text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Đề bài: Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam
Bài làm
Nhắc đến những vật dụng gắn bó, gần gũi, thân thiết với con người Việt, ta không thể nào không nói đến chiếc nón lá. Nón lá đã đồng hành cùng con người Việt Nam qua suốt chiều dài lịch sử. Lúc vui, lúc buồn, khi để che nắng mưa cùng người một nắng hai sương, khi lại làm duyên cùng nụ cười thiếu nữ hay e ấp cùng cô dâu bước chân về nhà chồng.
Cái nón quê bình dị thật ưa nhìn. Vật liệu để làm nên cái nón là lá cọ, chỉ tơ, móc, tre làm khung. Nón lá có cấu tạo đơn giản nhưng cũng đòi hỏi một sự khéo léo của người thợ. Xương nón làm bằng tre, nứa, được vót tròn óng chuốt, được kết thành những vòng tròn có đường kính khác nhau theo khuôn nón. Cái chóp nón lúc nào cũng hướng về trời cao. Lá lợp nón là sản phẩm của núi rừng. Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên… là nguồn vô tận về lá nón. Bộ phận quan trọng nhất của chiếc nón là hai lớp lá cọ. Lá cọ phải là lá non, phơi thật trắng. Lót giữa hai lớp lá cọ là lớp mo nang làm cốt, được phơi khô, lấy từ mo tre, mo nứa. Tất cả các vật liệu làm nên nón đều phải không thấm nước, dễ róc nước để chống chịu với những cơn mưa vùi dập, những ngày nắng oi ả thất thường.
Ai đã sáng tạo ra chiếc nón bài thơ xứ Huế? Lá nón trắng nõn nà, bài thơ mờ tỏ ẩn hiện. Chiếc quai nón bằng lụa thanh tao, vành nón nghiêng nghiêng, dịu dàng, e lệ, thầm kín của cô gái miền núi Ngự sông Hương. Chả thế mà du khách, các cậu khóa ngẩn ngơ:
” Học trò xứ Quảng ra thi
Gặp cô gái Huế bước đi không đành ”
Còn có chiếc nón dấu anh lính đời xưa, mà khi xem phim ta mới biết:
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài ”
Mẹ em bảo nước ta nắng lắm, mưa nhiều. Chiếc nón là vật dụng thân thiết của mọi người, nhất là nhà nông. Vừa rẻ, vừa tiện lợi. Nhẹ nhàng dễ mang theo. Có nhiều làng nghề thủ công làm nón nổi tiếng xưa nay từng được truyền tụng qua ca dao, dân ca:
” Muốn ăn cơm trắng, cá mè,
Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông”.
Hay:
” Hỡi cô đội nón ba tầm
Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang.
Phiên rằm chợ chính Yên Quang,
Yên Hoa anh đợi hoa nàng mới mua”
Chiếc nón làng Găng, chiếc nón bài thơ xứ Huế đã trở thành món quà lưu niệm của khách phương xa. Nghe nói trong phòng khách của nhà thơ Xi-mô-nốp Nga có chiếc điếu cày và chiếc nón bài thơ mà ông đã mang từ Việt Nam về? Và trong chúng ta, ai đã từng được xem điệu múa nón, tưởng như đàn bướm sặc sỡ đang rập rờn bay trong ngàn hoa? Hình ảnh cô nữ sinh Huế ngày xưa tưởng như gặp trong mộng:
“Những nàng thiếu nữ sông Hương
Dạ thơm là phấn, má hường là son.
Tựu trường chân sát thon thon
Lao xao nón mới màu sơn sáng ngời”
Ngày nay ở các đô thị, hầu như không còn thấy học sinh đội nón đến trường. Mà chỉ thấy những chiếc mũ vải đủ màu sắc xinh xinh, hay những chiếc ô đủ kiểu. Nhưng trên đường làng, giữa các phiên chợ miền quê, chiếc nón lá màu trắng xinh xinh thanh nhẹ vẫn được thấy nhiều và ưa nhìn, dễ mến. Các bà, các mẹ, các cô thôn nữ…làm sao rời được chiếc nón quê hương? | Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam | 631 | |
Thuyết minh về chiếc nón lá
Bài làm
Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao… chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Trước hết, Nón là một đồ dùng rất “thực dụng”. Nó dùng để che mưa nắng. Nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn… tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Dù nón có nhiều loại, song nét đặc thù chung của nó là rộng vành (để chống nóng) và có mái dốc (để thoát nước nhanh, che mưa). Ngoài chức năng ứng phó với môi trường tự nhiên, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo. Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ…
Người ta đội nón làm đồng, đi chợ, chơi hội. Tiễn cô gái về nhà chồng, bà mẹ đặt vào tay con chiếc nón thay cho bao nhiêu lời nhắn gửi yêu thương… Chiếc nón gợi nguồn cảm hứng cho thơ, cho nhạc. Đã có hẳn một bài về hát về nón: “Nón bài thơ, em đội nón bài thơ, đi đón ngày hội mở”… Giữa những kênh rạch, sông nước chằng chịt ở miệt vườn Nam Bộ, ai đó đã phải ngẩn ngơ vì: “Nón lá đội nghiêng tóc dài em gái xõa”. Chiếc nón còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần:
“Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che…”.
Trong những năm chiến tranh, tiễn người yêu ra chiến trường, các cô gái thường đội nón với cái quai mầu tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển, làm yên lòng người ra trận…
Chiếc nón xuất hiện từ khi nào không ai biết. Từ thời xưa đã có câu: “Nón Chuông, khua lụa, quai thao làng Đơ”. Chiếc nón quai thao đã được các bà, các cô tầng lớp trung lưu trở lên ưa chuộng, chiếm vị trí quan trọng trong trang phục lễ hội của phụ nữ mà thời Nguyễn được sử dụng phổ biến nhất. ở Hà Nội xưa, các “cô ả” mười lăm, mười sáu – cái tuổi bắt đầu làm duyên, thường đi sắm chiếc nón Nghệ…
Thực ra, chiếc nón không hẳn là thứ phục trang chỉ dành cho phụ nữ. Bước chân vào một cửa hàng ở phố Hàng Nón – Hà Nội xưa, người ta có thể nhìn qua chiếc nón mà thấy đủ thứ “tước vị”, “giai tầng” trong xã hội. Có nón “mũ chảo”, nón “nông dân xứ Đoài”. Các anh chạy xe ba gác thì kiếm một cái “nón cu li” ba xu. Các cậu lính lệ, phục dịch cửa quan thì đã có “nón lính” làm bằng thanh tre ken lại, giống như cái đĩa úp lên đầu, trên có chỏm đồng, sau có lưỡi vải che gáy…
Chiếc nón không chỉ là thứ đội đầu, che mưa, nắng. Trong khi dùng người ta còn “sáng tạo” ra bao nhiêu là công dụng. Này nhé: “Mùa nắng thì chụp lên đầu, có gió thì che diêm mà hút thuốc lào, mỏi thì lót xuống ngồi, khát không có hàng nước thì hứng nước máy, lại còn lúc ngồi ngủ ở xe thì úp lên mặt cho ruồi khỏi bu lại, lúc nóng thì làm quạt… mà túng nữa thì làm cái rổ đựng đồ mua chợ cho mẹ…” (Tam Lang – Tôi kéo xe).
Nón bài thơ Huế
Chiếc nón bài thơ Huế từ lâu là một đề tài sáng tạo phong phú của nhiều văn nhân, nghệ sĩ. Nhà thơ Bích Lan đã viết những câu thơ thật sâu lắng về con người miền núi Ngự, sông Hương:
Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ
Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay
Thầm lặng bước những khi trời dịu nắng …
Những cô gái Huế duyên dáng, dễ thương, nói năng nhỏ nhẹ “tâm sự nhiều mà ít hé trên môi”, mặc áo dài trắng, đội nón bài thơ, bước đi nhẹ nhàng, khoan thai trên đường Lê Lợi dọc sông Hương, trong những trưa nắng hạ và những ngày nắng xuân là một nét đẹp của Cố Đô, đã bao lần làm xao động tâm hồn của nhiều thi nhân mỗi khi có dịp đến thăm Huế:
Áo trắng hỡi, thuở tìm em không thấy
Nắng mênh mang trải mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế, nhưng đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng …
(Thu Bồn)
Hình ảnh thơ mộng này cũng đã đi vào thế giới nghệ thuật của nhiếp ảnh và điện ảnh như một trong những hình tượng đẹp, tiêu biểu cho đất nước, con người Việt Nam qua những bộ phim: “Huế đẹp Huế thơ…” – “Thành phố bên bờ sông Hương” – “Thương nhớ sông Hương”… đã được đông đảo khán giả khắp nơi trên thế giới hâm mộ.
Nhưng chiếc nón lá có tự bao giờ? Huế có phải là quê hương của chiếc nón bài thơ không? Điều này đã làm không ít người băn khoăn?!
Thực ra thì chiếc nón lá Việt Nam đã xuất hiện trong đời sống của nhân dân ta từ thế kỷ XIII và không phải chỉ riêng Huế mới có nón bài thơ.
Vào đời Trần, ở làng Ma Lôi, thuộc lộ Hồng Châu (Hải Hưng và Hải Phòng ngày nay), nhân dân ta đã vào rừng chọn lá cọ non, đem về phơi khô để kết làm nón đội đầu che nắng mưa, gọi là “nón Ma Lôi”. Lúc đầu nón chỉ lưu hành trong dân gian, về sau các vua Trần thấy đẹp, đã cho cải tiến thành một loại nón đẹp hơn để dùng trong hoàng cung, gọi là “nón thượng”.
Ca dao xưa đã xếp hình ảnh cô gái đội chiếc “nón thượng” này vào hàng thứ sáu trong số “mười thương”:
Một thương tóc bó đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
…..
Sáu thương “nón thượng quai tua” dịu dàng
Theo nhà bác học Lê Quí Đôn (1726 – 1784) trong “Vân Đài loại ngữ”, thì vào thời Lê Mạc (khoảng đầu thế kỷ XVII), trên vùng thượng nguồn sông Đà và sông Thao, có giống lá cây cọ dài bền và đẹp, càng đem phơi nắng càng trắng, người ta đã chọn những chiếc lá thanh, nhỏ để làm nón. Và châu Bố Chính thuộc trấn Nghệ An (bao gồm cả vùng Quảng Bình ngày nay) có thứ lá gõ dùng để lợp mái kiệu, nhân dân sống ở vùng này đã chọn loại lá non đem về phơi khô rồi kết làm nón đội đầu, gọi là “nón gõ”. “Nón gõ” chính là tiền thân của “nón Nghệ” và “nón Ba Đồn” của Quảng Bình ngày nay. Trải qua nhiều đời, tuỳ theo phong thổ và đặc sản của từng vùng, nhân dân ta đã sáng chế ra nhiều loại nón lá khác nhau để đội đầu. Mỗi kiểu dành cho mỗi hạng người trong xã hội.
Trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) đã liệt kê đầy đủ và mô tả khá chi tiết về các kiểu nón lá Việt Nam có mặt đến cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.
Ở vùng Sơn Tây có nón Ngoan Xác – còn gọi là nón Mềm Giải – và nón Tam Giang dành cho các cụ già. Nón Chóp (có chóp ở trên đầu dùng cho đàn ông). Con nhà quan và học trò đi thi thì đội nón Phương đầu đại còn gọi là nón Lá. Gia đình quan lại và danh vọng quyền quý thì đội nón Cổ Châu – còn gọi là nón Dâu. Trẻ em đội nón Liên diệp – còn gọi là nón Lá sen nhỏ khuôn. Nón Tu lờ rộng vành dùng cho nhà sư. Ở thôn quê dân nghèo đội nón Trạo lạp – còn gọi là nón Sọ nhỏ. Nón chéo vành tay, nón dấu dùng cho lính tráng:
Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu vai mang súng dài … (Bài ca lính thú ngày xưa)
Ở quê hương thi hào Nguyễn Du có nghề nón cổ truyền của xứ Nghệ đã lưu truyền câu ca dao sau đây:
“Em đừng bứt niệt mỏi tay
Về đây làm nón đợi ngày du xuân”
Xuất hiện trên đất nước ta từ lâu đời với nhiều chức năng và công dụng khác nhau đối với cuộc sống con người như che nắng mưa, quạt mát khi trời tắt gió, làm rổ khi cần đựng vật gì mua dọc đường, cái “bát khổng lồ” để múc nước uống giữa cánh đồng cháy bỏng giữa trưa hè… nên hầu như khắp nơi trên mọi miền đất nước đều có nghề làm nón và mọi hạng người trong xã hội đều đội nón …
Có thể nói, bất cứ nơi đâu trên đất nước này, chiếc nón lá cũng gắn bó với cuộc đời người phụ nữ như bóng với hình:
Chén tình là chén say sưa
Nón tình em đội nắng mưa trên đầu (Ca dao)
Người phụ nữ Việt Nam không những đã sáng tạo ra chiếc nón bài thơ độc đáo mà còn làm cho nó có sức sống bền bỉ và đẹp hơn lên bằng chính tình yêu cuộc sống và tấm lòng nhân hậu thủy chung của mình.
Đặc biệt, chiếc nón bài thơ Huế vốn sinh ra và lớn lên trên quê hương Thuận Hóa thanh lịch, nơi hàng trăm năm trước đây từng là kinh đô lâu đời của triều Nguyễn và ngày nay đang trở thành một trung tâm văn hóa du lịch của cả nước – di sản văn hóa của nhân loại – nên sức sống của nó ngày càng bền bỉ hơn cùng với những danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng của Cố Đô.
