàn một màu đen khi bao hứa hẹn tương lai, kỳ vọng của gia đình, thầy cô đều sụp đổ. Không chịu giam mình trong màn đêm, anh tự mình thắp lên ngọn nến niềm tin và tiếp tục học tập hết mình. Anh đã đỗ vào năm sau với một số điểm cao. Dù so với bạn bè, anh là người đến sau nhưng anh lại là người đạt được chiến thắng lớn nhất: Chiến thắng chính mình, cuộc sống với những ranh giới của nó luôn bao quanh bạn. Nếu không có nghị lực làm sao bạn có thể đi hết được con đường của riêng mình? Từ số 1 đến số 0 chỉ trong gang tấc nhưng khoảng cách từ số 0 đến số 1 trên trục đời là cả một quá trình mà nếu không có niềm tin, nghị lực, bạn sẽ mãi chỉ là con số 0 mà thôi. Hãy là một người bộ hành với đôi chân dẻo dai sẵn sàng đạp lèn mọi chông gai để bước đi: “Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng, bàn chân cũng thấm đau vô vàn những mũi gai” Lời bài hát của ban nhạc tôi yêu thích cứ văng vẳng bên tai. Bàn chân có thể sẽ chảy máu vì gai nhọn nhưng đừng ngồi xuống rên xiết, hãy để máu ấy thấm lên những cánh hồng đỏ thắm trên bước đường vinh quang của bạn! Làm được như vậy tức là bạn đang “sống đẹp”,sống và luôn giữ cho mình một niềm tin vào ngày mai, luôn có một nghị lực vươn lên hướng đến ánh mặt trời.Tôi từng đọc một bài thơ nghe qua tưởng chỉ là thơ vui nhưng lại mang một ý nghĩa sâu sắc: “Khi anh sinh raMọi người đều cườiRiêng anh thì khóc tu tuHãy sống sao để khi chết điMọi người đều khócCòn môi anh thì nở nụ cười”Bạn và tôi, hãy tự chiêm nghiệm cho mình lối sống đẹp để khi ở cuối con đường, chúng ta đều mỉm cười mãn nguyện!
Sống đẹp là gì hỡi bạn_
1,417
Đề bài: Sức mạnh nào giúp con người bớt đi những lo âu, sợ hãi và đau khổ? Bài làm Lo âu, sợ hãi và đau khổ không thể giúp chúng ta tìm ra được những giải pháp lâu dài cho các vấn đề của mình. Nếu ta có sức manh để đáp ứng một tình huống với thái độ bình tĩnh và thoải mái, thì chúng sẽ không thành vấn đề nữa. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta loại bỏ những tư tưởng và cảm xúc đó? Làm sao chúng ta có thể duy trì được những cảm xúc tích cực, khi có quá nhiều chuyện sai trái xảy ra với thế giới này và với chính bản thân chúng ta. Nếu chúng ta yếu ớt, những cảm xúc đó sẽ ngự trị trong tâm chúng ta. Nhìn vào nguồn gốc mà nói, mỗi chúng ta đều mạnh mẽ một cách tự nhiên. Sức mạnh trong bối cảnh nội tâm đó, có ý nghĩa giống như người Pháp nói “Joie de vivre”. Nghĩa là niềm vui của sự sống. Nó có ý nghĩa là có dự trữ đầy đủ về năng lượng, tư duy và cảm xúc tích cực, biết làm thế nào để sử dụng và duy trì những kho dự trữ đó có một cách có hiệu quả, và bổ sung chúng từ nguồn nội tâm. Trong trạng thái mạnh mẽ như thế, chúng ta cảm nhận có tinh thương đối với bản thân, đối vởi người khác và đối với cuộc sống. Sức mạnh nào giúp con người bớt đi những lo âu, sợ hãi và đau khổ? Khi bạn bắt đầu tư duy tích cực, cũng là lúc bạn bắt đầu tích lũy sức mạnh. Lòng tự tin và tính hiệu quả của bạn tăng lên. Nếu bạn để cho tư tưởng tiêu cực xuất hiện, thì tình hình giống như cái bình tâm hồn có một lỗ hổng đang khoét rộng. Cảm xúc tiêu cực cũng khiến bạn bị tổn thất. Bạn không thể cùng một lúc vừa tiêu cực, vừa tích cực. Nếu bạn bị sa lầy vào những tư tưởng nghi ngờ và phê phán, đối với bản thân hay đối với người khác, bạn sẽ bị cạn kiệt hết sức mạnh ở trong con người bạn. Những tư tưởng và cảm xúc như vậy khiến bạn bối rối, mệt mỏi rồi có thể bị chán nản. Bạn sẽ mất ý niệm về điều hình như bạn đang làm, và làm như thế nào. Bạn có cảm giác mình là một người khác xa lạ trong thế giới này, không bạn bè, không mục đích. Thế nhưng, khi bạn nhận ra và tự hỏi: “Suy nghĩ và cảm xúc ấy ảnh hướng như thế nào đến tôi, đến thái độ của tôi, cách nhìn của tôi đối với những người khác? Suy nghĩ và cảm xúc ấy đang hủy hoại tôi?”. Đó có thể là một nhận thức đau đớn, nhưng kinh nghiệm cho thấy đó là bước thứ nhất tiến tới gây dựng lại sức mạnh. Bạn cảm nhận là bạn phải nâng cao mình lên, không những vượt qua lên trên những tư tưởng tiêu cực, mà cà những tư tưởng tầm thường và vô ích nữa. Vì những tư tưởng như thế làm khuấy đảo sự bình tĩnh nội tại của bạn, mà sự bình tĩnh nội tại là cần thiết để bạn có thể thu hút năng lượng và tích lũy sức mạnh. Khi mặt nước hồ bị khuấy động, nó không phản chiếu được đồi núi hay bầu trời bao quanh. Nếu gắng nhìn vào đấy, bạn sẽ không thể thấy gì ngoài sóng và những nếp lăn tăn và mặt nước hình như tối mò. Nhưng khi mặt nước yên lặng, bạn có thể nhìn thấy đáy sâu của nó, và chỉ cần chuyển nhẹ tầm nhìn, bạn còn thấy được cả cái đẹp phản chiếu từ cảnh vật xung quanh. Cái ta cũng vậy. Trước khi bạn có thể mở rộng tình thương, hay phát triển sự quan tâm sâu sắc đối với cái ta nội tại, thì bạn cần xem xét ý nghĩ của bạn. Bạn phải làm cho những tư tưởng đó trở nên bình tĩnh và trong sáng, dù chỉ là tạm thời. Tư tưởng và cảm xúc của bạn cần phải thanh tịnh, trong sáng. Muốn được thế, cần phải tự tách mình khỏi những giận hờn và va chạm quá khứ, ít nhất là trong một khoảng thời gian đủ cho ngọn đèn được thắp sáng. Những lo âu và ham muốn về tương lai cũng phải đặt sang một bên. Cũng như vậy, một cách có ý thức, bạn hãy thôi không nghĩ tới người khác trong một thời gian. So bì, ganh tị và phê phán tạo ra những cơn bão táp cảm xúc gây khó khăn cho việc thắp sáng ngọn đèn. Trái lại, hãy nhớ kĩ giá trị của sự bình lặng, tự chủ, để hướng đến hiện tại, bỏ qua mọi xung đột và rồi loạn mê mờ. Ý nghĩa và cảm xúc tích cực như sự bình tĩnh, hạnh phúc, sự chịu đựng và lòng mến chính là nguồn nhiên liệu thắp sáng ngọn đèn.
Sức mạnh nào giúp con người bớt đi những lo âu, sợ hãi và đau khổ_
879
Đề bài: Sức mạnh nào giúp con người bớt đi những lo âu, sự hãi và đau khổ Bài làm Lo âu, sợ hãi và đau khổ không thế giúp chúng ta tìm ra được những giải pháp lâu dài cho các vấn đề của mình. Nếu ta có sức mạnh để đáp ứng một tình huống với thái độ bình tĩnh và thoải mái, thì chúng sẽ không thành vấn đề nữa. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta loại bỏ những tư tưởng và cảm xúc đó? Làm sao chúng ta có thể duy trì được những cảm xúc tích cực, khi có quá nhiều chuyện sai trái xảy ra với thế giới này và với chính bản thân chúng ta. Nếu chúng ta yếu ớt, những cảm xúc đó sẽ ngự trị trong tâm chúng ta. Nhìn vào nguồn gốc mà nói, mỗi chúng ta đều mạnh mẽ một cách tự nhiên. Sức mạnh trong bối cảnh nội tâm đó, có ý nghĩa giống như người Pháp nói “Joie de vivre”. Nghĩa là niềm vui của sự sống. Nó có ý nghĩa là có dự trữ đầy đủ về năng lượng, tư duy và cảm xức tích cực, biết làm thế nào để sử dụng và duy trì những kho dự trữ đó có một cách có hiệu quả, và bổ sung chúng từ nguồn nội tâm. Trong trạng thái mạnh mẽ như thế, chúng ta cảm nhận có tình thương đối với bản thân, đối với người khác và đối với cuộc sống. Sức mạnh nào giúp con người bớt đi những lo âu, sự hãi Khi bạn bắt đầu tư duy tích cực, cũng là lúc bạn bắt đầu tích lũy sức mạnh. Lòng tự tin và tính hiệu quả của bạn tăng lên. Nếu bạn để cho tư tưởng tiêu cực xuất hiện, thì tình hình giống như cái bình tâm hồn có một lỗ hổng đang khoét rộng. Cảm xúc tiêu cực cũng khiến bạn bị tổn thất. Bạn không thể cùng một lúc vừa tiêu cực, vừa tích cực. Nếu bạn bị sa lầy vào những tư tưởng nghi ngờ và phê phán, đối với bản thân hay đối với người khác, bạn sẽ bị cạn kiệt hết sức mạnh ở trong con người bạn. Những tư tưởng và cảm xúc như vậy khiến bạn bối rối, mê mờ rồi có thể bị chán nản. Bạn sẽ mất ý niệm về điều hình như bạn đang làm, và làm như thế nào. Bạn có cảm giác mình là một người khác xa lạ trong thế giới này, không bạn bè, không mục đích. Thế nhưng, khi bạn nhận ra và tự hỏi: “Suy nghĩ và cảm xúc ấy ảnh hưởng như thế nào đến tôi, đến thái độ của tôi, cách nhìn của tôi đối với những người khác? Suy nghĩ và cảm xúc ấy đang hủy hoại tôi?”. Đó có thể là một nhận thức đau đớn, những kinh nghiệm cho thấy đó là bước thứ nhất tiến tới gây dựng lại sức mạnh. Bạn cảm nhận là bạn phải nâng cao mình lên, không những vượt qua lên trên những tư tưởng tiêu cực, mà cả những tư tưởng tầm thường và vô ích nữa. Vì những tư tưởng như thế làm khuấy đảo sự bình tĩnh nội tại của bạn, mà sự bình tĩnh nội tại là cần thiết để bạn có thể thu hút năng lượng và tích lũy sức mạnh. Khi mặt nước hồ bị khuấy động, nó không phản chiếu được đồi núi hay bầu trời bao quanh. Nếu gắng nhìn vào đấy, bạn sẽ không thể thấy gì ngoài sóng và những nếp lăn tăn và mặt nước hình như tối mò. Nhưng khi mặt nước yên lặng, bạn có thể nhìn thấy đáy sâu cúa nó, và chỉ cần chuyển nhẹ tầm nhìn, bạn còn thấy được cả cái đẹp phản chiếu từ cảnh vật xung quanh. Cái ta cũng vậy. Trước khi bạn có thể mở rộng tình thương, hay phát triển sự quan tâm sâu sắc đối với cái ta nội tại, thì bạn cần xem xét ý nghĩ của bạn. Bạn phải làm cho những tư tưởng đó trở nên bình tĩnh và trong sáng, dù chỉ là tạm thời. Tư tưởng và cảm xúc cùa bạn cần phải thanh tịnh, trong sáng. Muốn được thế, cần phải tự tách mình khỏi những giận hờn và va chạm quá khứ, ít nhất là trong một khoảng thời gian đủ cho ngọn đèn được thắp sáng. Những lo âu và ham muốn về tương lai cũng phải đặt sang một bên. Cũng như vậy, một cách có ý thức, bạn hãy thôi không nghĩ tới người khác trong một thời gian. So bì, ganh tị và phê phán tạo ra những cơn bão táp cảm xúc gây khó khăn cho việc thắp sáng ngọn đèn. Trái lại, hãy nhớ kĩ giá trị của sự bình lặng, tự chủ, để hướng đến hiện tại, bỏ qua mọi xung đột và rối loạn mê mờ. Ý nghĩa và cảm xúc tích cực như sự bình tĩnh, hạnh phúc, sự chịu dựng và lòng mến chính là nguồn nhiên liệu thắp sáng ngọn đèn.
Sức mạnh nào giúp con người bớt đi những lo âu, sự hãi và đau khổ
875
Sức mạnh phản kháng của nhân vật Mỵ trong Vợ chồng A phủ Hướng dẫn Mở bài: Trong truyện ngắn Mùa lạc, nhà văn Nguyễn Khải đã viết: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hi sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. Không chỉ nhân vật Đào trong tác phẩm mà còn có nhân vật Mỵ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là những điển hình tiêu biểu khẳng định mạnh mẽ chân lí ấy. Sức mạnh phản kháng của nhân vật Mỵ làm nên sức sống mãnh liệt trong nhân vật. Thân bài: Vợ chồng A Phủ là một trong những truyện ngắn xuất sắc của đời văn Tô Hoài và của nền văn học kháng chiến. Tác phẩm khắc họa thành công số phận khốn khổ và đề cao sức mạnh phản kháng của người dân vùng cao trước sự áp bức, bóc lột của tầng lớp thống trị. Cũng như nhân vật Đào trong Mùa lạc, Mỵ đã được Tô Hoài liên tục đặt vào thử thách trong việc bước hay không bước qua những “lằn ranh giới” trong những lần phản kháng. Các lần thử thử thách được sắp đặt khéo léo hết sức tự nhiên, lần sau cao hơn lần trước. Ở lần phản kháng đầu tiên, Mỵ định ăn lá ngón quyên sinh để thoát khỏi nỗi nhục vì bị bắt làm vợ A Sử, một kẻ tàn ác. Quyết định này một mặt để bảo vệ bản thân, mặt khác quyết liệt thể hiện thái độ không đồng tình. Tuy nhiên, người ngăn Mỵ lại chính là cha Mỵ. Không ai hiểu con bằng đấng sinh thành. Người cha cùng khổ ấy đã nói trong nước mắt, van xin Mỵ dừng ngay hành động dại dột ấy. Ý định của Mỵ đã bị ngăn chặn, cô không vượt qua được áp lực từ người thân yêu duy nhất của mình. Mỵ không muốn vì sự ích kỉ của bản thân mà phải làm người cha đau lòng, tiếp tục một mình gánh lấy nỗi đau khổ. Đó là một quyết định đúng đắn. Tưởng chừng như công việc vất vả ngày đêm và sự hành hạ khốc liệt của nhà thống lý Pá Tra đã làm cho tâm hồn Mỵ chìm chết. Nhưng không, tâm hồn ấy vẫn âm thầm sống, không hẳn để mong một ngày được giải thoát, mà sống vì trách nhiệm với người cha, sống vì món nợ cần phải trả hết. Lần thứ hai, tâm hồn ấy cựa mình trỗi dậy. Đêm mùa xuân, nghe tiếng khèn trên núi cao, sau khi uông mấy chén rượu, người ngà ngàn say, lòng Mỵ rạo rực muốn đi chơi. Mỵ muốn quên lãng hiện thực, muốn vượt qua cái ranh giới, muốn tìm lại chính mình ngày xưa. Nhưng lần này Mỵ cũng tiếp tục thất bại. A Sử xuất hiện như một hung thần và kèm theo đó là trận đòn roi và lời đe dọa khủng khiếp trút xuống đầu Mỵ, chấm dứt ý định đi chơi của Mỵ. Và nếu A Sử không bị thương nặng, không cần người chăm sóc thì Mỵ có thể đã bị bở đói cho đến lúc trở thành con ma bị quên lãng trong nhà thống lý Pá Tra. Đây là một chi tiết đắc địa, được nhà văn khéo léo đặt vào tác phẩm. Sự sống và cái chết của người phụ nữ miền cao hoàn toàn phụ thuộc vào chồng và càng có lí hơn nữa khi vợ sống như một nô lệ chứ không phải tư cách một người vợ. Tô Hoài đã đặt Mỵ vào ranh giới mong manh giữa ước mơ và hiện thực. Ước mơ tươi đẹp gọi mời còn hiện thực quá tàn nhẫn, phũ phàn. Mỵ đã sai lầm khi thành thật nói ý định đi chơi với A Sử. Mỵ cũng không lường trước được A Sử sẽ hành động như vậy bởi được đi chơi xuân là quyền lợi mà ai cũng có, kể cả Mỵ. Thêm một lần nữa, Mỵ nhận ra sự tàn độc của cha con nhà thống lý Pá Tra, làm sống lại trong nàng sự căm ghét, thù hận bọn cường quyền không có tính người, giúp nàng có thêm sức mạnh sống tiếp trên cuộc đời. Lần thứ ba, khi bất ngờ nhìn thấy ánh mắt của A Phủ, một chàng trai bị trói ngoài sân, Mỵ đã động lòng. Có lẽ Mỵ cũng không ngờ tới điều này, bởi nguồn sống trong nàng đã ngụi tắt từ lâu và cả sự sống và cái chết của người khác cũng không làm nàng bận lòng. Thế nhưng đêm nay, cái lạnh căm căm cắt da cắt thịt, những vì sao le lói trên bầu trời mờ mịt làm long lanh nước mắt trên mặt A Phủ khiến nàng trở nên mạnh mẽ vô cùng. Mỵ nhớ lại cái đêm mình bị trói, lòng yêu thương con người trỗi dậy thôi thúc nàng cần phải làm gì đó cho người xấu số đang đứng ở ngoài kia. Mỵ nghĩ về cái chết. Có thể anh ta sẽ chết. Và Mỵ quyết định cầm con dao cắt từng sợi dây trói để giải thoát cho A Phủ. Mỵ đã mường tượng rất rõ ràng rằng khi giải thoát cho A Phủ cũng đồng nghĩa nàng sẽ phải đứng vào chỗ đó. Thoáng chút run sợ nhưng nàng đã trấn tĩnh mình mạnh mẽ hành động. Và khi sợi dây cuối cùng bị cắt đứt, A Phủ vụt chạy vào trong bóng tối, Mỵ cũng đã quyết định tự giải thoát chính mình. Vợ chống A Phủ miêu tả chân thực số phận nô lệ cực khổ của người dân lao động nghèo Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn cường quyền phong kiến miền núi. Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp phong kiến thống trị ở miền núi bằng sức mạnh cửa cường quyền và thần quyền; phê phán kịch liệt các thế lực bất nhân chà đạp lên số phận con người. Thông qua số phận và vẻ đẹp của nhân vật, tác giả bày tỏ lòng yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của người lao động nghèo miền núi, khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của con người. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến mức nào, con người cũng không mất đi khát vọng sống tự do và hạnh phúc, cố gắng vượt thoát lên trên số phận tìm kiếm con đường con đường làm chủ vận mệnh của mình. Kết bài: Thành công lớn nhất của Tô Hoài là đã phát hiện nỗi khổ đau và ca ngợi vẻ đẹp của những con người vốn bị che khuất bởi núi rừng, bị bao vây bởi những tập tục cổ hủ, bị kìm kẹp bởi sức mạnh của cường quyền và thần quyền. Không những nhân vật được giải thoát mà còn tìm đến với lý tưởng cách mạng, hăng say lao đông và chiến đấu vì một cuộc sống công bằng, tự do.
Sức mạnh phản kháng của nhân vật Mỵ trong Vợ chồng A phủ
1,221
Sức ám ảnh của hình ảnh bếp lửa nồng ấm trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt Hướng dẫn Mở bài: Bài thơ” bếp lửa” được bằng việt sáng tác năm 1963, khi anh đang du học ở liên xô, bằng việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thờ kì chống mỹ cứu nước. thơ bằng việt trong trẻo, mượt mà, thiên về khai thác những kĩ niệm và ước mơ tuổi trẻ nên gần gũi với tuổi học trò. Qua dòng hồi tưởng của người cháu đã trưởng thành, bài thơ gợi lại những kĩ niệm xúc động về tình bà cháu đồng thời thể hiện lòng kính yêu và biết ơn của người cháu đối với người bà cũng là đối với quê hương, đất nước… Thân bài: Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, khép lại cũng là hình ảnh bếp lửa, hình ảnh bếp lửa xuyên suốt bài thơ cho ta thấy mạch cảm của nhà thơ đi từ hồi tưởng-quá khứ đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẩm. Hình ảnh bếp lửa là yếu tố khơi nguồn cho dòng hồi tưởng. Trong dòng hồi tưởng của người cháu, những kỷ niệm về bà và tình cảm bà cháu đã thể hiện lên sống động và cụ thể, sự hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương: Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Bếp lửa ấm là hình ảnh rất quên thuộc trong gia đình nông thôn việt nam. Mỗi buổi sáng người bà, người mẹ thức dậy nhóm lửa để nấu buổi ăn sáng cho gia đình. Từ”ấp iu” gợi liên tưởng đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo, cần cù của người nhóm lửa, công việc ấy cứ lạy đi lập lại hằng ngày, đơn giản thế nhưng không nhàm chán mà ngược lại, có gì đó rất thiêng liêng và súc động. Bằng hình ảnh bếp lửa và người bà hiền hậu, nhà thơ khơi gợi lên ở người đọc mọt tình yêu miền quê đằm thắm. Ở đâu đó trong lòng người Việt Nam vẫn luôn có một bếp lửa, một người bà, mọt miền kí ức xa xăm, ấm áp. Hình ảnh bếp lửa gắn chặt với kí ức tuổi thơ ở tận cùng nỗi nhớ xa nhất có thể: Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi, Năm bốn tuổi cháu đã quen với mùi khói bếp cay xè. Năm ấy cũng là năm nạn đói hoành hoành khủng khiếp. Cuộc sống đói nghèo hiện lên qua hình ảnh: khô rạc ngựa gầy. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ gợi nhớ về nạn đói khungt khiếp của dân tộc ta năm 1945 giết chết hơn triệu con người. Rồi đến “tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa”. Tám năm sống trong mòn mỏi và nỗi sợ hãi. Chính bếp lửa và người bà là nguồn sáng, là nguồn sức mạnh giúp cháu vượt qua đêm trường đói khổ. Ở các đoạn đoạn thơ này nhà thơ đã khéo léo kết hợp biểu cảm với miêu tả, tự sự với trữ tình làm cho ngườ nghe rung động sâu xa trước một cuộc sống nhọc nhằn của bà cháu và hiểu được tinh thương tha thiết của cháu dành cho bà: Mẹ cùng cha công tác bận không về, Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe, Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc. Kỉ niệm về bà và tuổi thơ vất vả luôn gắn với bếp lưa bập bùng, bếp lửa như tình bà cháu ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự đùm bọc nay yêu thương của bà. Bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu vẫn luôn nồng ấm. Hình ảnh bà gắn liền với bếp lửa. Bếp lửa bà nhóm lên mỗi sáng cũng chính là nhóm lên tình yêu thương, niềm vui sống, nối quá khứ với hiện tại, tương lai Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… Nhà thơ cảm nhận sâu xa hơn bếp lửa bà nhóm lên là bếp lửa của con tim, ngọn lửa của lòng lửa của lòng yêu thương và niềm tin bất diệt. bởi thể, từ hình ảnh bếp lửu của nhà thơ chuyển sang ngọn lửa mang tính tượng trưng. Ngọn lửa ấy là ngọn lửa của niềm tin yêu, ngọn lửa của sự gắn kết giữa con người và quê hương đất nước. Từ đôi tay bà, cuộc sống hiện hình ấm no và hạnh phúc. Bà không chỉ dành tình yêu thương ấy cho cháu mà còn cho cả xóm làng thân thuocj trong hoàn cảnh cơ cực nhất: Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi, Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui, Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ… Suốt bài thơ hình ảnh bếp lửa được nhắc hơn mười lần, hình ảnh người bà luôn đi đôi với bếp lửa. bếp lửa là tình bà ấm áp,, là người bà giàu lòng yêu thương, bà là ngườ phụ nữ việt nam muôn thở với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, bà nhóm bếp cũng là nhóm lên niềm vui, niềm hi vọng, nhóm lên tình yêu thương cho cháu. Chính vì thế đã cảm nhận được hình ảnh bếp lửa bình dị mà chứa đựng kì diệu, thiên liêng: “Ôi kì lạ và thiêng liêng-bếp lửa!”. Bà không chỉ là một người nhóm lửa, giữ lửa mà là người truyền lửa. Ngọn lửa ấy là ngọn lửa của sự sống niềm tin cho thế hệ nối tiếp. Kết bài: Bếp lửa là bài thơ hay về nội dung và nghệ thuật. bài thơ giúp người đọc cảm nhận tình bà cháu sâu đậm, những gì thân thương nhất của tuổi thơ đều tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt chặng đường đời. Thành công của bài thơ không chỉ biểu cảm kết hơp tự sự mà còn là sự sáng tạo ra hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh con người bà, làm điểm tựu khơi gợi mọi kỹ niệm, cảm xúc về tình bà cháu tha thiết, sâu đậm… Bằng Việt cũng đã rất thành công khi tái hiện miền kí ức trong ánh sáng của của bếp lửa ấm và tình yêu thương của người bà hiền hậu. Ngọn lửa từ bàn tay bà nhóm lên sẽ còn cháy mãi trong dòng văn học. Hình ảnh bếp lửa kì lạ và thiêng liêng sẽ rọi bước cho mọi thế hệ con người bước tiếp đoạn đường mà dân tộc đã đi qua, đã kì vọng, đã mơ tưởng đến.
Sức ám ảnh của hình ảnh bếp lửa nồng ấm trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
1,108
Đề bài; Nghị luận xã hội "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương" Bài làm Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: “Than ôi! Sống đẹp là gì hỡi bạn?”. Vâng! Sống đẹp là sống có ích, sống biết yêu thương và sống có trách nhiệm. Con người sinh ra trên đời đều mang trên mình trách nhiệm và nghĩa vụ. Đó là trách nhiệm với bản thân, với gia đình, với quốc gia, dân tộc và trách nhiệm đối với chính công việc mà mình đã lựa chọn. Nhà văn Nam Cao đã viết: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề nào cũng là sự bất lương”. Phải chăng ông muốn đề cập đến vấn đề trách nhiệm của con người đối với công việc của mình? Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương “Cẩu thả” trong công việc là thái độ làm việc không chuyên tâm, không nghiêm túc, không dành hết tâm huyết cho công việc mà mình đang làm.Hai từ “Bất lương” mà tác giả nói ở đây nghe có vẻ khá nặng nề, nó dường như là một tiếng chửi đối với những ai không có tinh thần trách nhiệm trong công việc, gây ra ảnh hưởng xấu đối với mọi người. Vâng! Câu nói trên của nhà văn Nam Cao quả rất đúng đắn. Con người làm việc một cách cẩu thả, sơ sài nghĩa là không có tinh thần trách nhiệm, không có cái tâm với nghề, điều đó quả thật đáng chê trách bởi lẽ sau cái sự cẩu thả đó là biết bao nhiêu hậu quả xấu. Sự cẩu thả của một bác sỹ trong khi phẫu thuật có thể sẽ cướp đi cả sinh mạng của một con người. Một vị thẩm phán cẩu thả trong quá trình điều tra, kết luận một vụ án sẽ gây ra hàm oan cho một số người, gây bất bình trong xã hội. Người giáo viên không hết lòng với nghề, không nghiên cứu kỹ tài liệu, cẩu thả truyền cho học sinh những kiến thức sai trái. Học sinh vốn là tương lai của đất nước và bạn hãy thử tưởng tượng xem hậu quả sẽ ra sao nếu chúng được giáo dục sai kiến thức? Trong cuộc sống, bất cứ một nghành nghề nào, dù thấp bé hay cao sang, tất cả đều cần có tinh thần trách nhiệm cao. Một lao công nếu không có tinh thần trách nhiệm, cẩu thả khi làm việc sẽ gây mất mĩ quan đô thị, gia tăng ô nhiễm môi trường và gây ảnh hưởng lớn đến đời sống con người. Ngay cả trong chính nghề văn của tác giả cũng vậy, nếu nhà văn cứ tùy tâm trạng mà viết, không có sự chọn lọc, nghiên cứu kĩ lưỡng thì sẽ mang đến cho đọc giả những tác phẩm không có chất lượng, có thể làm người đọc hiểu sai ý nghĩa, tiếp thu những thứ không lành mạnh, làm thay đổi suy nghĩ của con người theo chiều hướng tiêu cực. Văn học vốn có ảnh hưởng rất lớn đến hệ tư tưởng của con người, thế nên việc cẩu thả trong nghề văn quả là điều đáng chê trách. Tóm lại, con người đối với công việc của mình cần phải có tinh thần trách nhiệm cao, phải có cái tâm với nghề. Làm tốt công việc của mình cũng có nghĩa là ta đã sống có ích cho xã hội. Câu nói của Nam Cao vừa thể hiện quan niệm của ông về tinh thần trách nhiệm trong công việc, vừa là lời nhắc nhở chân thành những ai đã và đang cẩu thả trong công việc hãy nhìn lại.
Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương
626
Tôi nhớ hồi mới học lớp 5 thầy giáo bảo tôi: Tiếng Việt ta giàu và đẹp lắm em ạ, nên phải biết yêu quý, trân trọng và giữ gìn nó (sở dĩ thầy nhắc khéo tôi là vì lúc ấy, tôi mới học lỏm được của anh trai mình mấy từ tiếng Pháp, lại học lỏn của chị con nhà bác hàng xóm mới đi Nga về mấy từ tiếng Nga. Thế là trong bài tập làm văn, tôi chêm vào đó cả tiếng Pháp lẫn tiếng Nga). Lúc bấy giờ, tôi thầm nghĩ: Thầy có muốn viết như mình cũng chả được, vì thầy có biết ngoại ngữ đâu. Mà tiếng Việt có gì là ghè gớm lắm chử! Nhưng rồi học lên lớp 6, rồi lớp 7, tôi được tiếp xúc với bao áng thơ văn trữ tình đằm thắm, tôi mới thấy thấm thìa câu nói đó của thầy tôi. Nghĩ lại những ý nghĩ ngây thơ và ngu ngốc hồi trước, tôi lại càng giận mình. Tiếng Việt ta giàu đẹp như thế nào là vấn đề đã được không ít các nhà nghiên cứu quan tâm. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng có bài viết Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhà phê bình Đặng Thai Mai có Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc… Các nhà văn, nhà thơ không cần bàn luận gì, họ chỉ lặng lẽ mài giũa cho tiếng Việt ngày càng “trong” và “sáng” hơn, ngày càng “giàu” và “đẹp” hơn. Quả thực, tiếng Việt ta rất giàu và đẹp. Tiếng Việt là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh, hình tượng. Với một hệ thống các từ láy, từ ghép, từ tượng hình, tượng thanh, tiếng Việt có khả năng gợi ra được những hình ảnh rất rõ nét trong trí óc của người nghe. Chắc chúng ta ai chẳng nhớ hai câu thơ với cách dùng từ gợi hình ảnh, trạng thái đầy ấn tượng của nữ sĩ Thanh Quan: Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà Nhờ những từ láy lom khom, lác đác mà sức biểu hiện của câu thơ đã tăng gấp bội. Cảnh hoang vu, quạnh vắng của Đèo Ngang trong buổi chiều tà càng thêm hiu hắt, ảm đạm. Một điều lí thú hơn là ngay cả những từ đơn âm của tiếng Việt cũng có giá trị gợi hình. Chẳng hạn như: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non (Hồ Xuân Hương) Và đây nữa, hình ảnh con hổ uy nghi, dũng mãnh, đẹp một vẻ đẹp hùng tráng: Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng Vờn bóng âm thầm, lá gai cỏ sắc Trong đêm tối mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi. (Thế Lữ) Cùng với khả năng tạo hình, tiếng Việt còn là thứ tiếng giàu âm thanh, nhạc điệu. Với một hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, thêm vào đó là hệ thống các thanh điệu với những âm độ, âm vực, tiếng Việt có khả năng tạo ra nhiều giai điệu khác nhau: lúc du dương trầm bổng, lúc réo rắt, có lúc lại sâu lắng, thiết tha… Ta hãy nghe những giai điệu êm đềm, đằm thắm của câu ca dao: Gió đưa, cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói toả ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây hồ Hãy cảm nhận âm điệu của những dấu huyền ngọt ngào (Xuân Diệu) trong câu thơ Chinh phụ ngâm: Ngòi đầu cầu nước trong như lọc Đường bên cầu cỏ mọc còn non Và những giai điệu vừa sôi nổi rạo rực, vừa thiết tha đằm thắm, du dương của câu thơ Tố Hữu: Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơ Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca. Chỉ riêng với hai khả năng: tạo hình và tạo nhạc, tiếng Việt đã đủ xứng đáng là một thứ ngôn ngữ vừa giàu vừa đẹp. Tuy nhiên, sự giàu và đẹp của tiếng Việt không chỉ dừng lại ở đó. Một đặc điểm không thể bỏ qua của tiếng Việt là sắc thái gợi cảm, sắc thái biểu hiện cảm xúc. Nó có khả năng diễn tả tinh tế những trạng thái khác nhau trong đời sống nội tâm phong phú của tâm hồn Việt. Chỉ lấy ví dụ riêng về mặt diễn tả tâm trẹng nhớ nhung của con người cũng đủ làm ta ngạc nhiên. Một trạng thái nhớ nhung bâng khuâng: Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao (Trần Tuấn Khải) Một trạng thái nhớ nhung cồn cào, da diết: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm (Ca dao) Một nỗi sầu mênh mang, sâu thẳm: Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh. (Chinh phụ ngâm) Vốn từ của tiếng Việt cũng rất phong phú và độc đáo. Chỉ xét riêng vốn từ ngữ xưng hô cũng đã đủ làm ra sự đặc sắc đó. Trong từ ngữ xưng hô của tiếng Việt, ngoài những đại từ nhân xưng được ghi trong từ điển, người Việt ta còn dùng các danh từ chỉ quan hệ họ hàng làm từ xưng hô, khiến cho cách nói năng hàm chứa nhiều sắc thái tình cảm hơn. Ngay cách dùng từ ngữ xưng hô cũng rất đặc biệt. Đã có ai lại thêm ta, rồi lại mình. Những từ này có khi là chủ thể phát ngôn, có khi là đối thể tiếp nhận, có khi lại bao hàm cả hai. Chỉ riêng từ mình trong hai ví dụ sau đã thấy bao điều lí thú: Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình lấy nhiêu (Tố Hữu) Mình nói với ta mình hãy còn son Ta đi qua ngõ thấy con mình bò Con mình lấm đất cùng tro Ta đi gánh nước rửa cho con mình (Ca dao) Càng tìm hiểu kĩ hơn về tiếng Việt, ta càng ngỡ ngàng trước sự giàu đẹp của nó. Và càng thêm yêu tiếng Việt hơn.