“Đó là chiếc nón nên thơ thanh lịch. Một món trang sức nhuần nhụy của cô gái Huế, nhẹ nhàng trên đầu, được chằm bằng những vành tre cật vót chải chuốt nhỏ như tăm. Những tấm lá trắng muốt được là phẳng, sắp xếp đều đặn, được khâu kín đáo và tỉ mỉ vào thân nón bằng những sợi cước trong suốt. Khi đội thắt thêm quai nón bằng dải lụa mỏng, khi thì màu tím ấp ủ, khi thì màu xanh ánh trăng hay màu biếc của liễu non, khi lại màu vàng mỡ gà, khi lại màu hồng ráng chiều. Cũng có người thích quai nón bằng dải lụa mỏng trắng bạch, hay dải gấm, dải nhung đen tuyền làm nổi bật làn da người đội nón”.
Bàn tay xây lá, tay xuyên chỉ
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên.
Để làm nên những chiếc nón:
Bài thơ nho nhỏ in màu trắng
Dọi xuống hồn ai những khoảng xanh (Nguyễn Khoa Điềm)
Ngoài những động tác tỉ mỉ mô tả ở trên, việc lồng những hình trang trí bài thơ vào giữa hai lớp lá nón trước khi chằm cũng là một nét lao động nghệ thuật độc đáo. Những hình trang trí này được cắt trên những giấy màu tím phẩm, gồm các dạng bản:
1. Hình ảnh cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp nghiêng mình bên dòng sông Hương thơ mộng, kèm theo câu ca dao xưa, hay mấy câu thơ hiện đại:
Tràng Tiền biết mấy là yêu
Tuổi thơ áo trắng sớm chiều bướm bay
Đó là hình ảnh những cô gái dắt tay nhau đi trong gió chiều với hai tà áo dài theo gió lượn bay trong thơ Tố Hữu.
2. Hình tháp chùa Linh Mụ vươn lên cao giữa bầu trời Huế kèm theo mấy câu ca dao mang niềm tâm sự day dứt của Huế một thời:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương
Thuyền về xuôi mái sông Hương
Có nghe tâm sự đôi đường đắng cay …
3. Một danh lam thắng cảnh nào đó của Huế kèm theo mấy câu ca dao mang theo tình sâu và nghĩa nặng của những người đang tha thiết yêu Huế hôm nay:
Anh đã từng vô Nam ra Bắc
Đi mô cũng nhớ Huế quê mình
Nhớ sông Hương nước biếc
Nhớ non Bình trăng trong …
Sau này người ta còn dùng nhiều câu thơ, câu ca dao khác phản ảnh đầy đủ cảnh sắc và hương vị Huế để lồng vào chiếc nón. Có khi dùng hình hoa lá, chim… rất đa dạng, nhưng vẫn gọi là Nón Bài Thơ…
Chiếc nón Bài Thơ Huế cùng với nón Gò Găng Bình Định được trao giải đặc biệt tại Hội chợ Huế mùa xuân năm Bính Tý (tháng 3/1936).
Từ đó, nón Bài Thơ Huế đã trở thành một món quà lưu niệm hấp dẫn, lay động thiết tha tình cảm của biết bao du khách mỗi khi có dịp đến thăm Huế, thăm đất nước Việt Nam.
Ra đi mà chẳng đành lòng
Nón che tay ngoắt, động lòng quay lui.
(Ca dao)
Bà con Việt kiều về thăm quê sau bao năm xa cách, du khách quốc tế đến tham quan Huế cũng đều mang về những chiếc nón bài thơ kỷ niệm và làm quà:
Chiếc nón miền nắng gắt
Tặng người xứ tuyết xa
Để khi lòng nhớ nắng
Trong nón hiện hình hoa
(Chế Lan Viên, tặng nữ thi sĩ Liên Xô Cadacôva)
Đối với những người đã sinh ra, lớn lên và đã từng sống ở Huế, nón bài thơ mãi mãi vẫn là những kỷ niệm đẹp không thể nào quên trong cuộc đời:
Nhìn chiếc nón bài thơ
Ngậm ngùi nhớ chuyện xưa
Mẹ ơi! Con ước mãi
Sống lại những ngày thơ!
(Nguyễn Thị Thiếu Anh)
Ngày nay nón Bài Thơ Huế cùng với nón lá Việt Nam đã vượt khỏi vùng trời quê hương đầy giông bão và nắng mưa của mình, để đến làm bạn với chị em phụ nữ ở nhiều nước trên thế giới. | Thuyết minh về chiếc nón lá | 2,360 | |
Đề bài: Em hãy thuyết minh về chiếc nồi cơm điện
Bài làm
Thật dễ có thể nhận thấy được rằng chính trong những đồ vật được con người phát minh mang lại tình hữu ích cho con người phải nhắc đến nồi cơm điện. Không thể phủ nhận được rằng, chiếc nồi sử dụng điện giúp nấu cơm chín nhanh hơn, cơm ngon và không cần phải tốn thời gian theo dõi như chúng ta nấu những các bếp khác.
Theo tài liệu ghi lại thì ta biết được từ thế kỷ 20 con người đã có ý định dùng điện để nấu chín gạo, tức là vào giai đoạn Âu hóa. Và ta như thấy được chính vào những năm 1940, thì lúc này ta như thấy được công ty Mitsubishi nghiên cứu và sản xuất ra nồi cơm điện sơ khai. Và lúc này đây thì ta như thấy được chính chiếc nồi gắn thêm dây điện truyền nhiệt nhưng chưa có chức năng tự động như ngày nay. Chiếc nồi lúc này cũng như đã nhờ sức nóng truyền từ dây điện để nấu chín gạo trong nồi. Đặc biệt ta như thấy được, chính với thời kì sơ khai này chiếc nồi cơm điện phải tốn thời gian theo dõi vì vậy việc tiêu thụ rất chậm chạp biết bao nhiêu.
Thế rồi, trải qua một thời gian nghiên cứu và phát triển thêm chiếc nồi cơm điện hoàn chỉnh vào năm 1970. Và lúc,à chiếc nồi đầu tiên được hoàn chỉnh nó dường như cũng đã đến tận tay những bà nội trợ trên toàn thế giới. Có thể công nhận được đây chính là một sự nghiên cứu và thành quả đáng tự hào của người Nhật Bản. Thông qua đây ta cũng như đã có thể khẳng định nguồn gốc nồi cơm điện từ đất nước Nhật Bản.
Mâm nhiệt cũng được đánh giá chính bộ phận rất quan trọng giúp tạo nhiệt độ khi nấu. Dễ nhận thấy được cứ một mâm có các rãnh truyền nhiệt tạo nhiệt cho đáy xoong khi nấu. Còn đối với bộ phận xoong thường làm từ chất liệu nhẹ, chống dính giúp nấu cơm ngon hơn không bị cháy.
Nhận thấy được một chiếc nồi cơm điện ngoài ba bộ phận chính trên còn có các bộ phân tinh vi khác như bộ điều khiển thông minh, và lại còn có bộ điều khiển đồng bộ hệ thống…đều là các chức năng tự động khi cơm chín giúp người dùng tiết kiệm thời gian và công sức.
Bạn cũng nên nhớ rằng khi chúng ta mà mua nồi cơm điện chọn lựa rất quan trọng. Bước đầu tiên đó chính là kiểm tra và thử các công tắc bật mở, kiểm tra bên ngoài có rỉ sét hoặc bị trầy xước không? Lời khuyên cho bạn tốt nhất người dùng nên dùng những chiếc nồi cơm xuất xứ từ Nhật Bản sẽ đảm bảo độ an toàn và bền khi sử dụng trong nhiều năm. Còn như ta đã biết thì chính với các chiếc nồi cơm điện Trung Quốc lúc này đây thì nó lại có giá thành rẻ nhưng nhanh hỏng và tốn kém khi mua mới. Thực sự ta như thấy được chính những người tiêu dùng mua những chiếc nồi cơm điện xuất xứ từ Việt Nam và lại có giá thành rẻ và bền.
Tóm lại, ta như thấy được chính chiếc nồi cơm điện là một phát minh hữu ích của người Nhật Bản, và nó dường như cũng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều gia đình giúp tiết kiệm thời gian và công sức rất lớn cho những người nội trợ chúng ta hiện nay.
Minh Nguyệt | Thuyết minh về chiếc nồi cơm điện | 625 | |
Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Tục ngữ Việt Nam có câu “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”. Suy ngẫm nhiều, chúng ta thấy đúng là y phục góp phần quan trọng vào vẻ đẹp mỗi con người, góp phần quan trọng vào dáng vẻ thướt tha của phụ nữ. Một trong những kiểu y phục ấy là chiếc áo dài Việt Nam.
Áo dài Việt Nam có từ rất xa xưa, theo từng thời kì lịch sử mà chiếc áo dài có những hình dáng khác nhau và thay đổi theo từng phương. Miền Bắc ngày xưa có kiểu áo dài viền năm tà, miền Trung lại có một kiểu sợi dây cột ngang lưng, miền Nam cũng có áo dài cổ cao theo một cách đặc biệt.
Đến đầu thế kỉ XX, áo dài Việt Nam lần này được thiết kế lại với hai tà ôm sát thân mình. Cách may cắt cũng ngày càng tinh xảo hơn để bớt đi những chỗ lòng thòng, những nếp nhăn, số lượng nhiều tà chỉ còn lại hai tà phía trước và phía sau, sợi dây cột ngang lưng cũng được bỏ đi. Theo thời, có lúc tà áo dài đến mắt cá, có lúc tà áo thu lên ngang gần đầu gốì, có lúc tà rộng, có lúc tà hẹp.
Những năm đầu thế kỉ này, tà áo dài theo hai khuynh hướng. Phối hợp với y phục phương Tây, các nhà tạo mẫu cho ra đời những kiểu áo dài kéo sau lưng, những kiểu áo trái tim, kiểu cổ truyền. Một khuynh hướng khác là trở về nguồn. Các nhà tạo mẫu dùng những hoa văn hình chim hạc để thiết kế ở thân trước áo dài, cổ áo dài hoặc dùng những hoa văn trên thổ cẩm để làm viền, tạo nên những chiếc áo dài vừa duyên dáng vừa cổ điển, vừa hiện đại. Trang phục kèm áo dài cũng thay đổi theo thời gian như quần màu đen, trắng hòa cùng màu với áo, khăn đóng ngày nay thay thế bằng vương miện dùng trong ngày cưới của cô dâu.
Nhờ sự khéo léo của những nhà thiết kế, chiếc áo dài Việt Nam đã tôn thêm vẻ đẹp dịu dàng và thể hiện nét kín đáo thiết tha của người phụ nữ. Vì sao vậy? Phần trên thường kín cổ,thể hiện vẻ kín đáo nhưng cũng làm hiện lên bờ vai và đôi tay trắng thon dài của cô gái. Nhờ cắt may khéo léo, phần trên chiếc áo thể hiện nét đẹp khỏe mạnh gọn gàng và thùy mị của cô gái Việt Nam, đồng thời hai tà áo lúc mở lúc khép, quấn quýt theo làn gió, tạo vẻ thướt tha dịu dàng của chiếc áo dài. Nét đẹp đó làm say mê bao văn nhân, thi sĩ Việt Nam, làm say mê bao khách nước ngoài khi giao dịch, tham quan du lịch Việt Nam, nhà thơ Nguyên Sa từng viết:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ anh viết vẫn nguyên màu lụa trắng!
Cố nhạc sĩ Văn Cao cũng đưa hình ảnh áo dài Việt Nam vào trong bài “Bến xuân” của mình: Tà áo em rung trong giấc mộng ngập ngừng ngoài bến xuân.
Hiện nay, tuy nước ta đã theo nhiều trào lưu y phục phương Tây nhưng phụ nữ Việt Nam vẫn không quên giữ gìn và phát huy vẻ đẹp của chiếc áo dài. Trong vài thập niên gần đây, tà áo dài đã là đồng phục quy định của nhiều công sở và trường học. Ngay cả những dịp quan trọng như ngày Tết, ngày lễ, ngày cưới, người ta cũng dùng áo dài làm trang phục chính. Với những loại vải quí phái, chất liệu đặc biệt như tơ tằm, lụa với màu sắc lộng lẫy hoặc nhu hòa, chiếc áo dài làm tăng thêm vẻ sang trọng và tươi đẹp cho người phụ nữ Việt Nam.
Tags:Văn 8 | Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam – Đề và văn mẫu 8 | 684 | |
Đề bài: Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam
Bài làm
Đã từ lâu, khi nhắc đến người phụ nữ Việt Nam, bạn bè quốc tế lại trầm trồ nói về chiếc áo dài. Quả thực, chiếc áo dài Việt Nam xứng đáng được coi là loại trang phục truyền thống thể hiện được vẻ đẹp và tâm hồn người phụ nữ Việt Nam.
Gọi là áo dài là theo cấu tạo của áo, thân áo gồm 2 mảnh bó sát eo của người phụ nữ rồi từ đáy lưng ong 2 thân thả bay xuống tận gót chân tạo nên những bước đi duyên dáng, mềm mại, uyển chuyển hơn cho người con gái.
Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã lướt trên đường phố trở thành tâm điểm chú ý và là bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều, thanh lịch cho con người và khung cảnh xung quanh. Chiếc quần may theo kiểu quần ta ông rộng bằng thứ vải đồng chất đồng màu hay sa tanh trắng nâng đỡ tà áo và làm tăng sự mềm mại thướt tha cho bộ trang phục mượt mà duyên dáng, gợi vẻ đằm thắm đáng yêu.
Đã ngót một thế kỷ nay, cô nữ sinh trường Quốc học Huế trong trang phục áo đài trắng trinh nguyên như là biểu trưng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt. Để đến bây giờ trang phục ấy trở thành đồng phục của nhiều nữ sinh trong các trường phổ thông trung học như muốn nói với mọi người với du khách quốc tế về văn hoá và bản sắc dân tộc. Tà áo trắng bay bay trên đường phố, tiếng cười hồn nhiên trong trẻo của những cô cậu học sinh vương lại phía sau cùng mảnh hoa phượng ở giỏ xe rơi lác đác gợi cho người qua đường một cảm giác lâng lâng, bâng khuâng nhớ về thuở học trò trong vắt những kỷ niệm thân thương.
Ngày Tết hay lễ hội quê hương, đám cưới hay những buổi lên chùa của các bà, các mẹ, các chị, chiếc áo dài nâu, hồng, đỏ… là một cách biểu hiện tâm lòng thành kính gửi đến cửa thiền một lòng siêu thoát, tôn nghiêm. Chiếc áo dài trùm gối, khăn mỏ quạ chít khéo như hoa sen, tay nâng mâm lễ kính cẩn lên cửa chùa, miệng "mô phật di đà"… hình ảnh ấy đã đi vào bức hoạ tranh dân gian Đông Hồ là một biểu tượng độc đáo của văn hoá Việt Nam.
Ngày nay trong muôn vàn sự cách tân về trang phục, váy đầm, áo ngắn, áo thời trang… chiếc áo dài Việt Nam vẫn chiếm độc tôn về bản sắc dân tộc, mang theo phong cách và tâm hồn người Việt đến với năm châu và trở thành trang phục công sở ở nhiều nơi. | Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam | 490 | |
Đề bài: Thuyết minh về chiến thắng Vân Đồn đông xuân 1287 – 1288
Bài làm
Để phục thù, tháng 12-1287, Thoát Hoan lại mang 50 vạn quân thủy bộ sang đánh nước ta. Quân giặc chia làm 3 cánh ào ạt tiến sang: một cánh từ Quảng Tây tiến vào vùng Lạng Sơn do Thoát Hoan thống lĩnh, một cánh từ Vân Nam theo đường sông Hồng do Ái Lỗ (A-rúc) chỉ huy: cánh thứ ba gồm hàng nghìn chiến thuyền do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp làm tiên phong, Trương Văn Hổ đốc lương.
Vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn: “Thế giặc năm nay thế nào”, “ Vị thống soái tài ba đã nói: "Quân ta đã quen chiến trận. Thế giặc năm nay nhàn" (dễ đánh).
Thoát Hoan và Ái Lỗ đánh chiếm Vạn Kiếp và Kinh thành Thăng Long. Thủy binh giặc tiến vào cửa sông Bạch Đằng, tướng Trần Khánh Dư chặn đánh nhưng bị thất bại. Ô Mã Nhi thừa thắng tiến thắng về Thăng Long, Vạn Kiếp để hội quân với Thoát Hoan. Hàng nghìn thuyền tải lương của giặc do Trương Văn Hổ chỉ huy lúc bấy giờ mới vào đến cửa ải Vân Đồn. Chúng tưởng như đi vào chỗ không người. Trần Khánh Dư đã mưu trí lập trận địa mai phục. Một trận đánh lớn đã diễn ra: hàng vạn giặc bị tiêu diệt, hàng nghìn chiến thuyền và mấy chục vạn lộc lương bị quân ta cướp lấy hoặc đốt cháy, nhấn chìm xuống đáy bể. Trương Văn Mổ thoát chết, bạt vía kinh hồn chạy về Khâm Châu trên một chiếc thuyền tơi tả.
Được tin cánh thủy quân đã bị tiêu diệt, và trước sức mạnh phản công như vũ bão của quân ta, mùa hè 1288, Thoát Hoan vô cùng hoảng sợ, vội vã bỏ Thăng Long chạy về Vạn Kiếp trong tình thế cực kì khốn quẫn.
Chiến thắng Vân Đồn là chiến thắng mang ý nghĩa chiến lược to lớn. Nó đã giáng một đòn trí mạng vào chiến lược hợp vây thủy bộ của Thoát Hoan, và làm thất bại ngay từ đầu kế hoạch hậu cần của giặc, dồn chúng vào những khó khăn không thể nào khắc phục nổi về mặt lương thực.
Tên tuổi danh tướng Trần Khánh Dư đã gắn liền với chiến thắng Vân Đôn bất tử. | Thuyết minh về chiến thắng Vân Đồn đông xuân 1287 – 1288 | 396 | |
Thuyết minh về chùa Thiên Mụ – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài tham khảo
Năm Mậu Ngọ (1558), Đoan quốc công Nguyễn Hoàng vâng lệnh vua Lê vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông lập chùa Thiên Mụ (còn gọi là Linh Mụ) vào năm Tân Sửu (1601) trên ngọn đồi Hà Khê, nhìn sang Long Thọ Cương.
Theo truyền thuyết, Nguyễn Hoàng làm vậy vì tuân theo lời chỉ bảo của một vị thần nữ báo mộng “thắp một nén nhang đi đến nơi nào nhang tàn thì lập kinh đô ở đó”. Đóng đô ở Phú Xuân, ông bèn dựng đền chùa nhớ ơn bà, vừa để tụ long khí cho nghiệp đế của mình. Trong gần 400 năm lịch sử, ngôi chùa đã gắn liền với biết bao thăng trầm, đổi thay của Triều Nguyễn.
Bia kí dựng ở chùa năm Ất Mùi (1715) tả lại cảnh chùa Thiên Mụ như sau: Từ ngoài vào có các điện Thiên Vương, Ngọc Hoàng, Đại Hùng, nhà thuyết pháp và tàng kinh các. Hai bên xây lầu chuông, trống. Kế tiếp là điện Thập Vương, nhà Vân Thủy, nhà Tri vị, điện Đại bi, điện Dược sư, tăng liêu, thiền xá… Ở sau chùa là vườn Tì da, nhà phương trượng, vài chục sở…
Chùa Thiên Mụ đạt đến đỉnh cao huy hoàng, được quan tâm trân trọng nhất là vào đời Minh vương Nguyễn Phước Châu (1691 – 1725). Ông là một vị vương rất mộ đạo Phật, có tài thơ, họa. Đến nay, trải qua nhiều năm tháng dâu bể nhưng ngôi chùa vẫn còn đó như một biểu tượng của xứ Huế đẹp và thơ mộng. Mỗi khi nhớ đến Hà Nội nghìn năm văn vật là người ta nghĩ ngay đến chùa Một Cột, đến Thành phố Hồ Chí Minh nhớ chợ Bến Thành, thì nói đến Huế không có gì khác hơn là hình ảnh chùa Thiên Mụ.
Đến bến đỗ, ngước mắt nhìn lên thấy ngọn tháp Phước Duyên cao vút như đang trầm tư mặc tưởng. Nước sông đoạn này xanh ngắt, dùng dằng ngừng chảy… lưu luyến với cảnh sắc nên thơ.
Tags:Văn 8 | Thuyết minh về chùa Thiên Mụ – Đề và văn mẫu 8 | 358 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân ta.
Bài làm
Hồ Chủ tịch là lãnh tụ cách mạng vô sản kiệt xuất, một chiến sĩ cộng sản lão thành, Danh nhân văn hóa của thế giới. Với dân tộc Việt Nam, Người là Cha, là Bác, là Anh, Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ… (Tố Hữu). Đất nước ta, dân tộc ta tự hào về Hồ Chủ tịch – con người giản dị và vĩ đại – tiêu biểu cho truyền thống bốn ngàn năm lịch sử vẻ vang.
Đầu thế kỉ XX, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành thấu hiểu nỗi nhục nô lệ dưới ách xâm lược của thực dân Pháp nên đã noi gương các sĩ phu tiền bối như Phạn Bội Châu, Phan Chu Trinh… tìm đường cứu nước. Rời bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) năm 1911, Nguyễn Tất Thành nung nấu ý chí là phải sang tận nước Pháp để tìm hiểu kẻ thù, từ đó có cách chống lại chúng. Ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, người chiến sĩ cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc đã cống hiến rất nhiều cho phong trào đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thuộc địa bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới và trở thành người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1941, với vốn sống thực tế, với kinh nghiệm dày dặn và trình độ hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ sáng suốt lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân trường kì kháng chiến và đã kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Nhân dân miền Bắc sau giải phóng phấn khởi bắt tay vào xây dựng đất nước và sát cánh cùng đồng bào miền Nam tiếp tục đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng trí tuệ siêu việt, bằng tấm gương suốt đời phấn đấu, hi sinh vì dân vì nước, đã đoàn kết toàn Đảng, toàn quân, toàn dân chiến đấu đến cùng để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, khẳng định truyền thống bất khuất, anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Lòng nhân ái của Hồ Chủ tịch thể hiện lí tưởng cao cả là một đời phấn đấu, hi sinh để mưu cầu độc lập tự do cho dân, cho nước: Tự do cho tổ quốc tôi, cơm áo cho đồng bào tôi. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Bác thông cảm với người lao động vất vả, cơ cực, lo nỗi lo mất mùa, chia sẻ niềm vui được mùa với nông dân: Nghe nói năm nay trời đại hạn, Mười phân thu hoạch chỉ vài phân… Khắp chốn nông dân cười hớn hở, Đồng quê vang dậy tiếng ca vui.. (Nhật kí trong tù).
Lòng nhân ái của Bác Hồ bao trùm khắp các tầng lớp nhân dân:
Bác sống như trời đất của ta,
Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa,
Tự do cho mỗi đời nô lệ,.
Sữa để em thờ, lụa tặng già.
(Bác ơi- Tố Hữu)
Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta,
Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa,
Chỉ biết quên mình cho hết thảy,
Như dòng sông chảy nặng phù sa.
(Theo chân Bác – Tố Hữu).
Hồ Chủ tịch là một nhân cách khiêm tốn, giản dị và vĩ đại. Tài năng và đức độ của Bác rất xứng đáng với những danh hiệu cao quý mà cả nhân loại đã tôn vinh: lãnh tụ cách mạng vô sản xuất sắc, chiến sĩ hòa bình, Danh nhân văn hóa thế giới… Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Bác là kết tinh tinh hoa của bốn ngàn năm lịch sử và thời đại. Bác Hồ là hình ảnh đẹp nhất về một Con Người chân chính. | Thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân ta | 700 | |
Đề bài: Thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh
Bài làm
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại, một danh nhân văn hóa thế giới. Người như một vị cha già của cả dân tộc, công lao to lớn của người trong việc đi tìm đường cứu nước, dẫn dắt nhân dân thoát khỏi kiếp lầm than nô lệ.
Chính nhờ con đường mà người chỉ lối chúng ta mới có cơ hội chiến thắng hai đế quốc lớn Pháp và Mỹ, dân tộc ta thoát khỏi kiếp cai trị của những nước thực dân đế quốc. Con người mới được tự do làm chủ đời mình, làm chủ vận mệnh cuộc sống.
Hồ Chí Minh là một người yêu nước vĩ đại, chính vì yêu nước, nên trong thời người sinh ra đất nước ta đang trong đêm dài nô lệ. Những người dân khốn khổ, tối tăm, làm việc cực nhọc quanh năm nhưng không đủ cơm ăn áo mặc, bởi những bóc lột mà họ phải mang trên người, bởi chế độ phong kiến thối nát và thực dân Pháp cai trị.
Trong những năm cuối thế kỷ 18 đầu 19 nền kinh tế nước ta khủng hoảng. Chế độ phong kiến dưới thời cai quản của vua Khải Định một vị vua bù nhìn, ham hư danh, ham vinh hoa phú quý mà bỏ rơi vận mệnh thần dân, đất nước mình. Thực dân Pháp đội lốt khai hóa văn minh, tìm đường vào nước ta cai trị.
Trong sự bế tắc đó, chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1911 ông 21 tuổi đã lên đường ra đi, ông không đi những nước gần mà ông muốn sang Pháp một đất nước thuyết giảng về văn minh, tự do bình đẳng bác ái, tại sao lại mang những xiềng xích nô lệ sang trói buộc nước ta.
Người muốn đi sang Pháp để hiểu hơn về kẻ thù. Trong qua trình chu du đó người đã tới với nước Nga, đã thấy sự thành công của giai cấp vô sản trong cách mạng tháng 10 Nga. Từ đó, người tới với chủ nghĩa Mác- Lê Nin. Người đã tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.
Sau đó, người trở về nước đứng ra sáp nhập ba tổ chức Đảng đang tồn tại trong nước lúc bấy giờ là An Nam cộng sản đảng, Đông Dương cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn.
Chính nhờ sự thống nhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng cộng sản Việt Nam lấy lá cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ.
Nhờ sự ra đời của Đảng cộng sản dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh nên nước ta đã đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ cách mạng tháng 8/1945 thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Ngày 2/09/2015 tới chiến thắng thực dân Pháp năm 1954, thống nhất hai miền Nam- Bắc mùa xuân năm 1975 tất cả những chiến thắng đó đều có tâm huyết, công lao của vị lãnh tụ vĩ đại chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người đúng là một vị lãnh tụ lỗi lạc, người cha già của cả dân tộc. Đúng như câu thơ tác giả Tố Hữu đã viết về người
Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người. | Thuyết minh về chủ tịch Hồ Chí Minh | 562 | |
Đề bài: Nhà em có nuôi một vài con vật rất đáng yêu. Em hãy viết bài văn thuyết minh về con vật mà em yêu thích nhất.
Bài làm
Trong nhà, tôi là mèo cưng của cô chủ, nhưng cậu chủ lại quý Mun- chú chó kém tôi một tuổi hơn. Từ khi Mun về nhà của cô chủ, tôi đã sớm thân và hiểu nhiều điều về cậu ấy.