Sự giàu đẹp của tiếng Việt
1,042
Sự gắn bó với quần chúng và con người, sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu Hướng dẫn Sự gắn bó với quần chúng và con người, sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu Bài làm Xưa nay, vốn dĩ không có gì được coi là bất tử trước thời gian. Năm tháng đi qua, bụi thời gian sẽ xóa mờ, sẽ vùi chôn đi tất cả. Nhưng thời gian vẫn bất lực trước những dòng thơ đầy nhiệt huyết, đầy yêu thương, căm thù, có máu hòa trong nước mắt của Nguyễn Đình Chiểu – một nhà thơ kiệt xuất, một người chiến sĩ yêu nước chân chính. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu khắc sâu, in đậm trong lòng người những dấu ấn khó phai nhạt, không xa lạ, không mĩ miều, kiểu cách, thơ ông là tiếng nói chân chất, giản dị mà gần gũi. Hình ảnh những con người bình thường, những người lao động trong thơ ông vẫn mộc mạc, quê mùa, chất phác và bộc trực như muôn đời nay vẫn thế. Ngôn ngữ trong thơ ông là những tiếng nói đời thường, đượm màu dân dã, bình dị, đậm màu quê hương. Hoài Thanh dã từng viết: “Sự gắn bó sâu xa với quần chúng nhân là đặc điểm nổi bật trong cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, là nhân tố chủ yếu đào tạo nên con người và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu”. Vâng! Đó là tất cả những gì bất tử với thời gian, vĩnh viễn ghi dấu trong lòng người. Đã gần một trăm năm qua đi mà dấu ấn một thời kì lịch sử của nước ta trong những năm gần cuối thế kỉ XX chưa hề phai nhạt trong lời thơ Nguyễn Đình Chiểu. Đất nước đầy những biến động, bão táp, những loạn li, đau thương. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu cũng đầy những đau khổ uất ức, những giọt nước mắt khóc cho mình và khóc cho mọi người. Đau thương, bão táp đã ập xuống đời ông giữa lúc tuổi thanh xuân chan chứa tình yêu cuộc sống, hạnh phúc gia đình và niềm tin, ước mơ về một tương lai rực rỡ, xán lạn. Mẹ mất – nước mắt khóc thương và nỗi đau tột cùng đã cướp đi ánh sáng đôi mắt ông rồi bị từ hôn… Bấy nhiêu đau khổ, uất ức cũng đủ để quật ngã một con người bình thường, nhưng không, Nguyễn Đình Chiểu đã vượt qua chính bi kịch của đời mình bằng một tình yêu đất nước, yêu cuộc sống vô song, một niềm tin bền bỉ, sắt đá. Nhưng đó vẫn chưa phải là tất cả, suốt bốn mươi năm trời tàn tật, sống trong sự đùm bọc, yêu thương của đồng bào Gia Định, nhân dân đã nâng đỡ tâm hồn đầy đau thương, mất mát của ông và cũng chính từ cuộc sống gắn liền với tâm tư, tình cảm của nhân dân đã tạo nên những tầm cao trong tư tưởng Nguyễn Đình Chiếu, những tầm cao ấy “là nhân tố chủ yếu đào tạo nên con người, sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu”. Từ chủ nghĩa nhân đạo bước sang chủ nghĩa yêu nước, tâm hồn Nguyễn Đình Chiểu không phải không có những chuyển biến về mặt tư tưởng, nó ghi dấu qua hai mốc chính đó là tác phẩm nổi tiếng Lục Vân Tiên và văn chương yêu nước chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc. Bước chuyển đó chứng tỏ sự phát triển thuận theo yêu cầu lịch sử nhưng điều chúng ta muốn nói ở đây là cả hai tư tưởng nhân nghĩa và yêu nước của tác giả đều hướng tới nhân dân, vì dân và in dấu tình cảm của nhân dân. Ở Nguyễn Đình Chiểu, quan niệm về nhân nghĩa rất gần với quan niệm của nhân dân. Trong Lục Văn Tiên, ông ca ngợi Lục Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh là những người trọng nghĩa khinh tài, có những cử chỉ, hành động nghĩa hiệp của người quân tử nhưng cũng là nhân dân Nam bộ mà gần gũi hơn là hình ảnh ông Ngư, bà Ngư, ông Tiều, chú Tiểu đồng và nàng Nguyệt Nga chung thủy. Những con người ấy xuất thân từ cuộc sống lao động, bình dị, lương thiện nhưng trong hành động, lời lẽ của họ toát ra vẻ chân chất, hồn hậu, trong sáng mà cao thượng. Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga, nhưng khi Nguyệt Nga ngỏ lời cảm tạ cử chỉ nghĩa hiệp ấy, chàng liền cười mà rằng: “Văn Tiên nghe nói liền cười Làm ơn há dễ trông người trả ơn” (Lục Vân Tiên) Nụ cười của Vân Tiên mới đáng yêu làm sao, đó là nụ cười của người quân tử, nụ cười của quân chúng rộng lượng. Trong nụ cười của chàng có một cái gì đó thật mộc mạc và chân chất, gần gũi nhân dân không một chút gượng ép, giả dối. Hay hành động của ông Ngư và gia đình cứu Vân Tiên thoát nạn cũng là một việc làm nhân nghĩa, trong sáng không một mảy may tính toán: “Ngư rằng, lòng lão chẳng mơ Đốc lòng nhẫn nghĩa há chờ trả ơn” (Lục Vân Tiên) Đằng sau những triết lí, tư tưởng dường như nặng tính chất Nho giáo ấy thực ra là tác giả đề cao tình cảm cha con, vợ chồng, bạn bè… đó là những đạo lí truyền thống từ muôn đời nay của dân tộc ta, dù trải qua bao sóng gió cũng không hề đổi thay. Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, hiện thân của Nguyễn Đình Chiểu – nhân vật Lục Vân Tiên rõ ràng cũng đấu tranh cho lí tưởng nhân nghĩa, nhưng lí tưởng ấy không phải để phục vụ, củng cố địa vị của triều Nguyễn đương thời, mà là điều Nguyễn Đình Chiểu ước mong về một xã hội phong kiến lí tưởng, xa xưa như ông đã từng hình dung, mơ ước qua sách vở nhưng điều cơ bản là tất cả những suy nghĩ, mơ ước ấy trước hết vẫn là hướng tới quyền lợi, hạnh phúc của nhân dân trong thời đại ông. Khi tiếng súng đầu tiên của thực dân Pháp dội trên đất nước ta cũng là khi triều đình Nguyễn bạc nhược, hèn nhát đầu hàng kẻ thù để mặc nhân dân trong cái cảnh “nước mất nhà tan”, loạn li, đau thương và tang tóc. Tiếng khóc, tiếng kêu than của họ vẫn văng vẳng trong lời nói của Nguyễn Đình Chiểu: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng? Nỡ để dân đen mắc nạn này” (Chạy Tây) Câu hỏi đặt ra nhưng biết tìm câu trả lời ở đâu? Ở những kẻ áo mão, cân dai “bán nước hại dân” kia ư? Không! Chính lúc này trong hoàn cảnh đau thương, tăm tối nhất của đất nước, của mỗi cuộc đời sắp rơi vào nô lệ thì hình ảnh nhân dân sáng bừng lên như một bó đuốc giữa đêm đen. Phải! Chính họ, chính những người “dân đen”, dân cày, những người dân lao động thuần phác nhất đã vùng dậy đấu tranh chống giặc cứu nước, tự mình cứu lấy chính bản thân mình. Điểm sáng trong tâm hồn, trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chính là ỗ chỗ đó. Ông không chỉ tìm thấy trong tâm hồn những người dân lao động kia những nét đẹp thuần túy, chất phác mà phát hiện lớn của ông chính là lòng yêu nước âm thầm cháy trong mỗi con người họ, mà giờ đây nó đang bùng cháy dữ dội, như muốn đốt cháy kẻ thù. Đó chính là cái khác, cái cao hơn trong tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu so với các nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ và trước đó. Thực ra phát hiện của Nguyễn Đình Chiểu không phải là hoàn toàn mới, hình ảnh nhân dân trước đây không phải là chưa có trong văn học Việt Nam, nhưng họ chỉ xuất hiện với tư cách là những nhân vật phụ, hình ảnh của họ mới chỉ là thoáng qua mờ nhạt, chưa để lại dấu ấn nào sâu sắc, đậm nét nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu, đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cái bóng mờ nhạt ấy đã rực sáng lên với tất cả vẻ đẹp ẩn giấu trong tâm hồn tự ngàn xưa. Họ! Vâng, những con người bình dị ấy, ý thức dân tộc của họ buổi ban đầu chỉ đơn thuần là lòng yêu quê hương, yêu mảnh đất nơi họ từng sinh ra và lớn lên, yêu những cái cây, ngọn cỏ. Nhưng giặc Pháp đã tàn phá, chà đạp lên những tình cảm thiêng liêng ấy, tiếng súng kẻ thù làm thức tỉnh trong sâu thẳm tâm hồn họ tiếng gọi “hãy giữ lấy những gì mình yêu thương, thờ phụng, giữ lấy những gì đã có và đã là của mình”. Sức lớn lên của lòng căm thù và tình yêu quê hương đã tạo cho họ một sức mạnh phi thường để làm nên những việc cũng phi thường, không ai có thể ngờ tới. “Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Vì sao ư? Vì sao những con người hiền lành chất phát kia hôm qua còn “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhưng; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc) chỉ quen với cuộc sống nghèo khổ, trong trói buộc, bó hẹp sau lũy tre làng, trong những sớm hôm đầu tắt, mặt tối đi về để kiếm sống, dường như họ bị lãng quên trong những lo toan, vất vả, lăn lộn của cuộc sống đời thường? “Nhớ lính xưa côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó” Chỉ bằng hai từ “côi cút” thôi, tác giả đã gói trọn được bao nhiêu yêu thương đồng cảm, xót xa của mình trước thân phận của người nông dân nghèo, thân phận của con ong, cái kiến trong xã hội phong kiến. Hôm qua họ là những người bị lịch sử bỏ quên nhưng hôm nay họ đã trở thành những nhân vật chính, người chiến sĩ dũng cảm, tung hoành trong trận chiến, ngày đêm sống, chết gần kề. Vì sao ư? Vì họ yêu nước, yêu quê hương từ những tình cảm chân thành nhất, họ yêu từ trong máu thịt của mình: Họ yêu nước không phải bởi bất cứ một khái niệm sách vở trừu tượng nào, mà họ yêu bởi những cái bình dị, gần gũi nhất: ngọn rau, tấc đất, bát cơm, manh áo và lòng căm thù giặc của họ cũng cụ thể như vâỵ – nó muốn biến ngay thành những hành động quyết liệt tiêu diệt kẻ thù “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc). Trên đường đua tiếp sức của lịch sử, các thế hệ người Việt Nam đã đi lên với gậy với tre; xưa Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc, đến giờ những người nông dân lại cầm ngọn tầm vông đánh giặc. Dù trong chiến đấu, họ vẫn mang dáng vẻ, phong cách của người lao động “Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc). Hình ảnh người nông dân yêu nước trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu là một phát hiện đầy mới mẻ và có giá trị. Họ – những con người có từ ngàn xưa nhưng cũng chỉ thật nổi bật lên trong giai đoạn lịch sử này khi ý thực hệ phong kiến đang có nguy cơ tan rã và giai cấp phong kiến đang rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Chính trong khoảng thời gian này Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc đã ra đời như một bước nhảy vọt về tư tưởng, về cái nhìn đối với người dân lao động, ở Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tư tưởng nhân dân đã chiến thắng một cách rực rỡ; phải có một sự từ bỏ, phải có một sự đấu tranh với chính mình ở mức độ mãnh liệt, Nguyễn Đình Chiểu mới có thể đón nhận tư tưởng nhân dân đi vào trong thơ văn sâu sắc như thế. Năm trăm năm trước đây, Nguyễn Trãi đã từng viết “Làm lật thuyền mới biết dân như nước”. Nhưng trong khuôn khổ chế độ phong kiến của xã hội Việt Nam ở thế kỷ XV chưa cho phép ông ghi lại hình ảnh những người đã cùng ông mười năm kháng chiến chống quân Minh. Gần gũi hơn là nhà thi hào dân tộc Nguyễn Du với những kiệt tác chan chứa trong lòng nhân đạo, những dòng nước mắt khóc thương cho những kiếp người lầm than, đau khổ nhưng trong tác phẩm của Nguyễn Du lại không hề có bóng dáng những người dân cày đã từng gây ra bão táp cuối thế kỷ XVIII, làm đảo lộn, rung chuyển cả một xã hội phong kiến đang mục nát đến cùng cực ấy… Chỉ đến Nguyễn Đình Chiếu “lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc mới có được sự tương xứng giữa phong cách người nông dân trong văn học với phong cách người nông dân ngoài đời”. Câu hỏi được đặt ra là, cái gì? Động lực nào đã thúc đẩy Nguyễn Đình Chiểu tạo nên viên ngọc Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc với hình ảnh, nhân vật trọng tâm là những người dân lao động thuần phác mà trước đây chưa hề có? Phải chăng điểm xuất phát của tư tưởng nhân dân trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là cuộc sống gắn bó sâu sắc với quần chúng nhân dân? Một cuộc đời có quá nhiều những dấu ấn, tình cảm, kỉ niệm của nhân dân ngay từ buổi đầu tác giả chào đời, những tình cảm sâu nậng, gắn bó với nhân dân trong những ngày đau thương nhất của đời mình đã tạo cho Nguyễn Đình Chiểu một cái nhìn sắc sảo, một tiếng nói đồng cảm với cuộc sống của những con người thấp bé nhất trong xã hội. Ông yêu thương những con người ấy bằng một thứ tình cảm chỉ có được ở một tâm hồn giàu tình nhân nghĩa, yêu nước ở ông cũng gắn liền với yêu thương nhân dân, cho dù trong ông, tư tưởng trung quân, ái quốc dù ít, dù nhiều vẫn tồn tại, nhưng Nguyễn Đình Chiểu yêu nước trước hết vẫn là thương dân: “Ghét đời Ngũ Bá phân vân Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn” (Lẽ ghét thương) Trong tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, nước với dân là một, không có dân nghĩa là không có nước và ngược lại. Cũng vì có một tình yêu thương nhân dân tha thiết nên tình cảm yêu nước của ông mới dạt dào, mạnh mẽ, cụ thể, máu thịt và vững chắc như thế. Lòng thương đã tạo nên niềm tin, sức mạnh giúp ông trong công việc của một người thầy thuốc, thầy dạy “nhân”, dạy “nghĩa”: “Thấy người đau giống mình đau Phương nào cứu đặng mau mau trị lành” Tình thương vô bờ bến ấy luôn hướng tới những người dân lao động, lương thiện, nghèo khó. Ông đã từng lên tiếng khích lệ những người có tài còn ẩn thân trong xã hội: “Thương dân sao chẳng lập thân Đến khi nắng hạ toan phần làm mưa” Phê phán những người cầm quyền, khiếp nhược: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng Nỡ để dân đen mắc nạn này” Yêu và thương đó là nguồn gốc của sự đồng cảm, mến phục sâu sắc của tác giả đối với những người đang sống và những người đã ngã xuống vì quê hương và đó cũng là nguồn gốc của lòng căm thù giặc sôi sục: “Khá thương thay Dân sa nước bấy chầy (Văn tế nghĩa sĩ trận vùng Lục tỉnh) Nếu như ở Nguyễn Đình Chiểu ta tìm thấy một khía cạnh rất mới trong tâm hồn tác giả, đó là những tư tưởng tiến bộ vượt bậc của ông trong cái nhìn đối với nhân dân thì trong quan niệm về người anh hùng – Nguyễn Đình Chiểu một lần nữa đã vượt qua vòng vây tư tưởng của lễ giáo phong kiến vượt qua chính mình để hướng tới một quan niệm anh hùng rất gần gũi và gắn bó với quần chúng, khác hẳn quan niệm phong kiến về “trung quân ái quốc”. Không xa lạ, cao sang nhưng người anh hùng ấy đã gắn bó với quần chúng nhân dân bằng tình thương, tình người, tình yêu nước cùng chung ý chí giết giặc. Hình ảnh Trương Định, Phan Tòng hay Lục Vân Tiên – những người lãnh tụ anh hùng, quả cảm ấy là tấm gương yêu nước, kiên định không có gì lay chuyển được. Họ là niềm tin, là chỗ dựa của nhân dân nhưng chính họ đã dựa vào nhân dân, đã được nhân dân tiếp sức: “Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền Theo bụng dân phải chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khốn ngoại” (Văn tế Trương Định) Và được nhân dân thương mến: “Thương ơi! Người ngọc ở BìnhĐông Lớn nhỏ trong lòng thảy mến trông” (Văn tế Phan Tòng). Có thể nói dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Đình Chiểu hình ảnh người anh hùng lúc bấy giờ về căn bản đã mang những nét gần với những người anh hùng theo quan niệm của chúng ta ngày hôm nay. Họ anh hùng cũng một phần quan trọng là do lòng tin yêu của quần chúng và cũng chính từ lòng tin yêu ấy đã tạo nên một điểm tựa vững chắc, để họ dám đương đầu, gánh vác những công việc hết sức khó khăn, gian khổ mà không một chút tính toán vụ lợi riêng tư và dứt khoát với giáo điều phong kiến ngu trung. Xuyên suốt chiều sâu tâm hồn Nguyễn Đình Chiểu và cuộc đời cầm bút viết văn của ông, tính nhân dân, tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước đã quán xuyến toàn bộ tác phẩm của ông. Cả một đời người sống gần gũi gắn bó với nhân dân, ông đã tìm thấy ở họ những phong cách sống thật bình dị mà trong sáng, cao thượng, tìm thấy những giá trị cao đẹp không gì sánh nổi. Và cũng chính từ đó ông đã tìm thấy triết lí, ý nghĩa sống cho đời mình. Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đạt tới đỉnh cao giá trị về nội dung tư tưởng không chỉ bởi mọi suy nghĩ, tình cảm, ước mơ và khát vọng của ông đều phù hợp với đời sống tinh thần của đông đảo quần chúng lao động mà nó còn chinh phục lòng người, chinh phục mọi tầng lớp nhân dân bởi “nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu rất gần gũi với văn học dân gian. Ngôn ngữ của Nguyễn Đình Chiểu trong thơ văn yêu nước cũng như Lục Văn Tiên là ngôn ngữ của quần chúng, chữ thường dùng rất táo bạo đầy cảm xúc, có khi nóng bỏng như hơi thở cuộc sống và chất chứa bao nhiêu đau xót, buồn giận, vui mừng…” (Hoài Thanh). Ngôn pgữ đời thường, những cách nói thông dụng đã đem lại trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cái bình dị, chân chất chỉ tìm thấy ở những con người lao động thật thà, chất phác. Khi viết về người nông dân mộ nghĩa đã nói bằng tiếng nói của họ: “Trông tin quan như trời hạn trông mưa (…) ghét thói mạt như nhà nông ghét cỏ”. Hay: “Thương quan tướng khóc quan tướng chiu chít như gà Giận thằng tà mắng thằng tà om sòm như nhái” Khi viết về Bùi Kiệm trong Lục Vân Tiến Nguyễn Đình Chiểu hạ câu: … “Con người Bùi Kiệm máu dê, Ngồi chề bê mặt như sề thịt trâu” Ôi! Nghe mới thân thuộc và buồn cười làm sao, những ngôn ngữ tưởng chừng như không bao giờ thành thơ, thành văn vậy mà nó đã đi sâu vào tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu mới thật tự nhiên và sống động làm sao và cũng chính âm hưởng, ngữ điệu từ đó đi ra tạo nên cho tác phẩm của ông một sự hấp dẫn, lôi cuốn đến kì lạ. Nếu có người nào đó đặt câu hỏi “Ai là người đã tạo nên lịch sử?”. Tôi e không ngần ngại đáp rằng – chính nhân dân là người đã tạo nên lịch sử và cũng chính là người phán xét lịch sử. Nhân dân có từ thuở khai sinh ra loài người và còn mãi muôn đời sau. Lịch sử Văn học Việt Nam cũng bắt đầu từ cái buổi bình minh của dân tộc. Trải qua bao tháng năm thời gian đã dựng nên bao thành tựu, bao bước ngoặt nhưng cũng chính nó đã xóa bỏ, vùi chôn đi bao nhiêu. Không có gì vĩnh cửu với thời gian! Đó là quy luật ư? Có lẽ. Nhưng cuộc đời, con người và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã bất tử với thời gian, bởi lẽ nó bất tử với lòng người, bởi qua bao tháng năm vẫn còn đó sừng sững tượng đài người nông dân Việt Nam, trong thơ ca, trong lòng người đọc, vẫn còn mãi tấm lòng yêu nước, yêu nhân nghĩa của người dân lao động Việt Nam, vẫn còn mãi tấm lòng tin yêu nhân dân của nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu.
Sự gắn bó với quần chúng và con người, sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu
3,658
Sự kết hợp giữa lí và tình trong Chiếu dời đô-lí Công Uẩn-Cái lí thuyết phục Hướng dẫn Cái lí thuyết phục trong Chiếu dời đô Mở bài: Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) được Lý Công Uẩn ban bố năm 1010, trước khi dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Với ý nghĩa và sự tác động đặc biệt, đã trở thành một văn kiện chính trị, lịch sử, văn hoá quan trọng nổi tiếng trong một nghìn năm qua. Điểm nổi bậc và là yếu tố làm nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài chiếu này chính là cái lí thuyết phục, sắc bén, trực chỉ nhân tâm, chiếm ngự lòng người bằng những lời lẽ bình dị nhưng hết sức sâu sắc. Thân bài: Với giọng văn khoan thai mà hùng hồn, lời lẽ bình dị mà thắm thiết, lí lẽ sắc bén mà thiết tha tình cảm, bài chiếu đã khẳng định bản lĩnh và truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc, củng cố khối đoàn kết thống nhất, đem lại cho dân tộc và đất nước một vị thế mới trên bước đường phát triển, mở ra một thời kỳ lớn mạnh hùng cường của dân tộc. Lấy tư cách một vị hoàng đế, trong một bài chiếu có kết cấu chặt chẽ, ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyết phục, Lí Công Uẩn đã bày tỏ cùng các quan và thần dân của mình một ý nguyện quan trọng với hai vấn đề chính: lí do cần phải dời đô và việc lựa chọn vùng đất xây dựng kinh đô mới nhằm mở ra một thời đại mới: thời đại thái bình thịnh trị. Việc dời đô là quốc gia đại sự, là trách nhiệm và sự nghiệp của toàn dân, không thể quyết định hay thực hiện trong một sớm một chiều. Với lại, đất nước vừa đi qua nạn binh đao, nền hòa bình gây dựng chưa được bao lâu, muôn dân còn đang vất vả, muốn dời đô ngay lúc này e rằng càng làm cho dân thêm khốn khổ. Lý công Uẩn rất hiểu điều đó. Bởi thế, trước hết ông nói về cái lí phải dời đô và khẳng định dời đô là tất yếu, thuận theo quy luật của trời đất và nhân tâm. Cái dụng ý của Lý Công Uẩn muốn nói rằng việc dời đô không phải là không có ở trên đời, người xưa đã làm và thành công, nay ta học tập cái tốt của người xưa cũng là hợp với quy luật của trời đất. Có thể nói, Lý Công Uẩn đã đánh đúng vào tâm lí của muôn dân bởi chuyện của Thương, Chu vốn được truyền tụng khắp nhân gian, ai mà không biết, từ đó có thể gây được sự đồng cảm, thấu hiểu và ủng hộ sâu sắc. Tiếp đến, ông viện dẫn hai nhà Đinh, Lê – hai triều đại trước, đã không chịu dời đổi, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không được thích nghi, đất nước bao năm nằm trong địa thế hạn hẹp, không hội tụ được khí thiêng của trời đất, nên yếu kém, nhu nhược. Điều ấy, muôn dân cũng đã rất rõ. Hai triều Đinh, Lê trong suốt chiều dài lịch sử, vì đống đô ở Hoa Lư đã không thể mở mang đất nước. Tuy Hoa Lư có lợi thế rừng núi tiện lợi trong việc chống giặc xong sản xuất lại hết sức hạn chế khiến cho đất nước không thể phồn thịnh, muôn dân còn đói khổ. Đoạn mở đầu đã đủ sức tạo niềm tin tưởng trong lòng người vào mục đích cao cả cảu việc nhất thiết phải dời đô nhưng đoạn tiếp theo mới thực sự thuyết phục lòng người về ý nguyện lớn lao và sự lựa chon sáng suốt của vị lãnh đạo tài ba, anh minh, lỗi lạc khi quyết định lựa chọn thành Đại La làm nơi định đô mới. Thành Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn có một vị trí thuận lợi hiếm có. Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời cai trị của Cao Biền, một bậc thầy phong thuỷ, được ca tụng là “đệ nhất địa lí kì sư”. Nhưng điều quan trọng là bởi Đại La “ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”. Bởi thế Đại La xứng đáng “là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Sự “thắng thế” của thành Đại La so với kinh đô Hoa Lư là quá rõ, lại được nhìn nhận bởi một vì vua anh minh, vì nước vì dân càng làm thuyết phục lòng người. Bởi thế cũng dễ hiều, khi bài chiếu được ban bố đã nhận được sự ủng hộ lớn lao của quần thần và toàn dân đất nước, khiến cho việc dời đô điễn ra rầm rộ và nhanh chóng ngay sau đó. Sự thành công trong chiến lược dời đô cũng là do bởi người lãnh đạo có đức cao, độ lượng, lấy nhân tâm thu phục lòng người, biểu dương cái đức để cai trị đất nước, mưu toan nghiệp lớn vì lợi ích của muôn dân cứ không phải toan tính cho riêng mình. Bởi thế, muôn người hồ hởi chung tay cùng triều đình không ngại gian lao mà dời đổi. Kết bài: Cái tài tình của Lý Công Uẩn là ông đã hiểu rõ lòng dân, nắm vững tâm tư nguyện vọng của bách tính. Thế nên, lời nói tuy hết sức ngắn gọn nhưng lại có sức biểu dương lớn, nhanh chóng thu phục lòng người, đưa cuộc vận động nhanh chóng biến thành hành động cụ thể, hiệu quả ngay sau đó.
Sự kết hợp giữa lí và tình trong Chiếu dời đô-lí Công Uẩn-Cái lí thuyết phục
1,042
Sự kết hợp giữa lí và tình trong Chiếu dời đô-Lí Công Uẩn-Cái tình hòa quyện Hướng dẫn Cái tình hòa quyện trong Chiếu dời đô Mở bài: Không những nêu ra được cái lí đầy thuyết phục tại sao phải dời đô, Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn còn thấm đẫm cái tình hòa quyện trong nỗi lòng của vị minh quân một lòng vì dân vì nước. Thân bài: Kể chuyện người xưa cũng là để nói lên nỗi lòng và niềm mong mỏi của mình. Lí Công Uẩn đã khéo léo biểu hiện khát vọng dời đô và niềm tin vững chắc của mình vào quy luật của trời đất. Hai nhà Thương, Chu vì tính kế lâu dài, mưu toan nghiệp lớn, muốn cho đất nước phồn thịnh, muôn dân no ấm nên đã nhiều lần dời đô. Đó cũng là điều mà Lí Công Uẩn ngày đêm mong muốn. Ông khẳng định việc dời đô là vì lợi ích của đất nước, của muôn dân, vì sự phát triển dài lâu của dân tộc chứ không phải là theo sở nguyện của riêng ông. Dời đô là để sửa cái sai của hai nhà Đinh, Lê, hướng đến mở mang đất nước, làm cho đất nước cường thịnh hơn; nhân dân ấm no, hạnh phúc; văn hóa, phong tục vì thế mà được giữ gìn, phát triển. Bao nhiêu năm nhân dân ta đã chiến đấu gian khổ. Bao nhiêu máu và nước mắt đã từng đổ xuống để giành độc lập, thống nhất. Không thể quên được nỗi nhục của ngàn năm mất nước, nhân dân đòi hỏi người lãnh đạo của mình phải nâng cao hơn nữa truyển thống anh hùng, phải nhanh chóng đưa đất nước trở thành hùng mạnh. Cái tình sâu nặng của Lí Công Uẩn đối với muôn dân, đất nước còn thể hiện ở tầm nhìn xuất sắc của ông về những lợi thế ưu việt của thành Đại La. Để phát triển đất nước, tìm kiếm vùng đất tốt định đô, Lí Công Uẩn đã bỏ biết bao công sức. Bằng trí tuệ phi thường, tầm nhìn xa rộng, lại thông hiểu địa lí, nắm vững thiên thời, địa lợi, thấu hiểu lòng dân, ông đã nhìn thấy cái thế tối ưu của thành Đại La mà không miền đất nào có được. Đại La là sự hội tụ hiếm có của vị trí, địa thế, phong thủy, kinh tế, giao thương và văn hóa. Lại là vùng đất mà Cao Vương đã từng định đô. Ông đã không chọn Kinh Bắc – quê hương ông mà chọn Đại La cũng là bởi cái thế mạnh bậc nhất của vùng đất này và cũng là vì lợi ích của muôn dân, tránh được cái nhìn ích kỉ, thiển cận của người xưa vậy. Tấm lòng vì nước, vì dân, hi sinh lợi ích riêng, hướng đến sự phồn thịnh đất nước của của Lí Thái Tổ quả thật rất đáng trân trọng và ngưỡng mộ. Thông qua phép đối, dưới hình thức văn biền ngẫu, Lý Công Uẩn đã đưa ra những lập luận, lý lẽ và chứng cứ hết sức thuyết phục. Đó không phải là những lời lẽ cứng nhắc, thuần tuý mệnh lệnh của bậc đế vương (vốn là văn phong quan phương của thể chiếu) mà đó chính là lý lẽ của sự thông tuệ, thấu hiểu, của niềm cảm thông, của nghệ thuật hùng biện xuất phát từ lợi ích chung của dân tộc, là lời tâm tình bộc trực của một vị minh quân. Sự kết hợp giữa lý và tình có sức thuyết phục cao, giàu cảm xúc, cùng với lối xưng hô thân mật và nỗi niềm đau xót cho dân chúng và giang sơn đất nước là giọng điệu chung xuyên suốt bản hùng văn này. Kết bài: Chiếu dời đô là sự thể hiện ý chí của toàn dân tộc, là kết tinh cho tinh thần và văn hóa của thời đại. Đó là tác phẩm đầu tiên mở ra một thời đại thái bình thịnh trị mới của Đại Việt. Chiếu dời đô cũng thể hiện mạnh mẽ tư tưởng dân chủ, là sự kết hợp đỉnh cao của ý thức dân quyền, ý thức độc lập, tự cường dân tộc. Bài chiếu vừa là áng văn chính luận xuất sắc, lời lẽ hùng hồn, lí lẽ sắc bén, kết cấu chặt chẽ, vừa thể hiện lòng nhân ái thiết tha trong cuộc đối thoại dân chủ, vừa thể hiện ý chí, quyết tâm cao độ của dân tộc trong buổi đầu dựng xây đất nước.
Sự kết hợp giữa lí và tình trong Chiếu dời đô-Lí Công Uẩn-Cái tình hòa quyện
767
Sự nghiệp văn học của Nam Cao Hướng dẫn Sự nghiệp văn học của Nam Cao Nam Cao (1917 – 1951) tên thật là Trần Hữu Tri quê tại Đại Hòa, quân Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Là một trong những đại diện xuất sắc của trào lưu văn học hiện thưucj phê phán trước năm 1945 cũng là một cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu văn học mới sau cách mạng. Thời gian hoạt động nghệ thuật ngắn ngủi nhưng ông đã để lại một khối lượng sáng tác có giá trị góp phần lớn cho nền văn học dân tộc. Cuộc đời là sự nghiệp sáng tác nghệ thuật chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước cách mạng: sáng tác đầu tay cảu ông mạng nặng khuynh hướng lãng mạn thoát li thi vị hóa hiện thực. Cho đến năm 1941 khi kiệt tác “ Chí Phèo” ra đời Nam Cao mới chuyển sang trường phái hiện thực kết tụ những tên tuổi lừng danh như; Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng … Nam Cao đã từ bỏ quann điểm nghệ thuật vị nghệ thuật chuyển thành nghệ thuật vị nhân sinh và trở thành nhà văn hiện thực nhân đạo xuất sắc. Trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu có 60 truyện ngắn, một truyện vừa và một tiểu thuyết các sáng tác cảu Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính là người tri thức nghèo và người nhân dân nghèo với tư tưởng bao trùm là nỗi đau trước tình trạng xói mòn nhân phẩm của con người do cuộc sống nghèo đói đẩy tới. Là nhà văn sinh ra và lớn lên ở nông thân gắn bó với máu thịt, với nhận thức Nam Cao viết hàng loạt các tác phẩm có giá trị: Chí phèo, Lão Hạc, Tư cách mõ, Một bữa no… đề tài hẹp những chủ đề lớn, ý nghĩa sâu sắc. Nam Cao không chỉ phản ánh một cách chân thực, thấm thía cuộc sống tối tăm thê thảm của những người nông dân mà còn phát hiện sâu sắc tình trạng bị hủy diệt nhân tính khi họ bị đẩy đến bước đường cùng không lối thoát. Nhưng điều quan trọng cái nhìn hiện thực nghiêm ngặt nhưng đầy tình thương của Nam Cao đã phát hiện đằng sau những tâm hồn đã bị hủy diệt ánh sáng của nhân phẩm (Chí Phèo). Cuộc đời lao động vì lí tưởng nhân đạo, vì lí tưởng cách mạng và sự hy sinh anh dũng của Nam Cao mãi là tấm gương cao đẹp của. Nam Cao vinh dự nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I(1996). Nam Cao xứng đáng là nhà văn hàng đầu của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX, nhà văn lớn của nền văn học dân tộc. Nguồn: Bài văn hay
Sự nghiệp văn học của Nam Cao
482
Sự sáng tạo độc đáo về chủ đề và bố cục trong “Khóc Dương Khuê” (Nguyễn Khuyến) Hướng dẫn Sự sáng tạo độc đáo về chủ đề và bố cục trong “Khóc Dương Khuê” (Nguyễn Khuyến) BÀI LÀM Khóc Dương Khuê là bài thơ hay, là đỉnh cao trong cuộc đời sáng tác của Nguyễn Khuyến. Bài thơ có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều thế hệ. Ở quê tôi, mà có lẽ cũng nhiều nơi như thế, trong các buổi lễ hiếu, lễ thọ các cụ rất thích đọc bài thơ này và bài Di chúc của Nguyễn Khuyến. Từ sự nhận thức về bài văn, chúng tôi xin đề xuất thêm vài ý kiến nhỏ: a) Về chủ đề bài văn: Thông thường, ở mỗi bài văn tế, (Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu, Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu chẳng hạn) đều có thể phát biểu chủ đề một cách ngắn gọn: Ca ngợi và tiếc thương. Ca ngợi là ca ngợi công đức, sự nghiệp của người đã khuất. Bài văn tế hay phải miêu tả, ca ngợi được những nét tiêu biểu, điển hình của người đó. Mặt khác, người làm bài văn (thường thì đọc khi đứng tế luôn) còn tỏ rõ niềm thương tiếc của mình. Niềm tiếc thương này càng quảng đại, càng đại diện cho được nhiều người bao nhiêu, bài văn càng có giá trị. Đôi khi, trong quá trình miêu tả, ca ngợi các tác giả có lồng vào lời phê phán. Cũng phải thôi, ở đời ai mà hoàn mỹ, hoàn hảo được. Khi Phan Bội Châu viết về Phan Châu Trinh: Quay đầu lại giả ơn tù đảo, tấm thân già con nặng gánh giang sơn; Bước chân đi tìm bạn Âu châu, đôi tay trắng quyết phất cờ xã hội là tác giả có ý phê phán chủ chương “Pháp – Việt đề huề” của ông Tây Hồ. Ây vậy mà lời phê phán khéo léo đó đã chìm hút đi trong câu thơ tuyệt bút. Viết Văn tế Nghĩa sĩ cần Giuộc Nguyễn Đình Chiểu cũng nhằm ca ngợi và tiếc thương những người nghĩa sĩ đã vong trận. b) Về bố cục bài thơ: Với bố cục của bài thơ, Nguyễn Khuyến ghi thêm một điểm sáng tạo thứ hai. Văn khóc bạn, viếng bạn là loại văn điếu người chết. Nó cũng theo một lề lối như bài văn viết theo thể phú Đường luật. Nghĩa là phải có bốn đoạn (lung khởi, thích thực, ai vãn và kết), Nguỵễn Khuyến thuộc hàng khoa bảng đậu đạt, ông nắm vững, thành thục mọi quy định của loại văn này. Nhưng tác giả muốn sáng tạo. Ở bài này, trên căn bản tác giả vẫn men theo mạch kết cấu của bài văn theo thể phú Đường luật. Cái mốc để chia đoạn là khúc rẽ trong đồ thị diễn biến tình cảm của tác giả. c) Về cơ sở của tình bạn: Điều này quan hệ đến cách nhìn nhận, đánh giá về cuộc đời và văn nghiệp của Dương Khuê. Cái vị thế của Dương Khuê cũng giống như người nghĩa sĩ trong bài văn tế “Nghĩa sĩ Cần Giuộc”, có một vai trò quan trọng nếu không muốn nói là định đoạt ít nhất là với giá trị nội dung bài thơ. Về điểm này, sách giáo viên, văn 11, NXB Giáo dục – 1991 có ghi một câu ngờ ngợ: “Dương Khuê thì làm quan cho Pháp, và chạy theo lối sống hành lạc. May là trong tâm can có lúc còn chút ngao ngán với sự đời… Tình hình như thế, nhưng Nguyễn Khuyến vần giữ tình bạn cũ”. Nói Dương Khuê làm quan cho Pháp thì Nguyễn Khuyến làm quan cho ai? Một câu danh ngôn đại ý nói: Muốn biết một người tốt xấu ra sao ta hãy xem bạn của người đó. Gớt – nhà thơ Đức nổi tiếng cũng nói: “Hãy cho tôi biết anh giao du với ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai”. Nguyễn Khuyến giao du với Dương Khuê. Qua bài thơ, ông đã nhìn nhận bạn mình một cách thẳng thắn và đích xác. Cả bài thơ là những dòng tình cảm nóng hổi, chân thành chảy tràn trề, tự nhiên từ đáy lòng Nguyễn Khuyến dành cho bạn. Đây quyết không thể là một sự chiếu cố.
Sự sáng tạo độc đáo về chủ đề và bố cục trong “Khóc Dương Khuê” (Nguyễn Khuyến)
740
Ta đêm rằm trung thu lớp 5 Hướng dẫn Ta đêm rằm trung thu lớp 5 Tuổi thơ luôn gắn liền với những đêm trăng, những đêm chơi đùa đuổi bắt dưới ánh trăng vàng. Những đêm trăng sáng đối với chúng em rất quý. Nhưng vui nhất, đẹp nhất là đêm trăng rằm Trung thu, ngày hội của tuổi thơ chúng em. Hôm nay chính là ngày rằm tháng 8, em tắm rửa ăn cơm sớm hơn mọi khi để kịp đi chơi cùng các bạn. Chao ôi! Chưa đến tối mà ở đâu cũng rộn lên tiếng trẻ em cười nói, gọi nhau í ới cùng với tiếng múa lân dồn dập. Không biết các phố khác ra sao, chứ phố em trông như một ngày hội lớn. Ngay giữa sân, một đám thiếu nhi quây quần thành một vòng tròn rộng. Các em hát múa, vỗ tay trông vui nhộn làm sao! Một đứa bé giơ tay lên trời vẫy vẫy như muốn ôm mặt tràng vào lòng. Nhảy múa xong, bọn trẻ tản đi một lúc rồi quay trở lại với nhiều chiếc lồng đèn sặc sỡ trên tay. Chúng xếp thành hàng một rồi bước đi, miệng hát vang: “Tình bằng có cái trống cơm…” Những chiếc lồng đèn nhảy nhót trong đêm như muốn bứt ra khỏi tay cầm để bay lên trời cùng trăng. Thành phố tràn ngập trong ánh bạc lung linh cùng với tiếng trẻ thơ reo hòa vang dội. Rước đèn xong, chúng em tổ chức liên hoan. Mọi người bày cỗ rồi thắp đèn sáng trưng nhìn nhau cười vui vẻ. Những chiếc kẹo như nhảy múa trong mâm, chắc chúng cũng muôn chơi Trung thu lắm! Mọi người ngồi vào bàn, lòng phấn khởi hân hoan. Chưa bao giờ vui như đêm nay. Mọi người đang chuyện trò rôm rả thì bỗng đâu tiếng trống dồn dập: “Tùng! Tùng! Cắc! Cắc! Tùng! Tùng!” Cứ thế, tiếng trống vang lên gióng giả từ nhà này sang nhà khác, đánh thức những đứa trẻ đang bị kẹo “cám dỗ” chạy ra. Một lát sau mọi người đã nối thành một cái đuôi dài, náo nhiệt. Ngay giữa sân đội múa lân đang biểu diễn. Cái đầu “sư tử” lắc qua lắc lại theo nhịp trống. Đôi chân nhanh nhẹn nhảy múa một cách tài tình. Cả thân mình con “sư tử” uốn lượn vô cùng khéo léo. Khéo đến nỗi không ai ngờ rằng, dưới cái thân hình “oai hùng” kia là một đứa trẻ nhỏ bé. Nhưng nhân vật khiến mọi người thích thú nhất là ông Địa. Tấm thân phục phịch cử động một cách khó nhọc trong chiếc áo dài thùng thình với cái bụng to kềnh. Tay ông luôn quạt quạt vào đám người xung quanh. Ông chạy lăng xăng khắp sân, thỉnh thoảng lại lăn đùng ra, làm mọi người cười rũ rượi. Chao ôi vui quá! Nhìn cảnh thiếu nhi múa hát dưới ánh trăng rằm, em lại nhớ đến công lao Bác Hồ, nhớ đến tình cảm của Người dành cho chúng em: Trung thu trăng sáng như gương Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Ta đêm rằm trung thu lớp 5
526
Thay lời nhân vật Giôn-xi kể lại truyện ngắn” Chiếc lá cuối cùng” – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Thay lời nhân vật Giôn-xi kể lại Bài làm Một mùa đông lạnh giá đã đến trên công viên Oa-sinh-tơn và căn hộ nghèo gần đó, nơi tôi đang sống cùng một người bạn là Xiu. Mấy ngày nay tôi đang phải chống chọi với căn bênh quái ác – ung thư phổi. Cùng với căn bệnh nan y này, tôi cũng phải sống chung với sự nghèo khổ. Tiết trời sang đông, những chiếc lá ngoài đường từ từ rụng xuống. Cùng lúc đó, cây thường xuân trước cửa sổ nhà tôi cũng đang trút lá. Chúng chao đảo trên không trung rồi rơi hẳn xuống đất mà không vương vấn, luyến tiếc gì cành cây. Ngày ngày tôi nằm thẫn thờ nhìn từng chiếc lá rơi. Những chiếc lá thường xuân cứ rơi ngày một nhiều, cứ mỗi lần một chiếc lá lìa khỏi cành là tôi lại thấy bệnh tình một nặng thêm. Tôi không thể nhấc mình lên được: “Sự sống của mình thật mỏng manh, cứ mỗi chiếc lá rụng thì cuộc sống của mình như ngắn lại. Cho đến khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì có lẽ mình sẽ không còn tồn tại trên thế gian này nữa”, tôi đã có những suy nghĩ và quan niệm như vậy. Một hôm, khi tôi đang mơ màng ngủ thì nghe thấy tiếng bước chân lên gác, đó là Xiu và cụ Bơ-men – người họa sĩ già sống ở căn hộ dưới. Chị Xiu đến bên cửa sổ kéo tấm mành xuống rồi cùng cụ Bơ-men sang phòng bên cạnh. Xiu là người sống cùng với tôi trong suốt thời gian ở đây. Chúng tôi đều chung số phận với nhau, cụ Bơ-men đã có tuổi nhưng cả đời việc vẽ tranh cũng không làm cụ giàu có hơn để chuyển đến một nơi tốt hơn nơi này. Cụ rất chuyên tâm trong nghề, cụ mong muốn vẽ được một bức tranh mang giá trị và để đời mà chưa thực hiện được. Tôi cũng thương cụ và những người tại xóm nghèo này lắm. Họ đều tốt và nhân hậu nhưng vì nghèo quá nên khổ. Tôi định mở mắt, gọi cụ và chị Xiu nhưng cảm thấy mình không còn đủ sức nữa. Họ đang nói đến một điều gì đó, tôi có nghe thấy thoảng bên tai về cây thường xuân bên cửa sổ. Nhưng rồi tôi lại thiếp đi vì quá mệt. Sáng hôm sau, khi Xiu thức giấc, tôi liền lệnh cho chị kéo tấm mành lên. Tôi đoán chắc rằng ngoài kia chẳng còn chiếc lá nào đâu, và hôm nay tôi sẽ đón nhận cái chết. Lúc này tôi nghĩ cái chết thật dễ dàng, tôi sẽ chấp nhận nó như uống một cốc nước lọc. Nhưng, ô kìa! Sau cơn mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng, vẫn còn một chiếc lá sót lại nằm yên trên cành cao. Tôi quay sang nói với chị Xiu: “Đó là chiếc lá cuối cùng, nó sẽ rụng trong nay mai và khi đó em sẽ chết, chị Xiu ạ!”. Chị Xiu khuyên tôi nhưng tôi không quan tâm đến lời nói của chị. Tôi biết rằng chỉ một trận gió đêm nay thôi thì chiếc lá không còn và tôi cũng sẽ lìa đời. Tôi vẫn chờ và chắc chắn điều đó sẽ đến… Sáng nay tôi tỉnh giấc, đêm qua thật dài, tôi biết là mưa rất to, gió rất mạnh. Điều tôi mong chờ, giờ tôi sẽ phải làm, tôi bảo chị Xiu kéo tấm mành lên. Thật lạ kì! Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó. Tôi sửng sốt cả người và nằm suy nghĩ hồi lâu: “Có một cái gì đó đã làm cho chiếc lá không rụng và còn đấy. Chiếc lá đã chống chọi với gió bão, mưa dông để giành lại sự sống cho mình” – tôi thầm nghĩ. Chợt tôi hiểu ra rằng nếu mình có quyết tâm, có niềm tin vào sự sống thì sẽ vượt qua được bệnh tật và khó khăn trong cuộc đời. Tự nhiên tôi thấy mình là một người bị mất hết nghị lực từ bao giờ, mình không bằng một chiếc lá mong manh kia. Sau đó tôi xin chị Xiu ít cháo và chút sữa pha với vang đỏ. Chị quay lại nhìn tôi một cách ngạc nhiên rồi nhanh chóng nở một nụ cười. Có lẽ chị hiểu suy nghĩ của tôi lúc này. Chị lấy thức ăn cho tôi, nhìn tôi với niềm vui sâu kín. Tôi nói với chị: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”. Trong tôi lúc đó tràn ngập niềm tin và hi vọng. Chị Xiu gật đầu và mỉm cười với tôi như sự đồng tình. Buổi chiều hôm đó, bác sĩ đến khám cho tôi. Vẫn như mọi lần, ông đều gọi chị Xiu ra ngoài và nói về bệnh tình của tôi. Hôm nay tôi nghe được lời bác sĩ nói với chị ngoài cửa. Tôi như không thể tin vào đôi tai của mình nữa. Bác sĩ nói bệnh của tôi đã chữa được năm phần mười rồi. Niềm tin vào cuộc sống đã trở lại trong tôi. Sau đó, bác sĩ xuống nhà cụ Bơ-men ở tầng dưới để khám chữa bệnh vì cụ bị chứng sưng phổi. Nguyễn Thương Tín (Trường THCS Hoàn Kiếm) Tags:Bài văn hay lớp 8 · Thay lời nhân vật Giôn-xi kể lại · Truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng
Thay lời nhân vật Giôn-xi kể lại truyện ngắn” Chiếc lá cuối cùng” – Bài văn hay lớp 8
947
Thay lời nhận vật Phrăng (văn bản Buổi học cuối cùng của A.Đô-đê) kể lại buổi học cuối cùng Gợi ý Vừa đến trước cửa lớp, tôi thở hồng hộc sau một chặng đường chạy gấp. Nhưng, trái với âm thanh ồn ào của ngày thường, ồn ào như một phiên chợ, lớp học của tôi lại yên tĩnh đến lạ kỳ. Một cảm giác ngạc nhiên xâm chiếm tâm hồn tôi. Tôi bước đi, nhẹ nhàng từng bước một, rón rén, rón rén tới trước cửa lớp. Tôi hơi giật mình hoảng hốt khi thấy thầy Ha-men vẫn đứng đó với cái thước khủng khiếp kẹp ở nách. Thầy chậm rãi quay ra phía cửa, tôi sợ hãi muốn chạy thật nhanh ra khỏi đây để tránh né ánh nhìn nghiêm khắc của thầy. Nhưng rồi: – Phrăng, con hãy vào đi, lớp học bắt đầu mà thiếu vắng con đấy. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không giấu được sự xấu hổ khi bước vào lớp. Còn ngạc nhiên hơn nữa khi tôi nhìn xuống và thấy dân làng đang ngồi rất đông ở chỗ trống cuối lớp. Khi đã bình tĩnh được một chút, tôi để ý thấy thầy giáo tôi đang mặc bộ quần áo chỉ dùng trong ngày chủ nhật hoặc khi có thanh tra tới. Vẫn cái giọng dịu dàng, buồn rầu như lúc tôi mới vào lớp, thầy đứng trước lớp, giọng run run thông báo tin quân Phổ đã cấm dạy tiếng Pháp ở An-dát và Lo-ren, thầy giáo mới ngày mai sẽ tới. Những lời đó như một tiếng sét đánh ngang tai. Tôi cảm thấy không tự kiềm chế được nữa. Không biết những con chim đang gừ trên mái nhà kia, chúng có phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ? Tôi ghì chặt những cuốn sách tiếng Pháp như không muốn nó rời xa mình. Tôi bỗng nhớ lại cảnh những người ‘dân đứng xúm quanh các bảng dán cáo thị. Đáng ra tôi phải đoán được từ trước chứ. Tôi nghĩ lới những lúc mình rong chơi ngoài đồng nội càng thú vị bao nhiêu thì tôi ân hận bấy nhiêu, tôi căm ghét cái thằng Phrăng mình quá. Rồi như bị tạt một gáo nước lạnh, tôi nghĩ: “tại mình tất cả”. Tôi chợt nhớ đến thầy Ha-men. Thầy tôi vẫn đứng đó, mắt nhìn rầu rĩ vào một nơi xa, với những suy nghĩ miên man. Hôm nay, thầy dạy chúng tôi về quy tắc ngữ pháp. Chợt, tôi nghe thấy tên mình đứng dậy đọc quy tắc phân từ. Tôi chẳng biết làm gì mà chỉ đứng trơ ra giữa lớp. Thầy nhìn tôi buồn bã, giảng cho chúng tôi: Chúng ta luôn chần chừ, chỉ nghĩ tới rồi ngày mai sẽ học, rồi cứ thế, cứ thế mãi. Thầy trách mình, trách cả mọi người nữa. Suốt cả buổi học, tôi cảm thấy chưa bao giờ yêu tiếng Pháp đến thế, chưa bao giờ hiểu đến thế. Rồi tôi cứ say mê theo bài giảng của thầy. Thầy nói: Nếu chúng ta nắm vững ngôn ngữ mẹ đẻ thì chẳng khác gì có được chìa khóa giữa chốn lao tù. Buổi học say mê cứ kéo dài mãi nếu tiếng kèn lính Phổ đi tập vồ không vang lên, tiếng chuông nhà thờ không điểm 12 giờ. Tôi muốn gào lên “Thầy ơi, con mới chỉ biết viết tập toẹ. Thầy ơi, cho con xin lỗi, thầy ở lại với con”. Rồi nhìn thầy. Không biết điều gì đã ngăn tôi lại. Thầy nghẹn ngào, không nói thành lời, bất chợt thầy tôi dằn mạnh viên phấn viết lên bảng: “Nước Pháp muôn năm!”
Thay lời nhận vật Phrăng (văn bản Buổi học cuối cùng của A.Đô-đê) kể lại buổi học cuối cùng
613
Đề bài: Thay mặt En- ri- cô trong bài “Mẹ tôi” viết một bức thư cho bố bày tỏ sự ân hận. Bài làm Cha kính yêu của con! Đọc xong những dòng tâm trạng của cha, con biết cha giận con nhiều lắm. Con viết bức thư này không phải là cầu mong được sự tha thứ của cha bởi con biết con đã phạm phải một lỗi lầm không hề nhỏ. Nhưng sự hối hận đã thôi thúc con phải đặt bút viết và cầu xin sự tha thứ từ cha và để con có dũng khí đứng trước mặt mẹ xin một nụ hôn xóa đi mọi tội lỗi con gây ra. Con biết mình là người có lỗi khi vô lễ với mẹ trước mặt cô giáo khi cô đến thăm nhà vào sáng nay. Ôi, tại sao con lại bướng bỉnh và thiếu lễ độ như vậy với người mẹ sinh ra con và chăm sóc con hàng ngày cơ chứ? Mẹ là người chăm sóc con hàng ngày từ bữa ăn đến giấc ngủ, lo cho con từng li từng tí một, con còn nhớ mỗi lần con ốm bị ốm, mẹ luôn thức trắng đêm bên giường con và chỉ nở nụ cười mãn nguyện khi cơ thể con có dấu hiệu khỏe lại. Mẹ rất yêu con, con biết điều đó lắm và con cũng yêu mẹ vô cùng, vậy mà hôm nay con lại làm mẹ buồn. Con chỉ nghĩ đến cảm xúc của bản thân mà không để ý đến sự tổn thương của mẹ. Con đã là cho những giọt nước mắt lăn trên gò má mà đáng ra phải ửng hồng vì hạnh phúc, con đã hành xử như một đứa trẻ vô văn hóa và một đứa con bất hiếu. Con không chỉ làm mẹ phải buồn lòng mà con biết cha cũng khổ tâm nhiều lắm. Cha nói đúng, con nhất định sẽ phải hối hận vì những hành động của mình, nhưng không cần chờ đến khi con trưởng thành để hối hận, con đã hối hận ngay sau khi gây ra lỗi ấy của mình. Hình ảnh của mẹ hiện lên dịu dàng đến đâu con càng thấy mình tệ hại đến mức nào. Nếu có thể quay ngược lại lúc ấy, con sẽ không bao giờ dám vô lễ với mẹ như vậy, nhưng đó là điều không thể xảy ra. Ôi, làm sao để con nói lời xin lỗi với mẹ đây, khi mà con không dám đứng trước mặt mẹ vì niềm xấu hổ và ân hận tột cùng đang dày vò? Và con phải làm sao để mẹ tha thứ cho đứa con nhỏ dại ngu ngốc này? Có lẽ một lời xin lỗi là chưa đủ cho lỗi lầm của con, cho dù mẹ có tha thứ vì mẹ yêu con, con cũng sẽ không tha thứ cho bản thân mình. Và cha ơi, xin cha đừng giân con nữa, xin cha hãy chỉ con làm mẹ được hạnh phúc trở lại để bù đắp phần nào tội lỗi con gây ra. Chỉ có như vậy, con mới bớt phần nào sự hối hận trong tim. Con trai cha, Enrico
Thay mặt En- ri- cô trong bài “Mẹ tôi” viết một bức thư cho bố bày tỏ sự ân hận – văn lớp 7
533
Thay mặt En-ri-cô viết môt bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận của mình Hướng dẫn Thay mặt En-ri-cô viết môt bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận của mình Bố muôn vàn kính yêu của con. Trước hết con mong bố hiểu rằng con đã ân hận biết bao sau khi mắc lỗi với mẹ và đọc những lời bố viết trong thư, con đã cảm nhận được sâu sắc hơn những tình cảm mà bố mẹ dành cho con. Đặc biệt là sau những hình ảnh mà bố đã gợi lại về tình cảm mẹ dành cho con, con rất hối hận khi nghĩ lại hành vi thiếu lễ độ của mình đối với mẹ. Bố kính yêu, trong lòng con luôn kính trọng và yêu quý bố mẹ, con hiểu bố mẹ sinh ra con, nuôi con lớn lẽn thành người là cả chuỗi ngày vất vả. Đó là những ngày mẹ phải thức suốt đêm để chăm sóc con khi con bị ốm, mẹ đã vô cùng lo lắng sợ hãi khi nghĩ rằng sẽ mất con, rồi còn biết bao nỗi vất vả mà con cũng như bố không thể kể hết ra ở đây. Và như bố đã viết: “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”. Con hiểu sâu sắc lời bố nói trong thư. Mẹ là người duy nhất trên đời này tạo cho con một cuộc sống bình yên và con hiểu mẹ bao giờ cũng yêu thương con hết lòng. Chính bởi vậy con vô cùng hối lỗi khi trong một phút dại khờ con đã thiếu lễ độ với mẹ. Con càng ân hận hơn khi hiểu rằng người buồn nhất sẽ là mẹ vì mẹ đã dành tất cả tình yêu thương cho con. Bởi chắc chắn mẹ sẽ đặt nhiều niềm hi vọng về con. Một đứa con ngoan, hiếu thảo với cha mẹ, học hành giỏi giang, thế mà con đã khiến mẹ buồn. Con rất biết lỗi của mình, con tin rằng từ nay trở đi điều đó sẽ không thể xảy ra nữa. Bố kính yêu! Cũng như bố nói, con rất sợ một ngày nào đó mẹ thân yêu của con không còn ở bên con, chăm sóc con những lúc con ôm đau hay buồn tủi con sẽ không còn ai để được nũng nịu, vuốt ve. Con biết rằng trong đời con có thể trải qua những ngày buồn thảm nhưng ngày buồn thảm nhất sẽ là ngày con mất mẹ. Và dù sau này có khôn lớn trưởng thành thì đối với mẹ con vẫn chỉ là đứa con bé bỏng. Chính vì lẽ đó tình mẹ còn là tình cảm thiêng liêng cao đẹp nhất, khi làm bất cứ điêu gì sai trái với mẹ cũng là một sai lầm không bao giờ sửa chữa được và khi đó mọi sự hối hận sẽ là vô nghĩa. Nghĩ được những điều này lòng con càng hối hận hơn khi nghĩ về hành động đã qua của mình. Con cảm thấy hổ thẹn với bố mẹ, với chính bản thân mình.
Thay mặt En-ri-cô viết môt bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận của mình
547
Thay ngôi kể để bộc lộ tâm tình của một nhân vật cổ tích mà em yêu thích Gợi ý Ngồi thu mình trong căn buồng giam chật hẹp, Thạch Sanh rơi vào tâm trạng rối bời, suy nghĩ mông lung. Trước nay, Thạch Sanh ta vốn sống lương thiện, chẳng hại ai bao giờ. Ấy vậy mà sao trời đất không thương lại để ta rơi vào tình trạng như hiện nay. Tưởng đâu có một người anh em cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống, ai ngờ ta lại bái một kẻ bất nhân làm anh. Lí Thông ơi Lí Thông! Sao ngươi nỡ tâm hại ta đến bước đường cùng. Hoá ra tình anh em trước nay chỉ có mình ta coi trọng thôi ư? Thật đáng buồn. Thì ra từ trước đến nay ngươi chỉ lợi dụng ta để mưu lợi cho bản thân? Việc canh miếu thần chỉ là một âm mưu thế mạng, việc giúp ta trốn hình phạt của nhà vua chỉ là trò bịp bợm để tranh công? Tất cả đều là lừa lọc và giả dối. Ta đâu phải vì muốn lập công, lĩnh thưởng mà giết chằn tinh, chẳng qua là để tự vệ và nếu vì tự vệ mà giúp nhân dân diệt trừ một mối nguy lớn âu đó cũng là việc nên làm. Chỉ xót xa một niềm, Lí Thông sống quá bạc. Không còn tình anh em, hắn cũng chẳng còn tình người. Hắn chỉ vì lợi ích cá nhân mà đang tâm lấy đá lấp hang, muốn đưa ta vào chỗ chết. Hành động bỉ ổi của hắn thật đáng cho ta căm hận. May thay, thế giới rộng lớn, đường đi muôn ngả, ta nhờ có con trai vua Thuỷ Tề mà thoát khỏi hang đá, được xuống thuỷ phủ chơi lại còn được tặng cây đàn mang về làm bạn. Không muốn tranh giành với đời, với người, ta đã lẳng lặng quay về gốc đa xưa sinh sống. Ấy vậy mà Lí Thông kia vẫn chẳng buông tha. Hắn lại còn đem bạc vàng bỏ vào gốc đa, vu vạ bắt ta vào chốn này. Chỉ có thể là hắn. Không thể còn ai khác. Lí Thông bạc ta đành cam tâm, nhưng cớ sao một người con gái trong trắng, hiền lành và yếu đuối mà sao cũng quay lưng với ta. Sao nàng không lên tiếng nói rõ mọi việc trong hang đại bàng? Nàng không muốn nói hay nàng không thể nói. Chẳng lẽ trên đời này không còn ai tốt không còn chỗ cho ta dung thân hay sao? Nỗi buồn này biết tỏ cùng ai? Đàn ơi! Giờ ta chì có ngươi bầu bạn, ta chỉ có thể tin tưởng vào ngươi mà thôi! Cây đàn như có tâm hồn, nó như thay lời Thạch Sanh ngân lên những khúc ca ai oán. “Đàn kêu: Ai chém chăn tinh Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang? Đàn kêu: Ai chém xà vương Đem nàng công chúa triều đường về đây? Đàn kêu: Hỡi Lí Thông mày Cớ sao phụ nghĩa lại rày vong ân? Đàn kêu: Sao ở bất nhân Biết ăn qua lại quên ân người trồng?… ”
Thay ngôi kể để bộc lộ tâm tình của một nhân vật cổ tích mà em yêu thích
530
Theo em, làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp? Hướng dẫn Theo em, làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp? Bài làm Nhân loại rất quan tâm đến môi trường sống. Một xã hội có môi trường sống xanh- sạch- đẹp là mục tiêu mà chúng ta vẫn luôn hướng tới. Nhưng hiện nay trái đất của chúng ta đang nóng dần lên, sự ô nhiễm đang ở mức đáng báo động khiến cho tất cả mọi người lo lắng khi không gian sống của chúng ta đang bị đe dọa, bị hủy hoại một cách nặng nề. Vậy chúng ta cần phải làm gì để gìn giữ, phát triển môi trường sống ngày càng xanh, sạch, đẹp hơn? Môi trường sống có ý nghĩa to lớn, vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của con người, điều này thi ai cũng biết và không cần phải bàn cãi. Con người không thể sống, không thể tổn tại nếu không có môi trường sống, không có những điều tốt đẹp mà thiên nhiên mang lại như: không khí để thở, thức ăn để ăn, nước để uống, đất đai… cùng những tài nguyên phục vụ cho nhu cầu của con người, tất cả những điều đó đều do thiên nhiên mang lại cho chúng ta. Môi trường đem lại cho chúng ta nhiều thứ như vậy, nhưng chúng ta, chính những con người trên trái đất này lại đang tự tay hủy hoại đi những thứ mà thiên nhiên mang lại. Chúng ta vì những thứ lợi ích trước mắt, ham lợi cá nhân mà phá hoại môi trường. Tình trạng hủy hoại môi trường sống đang diễn ra ở khắp mọi nơi, và bất cứ ai trong chúng ta cũng đều đang góp phần phá hoại môi trường. Đó đôi khi chỉ là hành động tiện tay vứt rác ra đường, hay sử dụng nhiều túi nilon không phân hủy, xả những rác thải có hại ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước… Những tác hại ngay trước mắt mà chúng ta thấy, đó là thực trạng không khí đang bị ô nhiễm ở mức đáng báo động. Rồi đến hiện tượng cá chết trên khắp các con sông, trên biển…hay tình hình bão lũ, sóng thần, núi lửa xảy ra liên miên bất thường, ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta. Không biết bao lâu nữa, thiên nhiên sẽ không chịu được sự tàn phá của con người mà nổi giận, nhưng những việc con người đang làm, góp phần đẩy nhanh quá trình biến đổi của thiên nhiên sớm hơn bao giờ hết. Vậy câu hỏi đặt ra là chúng ta phải làm gì để bảo vệ môi trường sống? Có lẽ đầu tiên, chúng ta cần phải có ý thức giữ gìn môi trường sống từ ngay chính nơi ta đang sống. Chúng ta không xả rác ra đường, không sử dụng túi nilon, phân loại rác hợp lý…cũng đã góp phần bảo vệ môi trường. Không chỉ thế, cơ quan chức năng cần phải mạnh tay hơn với những trường hợp phá hoại môi trường. Đó là những cá nhân, tổ chức đang ngày đêm chặt cây, phá rừng, dẫn đến lũ lụt mỗi khi có mưa lũ. Hay những công ty, tập đoàn lớn vì tư lợi cá nhân mà xả chất thải có hại ra biển, ra không khí, cũng cần phải được xử lý nghiêm. Nếu chúng ta không làm mạnh tay và nghiêm khắc, chắc chắn môi trường sống sẽ bị hủy hoại nghiêm trọng, mang đến những điều không mong muốn cho chúng ta vào một ngày không xa.
Theo em, làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp _
622
Đề bài: Thuyết minh bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu Bài làm Trương Hán Siêu là một nhân vật lớn đời Trần. Ông tên chữ Lăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện An Khánh, Ninh Bình. Trương Hán Siêu lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba. Ông làm quan trải qua bốn triều vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông). Trương Hán Siêu là một người học vấn uyên bác, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, lại giàu lòng yêu nước và có nhiều công lao đối với triều Trần, vì vậy ông được các vua Trần tôn kính, xem như bậc thầy. Năm 1308, vua Trần Anh Tông phong ông làm Hàn Lâm học sĩ. Đời Minh Tông ông giữ chức Hành khiển. Đời Trần Dụ Tông, năm 1339, ông làm Hữu ti Lang trung ở Môn hạ. Đời Trần Dụ Tông đổi sang Tả Tư Lang kiêm chức Kinh Lược sứ ở Lạng Giang, năm 1345 ông được thăng chức Gián nghị Đại phu tham chính sự. Ông được vua Dụ Tông sai cùng với Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ “Hoàng Triều Đại Điển” và bộ “Hình Luật Thư”. Năm 1351, ông được phong Tham tri Chính sự. Năm 1353, ông lãnh chiếu chỉ ra trấn nhậm Hoá Châu (Huế), sai người xây thành đắp luỹ, lập kế chống quân Chiêm. Năm 1354, ông cáo bệnh xin nghỉ nhưng trên đường về Bắc chưa kịp đến nhà thì mất, sau được truy tặng Thái phó và cho phối thờ ở Văn Miếu, Thăng Long.Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với các bậc hiền triết xưa. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vào giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV nảy sinh cuộc tranh giành vị trí, ảnh hưởng giữa Nho giáo và Phật giáo mà Trương Hán Siêu được coi là người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo tiến lên. Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cổ Việt Nam có một số tác phẩm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú” được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354. “Bạch Đằng Giang phú” là một kiệt tác trong văn chương cổ Việt Nam. Về mặt nghệ thuật, đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú. Về nội dung tư tưởng, Bạch Đằng Giang phú là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này. Ở Trương Hán Siêu, hành vi ứng xử nổi bật nhất, in đậm vào sử sách, là thái độ gần gũi thiên nhiên, cách ông nhìn ngắm thiên nhiên tạo vật. Về điều này, nếu nói Trương Hán Siêu gắn bó với cảnh trí của đất nước thì không có gì sai nhưng hình như vẫn chưa đủ. Nhà thơ nhà văn Việt Nam xưa nay rất ít người thờ ơ trước vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu” (Nguyễn Trãi). Trương Hán Siêu cũng thế thôi. Nhưng với ông, trong tình yêu thiên nhiên hình như còn có một điều gì khác hơn, một khao khát thường trực muốn chiếm lĩnh thế giới tự nhiên, nhận biết cho hết mọi tri thức lịch sử – xã hội ẩn ngầm trong ngoại giới. Như chính ông phô bày trong vai một “người khách “ ở bài Bạch Đằng giang phú, hầu như cả một đời, ông đã coi lẽ sống của mình là ngược xuôi tìm đến mọi danh lam thắng cảnh: “Khách có kẻ, Giương buồm giong gió khơi vơi; Lướt bể chơi trăng mải miết. Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương, Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt; Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt Nơi có người qua đâu mà chẳng biết. Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết…” Cũng có thể nghĩ đấy mới chỉ là những lời tâm niệm của Trương Hán Siêu bởi các địa danh nói trên đều là điển cố trong văn liệu, ông được đọc qua sách vở, hay là thông qua sách vở mà tìm đến chúng chứ chưa chắc đã một lần ghé thăm. Song cũng vì vậy, thiên nhiên như cái đích tìm kiếm của ông dường như có mang một hàm nghĩa thâm thúy: đây là nơi tập kết mọi trải nghiệm văn hóa của con người, và cũng là chứng tích để con người nhìn xa vào lịch sử. Vẫn trong bài phú về sông Bạch Đằng, tiếp theo mấy câu vừa dẫn, ông liền bày tỏ ý nguyện bắt chước “thú tiêu dao” của Tử Trường tức Tư Mã Thiên – nhà viết sử nổi tiếng của Trung Quốc, trước khi bắt tay cầm bút đã đi khắp mọi nơi đầu sông cuối bể nhằm nuôi dưỡng tình cảm và thu nhận kiến thức. Ta để ý nếu ở phần trên, các địa danh thực ra đều là ảo – địa danh trong điển tích, không phải trong thực tế – thì đến đây mới là địa danh thực. Nhà thơ đưa ra một cái tên Bạch Đằng chưa hề có trong các pho sách kinh điển nhưng lại hiển hiện trước mắt với tất cả sức thuyết phục của những chiến công vang dội của nó. Bạch Đằng giang phú ú là một bài phú lưu thủy, người viết cốt biểu đạt ý tưởng một cách phóng khoáng, tuôn chảy, không quá chú trọng gò gẫm bằng trắc đối xứng và hiệp vần. Nhưng cấu trúc bài phú cũng là cả một dụng công. Bằng sự phân vai khéo léo giữa “khách” và “bô lão” trong nghệ thuật biểu hiện để tạo nên sự đồng hiện về thời gian, bằng cách chuyển đoạn thần tình trong tâm trạng người trần thuật từ bâng khuâng hoài cổ sang cảm xúc bồng bột của người đang chứng kiến sự việc tiếp diễn, bằng nghệ thuật sắp xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi lại trở lại khoan thai, và cả bằng sự sinh động của nhịp điệu… mấy trăm năm qua bài phú đã chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn người đọc. Đặc biệt, không ít những bậc tự xem là tri âm tri kỷ có thiên hướng muốn đón nhận toàn bộ hình tượng nghệ thuật của bài phú như những đường nét khắc họa chân thực quang cảnh chiến trận Bạch Đằng. Nếu để ý ta sẽ thấy bức tranh đằng đằng sát khí của trận Bạch Đằng còn là một đối cực nữa của một bức tranh thủy mạc lặng tĩnh mà tác giả vẽ lên, như đã dẫn ở một phần trước: Thiệp Đại Than khẩu / tố Đông Triều đầu, Để Bạch Đằng giang / thị phiếm thị phù. Tiếp kình ba ư vô tế; Trám diêu vĩ chi tương mâu. Thủy thiên nhất sắc / phong cảnh tam thu Chử địch ngạn lô / sắt sắt sâu sâu Chiết kích trầm giang / khô cốt doanh khâu Thảm nhiên bất lạc / trữ lập ngưng mâu (Qua cửa Đại Than / ngược bến Đông Triều, Đến sông Bạch Đằng / nổi trôi mặc chèo. Bát ngát sóng kình muôn dặm/ Xanh xanh đuôi trĩ một màu. Nước trời một sắc / phong cảnh ba thu Sông chìm giáo gãy / gò đầy xương khô Buồn vì cảnh thảm / đứng lặng giờ lâu Đây lại là đối cực động-tĩnh giữa hiện tại và quá khứ. Đối cực này đã khiến người đọc như rơi vào trạng thái mơ màng, bâng khuâng, trong khi đuổi theo cái cố gắng “đi tìm thời gian đã mất” của tác giả. Ta chợt tự hỏi: Không hiểu giữa hiện hữu thứ nhất (thực tại tĩnh lặng trước mắt mà cũng là một hụt hẫng trong tâm trạng) và hiện hữu thứ hai (thực tại sống động trong tiềm thức mà cũng là một miên viễn của tưởng tượng) thì hiện hữu nào mới là có thật? Sự vấn vương ở đây có chút gì đó làm lòng ta nặng trĩu khi nghĩ đến dòng chảy của thời gian và thói vô tình dễ quên của người đời. Nói cách khác, những âm hưởng trữ tình đối lập ở trong tác phẩm đã tạo nên một ngân vang sâu thẳm và ngân vang này chính là triết lý: sự sống là một tiếp biến không ngừng không nghỉ, cái đang diễn ra và cái đã đi vào vĩnh cửu cứ đan quyện lấy nhau, mà cái nhân tố có khả năng kết nối làm nên sự đan quyện ấy, khiến cho sợi dây chuyền vô hình nghiệt ngã của thời gian có lúc tưởng như bị đảo ngược: hiện tại không hẳn đã trôi về quá khứ tất cả, mà có phần nào đó còn trôi theo chiều ngược lại, còn có “dấu vết lưu lại” với hậu thế – cái nhân tố ấy là con người, được quyết định bởi con người: Trời đất đặt ra nơi hiểm trở, Bậc anh tài tính cuộc tồn an Giặc tan muôn thuở thăng bình, Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao Nhìn trở lại toàn bộ bài phú, nghệ thuật phối trí thời gian và không gian của Trương Hán Siêu đã đạt đến chỗ thần tình. Nhà thơ đưa không gian Bạch Đằng từ một viễn cảnh trải rộng và hết sức bao la đến với cận cảnh của một trận thủy chiến dữ dội, và cuối cùng dồn vào một tiêu điểm là chỗ đứng nội tâm của nhà chỉ huy quân sự quyết định sự thắng bại của chiến cuộc, đồng thời cũng chính là đang từ một không gian hiện thực ông quay trở về với không gian hồi cố, không gian tâm tưởng, cùng theo đó, thời gian nghệ thuật cũng đi lùi từ hiện tại về quá vãng. Vậy mà cảm hứng của người đọc lại không bị đẩy lùi bởi dòng hoài niệm, trái lại tiếp nhận nó như chính cái đang diễn ra trước mắt mình. Thủ pháp mờ chồng giữa hai thời đoạn cách quãng trên quang cảnh một con sông, thủ pháp hoán đổi điểm nhìn linh hoạt của tác giả… đã góp phần hóa giải tâm trạng hoài cổ của bài phú, tạo nên một tâm lý cân bằng và gây hứng thú sâu sắc trong cảm xúc thẩm mỹ. Tóm lại, bằng lượng thông tin đa nghĩa, những ẩn ngữ phong phú đọng lại phía sau ngôn từ, Bạch Đằng giang phú đã gợi lên được nhiều tiếng nói cùng một lúc trong cảm nhận nhiều chiều của người đọc. Sự dồn nén nghệ thuật của bút pháp Trương Hán Siêu quả đã đến một trình độ bậc thầy. Trương Hán Siêu là một danh nhân nổi tiếng của mảnh đất Trường Yên – Ninh Bình, một chứng nhân rõ rệt cho truyền thống văn hóa lâu đời của vùng đất văn vật này. Nhưng ông lại cũng là một nhân vật có tầm thước cả nước, một người con ưu tú của văn hóa Thăng Long dưới triều đại Trần. Ông xứng đáng được xếp vào hàng danh nhân tôn vinh ở Văn miếu Quốc tử giám như nhà Trần đã từng “liệt hạng” xưa kia, mặc dù ông không hề có mảnh bằng nào thông qua thi cử. Điều đó cũng nói lên rằng triều đại Trần có sức năng động lớn vì nó biết chuộng thực học, biết lựa chọn tài năng theo những tiêu chí thực tiễn. Bỏ qua mọi thứ phù danh, với những người như Trương Hán Siêu, nhà Trần đã biết cách làm cho mình trở thành bất tử.