Mun là giống chó nhà. Đến nay cậu ấy đã gần một tuổi. Lần đầu nhìn thấy cậu ấy tôi đã thấy ấn tượng với đôi mắt ba mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, để bảo vệ mắt. Cậu ấy có đối tai vô cùng nhạy bén và khứu giác tinh nhạy lạ thường. Có lần tôi nghe cậu ấy khoe với mấy chị gà trong vườn rằng mình có thể nhận ra được 35.000 âm rung trong một giây. Vào mùa đông, thi thoảng tôi vẫn thấy cậu ấy lấy đuôi che đi cái mũi ướt át. Đó là cách cậu ấy giữ ấm cho mình bên cạnh việc ngay từ khi ra đời cậu ấy đã được khoác trên mình hai lớp áo: lớp bên ngoài có thể dễ dàng nhìn thấy và lớp lót bên trong giúp giữ ấm và khô ráo trong ngày mưa rét.
Phải mất một khoảng thời gian dài, tôi mới bắt đầu quen thuộc với những tính cách đặc trưng của Mun. Cậu ấy dường như rất cảnh giác mỗi khi có người lạ đến nhà. Với đôi tai nhạy bén và khả năng chạy nhanh, Mun chẳng bao giờ để bất kì một con vật lạ nào xâm nhập vào trong nhà. Trong khi tôi thích nằm thảnh thơi sưởi nắng hay đợi sự vuốt ve của cô chủ, thì Mun lúc nào cũng thích đừa giỡn với cậu chủ. Mỗi lần vui đùa như thế cậu ấy đều vẫy vẫy cái đuôi ra hiệu vui mừng. VÀo ban đêm, dù Mun trông có vẻ đã đi ngủ nhưng đôi tai cậu ấy lúc nào cũng vểnh lên nghe ngóng, đề phòng những âm thanh lạ. Nằm sát đất giúp Mun nhận biết âm thanh dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Mọi người trong nhà đều quý mến Mun và tôi cũng quý mến cậu ấy. Mun thực sự có vai trò rất quan trọng. | Thuyết minh về con chó nhà em nuôi | 403 | |
Đề bài: Thuyết minh về con chó
Bài làm
Chó có rất nhiều loại và từ đó người ta đặt tên cho chúng. Cho là một trong số những loài động vật được thuần dưỡng sớm nhất. Trung bình chó có trọng lượng là từ một đến tám mươi ki-lô-gam.
Chó là giống vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 12.000 năm vào thời kỳ đồ đá. Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói (một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước). Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám.
Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc.
Mắt chó có đến 3 mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chúng thì cực thính, chúng có thể nhận được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất tuyệt vời. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém. Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay đuôi che lấy cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình.
Chó có đến 2 lớp lông: lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ “hạ nhiệt” trong những ngày oi bức.
Chó là loài động vật có bốn chân, mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc nhưng khi đi thì cụp vào. Chó có bộ não rất phát triển, xương quai hàm cứng. Đặc biệt, tai và mắt chó rất thính và tinh vào ban đêm. Chó vẫy đuôi để biểu hiện tình cảm. Chó là loài động vật có bộ phận tiêu hóa rất tốt.
Chó có đặc tính là chạy rất nhanh bằng bốn chân, tốc độ lao về phía trước khoảng từ bảy mươi đến tám mươi km một giờ. Hơn nữa, chó cũng có khả năng đánh hơi rất tài. Hiện nay chó hoang dã vẫn còn tồn tại, nhưng chó được thuần dưỡng như chó nhà, chó cảnh thì phổ biến hơn.
Chó thuần dưỡng có nhiệm vụ trông, giữ nhà và thường nặng từ mười lăm đến hai mươi ki-lô-gam, có tuổi thọ trung bình từ mười sáu đến mười tám năm. Loại chó bắt được tội phạm được gọi là chó nghiệp vụ, trinh thám, và thường rất to, cao, tai vểnh, hoạt động nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh. Chúng được nuôi rất công phu. Một số loại chó khác như chó săn thường rất khôn. Chó cứu hộ được dùng trong việc cứu nước ở các bến cảng, sân bay,… nơi xảy ra sự cố.
Ở một số nước trên thế giới, chó còn chuyên để kéo xe. Nhưng không hẳn là chỉ có ích, nó còn rất dễ bị bệnh, đó là bệnh “dại”. Thường là thời gian đầu chó rất bình thường, ít người phát hiện ra để đề phòng. Khi bị chó dại cắn, lúc bấy giờ mới thấy rõ việc nguy hiểm đến tính mạng con người. Vì vậy cần phải tiêm phòng cho chó thường xuyên theo định kì để tránh bị mắc bệnh.
Chó là loài động vật rất có ích trong mọi lĩnh vực. Chó còn là bạn của con người bởi sự thông minh, lanh lợi, trung thành và nhiều tác dụng của nó. Chó được coi là loài động vật rất quan trọng và giúp việc đắc lực cho con người.
Con chó luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như trong lúc bần hàn, khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được. | Thuyết minh về con chó | 770 | |
Đề bài: Thuyết Minh Về Con Cá Chép
Bài làm
Nước Việt Nam ta lắm sông nhiều suối với đường bờ biển dài 3260 km, đã tạo điều kiện cho nhân dân ta trong việc nuôi trồng thủy sản. Một trong những loài mang lại giá trị kinh tế cao chính là cá. Nước ta có rất nhiều các loài cá như cá chuối, có lóc, cá thu, cá rô…nhưng có lẽ loài cá thơm ngon dưỡng chất và có ý nghĩa tâm linh thì phải kể đến cá chép.
Cá là loại động vật thủy sinh sống trong môi trường nước, là loại động vật có xương sống với nhiều chủng loại đa dạng. Trước hết nói về chỗ ở và nguồn gốc của cá chép. Theo tôi được biết thì cá chép là loài cá nước ngọt, chúng thường sống ở sông, hồ hoặc được nuôi trong đầm, ao. Cá chép có mặt ở nhiều nơi trên thế giới. Người phương Đông coi cá chép là loài cá quý. Chính vì là loại cá nước ngọt cho nên chúng rất gần gũi với đời sống của con người nên được người dân ưa chuộng để làm thực phẩm và cũng chính vì vậy, cá chép đã đi vào nhiều nền văn hóa của các nước trên thế giới.
Tiếp theo là về đặc điểm của cá chép. Màu đặc trưng thường thấy của cá chép là màu vàng đen, sau đó lại sẫm dần về phía vây lưng. Mấy năm gần đây ở nước ta có xuất hiện loài cá chép có màu đỏ, trông rất đẹp mắt. Vảy cá chép tròn và to, xếp chồng lên nhau như ngói lợp. Thân hình cá chép dài, không dài như cá chuối nhưng kích thước của nó cũng phải gọi là dài, cá chép có thân hình thon thon. Đầu cá có hai cái mắt to tròn và rất sáng. Tiếp đến là hai đôi lỗ mũi, nhìn rất ngộ nghĩnh, hai đôi râu và cái miệng nhỏ xinh xắn, dễ thương. Chỗ giáp với thân là hai nắp mang, bên trong có mấy lớp mang màu hồng. Khúc đuôi bắt đầu từ đuôi vây hông và tận cùng là vây đuôi.
Cá chép là loài ăn tạp, chúng thích kiếm ăn ở tầng nước giữa và tầng đáy. Cá chép ăn giun, ốc, ấu trùng và cỏ nước. Trong ao nuôi, chúng còn ăn cả phân xanh, cám, bã đậu, thóc lép…Cá chép rất dễ nuôi, ít bệnh nhưng tốc độ tăng trưởng không nhanh bằng các loài cá khác. Sau sáu tháng, cá chép có trọng lượng từ nửa kí trở lên.
Cá chép còn là món quen thuộc trong những bữa cơm của người dân Việt Nam. Cá chép có nhiều công dụng rất lớn. Thịt cá, vây cá, đầu cá đều là những vị thuốc quý. Cá chép bổ tỳ vị, lợi tiểu, tiêu phù, thông sữa…là một trong những thực phẩm bổ dưỡng cho phụ nữ có thai. Do lợi tiểu, tiêu phù nên cá chép còn được dùng trong nhiều bệnh khác như gan, thận. Tôi rất thích ăn cá chép vì thịt cá chép dai, ngọt và mùi vị thơm, thịt dày và béo, ít xương dăm, thớ thịt trắng mịn, được nhiều người ưa thích. Cá chép có thể dùng nấu cháo, cá chép rán ăn chấm với nước mắm tỏi, hay cá hấp, nấu canh chua hoặc sốt với cà, nấm, lẩu cá chép, cá kho tương là những món ăn ngon và bổ, nhà nhà ai cũng thích.
Cá chép ở Việt Nam còn là một loài cá gắn liền với văn hóa truyền thống của dân tộc. Người Việt Nam thường có câu: “tôm, cua, rùa, cá” dùng để chỉ về những loài hải sản hoặc cá cùng với các loài vật khác xuất hiện trong trò chơi “bầu cua tôm cá”. Trong tiếng Việt, là học sinh chắc chắn chúng ta ai cũng quen thuộc với câu tục ngữ mà bố mẹ đã từng răn dạy chúng ta:
“Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”
Ở văn hóa phương Đông còn quan niệm cá chép là loài con vật báo điềm lành, gắn với biểu tượng trường thọ. Nó còn xuất hiện cả trong truyền thuyết nữa. Với câu chuyện kinh điển về sự tích “Cá chép hóa rồng” hay “Cá chép vượt Vũ Môn”. Là con vật có thật được dân gian cho rằng có thể lột xác để trở thành rồng-là con vật thần thoại, tượng trưng cho đất trời. Nên dân gian có câu tục ngữ:
“Mồng bảy cá đi ăn thề
Mồng tám cá về vượt Thác Vũ Mô ”
Hay “Biết răng chừ cá chép hoa hồng”
Cá chép hóa rồng vì vậy mà biểu trưng cho sự nỗ lực, may mắn, về đích, thành công, hi vọng. Ngoài ra, dân ta còn có tục cứ đến hai ba tháng chạp cuối năm, vào dịp Tết ông Táo, nhà nhà lại thả cá chép ra sông, hồ để đưa ông Công, ông Táo lên trời báo cáo tình hình gia đình trong năm vừa qua, cũng là cầu phúc, cầu lộc cho năm tới. Cá chép còn là vật phóng sinh vào lễ hội rằm theo quan niệm Đạo Phật nữa. | Thuyết Minh Về Con Cá Chép | 882 | |
Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9)
Hướng dẫn
Tổng hợp những bài văn, dàn ý, bài thơ hay về chủ đề Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9), một chủ đề cực kì hay và ý nghĩa khi nói đến con gà trống. Cùng đọc và có cảm nghĩ riêng với những bài văn được sưu tầm ở nhiều nguồn khác nhau về chủ đề Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) này.
Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) Bài mẫu 1:
Đó là chú trống nòi mẹ cho em nuôi kể từ ngày chị em bắt đầu sống tự lập. Mới đó mà đã năm, sáu tuần trăng trôi qua.
Giờ đây, chú đã là một “thanh niên tráng kiện”. Tuần trước mẹ cân thử, cứ tưởng chú chỉ nặng độ ba kí là cùng. Ai ngờ chú lên đến ba kí sáu, vạm vỡ như một đô vật ngoại hạng. Bạn bè cùng xóm đều phải kiêng nể trước thân hình hộ pháp của chú. Nhìn bộ mã, dáng đi, điệu đứng của chú ai cũng tấm tắc khen là một “đấng hào hoa phong nhã”. Cái mào của chú mới tuyệt làm sao! Cái vương miện màu đỏ tươi như màu hoa phượng vĩ ấy như tôn chú lên cái địa vị chủ soái ở cái “xóm gà” đông đúc này. Cái mỏ của chú trông như hai mảnh thép hình vòng cung ốp lại dùng để kiếm ăn và tự vệ. Đôi mắt sáng tròn như hai hạt hồng ngọc lúc nào cũng lóng la lóng lánh.
Là một chú gà đã trưởng thành, toàn thân chú được bao bọc bằng một lớp lông màu vàng rực pha lẫn những chiếc lông màu đen xanh ong ánh như rắc hạt kim tuyến. Bao quanh cái cổ là một lớp lông mịn và mềm như nhung thẫm, làm cho da cổ lúc nào cũng đỏ au càng thêm rắn rỏi. Đôi chân vừa to lại vừa cao được bao bọc bởi một lớp vảy sừng màu vàng sậm. Hai cái cựa chòi ra như hai mũi đinh mười, nhọn hoắt, một thứ vũ khí lợi hại giúp chú đánh bại mọi đối thủ trong xóm, nâng chú lên địa vị “thống soái”. Bộ lông đuôi của chú mới rực rỡ làm sao! Những chiếc lông ba màu vàng, đen, trắng pha lẫn, dài thượt, cong vút về sau, vừa tạo cho chú một dáng vẻ khỏe khoắn, cân đôi, lại vừa tăng thêm vẻ bảnh trai của một “thanh niên” vừa mới lớn.
Sáng nào cũng vậy, khi tiếng chuông nhà thờ ngân vang, em đã thấy chú đứng vắt vẻo trên cành cây ổi cạnh hồi nhà, vỗ cánh phành phạch rồi cất giọng gáy vang bài ca muôn thuở: “Ò… ó… o…” rộn khắp thôn xóm như đánh thức mọi người cùng dậy. Hát chán, chú lại đứng chờ đợi… Mấy chị mái tơ nghe tiếng hát của chú vội chen nhau ùa ra sân. Từ trên cành ổi cao, chú nhún mình, vỗ cánh, nhoáng một cái đã thấy chú đứng bên chị mái nâu mặt đỏ, lông mượt từ bao giờ. Có lẽ trên mười chị gà mái, chú thích nhất cô mái nâu này. Có thể là vì bạn cùng lứa với chú, với lại chị ta cũng thích kèm cặp với cu cậu. Mỗi lần chú kiếm được một miếng mồi ngon, bao giờ chú cũng tục tục… mời chị mái nâu cùng chén. Có lúc chú nhường hẳn cho chị mà không hề đắn đò do dự chút nào. Chú "ga lăng” như thế nên chị gà mái nào cũng thích được sóng đôi cùng chú.