Thuyết minh bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu
2,111
Đề bài: Thuyết minh cái phích nước Bài làm Phích nước là đồ dùng để giữ nhiệt cho nước nóng, rất thông dụng và thường có trong mọi gia đình. Phích nước có rất nhiều loại được làm từ những vật liệu khác nhau, có cấu tạo và hình dáng khác nhau, về hình dáng phích nước thường có hình trụ, cao khoảng 35 – 40cm, giúp cho phích có thể đứng thắng mà không bị đổ. Về cấu tạo: Phích nước được làm theo nguyên lý chống sự truyền nhiệt của nước, gồm hai bộ phận: ruột phích và vỏ phích. Ruột phích là bộ phận quan trọng nhất. Nó được làm bằng hai lớp thuỷ tinh. Ở giữa là môi trường chân không làm mất khả năng truyền nhiệt của nước ra ngoài, ở phía trong lòng và ngoài của ruột phích là lớp thuỷ tinh được tráng bạc có tác dụng hắt nhiệt trở lại để giữ nhiệt. Càng lên trên cao đầu phích, miệng phích càng nhỏ lại để giảm khả năng truyền nhiệt của nước. Gắn với chiếc miệng nhỏ nhắn là cái nút có thể làm bằng gỗ hoặc bằng nhựa cứng luôn vừa khớp với miệng phích để cản trở sự thoát hơi nước và sự đối lưu truyền nhiệt của nước. Ruột phích có hiệu quả giữ nhiệt cho nước rất tốt, trong vòng 6 tiếng đồng hồ, nước từ 100°c còn giữ được 70°c sẽ đảm bảo dùng nước được lâu và nước đủ nhiệt để pha chế trà, cà phê… tạo nên một nét đẹp văn hoá vừa mang tính chất cổ truyền của dân tộc vừa mang một phong cách hiện đại còn gọi là nét văn hoá "cafe" đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì ruột phích được làm bằng hai lớp thuỷ tinh nên rất dễ vỡ. Vì vậy vỏ phích là lớp để bảo quản ruột phích như là một tấm bình phong, vỏ phích ngày xưa có thể làm bằng tre, mây, sắt, nhôm… Ngày nay công nghiệp nhựa phát triển, vỏ phích cũng được thay thế dần bằng nhựa cứng vừa nhẹ, đẹp lại vừa bền và tốt. Gắn trên vỏ phích là một chiếc quai bằng nhựa, sắt… tuỳ theo từng loại phích, chiếc quai đó có thể quay đi quay lại một cách dễ dàng giúp chúng ta có thể xách di chuyển đi chỗ khác mà không phải bưng bê. Trên chiếc nút phích là nắp phích, nó có chức năng năng bảo vệ nút phích không cho trò em nghịch ngợm gây bỏng nước nóng. Nút phích băng các lớp ren xoáy chặt với miệng phich. Chiếc nắp phích đó có thể lấy làm cốc đựng nước cũng được. Để bảo quản phích lâu hỏng ta nên làm một chiếc khung bằng gỗ để đặt phích và giữ chặt lấy phích. Đặt khuôn giữ phích ở nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh nóng và xa tầm tay của trẻ em. Nếu để phích không đúng quy cách có thể gây tai nạn bỏng nặng vì phích giữ nhiệt cho nước sôi khá lâu. Điều quan trọng nhất nhất là ta phải giữ gìn chiếc nũm phích, vì nũm phích để giữ khoảng chân không góp phần làm giảm khả năng truyền nhiệt của nước. Chúng ta nên lưu ý khi rót nước nóng vào phích phải rót từ từ để ruột phích dễ thích nghi với nhiệt độ cao thì phích sẽ lâu hỏng hơn khi chúng ta không làm như vậy. Khi rót nước xong phải đậy nút phích cẩn thận. Đối với nút phích bằng nhựa thì phải xoáy đúng ren, xoáy thật chặt, còn với nút phích bằng gỗ ta cũng phải đậy cho vừa khít để nước nóng được lâu. Nếu chúng ta không làm đúng cách thì ruột phích sẽ chóng hỏng vì không khí bên ngoài xâm nhập vào ruột phích. Phích nước là một đồ dùng rất tiện lợi cho cuộc sống hàng ngày trong mỗi gia đình. Nó như người bạn thân trong mỗi gia đình. Sáng sớm bác nông dân mang phích nước nóng ra đồng thông buổi pha ấm trà nóng rít điếu thuốc lào khi đã cày xong thửa ruộng thì sảng khoái biết bao. Khách đến chơi nhà không phải "đốt than quạt nước" vì đã có phích ủ sẵn nước nóng pha trà mời khách rồi… Như vậy có thể nói: Phích nước đã góp phần tạo nên một nét đẹp văn hoá ở Việt Nam.
Thuyết minh cái phích nước
753
Thuyết minh cây hoa đào ngày tết Hướng dẫn Những bài viết về cây hoa đào này tết được đánh giá hay nhất được sưu tầm và đánh giá cao trên mạng, chúc các bạn có một ngày xem tin tức vui vẻ với nội dung của bài này. Thuyết minh cây hoa đào ngày tết bài mẫu 1: Nếu mai là biểu tượng của mùa xuân phương Nam thì ở xứ Bắc, loài hoa vinh dự được chọn là hoa đào. Cây đào có tên khoa học là Prunus persica. Cây đào chỉ có thể sống tốt trong một khu vực tương đối hạn chế, do chúng có các yêu cầu về độ lạnh mà các khu vực cận nhiệt đới khó có thể phù hợp, tuy nhiên chúng cũng chịu rét rất kém. Loài cây này có thể chịu được lạnh từ khoảng -26 °C tới -30 °C. Các chồi hoa thường bị chết đi ở khoảng nhiệt độ từ -15 °C đến -25 °C, phụ thuộc vào khoảng thời gian rét. Một vài giống thì dễ nhạy cảm với lạnh hơn trong khi các giống khác có thể chịu được nhiệt độ thấp hơn (vài độ). Ngoài ra, nó cần nhiều nhiệt trong mùa hè để quả có thể chín được, điều này có nghĩa là nhiệt độ cao nhất trong mùa hè có thể nằm trong khoảng 20 °C – 30 °C. Đào cần được trồng ở nơi có nhiều ánh nắng, với sự thông thoáng gió tốt. Điều này cho phép không khí lạnh bị thổi đi vào những đêm sương giá và giữ cho khu vực được mát mẻ vào mùa hè. Tổ tiên ta thuở bình minh dựng nước trên đất Bắc, khi chọn hoa đào để làm thú tiêu khiển trong ba ngày tết, chắc hẳn đã nghĩ tới màu đỏ thắm rực rỡ của đào giống như viễn ảnh của một năm mới sắp tới cũng trong sáng đẹp đẽ như màu hoa. Sau những ngày đông giá lạnh, sắc hồng của đào như sưởi ấm lòng người và vạn vật. Dưới mưa xuân, những cây đào bích, đào phai càng quyến rũ hơn, giống như khuôn mặt yêu kiều của một cô gái được che phủ mờ mờ bởi một tấm khăn voan mỏng manh. Việc miền Bắc chơi đào, trong khi miền Nam chơi mai trong dịp Tết được giải thích là sau khi mở rộng bờ cõi về phương Nam vốn có khí hậu nóng hơn không thích hợp với việc trồng đào, mỗi khi Tết đến, những người đi mở đất nhớ đến cành đào ngoài Bắc nhưng không thể có được đã chọn mai (một cây hoa rất phổ biến ở trong Nam, đẹp, nhiều hoa lại nở đúng mùa Tết) để thay thế. Nếu ngày Tết mà thiếu hoa đào thì thiếu hẳn hương sắc mùa xuân. Mỗi dịp Tết đến xuân về, đào nở rộ như nhắc chúng ta nghĩ về gia đình, về một năm cũ đã qua… Hằng năm khi sắc vàng tươi của hoa mai đó rực rỡ khắp Nam Bộ, trong tiết trời se lạnh của mựa xuõn những cành hoa đào cũng bắt đầu nở rộ. hoa đào từ lâu đó chở thànhloài cõy khụng thể thiếu với mựa xuõn ở Bắc Bộ. Hoa đào có nhiều ở vùng ôn đới khí hậu ôn hoà. Đào xuất hiện ở Việt Nam đó từ rất lõu đời. mùa xuân khi đến thăm làng hoa Nhật tân, Ngọc Hoà ở Hà Nội…bạn sẽ thấy ngút ngàn những hàng đào nở rộ. ở nhiều vùng núi phía bắc có những rừng đào mọc tự nhiên với những gốc đào nở rộ. Tên khoa học của đào là Prunus Persica. Có bốn giống đào chính. Giống đẹp nhất có lẽ là bích đào. Hoa đào bích có nhiều cánh xếp chồng lờn nhau màu hồng thẫm. Bích đào được trồng để lấy hoa. Giống thứ hai là giống đào phai, hoa có năm cánh, cánh màu phớt hồng. Đào phai sai hoa sai quả được trồng để lấy quả. Giống đào bạch hiếm thấy, cây nhỏ ít hoa có màu trắng tinh khiết. Đào thất thốn có hoa màu đỏ thẫm, khó trồng, khó chăm sóc. Hoa đào nở vào cuối mùa đông, đầu xuân khi cái rét mướt đó nhường chỗ cho tiết trời ấm áp. Trong làn mưa phùn lất phất, hoa đào xoè cánh đón lấy cái tinh tuý của trời đất. Cánh đào mỏng mềm và mịn như nhung. Đào mọc thành từng bông riêng lẻ chứ không mọc thành chùm. Hoa đào thường nở 4-5 ngày thỡ tàn. Hao đào rất đẹp nhưng để có được cành đào đẹp trong ngày tết thỡ khụng phải dễ dàng. Đào trồng lấy quả thỡ ớt cụng chăm sóc nhưng đào lấy canh để bỏn thỡ phải chăm bón rất công phu. Từ việc đốn cành tỉa lá uốn cây theo các thế khác nhau đều phải rất tỉ mỉ và khéo léo. trước tột khoảng 15 ngày tên tuôta là để đào sai hoa vào đúng dịp Tết. Hoa đào góp phần tôn lên vẻ đẹp của khu vườn núi rừng và căn nhà nhỏ của bạn trong dịp tết đến xuân về. Bên cạnh bỏnh chưng xanh, câu đối đỏ, mâm cỗ tất niên là cành đào nhỏ đem lại sự ấm cúng cho mỗi gia đỡnh. Đào cũng lại thu nhập cao trong ngày tết cho người trồng cành đào thường có giá từ 30-45 nghỡn đồng, cồn ở các làng hoa mỗi cây có khoảng từ một trăm nghỡn đến một triệu đồng tuỳ từng loại. Hoa đào cũng gắn với thú chơi đào ngày tết của những người chuộng cây cảnh. họ tự tay uốn tỉa cành theo óc thẩm mĩ của riờng mỡnh. Đào là loài hoa thiêng liêng cựng với bánh chưng xanh khụng thể thiếu trong ngày tết cổ truyền của dõn tộc. Khách du lịch đến Việt Nam thường chọn cành đào về làm quà. Những người con xa xứ khi ngắm cành đào lại nhớ về quê hương của mỡnh. Từ xa xưa, đào đó được coi như một thi đề quen thuộc trong thơ ca. những tác phẩm tiêu biểu như truyện Kiêự của nguyễn Du, Ông Đồ của Vũ Đỡnh Liờn….đều có sắc thắm đào đỏ Ngoài ra, đào được sử dụng để chế thuốc rất hiệu quả. Hoa đào được chế làm thuốc đắp mặt, đem lại là da mát, mịn màng, hồng hào cho người phụ nữ. cùng với một số dược liệu khác, đào chế thành thuốc chữa bệnh thuỹ tũng và bí đại tiện rất hiệu quả. Danh y Tuệ tĩnh đó nhắc nhiều về cụng dụng của hoa đào trong cuốn sách y học nổi tiếng của mỡnh. Mùa xuân tiếp nối mùa xuân,thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, cuộc sống có vô vàn sự thay đổi nhưng hoa đào vẵn là loài hoa không thể thiếu trong mỗi dịp tết cổ truyền của dõn tộc ta. Thuyết minh cây hoa đào ngày tết bài mẫu 3: Lập dàn ý: Đề bài: Giới thiệu về hoa ngày Tết ở Việt Nam. 1.Mở bài: Ngày Tết được báo hiệu bởi những cơn mưa xuân ấm áp, những lộc non mơm mởn trên những cành cây, nhưng quan trọng nhất là sự xuất hiện của những cành mai, cành đào được bày bán trên vỉa hè của khắp các khu phố. 2. Thân bài: – Cây đào (danh pháp khoa học: Prunus persica) là một loài cây có lẽ có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng để lấy quả hay hoa. Nó là một loài cây sớm rụng lá, thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5–10 m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7–15 cm và rộng 2–3 cm. Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá; hoa đơn hay có đôi, đường kính 2,5–3 cm, màu hồng với 5 cánh hoa. – Hoa đào có rất nhiều loại: Đào phai, đào ta, bạch đào,đào bích…. Đào bích là loài hoa đào phổ biến, cành hoa thắm sắc, hoa rải đều khắp các cành, các tán, xen lẫn nụ hoa xinh với những lộc xanh, chen lẫn những cánh hoa xòe tán với những nụ vừa nhú. Bích đào dù được cắm trong lọ để phòng khách, trên bàn tiếp khách hay vài cành nhỏ cắm trên bàn thờ gia tiên cũng đều đẹp. Đào phai hoa kép, sắc hồng phảng phất kiêu kì. Một cành đào phai có giá cao hơn đào bích mà cũng khó tìm được cành ưng ý hơn. – Để có một cây hoa đào đẹp, một cành hoa đào thắm tươi, những người trồng đào phải rất vất vả. Chúng ta sẽ có một cây đào con, cao khoảng 50-60 cm khi thời gian gieo hạt là 7-8 tháng trước đó. Vì vậy, để có những chậu đào vào dịp Tết thì đào thường được trồng vào mùa thu(tháng 8,9,10). Đầu tiên, chúng ta phải tiến hành đem gieo hạt đào dại, đào đắng để làm gốc ghép. Sau đó, chúng ta phải bón phân tăng trưởng, thuốc trừ sâu cho từng cây. Người trồng đào cũng cần phải giữ đào trong một nhiệt độ nhất định để đảm bảo đào ra hoa đúng vào dịp Tết Nguyên Đán. 3. Kết bài: Hoa đào là đặc trưng của miền Bắc trong dịp Tết đến, xuân về. Đối với em, một cành đào có thể thay thế cho bất kì loài hoa, quả nào của mùa xuân. Nhìn hoa đào chúm chím môi hồng trên cành là thấy xuân về, đất trời như bừng tỉnh trong hương sắc mùa xuân. Dù ở xa quê hương, chắc chắn trong lòng mỗi người con gốc Việt cũng khó có thể quên được màu hồng tươi thắm, trong sáng của hoa đào và niềm hạnh phúc tinh thần của mỗi người dân Việt do loại hoa thần kì đó mang lại.
Thuyết minh cây hoa đào ngày tết
1,660
Đề bài: Quê hương em có nhiều lễ hội có ý nghĩa. Em hãy viết bài thuyết minh giới thiệu một lễ hội đặc sắc nhất. Bài làm Lễ hội là tín ngưỡng văn hoá của mỗi dân tộc. Hầu như làng, xã nào cũng có lễ hội được tồ chức vào đầu xuân. Mọi người dân Thuận Thành, Bắc Ninh thường có câu ca: Dù ai buôn đâu, bán đâu Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu. Câu ca dao như một lời nhắc nhở các tín đồ phật giáo hãy nhớ về hội Dâu được tổ chức vào đầu xuân hàng năm. Hội Dâu được tổ chức vào mồng 8 tháng 4 âm lịch hàng năm. Chùa Dâu là một ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được xây dựng vào những năm đầu thế ki XV. Mặc dù vậy chùa Dâu vẫn giữ được những nét nguyên bản từ khi được xây dựng tới nay. Hàng năm, chùa Dâu thu hút rất nhiều tín đồ đến thắp hương, đặc biệt là vào dịp lễ hội. Vào mỗi dịp lễ hội, người dân háo hức tổ chức sửa sang chùa chiền. Ngay từ chiều mùng 7 đã có lễ rước các bà Dâu, bà Đậu, bà Dàn, bà Keo mà theo truyền thuyết bốn bà được tạc từ một cây dâu, chị cả là bà Dâu nên chùa Dâu được xây dựng lớn nhất. Đặc biệt vào ngàv mồng 7, các vãi đến để cúng, quét dọn và làm lễ rửa chùa. Ngày hội chính diễn ra rất sôi động, náo nhiệt. Mọi người đến đây với lòng thành kính, kính mong đức phật ban cho sự an lành, ấn no. Chùa có rất nhiều gian, điện, đặc biệt có pho tượng Kim Đồng – Ngọc Nữ đạt đến chuẩn mực nghệ thuật cao với các tỉ lệ của người thật. Hành lang hai bên có những pho tượng với nhiều tư thế, nét mặt khác nhau. Người ta đến lỗ hội không chỉ để thắp hương, cầu an mà còn để vui chơi, đón không khí ngày xuân. Có rất nhiều trò chơi được tổ chức trong lễ hội như: đu quay, hát quan họ đối đáp, giao duyên giữa các liền anh, liền chị dưới thuyền rồng với những trang phục mớ ba, mớ bảy cổ truyền. Khắp sân chùa là những hàng bán đồ cúng, những nén hương trầm, hay những đồ chơi dân gian cho trẻ em như sáo, trống… hoặc chỉ là những bông lan thơm ngát. Tất cả tạo ra một không khí cộng đồng ấm cúng. Mọi người quên đi sự bận rộn, quên đi sự bon chen, thách thức để nhớ tới đức phật cùng sự thánh thiện, nhớ tới cõi bình an của tâm hồn. Khoảng 7 giờ sáng ngày 8/4, người ta đã nghe thấy tiếng chiêng, tiếng trống và tiếng cúng tế dâng sớ cầu mong bình an, lạy tạ các vị thánh thần, phật pháp của đội tế lễ tứ sắc chùa lập ra. Đặc biệt, ở lễ hội Dâu thờ Tứ Pháp là Pháp Vân (bà Dâu), Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi. Sau khi các cụ làm lễ xong, đoàn rước từ chùa Tổ bắt đầu quay về, hàng đoàn người kéo nhau đi theo hộ tống. Người đi đầu cầm bình nước, người thứ hai dâng hương, tiếp đó là đoàn kiệu được những trai tráng của lồng khiêng. Họ mặc những trang phục như quân tốt đỏ thời xưa, theo sau là các bà mặc áo nâu đội sớ. Người cầm nước vừa đi vừa cầm cành trúc vẩy nước vào những người xung quanh như ban sự may mắn cho mọi người. Người ta quan niệm rằng ai được vẩy nước vào sẽ may mắn, được Phật ban phước quanh năm và được Phật phù hộ, bảo vệ. Khi hội tan, mọi người về rồi thắp hương ở ngoài sân thờ nhớ lời hẹn gặp năm sau. Nhưng lạ lùng hơn hầu như năm nào sau hội trời cũng mưa và người dân cho đấy là lễ tẩy chùa, ở một khía cạnh nào đó thì đây được coi như một điều linh nghiệm huyền bí. Lễ hội thể hiện trình độ tổ chức cao, sự kết hợp giữa làng xã và ý thức cộng đồng, cuốn hút khách thập phương với những nét nghệ thuật, văn hoá đặc sắc, phong phú. Đối với Bắc Ninh, cái nôi của Phật giáo thì đây là dịp thể hiện sự tài hoa, tinh tế, lịch lãm trong văn hoá ứng xử, giao tiếp. Là một người con của Bắc Ninh, em cảm thấy tự hào về truyền thống của quê hương mình và em sẽ luôn có ý thức bảo vệ và gìn giữ những nét văn hoá ấy, đặc biệt là những lễ hội truyền thống mang đậm nét văn hoá dân tộc vào những ngày đầu xuân.
Thuyết minh giới thiệu một lễ hội đặc sắc nhất ở quê em
831
Đề bài: Em hãy thuyết minh hồ Gươm Bài làm Hồ Gươm – cái tên gây thương nhớ đối với tất cả những người dân Hà Nội. Được biết đến không chỉ là danh lam thắng cảnh đẹp của Hà Nội, nó còn là di tích lịch sử của nước ta. Và thực sự Hồ Gươm cũng được mệnh danh chính là một biểu tượng của thủ đô. Ta như nghe tên Hồ Gươm được gắn với truyền thuyết Lê Lợi và đó còn là cả cuộc khởi nghĩa Lam Sơn năm nào. Hồ Gươm như cũng đã cùng thần kim quy đã giúp nước ta thoát khỏi ách đô hộ của giặc Minh xâm lược nước ta. Thế rồi không ai trong chúng ta như thấy được chính sự tích trả gươm rùa thần của Lê Lợi đã làm nên cái tên “Hồ Gươm” hay cái tên nhắc nhớ đó là “Hồ Hoàn Kiếm”. Không chỉ dừng lại ở hai cái tên đó mà ngày nay thay cho tên “Hồ Lục Thủy” ngày xưa vậy. Nếu như có dịp đến với hồ Gươm thì ta như thấy được trên hồ có hai hòn đảo đó chính là đảo Ngọc và đảo Rùa. Khi đến với đầu thế kỷ 19, khi mà người ta dựng một ngôi chùa trên đảo Ngọc gọi là chùa Ngọc Sơn. Thế rồi ít lâu sau chùa không thờ Phật mà thờ thánh Văn Xương và Trần Hưng Đạo nên đổi tên thành Đền Ngọc Sơn. Cho đến năm 1864, thì lúc này ta như thấy được trên gò Ngọc bội đối diện với đảo Ngọc, Tháp bút được xây dựng cũng đã tạo lên một quần thể cho hồ Gươm. Hồ Gươm ngày nay hay ngay cả trong lưu truyền đó chính là hồ nước ngọt tự nhiên của Hà Nội. Sở hữu một diện tích 12 ha, thì lúc này ta như thấy được chính nước hồ quanh năm xanh ngắt. Đặc biệt hơn ta như thấy được chính hồ có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố “nhớ mặt đặt tên” đó chính là các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ… theo với đó chính là các khu phố Tây do người Pháp quy hoạch có thể kể ra đó chính là các phố Tràng Thi, Bảo Khánh, Nhà Thờ, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu… Và cũng cho đến thăm Hồ Gươm ngay giữ lòng thủ đô thì ta như không thể không thấy hình ảnh tượng trưng của nó. Đó là tháp Rùa. Tháp Rùa cũng chính là một công trình được xây dựng nằm ở trung tâm hồ chịu ảnh hưởng của đặc trưng kiến trúc Pháp. Tháp Rùa được xây dựng với mô hình chữ nhật, có bốn tầng. Thế rồi ta như thấy được chính kiến trúc từng tầng khá giống nhau. Điểm hay ở đây đó chính là các mặt được xây dựng đều có cửa uốn thon gọn. Tháp Rùa lúc này đây cũng như đã được coi là kiến trúc có tính chất lịch sử quá đỗi thiêng liêng đối với không chỉ người dân Hà Nội mà nó như cũng chính còn là cả con người Việt Nam. Đặc biệt, khi một lần bạn dạo chơi đến với Hồ Gươm thì hầu như ai cũng dành chút thời gian để bước chân lên chiếc cầu Thê Húc. Cầu Thê Húc là nơi đón ánh nắng đầu tiên của mặt trời, cây cầu có màu son dẫn vào đền Ngọc Sơn. Ta như dễ nhận thấy được chính sự kết hợp giữa đền Ngọc Sơn và đó cũng chính là hồ Hoàn Kiếm đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên – Nhân hợp nhất để có thể tạo vẻ đẹp cổ kính hài hòa cho đền và hồ. Tất cả dường như cũng đã gợi nên những cảm giác chan hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngoài ra, ta như thấy được chính Hồ Gươm còn gắn liền với các địa danh khác như Tháp Bút, Đài Nghiên, Đền thờ vua Lê…. Tất cả những di tích đó thì Hồ Gươm đã cùng với thời gian. Hồ như cũng đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Thật không có gì quá nếu như ta so sánh hồ Gươm với cầu Long Biên hay bất kỳ một địa danh nào khác của Hà Nội thì Hồ Gươm được xem là dấu ấn riêng của Hà Nội mỗi khi nhớ về. Là một trong những biểu tựng đẹp của thủ đô – Hồ Gươm thực sự là một trong địa điểm nên đến của Thủ đô. Hà Nội luôn luôn tự hào vì có Hồ Gươm. Hồ Gươm như chính là vừa là danh lam thắng cảnh, vừa là di tích lịch sử đồng thời cũng chính là dấu ấn là tri kỉ của Hà Nội, người Hà Nội. Hơn hết, ta như thấy dduwjojc, ngày nay thì Hồ Gươm còn là địa điểm du lịch, nơi nghỉ ngơi vui chơi học tập của mọi người ở người dân Hà Thành.
Thuyết minh hồ Gươm
853
Đề bài: Thuyết minh một di tích văn hoá, lịch sử hay một danh lam thắng cảnh: Tam Cốc – Bích Động Bài làm Tam Cốc – Bích Động thuộc cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội khoảng 100km về phía Nam. Tam Cốc – Bích Động là danh thắng được ngợi ca là “Nam thiền đệ nhị động". Cảnh sắc ở đây không chi đượm mùi Thiền mà còn gợi nhớ, còn ghi những dấu tích lịch sử hơn nghìn năm về trước: nơi trú quân của Đinh Bộ Lĩnh trong những năm tháng đánh dẹp “nhị thập sứ quân", nơi Thái hậu Dương Vân Nga du xuân cùng Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Thiên nhiên Tam Cốc – Bích Động là điểm du lịch nổi tiếng cho những du khách muốn tẩy sạch "bụi trần". Cái thú là đến với Tam Cốc bằng thuyền con. Tam Cốc gồm có ba hang: hang cả, hang Hai và hang Ba. Hang nào cũng lung linh huyền ảo sắc màu với hàng nghìn nhũ đá với bao huyền tích. Cảnh rồng cuộn hổ quỳ, cảnh tiên nga tắm mát, cảnh tiều phu gánh củi, cảnh ngư õng râu tóc bạc phơ ngồi trên thạch bàn câu cá, cảnh đàn công vũ hội, v.v… thấp thoáng, ẩn hiện trên vòm hang vách động, như dẫn hồn du khách vào thế giới Bồng Lai. Sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyén. vào vách hang lúc nghe rì rào róc rách, lao xao rì rào hòa cùng tiếng gió thì thầm thì thào như tiếng thần Núi từ cõi linh thiêng từ ngàn xưa vọng về. Hang Cả là hang đẹp nhất của Tam Cốc. Con thuyền nan nhè nhẹ luồn vào hang Cả dài 127 mét. nằm trong lòng một trái núi lớn; hai bên hai dãy núi tựa dãy trường thành che chắn dòng sông uốn khúc, nước xanh trong. Cửa hang rộng hơn 20 mét. vách hang uốn vòng cung vòm hang, về mùa hè, không khí trong hang mát lạnh, ai cũng cảm thấy khoan khoái, thư thái cả tâm hồn. Qua hang cả, ta nhìn thấy một màu xanh bao la của đồng lúa. Xa xa bên sườn non, từng đàn dê hiền lành nhởn nhơ ăn lá cây. Vách núi cheo leo, lủng lẳng những nhành phong lan, hoặc đỏ hồng, hoặc tím biếc, hoặc trắng phau như đàn bướm sặc sỡ đang dập dờn bay. Đi tiếp ta sẽ đến hang Hai, hang Ba, như lần bước vào cõi thâm u tĩnh lặng của thần Sông, thần Núi. Du khách bâng khuâng tự hỏi: "Có phải nơi đây Thái hậu Dương Vân Nga mừng đón Lê Đại Hành đại phá giặc Tống từ ải Bắc trở về..?" Suối Tiên chính là đây, cách hang Cà non 4km. Dòng suối trong vắt có thể nhìn thấu đến tận đáy. Từng đàn cá nhỏ và dài nối đuôi nhau bơi lượn, ẩn hiện giữa bao lớp rong rêu. Tắm nước suối Tiên, da thiếu nữ sẽ ánh lên màu ngà ngọc. Hoa súng tím hồng lơ thơ nhô lên làm cành Suối Tiên thêm hữu tình, thơ mộng. Từ suối Tiên ta đến thăm Bích Động. Nam thiên đệ nhị động là đây. Bích Động nghĩa đen là Động Xanh. Xanh trời, xanh ruộng, xanh suối, xanh núi, xanh hang, xanh động mênh mông Bích Động có ba ngôi chùa được xây cất, tôn tạo trên sườn non vách núi: chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng. Qua Thạch Kiều uốn cong, du khách nhìn thấy một cây si xanh biếc bốn mùa mọc trên một mỏm đồi, được gọi là Bánh Dày. Theo truvền thuyết, ai đói khổ đến ôm gốc cây si này sẽ được ấm no. Từ chùa Hạ leo qua khoảng 60 bậc đá thì đến chùa Trung, ngôi chùa bán mái. Chính diện nằm thụt vào vách núi, hang sâu. Tường chùa được xây toàn bằng lá. Một chiếc khánh đá rất to có từ xa xưa. Vượt qua hơn 30 bậc đá nữa, ta sẽ tới chùa Thượng. Tể tướng Nguyễn Nghiêm thân phụ của thi hào Nguyễn Du, từng lưu lại văn thơ: "Núi đá, vườn cây tới đình chùa". Các chùa ở Bích Động có nhiều mộ tháp bằng đá nhấp nhô trong vuờn chùa. Có rất nhiều tượng Phật rất cổ kính quý giá. Vườn chùa xanh um, cây ăn trái, hàng trăm loài hoa đẹp đua sắc khoe hương quanh năm. Bích Động có 5 ngọn núi bao quanh, chầu về gọi là Ngũ Nhạc Sơn. Chỉ một tiếng chuông chùa ngân lên tức thì có năm tiếng chuông từ vách núi Ngũ Nhạc Sơn vọng lại. Du khách nào may mắn đến vãn cảnh Bích Động hái được vài đóa Sơn Kim Cúc bé xíu như chiếc cúc vàng; đem về nhà ướp vào trà, pha nước suối Tiên, chỉ một chén nhỏ mắt sẽ sáng lên. Món quà Trời cho ấy đâu dễ có?
Thuyết minh một di tích văn hoá, lịch sử hay một danh lam thắng cảnh_ Tam Cốc – Bích Động
829
Thuyết minh một loài hoa, quả mà em thích nhất Hướng dẫn Thuyet minh ve qua xoai – Đế bài: Em hãy viết bài văn thuyết minh một loài hoa, quả mà em thích nhất. Thuyết minh về quả xoài Cây xoài thuộc họ cây sơn. Ở miền Nam nước ta trồng rất nhiều xoài. Xoài thuộc thân cây gỗ, lưu niên, có cây xoài cao to, sum suê như cây đa, cây đè. Các nhà làm vườn dùng cách chiết cành có thể tạo ra những cây xoài chỉ cao hơn đầu người đã cho hàng trăm quả mỗi vụ. Thuyết minh về quả xoài Hoa xoài trăng trắng, nờ thành từng chùm. Ong rất thích hoa xoài. Mùa hoa, ong kéo đến dập dìu hút mật, lúc nào cũng nghe tiếng vù vù trên các vòm lá, chùm hoa. Quả xoài có nhiều tên: quả vọng, quả mật vọng, quả hương cái. Xoài chín rộ vào mùa hè, mùa thu. Quả tròn dẹt hoặc hình quả thận. Lúc chín màu vàng bóng, thịt xoài vàng tươi, nhiều nước, hương thơm, vị ngọc, hạt xoài to dẹt, có xơ xương tựa như cái mõ chùa bé xíu. Xoài được tôn vinh là “vua của các loài quả” trong vườn cây ăn trái. Quả xoài chúa nhiều vi ta min C, B1, B2, ca-rô-ten, đường, prô-tít, V.V… Xoài tượng, xoài cát, xoài thanh ca, xoài voi, xoài cơm, xoài quéo,… thứ nào cũng quý và thơm ngon.
Thuyết minh một loài hoa, quả mà em thích nhất
237
Đề bài: Thuyết minh một loài hoa, quả: Quả phật thủ Bài làm Phật thủ là là loại cây thuộc họ cây ván hương. Mỗi năm cho trái một lứa; chín vào mùa đông. Trái phật thủ có hình dáng kỳ lạ: phía dưới gần cuống hình tròn, phía trên mọc như hình bàn tay mở ra có các ngón. Phật thủ nghĩa là tay phật. Trái phật thủ chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển màu vàng tươi, vỏ ngoài nổi lên các núm vú, không có múi và hạt. Trái phật thủ chín cũng không ăn tươi được, nhưng rất thơm, hương dìu dịu lâng lâng. Quả chín đem thái thành miếng nhỏ, đem sấy hoặc phơi khô, càng để lưu niên càng tốt, gọi là trần phật thủ. Trái phật thủ đem hãm, hoặc sắc thành vị thuốc để chữa đờm, giảm ho, chữa trị chứng buồn nôn, tức ngực. Phật thủ được trồng nhiều ở miền Nam nước ta. Mâm ngũ quả ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên không thể không có trái phật thủ. Nó được bày ở vị trí trung tâm. Màu vàng tươi, mùi thơm ngát của phật thủ như làm đẹp làm thơm lên nhiều lần cam, quýt, hồng, bưởi… trên mâm ngũ quả. Chọn phật thủ phải chọn quả to, có dáng hình xinh đẹp. mềm và dai, vỏ xanh hoặc vàng…
Thuyết minh một loài hoa, quả_ Quả phật thủ
227
Thuyết minh ngắn về một danh lam thắng cảnh ở quê em Hướng dẫn KHU DI TÍCH DANH THẮNG CÔN SƠN Khu di tích ở xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, nằm giữa hai dãy núi Phượng Hoàng – Kì Lân, cách Hà Nội khoảng 70 km. Khu di tích, danh thắng này gồm có núi non, chùa, tháp, rừng thông, khe suối và các di tích nổi tiếng gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân trong lịch sử. Ngay từ thời Trần, chùa Côn Sơn là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn – Yên Tử – Quỳnh Lâm). Mảnh đất này đã gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân đất Việt như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang và đặc biệt là anh hùng dân tộc – danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi. Côn Sơn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và đọc bia về Nguyễn Trãi. Ngày nay, Côn Sơn còn lưu giữ được những dấu tích văn hóa thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp. Tiêu biểu là: Chùa Côn Sơn Chùa có tên chữ là Tư Phúc tự, hay còn gọi là chùa Hun, toạ lạc ở ngay dưới chân núi Côn Sơn, có từ trước thời Trần. Vào thời Lê, chùa được trùng tu và mở rộng rất nguy nga đồ sộ. Trải qua biến thiên về lịch sử và thời gian, chùa Côn Sơn ngày nay chỉ còn là một ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới tán lá xanh của các cây cổ thụ. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ công (I) gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện. Thượng điện thờ Phật, có những tượng Phật từ thời Lê cao 3m. Phía sau chùa là nhà Tổ, có tượng Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông – Pháp Loa – Huyền Quang), tượng ông bà Trần Nguyên Đán, hai pho tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Sân chùa có cây đại 600 tuổi, 4 nhà bia, đặc biệt là bia “Thanh Hư động” tạo từ thời Long Khánh (1373 – 1377) với nét chữ của vua Trần Duệ Tông và bia hình lục lăng, “Côn Sơn thiện tư bi phúc tự” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc khi Người về thăm di tích này (15 – 2 – 1965). Giếng Ngọc Giếng nằm ở sườn núi Kì Lân, bên phải là lối lên Bàn Cờ Tiên, phía dưới chân lăng Minh Bảo Tháp. Tương truyền đây là giếng nước do Thiền sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quý. Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm, uôhg vao thấy khoan khoái dễ chịu. Từ đó có tên là Giếng Ngọc và nước ở giếng được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa. Bàn Cờ Tiên Từ chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc đá là đến đinh núi Côn Sơn (cao 200m). Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tại đây có một phiến đá khá rộng, được gọi là Bàn Cờ Tiên. Hiện nay Bàn Cờ Tiên có dựng nhà bia theo kiểu Vọng Lâu đình, hai tầng cổ, gác tám mái. Đứng từ dây, du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn. Thạch Bàn Bên suôi Côn Sơn có một phiến đá gọi là Thạch Bàn, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân nghỉ khi Người tới thăm di tích này. Đi theo lối mòn có kê đá xuống phía chân núi có một tảng đá lớn, mặt phẳng và nhẵn nằm kề ven suối gọi là Thạch Bàn lớn. Tương truyền khi xưa Nguyễn Trãi lấy làm “chiếu thảm” nghỉ ngơi, ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước.
Thuyết minh ngắn về một danh lam thắng cảnh ở quê em
626
Thuyết minh phương pháp làm đồ dùng học tập Hướng dẫn 1.Mở bài: Học tập sẽ rất căng thẳng nếu bạn học không đúng cách. Một trong những cách giải trí là tạo ra những đồ dùng học tập để bày ở bàn mình. Ta hãy cùng trang trí góc học tập của mình với “chú nhím mang bút”. 2.Thân bài: Chuẩn bị để làm “chú nhím mang bút bi”, cần: – Đất sét -Giấy bạc -Sơn hoặc bột màu vẽ. Cách làm: -Dàn đất cho mỏng, cho nắm giấy bạc vào giữa, bọc đất kín xung quanh. -Xoa đất thành hình con nhím. Dùng đuôi bút chỉ chọc thành những lỗ tròn. -Nặn 4 chân và mũi gắn vào thân nhím. Vẽ mắt, miệng cho nhím. -Đợi cho đất sét và màu khô đặt nhím lên bàn, cắm bút của mình vào những cái lỗ trên mình nhím. Yêu cầu: -Không bị nhòe màu. -Trên mình nhím có nhiều lỗ, với khoảng cách thích hợp. -Màu sắc thích hợp. 3.Kết bài: Qua đồ dùng học tập này, các bạn gái sẽ biểu diễn tài khéo tay của mình. Những chú nhím này sẽ giúp bạn thư giãn mỗi khi học tập căng thẳng. Ngoài chú nhím, bạn nên sáng tạo thêm các con vật khác. Viết bài thuyết minh phương pháp làm Ống dựng bút bằng bìa. Trên bàn học của bạn hẵn không thể thiếu một cái ống đựng bút xinh xắn. Nếu mua ngoài hàng thì không nói làm gì, nhưng nếu bạn tự tay làm nó thì sẽ rất độc đáo đấy. Đầu tiên, bạn hãy lấy tấm bìa cứng, cuốn lại thành hình trụ để làm ống đựng rồi dùng keo dính lại. Đặt ống đó lên tấm bìa mỏng. Vẽ một hình tròn quanh đáy ống bơ và vẽ hình cây cỏ liền vào hình tròn đó. Dùng kéo cắt rời hình vừa vẽ. Đặt hình vừa vẽ lên giấy màu xanh lá cây, căn đều và dùng kéo cắt rời, dán hai phần lại với nhau. Tương tự như hình cây cỏ, bạn có thể vẽ nhiều hình khác theo trí tưởng tượng của bạn. Phủ giây màu xanh da trời quanh ống, dán lại. Phần hình tròn dán dưới đáy ống, hình cây cỏ phủ gấp lên trên, cắt một sọc giấy bìa cứng làm thân bông hoa sao cho thân đó cao hơn ống một chút và cắt một bông hoa đính vào thân. Cuối cùng, đặt bông hoa đính vào đáy ống. Vậy là chúng ta đã có một ống đựng bút xinh xắn (chiếc ống này phải bền, đẹp và các mối nối phải chắc chắn). Tương tự như vậy, bạn có thể làm được nhiều ống đựng bút với hình thù và màu sắc khác nhau. Với chiếc ống này, bạn có thể để những chiếc bút vào đó mà không sợ bị thất lạc.
Thuyết minh phương pháp làm đồ dùng học tập
464
Thuyết minh truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri Hướng dẫn làm bài – Về nội dung. Đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của nhà văn Mĩ Ô-hen-ri là bức thông điệp màu xanh tác giả gửi đến người đọc để ca ngợi tình bạn chung thủy, ca ngợi mục đích và ý nghĩa cao quý của nghệ thuật: hãy yêu thương con người, hãy hi sinh vì sự sống của con người. Xiu và Bơ-men là hai nhân vật bổ sung cho nhau, trong đó Bơ-men là nhân vật nổi bật nhất nhằm ca ngợi tình bạn thủy chung, ca ngợi mục đích và ý nghĩa cao cả của nghệ thuật. Cụ Bơ-men vì muốn Giôn-xi sống, đã bất chấp tuổi già và gió rét mà vẽ cho được bức tranh. Vì thế, cụ kiệt sức mà qua đời: còn Giôn-xi, nhờ được xem bức tranh của cụ Bơ-men vẽ (mà cô tưởng là cảnh thực), nên đã lần hồi vượt qua được cơn đau, qua cơn hấp hối mà sống lại. Giôn-xi và Bơ-men là hai nhân vật nổi bật nhất trong truyện. Vì hai nhân vật này đã được tác giả chú ý thể hiện và thông qua họ, tư tưởng chủ đề của truyện được bộc lộ. Tác phẩm là một bản ca ca ngợi tình yêu cuộc sống chiến thắng bệnh tật và định mệnh ; ca ngợi ý nghĩa nhân sinh cao cả của lao động nghệ thuật chân chính, sự lao động nghệ thuật quên mình vì người khác ; đồng thời, tác phẩm cũng bày tỏ niềm cảm thông với cuộc sống đói nghèo của giới họa sĩ, cùng giới thiệu với bạn đọc một phẩm chất cao quý của những người nghệ sĩ chân chính. Truyện được đặt trong không gian (hay nói đúng hơn là kể về một phần cuộc sống của một xóm nghèo ở phía tây công viên Oa-sinh-tơn mà cư dân gồm toàn những họa sĩ) vào thời gian là những ngày mùa đông lãnh lẽo. Việc khắc họa tỉ mỉ không gian và thời gian ấy nhằm làm nổi bật rõ cảnh ngộ éo le, khó khăn thê thảm của xóm họa sĩ nghèo. Tuổi tác, tính tình kết hợp với hình ảnh tấm vải vẽ trống trơn thể hiện rằng nỗi trăn trở muốn vẽ một kiệt tác của họa sĩ Bơ-men là nỗi trăn trở. Khát khao lớn của cả đời ông. Đó là ấp ủ của cả đời cụ mà chưa có điều kiện để thực hiện và luôn luôn cụ vẫn mong thực hiện cho được. Chiếc là « thường xuân » cụ vẽ trên tường đối với cụ và đối với nhiều người khác, quả là một kiệt tác. Vì bức vẽ đó đã có tác dụng khơi dậy nỗi ham sống, nghị lực vươn lên sống, chiến thắng được bệnh tật ở Giôn-xi. Đó là một hiệu quả thực sự to lớn mà không nhiều họa sĩ làm được. Thuyết minh truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri Về nghệ thuật. Truyện đã sử dụng thành công thủ pháp đảo lộn tình thế hai lần một cách đột ngột, bất ngờ để hấp dẫn người đọc và bộc lộ chủ đề. Tham khảo bài làm của Gia Linh từ Ông Thầy Say Thơ Truyện ngắn là một hình thức tự sự loại nhỏ, dung lượng ngắn, có cốt truyện và ít nhân vật, miêu tả một khía cạnh, tính cách, một mảnh trong cuộc đời nhân vật. Tuy là truyện ngắn nhưng nó đề cập đến những vần đề lớn lao trong cuộc sống như truyện “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen – ri trong chương trình Ngữ văn 8. Một tác phẩm đặc sắc đã để lại trong lòng người đọc những nỗi niềm trăn trở. O Hen-ri sinh năm 1862 mất năm 1910 là nhà văn Mĩ chuyên viết truyện ngắn. Truyện của ông nổi tiếng là dí dỏm, dễ hiểu, giàu tình cảm và luôn có những cái kết bất ngờ và khéo léo. Những truyện của O Hen-ri thường nhẹ nhàng nhưng toát lên tinh thần nhân đạo cao cả, tình thương yêu người nghèo khổ, rất cảm động. Được bạn đọc yêu thích hơn cả như: Căn gác xép, Tên cảnh sát và gã lang thang, Quà tặng của các đạo sĩ,… và “kiệt tác” Chiếc lá cuối cùng. Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri Chiếc lá cuối cùng là một trong những truyện ngắn hay nhất của O Hen-ri. Câu chuyện kể về Xiu, Giôn-xi và cụ Bơ-men – những họa sĩ nghèo cùng sống trong một căn hộ thuê gần công viên Oa-sinh-tơn. Giôn-xi bị bênh viêm phổi khá nặng, cô thấy tuyệt vọng và tin rằng khi chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân cạnh cửa sổ rụng xuống, cô cũng sẽ lìa đời. Kì diệu thay, sau một đêm mưa bão khủng khiếp, chiếc lá ấy vẫn dũng cảm bám vào cành cây bằng sự kiên cường mãnh liệt. Điều đó đã khiến Giôn-xi thay đổi ý nghĩ về cái chết của mình, cô không còn muốn chết nữa mà đã lạc quan, vui vẻ và có niềm tin vào cuộc sống hơn. Qua lời kể của Xiu, Giôn-xi mới biết rằng chiếc lá ấy là do cụ Bơ-men đã vẽ vào ngay cái đêm mà chiếc lá cuối cùng rụng xuống, trong khi đó, để cứu sống Giôn-xi, cụ Bơ-men đã hi sinh mạng sống của mình. Điều gì đã khiến chiếc lá cuối cùng vẫn còn đấy, vẫn đeo bám vào cây dây leo mỏng manh mặc cho mưa gió trút xuống? Điều gì đã khiến Giôn-xi – con người tàn nhẫn có ý nghĩ quái gở ấy lấy lại niềm tin vào cuộc sống? Phải chăng tất cả đều là một phép màu? Vâng! Đúng là có phép màu, không phải phép màu nhiệm xảy ra ở trong truyện cổ tích mà ta thường đọc, cũng không phải do ông tiên hay thần linh nào ban tặng mà đó là phép màu của tình yêu thương. Chính cụ Bơ-men – con người có tình yêu thương, giàu đức hi sinh cao cả ấy đã làm cho chiếc lá vẫn còn mãi, vẫn tươi xanh mặc bao giông gió vùi dập phũ phàng. Chiếc lá vẫn đeo bám lấy sự sống để Giôn-xi thấy rằng: cuộc sống này đáng quý biết bao! Đáng trân trọng biết bao! Tại sao lại không yêu quý, trân trọng từng phút giây được sống mà lại đặt cược mạng sống của mình vào những chiếc lá thường xuân? “Kiệt tác” của cụ Bơ-men cũng đã cho Giôn-xi biết rằng: cô đã quá yếu đuối, tệ bạc với cuộc đời và chính bản thân mình. Xiu cũng là một nhân vật đáng ca ngợi, một cô gái với tình bạn cao đẹp, chung thủy, hết lòng với Giôn-xi. Dù hoàn cảnh cũng nghèo khó nhưng cô luôn động viên Giôn-xi chiến thắng bệnh tật, khát khao sống với cuộc đời. Từ hiện thực đầy rẫy những bất công vô lý, đem đến bao bất hạnh cho những con người nghèo khổ, nhà văn luôn khơi dậy được vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật qua tình huống truyện thật bất ngờ và cảm động. Thành công của “Chiếc lá cuối cùng” còn phải kể đến tài năng viết truyện điêu luyện của O Hen-ri đặc biệt là nghệ thuật đảo ngược tình huống hai lần và việc kể, tả tâm trạng nhân vật. O Hen-ri đã rất khéo léo trong việc lựa chọn ngôi kể thứ ba để có thể kể hết câu chuyện của nhân vật một cách khách quan, biểu thị thái độ đánh giá, bộc lộ các khía cạnh khác nhau cùa từng nhân vật. Truyện được xây dựng theo kiểu có nhiều tình tiết hấp dẫn, sắp xếp chặt chẽ và khéo léo khiến người đọc bị lôi cuốn vào câu chuyện một cách say mê, hứng thú. Kết thúc truyện thật bất ngờ khiến cho người đọc phải ngẫm nghĩ rất nhiều về sự hi sinh cao cả của cụ Bơ-men mà Giôn-xi lại không phản ứng gì thêm, tạo sự dư âm cho truyện ngắn đặc sắc này. Chiếc lá cuối cùng là một tác phẩm có giá trị cao đối với nền văn học thế giới. Một truyện ngắn gởi thông điệp đến mọi người quan niệm về nghệ thuật và tình người thật đẹp trong cuộc sống: Đó chính là người nghệ sĩ phải sáng tạo ra những tác phẩm không chỉ bằng tài năng mà bằng cả trái tim. Một trái tim chan chứa tình yêu thương giữa con người với con người. Dư âm của câu chuyện sẽ mãi lắng đọng trong tâm trí ngưởi đọc xoay quanh chiếc lá cuối cùng – một “kiệt tác nghệ thuật” của O Hen-ri. Hiếm có một truyện ngắn nào mang một sức sống mãnh liệt và để lại nhiều cảm xúc như “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen – ri. Có lẽ chất triết lý trong truyện ngắn đã tạo nên vẽ đẹp trường tồn và chính vì thế, “chiếc lá” ấy còn mãi với thời gian.
Thuyết minh truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri
1,524
Thuyết minh truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao Hướng dẫn làm bài Về nội dung. Tác phẩm lão Hạc của nhà văn Nam Cao là truyện ngắn đặc sắc được coi là truyện ngắn hiện thực trong trào lưu hiện thực phê phán của thời kì 1930 – 1945. Đây là truyện ngắn chứa chan tình người lay động đến cõi thâm sâu của tâm hồn khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn, bất hạnh của Lão Hạc. Nhân vật lão Hạc đã để lại trong lòng ta bao nỗi ám ảnh và suy nghĩ về số phận người nông dân nghèo trong xã hội Việt Nam cũ. Qua việc miêu tả cái chết, tác giả đã làm sáng tỏ hơn bao giờ hết nhân cách của lão Hạc. Lão Hạc thà chết chứ không thèm ngửa tay ăn xin, thà chết chứ không muốn để phiền lụy đến hàng xóm, thà chết chứ nhất định không chịu ăn tiêu vào tài sản của con (ba sào vườn của mẹ nó để lại cho nó). Thông qua số phận đau khổ, nghèo khó của một nông dân, tác giả đã vẻ lại một cách chân thực số phận thê thảm của người nông dân trước CMT8, đồng thời ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của họ trong những giây phút khốn cùng nhất. Thuyết minh truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao Nỗi khốn cùng của lão Hạc: Nghèo đến mức không lo đỏ tiền cưới vợ cho con khiến con phẫn chí bỏ đi kiếm tiền. Người con lão Hạc chi được nhắc đến chứ không xuất hiện trực diện. Song sự « thấp thoáng » của nhân vật này cũng đủ cho ta hình dung về một số phận: nghèo đến mức không cưới được vợ. Phẫn chí ra đi, nhưng nơi đến lại là đồn điền cao su: « Ngày đi thì có, còn ngày về thì khó lòng nói trước được là có hay không ». Cao su đi dễ khó về! Vắng con, lão Hạc chỉ còn « cậu Vàng » để đỡ cô đơn. Nhưng cậu Vàng làm lão « tốn kém » quá. Lão đành phải bán cậu Vàng đi. Thu vén được chút tiền hoa lợi vườn nhà để dành cho con, nào ngờ qua một trận ốm, tiền lão Hạc dành dụm, chắt chiu hết sạch. Lão trở về với « số không » lúc đầu. Không làm ra tiền, lại rơi vào tình cảnh « tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu », lão Hạc quyết định chỉ ăn khoai lang, hết khoai ăn củ chuối, rồi ăn sung luộc, rau má, củ ráy… Nghĩa là vớ được thứ gì lão dùng thứ ấy. Quyết định cuối cùng: tự tử. Sự khốn quẫn đã đến mức cao độ, không còn đường nào khác, lão Hạc đành chọn cái chết đau đớn và thê thảm. Vẻ đẹp nhân cách của lão Hạc. Lão nhân hậu ngay cả đối với con chó. Vắng con, cậu Vàng đã giúp lão bớt cô đơn. Vui buồn của cậu Vàng cũng là vui buồn của lão. Lão yêu con. Vợ mất sớm, lão dồn tình thương nuôi con khôn lớn. Lão giữ mảnh vườn cũng vì con. Lão tìm đến cái chết cũng vì con (khi chết lão vẫn còn tiền). Đây thực sự là một hi sinh vô cùng to lớn. Có một vẻ ngoài lẩm cẩm, gàn dở và cô độc, nhưng thực chất, lão Hạc có một nhân cách cao đẹp. Là một người tự trọng, lão chuẩn bị tiền cho cái chết của mình. Lão không muốn phiền lụy đến ai. Về nghệ thuật: Nam Cao tập trung khai thác thế giới bên trong của lão Hạc, chỉ ra được những giằng xé, những day dứt, những chua xót, hối hận… của một nông dân chất phác, nhân hậu. Nghệt thuật phân tích tâm lí nhân vật già dặn, bút pháp linh hoạt, xen kẽ một cách kể chuyện tỉnh táo, chân thực và màu sắc trữ tình, đồng thời, tăng hàm lượng triết lí về nhân tình, thế thái qua những suy nghĩ của « tôi ». Câu chuyện được kể ở ngôi thứ nhất nên bảo đảm tính khách quan. Ngôn ngữ mang tính cá thể hóa cao. Các chi tiết nhìn qua có vẻ lỏng lẻo song khi thực tế hết sức chặt chẽ. Tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính Lão Hạc xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phủ phàng phủ đè lên những cuộc đời của những con người lương thiện. Con chó cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, chia xẻ thức ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái ý định “có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không thực hiện được. Nhưng rồi, cuối cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc. Cậu Vàng bị bán đi; Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi đói deo đói dắt. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi “gạo thì cứ kém mãi đi” mà một ngày lo “ba hào gạo” thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu.
Thuyết minh truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
1,011
Thuyết minh truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh Hướng dẫn làm bài _Về nội dung. Truyện ngắn xuất sắc Tôi đi học in trong tập truyện ngắn Quê mẹ xuất bản năm 1941 của nhà văn Thanh Tịnh. Truyện kể lại những kỉ niệm êm đềm sâu sắc của tuổi thơ trong buổi tựu trường đầu tiên trong đời. Đó là ngày được mẹ dẫn tới trường vào học lớp 5, lớp đầu cấp tiểu học của trường Pháp – Việt trước năm 1945. + Cái buổi sớm mai không thể nào quên được ấy, mẹ dắt tay dẫn đến trường. Hơi ấm tỏa ra từ bàn tay thân thương của mẹ khi dắt cậu đi trên con đường dầy sương thu và giá lạnh còn ấm mãi. + Trên đường đi chú bé bâng khuâng và gặp mấy bạn cùng cắp sách đi học. + Vừa đến trường, chú bé hồi hộp, bỡ ngỡ, rồi ngạc nhiên trước cảnh đông vui « dày đặc cả người ». + Cùng mẹ đứng giữa sân trường nhưng chú « lo sợ, vẩn vơ », cũng như những người học trò khác chú bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám « nhìn một nửa », chỉ dám « đi từng bước nhẹ ». + Lúc nghe ông đốc đọc tên từng người, chú bé xúc động hồi hộp « run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp + Khi vào trong lớp cảm thấy « một mùi hương lạ xông lên ». Chú « thấy lạ và hay hay ». Có lúc chú đưa mắt nhìn ra sân trường « thèm thuồng một… ». Tôi đi học là truyện ngắn của những dòng hồi ức của tuổi thơ rất trong trẻo và xúc động. – Về nghệ thuật. Bằng hoài niệm, tác giả dùng phương pháp so sánh « con chim non đứng bên bờ tổ » để nói lên tâm trạng ngây thơ, hồn nhiên của cậu học trò và tạo nên những chất thơ trong sáng hiền dịu tỏa ra từ: + Bàn tay thân thương của mẹ khi dắt cậu đi trên con đường đầy sương thu và giá lạnh. + Giọng nói ân cần, với cặp mắt hiền từ của ông đốc đến hình ảnh thầy giáo lớp năm đón 28 học sinh với gương mặt tươi cười. + Những giọng văn, những hình ảnh đầy thú vị và những giọng nói nhẹ nhàng, gợi cảm. Tham khảo bài làm của Ngô Minh Thông lớp 8A1 trường THCS Cầu Giấy “Hàng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường…”, những câu văn ấy của Thanh Tịnh đã xuất hiện trên văn đàn Việt Nam hơn sáu mươi năm rồi! Thế nhưng “Tôi đi học” vẫn là một trong những áng văn gợi cảm, trong trẻo đầy chất thơ của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam. Không những thế, tác phẩm còn in đậm dấu ấn của Thanh Tịnh – một phong cách trữ tình nhẹ nhàng, nhiều mơ mộng và trong sáng. Dòng cảm xúc của nhân vật tôi trong truyện vẫn ắp đầy trong tâm trí ta những nét thơ dại đáng yêu của trẻ thơ trong buổi đầu đến lớp. Trong chúng ta ai cũng đã từng trải qua ngày tháng đầu tiên của tuổi học trò. Với Thanh Tịnh, trường làng Mỹ Lí là một mảng ký ức nhiều lần từng trở đi trở lại trong những trang viết của ông. Câu chuyện “tôi đi học” rất đơn giản, nhưng làm xúc động tất cả những ai từng cắp sách đến trường. Giọng kể chuyện bằng lối xưng hô trực tiếp “tôi” của nhà văn tạo cảm giác gần gũi chân thực, như một bản tự thuật tâm trạng mà dường như mỗi người chúng ta đều nhận ra mình trong đó. Nhà văn đã dẫn dắt chúng ta vào không gian êm đềm của mùa thu, trong khung cảnh một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, để trở về trên con đường làng dài và hẹp, để được sống lại cảm giác của một cậu bé ngây thơ nép mình bên mẹ, chập chững những bước chân đầu tiên đến trường. Cảm nhận về sự thay đổi không gian đã khắc ghi đậm nét. Bởi, ở chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học. Chắc chắn, đó cũng là cảm giác của tất cả những ai đã, đang và từng đi học. Hình ảnh ấy thật gần gũi với chúng ta, giống như lời một câu hát ta đã từng quen thuộc “hôm nay em đến trường, mẹ dắt tay từng bước” (lời bài hát Đi học của Minh Chính – Bùi Đình Thảo ). Cảm giác của cậu bé như một con chim non vừa rời tổ, đang ngập ngừng những sải cánh đầu tiên, có chút chơi vơi nhưng thích thú. Thật thú vị biết bao khi ta cùng chia sẻ khoảnh khắc được cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn của cậu bé. Cảm giác ấy thực ra đã bắt đầu từ sự thay đổi đầu tiên mà cậu bé rất hãnh diện vì đi học “oai” hơn nhiều với những trò thả diều hay ra đồng nô đùa, dù rằng cậu vẫn có thể rất thèm được như thằng Quý, thằng Sơn để được tự do bay nhảy. Bởi lẽ đi học là được tiếp xúc với cả một thế giới những điều mới lạ: quần áo mới, sách vở mới, thậm chí oai hơn là được cầm …bút thước mà không để lộ vẻ khó khăn gì hết. Bởi chưa là người thạo nên cậu bé phải ganh tị và thèm muốn được như chúng bạn. Trường học quả là một thế giới tôn nghiêm khiến cho cậu bé phải lo sợ vẩn vơ khi ngắm nhìn và bước chân vào cái nơi vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hoà Ấp. Cái – đình – làng là nơi chỉ dành cho quan viên chức sắc, những người lớn mới được vào. Trường Mỹ Lí có lẽ chỉ dành cho người thạo, còn một cậu bé bước vào sẽ bị choáng ngợp trước vẻ oai nghiêm của nó, nên cảm giác hồi hộp là điều không tránh khỏi. Cảm giác được thấy mình trở nên quan trọng hơn cũng khiến cậu trở nên lúng túng. Không phải chỉ có cậu, mà đó cũng là tâm trạng chung của các cậu trò nhỏ: “Họ như con chim non đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ.”. Thật thú vị khi ta được biết cảm giác thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ. Có lẽ khi nhớ lại ngày đầu đi học ấy, nhà văn vẫn chưa hề quên những bước chân run run buổi đầu đời, như lần đầu tiên khám phá ra một thế giới lạ: cái gì cũng to, đẹp và trang trọng. Có lẽ trong đời cậu bé, chưa có lúc nào được tiếp xúc với nhiều người lạ đến thế. Nhất là lại có một ông đốc trang nghiêm nhận học sinh vào lớp. Trong tâm trí của cậu cũng như bạn bè đồng trang lứa, đó là thời khắc hết sức trịnh trọng, khiến tim như ngừng đập, quên cả sự hiện diện của người thân và “tự nhiên giật mình và lúng túng” khi được gọi đến tên. Dẫu cho ông đốc trường Mỹ Lí đã đón các cậu bằng lời nói sẽ, bằng cặp mắt hiền từ và cảm động thì cũng không đủ giúp các cậu vượt qua phút hồi hộp và căng thẳng. Đoạn văn tái hiện không khí ấy của Thanh Tịnh cũng không giấu được nụ cười hóm hỉnh với kỷ niệm đầu đời đáng nhớ, sau lời dặn của thầy đốc “các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có một tiếng dạ ran của phụ huynh đáp lại”.
Thuyết minh truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh
1,355
Thuyết minh tác hại của ma túy (hoặc của rượu, thuốc lá,…) đối với đời sống của con người Hướng dẫn Thuyết minh tác hại của ma túy (hoặc của rượu, thuốc lá,…) đối với đời sống của con người Bài mẫu 1: Thuyết minh tác hại của rượu đối với đời sống của con người Rượu giống như thứ mầm mống ăn sâu trong lòng xã hội, nó xuất hiện từ thời cổ đại cho đến hiện đại. Những năm Pháp tiến hành khai hóa văn minh, âm mưu đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện, rượu đã gây ra bao thảm kịch cho con người. Ngày nay, cuộc sống hiện đại, tiệc tùng, quán xá, nhậu nhẹt,… vẫn diễn ra hằng ngày với lượng lớn rượu được tiêu thụ. Rượu tàn phá sức khỏe, làm suy thoái giống nòi nhưng xét ở góc nhìn khác, nó còn nguy hiểm hơn thế. Bài làm: Cuộc sống từng ngày từng ngày được nâng cao, chất lượng cuộc sống của con người theo đó cũng càng được cải thiện. Tuy nhiên, bên trong vẻ tốt đẹp hào nhoáng vẫn tồn tại những tệ nạn cắm rễ và theo xã hội đi lên. Người ta hay nhắc đến ma túy và thuốc lá, nhưng rượu cũng là một tệ nạn đã bám rễ từ lâu, gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với cuộc sống của con người. Rượu là những chất kích thích được làm từ ngũ cốc như gạo, ngô,… hay hoa quả, lên men và chưng cất. Rượu chứa nhiều cồn nên khi uống vào làm tăng khả năng hưng phấn trong một thời gian nhất định, nếu dùng nhiều quá sẽ dẫn đến tình trạng say xỉn, nôn mửa. Cùng với bia, rượu hiện nay là một trong những thức uống phổ biến trên thế giới. Người ta dùng nhiều trong các dịp vui như cưới hỏi, lễ chúc mừng, gặp mặt, giao lưu, thậm chí ngay cả khi buồn bã cũng dùng rượu để giải khuây. Rượu còn trở thành những món quà mà người ta trao cho nhau mỗi dịp chúc mừng. Dùng ở mức vừa phải, hợp lý, cân bằng với thể trạng của mình thì rượu có những tác dụng rất tốt như lưu thông máu, tiêu hóa tốt tuy nhiên bản thân là một chất kích thích và cường độ lạm dụng của con người nên nó ngược lại mang đến nhiều tác hại hơn là tác dụng. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh rượu là thứ độc hại lớn nhất đối với sức khỏe con người. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các cơ quan trên cơ thể của chúng ta. Cơ quan đầu tiên và chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hệ thần kinh. Rượu làm giãn mạch máu não, tăng khối lượng não sinh ra nói nhiều, sau đó làm tăng độ ức chế gây mất thăng bằng nên dễ gây ra tai nạn khi điều khiển phương tiện giao thông. Theo thống kê của Bộ Y tế, nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, say rượu chiếm một số lượng rất lớn. Thậm chí, rượu làm cho ức chế lan rộng làm giảm nhịp tim, nhịp thở, hạ thân nhiệt, thiếu oxy… Nghiêm trọng có thể xảy ra tình trạng đột tử do tai biến hoặc đứt mạch máu não. Cơ quan thứ hai bị ảnh hưởng là hệ hô hấp. Rượu sẽ làm viêm dây thanh quản, khiến giọng khàn đục, tác động trực tiếp đến phổi, gây viêm phổi. Cơ quan thứ ba là hệ tiêu hóa. Nếu uống quá nhiều rượu sẽ làm giảm việc tiết dịch vị ở dạ dày gây kích thích ăn ngon, lâu dần sẽ mất và gây ra cảm giác chán ăn, mệt mỏi, nặng có thể bị viêm dạ dày. Thứ tư là tim mạch. Trong điều kiện sống như nhau, nhưng người thường xuyên uống rượu có khả năng bị cao huyết áp cao hơn gấp 3 – 4 lần người bình thường. Ngoài ra, rượu thấm vào máu sẽ làm nở hồng cầu dẫn đến việc máu chậm lưu thông, nặng có thể bị nhồi máu cơ tim, thậm chí gây ra hiện tượng đột tử đối với người mắc bệnh tim mạch hoặc huyết áp. Và thứ năm, tác động nghiêm trọng nhất của rượu đó là tới gan. Gan là cơ quan đào thải chất độc trong cơ thể. Có đến 90% lượng rượu hấp thu vào máu được chuyển hóa ở gan. Người uống rượu thường xuyên sẽ tàn phá các tế bào gan, gây ra hiện tượng xơ gan, viêm gan, suy gan và nặng hơn là dẫn tới ung thư gan. Đó là những tác hại trực tiếp tới sức khỏe chúng ta nếu sử dụng rượu. Hàng năm, những con số thống kê về những người chết vì rượu vẫn được đưa ra. Đằng sau đó không chỉ là bằng chứng cho tác hại của nó mà còn có nỗi đau của những người có người thân bị tác động, mất mạng vì loại chất kích thích này, là lời cảnh báo cho những người xung quanh. Rượu giống như thứ mầm mống ăn sâu trong lòng xã hội, nó xuất hiện từ thời cổ đại cho đến hiện đại. Những năm Pháp tiến hành khai hóa văn minh, âm mưu đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện, rượu đã gây ra bao thảm kịch cho con người. Ngày nay, cuộc sống hiện đại, tiệc tùng, quán xá, nhậu nhẹt,… vẫn diễn ra hằng ngày với lượng lớn rượu được tiêu thụ. Rượu tàn phá sức khỏe, làm suy thoái giống nòi nhưng xét ở góc nhìn khác, nó còn nguy hiểm hơn thế. Rượu góp phần hủy hoại dần dần nếp sống, nhân cách con người. Mải ăn uống, nhậu nhẹt dẫn đến lười lao động. Rồi những vụ tai nạn giao thông, bạo hành gia đình, những vụ ẩu đả, xô xát,… luôn có những nguyên nhân đến từ say xỉn. Nghiện ma túy, nghiện thuốc lá nguy hiểm, nghiện rượu cũng như vậy. Nó khiến bao người tan cửa nát nhà, người nghiện rượu không kiềm chế được hành động và cảm xúc, có rất nhiều người đã bỏ mạng dưới lưỡi dao của kẻ nghiện rượu. Nhìn nhận tích cực hơn, uống rượu không xấu, rượu sẽ không tàn phá chúng ta nếu chúng te hiểu và biết được điểm dừng đúng đắn, sử dụng nó hợp lí. Đừng để mình trở thành nô lệ bị nó cầm tù, và cũng nên biết khuyên nhủ những người khác. Cả xã hội phải cùng thay đổi mới đẩy lùi được những tác hại đáng sợ của rượu. Hãy cùng nhau kiến tạo một cuộc sống lành mạnh cả thể xác lẫn tinh thần. Bài mẫu 2: Thuyết minh tác hại của ma túy đối với đời sống của con người (bài 1) Vậy ma túy để lại những hậu quả gì? Thật đáng sợ khi có người cho rằng, cứ sử dụng ma túy mà đầy đủ sẽ béo tốt và duy trì sức khỏe cho con người. Không thể phủ nhận có một loại, còn gọi là moóc-phin, thường được dùng trong y học để giảm đau rất hiệu nghiệm. Nhưng lối suy nghĩ trên hay nếu lạm dụng moóc-phin sẽ gây ra những hậu quả thực sự đáng sợ mà chúng ta không ngờ tới. Bài làm: “Cái chết trắng” là cách gọi đầy hình tượng cho kết cục của những người sử dụng một loại chất kích thích rất đáng sợ, đó là ma túy. Cùng với các loại tệ nạn như cờ bạc, rượu chè, văn hóa phẩm đồi trụy… ma túy lâu này trở thành mối lo ngại đáng sợ của con người trong xã hội hiện đại. Có thể khẳng định tác hại của ma túy đối với cuộc sống của con người thật khôn lường. Ma túy được hiểu là một dạng chất kích thích được chiết xuất từ loài hoa anh túc hoặc nhựa cây thuốc phiện có mặt nhiều ở các vùng núi trên thế giới hay ở khu vực miền núi phía bắc Việt Nam. So với thuở sơ khai khi mới ra đời, hiện nay ma túy tồn tại ở rất nhiều dạng: bột, nước, viên nén,… được dùng ở nhiều hình thức khác nhau như hút hít, tiêm chích, ngậm, nhấp môi… Do có sự biến tấu rất đa dạng nên ngày nay có quá nhiều loại ma túy xuất hiện. Có lẽ những tên gọi như đá, cỏ, tem, cần, bùa lưỡi… không còn xa lạ. Đó đều chỉ ma túy. Tuy nhiên dù gọi như thế nào hay cách dùng ra sao thì ma túy đều có một hậu quả chung là người dùng, chỉ dùng một lần cũng sẽ gây nghiện. Điều đáng sợ là nó chẳng kiêng nể ai, đối tượng thuộc lứa tuổi, giới tính, địa vị nào, cứ sử dụng đều gây ra những hậu quả nghiêm trọng và đáng sợ. Trước tiên, hậu quả để lại vô cùng nặng nề cho bản thân “con nghiện”. Ma túy sẽ tàn phá sức khỏe con người một cách trầm trọng. Ảnh hưởng đầu tiên chính là ở hệ thần kinh. Ở mức độ nhẹ thì người sử dụng ma túy chỉ mới gây mất tập trung, hay mệt mỏi, uể oải, tâm lý chán nản, hay cáu bẳn và muốn phá phách, đôi khi gây ra tâm lý lo lắng, bất an. Nhưng ở mức độ nặng thì gây ra hiện tượng ảo giác, không kiểm soát được hành vi, có những biểu hiện quá khích, phản cảm. Trên mạng xã hội facebook hiện nay không hề thiếu những cảnh tượng bị “ngáo đá” (tên gọi của những người sử dụng ma túy đá quá nhiều). Những người này thường có biểu hiện mặt đờ đẫn, mắt trắng dã, trợn ngược, hoặc la hét, người rung lắc, không đứng yên, thậm chí còn cởi hết đồ, lăn lê trên đường, trèo lên lan can cửa sổ hoặc nóc nhà, mái nhà cao tầng đi lại, cười nói lớn tiếng… Thật đáng sợ. Nhưng có lẽ bấy lâu nay, hậu quả đáng tiếc nhất của ma túy vẫn chính là việc người dùng dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS. Trong số những nguyên nhân lây nhiễm căn bệnh thế kỉ này, phần lớn thuộc về việc sử dụng ma túy. Nhưng còn lo ngại hơn là sử dụng ma túy ảnh hưởng đến nhân cách, phẩm chất của họ. Có lẽ xã hội không bao giờ chấp nhận người nghiện ma túy là người tử tế. Họ cũng rất khó để trở thành người tử tế. Cứ nhìn những hình ảnh như ở trên thì không thể nào tử tế được. Trong khi đó còn chưa kể, họ phải tìm mọi cách để có tiền dùng thuốc. Cho nên nếu không vòi vĩnh gia đình thì cũng tìm cách ăn cắp, ăn trộm, lừa dối người khác, bất chấp mọi thủ đoạn để có tiền mua ma túy. Chúng ta chẳng còn xa lại cái cảnh con nghiện sẵn sàng chửi rủa, đánh đập cả cha mẹ, người thân trong gia đình mình để có tiền sử dụng ma túy. Có người chẳng còn con đường nào khác phải chấp nhận buôn ma túy để nuôi cơn nghiện của chính mình. Từ việc sử dụng ma túy đến con đường phạm pháp là vô cùng ngắn ngủi. Họ dần dần trở thành những con người đáng sợ, bị xã hội coi thường, muốn tránh xa. Chắc chắn chẳng ai muốn sống cùng một khu phố mà ở đó có kẻ bị nghiện ma túy. Hay chỉ cần nghe thông tin một trại cai nghiện mà học viên phá cửa bỏ trốn là cả xã hội đầy lo lắng rồi. Sự mất mát về nhân cách, tâm hồn của họ là quá lớn. Cơ hội làm lại cuộc đời, sống tử tế gần như không có. Tương lai, sự nghiệp đều bị hủy hoại. Cái giá phải trả cho việc sử dụng ma túy là quá đắt. Bên cạnh đó, việc sử dụng ma túy còn gây ra biết bao nhiêu hậu quả đáng tiếc cho gia đình và xã hội. Cha mẹ đau lòng, nhục nhã vì có con nghiện, gia đình tan hoang, kiệt quệ vì có con nghiện. Những mất mát về vật chất và tinh thần khó mà đong đếm được. Chỉ biết nỗi đau có người thân bị nghiện là có thật và đều bị coi bi kịch cả đời. Vì đối tượng nghiện là không giới hạn, nên việc kiểm soát con người ở phương diện này là rất phức tạp. Xã hội sẽ bị đảo lộn, tình hình an ninh trật tự khó đảm bảo, kinh tế khó phát triển và hình ảnh về mặt văn hóa con người và đất nước sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng. Một lực lượng lớn lao động không được sử dụng, ngành du lịch sẽ hạn chế đi rất nhiều vì không dám tới một vùng hoặc một quốc gia bất ổn. Cho nên thiệt hại về xã hội mà ma túy gây ra là rất lớn và khó kiểm soát. Nhưng có lẽ, điều đáng lo lắng nhất là vấn đề trẻ hóa những người nghiện ma túy, trong đó có một bộ phận không nhỏ là những bạn đang ở lứa tuổi học sinh. Theo thống kê Bộ Lao động và Thương binh xã hội năm 2017, có đến 8% số người nghiện ở tuổi vị thành niên và ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Đó thực sự là một con số biết nói và cho thấy diễn biến phức tạp của các loại hình ma túy đang có mặt trong xã hội hiện nay. Thật chẳng khó để mấy bạn trẻ mua ma túy cả, có khi ngay ngoài cổng trường, quán internet hay những quán ba, vũ trường… Nên việc để giảm thiểu tác hại của ma túy, nhất là trong học đường là điều vô cùng cần thiết. Chỉ cần nhìn vào những hậu quả của nó sẽ cho thấy những chủ nhân tương lai của đất nước mà vướng vào vòng vây của “cung đường trắng” thì khó mà thoát khỏi cái án tử hình của cuộc đời. Vào giữa năm 2017, cả nước rúng động bởi một vụ việc đó là các chiến sĩ công an Việt Nam đã triệt phá đường một đường dây sản xuất, buôn bán thuốc lắc, cung ứng trực tiếp cho các vũ trường, quán ba từ bắc vào nam. Kẻ cầm đầu và những người liên quan đều bị bắt và chờ đợi hình phạt thích đáng. Nhưng chúng ta vẫn đầy lo ngại bởi một đường dây lớn như thế đã hoạt động rất nhiều năm nay và nó chỉ là những gì chúng ta biết, nhìn thấy mà thôi. Vậy đã có bao nhiêu cuộc đời con người bị hủy hoại bởi nó? Còn bao nhiêu vụ việc về buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy chưa được phát giác? Ma túy – mối hiểm họa vẫn chưa dừng trong xã hội hiện đại. Bài mẫu 3: Thuyết minh tác hại của thuốc lá đối với đời sống của con người Thuốc lá chính là bản án tử thần của cuộc sống con người. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 5 triệu người chết vì thuốc lá, cao hơn số tử vong do tai nạn, mắc bệnh lao và AIDS cộng lại. Nếu không có biện pháp ngăn chặn, chỉ cần 30 năm nữa, con số ấy sẽ tăng lên là 10 triệu ca. Bài làm: Bạn có biết Việt Nam của chúng ta thuộc top 15 nước có số người hút thuốc lá nhiều nhất trên thế giới? Bạn có biết ở nước ta mỗi ngày có khoảng 15 triệu người hút thuốc lá và con số này ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa? Bạn có biết ở nước ta gần 50% nam giới hút thuốc lá, trong đó chủ yếu có độ tuổi từ 25 đến 45? Bạn có biết ở nước ta mỗi giờ có khoảng 5 ca tử vong và mỗi năm có khoảng 40.000 người chết vì các bệnh liên quan vì tác hại của thuốc lá?… Những con số trên là hậu quả đáng báo động của vấn nạn hút thuốc lá đang diễn ra hằng ngày. Bởi vậy, thuốc lá chính là chất độc hại được xếp vào bậc nhất đang tồn tại trong môi trường sống của chúng ta hiện nay. Vậy trong thuốc lá có gì mà lại gây nguy hại đến vậy? Ước tính trong một điếu thuốc lá có khoảng 7000 chất độc, thì có đến 60 chất gây ung thư. Trong đó, đáng sợ nhất là chất nicotin, một loại chất lỏng có mùi, vị đắng, dễ xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng, hô hấp, thậm chí cả qua da. Bên cạnh đó, trong khói thuốc lá có rất nhiều chất kích thích các khối u, người hút không bị ảnh hưởng ngay mà lâu dần sẽ ngấm vào cơ thể. Với những thành phần như vậy, thuốc lá chính là bản án tử thần của cuộc sống con người. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 5 triệu người chết vì thuốc lá, cao hơn số tử vong do tai nạn, mắc bệnh lao và AIDS cộng lại. Nếu không có biện pháp ngăn chặn, chỉ cần 30 năm nữa, con số ấy sẽ tăng lên là 10 triệu ca. Người hút thuốc lá cũng có trung bình tuổi thọ thấp hơn người không hút là từ 5 đến 8 năm. Như vậy cứ hút một điếu thuốc là ta đã tự đánh mất đi 5,5 phút của cuộc sống. Hậu quả cuối cùng là vậy nhưng điều đáng nói là nó không đến ngay, nên những người hút thuốc lá hay nạn nhân của vấn nạn này không quá sợ hãi, đề phòng. Nhưng đó mới chỉ là phổi, hút thuốc lá còn là nguyên nhân dẫn đến các căn bệnh khác nữa. Trong đó có những căn bệnh dễ gây tử vong hàng đầu trên thế giới, điển hình là các bệnh ung thư, tim mạch, giảm trí nhớ. Ít ai nghĩ rằng thuốc lá cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng sinh sản. Đàn ông hút thuốc thường xuyên có thể làm giảm 75% lượng tinh trùng, giảm khả năng thụ thai. Phụ nữ, nhất là phụ nữ có thai sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi, nguy cơ sẩy thai cao hoặc trẻ được sinh ra dễ sinh non, nhẹ cân, dị tật, nặng hơn có thể bị các chứng về tim, hô hấp bẩm sinh. Bên cạnh đó, người hút thuốc lá còn khiến cho răng vàng, miệng hôi và ngay cả mồ hôi tiết ra cũng gây mùi khó chịu. Da họ dễ xỉn, nhăn nheo hơn. Trong khi đó còn chưa kể việc hút thuốc rất dễ bị đánh giá về phẩm chất. Chẳng hạn một người có mặt ở những nơi công cộng, công sở, sử dụng thuốc lá bị coi là mất lịch sự. Trên xe bus, trong phòng họp, siêu thị, công viên, đặc biệt những nơi có nhiều trẻ em sẽ bị coi là thiếu tôn trọng người khác và kém hiểu biết. Một tình trạng đáng báo động hiện nay là một bộ phận học sinh, nhất là nam sử dụng thuốc lá nhiều, thậm chí rất thành thục. Nếu đi ngoài đường nhìn thấy một bạn mặc áo đồng phục mà phì phèo điếu thuốc chắc chắn gây phản cảm. Hoặc nếu vào trường thì giấu giếm, chủ yếu tụ tập hút ở các nhà vệ sinh. Không chỉ làm hỏng mĩ quan trường học mà việc hút thuốc đó càng gia tăng thêm tác hại của nó. Tuy nhiên điều đáng nói, hút thuốc lá không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến người hút mà còn gây tác hại nghiêm trọng đối với hít phải khói thuốc, hay còn gọi là “hút thuốc lá thụ động”. Theo con số thống kê của Bộ Y tế năm 2015, tỉ lệ bị phơi nhiễm với khói thuốc lá ở nhà chiếm 67,6%, tại nơi làm việc là 49%. Đặc biệt là tỉ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá ở nhà của phụ nữ là 70%, còn với trẻ em là gần 50%. Thuốc lá đang là một trong những tác nhân gây nguy hại đến môi trường trầm trọng. Khói thuốc có thể tồn tại trong không khí hơn hai giờ đồng hồ, ngay cả khi không nhìn thấy hoặc ngửi thấy. Người thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá phải chịu tác động bằng hút 5 điếu thuốc mỗi ngày. Các chuyên gia y tế đã từng nhiều lần cảnh báo về mức độ nguy hại đối với trẻ em khi trong nhà có người lớn hút thuốc. Trẻ sống trong môi trường này tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, viêm tai giữa, làm suy yếu chức năng của phổi. Người lớn sống trong môi trường này cũng có nguy cơ mắc ung thư cao hơn 20 – 30%. Theo Tổ chức Y tế thế giới, hằng năm có 600.000 người tử vong do ảnh hưởng của hút thuốc lá thụ động. Và con số này sẽ tiếp tục tăng nếu không có các biện pháp can thiệp ngăn chặn sự lan tỏa của khói thuốc ra môi trường sống. Hiện nay trên hầu hết bao bì của các vỏ hộp thuốc lá đều có ghi những tác hại của việc hút thuốc lá, như: Hút thuốc lá gây ung thư phổi, Hút thuốc lá gây ung thư vòm họng, thanh quản, Hút thuốc lá gây bệnh tim mạch, Hút thuốc lá dẫn đến cái chết từ từ và đau đớn… Vậy câu hỏi đặt ra tại sao việc sản xuất và bán thuốc lá chưa bị cấm? Phải chăng nguồn lợi kinh tế nó đem lại vẫn rất lớn? Hay thử nhìn nhận về lợi ích kinh tế khi hút thuốc lá qua so sánh sau đây. Chi tiêu cho việc hút thuốc lá ở nước ta, cao gấp 3,6 lần phí tổn học hành, gấp 2,5 lần mức chi cho quần áo, gần gấp đôi chi cho khám chữa bệnh. Thật đáng ngạc nhiên khi thuốc lá vẫn được sản xuất, vẫn được bày bán, thậm chí còn dẫn đến tình trạng buôn lậu thuốc lá hoành hành ở các cửa khẩu biên giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, hiện nay đa số người hút thuốc lá là ở các nước đang phát triển. Với những mức độ nguy hại trầm trọng về sức khỏe, kinh tế mà nó để lại trên, rõ ràng việc hút thuốc lá đang trở thành bạn đồng hành của bệnh tật và nghèo đói. Các nước đang phát triển vì thế càng khó mà vững mạnh, thuốc lá cũng là một nguyên nhân gây cản trở sự tăng trưởng kinh tế. Hãy đừng để mình chết, đất nước mình “không lớn” vì thiếu hiểu biết. Bài mẫu 4: Thuyết minh tác hại của ma túy đối với đời sống của con người (bài 2) Ma túy có rất nhiều loại và mỗi loại có những tác dụng khác nhau đến người bệnh. Nào là ma túy cần sa, thuốc phiện, heroin, ma túy đá. Mỗi loại có tác hại khác nhau những tựu chung lại thì đều có tác hại gây nghiện, khó chịu khi không có nó, gây ảo giác và khó có thể cai được. Đó là tác hại đầu tiên mà ta thấy được qua quan sát. Bài làm: Trong những năm tháng thực dân Pháp xâm chiếm nước ta chúng đã mang đến cho nhân dân ta biết bao nhiêu điều xấu xa làm suy đồi đạo đức cũng như giống nòi để giờ đây trở thành tệ nạn xã hội, và đặc biệt thành một căn bệnh thế kỉ vẫn chưa có thuốc cứu chữa. Đó chính là thuốc phiện hay chính là ma túy. Vậy mà túy có tác hại như thế nào mà thực dân Pháp đã sử dụng nó để làm suy nòi giống của ta?. Trước hết chúng ta cần định nghĩa được ma túy là gì?. Ma túy là là tên gọi chung chỉ những chất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo. Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh lý. Theo khoa học thì Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên bán tổng hợp (heroin được bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu… mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu. Ma túy có rất nhiều loại và mỗi loại có những tác dụng khác nhau đến người bệnh. Nào là ma túy cần sa, thuốc phiện, heroin, ma túy đá. Mỗi loại có tác hại khác nhau những tựu chung lại thì đều có tác hại gây nghiện, khó chịu khi không có nó, gây ảo giác và khó có thể cai được. Đó là tác hại đầu tiên mà ta thấy được qua quan sát. Chúng ta có thể thấy rất rõ những người nghiện ma túy thường có những dấu hiệu bất thường so với người khác, họ nghiện rồi thì sẽ làm mọi cách để có thuốc sử dụng. Chính vì thế cho nên nó mới dẫn đến suy đồi đạo đức: ăn cắp, ăn trộm, đánh nhau, giết người…có nhiều người còn trở thành nguồn để đầu độc những người khác theo mình nữa. Có biết bao nhiêu vu án mạng của những bậc sinh thành bị chính ban tay của con mình sinh ra giết chết. Một trong những nguyên nhân có nguyên nhân do mà túy mà ra. Tóm lại ma túy không chỉ có hại cho chính bản thân người bênh mà còn có hại cho gia đình và toàn xã hội. Thử tưởng tượng nếu như thế hệ trẻ ai cũng thế thì biết làm thế nào? Như vậy qua đây ta đã thấy được tác hại của ma túy, chúng không những có hại cho chính những người nghiện mà nó còn ảnh hưởng đến cuộc sống tâm tư tình cảm của những người đó. Gia đình họ và toàn xã hội cũng sẽ bị ảnh hưởng thêm. Chính vì thế mà mỗi chúng ta nên xây dựng một xã hội không có ma túy. Bài mẫu 5: Thuyết minh tác hại của ma túy đối với đời sống của con người (bài 3) Sự phát triển của xã hội, các tệ nạn chính là những luồng khí độc mà nước ta bị ảnh hưởng. Đấy hẳn là điều không tránh khỏi, nhưng khách quan chưa bao giờ đáng sợ bằng chủ quan. Vâng, chính con người và bản thân người sử dụng mới là vũ khí tự hạ chết chính mình. Do ham muốn tìm tòi, khám phá cái mới mẻ nên với suy nghĩ dùng thử, rồi dần thành nghiện. Bài làm: Xã hội càng phát triển điều ấy cũng đồng nghĩa với việc các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng và càng hoạt động khó lường. Mỗi quốc gia đều phải đối mặt với những khó khăn riêng dù ít nhiều trên mọi lĩnh vực. Với nước ta thì hiện nay thực trạng sử dụng và nghiện ma túy càng trở nên nghiêm trọng và đáng báo động, đặc biệt là trong giới trẻ. Nước ta còn đang trong thời kì phát triển, trong khi đó lực lượng nòng cốt để đưa xã hội phát triển đi lên lại đang rơi vào những cám dỗ của ma túy như vậy thật đáng buồn và đáng lo ngại thay. Thực trạng sử dụng và nghiện ma túy của nước ta đang diễn biến khôn lường và phức tạp, đến các vùng nông thôn cũng đã dần xuất hiện dấu hiệu của việc sử dụng ma túy, từ đó đủ đế thấy ảnh hưởng khủng khiếp của chúng như thế nào. Mỗi năm có hàng trăm vụ nghiện hút và bị chết hoặc gặp những éo le về hạnh phúc gia đình do ma túy gây nên. Ma túy giống như một con tằm khổng lồ và đáng sợ đang gặm nhấm dần dần sức khỏe và phá hủy sự bền vững và an toàn của cả một cộng đồng. Vậy nguyên nhân do đâu? Có thể giải thích bằng một trong số những lí do sau. Do sự phát triển của xã hội, các tệ nạn chính là những luồng khí độc mà nước ta bị ảnh hưởng, đấy hẳn là điều không tránh khỏi. Nhưng khách quan chưa bao giờ đáng sợ bằng chủ quan. Vâng, chính con người và bản thân người sử dụng mới là vũ khí tự hạ chết chính mình. Do ham muốn tìm tòi, khám phá cái mới mẻ nên với suy nghĩ dùng thử, rồi dần thành nghiện. Do tâm lí của tuổi trẻ thích học đòi làm người lớn, thích thể hiện và ra oai với bạn bè, thích bắt chước. Một số gia đình vì có điều kiện về kinh tế nên chiều chuộng sinh hư con cái, dẫn đến chúng bị sa đà theo thói ăn chơi phè phỡn, thừa giấy vẽ voi sớm sa chân lỡ bước vào những thứ như ma túy, thuốc phiện là điều dễ hiểu. Trên đây chỉ là một số nguyên nhân của việc nghiện ma túy, nhưng điều đáng buồn hơn nữa là người nghiện hút không ý thức được tác hại ghê gớm của con quái vật này. Ma túy gây ra những tác hại nghiêm trọng không tưởng đối với cá nhân người sử dụng và cả gia đình cũng bị liên lụy, trên nhiều mặt về sức khỏe, kinh tế và cả an ninh xã hội. Trước hết là với sức khỏe người sử dụng. Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột. Ngoài ra, sau khi dùng ma túy có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản… Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy. Ngoài ra còn gây nên tình trạng co mạch làm tăng huyết áp. Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quị… Đối với hệ sinh dục:ở nam giới sau khi nghiện ma túy gây to vú và bất lực, còn phụ nữ nghiêm trọng nhất là gây vô sinh, chu kì kinh nguyệt rối loạn, rong huyết… Không chỉ với bản thân mà nghiện ma túy còn gây ra tác hại với gia đình. Mỗi khi lên cơn nghiện, con nghện còn sẵn sàng phá hủy, đập vỡ mọi thử để đe dọa thậm chí giết người. Rồi gia đình có người nghiện hút kinh tế mau chóng suy sụp, tán gia bại sản do tiền để sử dụng là quá lớn. Sức khỏe các thành viên cũng bị ảnh hưởng khi phải thường xuyên lo lắng, bất an, mặc cảm trước mọi người. Bản thân, gia đình đến cả xã hội cũng bị ảnh hưởng: gây mất trật tự, rối loạn an ninh xã hội, các tệ nạn như lừa đảo, trộm cắp hoành hành, thâm chí giết người cướp của. Làm mất đi thuần phong, văn hóa mĩ tục. Làm giảm sút lực lượng lao động sản xuất, ảnh hưởng đến nòi giống và sự phát triển bền vững của dân tộc. Đó hoàn toàn là những tác hại của ma túy, hãy nhớ và đề phòng nó, kêu gọi mọi người chung tay phòng chống ma túy bạn nhé. Chúng ta, hơn ai hết là những mầm măng tương lai của đất nước, hi vọng rằng chúng ta sẽ ý thức cao được tinh thần trách nghiệm của bản thân để ngăn ngừa và phòng trừ tệ nạn nghiện ma túy đang lan rộng, góp phần chung tay xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ bạn nhé.
Thuyết minh tác hại của ma túy (hoặc của rượu, thuốc lá,…) đối với đời sống của con người
5,564
Đề bài: Thuyết minh tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ Bài làm Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó “trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành”.Ông đã viết tập truyện chữ Hán nổi tiếng trong cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục – một tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút”. Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Tryền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm 20 truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Lục là sách, mạn là ghi chép tản mạn, truyền kì là chuyện lạ kì lưu truyền trong dân gian. Truyền kì mạn lục là sách ghi chép lại những câu chuyên lạ trong dân gian. Tác phẩm thực sự là một sáng tác văn học với sự gia công, hư cấu, sáng tạo, trau chuốt, gọt giũa của Nguyễn Dữ chứ ko phải chỉ là một công trình ghi chép đơn thuầnTrong Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ viết về các nhân vật, các sự việc kỳ lạ xảy ra thời Lý, Trần, Hồ và thời Lê sơ. Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả Truyền kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần, vừa hư, vừa thật nhưng xuyên qua các lớp mù linh ảo, ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài giỏi ấy vẫn hiện rõ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó nhan nhản những kẻ có quyền thế độc ác, đồi bại. Tuy nhiên, bên cạnh sự tung hoành của cái xấu cái ác, tác giả Truyền kỳ mạn lục vẫn nhìn thấy những phẩm cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, những tình người tình yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và Nguyễn Dữ đã mô tả nó thật đẹp đẽ, mỹ lệ. Trong số đó có tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ” đã đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn; đồng thời thể hiện niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên kể về Ngô Tử Văn – người vốn khảng khái, nóng nảy,thấy sự gian tà thì ko thể chịu được. Mọi người vẫn thường khen Văn là người cương trực. Ở làng Tử Văn sống trước có một ngôi đền linh ứng nhưng giờ đã thành ngôi đền có hồn của tên giặc xâm lược tử trận gần đó làm yêu quái trong dân gian. Trước sự việc ngôi đền bị uế tạp và yêu quái có thể làm hại dân, “Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”.Sự khắng khái, nóng nảy của Tử Văn đã dẫn đến một hành động dũng cảm vì dân trừ hại. Sự tức giận của Tử Văn ko phải là sự tức giận cho riêng mình mà là sự tức giận cho mọi người dân đang bị yêu quái quấy nhiễu. Vì thế mà việc làm của Tử Văn là đáng ca ngợi. Sau khi đốt ngôi đền,Tử Văn ốm nặng rồi “thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành vế phía đông”. Lúc ở chốn âm cung, do chỉ nghe bên nguyên,Diêm Vương – vị quan toà xử kiện- người cầm cán cân công lí – cũng đã có lúc tỏ ra mơ hồ. Khi đứng trước công đường Ngô Tử Văn càng tỏ ra mình là người có khí phách. Chàng ko chỉ khằng định:”Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian” mà còn dũng cảm vạch mặt tên bại tướng gian tà với lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”. Chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Từng bước, từng bước Ngô Tử Văn đã đánh lui tất cả sự phản công, kháng cự của kẽ thù, cuối cùng đã hoàn toàn đánh gục tên tướng giặc. Sau khi được minh oan ờ minh ti, Tử Văn trở về nhà chưa được 1 tháng thì Thổ công đến bảo Tử Văn nên nhậm chức phán sự ở đến Tản Viên. Thổ công nói:”người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” và khuyên Văn nên nhận.Thế là Văn vui vẻ nhận lời. việc được nhận chức ở đền Tản Viên đã nói lên thắng lợi của chàng trong cuộc đấu tranh với tên hung thầ xảo quyệt. Sự thắng lợi này đã khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, tác giả đã vạch trần bộ mặt gian tà của ko ít kẻ đương quyền “ quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”. Ngòi bút của Nguyễn Dữ ko chỉ lên án một số quan lại mà còn tố cáo mạnh mẽ hiện thực “rễ ác mọ lan, khó lòng lay động” mà bênh vực cho kẻ gian tà. Trong câu nói buột miệng của Tử Văn “Sao mà nhiều thần quá vậy?” cũng cho ta thấy một hiện thực của xã hội phong kiến lúc bấy giờ: xã hội có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị, quyền thế làm điều bất chính. kết thúc có hậu của câu chuyện thể hiện đúng truyền thống nhân đạo của dân ta chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ đã kết hợp thành công yếu tố ảo và thực. câu chuyện diễn ra đầy tính chất li kì bởi sự xuất hiện của thế giới âm cung với những hồn ma, bóng quỷ với những việc khác thường: người chết đi sống lại từ dương gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại vế cõi dương. Nhưng chuyện lại có vẻ như rất thực bởi cách dẫn ngưòi khác, dẫn việc cụ thể đến cả họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn ra sự việc. yếu tố kì ảo giúp câu chuyện thêm phần li kì, hấp dẫn. yếu tố thực làm tăng tính xác thực, làm câu chuyện có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Câu chuyện đề cao nhân vật Ngô Tử Văn – đại diện cho tầng lớp trí thức nước Việt giàu tinh thần dân tộc, chuộng chính nghĩa, dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh chống lai cái ác trừ hạ cho dân. Truyện còn thể hiện niềm tin công lý, chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà.
Thuyết minh tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
1,255
Thuyết minh vai trò của nước với đời sống con người Hướng dẫn Thuyết minh vai trò của nước với đời sống con người Bài mẫu 1: Thuyết minh vai trò của nước với đời sống con người Sự sống được cấu thành với nhiều thành phần bao gồm thế giới tự nhiên và nhân tạo. Nước là một trong những thành tố chủ yếu nhất. Nước là một hợp chất hóa học của hai nguyên tố oxy và hidro. Nó xuất hiện từ thuở sơ khai, ngay từ những ngày đầu thế giới bắt đầu hình thành. Cho tới hôm nay, nước vẫn luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng. Bài làm: Cuộc sống của con người hình thành và duy trì, phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Một trong những nhân tố không thể thiếu trong số đó là nước. Nước có vai trỏ vô cùng quan trọng đối với đời sống của con người. Sự sống được cấu thành với nhiều thành phần bao gồm thế giới tự nhiên và nhân tạo. Nước là một trong những thành tố chủ yếu nhất. Nước là một hợp chất hóa học của hai nguyên tố oxy và hidro. Nó xuất hiện từ thuở sơ khai, ngay từ những ngày đầu thế giới bắt đầu hình thành. Cho tới hôm nay, nước vẫn luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng. Trước tiên, nước ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể của chúng ta. Nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và nó phân phối khắp nơi trong cơ thể như: máu, cơ bắp, xương tủy, phổi… Nó đi vào cơ thể nuôi dưỡng tế bào bằng cách cung cấp chất khoáng, vận chuyển chất dinh dưỡng cần thiết cho các tế bào trong mọi hoạt động trong cơ thể. Đồng thời, nước chuyển hoá và tham gia các phản ứng trao đổi chất và đào thải các chất cặn bã, ổn định nhiệt độ cơ thể. Nước cho phép cơ thể giải phóng nhiệt độ khi nhiệt độ môi trường cao hơn so với nhiệt độ cơ thể. Nó là thức uống không thể không có trong đời sống hàng ngày. Con người bình thường có thể nhịn ăn cả tuần nhưng không thể chịu khát được vài ngày. Mất nước, cơ thể chúng ta sẽ dần hao mòn năng lượng và trở nên suy yếu, cuối cùng dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể, nước còn có vai trò đặc biệt thiết yếu đối với đời sống sinh hoạt. Nước là một trong những vật chất cấu thành môi trường sống của chúng ta, chiếm 70% diện tích bề mặt Trái Đất. Nước cần thiết cho cả chăn nuôi lẫn trồng trọt. Thiếu nước, các loại cây trồng, vật nuôi không thể sống được. Nước cung cấp vào hoạt động sản xuất đảm bảo an ninh lương thực cho xã hội: Nước tưới tiêu, nước làm ruộng… Nước giúp cho mọi sinh hoạt của con người như tắm, giặt, rửa, nấu, nướng… đảm bảo được chất lượng cuộc sống của mỗi con người và sức khỏe cho cộng đồng. Nước được khai thách tiềm năng thủy điện, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong hành trình phát triển của loài người. Đây là nguồn năng lượng sạch và chiếm 20% lượng điện của thế giới. Giao thông đường thủy là một trong những con đường có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Nước tham gia phần lớn vào việc sản xuất ra các sản phẩm để trao đổi, mua bán trên thị trường. Trong y tế, nước là một trong những chất cần thiết được sử dụng để truyền, phục hồi sức khỏe và nằng lượng cho người bệnh. Nước có ý nghĩa quan trọng trong việc làm giảm ô nhiễm môi trường…. Nước bốc hơi tạo ra mưa góp phần cân bằng nhiệt độ của môi trường, thúc đẩy cây cối sinh trưởng và phát triển. Trước thực trạng nguồn nước mặt và nước ngầm ngày càng bị ô nhiễm và cạn kiệt như thế, con người cần có biện pháp khắc phục. Nếu không có các chính sách về việc bảo vệ và sử dụng nước hợp lý thì trong tương lai, nước sạch sẽ trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm. Ngay cả hiện tại, có tới khoảng 20- 40% người dân sử dụng nước không đảm bảo vậy nên việc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống là không thể tránh khỏi. Để bảo vệ nguồn nước, mỗi cá nhân cần nhận thức đầy đủ vai trò của nước đối với đời sống con người, từ đó có sự điều chỉnh hành vi. Sử dụng nước sinh hoạt tiết kiệm, đúng mục đích, không gây thất thoát nước, ngăn chặn và đề phòng những hành động gây ô nhiễm nguồn nước, tạo điều kiện tích lũy nguồn nước, chung tay thực hiện đầy đủ các luật tài nguyên nước, luật bảo vệ môi trường cùng các luật, pháp lệnh khác quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường nước bao gồm cả nước mặt và nước ngầm. Cuộc sống sẽ không thể tiếp tục nếu chúng ta sống mà không có nước. Hiều được vai trò và ý nghĩa to lớn của nó, chúng ta hãy cùng chung tay hành động bảo vệ nguồn nước, sử dụng hợp lý. Tất cả vì cuộc sống ngày càng tốt đẹp và luôn bền vững. Bài mẫu 2: Đề bài thuyết minh vai trò của nước trong đời sống Con người có thể nhịn ăn cả tuần nhưng khó có thể nhịn uống một vài ngày. Nhận định ấy phần nào thể hiện được vai trò của nước sạch đối với đời sống. Không chi vậy, nhắc đến nước sạch, ta còn nhắc đến một phần tất yếu không thể thiếu trong nhiều mặt của cuộc sống. Bài làm: “Hơn bảy mươi phần trăm cơ thể bạn là nước” – đó không còn là lời quảng cáo cho một hãng nước khoáng nào nữa, giò’ đây nó trở thành lời cảnh báo cho con người về tầm quan trọng của nước sạch đối với đời sống. Đặc biệt trong thực tế, nguồn nước sạch ngày càng vơi cạn như hiện nay. Nhắc đến nước sạch, ta nhắc đến những nguồn nước ngầm được đưa lên mặt đất (nước máy, nước giếng), hay nước mưa… Những nguồn nước này được sử dụng cho sinh hoạt của con người: ăn uống, tắm giặt…, cho sản xuất mà không gây hại cho sức khoẻ. Con người có thể nhịn ăn cả tuần nhưng khó có thể nhịn uống một vài ngày. Nhận định ấy phần nào thể hiện được vai trò của nước sạch đối với đời sống. Không chi vậy, nhắc đến nước sạch, ta còn nhắc đến một phần tất yếu không thể thiếu trong nhiều mặt của cuộc sống. Nước sạch dùng cho sinh hoạt hàng ngày, nước đểuống, nước để rửa thực phẩm, chế biến thực phẩm, nước để tắm rửa, để lau dọn… Cơ thể người có đến hon 70% là nước. Như vậy, nước chiếm một vai trò rất lớn đối với sựsống con người: nước chiếm một lượng lớn trong tế bào, nước vận chuyến, đưa máu đi khắp cơ thể, nước thanh lọc thận… Không có nước sạch, rau củ quả, thịt cá cũng không được rửa sạch, khi đó con người cũng không được dùng chúng một cách ngon lành. Không có nước sạch, thực phẩm rất khó được chế biến, lúc đó biết đâu ta sẽ phải ăn sống hoặc ăn toàn đồ cháy? Có ai đó nói rằng: nước là thứ duy nhất trên cõi đời này trong sạch. Nước trong sạch trước hết bởi chính bản thân chúng trong sạch và còn bởi nước làm trong sạch nhiều thứ. Nước để giặt giũ, nước để lau dọn, để thanh lọc… Hãy thử tưởng tượng, nước bao trùm lên mọi thứvì lí do này hay vì lí do khác kể cả con người, khi ấy nếu nước váy bẩn thì mọi thứ cũng theo đó mà ô nhiễm, tanh hôi… Nước sạch còn là yếu tố không thể thiếu để sản xuất. Nước để tưới tiêu cho nông nghiệp. Nước để giảm nhiệt mấy cho công nghiệp nặng, nước để làm sạch nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ… Nước sạch là một tài nguyên không thể thiếu cho sự duy trì và phát triển kinh tế. Vai trò của nước to lớn là vậy nhưng tiếc thay, nước sạch lại không phải là tài nguyên vô tận. Càng đáng tiếc hơn là khi con người không bảo vệ được nước sạch vì thế mà nguồn nước sạch đang dần dần vơi cạn. Bởi sự phụ thuộc của sự sống con người, của sản xuất đối với nước sạch, khi nước sạch dần vơi cạn, đời sống con người cũng phải lên tiếng kêu cứu. Đâu cứ phải châu Phi nóng bức, sa mạc trải dài mới thiếu nước sạch. Ngay giữa lòng thành phố của nhiều quốc gia tình trạng thiếu nước cũng vẫn là vấn đề căng thẳng, nhức nhối. Hà Nội là một ví dụ sinh động, tiêu biểu cho điều đó. Những con sông ô nhiễm nặng nề như một mầm bệnh nguy hiểm nằm im chờ dịp bùng phát bệnh tật. Những làng “ung thư”, làng “u bệnh” xuất hiện trong vài năm trở lại đây là hậu quả của những mạch nước ngầm bị nhiễm độc. Rồi mùa màng bị tàn phá, kim loại bị ăn mòn… đó là hậu quả của những cơn mưa axit độc hại… Nước sạch đang dần vơi cạn, thực tế đó như một hiếm họa đe doạ sự sống toàn nhàn loại. Trái đất tự ép mình, co rúm. méo mó, ép hoài, ép hoài mới cho ra vài giọt nước hiếm hoi mỏng manh… Vài giọt ấy sao có thể ban phát sự sống cho mấy ti con người vẫn đang tiếp tục gia tăng? Con người phải hành động dể giữ gìn, bảo vệ nước sạch và cũng là bảo vệ chính con người. Tiết kiệm nguồn nước sạch hiện có là biện pháp trước mắt. Nhưng về lâu dài, chúng ta phải biết giữ vệ sinh; rác thái sinh hoạt, rác thải công nghiệp phải được thu gom xửlí. Bên cạnh đó bảo vệ rừng cũng là cách để thanh lọc nguồn nước bịô nhiễm, từ đó cải hoá nước mưa axit, các nguồn nước bị ô nhiễm. Bên cạnh nước sạch, không khí, rừng… cũng là những tài nguyên vô giá thiên nhiên ban tặng cho sự sống. Song, trước thực tế đang ngày càng vơi cạn, dần bị ô nhiễm của các loại tài nguyên, con người cán gióng lên hổi chuông cảnh tỉnh lẫn nhau để cùng bảo vệ sự sống.
Thuyết minh vai trò của nước với đời sống con người
1,825
Đề bài: Vai trò của rừng đối với cuộc sống con người Bài làm Như các bạn đều đã biết, rừng là lá phổi xanh của trái đất và rừng rất quan trọng đối với cuộc sống của con người. Rừng đem đến cho chúng ta một ngôi nhà xanh, đem đến cho ta rất nhiều những nguồn lợi từ rừng và hơn thế nữa, rừng cung cấp cho chúng ta một lượng lớn khí oxi – hay còn chính là nguồn sống của mỗi con người. Không một quốc gia nào, một con người nào có thể nói rằng, họ không cần rừng, rừng không là một tài nguyên nào cả. Bởi, đối với mỗi con người, mỗi quốc gia, hay một dân tộc nào đó thì rừng là vô giá. Nhưng liệu những thế hệ trẻ như chúng ta, lý thuyết từ sách vở chúng ta đã học quá nhiều, nhưng liệu có bao nhiêu bạn thực sự hiểu được về tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống của con người. Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Không phải tự nhiên mà ta lại nói như vậy. Như các bạn đều đã biết, cây xanh hấp thụ khí cacbonic và cung cấp khí oxi cho chúng ta. Đặc biệt là đối với tất cả các quốc gia, khi mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang phát triển rất mạnh mẽ thì đi cùng với nó luôn là khói bụi từ nhà máy, từ các công trường, từ các phương tiện giao thông. Bởi vậy mà nếu ta liên tục thải khí các-bon-níc mà không có những biện pháp xử lý, thì làm cách nào để có thể có đủ lượng khí oxi cung cấp cho con người nếu không có rừng? Rừng giúp ta ngăn lũ quét và sạt lở đất. Nếu bạn thắc mắc tại sao trên các tỉnh vùng núi thường hay có nhiều rừng phòng hộ, thì chính bởi lý do: đây chính là nơi thường ra những trận lũ quét lớn. Khi ta trồng rừng, cây sẽ bám chặt xuống đất, ngăn cho lũ khi chảy về xuôi sẽ gây ra hiện tượng sạt lở đất và với diện tích rừng phủ đầy cây xanh cũng sẽ giảm được tốc độ của dòng nước lũ khi chảy về. Và điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với người dân. Rừng cung cấp cho ta một tài nguyên phong phú. Rừng cung cấp cho chúng ta một lượng gỗ lớn, nếu ta biết khai thác và có những biện pháp chăm sóc đúng quy cách. Nhưng trên thực tế thì rừng của nước ta hiện nay đang lâm vào tình trạng rất đáng báo động. Tình trạng khai thác rừng trái phép với nạn lâm tặc khiến cho hàng nghìn héc-ta rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn bị chặt phá nghiêm trọng. Cùng với đó là nạn cháy rừng hay người dân do thiếu hiểu biết mà phá rừng để làm nông cũng khiến cho diện tích rừng của nước ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Rừng đang bị khai thác trái phép, diện tích rừng giảm và điều chúng ta được tận mắt nhìn thấy đó chính là hậu quả nghiêm trọng, bởi nó làm thiệt hại về người, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và đặc biệt là hiệu ứng nhà kính đang tác động đến chính mỗi chúng ta. Vậy nên, chúng ta không chỉ khoanh tay đứng nhìn rừng đang bị tàn phá, hay nhìn những sự nỗi lực của các nước khác mà hơn thế nữa, chúng ta hãy cùng chung tay trồng rừng, bảo vệ rừng, bởi:”Rừng rất quan trọng đối với cuộc sống của mỗi chúng ta”.