Đối với bạn bè hàng xóm cùng “giới” với chú thì chú tỏ ra khắt khe, thậm chí nhiều lúc mất “lịch sự” nữa. Mỗi lần chúng bạn láng giềng đi kè kè với bất kì một chị mái nào trong đàn là chú ta tỏ thái độ phản ứng ngay. Chú lặng lẽ tách khỏi đàn, áp sát đối phương. Khi dừng lại, chú vỗ cánh phành phạch làm bụi bay mù mịt, sau đó dướn cổ, cất cao giọng “đô trưởng” ca bản “ò… ó… o…” như thách thức, đe dọa. Các bạn láng giềng đã nhiều phen vì lòng tự trọng đã thử sức với chú. Biết mình không phải là đối thủ, thấy chú sắp sửa gây sự đã vội vàng “cao chạy xa bay”, vừa tăng tốc vừa ngoái đầu nhìn lại có vẻ hậm hực. Những lúc như vậy, chú có vẻ đắc thắng, tự hào, lững thững trở lại đàn với một dáng điệu tự đắc, kênh kiệu. Đối với người ngoài thì vậy đó, nhưng trong nhà hình như chú không hề hiếp đáp một ai, lúc nào cũng tỏ ra “độ lượng bao dung”.
Em quý chú trống nòi không chỉ chú là niềm tự hào, kiêu hãnh của em với chúng bạn cùng xóm mà còn là kết quả lao động đầu tiên của em trong suốt năm, sáu tháng nay. Ngoài ra, chú còn là chiếc đồng hồ báo thức chính xác, vui nhộn, sống dộng nhất mà các hãng đồng hồ Ra-đô, Gi-mi-cô hiện đại ngày nay chẳng bao giờ tạo ra được.
Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) Bài mẫu 2:
Lập dàn ý trước khi thuyết minh về con Gà nhé các bạn:
I. MB: Có một loài vật nuôi gắn bó với đời sống của người Việt Nam, đem lại nhiều lợi ích cho con người, không chỉ về vật chất mà cả về mặt tinh thần. Đó là loài gà. (Có thể từ những câu thơ của Xuân Quỳnh trong bài "Tiếng gà trưa" để dẫn đến việc giới thiệu loài gà)
II. TB: – Gà có nguồn gốc từ gà rừng, được con người đem về nuôi nên có tên là gà nhà.
– Khác với gà rừng, do được chăm sóc, nên gà nhà có thói quen trở về chuồng mỗi khi trời tối.
– Gà thuộc họ chim, nhóm lông vũ. Có nhiều loại gà như gà gô, gà ri, gà tam hoàng, gà ta,…
– Xét về giới tính, có gà mái và gà trống:
+ Gà trống có thân hình vạm vỡ, trên đầu có mào đỏ chót, bộ lông rực rỡ, lông đuôi dài, chân có cựa – lực lưỡng và oai vệ.
+ Gà mái yểu điệu, đoan trang, lông mượt mà, lông đuôi ngắn, mắt tròn xoe, trên đầu không có mào, chân không cựa.
+ Thức ăn của gà là thóc, các loài côn trùng, giun đất, chuối cây thái nhỏ băm nhuyễn trộn cám, các loại bột dạng viên,…
– Gà mái đẻ trứng, mỗi lứa có thể đẻ từ 15 đến hơn 20 quả. Trứng được ấp trong khoảng 3 tuần thì nở ra những chú gà con xinh xắn. Những chú gà con này vừa mở mắt có thể tự kiếm ăn, nhưng đối với gà nhà, chúng thường được mẹ dẫn đi kiếm mồi. Mỗi khi gà mẹ tìm được mồi liền cục cục,…gọi đàn con đến ăn. Những lúc gà mẹ dẫn con đi ăn, nếu có loài vật nào dám đụng đến đàn gà con thì lập tức bị gà mẹ chống trả quyết liệt.
– Vai trò của gà trong đời sống con người: gà là một động vật có ích, đem lại nhiều lợi ích về kinh tế cho con người.
+ Trứng gà là nguồn thực phẩm lớn trong đời sống con người. Từ trứng gà có thể chế biến nhiều món ăn ngon như món trứng gà luộc, trứng gà chiên, trứng gà ốp la,…Trứng gà đánh với bột mì có thể làm bánh thuẩn, bánh ga tô, bánh kem,…Trứng gà còn là một dược phẩm dùng để dưỡng da. Ông bà ta thường luộc trứng để cạo gió mỗi khi bị cảm sốt.
+ Thịt gà là món ăn ngon. Có nhiều món được chế biến từ gà như gà luộc chấm muối tiêu, gà xé trộn rau răm, gà hấp, gà chiên, gà quay,…
+ Lông gà qua xử lí hoá học có thể trở thành một loại bột giặt hữu hiệu. Ngoài ra còn dùng làm cây cọ để viết, vẽ; làm chổi, làm quạt, làm áo lông gà, làm cầu cho môn thể thao đá cầu,…
+ Ngay cả chất thải của gà cũng có thể dùng làm phân bón cho cây cối. Loại phân này rất thích hợp cho cây ớt và cây thuốc lá.
– Không chỉ có lợi ích về vật chất, mà còn có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người.
+ Tiếng gà gáy là chiếc đồng hồ báo thức cho người dân quê. Tiếng gà gáy mỗi sớm, mỗi chiều trở nên quen thuộc gợi cuộc sống thanh bình, yên ả. Vì thế mà nó đi vào thơ văn một cách tự nhiên. Ngay từ thời xa xưa, trong truyện cổ tích "Sọ Dừa", tiếng gà gáy xuất hiện đã đem lại sự đoàn tụ cho Sọ Dừa và cô Út. Và "Tiếng gà trưa " của Xuân Quỳnh là một bài thơ rất hay về âm thanh "tiếng gà":"Trên đường hành quân xa- Dừng chân bên xóm nhỏ – Tiếng gà ai nhảy ổ – Cục cục tác cục ta – Nghe xao động nắng trưa – Nghe bàn chân đỡ mỏi"
+ Trên mâm cỗ cúng ông bà tổ tiên, đất đai, thần thánh thường có gà luộc nguyên con, để tỏ lòng trân trọng biết ơn ông bà, tổ tiên.
+ Gà còn xuất hiện trong các lễ hội truyền thống với trò chơi chọi gà độc đáo. Ở nước Pháp chú gà trống Gô-la tượng trưng cho sự phồn thịnh của nước nhà.
– Hình ảnh gà mẹ dẫn đàn gà con đi kiếm mồi điểm thêm cho bức tranh làng cảnh Việt Nam.
– Tuy nhiên hiện nay do bị ảnh hưởng của môi trường sống, nhiều loại dịch bệnh xuất hiện trong những năm gần đây, nhất là bệnh dịch cúm gia cầm H5N1. Vì thế mà con người cần chăm sóc cẩn thận để nguồn bệnh đỡ lây lan, không nên ăn gà bệnh. Cần phải có mạng lưới kiểm duyệt chặt chẽ nguồn thực phẩm này.
III. KB: – Khẳng định vị trí của loài gà.
– Tình cảm của em với loài vật nuôi này.
Bài làm thuyết minh về con Gà:
Đối với người nông dân Việt Nam thì gà nhà luôn là con vật gần gũi và thân thuộc nhất trong số rất nhiều các loài gà khác nhau. Gà là vật nuôi quan trọng nhất của con người để lấy thịt và trứng.
Bức tranh thôn quê Việt Nam là một bức tranh tràn ngập sắc màu rực rỡ nhưng cũng rất yên bình, ở đó chứa đựng mơ ước của người nông dân, có cây đa, giếng nước, mái đình, con trâu,… nhưng gần gũi với mỗi gia đình nhất có lẽ là đàn gà chạy rộn rã trước sân nhà.
Đối với người nông dân Việt Nam thì gà nhà luôn là con vật gần gũi và thân thuộc nhất trong số rất nhiều các loài gà khác nhau. Gà là vật nuôi quan trọng nhất của con người để lấy thịt và trứng. Đặc điểm chung của gà là cánh tròn, ngắn, toàn thân phủ lông. Để thích nghi với cuộc sống bới đất tìm mồi, từ thuở xưa, gà đã được tạo hóa ban cho một đôi chân to móng cùn và cứng, phủ vẩy sừng mỏng màu vàng và còn một cái mỏ ngắn khỏe nữa. Không phải từ thuở ban đầu gà sinh ra đã là gã nhà mà tổ tiên của chúng là gà rừng đã trải qua thuần hóa liên chúng không có khả năng bay lượn. Đại đa số thời gian chúng dùng chân nâng đỡ cơ thể đi lại trên mặt đất. Vì vậy, cơ hồng của gà đa số tập trung ở chân, cơ ngực và các bộ phận khác lại là cơ trắng.
Các em thiếu nhi vẫn có bài hát rất dễ thương về loài động vật này: Gà không biết gáy là mẹ gà con. Gà mà không gáy là vợ gà cha. Đi lang thang trong sân có con gà có con gà”. Chỉ mấy càu hát đơn giản như vậy thôi đã cho ta thấy một gia đình gà. Gà trống được coi là gà bố, đúng như một ông bố có dáng bệ vệ, chân có cựa sắc, bộ lông óng mượt rực rỡ, nổi bật bởi bông hoa đỏ rực trên đầu mà người ta vẫn gọi là mào gà. Gà trống có tiếng gáy âm vang, từ lâu đã được coi như là đồng hồ báo thức của người nông dân. Gà mái hay là gà mẹ, cũng giống với một người mẹ, hiền lành và có dáng vẻ chậm chạp hơn, bộ lông không săc sỡ.như gà trống. Nhưng bù lại, với “thiên chức” của một người mẹ, gà mái có khả năng ấp trứng và nở ra nh…
Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) Bài mẫu 3:
Các giống vật đều có hai loại là đực và cái; riêng đối với gà, người Việt ta gọi con gà đực là gà trống hay gà sống và gọi con gà cái gà mái. Gà trống thì ít mà gà mái thì nhiều.
Gà trống trông oai vệ và rất đẹp trai vì có lông dài mướt, óng ả, và nhiều màu sắc. Thêm vào đó, gà trống còn có cái mào đỏ chói trên đầu, có đuôi dài và xòe rộng, có cái bầu diều hay diều gà ở cổ (diều là cái bíu hay cái bọc chứa đồ ăn ở ngay dưới cổ của một vài loại chim), và có cựa gà ở mỗi chân. Chính nhờ đôi cựa gà này mà loại gà trống được nổi tiếng qua việc chọi gà trong dân gian.
Gà Trống còn có một điểm rất đặc biệt khiến người dân Việt ở thôn quê coi gà trống giống như cái đồng hồ vì tiếng gáy “o! o!” của gà trống rất đúng giờ, nhất là “gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông” (câu thơ số 3216 trong Truyện Kiều của Nguyễn Du). Tại rất nhiều làng thôn ở quê người Việt chúng ta, dân quê vẫn nhờ tiếng gà gáy, nhìn ánh nắng, nhìn mặt trăng để ước lượng thời gian. Chính vì thế mà gà trống lúc đầu được nuôi để làm vật tôn thờ vì nó biết gáy sáng. Tuy rằng gà trống là loại đa thê, dê xồm, và kiêu ngạo nhưng đó là điều rất nhỏ nếu so sánh với 5 điều rất lớn và đáng ca ngợi của nó. Đó là 5 đức tính lớn: văn, võ, dũng, nhân, và tín. Lý do là đầu gà trống có mào hay mồng giống như đội mũ, đó là văn; chân gà trống có cựa sắc bén như gươm giáo, đó là võ; thấy quân thù, gà trống liền xông vào đá và mổ, đó là dũng; khi kiếm được đồ ăn gà trống bèn gọi bạn bè, gà mái, và gà con đến ăn, đó là nhân; và ban đêm tới giờ sáng, gà trống gáy cầm canh đúng giờ, đó là tín.
Gà mái thì có vẻ nhã nhặn và khiêm nhường. Lông của gà mái thì màu vàng và lấm-tấm đen. Dầu gà mái cũng có mào gà màu đỏ nhưng rất nhỏ. Gà mái có đuôi ngắn hơn gà trống và không có bầu diều ở cổ. Gà mái gáy “cục cục, cục ta cục tác,” gà con thì kêu “chíp chíp chíp.” Gà mái rất bận rộn vì phải tìm đồ ăn, đẻ trứng, ấp trứng, và săn sóc gà con. Chỉ có gà mái trông nuôi đàn con còn gà trống thì không để ý đến. Mỗi sáng, gà mái lấy mỏ rỉa lông làm dáng.