Thuyết minh vai trò của rừng đối với cuộc sống con người
621
Đề bài: Thuyết Minh Về Bánh Chưng Ngày Tết Ngắn Gọn Bài làm Trong những ngày xuân đến rộn ràng, lòng người náo nức mừng dịp Tết Nguyên Đán, chúng ta lại nghĩ đến những món ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Và bánh chưng là một món ăn không thể thiếu trong số đó. Bánh chưng từ lâu đã là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Tương truyền rằng vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, nhà vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu xuân, vua cha họp các hoàng tử lại và yêu cầu họ đem dâng lên thứ mà họ cho là quý nhất để cúng lên bàn thờ tổ tiên nhân ngày đầu xuân. Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hi vọng mình được vua cha truyền ngôi. Trong khi đó, người con trai thứ mười tám của Hùng Vương là Lang Liêu có tính tình hiền hậu, sống gần gũi với người nông dân lao động nghèo khổ nên chàng lo lắng không có gì quý giá để dâng lên vua cha. Một hôm, Lang Liêu nằm mộng thấy có một vị thần đến chỉ bảo cho cách làm một loại bánh từ lúa gạo và những thức có sẵn gần gũi với đời sống hằng ngày. Tỉnh dậy, chàng vô cùng mừng rỡ làm theo cách chỉ bảo của thần. Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem những thứ sơn hào hải vị đến, còn Lang Liêu chỉ có hai loại bánh như lời thần mách bảo. Vua Hùng lấy làm lạ bèn hỏi, chàng đem chuyện thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của bánh. Vua cha nếm thử, thấy ngon, khen có ý nghĩa, bèn đặt tên cho bánh là bánh chưng và bánh giày, rồi truyền ngôi lại cho chàng. Trước khi làm bánh cần có sự chuẩn bị sơ chế nguyên liệu kĩ lưỡng. Lá dong phải rửa từng lá thật sạch hai mặt và lau khô. Tiếp đó dùng dao bài cắt lột bỏ bớt cuống dọc sống lưng lá để lá bớt cứng. Gạo nếp nhặt loại bỏ những hạt gạo khác lẫn vào, vo sạch, ngâm gạo ngập trong nước cùng 0,3% muối trong khoảng thời gian 12-14 giờ, tùy loại gạo và tùy thời tiết, sau đó vớt ra để ráo. Có thể xóc muối với gạo sau khi ngâm thay vì ngâm trong nước muối. Đỗ xanh làm dập vỡ thành các mảnh nhỏ, ngâm nước ấm 40° trong hai giờ cho mềm và nở, đãi bỏ hết vỏ, vớt ra để ráo. Thịt lợn đem rửa để ráo, cắt thịt thành từng miếng cỡ từ 2,5-3 cm, sau đó ướp với hành tím xắt mỏng, muối tiêu hoặc bột ngọt để khoảng hai giờ cho thịt ngấm. Khi làm bánh, trước hết phải xếp lạt giang một cách hợp lý rồi trải lá dong trước. Sau đó mới trải một lớp gạo rồi đến một lớp đỗ, đặt thịt vào giữa làm nhân rồi lại trải tiếp một lớp đỗ, một lớp gạo. Sau khi quấn lá chặt lại thì dùng lạt buộc chắc chắn. Theo quan niệm phổ biến hiện nay, cùng với bánh giày, bánh chưng tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa: bánh chưng màu xanh lá cây, hình vuông tượng trưng cho đất, bánh giày tượng trưng cho trời. Tuy nhiên, theo một số học giả nổi tiếng, bánh chưng nguyên thủy có hình tròn và dài, giống như bánh tét, đồng thời bánh chưng và bánh giày còn tượng trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam. Bánh thường được làm vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt, cũng như ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch. Thiếu bánh chưng ắt sẽ không thành cái Tết hoàn chỉnh: “Thịt mỡ bánh chưng xanh, dưa hành câu đối đỏ”. Hơn thế, gói và luộc bánh chưng, ngồi canh bánh chưng trên bếp lửa đã trở thành một tập quán, văn hóa sống trong các gia đình người Việt mỗi khi tết đến xuân về.
Thuyết Minh Về Bánh Chưng Ngày Tết Ngắn Gọn
732
Thuyết minh về bánh chưng Hướng dẫn Thuyết minh về bánh chưng Trong những ngày xuân đến rộn ràng, lòng người náo nức mừng dịp Tết Nguyên Đán, chúng ta lại nghĩ đến những món ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Và bánh chưng là một món ăn không thể thiếu trong số đó. Bánh chưng từ lâu đã là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Tương truyền rằng vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, nhà vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu xuân, vua cha họp các hoàng tử lại và yêu cầu họ đem dâng lên thứ mà họ cho là quý nhất để cúng lên bàn thờ tổ tiên nhân ngày đầu xuân. Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hi vọng mình được vua cha truyền ngôi. Trong khi đó, người con trai thứ mười tám của Hùng Vương là Lang Liêu có tính tình hiền hậu, sống gần gũi với người nông dân lao động nghèo khổ nên chàng lo lắng không có gì quý giá để dâng lên vua cha. Một hôm, Lang Liêu nằm mộng thấy có một vị thần đến chỉ bảo cho cách làm một loại bánh từ lúa gạo và những thức có sẵn gần gũi với đời sống hằng ngày. Tỉnh dậy, chàng vô cùng mừng rỡ làm theo cách chỉ bảo của thần. Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem những thứ sơn hào hải vị đến, còn Lang Liêu chỉ có hai loại bánh như lời thần mách bảo. Vua Hùng lấy làm lạ bèn hỏi, chàng đem chuyện thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của bánh. Vua cha nếm thử, thấy ngon, khen có ý nghĩa, bèn đặt tên cho bánh là bánh chưng và bánh giày, rồi truyền ngôi lại cho chàng. Trước khi làm bánh cần có sự chuẩn bị sơ chế nguyên liệu kĩ lưỡng. Lá dong phải rửa từng lá thật sạch hai mặt và lau khô. Tiếp đó dùng dao bài cắt lột bỏ bớt cuống dọc sống lưng lá để lá bớt cứng. Gạo nếp nhặt loại bỏ những hạt gạo khác lẫn vào, vo sạch, ngâm gạo ngập trong nước cùng 0,3% muối trong khoảng thời gian 12-14 giờ, tùy loại gạo và tùy thời tiết, sau đó vớt ra để ráo. Có thể xóc muối với gạo sau khi ngâm thay vì ngâm trong nước muối. Đỗ xanh làm dập vỡ thành các mảnh nhỏ, ngâm nước ấm 40° trong hai giờ cho mềm và nở, đãi bỏ hết vỏ, vớt ra để ráo. Thịt lợn đem rửa để ráo, cắt thịt thành từng miếng cỡ từ 2,5-3 cm, sau đó ướp với hành tím xắt mỏng, muối tiêu hoặc bột ngọt để khoảng hai giờ cho thịt ngấm. Khi làm bánh, trước hết phải xếp lạt giang một cách hợp lý rồi trải lá dong trước. Sau đó mới trải một lớp gạo rồi đến một lớp đỗ, đặt thịt vào giữa làm nhân rồi lại trải tiếp một lớp đỗ, một lớp gạo. Sau khi quấn lá chặt lại thì dùng lạt buộc chắc chắn. Theo quan niệm phổ biến hiện nay, cùng với bánh giày, bánh chưng tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa: bánh chưng màu xanh lá cây, hình vuông tượng trưng cho đất, bánh giày tượng trưng cho trời. Tuy nhiên, theo một số học giả nổi tiếng, bánh chưng nguyên thủy có hình tròn và dài, giống như bánh tét, đồng thời bánh chưng và bánh giày còn tượng trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam. Bánh thường được làm vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt, cũng như ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch. Thiếu bánh chưng ắt sẽ không thành cái Tết hoàn chỉnh: “Thịt mỡ bánh chưng xanh, dưa hành câu đối đỏ”. Hơn thế, gói và luộc bánh chưng, ngồi canh bánh chưng trên bếp lửa đã trở thành một tập quán, văn hóa sống trong các gia đình người Việt mỗi khi tết đến xuân về.
Thuyết minh về bánh chưng
730
Đề bài: Em hãy thuyết minh về bánh xèo Bài làm Có thể nói được rằng trong biết bao các món bánh mặn của Nam bộ, bánh xèo là món phổ biến, được người ăn ưa thích nhất và nó như trở thành một món ăn đặc trưng cho con người nơi đây. Qủa thật nếu như chúng ta ăn bánh xèo có đông người mới vui. Ngay cả công đoạn để có thể làm ra những chiếc bánh này cũng đã rất cầu kỳ và cũng cần phải trải qua rất nhiều công đoạn. Nên việc nhiều người làm và cũng ăn thì chắc chắn sẽ vui biết bao nhiêu. Nào là phải trải qua được các công đoạn như xay bột nấu bột, nhân bánh, nước chấm,… Nếu như chúng ta mà muốn làm cho chiếc bánh trở lên ngon lành thì chắc chắn cũng phải chịu khó, chịu cực một chút. Ta cũng rất dễ có thể nhận thấy được rằng phần bột bánh là phân quan trọng nhất. Và cũng không sai khi ta nói được rằng bánh có ngon không chính là do phần bột bánh đó. Những người làm bánh chuyên thì chắc chắn rằng họ sẽ không chịu loại bột gạo vô bịch sẵn, bày bán ơ chợ vì đó là gạo đã bẩn rồi. Còn đến khi cho gạo vào ngâm nước cho bã ra. Người ta cũng phải như té rất nhiều nước rồi gạn lấy bột nên chất bột bị chua và lạ luac này đây gạo lại không còn bổ dưỡng, thơm ngon nữa. Mà nếu như chúng ta mà muốn cho bột bánh xèo ngon phải là loại gạo thơm, gạo mới. Những hạt gạo này chúng ta cũng phải ngâm trong một buổi hoặc một đêm rồi đem xay nhuyễn. Ngày nay, chúng ta cũng thấy được rằng khi có bột bánh xèo pha chế sẵn cũng tiện dụng nhưng phải trộn thêm theo công thức, và thế ta cũng thấy được để có một bịch bột bánh xèo pha thêm một bịch bột chiên giòn hoặc cùng với đó cũng chính là bột bắp và nước cốt dừa thì bánh mới béo giòn thơm ngon được. Một phần quan trọng hơn nữa không thể thiếu đó chính là phần nhân bánh muốn ngon phải có nấm rơm, và cũng có cả nấm hương, nấm kim chi hay nấm đông cô thơm nữa. Không thể thiếu thì những con tôm hoặc tép, thịt gà hay thịt vịt băm nhuyễn, cho đến giá sống và củ sắn cũng được cho vào trong bánh xèo. Chưa hết ta như thấy được rằng lại có người còn bỏ cá cơm dừa xắt sợi, hoặc đậu xanh nấu chín. Điều có thể nhận ra được rằng nếu như mà cho quá nhiều gia vị như đậu xanh và dừa thì mang lại cảm giác ngán ngẩm khó có thể nuốt được. Ta cũng cần đặc biệt chú ý đó chính là nấm trong bánh có thể thay đổi theo từng mùa, màu nào thì nấm đó. Mùa nấm rơm thì cho nấm rơm, không có thì cho mộc nhĩ cũng được. Khi tất cả mọi thứ chuẩn bị đã xong thì ta bắt đầu vào công đoạn rán bánh xèo. Bánh xèo rán phải khéo thì mới có thể dậy mùi được. hi chảo thật nóng thì đổ thử một vài cái xem mùi vị và độ đặc lỏng của bột vừa hay chưa, sau đó mới đổ thật sự. Lưu ý đặc biệt nữa đó chính là người ta ăn bánh xèo nên dùng tay, đồng thời người ta ăn cũng không cần đũa gì cả. Dùng tay để có thể cuốn bánh cho gọn và cảm nhận được độ nóng ấm của bánh mới thấy ngon miệng. Màu sắc đẹp kết hợp với mùi vị hấp dẫn, chất dinh dưỡng cao bổ dưỡng thì bánh xèo thực sự chính là món bánh độc đáo, đậm đà hương vị Nam bộ.
Thuyết minh về bánh xèo
662
Đề bài: Thuyết minh về bãi biển Nha Trang Bài làm Có thể nói, Nha Trang là một trong những thắng cảnh đẹp của đất nước ta, là viên ngọc biếc bên bờ biển đẹp. Tuy gần Đà Lạt, nhưng thành phố lại có cái nắng rực rỡ của miền nhiệt đới nóng ẩm. Hình ảnh đầu tiên khiến em chú ý là những tòa nhà đồ sộ trong những vườn cây xanh nằm bên những đại lộ lớn. Đây là một thành phố trẻ trung, tươi mát. Nhưng cuốn hút khách dụ lịch đến đây chính là những bãi biển ven thành phố, những khu nghỉ mát hiện đại. Bãi cát trải ra mênh mông, óng ả dưới ánh nắng mặt trời, những rặng thông, phi lao rì rào với gió biển suốt ngày đêm. Từ sáng sớm, bầu trời đã quang mây, xanh ngắt. Trên bãi cát khách du lịch đông đúc, đi lại nhộn nhịp. Những chiếc dù đủ màu sắc rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời. Trên mặt biển, nước trong xanh, bập bềnh những chiếc phao bơi. Tiếng reo hò náo nức hòa với tiếng sóng biển ì ầm đập vào bãi cát tung bọt trắng xóa. Những khi mặt trời mọc, tia nắng chiếu xuống vỡ ra thành muôn vàn đồng tiền óng ánh. Buổi trưa những ngày đẹp trời, nước biển trong veo như màu mảnh chai. Mặt trời sau một ngày lao động vất vả từ từ lặn xuống tỏa ánh sáng tím hồng xuống mặt biển. Bờ biển Nha Trang bằng phẳng không nhiều đá ngầm như Đồ Sơn ở Hải Phòng. Từ trên bãi cát em phóng tầm mắt ra xa, có thể nhìn thấy những hòn đảo nhỏ như những chấm xanh, nhô lên trên mặt biển, đó là Hòn Én, Hòn Tre. Nha Trang thật xứng đáng với niềm yêu mến của khách nước ngoài và trong nước. Em nhớ mãi những ngày đẹp được sống ở Nha Trang. Khi em viết những dòng này nói về Nha Trang, trong lòng em lại ngân nga những câu thơ của nhà thơ Sóng Hồng: "Dừng chân nghỉ lại Nha Trang, Hiu hiu gió thổi trời quang tuyệt vời. Xanh xanh mặt biển da trời, Cảnh sao quyến rũ lòng người khó quên. Đây rồi Hòn Én, Hòn Tre, Xa xa Hòn Khói đi về thuyền ai. Mặt trời vừa mọc ban mai, Mênh mông cát trắng hồng phai mịn màng. Đẹp thay non nước Nha Trang, Người đi hồn vẫn mơ màng đâu đây"
Thuyết minh về bãi biển Nha Trang
411
Đề bài: Thuyết minh về bút bi Bài làm Suốt quãng đời cắp sách đến trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì tôi yêu quý nhất là cây bút bi, một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm! Hồi còn ở cấp một, tôi dùng bút máy viết mực và chữ tôi khá đẹp, nhưng khi vào cấp hai thì nó lại gây cho tôi khá nhiều phiền toái. Tôi phải vừa viết vừa nghe Thầy, cô giảng bài với tốc độ khá nhanh nên bút máy không thể đáp ứng được yêu cầu này. Chữ viết lộn xộn và lem luốc rất khó coi! Lúc ấy thì Ba mua tặng tôi một chiếc bút bi với lời khuyên: “con hãy thử xài loại bút này xem sao, hy vọng nó có ích với con”. Kể từ đó tôi luôn sử dụng loại bút này để rồi hôm nay có dịp nhìn lại, tìm hiểu đôi điều về nó. Chiếc bút bi đầu tiên, được một nhà báo Hungary làm việc tại Anh tên Laszlo Biro giới thiệu vào năm 1938. điều khiến Ông nghĩ ra việc sáng chế ra loại bút này là vì những cây bút máy luôn gây cho Ông thất vọng, chúng thường xuyên làm rách, bẩn giấy tờ, phải bơm mực và hay hư hỏng… Vào ngày 15 tháng 6 năm 1938 ông Biro được nhận bằng sáng chế Anh quốc. Từ khi bút bi được ra đời nó đã được cải tiến nhiều để phù hợp với người dùng và đã trở nên thông dụng khắp thế giới. Tuy có khác nhau về kiểu dáng như chúng đều có cấu tạo chung giống nhau. Bút bi có ruột là một ống mực đặc, đầu ống được gắn với một viên bi nhỏ có đường kính khoảng từ 0,7 đến 1 milimet, được coi như là ngòi bút. Khi ta viết mực được in lên giấy là nhờ chuyển động lăn của viên bi này và loại mực dùng cho bút khô rất nhanh. Con người thường ít nghĩ đến những gì quen thuộc, thân hữu bên mình. Họ cố công tính toán xem trung bình một đời người đi được bao nhiêu km hay một người có thể nhịn thở tối đa bao nhiêu phút nhưng chắc chưa có thống kê nào về số lượng bút họ dùng trong đời! Một cây bút cũng giống như cơ thể con người vậy, ruột bút là phần bên trong cơ thể, đầu bi chính là trái tim và mực chứa trong bút được ví như máu, giúp nuôi sống cơ thể. Còn vỏ bút giống như đầu, mình, tứ chi vậy… chúng phải cứng cáp thì bút mới bền, hoạt động tốt cũng như tạo cho người sử dụng cảm giác thoải mái. Màu sắc và hình dáng bên ngoài giống như quần áo, làm tăng thêm vẽ đẹp cho bút. Các chi tiết của bút dù quan trọng hay thứ yếu đều góp phần tạo nên một cây bút. Như một kiếp tằm rút ruột nhả tơ, âm thầm giúp ích cho đời để rồi khi cạn mực, chúng bị vứt bỏ một cách lạnh lùng. Mấy ai nhớ đến công lao của chúng! Bước vào năm học mới, các nhà sản xuất bút bi như Bến Nghé, Đông Á, Thiên Long, Hán Sơn… đã lần lượt cho ra đời hàng loạt mẫu mã từ đơn giản cho đến cầu kỳ như bút bấm, bút xoay, bút hai màu, ba màu… đủ chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng như cầu người sử dụng. Các cậu nam sinh thì chỉ cần giắt bút lên túi áo đến trường nhưng nhiều bạn gái lại thích “trang điểm” cho bút các hình vẽ, hình dáng xinh xắn lên thân hay đầu bút còn được đính thêm con thú nhỏ ngộ nghĩnh… Thế là những chiếc bút bi lại theo chân trò nhỏ đến trường, giúp các cô, cậu lưu giữ những thông tin, kiến thức vô giá được thầy cô truyền đạt lại với cả tấm lòng! Có cây bút vẻ ngoài mộc mạc, đơn giản song cũng có cây được mạ vàng sáng loáng. Nhìn bút, người ta biết được “đẳng cấp” của nhau, nhưng nhìn vào nét chữ người ta mới đoán được tính cách hay đánh giá được trình độ của nhau. “Một chiếc áo cà sa không làm nên ông thầy tu”, một cây bút tuy tốt, đắt tiền đến cỡ nào cũng chỉ là vật để trang trí nếu vào tay kẻ đầu rỗng mà thôi! Bút là vật vô tri, nên nó không tự làm nên những câu chữ có ý nghĩa nhưng nếu trong tay người chủ chuyên cần, hiếu học nó sẽ cho ra đời những bài văn hay, những trang viết đẹp. Để trở thành người chủ “tài hoa” của những cây bút, người học sinh cần rèn luyện cho mình thói quen vở sạch, chữ đẹp và luôn trau dồi kiến thức học tập… hãy biến chúng thành một người bạn thân thiết, một cánh tay đắc lực trong việc học tập bạn nhé! Cùng với sách, vở… bút bi là dụng cụ học tập quan trọng của người học sinh, vì vậy chúng ta cần phải bảo quản bút cho tốt. dùng xong phải đậy nắp ngay để tránh bút rơi làm hư đầu bi, bộ phận quan trọng nhất của bút. Đặc biệt là luôn để bút ở tư thế nằm ngang giúp mực luôn lưu thông đều, không bị tắc. Một số loại bút bi có thể thay ruột khi hết mực và mình xin mách các bạn một mẹo nhỏ là nếu để bút bi lâu ngày không xài bị khô mực thì đừng vội vứt bỏ mà chỉ cần lấy ruột bút ngâm trong nước nóng độ 15 phút… cây bút của bạn có thể được phục hồi đấy! Có thể nói rằng bút bi là một trong những phát minh quan trọng của con người. Ngày nay cứ 1 giây lại có 57 cây bút bi được bán ra trên thế giới, chứng tỏ tầm ảnh hưởng quan trọng của nó. Khoa học tiến bộ, nhiều công cụ ghi chép tinh vi hơn, chính xác hơn lần lượt xuất hiện nhưng bút bi vẫn được nhiều người sử dụng bởi nó rẽ và tiện lợi. Cầm cây bút bi trên tay, nắn nót từng chữ viết cho người thân yêu, chúng ta mới gửi gắm được trong đó bao nhỉ!
Thuyết minh về bút bi
1,118
Đề bài: Thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày Tết Bài làm Bánh chưng, bánh tét là món ăn truyền thống của dân tộc. Có nhiều truyền thuyết dân gian cũng như có nhiều học giả, nhà nghiên cứu văn hóa giải thích khác nhau về ý nghĩa của loại bánh này..Riêng tôi rất thích thú với truyền thuyết từ thời vua Hùng Vương thứ 6, về cuộc thi tài để chọn người lên làm vua: không thi gì mà thi làm món ăn. Ngay sau khi phá xong giặc Ân, vua Hùng muốn truyền ngôi cho con.Vào dịp đầu xuân, vua mở hội các con mà bảo rằng: ”Con nào tìm được thức ăn ngon lành để bày cỗ và có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho”. Các Lang (các người con của vua Hùng) đã đua nhau làm ra những món lạ từ những vật liệu sơn hào hải vị quý hiếm khắp nơi. Riêng người con trai thứ 18 của vua Hùng là Lang Liêu tính tình thuần hậu, chí hiếu, làm ra bánh chưng, bánh dầy. Kết quả được vua cha chọn nhường ngôi. Cái giỏi và cái tâm của Lang Liêu là biết sử dụng những nguyên liệu thông thường có sẵn như: lá, gạo nếp, đậu xanh, thịt heo… để làm thành món ăn, mà trong đó đã gói ghém cả một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, mang ý nghĩa sâu xa để làm vật phẩm cúng tế tổ tiên, đất trời. Vào các dịp lễ tết ở miền Bắc phổ biến nhất là bánh chưng, bánh dầy. Có người quan niệm bánh chưng hình vuông để tượng trưng cho đất, là âm, dành cho mẹ. Bánh dầy hình tròn để tượng trưng cho trời, là dương dành cho cha. Ở miền Nam bánh tét được chọn thay thế bánh chưng. Có người giải thích đó là do sự hội nhập nhiều luồng văn hoá khác nhau, đặc biệt là văn hoá Chăm với tín ngưỡng “Phồn Thực”, nên bánh tét có hình tượng như chiếc Linga là biểu tượng của sức sống, sự trường tồn, hùng mạnh… Nhưng có quan niệm khác cho rằng bánh tét thực ra là cái bánh chưng nguyên thủy của người Việt cổ, được bảo lưu tại miền Nam. Ở miền Trung thì có cả bánh chưng và bánh tét. Từ năm 1802, sau khi đất nước được thống nhất dưới thời Gia Long, bắt đầu có sự kết hợp văn hoá cổ truyền của đất Bắc và văn hoá mới phong phú của vùng đất mới phương Nam. Đặc biệt ở Thừa Thiên Huế, trong nồi bánh tết luôn luôn có 2 loại, vừa bánh chưng vừa bánh tét. Về thành phần và hình thức của bánh Để làm bánh chưng dù miền Bắc hay miền Trung thì nguyên liệu vẫn giống nhau, như lá, nếp, đậu xanh, thịt lợn… Bánh chưng miền Bắc có nhiều nhân và lớn. Còn bánh chưng miền Trung thì ít nhân, nhỏ hơn và thường cột một cái xấp một cái ngửa với nhau thành cặp. Các thành phần của bánh tét truyền thống căn bản vẫn giống bánh chưng. Nhưng về sau có nhiều biến đổi, như có thêm bánh tét ngũ sắc, bánh tét nhân chuối, bánh tét nhân dừa, bánh tét có nhân tôm khô và lạp xưởng… hay có khi là bánh tét không nhân gì cả Tập quán và sự kiêng kỵ đối với món bánh ngày tết Ở miền Bắc, món bánh chưng ngày nay là món hàng quà bán hàng ngày, tuy nhiên bánh chưng vẫn là món ăn nghi lễ trong các ngày lễ hội, giỗ, tết. Ở miền Nam bánh tét ngoài việc cúng tế tổ tiên trong dịp tết,còn dùng làm quà tặng biếu bà con thân hữu, thường thì hai cái cột lại với nhau cho có quai xách. Người dân vùng quê ngày tết gói nhiều bánh tét nấu chín, có thể vứt tạm xuống dưới ao, sau vài tháng vớt lên ăn bình thường. Còn ở miền Trung, trong dân gian người ta dùng cả hai loại bánh chưng và bánh tét để cúng tổ tiên, nhưng không dùng bánh tét để làm quà biếu trong những ngày đầu năm, vì tên gọi “đòn bánh tét” nghe như đòn roi là sự trừng phạt.(Trẻ con miền Trung ngày xưa, mỗi khi lỡ ham chơi lêu lổng, bị cha mẹ la rầy kêu về, nghe câu dọa: ”Đi mau về nhà được ăn bánh tét“ thì hồn vía lên mây! Riêng trong chốn cung đình, chỉ được phép dâng cúng bánh chưng, chứ không được dùng bánh tét làm lễ phẩm dâng cúng trong miếu điện. Do hình dáng và tên gọi của bánh tét bị cho là không tao nhã. Cảm nhận của người nước ngoài và người Việt xa quê Một trong những nước cùng chung nền tảng văn minh lúa nước với chúng ta là Nhật Bản. Khi tôi đếnTokyo, vào một số nhà hàng Việt Nam, thấy thực khách người Nhật thích thú thưởng thức những món ăn đặc trưng Việt Nam như phở, chả giò… Đặc biệt, họ còn rất thích thú với món bánh chưng và bánh tét ăn cùng dưa món. Rồi có dịp đến Paris vào thời gian cuối năm, tôi thấy các siêu thị bán thực phẩm Việt Nam ở quận 13, có bán rất nhiều lá dong, lá chuối, dây lạt, gạo nếp… các thứ để làm bánh tết. Tôi đến thăm một ngôi chùa tại Paris, mới biết các vị sư ở đây có biệt tài làm bánh chưng, bánh tét chay và dưa món rất ngon. Cứ độ đầu tháng chạp thì nhà chùa đã chuẩn bị sấy các loại rau củ để làm dưa món, nguyên liệu để làm bánh, nhưng vẫn không đủ cung cấp cho bà con Việt kiều ở xa quê. Tiểu bang California ở Mỹ là nơi có nhiều người Việt sinh sống. Vào đầu năm ngoái, Việt kiều ở đây rất vui khi được Ban Y tế California nhận định: ”Bánh chưng là một loại văn hoá ẩm thực ngàn xưa của người Việt Nam”, nên Ban này đã thông qua dự luật AB-2214 về việc cho phép bán bánh chưng. Khi đến Mỹ, tôi đã gặp nhiều bà mẹ Việt Nam hiện đang sinh sống ở đây. Họ cảm thấy trống vắng và quay quắt nhớ quê hương vào dịp xuân về. Vì ngày Tết Việt Nam thường rơi vào những ngày con cháu bận đi làm, không thể đoàn tụ đông vui, nên hễ có dịp sum họp gia đình như lễ tạ ơn, lễ giáng sinh… thì các bà mẹ xa quê xem đó là ngày Tết của mình. Vào những dịp như vậy thì các bà chuẩn bị làm bánh tét, bánh chưng.
Thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày Tết
1,131
Thuyết minh về chiếc bút máy – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Bài làm Cây bút đã là vật dụng quen thuộc đối với con người. Bất kể là học sinh, giáo viên, bác sĩ,… hay ai chăng nữa, tất cả đều phải dùng tới những cây bút để viết, để làm việc. Nói tới bút thì có rất nhiều loại như bút chì, bút bi, bút mực,…nhưng cây bút máy vẫn là tiện dụng và gần gũi nhất, đặc biệt là với học sinh, sinh viên và công chức. Mấy năm trước, trong một buổi sinh nhật, em đã được bố tặng cho một cây bút máy mài nét thanh nét đậm, màu trắng rất đẹp. Cây bút đã là bạn đồng hành với em trong suốt mấy năm qua. Em rất quý nó. Lên cấp Trung học sơ sở, không phải dùng bút máy nữa nhưng em vẫn nâng niu, giữ gìn cây bút bố tặng cho đến tận bây giờ. Bút máy có nguồn gốc ở châu Âu, được đưa vào nước ta từ đầu thế kỉ XX nhưng phải đến giữa thế kỉ nó mới trở thành vật dụng quen thuộc và phổ biến. Cây bút dài 14 cm, đường kính khoảng 1 cm. Cấu tạo chiếc bút gồm hai phần chính: bên ngoài và bên trong. Phần ngoài chính là vỏ bút, bao gồm nắp và thân. Hầu hết nắp làm bằng nhựa, cùng loại nhựa với thân bút, cùng màu hoặc có thể khác màu. Phía trên nắp có một cái gài, làm bằng kim loại như nhôm hoặc sắt mạ, có thể cài vào túi áo hoặc sách vở. Thân bút hình trụ rỗng, thon dần về phía đuôi. Vỏ bút có nhiệm vụ bảo vệ cho các phần bên trong bút. Ruột bút gồm các bộ phận như ngòi bút, lưỡi gà, ống dẫn mực và ruột đựng mực. Ngòi bút thường làm bằng kim loại không rỉ, ở đầu có gờ tròn nhỏ gọi là hạt gạo, giữ cho mực xuống đều. Trên ngòi còn có rãnh ở giữa để dẫn mực, nửa phần dưới cong, ốp sát vào lưỡi gà có các rãnh ngang không cho mực tràn ra đầu bút. Ống dẫn mực ngắn độ 3 cm, nhỏ như cây tăm, làm bằng nhựa dẻo, đầu trên gắn với lỗ tròn của lưỡi gà, đầu dưới thông với ống chứa mực. Ống chứa mực dài khoảng 5 cm, bằng cao su hoặc nhựa mềm, được bảo vệ bằng lớp kim loại mỏng. Khi ta nhúng đầu ngòi bút vào bình mực, lấy ngón cái và ngón trỏ bóp nhẹ vào ruột bút thì mực sẽ được hút vào ống chứa. Sau đó ta chỉ cần cho đầu bút vào thân bút rồi xoay cho chặt là có thể sử dụng được. Lúc viết xong, ta nhớ lấy giấy mềm hoặc miếng vải ẩm lau sạch ngòi bút để không đóng cặn. Cứ khoảng một tháng ta nên tháo rời các bộ phận ra để rửa sạch rồi lau khô và lắp lại như cũ. Như thế bút sẽ không bị tắc mực và rất bền. Tuyệt đối không được đâm ngòi bút vào bất cứ vật gì, đầu bút sẽ bị toè và không sử dụng được nữa. Với mỗi người học sinh, cây bút máy như một người bạn thân thiết không thể thiếu trong cuộc đời. Bút máy giúp ta viết được chữ thanh và đẹp hơn hẳn bút bi. Ngày ngày, cây bút cùng ta tới trường, cùng ta nghe thầy cô giảng bài và cùng ta viết nên những dòng chữ nắn nót. Nó giúp ta đạt được kết quả tốt trong học tập, nó cũng giúp ta thành công trong sự nghiệp và trong cuộc sống. Nguyễn Minh Hùng (Trường THCS Đông Thái) >> Xem thêm Thuyết minh về quyển sách giáo khoa “Ngữ Văn 8”, tập một tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Thuyết minh về chiếc bút máy
Thuyết minh về chiếc bút máy – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
661
Thuyết minh về chiếc bút máy Hướng dẫn Thuyết minh về chiếc bút máy Trong cuộc sống con người chúng ta không thể nào thiếu học tập mà muốn học tập thật tốt thì cần phải có những vật dụng học tập trong đó quan trọng nhất là bút và sách. Bút rất quan trọng vì không có nó thì viết thế nào được, nếu như ngày xưa các nhà nho xưa thường viết bằng bút lông mực tàu thì từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta đã mang theo chiếc bút máy. Vậy chiếc bút máy khác những chiếc bút bình thường ở chỗ nào?. Trước hết là về cấu tạo của chiếc bút máy thì mỗi người chúng ta ai cũng có thể biết rõ. Bút được chia ra làm hai phần chính là vỏ bút và ruột bút. Vỏ bút lại chia thành phần thân bút và nắp bút. Hai phần ấy gắn được với nhau bằng những ren xoáy. Vỏ bút thường làm bằng nhựa và bằng sắt, bút làm bằng nhựa sẽ nhanh vỡ hơn khi va chạm mạnh còn vỏ bút làm bằng sắt sẽ bền hơn. Mùa sắc của vỏ bút rất đa dạng nào là xanh, đỏ rồi lại tím vàng, nếu như ra cửa hàng thì có thể thoải mái lựa chọn màu mà mình yêu thích. Vỏ bằng sắt thì cũng được mạ những màu sắc rất đẹp. Ngoài ra trên những thân bút ấy còn có cả hoa văn họa tiết rất nhỏ nhưng đẹp. Nắp bút để bào vệ ngòi bút bên trong cũng đỡ để dây mực ra ngoài gây bẩn. Không những thế trên nắp bút còn được thiết kế để kẹp vào sách cho không rơi. Nhìn chung cây bút máy có chiều dài tầm 10 centi mét nhỏ thon gọn và rất tiện lợi khi mang theo bên người. Phần ruột bút thì gốm có ngòi bút ở phía trên, đó chính là phần để viết. Ngòi bút thường thì có loại to và có loại nhỏ. Sau đó đến phần sắt để cầm vào đó viết, bên trong lớp vỏ sắt đó là một hệ thống nối từ ngòi bút đến ống đựng mực. Theo những bút ngày xưa thì phần ống mực làm bằng nhựa dẻo để rỗng bên trong và khi hút mực vào đó thì chúng ta phải xoắn ống đựng mực đó lại sau đó thả ra thì mực sẽ lên. Tuy nhiên việc đó cũng khá khó cho nên nhiều em học sinh không thể hút được và phải nhờ đến sự giúp đỡ của mẹ. Khi phát triển hơn thì người ta sáng chế ra một loại ống đựng mực dễ hút mực hơn. Nó được thiết kế đẩy lên và xuống giống như nguyên tắc hút nước của xi lanh hoặc dạng xoay. Khi xoay xuống dưới thì mức sẽ vào khi xoay lên trên thì mực sẽ ra. Chính vì thế mà việc hút mực vào bút trở nên dễ dàng. Về phân chia các loại bút máy thì có bút nét to và bút nét thanh nét đậm. Các hãng bút trên thị trường thì rất nhiều nhưng nổi tiếng và thông dụng nhất là các hãng như bút kim tinh ngày xưa, bút Trường Sơn, bút Nét Hoa, bút Kim Thành, Bút luyện viết chữ đẹp… Công dụng của nó mà ai cũng biết là dùng để viết lên những dòng chữ của con người. Với đựng mực nhiều như thế chúng ta có thể viết nhiều lần mà không lo hết mực. Bút đặc biệt có công dụng lớn với những cô cậu học sinh tiểu học vì cấu tạo của bút máy không trơn như bút bi cho nên nó không bị hỏng chữ xấu chữ. Những chiếc bút máy ấy sẽ giúp cho những người mới học chữ viết thật đẹp và ngay ngắn nét thanh nét đậm. Như vậy có thể nói cây bút máy thật sự quan trọng trong công việc học tập của chúng ta, những ai đã lớn vẫn nên viết bút máy vì với cấu trúc của nó sẽ giữ được những nét chữ của chúng ta ngay ngắn và đẹp hơn chứ không như bút bi trơn dễ làm mất nét chữ. Đồng thời trong quá trình sử dụng thì cần bảo quản sạch sẽ để giữ bút được lâu hơn.
Thuyết minh về chiếc bút máy
731
Thuyết minh về chiếc kim khâu văn 9 Hướng dẫn Thuyet minh ve chiec kim khau – Đề bài: Chiếc kim tuy nhỏ bé nhưng lại có nhiều công dụng lớn lao. Em hãy viết bài văn thuyết minh về cây kim cho mọi người cùng hiểu. Trong các dụng cụ cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người, có lẽ chúng tôi thuộc họ bé nhất. Tuy bé nhưng nhà ai cũng cần đến. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là cái kim khâu, bằng kim loại, bề ngang độ nửa mi-li-mét, chiều dài khoảng hai, ba xăng-ti-mét, một đầu nhọn, một đầu tù, có lỗ trên để xâu chỉ. Kim phải cứng mới dùng được. Khi đứt cúc, sứt chỉ, thế nào cũng phải có tôi thì mới xong. Tôi có từ lúc nào, không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xưa. Từ khi con người biết trồng bông dệt vải may áo, chắc là phải cần đến kim để khâu áo. Làm ra cây kim lúc đầu hẳn là rất khó khăn, cho nên bây giờ mới có câu tục ngữ Có công mài sắt, có ngày nên kim. Họ nhà Kim chúng tôi rất đông. Ngoài kim khâu vải may áo, còn có loại kim dùng để thêu thùa, lại có kim khâu trong phẫu thuật, kim khâu giày, kim đóng sách,… Công dụng của kim là đưa chỉ mềm luồn qua các vật dày, mỏng để kết chúng lại. Thiếu chúng tôi thì nhiều nhà sản xuất gặp khó khăn đấy! Nghe nói từ cuối thế kỷ XVIII, một người Anh đã sáng chế ra máy khâu, nhưng máy khâu vẫn cứ phải có kim thì mới khâu được! Họ Kim lại còn có kim tiêm. Vẫn thân hình bé nhỏ, cứng cáp, có đầu nhọn, nhưng trong ruột lại rỗng, kim tiêm dùng để đưa thuốc chữa bệnh vào trong cơ thể con người. Khi ốm nặng, cần tiêm mà không có tiêm sạch thì nguy! Chúng tôi bé thật đấy, nhưng không tầm thường chút nào! Chúng tôi làm được những việc mà những kẻ to xác không làm được. Như vậy có phải là rất đáng tự hào không?
Thuyết minh về chiếc kim khâu văn 9
369
Thuyết minh về chiếc kính mắt Hướng dẫn Thuyết minh về chiếc kính mắt BÀI LÀM Trong những vật dụng mà chúng ta thường dùng thì chiếc kính đeo mắt rất cần thiết đối với mọi người thuộc các lứa tuổi khác nhau. Nếu nói rằng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn của mỗi chúng ta thì ắt rằng những cặp kính chính là những người giúp việc tận tâm, những người bảo vệ vững chắc, những vật trang trí duyên dáng cho khung cửa mộng mơ ấy. Quả không quá khi nói như vậy về cặp kính đeo mất bởi kính, có rất nhiều loại và rất nhiều tác dụng, phù hợp với hầu hết nhu cầu của mọi người. Với những người bị bệnh về mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị kính giúp họ khắc phục được điểm hạn chế của bản thân. Người cận thị có thể nhìn được những vật ở xa, người viễn thị thì nhờ kính mà nhìn được những vật ở gần… Đối với người làm những công việc đặc thù như bơi, trượt tuyết, đi xe máy tốc độ cao,… kính lại giúp mắt họ tránh khỏi nước, tuyết, gió, bụi,… Những người không bị bệnh về mắt, không có những hoạt động trên, khi ra đường cũng nên mang theo một cặp kính: để tránh nắng chói và gió bụi. Thậm chí, có những người sử dụng kính như một vật trang trí đơn thuần. Giá trị thẩm mĩ của kính có được bởi sự đa dạng của kiểu dáng và màu sắc. Bên cạnh loại kính gọng còn có loại kính áp tròng. Đó là một loại kính đặc biệt, nhỏ, mỏng, được đặt sát vào tròng mắt. Riêng với loại kính này phải có sự hướng dẫn sử dụng tỉ mỉ của bác sĩ chuyên ngành. Đeo một chiếc kính trên mắt hẳn ai cũng tò mò muốn biết sự ra đời của kính? Đó là cả một câu chuyện dài. Vào năm 1266 ông Rodger Becon người Italia đã bắt đầu biết dùng chiếc kính lúp để có thể nhìn rõ hơn các chữ cái trên trang sách. Năm 1352, trên một bức chân dung người ta nhìn thấy một vị hồng y giáo chủ đeo một đôi kính có hai mắt kính được buộc vào một cái gọng. Như vậy chúng ta chỉ có thể biết được rằng đôi kính được làm ra trong khoáng thời gian giữa năm 1266 và 1352. Sự ra đời của những cuốn sách in trở thành động lực của việc nghiên cứu, sản xuất kính. Vào thế kỷ XV những căp kính chủ yếu được sản xuất tại miền bắc nước Ý và miền nam nước Đức – là những nơi tập trung nhiều người thợ giỏi. Năm 1629 vua Charles I của nước Anh đã ký sắc lệnh thành lập hiệp hội của các thợ làm kính mắt. Đến năm 1784, ông Bedzamin Franklin người Đức đã sáng tạo ra những đôi kính có hai tiêu điểm.
Thuyết minh về chiếc kính mắt
503
Đề bài: Thuyết minh về chiếc kính đeo mắt Bài làm Đôi mắt được ví như cửa sổ của tâm hồn, người ta nhìn nhận cuộc sống bên ngoài kia với biết bao nhiêu điều mới lạ. Và để bảo vệ cho đôi mắt thì không hể không nói đến những chiếc kính đeo mắt. Sự ra đời của chiếc kính được đánh dấu mốc chính là vào năm 1266 ông Rodger Becon người Italia cũng đã bắt tay vào việc sử dụng kính lup và ông nhận thấy các chữ cái trên sách nhìn rõ hơn. Tiếp đến năm 1352 người ta phát hiện tháy được có một bức chân dung một vị hồng y giáo chủ đã đeo một đôi kính có hai mắt kính được buộc vào một cái gọng. Và từ khoảng thời gian đó người ta đúc kết rằng sự ra đời của kính nằm trong giai đoạn đó. Theo thời gian thì vào thế kỷ XV người ta nhận thấy được những chiếc kính mắt chủ yếu được sản xuất tại miền bắc nước Ý và sản xuất ở miền nam nước Đức. Sự kiện tiếp theo vào năm 1629 vua Charles I của nước Anh cũng đã ký sắc lệnh thành lập hiệp hội của các thợ làm kính mắt. Cho đến năm 1784, ông Bedzamin Franklin người Đức cũng đã sáng tạo ra những đôi kính có hai tiêu điểm và có giá trị sử dụng cho nhân loại. Hiện nay thì có rất nhiều loại kính đeo mắt, mỗi loại kính lại mang được rất nhiều tác dụng, luôn luôn phù hợp với hầu hết nhu cầu của mọi người sử dụng. Có thể thấy được chính với những người bị bệnh về mắt có thể kể ra đó chính là các tật cận thị, viễn thị, loạn thị,… chiếc kính sẽ giúp họ khắc phục được điểm hạn chế của bản thân họ. Có thể nhận thấy được chính nhờ có kính điều chỉnh thì giúp cho những người cận thị chỉ có thể nhìn được ở xa hơn, còn ngược lại với người viễn thị thì nhờ kính mà nhìn được những vật ở gần,… Chiếc kính cũng lại có tác dụng đối với người làm những công việc đặc thù mà đôi mắt luôn bị chịu tác động khá mạnh với nhiều môi trường khắc nghiệt như bơi lội, trượt tuyết, đi xe máy tốc độ cao,… nhờ có kính mà giúp cho mắt bạn được bảo vệ an toàn nhất. Tất cả hững người mà không bị bệnh về mắt, thậm chí họ cũng không có những hoạt động trên nhưng khi ra đường cũng nên đeo một chiếc kính đẹp để tránh được nắng và bụi đường. Ngoài ra kính còn giúp cho bạn trông thời trang hơn rất nhiều đó. Thuyết minh về chiếc kính đeo mắt Vậy về cấu tạo của kính như thế nào? Kính có những bộ phận cấu tạo rất giống nhau. Dễ nhận thấy được chiếc kính đeo mắt luôn gồm có hai bộ phận chính đó là phần tròng kính và gọng kính. Phần tròng kính cũng rất phong phú và nó cũng lại phụ thuộc vào hình dáng gọng kính như thế nào mà có hình dáng tương xứng nhất đó chính là hình tròn, vuông hay là hình chữ nhật… được làm bằng kính, nhựa chống trầy xước và cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt những thông số kỹ thuật nếu như là kính thuốc điều chỉnh tầm tìn của mắt. Phần gọng kính chính là phần bộ phận làm khung cho kính và đồng thời cũng chính là một bộ phận nâng đỡ tròng kính. Quan sát gọng kính ta nhận thấy được nó bao gồm hai phần được nối với nhau chặt chẽ chính bởi một khớp sắt nhỏ nhắn, còn với phần sau lại có thể giúp gá kính vào vành tai. Gọng giúp cố định vị trí đeo kính cho bạn và có thể làm bằng kim loại và nhựa, song gọng kính nhựa lại chiếm ưu thế vì đẹp, tiện dụng và lại còn bền, nhẹ nữa.. Hiện nay có rất nhiều loại kính có kiểu dáng khác nhau không chỉ có loại kính gọng mà lại có loại kính áp tròng đặc biệt nhỏ, vô cùng mỏng và được đặt sát vào tròng mắt. Kính áp tròng thì phải được sự dụng cẩn thận và theo sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên ngành. Bạn nên biết được việc sử dụng kính luôn luôn có được sự tác động rất lớn đến sức khoẻ. Chính vì điều này nên người sử dụng cũng nên phải sử dụng đúng cách, đúng kính với tình trạng mắt của bạn. Không nên đeo những loại kính thuốc cho mắt thường nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới mắt của bạn. Mỗi loại kính lại thích hợp với từng người nên người tiêu dùng cũng hãy cân nhắc và chọn lựa thật kỹ. Không thể phủ nhận được chiếc mắt kính đeo mắt được đánh giá chính là một vật dụng quen thuộc với đời sống hằng ngày của chúng ta. Kính giúp cho đôi mắt tránh khỏi được những tác động bên ngoài. Ngày nay thì kính lại còn đảm nhiệm thêm nhiệm vụ giúp người đeo thêm phong cách và thời trang hơn nữa. Minh Nguyệt
Thuyết minh về chiếc kính đeo mắt ngày nay
894
Đề bài: Thuyết minh về chiếc kính đeo mắt. Bài làm Kính đeo mắt là một vật dụng rất quen thuộc và phổ biến trong đời sống thường ngày, người ta sử dụng kính khi bị tật khúc xạ, khi bị lão thị, khi cần bảo vệ mắt hay chỉ với mục đích thời trang và thẩm mỹ. Cấu tạo của chiếc kình đeo mắt gồm hai phần chính là phần gọng và phần tròng kính. Gọng kính có hai loại là gọng làm bằng kim loại chống rỉ và gọng bằng nhựa (cứng hoặc dẻo). Hiện nay, gọng nhựa được ưa chuộng hơn cả vì đẹp và bền, lại thời trang với đủ các loại màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng,… tùy ý chọn lựa. Kiểu dáng cũng rất đa dạng, có loại kính to, nhỏ, kính mắt tròn, kính mắt vuông,… phù hợp cho mọi khuôn mặt ở mọi lứa tuổi và giời tính. Gọng kính cũng được chia làm hai phần, phần quai đeo và phần lắp mắt kính được nối với nhau bằng một bản lề nhỏ có ốc vặn. Quai đeo có dáng hơi cong ở đuôi để đeo vào tai, nơi lắp mắt ở phần sống mũi có hai phần nhỏ nhô ra gọi là giá đỡ để cố định kính. Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì tròng kính chủ yếu làm bằng chất liệu thủy tinh, nó có ưu điểm là ít trầy xước, giữ được độ trong suốt lâu, nhưng kính thường nặng, nhất là những kính có độ cao, dễ vỡ và không an toàn cho người sử dụng. Ngày nay các loại kính bằng chất liệu thủy tinh ít được sử dụng nữa mà người ta thay thế bằng nhiều loại vật liệu tổng hợp ưu việt hơn như là: Plastic,trivex, photochromic,… Kính đeo mắt cũng rất đa dạng trong công dụng khi đưa vào đời sống tùy vào nhu cầu sử dụng mà người ta cần có cách dùng khác nhau.Nếu là kính cận, viễn, loạn,… thì người sử dụng phải đi kiểm tra kĩ lưỡng về mắt để cắt kính cho đúng độ bởi kính thuốc có công dụng giúp những người có bệnh khúc xạ về mắt nhìn thấy rõ hơn. Ngoài ra, kính đeo mắt còn có loại kính râm phù hợp cho người đi nắng để bảo vệ đôi mắt khỏi khói bụi, ánh sáng mặt trời,… khi ra đường. Có kính bơi bảo vệ mắt các vận động viên bơi lội ở trong môi trường nước,… Với xu hướng như ngày nay, nhiều bạn trẻ còn coi chiếc kình đeo mắt như một món đồ thời trang, thể hiện phong cách độc đáo, trẻ trung. Có nhiều công dụng cho đời sống như vậy nên chúng ta cần biết cách sử dụng, bảo quản hợp lí chiếc kình đeo mắt. Khi cầm lên đeo, nên cầm bằng cả hai tay, đeo thẳng để tránh gọng bị gẫy, khi tháo kính cũng cầm cả hai tay. Nên cầm vào phần gọng kính, không cầm vào phần mắt, dễ làm cho mắt bị mờ và chú ý khi sử dụng xong phải cất ở những nơi an toàn, dễ thấy như trong hộp kính, trong ngăn tủ,… Không để những vật nặng đè lên kính sẽ làm cho kính bị gãy, hỏng và tránh đánh rơi kính. Thỉnh thoảng nên vệ sinh mắt kính và gọng kính bằng vải mềm và nước để khi sử sử sử dụng cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn.
Thuyết minh về chiếc kính đeo mắt
588
Thuyết minh về chiếc mũ bảo hiểm Hướng dẫn Đề bài: Thuyet minh ve chiec mu bao hiem – Em hãy viết một bài văn thuyết minh về chiếc mũ bảo hiểm. Chúng ta dễ dàng bắt gặp được hình ảnh người điều khiển xe máy trên đường phố hôm nay, ai ai cũng đội mũ bảo hiểm. Để có được hình ảnh ngày hôm nay, chính quyền các cấp đã bỏ nhiều công sức mở các chiến dịch tuyên truyền, vận động và nhân dân đã phải trải qua 1 thời gian dài để thích nghi. Vậy nón bảo hiểm có điều gì mà phải mất cả năm trời để vận động, để thích nghi? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé! Mũ bảo hiểm là loại mũ được cấu tạo đặc biệt dùng để bảo vệ đầu người khi bị tai nạn giao thông. Mũ cấu tạo gồm ba lớp. Lớp thứ nhất ở bên ngoài là lớp vỏ cứng được làm từ nhựa đặc biệt, cao cấp hơn người ta còn sử dụng sợi carbon siêu nhẹ… Lớp thứ hai là miếng xốp dày để giảm chấn động cho đầu khi bị va đập mạnh. Lớp trong cùng được cấu tạo bằng một chất liệu mềm và thưa để làm thoáng khí và làm êm đầu khi đội mũ. Bên dưới nón là dây quai nón có tác dụng giữ nón chặt vào đầu người sử dụng kể cả khi người sử dụng bị té ngã hay chịu lực tác động khác thì nó vẫn giữ chặt vào đầu người. Dây được may từ sợi dây dù vừa rẻ, bền, chắc hay cao cấp hơn thì dây được làm bằng da. Để giúp cho việc đội nón vào bỏ nón, người ta chia dây thành hai phần gắn lại với nhau bằng một móc khóa nhựa rất chắc nhưng thao tác tháo mở thì cực kì đơn giản. Trên sợi dây dài được gắn một miếng cao su hay nhựa dẻo có thể di động được phù hợp với vị trí cằm để góp phần giữ chặt nón vào đầu. Trên sợi dây còn có một khớp để có thể nới dây dài ra hoặc thu ngắn lại giúp nón giữ chặt với đầu có các kích thước lớn nhỏ khác nhau. Mũ bảo hiểm ở một số loại có từ 2 đến 3 lỗ hầm gió để khi di chuyển sẽ tạo ra nguồn gió làm thông thoáng bên trong mũ. Những nước nhiệt đới như Việt Nam ta thì những loại mũ có lỗ thông gió là loại thông dụng nhất vì khí hậu nóng lại phơi nắng lâu nên có một thời gian nón bảo hiểm được ví như “nồi cơm điện” chụp trên đầu. Chính các lỗ thông gió này đã tạo cơ hội cho người sử dụng các loại nón kiểu này cảm thấy thuận tiện hơn khi đội nón. Người ta cấu tạo nón bảo hiểm có lỗ thông gió còn kèm thêm các nút bít để sử dụng thuận tiện vào mùa mưa. Để tăng thêm tiện ích cho mũ bảo hiểm, các nhà sản xuất đã gắn thêm lưỡi trai ngắn hay kính để che bụi giúp cho nón. Hiện nay, đôi khi ta vẫn thấy có những nón có nhiều phụ kiện làm đẹp thái quá, rất phản khoa học như các phụ nữ thường gắn thêm miếng vải che nắng hoặc do thói quen đội nón vải mà nhiều người đã gắn thêm miếng lưỡi trai quá dài. Điều đáng nói là tất cả nón này đều không được các nhà sản xuất lớn, có uy tín sản xuất ra vì đây là phản khoa học và những cái nón đấy lại được sản xuất ở các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, chuyên sản xuất hàng nhái… gây nguy hiểm cho người sử dụng khi gặp tai nạn. Đôi khi ra đường ta vẫn bắt gặp những người công nhân đi xe máy đội nón bảo hộ lao động. Đấy là sự thiếu hiểu biết của người tham gia giao thông. Nón bảo hộ lao động chịu tác động tốt từ trên xuống chứ không chịu được tác động mạnh ở mọi hướng. Mà nón bảo hiểm được cấu tạo để bảo vệ khắp vùng đầu nên chúng ta cần phải sử dụng nón bảo hiểm thay cho sử dụng nón bảo hộ lao động khi đi ra ngoài đường sau khi ra khỏi công trường. Hiện nay, mũ bảo hiểm có quá nhiều giá, nhiều loại và nhiều chất lượng khác nhau. Vậy để mua được một nón bảo hiểm chất lượng, ta nên chọn mua như thế nào? Mũ bảo hiểm thật gồm hai loại mũ trong nước sản xuất và mũ nhập khẩu. Với mũ bảo hiểm trong nước phải có dấu CS (dấu do tự doanh nghiệp công bố sản phẩm của mình phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam), mũ ngoại nhập không có dấu CS nhưng phải có tem kiểm tra. Kiểm tra các thông số ghi trên mũ: Tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, cỡ mũ, ngày sản xuất, hướng dẫn sử dụng… và những kí hiệu này phải rõ ràng, không lu mờ, trơn bóc. Vậy để sử dụng nón được lâu, ta nên biết cách để bảo quản nón một cách tốt nhất. Ta nên tránh để va đập quá nhiều làm giảm chất lượng sản phẩm. Thường xuyên sử dụng nước khử mùi hay giặt miếng lót bên trong. Tránh việc đội chung mũ với người lạ đặc biệt là nón của xe ôm để tránh lây các bệnh da đầu. Không nên treo mũ trên tay lái bởi dễ gây trầy xước hoặc hỏng quai mũ, không nên dùng nước nóng, các chất tẩy rửa mạnh để lau chùi, bởi dễ làm hỏng mũ. Cuối cùng thì việc chiếc nón bảo hiểm của chúng ta sẽ chỉ có thể phát huy tác dụng cho việc bảo vệ cuộc sống của chúng ta tùy thuộc vào tần suất sử dụng chúng có thường xuyên hay không. Vậy khi nào chúng ta sẽ phải thay một chiếc nón bảo hiểm mới? 2. Những chi tiết phụ kiện của nón bảo hiểm bị hư hỏng do thường xuyên sử dụng, hoặc xuất hiện những dấu hiệu của sự xuống cấp. 3. Những tấm đệm lót bên trong nón bảo hiểm có dấu hiệu xuống cấp hư hỏng do sử dụng thường xuyên. Bạn có thể kiểm tra bằng cách: Đội nón bảo hiểm, cài dây khoá nón, và lắc mạnh đầu bạn theo bên trái và bên phải. Nếu nón bảo hiểm bị lỏng và không ôm theo đầu bạn có nghĩa nón đã không còn đảm bảo an toàn. 4. Trên bề mặt của vỏ nón bảo hiểm có những đường nứt màu trắng hoặc những khe nứt nhỏ. 5. Tuy nhiên dù cho bạn không phát hiện bất kỳ dấu hiệu gì tương tự như được nêu trên. Nhưng bạn nên thay chiếc nón bảo hiểm mới sau 5 năm sử dụng theo lời khuyến cáo của các nhà nghiên cứu.Khi việc đội mũ bảo hiểm đã được pháp luật quy định thì tình hình giao thông nước ta đã trở nên đặc biệt không giống ai. Trong khi các nước phát triển, người dân sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, kế đến là xe hơi và xe gắn máy thì được sử dụng rất hạn chế. Người ta quy định những làn đường đi riêng không chung với xe hơi như ở nước ta. Chúng ta đã phát triển một cách sai lầm khi không tập trung xây dựng mạng lưới giao thông công cộng mà trao cho người dân một phương tiện rất hữu ích đó là xe gắn máy. Chính vì thế mà hiện nay số lượng xe gắn máy ở nước ta lên hàng chục triệu chiếc xe gắn máy. Nếu mỗi xe gắn máy cần phải 2 cái nón thì như vậy nước ta sẽ là thị trường khổng lồ của nón báo hiểm, một sự phát triển dị dạng không giống ai. Nhưng trong tương lai nước ta sẽ phải phát triển mạng lưới giao thông công cộng và tiến đến cấm xe gắn máy ở một số thành phố lớn. Điều này có nghĩa là chiếc nón bảo hiểm sẽ có một ngày không còn là nỗi ám ảnh của mỗi người dân khi ra đường. Lúc đó nhận thức của người dân về nón bảo hiểm sẽ thực tế hơn, đúng ý nghĩa với sự tồn tại của nó.
Thuyết minh về chiếc mũ bảo hiểm
1,430
Đề bài: Thuyết minh về chiếc mắt kính Bài làm Chiếc mắt kính là một vật dụng quen thuộc với đời sống hằng ngày.Không chỉ có khả năng điều trị các tật khúc xạ,kính còn đem lại thẩm mỹ qua nhiều lọai có kiểu dáng, màu sắc phong phú. Không ai biết tên của người làm ra cặp kính đầu tiên, chỉ biết rằng nó ra đời ở Ý vào năm 1920. Đầu tiên, thiết kế của kính đeo mắt chỉ gồm hai mắt kính nối với nhau bằng một sợi dây đè lên mũi. Vào năm 1930, 1 chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra 2 càng (ngày nay gọi là gọng kính) để mắt kính gá vào một cách chắc chắn. Cấu tạo của kính nói chung không xa lạ gì với chúng ta. Một chiếc kính đeo mắt gồm có 2 bộ phận: tròng kính và gọng kính. Chiếc gọng kính chiếm 80% vẻ đẹp của kính. Gọng kính là bộ phận nâng đỡ tròng kính và là khung cho mỗi chiếc kính. Giữa phần gọng trước và sau có một khớp nối bằng sắt nhỏ. Chúng được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là gọng nhựa bền, nhẹ. Thế nhưng, đây chỉ đơn thuần về mặt hình thức bên ngoài, có thể thay đổi tùy theo ý thích cá nhân. Bộ phận còn lại của kính – tròng kính – không thể thay đổi cấu tạo gốc và có hẳn 1 tiêu chuẩn quốc tế riêng. Tròng kính ban đầu có hình tròn, vuông, sau khi chọn được lọai gọng phù hợp sẽ được mài, cắt cho vừa khít với gọng đó. Tròng kính có thể làm bằng nhựa chống trầy hay thủy tinh nhưng đều cần tuân theo quy tắc chồng tia UV (một lọai tia gây hại cho mắt) và tia cực tím. Những lọai kính chống tia UV được tráng một lớp chất đặc biệt có màu ánh xanh, khả năng chống tia UV hơn hẳn lọai kính chỉ có plastic hay thủy tinh. Ngoài ra, 1 chiếc kính đeo mắt còn có 1 số bộ phận phụ như ốc, vít… Chúng có kích thước khá nhỏ nhưng lại khá quan trọng, dùng để neo giữ các bộ phận của chiếc kính. Từ khi ra đời cho đến nay, chiếc kính đeo mắt đã có hành trăm loại khác nhau, phù hợp với nhu cầu và chức năng của chúng đối với người dùng. Những người bị cận, viễn sẽ có những chiếc kính có thấu kình lối lõm thích hợp để nhìn rõ hơn. Nếu không muốn chiếc gọng kính gây vướng víu, ta có thể lực chọn chiếc kính áp tròng, vừa tiện lợi vừa mang tính thẫm mĩ. Hay các loại kính râm bảo vệ mắt khi đi đường, có thể thay đổi màu khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Ngoài ra, có 1 số loại kính đặc biệt chỉ dùng trong 1 số trường hớp như kính bơi, kính của những người trượt tuyết, kính của những nhà thám hiểm vùng cực…khuyết điễm mà vẫn làm nối bật những đường nét riêng. Không nên đeo loại kính có độ làm sẵn vì loại kính này được lắp hàng loạt theo những số đo nhất định nên chưa chắc đã phù hợp với từng người. Mỗi loại kính cũng cần có cách bảo quản riêng để tăng tuổi thọ cho kính. Khi lấy và đeo kính cần dùnhh cả 2 tay, sau khi dùng xong cần lau chùi cẩn thận và bỏ vào hộp đậy kín. Kính dùng lâu cần lau chùi bằng dung dịch chuyên dụng. Đối với loại kính tiếp xúc trực tiếp với mắt như kính áp tròng, cần phải nhỏ mắt từ 6-8 lần trong vòng từ 10-12 tiếng để bảo vệ mắt. Kính là một vật không thể thiếu trong đời sống hiện đại. Nếu biết cách sử dụng và bảo quản tốt, kính sẽ phát huy tối đa công dụng của mình. Kính mắt vừa để trang sức, vừa giúp con người bảo vệ đôi mắt của minh. Hãy cùng biến “lăng kính”của “cửa sổ tâm hồn” mỗi người cùng trở nên phong phú và hoàn thiện hơn.
Thuyết minh về chiếc mắt kính
707
Đề bài: Em hãy thuyết minh về chiếc nón bảo hiểm Bài làm Những người tham gia giao thông đi xe gắn máy luôn luôn là một trong những đối tượng phải bắt buộc đội mũ bảo hiểu. Mũ bảo hiểu ra đời như để bảo vệ người tham gia giao thông. Theo thống kê thì số người tham gia giao thông bị tai nạn thì việc thương tích ở đầu là rất lớn. Có lẽ chính bởi thế mà để đề phòng những tình huống xấu nhất về tai nạn thì chiếc mũ bảo hiểm thực sự là một sự lựa chọn cần thiết nhất. Hiện nay, ta như biết được rằng mũ bảo hiểm là loại mũ được cấu tạo đặc biệt dùng để bảo vệ đầu người khi bị tai nạn giao thông xảy ra. Thế rồi chiếc mũ cấu tạo gồm ba lớp. Đối với lớp thứ nhất ở bên ngoài là lớp vỏ cứng được làm từ nhựa đặc biệt, cao cấp hơn người ta còn sử dụng sợi carbon siêu nhẹ… Còn ở lớp thứ hai là miếng xốp dày để giảm chấn động cho đầu khi bị va đập mạnh. Chưa hết, đó còn có một lớp trong cùng được cấu tạo bằng một chất liệu mềm và thưa để làm thoáng khí và làm êm đầu khi đội mũ bảo hiểu dù có trọng lượng rất nặng. Mũ còn được cấu tạo bởi bộ phận quan trọng đó chính ở bên dưới nón là dây quai nón có tác dụng giữ nón chặt, không bị tuột hay mũ bị xô lệch khi đội. Đặc biệt hơn nữa đó chính là kể cả khi người sử dụng bị té ngã hay chịu lực tác động khác thì nó vẫn giữ chặt vào đầu người. Dễ dàng nhận thấy được rằng chính dây được may từ sợi dây dù vừa rẻ, lại cũng rất bền, chắc. Còn đối với hàng cao cấp hơn thì dây được làm bằng da chắc chắn và có tuổi thọ cao. Người thiết kế ra chiếc mũ bảo hiểm cũng đã có cách là gắn chặt với dây đeo đó là một chiếc móc khóa. Chiếc msc này giúp cố định dây đồng thời cũng như điều chỉnh độ dài của dây. Hình dạng của chiếc mũ bảo hiểm hiện nay cũng rất đa dang. Nhưng chia ra thành hai loại đó chính là mũ nửa đầu và mũ trùm đầu. Thông thường thì mũ trùm đầu có trọng lượng nhẹ hơn và được nhiều người sử dụng hơn. Mũ nửa đầu rất thích hợp dùng cho con trẻ vì trọng lượng nhẹ. Còn với mũ trùm đầu thì nó được coi như “nồi cơm điện” tính an toàn cao nhưng trọng lượng thì hơi nặng. Hiện nay vấn đề màu sắc của những thiết kế mũ bảo hiểm này cũng được chú trọng hơn. Để phù hợp với từng sở thích của người sử dụng. Và những chiếc mũ bảo hiểm hiện nay không còn đơn điệu mà cũng rất trẻ trung năng động, có thêm rất nhiều chi tiết hoa văn cách điệu cho thật xinh xắn nữa. Ngoài ra ta như thấy được rằng, để tăng thêm tiện ích cho mũ bảo hiểm, các nhà sản xuất đã gắn thêm lưỡi trai ngắn hay kính để che bụi giúp cho nón. Hiện nay, ta như đôi khi ta vẫn thấy có những nón có nhiều phụ kiện làm đẹp thái quá. Có rất làm cho người khác như có cảm giác phản khoa học như các phụ nữ thường gắn thêm miếng vải che nắng hoặc do thói quen đội nón vải mà nhiều người đã gắn thêm miếng lưỡi trai quá dài. Tuy nhiên ta như thấy được cũng chính điều đáng nói là tất cả nón này đều không được các nhà sản xuất lớn, nổi tiếng có uy tín sản xuất ra và đây chỉ là những xưởng thủ công nhỏ lẻ tự phát mà thôi. Hiện nay, ta như cũng đã biết được rằng những chiếc mũ bảo hiểm có quá nhiều giá, nhiều loại và nhiều chất lượng khác nhau. Cho nên việc mua hàng cũng rất cần tỉnh táo để có thể tránh được việc mua phải hàng nhái với số tiền lớn. Bạn cũng nên nhớ rằng mũ bảo hiểm trong nước phải có dấu CS (dấu do tự doanh nghiệp công bố sản phẩm của mình phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam). Còn đối với mũ ngoại nhập không có dấu CS nhưng phải có tem kiểm tra. Khi người tiêu dùng đi mua thì cũng nên xem các thông số ghi trên mũ: Tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, cỡ mũ, ngày sản xuất, hướng dẫn sử dụng… đặc biệt hơn đó cũng chính là những kí hiệu này phải rõ ràng, không lu mờ, trơn bóc. Khi bạn sử dụng mũ bảo hiểm thì bạn cũng nên thay chiếc nón bảo hiểm mới sau 5 năm sử dụng để đúng như theo lời khuyến cáo của các nhà nghiên cứu. Mũ bảo hiểm thực sự là người bạn thân thiết cho những ai tham gia giao thông để có thể bảo về chính tính mạng của chúng ta.
Thuyết minh về chiếc nón bảo hiểm
875
Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Hướng dẫn Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết trong bài thơ Đan nón rằng: “Sao anh không về thăm quê em Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên Bàn tay xây lá, tay xuyên nón Mười sáu vành, mười sáu trăng lên” Cùng với hình ảnh của chiếc áo dài Việt Nam thì chiếc nón lá cũng đi vào văn chương một cách tự nhiên mộc mạc như thế. Có thể nói nó mộc mạc như chính những vật liệu và con người làm ra nó vậy. Đặc biệt là nó cũng đã trở thành một nét đặc trưng của con người Việt Nam. Nếu như phương Tây có mũ gắn hoa, gắn lông chim, nhưng chiếc mũ mấn, miện xinh xinh thì quê hương ta có chiếc nón lá với vẻ mộc mạc giản dị nhưng lại đằm thắm dịu dàng. Trước hết là về nguồn gốc của chiếc nón lá mộc mạc ấy. Cũng giống như những vật dụng lâu đời khác thì nón lá cũng có một cuộc đời với nhiều lần thay đổi. Hình ảnh của chiếc nón lá đầu tiên được khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng đào Thịch vào khoảng 2000 – 3000 năm trước công nguyên. Không những thế hình ảnh chiếc nón lá còn được thể hiện trong đời sống của con người chúng ta từ xa xưa. Đó là hình ảnh những con người Việt nam với chiếc nón che cho con những ngày mưa đạn, nắng sương. Đó còn là hình ảnh những người mẹ người bà đi chợ đội chiếc nón trên đầu hay những lúc nắng đem ra quạt mát. Hay hình ảnh những cô thiếu nữ với chiếc áo dài tha thướt trên con phố nhỏ đầu đội nón lá nghiêng nghiêng. Hiện nay thì vẫn còn rất nhiều nơi làm nón lá mà nổi tiếng như là Huế, Phú Vang, Hương Thủy…đặc biệt chính những sản phẩm ấy là một điểm thu hút khách nước ngoài. Nguyên liệu thứ nhất cần phải có là những chiếc lá cọ hoặc lá dừa. Người miền Bắc thì dùng lá cọ còn người miền Nam thì dùng lá dừa. Những chiếc lá dài và đẹp sẽ được chọn sau đó được phơi khô đi. Đối với lá dừa vì mỏng hơn lá cọ cho nên làm dù chọn lọc kĩ càng đến mức nào thì cũng không chắc chắn và đẹp như nón làm bằng lá cọ được. Lá dừa sau khi phơi khô thì được ngâm trong lưu huỳnh để dai hơn và sau đó làm nón. Còn lá cọ thì phải chọn những chiếc lá non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá phải trắng xanh thì khi làm nón mới đẹp được. Và sau đó người ta sẽ đem phơi sương cuối cùng là làm nón. Nếu như lá là “phần thịt” để làm nên nón thì khung là “phần xương” nâng đỡ làm nên hình của một chiếc nón. Khung nón bao gồm vành nón và những thanh nón dọc và ngang để làm nên một chiếc nón lá hoàn chỉnh. Khung nón làm bằng tre. Vành nón có vai trò là tạo nên miệng nón hình tròn cố định những chiếc lá và thanh tre dọc. Chính vì thế mà người nghệ nhân phải có sức khỏe và sự khéo léo để làm có thể uốn cho vành nón hinh tròn. Tiếp đến là những thanh tre xếp dọc và chụm đầu trên với nhau thành hình chóp, phần còn lại gắn với phần vành nón. Công việc tiếp theo là xếp những chiếc lá sít lại với nhau và dùng những thanh tre mềm thành hình tròn giống như vành nón. Mỗi vòng tròn cách nhau nửa gang tay. Sau đó thì được khâu chỉ lại cố định. Phần đặc biệt là chúp nón thì người nghệ nhân sẽ khâu chỉ cho chắc chắn hơn, chỉ đỏ rất đẹp. Đồng thời bên trong nón người ta sâu lại những nhánh chỉ để làm thành chỗ buộc quai nón. Những chiếc quai nón màu mè đủ kiểu có thể tùy do người mua chọn. Không những thế mà bên trong người ta còn có thể thêu những dòng chữ bằng chỉ đỏ chỉ xanh, có thể thêu theo tên người đặt mua hoặc là những tên hay. Công việc tưởng chừng đã xong xuôi nhưng lại không phải. Mà công đoạn cuối cùng cũng rất quan trọng đó là quết nhựa thông để cho nón chắc chắn và không thấm nước, bóng đẹp hơn. Không chỉ biết dùng mà chúng ta còn cần phải biết cách bảo quản nó. Muốn nón lá được bền lâu chỉ nên đội khi trời nắng, tránh đi mưa. Sau khi dùng nên cất vào chỗ bóng râm, không phơi ngoài nắng sẽ làm cong vành, lá nón giòn và ố vàng làm làm mất tính thẩm mĩ và giảm tuổi thọ của nón.
Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt
835