Gà là giống vật có hai chân, có hai cánh, và có lông vũ che phủ toàn thân như các loài chim. Mắt gà thì tròn, nhỏ như hạt đậu đen, và không có lông mi. Hai mắt của đầu gà không nằm cùng trên một mặt ở gần trán như mắt người hay mắt chó mà mỗi con mắt của gà lại nằm riêng rẽ ở phía trên mỗi bên má. Chính vì thế mà khi nhìn, gà thường lắc đầu bên này qua bên kia và bước lên theo hình chữ chi (z). Gà không có vành tai, nhĩ quản của gà rất ngắn và được bảo vệ bằng lông và một miếng da. Tuy thế, thính giác của gà thật hữu hiệu đặc biệt để tránh các cầm thú săn đuổi. Khi gặp nhiệt độ cao và nóng, gà thường há rộng mỏ, thở gấp rút, duỗi cánh, và uống nước cho mát. Tuy có hai cánh nhưng khả năng bay của gà không được tốt như các loài chim khác. Mỗi chân gà có bốn ngón với móng chân rất sắc và nhọn dùng vào việc đào đất, bới đất, và cào cỏ để tìm đồ ăn. Mỏ gà rất cứng và nhọn. Trong mồm gà không có răng. Gà rất dễ tính về việc ăn uống. Gà thích ăn thóc, gạo, rau, cỏ, trái cây, con dế, con gián, con cào cào, con châu chấu, con mối, và con giun. Gà rất ham ăn vặt nên suốt từ buổi sáng đến tận buổi tối gà thường chăm chỉ và tha thẩn đi tìm thức ăn.
Gà rất điều độ về việc thức ngủ, khi vừa mới tối, gà đã rủ nhau về chuồng đi ngủ; khi bắt đầu sáng, đàn gà đã thức giấc và gà trống thì gáy o! o! Gà chỉ ngủ theo cùng đàn ở nơi quen thuộc và an toàn. Gà sợ nhất rắn hổ-mang và mùi của củ hành hay lá hành. Vì thế mà gà có đời sống rất thoải mái.
Ở Việt Nam, có nhiều vùng chuyên nuôi gà mái để gà mái đẻ ra nhiều trứng rồi cho ấp ra gà con mà nuôi; sau đó, khi cần thì người ta giết gà để ăn thịt. Nhiều người nuôi gà đã có kinh nghiệm chỉ nhìn quả trứng là biết trứng đó sẽ nở ra gà trống hay gà mái. Nếu một đầu quả trứng gà mà nhọn thì bảo đảm sẽ nở ra gà trống và nếu quả trứng nào tròn trịa, tức là quả trứng đó không có đầu nào nhọn thì sẽ nở ra gà mái. Có nhiều gia đình nuôi gà chỉ để gà đẻ trứng rồi dùng trứng gà để làm đồ ăn. Sau khi gà đẻ trứng rồi, người ta lấy trứng đem ấp trong lò ấp nhân tạo rất tiện lợi. Sau khi ấp trứng gà được vài ngày thì trứng đó được gọi là “trứng gà lộn.” Trứng gà lộn này rất được những người nghiện rượu ưa thích dùng làm đồ ăn để nhậu rượu. Thường thường người dân Việt hay ăn “hột vịt lộn” chứ không ăn “trứng gà lộn.” Tuy nhiên vẫn có một số trong những người nghiện rượu thích ăn “trứng gà lộn.”
Nhiều người nuôi gà để ăn thịt. Với thịt gà, người ta có thể làm được nhiều món ăn ngon như: gỏi gà, gà quay, gà kho sả, gà luộc, gà nướng lá chanh, gà hấp muối, gà hầm thập cẩm, gà rim nước dừa, gà nấu tiêu, gà chưng cách thủy, gà tiềm, phở gà, miến gà, bún gà, mì gà, hủ tiếu gà, gà rút xương bỏ lò, và gà nhồi thập cẩm, v.v. Vào ngày Tết ta, dân Việt rất thích ăn xôi với thịt gà và tổ chức chọi gà để được hưởng vui thú. Gà ở quê ta rất ngon, nhất là vào tháng tám ta vì đã được chứng thực bằng câu tục ngữ “ếch tháng ba, gà tháng tám.” Tháng tám ta là tháng gặt lúa nên gà tha hồ ăn lúa mới; vì thế, thịt gà rất ngon.
Người ta còn nuôi gà để làm đồ cúng bái trong dịp Tết, giỗ gia tiên, và dùng con gà giò còn sống để cúng lễ mở cửa mả. Người ta dùng con gà trống lớn để cúng thần linh khi người dân muốn làm lễ thề thốt. “Gà, xôi, trầu, và rượu” là 4 lễ vật tối thiểu để cúng thần thánh.
Người Việt ta còn dùng gà để bói (kê bốc). Người ta dùng gan gà, đầu gà, mật gà, phổi gà, xương gà, và trứng gà để bói. Tùy theo mỗi nơi người ta ấn định thế nào là tốt và thế nào là xấu trước khi giết gà đem lễ để bói. Thêm vào đó, người ta còn dùng tiếng gáy của gà để bói nữa. Thường thường gà gáy sáng thì tốt và gáy vào buổi chiều thì xấu cho gia đình.
Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) Bài mẫu 4: Một bài văn tả con gà siêu ngắn và bá đạo
1.
Em xin thuyết minh về con gà. Gà là giống vật có hai chân, có hai cánh, và có lông vũ che-phủ toàn-thân như các loài chim. Mắt gà thì tròn, nhỏ như hạt đậu đen, và không có lông mi. Hai mắt của đầu gà không nằm cùng trên một mặt ở gần trán như mắt người hay mắt chó mà mỗi con mắt của gà lại nằm riêng-rẽ ở phía trên mỗi bên má. Chính vì thế mà khi nhìn, gà thường lắc đầu bên này qua bên kia và bước lên theo hình chữ chi (z). Gà không có vành tai, nhĩ-quản của gà rất ngắn và được bảo-vệ bằng lông và một miếng da.
Tuy-thế, thính-giác của gà thật hữu-hiệu đặc-biệt để tránh các cầm-thú săn đuổi. Khi gặp nhiệt-độ cao và nóng, gà thường há rộng mỏ, thở gấp-rút, duỗi cánh, và uống nước cho mát. Tuy có hai cánh nhưng khả-năng bay của gà không được tốt như các loài chim khác. Mỗi chân gà có bốn ngón với móng chân rất sắc và nhọn dùng vào việc đào đất, bới đất, và cào cỏ để tìm đồ ăn. Mỏ gà rất cứng và nhọn. Trong mồm gà không có răng. Gà rất dễ tính về việc ăn uống. Gà thích ăn thóc, gạo, rau, cỏ, trái cây, con dế, con gián, con cào-cào, con châu-chấu, con mối, và con giun. Gà rất ham ăn-vặt nên suốt từ buổi sáng đến tận buổi tối gà thường chăm-chỉ và tha-thẩn đi tìm thức ăn.
2.
Gà tây là một giống gà sống ở những khu rừng hay ở những cánh đồng của Bắc Mỹ. Thuyết minh về con gà trong tiếng Việt, chúng được gọi là gà tây vì chúng được du nhập vào Việt Nam từ các nước phương Tây. Gà tây trống có thân hình lớn hơn gà mái. Khi con người đem về thuần hóa để cho chúng trở thành loài gia cầm thì trọng lượng của gà tây trống có thể đạt từ 7,8 kg cho đến 11 hay 12 kg. Trong khi đó, gà tây mái thì có thể trọng nhỏ hơn, chỉ khoảng 3 cho đến 4 kg.
Ngoài thiên nhiên, gà tây có thể bay như thiên nga hay ngỗng trời, nhưng khi được thuần hóa, chúng có thân hình quá nặng nề nên không thể bay dù chỉ một đoạn ngắn. Và ngoài thiên nhiên, gà tây chỉ có một loại là màu đen, nhưng sau khi được thuần chủng và lai tạp, chúng có thêm một loại trắng và bông.
Gà tây trống khi đạt đến tuổi trưởng thành là khỏang 10 tháng, vì chúng có thể trọng lớn. Còn gà tây mái trưởng thành sớm hơn, khoảng 8 tháng tuổi. Gà tây con rất khó nuôi, nhưng khi chúng được 2 tháng tuổi, chúng sẽ lớn rất nhanh. Gà tây trống khi trưởng thành, có thể xòe đuôi ra, trong giống như một con công vậy, gà tây mái cũng có thể làm được, nhưng rất hiếm thấy. Khi trời vừa sáng, gà tây trống thường xòe đuôi, ve vãn gà mái, để đáp lại, gà mái cũng xòe đuôi, nhưng nhỏ hơn gà trống.
Gà tây thường được người Mỹ và người các nước Phương Tây dùng cho các món nướng và ngày nay, chúng được dùng nhiều cho lễ Tạ Ơn hay những buổi tiệc gia đình.
Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) Bài mẫu 5:
Nhà em có nuôi một con gà trống rất khoẻ mạnh. Nó là loài ăn tạp, thứ gì cũng ăn cả. Ba mẹ em rất cưng nó. Ngoài thóc gạo, ba em còn cho nó ăn thêm vài con cá nhỏ…
Tính đến nay chú gà trống của em khoảng một năm tuổi. Nhìn bề ngoài của chú không to lắm nhưng ai ngờ chú lại nặng tới hai ki-lô-gam. Với dáng vẻ mập mạp, rắn rỏi, chú gà trống tinh nghịch của em luôn làm ra vẻ mình là người khoẻ nhất. Cái vẻ đỏm dáng của chú được tô điểm thêm bằng bộ lông nhiều màu sắc đầy sức hấp dẫn, bảnh trai. Để tìm giun và các loại côn trùng chú cần có đôi mắt linh hoạt, đôi mắt như hai hòn ngọc, long lanh đến không ngờ. Không chỉ có mắt tinh để kiếm mồi mà chú còn có cái mỏ cứng dùng để mổ. Đặc biệt cái mào đỏ chót trên đầu chú chính là cái vương miện để chú có dịp làm chảnh với các cô gà mái. Đôi chân nhanh nhẹn cùng cái cánh khoẻ mạnh chú kiếm được rất nhiều thức ăn. Mà mỗi lần kiếm được thức ăn là chú đều chia cho các cô gà mái ở nhà kế bên.
Sáng sớm, chú bay lên nóc nhà em. Vỗ cánh và gáy “ò ó o”. Ý là chú muốn nói là “Cô chủ ơi, hãy mau dậy đi, coi chừng trễ học đó…”
Cả nhà em ai ai cũng quý chú cả. Em đã hứa với ba là sẽ chăm sóc chú thật tốt và không để dịch cúm gia cầm lây sang con gà nhà em
P/s với những bài văn hay được sưu tầm với chủ đề Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) mong sẽ giúp được các bạn có được những lời hay, ý đẹp để tả con gà trống của mình thật tốt
Nguồn: | Thuyết minh về con gà trống (văn lớp 9) | 4,426 | |
Đề bài: Thuyết minh về con gà
Bài làm
Các giống vật đều có hai loại là đực và cái; riêng đối với gà, người Việt ta gọi con gà đực là gà trống hay gà sống và gọi con gà cái gà mái. Gà trống thì ít mà gà mái thì nhiều.
Gà trống trông oai vệ và rất đẹp trai vì có lông dài mướt, óng ả, và nhiều màu sắc. Thêm vào đó, gà trống còn có cái mào đỏ chói trên đầu, có đuôi dài và xòe rộng, có cái bầu diều hay diều gà ở cổ (diều là cái bíu hay cái bọc chứa đồ ăn ở ngay dưới cổ của một vài loại chim), và có cựa gà ở mỗi chân. Chính nhờ đôi cựa gà này mà loại gà trống được nổi tiếng qua việc chọi gà trong dân gian.
Gà Trống còn có một điểm rất đặc biệt khiến người dân Việt ở thôn quê coi gà trống giống như cái đồng hồ vì tiếng gáy “o! o!” của gà trống rất đúng giờ, nhất là “gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông” (câu thơ số 3216 trong Truyện Kiều của Nguyễn Du). Tại rất nhiều làng thôn ở quê người Việt chúng ta, dân quê vẫn nhờ tiếng gà gáy, nhìn ánh nắng, nhìn mặt trăng để ước lượng thời gian. Chính vì thế mà gà trống lúc đầu được nuôi để làm vật tôn thờ vì nó biết gáy sáng. Tuy rằng gà trống là loại đa thê, dê xồm, và kiêu ngạo nhưng đó là điều rất nhỏ nếu so sánh với 5 điều rất lớn và đáng ca ngợi của nó. Đó là 5 đức tính lớn: văn, võ, dũng, nhân, và tín. Lý do là đầu gà trống có mào hay mồng giống như đội mũ, đó là văn; chân gà trống có cựa sắc bén như gươm giáo, đó là võ; thấy quân thù, gà trống liền xông vào đá và mổ, đó là dũng; khi kiếm được đồ ăn gà trống bèn gọi bạn bè, gà mái, và gà con đến ăn, đó là nhân; và ban đêm tới giờ sáng, gà trống gáy cầm canh đúng giờ, đó là tín.
Gà mái thì có vẻ nhã nhặn và khiêm nhường. Lông của gà mái thì màu vàng và lấm-tấm đen. Dầu gà mái cũng có mào gà màu đỏ nhưng rất nhỏ. Gà mái có đuôi ngắn hơn gà trống và không có bầu diều ở cổ. Gà mái gáy “cục cục, cục ta cục tác,” gà con thì kêu “chíp chíp chíp.” Gà mái rất bận rộn vì phải tìm đồ ăn, đẻ trứng, ấp trứng, và săn sóc gà con. Chỉ có gà mái trông nuôi đàn con còn gà trống thì không để ý đến. Mỗi sáng, gà mái lấy mỏ rỉa lông làm dáng.
Gà là giống vật có hai chân, có hai cánh, và có lông vũ che phủ toàn thân như các loài chim. Mắt gà thì tròn, nhỏ như hạt đậu đen, và không có lông mi. Hai mắt của đầu gà không nằm cùng trên một mặt ở gần trán như mắt người hay mắt chó mà mỗi con mắt của gà lại nằm riêng rẽ ở phía trên mỗi bên má. Chính vì thế mà khi nhìn, gà thường lắc đầu bên này qua bên kia và bước lên theo hình chữ chi (z). Gà không có vành tai, nhĩ quản của gà rất ngắn và được bảo vệ bằng lông và một miếng da. Tuy thế, thính giác của gà thật hữu hiệu đặc biệt để tránh các cầm thú săn đuổi. Khi gặp nhiệt độ cao và nóng, gà thường há rộng mỏ, thở gấp rút, duỗi cánh, và uống nước cho mát. Tuy có hai cánh nhưng khả năng bay của gà không được tốt như các loài chim khác. Mỗi chân gà có bốn ngón với móng chân rất sắc và nhọn dùng vào việc đào đất, bới đất, và cào cỏ để tìm đồ ăn. Mỏ gà rất cứng và nhọn. Trong mồm gà không có răng. Gà rất dễ tính về việc ăn uống. Gà thích ăn thóc, gạo, rau, cỏ, trái cây, con dế, con gián, con cào cào, con châu chấu, con mối, và con giun. Gà rất ham ăn vặt nên suốt từ buổi sáng đến tận buổi tối gà thường chăm chỉ và tha thẩn đi tìm thức ăn.
Gà rất điều độ về việc thức ngủ, khi vừa mới tối, gà đã rủ nhau về chuồng đi ngủ; khi bắt đầu sáng, đàn gà đã thức giấc và gà trống thì gáy o! o! Gà chỉ ngủ theo cùng đàn ở nơi quen thuộc và an toàn. Gà sợ nhất rắn hổ mang và mùi của củ hành hay lá hành. Vì thế mà gà có đời sống rất thoải mái.
Ở Việt Nam, có nhiều vùng chuyên nuôi gà mái để gà mái đẻ ra nhiều trứng rồi cho ấp ra gà con mà nuôi; sau đó, khi cần thì người ta giết gà để ăn thịt. Nhiều người nuôi gà đã có kinh nghiệm chỉ nhìn quả trứng là biết trứng đó sẽ nở ra gà trống hay gà mái. Nếu một đầu quả trứng gà mà nhọn thì bảo đảm sẽ nở ra gà trống và nếu quả trứng nào tròn trịa, tức là quả trứng đó không có đầu nào nhọn thì sẽ nở ra gà mái. Có nhiều gia đình nuôi gà chỉ để gà đẻ trứng rồi dùng trứng gà để làm đồ ăn. Sau khi gà đẻ trứng rồi, người ta lấy trứng đem ấp trong lò ấp nhân tạo rất tiện lợi. Sau khi ấp trứng gà được vài ngày thì trứng đó được gọi là “trứng gà lộn.” Trứng gà lộn này rất được những người nghiện rượu ưa thích dùng làm đồ ăn để nhậu rượu. Thường thường người dân Việt hay ăn “hột vịt lộn” chứ không ăn “trứng gà lộn.” Tuy nhiên vẫn có một số trong những người nghiện rượu thích ăn “trứng gà lộn.”
Nhiều người nuôi gà để ăn thịt. Với thịt gà, người ta có thể làm được nhiều món ăn ngon như: gỏi gà, gà quay, gà kho sả, gà luộc, gà nướng lá chanh, gà hấp muối, gà hầm thập cẩm, gà rim nước dừa, gà nấu tiêu, gà chưng cách thủy, gà tiềm, phở gà, miến gà, bún gà, mì gà, hủ tiếu gà, gà rút xương bỏ lò, và gà nhồi thập cẩm, v.v. Vào ngày Tết ta, dân Việt rất thích ăn xôi với thịt gà và tổ chức chọi gà để được hưởng vui thú. Gà ở quê ta rất ngon, nhất là vào tháng tám ta vì đã được chứng thực bằng câu tục ngữ “ếch tháng ba, gà tháng tám.” Tháng tám ta là tháng gặt lúa nên gà tha hồ ăn lúa mới; vì thế, thịt gà rất ngon.
Người ta còn nuôi gà để làm đồ cúng bái trong dịp Tết, giỗ gia tiên, và dùng con gà giò còn sống để cúng lễ mở cửa mả. Người ta dùng con gà trống lớn để cúng thần linh khi người dân muốn làm lễ thề thốt. “Gà, xôi, trầu, và rượu” là 4 lễ vật tối thiểu để cúng thần thánh.
Người Việt ta còn dùng gà để bói (kê bốc). Người ta dùng gan gà, đầu gà, mật gà, phổi gà, xương gà, và trứng gà để bói. Tùy theo mỗi nơi người ta ấn định thế nào là tốt và thế nào là xấu trước khi giết gà đem lễ để bói. Thêm vào đó, người ta còn dùng tiếng gáy của gà để bói nữa. Thường thường gà gáy sáng thì tốt và gáy vào buổi chiều thì xấu cho gia đình. | Thuyết minh về con gà | 1,317 | |
Đề bài: Thuyết minh về con lợn.
Bài làm
Lợn là loài vật nuôi xuất hiện từ xa xưa trong đời sống của người dân nước ta. Sự tích bánh chưng bánh giầy kể rằng hoàng tử Lang Liêu đã biết dùng gạo nếp, thịt lợn và đậu xanh để làm ra bánh chưng dâng lên vua cha là Hùng Vương thứ mười sáu và cúng trời Đất cùng các bậc Tiên Vương. Tranh lợn Đông Hồ nổi tiếng của vùng Kinh Bắc cũng góp phần thể hiện nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi của người Việt cổ.
Ở Việt Nam có rất nhiều giống lợn. Nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ thường nuôi giống lợn ỉ, toàn thân màu đen, hoặc có khoang trắng, lông thưa, mõm ngắn, lưng võng, bụng sệ, chân nhỏ và thấp. Lợn ỉ sau bảy, tám tháng nuôi, lúc trưởng thành nặng khoảng sáu, bảy mươi kí lô. Mỗi lứa, lợn nái có thể đẻ tới hàng chục con.
Lợn ỉ rất dễ nuôi. Chúng thường ăn bèo cái, khoai nước xắt nhỏ nấu chung với tấm cám. Các loại rau ăn sống là rau lang, rau mưống hoặc cây chuối băm nhỏ. Thịt lợn ỉ rất ngon, da mỏng, thịt nạc mềm và ngọt nên được nhiều người ưa chuộng. Các gia đình ở nông thôn mỗi năm nuôi hai lứa lợn, mỗi lứa dăm con, vừa có phân bón ruộng, vừa là nguồn thu nhập đáng kể.
Đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi Tây Bắc, Việt Bắc hay nuôi lợn Móng Cái, thân nhỏ, mõm dài, lông cứng và nặng chỉ độ dăm chục kí. Lợn Móng Cái có thể nuôi theo kiểu thả rông, không cần chuồng trại và chúng ăn được nhiều loại thức ăn dễ kiếm, do đó thích hợp với kiểu chăn nuôi gia đình tự cung tự cấp.
Trong vài chục năm gần đây, quy mô ngành chăn nuôi của nước ta phát triển khá mạnh. Nhiều giống lợn ngoại được nhập và nuôi theo phương thức công nghiệp, trong đó phổ biến nhất là giống lợn Y-oóc-sai của nước Anh. Lợn Y-oóc- sai màu da trắng hồng, lông mượt, đầu nhỏ, tai dựng, thân dài, bụng thon và bốn chân cao, vững chãi. Sau từ năm đến sáu tháng nuôi theo đúng quy cách, (cám hợp chất, tiêm phòng dịch, chế độ chăm sóc đầy đủ, khoa học…) trọng lượng của một con lợn trưởng thành có thể đạt từ một trăm kí lô trở lên. Người tiêu dùng hiện nay ưa chuộng thịt lợn Y-oóc-sai siêu nạc.
Lợn là con vật nuôi quen thuộc mang lại nhiều lợi ích cho con người, Từ thịt lợn, người ta có thể chế biến ra các loại thức ăn ngon và bổ. Trong bữa cơm hằng ngày của mọi gia đình, không thể thiếu thịt lợn. Trong bữa tiệc ngày giỗ, ngày Tết, các món ăn phần lớn cũng được chế biến từ thịt lợn. Đối với người nông dân thì sau con trâu là đầu cơ nghiệp phải kể đến con lợn loài vật nuôi mang lại lợi ích không nhỏ về mặt kinh tế và cũng là loài vật gắn bó với cuộc sống ở nông thôn. | Thuyết minh về con lợn Việt Nam | 548 | |
Đề bài: Thuyết Minh Về Con Mèo Có Sử Dụng Miêu Tả & Biện Pháp Nghệ Thuật
Bài làm
Có rất nhiều loài vật đã được con người thuần hoá, nuôi dưỡng và trở thành “thú cưng” trong mỗi gia đình. Nhưng trong số đó, có thể nói mèo là loài vật được yêu chiều, nâng niu nhất.
Mèo nhà là một phân loài trong họ mèo (trong họ mèo còn có báo, linh miêu…). Theo những căn cứ khoa học đáng tin cậy thì chúng đã sống gần gũi với loài người trong khoảng từ 3500-8000 năm.
Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc có đuôi. Các màu lông mèo rất đa dạng: màu trắng, màu vàng, màu xám…Có những chú mèo mang nhiều màu lông nên có những tên gọi như mèo tam thể (có ba màu lông), mèo vằn (hai màu lông chạy xen nhau), mèo đốm…
Mèo con từ một tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo, trèo, rình và vồ mồi. Mèo bốn tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng… Chúng giao tiếp bằng cách kêu “meo”, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau.
Thông thường mèo nặng từ 2,5-7 cân. Cá biệt, một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 cân, vì được cho ăn quá nhiều. Trái lại, cũng có những chú mèo rất nhỏ (chưa tới 1,8 cân). Ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống được từ 14-20 năm. Chú mèo già nhất trên thế giới từng biết đến sống được 36 năm. Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt là khi chúng già đi.
Tai mèo khá thính. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Nhờ tính năng động cao của cơ tai mà mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Mắt mèo cũng là một bộ phận khá đặc biệt. Nghiên cứu cho thấy, tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người và kém nhất vào ban ngày. Màu mắt của mèo khá đa dạng: màu vàng, màu đen, màu nâu, màu xanh. Về thính giác, con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp tương tự như nhau, nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn thậm chí tốt hơn cả chó. Khi nghe được âm thanh nào đó tai mèo sẽ quay về hướng đó, mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh Khứu giác của mèo cũng rất phát triển, nó mạnh gấp 14 lần so với con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do đó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được.
Mèo là động vật ăn thịt thế nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sinh tồn là những loài vật nhỏ như chuột, rắn, cóc, nhái… Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứa từ xa cách con mồi khoảng từ 5-6 mét. Sau đó, nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt nhìn chăm chăm đến đối tượng đồng thời bước đến con mồi rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó ăn chắc, mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh hai chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra chụp lấy con mồi. Ngày nay, mèo sống với người qua nhiều thế hệ con cháu, cho nên thức ăn của loài mèo là cơm hoặc thức ăn có sẵn. Nhưng thức ăn ưa thích của loài mèo vẫn là món cá. Mèo thường tránh nơi ẩm ướt và ở rất sạch sẽ. Mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể nó không có vết bẩn nào cả | Thuyết Minh Về Con Mèo Có Sử Dụng Miêu Tả _ Biện Pháp Nghệ Thuật | 733 | |
Đề bài: Thuyết minh về con mèo
Bài làm
Trong chúng ta, chắc chẳng có ai không biết đến mèo, loài vật đáng yêu được nuôi rộng rãi trong gia đình. Nhưng các bạn có chắc là mình hiểu rõ về loài mèo chưa? Nếu chưa, mời các bạn cùng tôi đến trò chuyện với chị mèo Thông Thái đằng kia.
Sau khi chào tôi, chị mèo hào hứng kể rằng họ mèo nhà chị có nguồn gốc từ mèo rừng. Mèo bắt đầu được thuần hóa và nuôi ở Ai Cập sau đó lan nhanh sang châu Âu và các khu vực khác trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, mèo bắt đầu được nuôi từ khoảng hai nghìn năm trước đây.
Quả đúng như chị mèo Thông Thái nói, họ nhà chị ai ai cũng có vẻ ngoài nhanh nhẹn, tràn đầy sức sống. Đầu mèo tròn, nhỏ và ở phía trước hơi nhô ra, đó là mõm mèo. Trông mèo nhỏ bé thế nhưng hàm răng nó lại có tới ba mươi chiếc. Trong số này, ngoài bốn chiếc răng nanh sắc nhọn thì hầu hết đều nhỏ xíu. Kỳ lạ nhất là đôi mắt mèo, đôi mắt trong veo như hai hòn bi ve. Đồng tử mèo có khả năng co dãn cực tốt. Ban ngày, đồng tử thu nhỏ đến đêm mới dãn ra. Thế là mèo ta có thể nhìn rõ trong đêm tối. Thân hình nhỏ bé của mèo được nâng đỡ bởi bốn chân chắc khỏe. Vì nằm trong nhóm động vật bậc thấp nên mèo vẫn có một cái đuôi dài. Mỗi chân mèo đều có bốn ngón, dưới những ngón chân có vuốt cực sắc này là đệm thịt giúp mèo đi lại nhẹ nhàng.
Chắc chẳng có em bé nào mà lại không biết đến câu hát: “Meo meo meo, rửa mặt như mèo…” hay “mèo con ra bể nước, bàn chân nó vuốt vuốt, xoa mấy sợi râu cước…”. Hình ảnh chú mèo liếm láp lòng bàn chân trước bên phải của mình cho thật sạch rồi lấy chính chân đó cọ cọ vào mặt mình đã khắc sâu vào tâm trí trẻ thơ. Một tập tính nữa mà ai cũng biết ở mèo đấy là bắt chuột. Bọn chuột xấu xí chuyên đi ăn vụng mỗi khi nghe thấy tiếng “meo meo” của mèo là hồn vía chạy đi đâu hết cả, chỉ còn biết bạt mạng chạy. Cộng thêm với đôi râu và đôi tai nhạy như ra đa mà trời đã ban cho, mèo lại càng bắt được nhiều chuột.
Nghe chị mèo nói đến đây, tôi đã thấy khoái loài mèo lắm rồi, bèn giục: “Chị ơi, chị kể cho em nghe về sự sinh trưởng của mèo đi”. Chị mèo mỉm cười rồi tiếp: “Mèo con được một tháng tuổi đã được mẹ dạy cho những kỹ năng bắt chuột cơ bản như chạy, nhảy, rình mồi, vồ mồi. Trong thời kỳ này, mèo mẹ sẽ dẫn mèo con đi quanh nhà để chúng “tìm hiểu” mọi thứ. Lớn hơn một chút, khoảng từ bốn đến năm tháng tuổi là có thể tự săn mồi. Mèo từ mười đến mười hai tháng tuổi là có thể sinh sản được. Lúc này, mèo cái có bộ lông mới mượt hơn, dày hơn bình thường. Cơ thể mèo lúc này phát ra một mùi đặc biệt và có tiếng kêu khác thường để hấp dẫn các chàng mèo đực. Sau khi giao phối, mèo cái lại sống đơn độc như trước và tự nuôi con. Mỗi lứa, mèo mẹ đẻ khoảng hai đến sáu con. Mèo con mới đẻ mắt nhắm nghiền, khoảng một tuần sau mới mở mắt”.
Rồi chị đố chúng tôi kể được tên thật nhiều loài mèo. Hừm, để xem nào. Mèo mun lông đen tuyền từ đầu tới gót này. Mèo mướp với bộ lông xám tro, mèo vàng lông vàng óng nữa. Có lẽ giống mèo đông đúc nhất, được nuôi phổ biến nhất là mèo tam thể. Loài này lông có màu đen, vàng, trắng pha lẫn với nhau. Nghe chúng tôi kể, chị gật gù: “Họ nhà người cũng am hiểu về họ nhà mèo ghê”.
Chị còn kể cho chúng tôi về nỗi kinh hoàng của họ nhà chị. Xưa, người ta dùng ruột mèo để căng dây vợt tennis (Nói đến đây, mặt chị hơi nhăn lại). Và bây giờ người ta còn ăn thịt mèo nữa. Nghe đâu, Chính phủ đã cấm bán và ăn thịt mèo. Song mấy người bạn chị bảo ở dưới Thái Bình, số quán nhậu “tiểu hổ” vẫn ở mức hàng trăm. Và cứ mỗi ngày, lại có hơn một ngàn anh chị em cô bác mèo “ra đi” tại đây. Chị lắc đầu “Cứ đà này, chẳng mấy chốc, bọn chuột dưới đó lại nổi loạn cho xem”. Vì mèo là “khắc tinh” của chuột mà.
Các bạn có muốn góp tay ngăn chặn nạn chuột không? Hãy nuôi một chú mèo trong nhà nhé. Theo kinh nghiệm của chị mèo Thông Thái thì mèo con dưới hai tháng tuổi nên cho ở với mẹ. Khi lớn lên thì cho tập ăn cơm trộn cá, trộn thịt hoặc thậm chí cả rau nữa. Mèo là loại động vật có xuất xứ từ sa mạc nên rất ưa hơi ấm. Chính vì thế nên mèo rất hay trườn mình cọ vào chân người. Lúc đó, bạn hãy ôm mèo vào lòng, ủ ấm cho nó hoặc mang nó ra nắng sưởi ấm nhé! Thấy chưa, mèo ta đã lim dim đôi mắt và grừ grừ khoan khoái rồi kìa. Mèo cũng rất thích chơi với các em bé từ bốn tuổi trở lên. Đây là thời kỳ hình thành nhân cách của các em nên nếu trong gia đình nuôi một chú mèo thì trẻ nhỏ sẽ sớm biết yêu động vật. Thật đáng tiếc nếu bạn bị dị ứng với lông mèo vì khi đó bạn chỉ có thể ngắm nó từ xa chứ đừng nuôi mà cũng đừng âu yếm vuốt ve nó. À, các bạn nhớ đem mèo đi tiêm phòng mỗi năm một lần và thường xuyên tắm hoặc bắt rận cho mèo nhé. Để mèo luôn khỏe mạnh và sạch sẽ mà.
Ối, vì trời nắng ấm quá nên chị mèo Thông Thái đã ngủ quên mất rồi. Thôi, chúng ta sẽ để yên cho chị ấy ngủ nhé. Tôi chắc rằng lần sau chị ấy sẽ kể cho chúng ta rất nhiều chuyện thú vị về loài mèo đấy. Vì loài mèo là bạn tốt của con người mà! Tạm biệt! | Thuyết minh về con mèo | 1,108 | |
Đề bài: Thuyết minh về con ong
Bài làm
Ong có nọc độc, nhất là ong vò vẽ. Ong làm mật có mấy chục loài. Mật ong ngọt đậm và thơm. Sữa ong chúa ngào ngạt. Mật ong có tác dụng kháng khuẩn, chữa lành vết thương và được dùng để làm sạch cũng như chữa mùi hôi răng, miệng.
Sữa ong chúa để tăng lực, hồi sức. Nọc ong được dùng chữa viêm khớp, đau lưng, đau nửa đầu. Sáp ong dùng được nhiều việc.
Con ong là biểu tượng cho các đức tính như cần lao, tích luỹ, kiến tạo. Ở vùng U Minh Hạ có nhiều người sống bằng nghề nuôi ong, mỗi năm thu được hàng trăm lít mật ong rừng. Nghề nuôi ong đã có lâu đời, là một nguồn lợi lớn. Ong mật là kỹ sư nông học, người bạn tận tụy của nhà nông. | Thuyết minh về con ong | 147 | |
Đề bài: Thuyết minh về con rết và con rắn
Bài làm
Rết còn đựợc gọi là con rít. Sách cổ gọi là bách túc tràng (con trùng trăm chân). Tên y học của rết là ngô công.
Nọc rết rất độc có thể làm chết người. Bắt những con rết to, béo, rồi dập chết, đem phơi hoặc sấy khô, tán bột. Dược liệu ngô công rất quý, có tác dụng tiêu mụn nhọt, giảm đau, chữa lành vết rắn cắn, co giật và tiêu sưng độc. Rết tươi đem ngâm rượu để xoa bóp, để làm thuốc uống.
Có hàng trăm loài rắn độc: hổ mang chúa, hổ mang lửa, hổ mang gấm, cạp nong, cạp nia,… Bị rắn độc cắn, nếu không chữa trị kịp thời sẽ bị chết ngay. Có con rắn dộc dài 2-3 mét, nặng trên mười ký, không bé nhỏ đâu!
Thịt rắn có nhiều chất dinh dưỡng, có thể chế biến thành nhiều món ăn thơm ngon. Rắn ngâm rượu theo bộ (tam xà, ngũ xà) là vị thuốc quý.
Từ nọc rắn người ta chế tạo ra một số vị thuốc đặc trị như ngừa máu đông, trị đau tim, điều trị chứng parkinson, cao huyết áp, hen suyễn. Ngoài ra nọc rắn còn có khả năng ngăn ngừa sự phát triển của các tế bào ung thư. | Thuyết minh về con rết và con rắn | 221 | |
Thuyết minh về con sông Bạch Đằng
Hướng dẫn
Thuyết minh về con sông Bạch Đằng
Như chúng ta đã biết Bạch Đằng là con sông gắn với những chiến tích vẻ vang của nhân dân ta. Đó là chiến thẳng Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 và chiến thắng quân Nguyên Mông của nhà Trần. Bạch Đằng hiện ra trước mắt người đọc với vẻ đẹp của lịch sử và hiện lên trong thơ ca với tác phẩm Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu với muôn màu muôn vẻ
Như chúng ta thấy sông Bạch Đằng hiện ra với những vẻ vừa phóng túng lại vừa rất kì vĩ thơ mộng. chính vẻ đẹp ấy được quan sát bởi tâm hồn và đôi mắt vọng cảnh, sự tự hào về lịch sử ông cha. Qua đó một loạt địa danhđược gọi tên, nào là Nguyên Tương, Cửa Giang, Ngũ Hồ, Tam Bách… hiện lên rồi cuối cùng người khách ấy cũng đến với sông Bạch Đằng.
Sông Bạch Đằng nay thuộc tỉnh Quảng Ninh là con sông không chỉ hữu tình mà còn có công trong nhiều trận chiến thắng lịch sử. xuất hiện trong sự bao la của non nước đất trời muôn vàn sóng kình nổi lên thành từng lớp lớp một thật xa xăm mênh mông sóng nước dập dềnh.
Sông Bạch Đằng có những con thuyền đuôi trĩ một màu giống nhau như làm nên một bức tranh sông nước mang đến cho tâm hồn ta những cảm xúc yên bình thanh thản. người ta có thể thấy bên bờ những bông lau, những san sắt cạnh những bến lách đìu hiu.
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,
……
Sông chìm giáo gãy,
Gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm,
Đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu. ”
ve dep song bach dang cua truong han sieu hiện ra với những hình ảnh mang mang đến cảnh tượng thất bại của kẻ thù như:giáo gãy, gò đầy sương khô. Đó là những minh chứng về chiến công mà sông Bạch Đằng đem lại cho nhân dân Việt nam ta. Con sông ấy hiền hòa nhưng lắm lúc lại biến thành một con sông hung vĩ dang rộng lòng sông của mình để chôn vùi những con người độc ác và bảo vệ nhân dân ta.
Sông Bạch Đằng còn hiện ra với vẻ đẹp của thuyền tàu muôn đội, tinh kì phấp phới, nào người sáu quân, nào gươm sáng lóa.
“Thuyền tàu muôn đội,
Tinh kì phấp phới.
Hùng hổ sáu quân,
Giáo gươm sáng chói.
Trận đánh được thua chửa phân,
Chiến lũy bắc nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi. ”
Bạch Đằng chính là con sông là cầu nối là cái để mang tới chiến thắng tất yếu cho dân tộc Việt Nam một chiến thẳng quật cường và những con người cũng vô cùng gan dạ. Bây giờ người ta mỗi khi nhắc tới chiến thắng Sông Bạch đằng của Ngô Quyền thì không thể nào không nhớ tới những nét chấm phá những tính chất đặc trưng của con sông này được
“Sông Đằng một dải dài ghê,
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông.
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
“Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu thoát hiểm cốt mình đức cao. “
Bạch đằng như dòng sông chảy từ quá khứ về với hiện tại, mang những nét đẹp hiền hòa nhưng cũng mang tính chất của dòng sông lịch sử mà môi khi nhắc lại khí thế vẫn phừng phừng
Nguồn: Bài văn hay | Thuyết minh về con sông Bạch Đằng | 628 | |
Đề bài: Thuyết minh về con thỏ
Bài làm
Nếu tôi hỏi bạn về một câu: “Trong các loài vật nuôi trong gia đình, bạn yêu quý con vật nào nhất?” thì tôi chắc chắn rằng sẽ có rất nhiều câu trả lời. Nhưng riêng đối với tôi, tôi vẫn yêu quý chú thỏ trắng nhà mình với bộ lông mềm và trắng muốt.
Giống thỏ được nhập vào nước ta, cách đây khoảng một trăm năm, nên thỏ là loài vật gần gũi với mọi người dân Việt Nam. Thỏ có lớp lông mao dày để thích nghi với những điều kiện thời tiết khô hạn. Tai thỏ dài và có thể chuyển được hướng để nghe những âm thanh và tiếng động cảu kẻ thù. Ở thỏ cũng có một đặc điểm để thích nghi với môi trườn.g sống trên cạn rất nhiều bụi. Đó là mắt có mi mắt và tuyến lệ.
Hiện nay, tuy thỏ đã được nuôi dưỡng trong nhiều gia đình nhưng chúng vẫn mang nhiều tập tính của thỏ rừng – tổ tiên xa xưa của chúng. Một trong những tập tính của thỏ mang dấu ấn của tổ tiên chúng là tập tính đào hang. Ở hai đôi chi trước và sau của thỏ đều có vuốt giúp chúng bới đất. Đối với thỏ, hang có vị trí rất quan trọng, vì nó không chỉ là nơi sinh sống của thỏ, mà đó còn là nơi để chúng trốn tránh kẻ thù.
Vì thiếu những bộ phận tự vệ như nanh, vuốt sắc nên chúng thường đi kiếm ăn về buổi chiều hay banđêm để tránh bị kẻ thù săn đuổi. Chúng ăn cỏ, lá và một số loại thực vật. Do ăn bằng cách gặm nhấm nên răng cửa thỏ dài, cong, vát và sắc. Thỏ là loài dộng vật chịu được lạnh, dù thời tiết hanh khô hay giá lạnh chúng vẫn thích nghi được. Nhiệt độ của cơ thể luôn ổn định. Thỏ là loài động vật đẻ con. Mỗi lần đẻ từ một đến hai con. Chúng nuôi con bằng sữa của mình.
Thỏ “đi” không như chó, mèo mà chúng di chuyển bằng cách “nhảy cóc”. Hai chi sau dài hơn hai chi trước. Khi nhảy, hai chan sau đạp một cái là cất mình bay lên, khi hạ xuống thì hai chân trước đỡ như cái nhíp. Khi gặp nguy hiểm, ngoài cách lẩn trốn vào hang, thỏ còn bỏ chạy. Thỏ chạy rất nhanh, có thể lên tới tám mươi ki-lô-mét trong một giờ. Thỏ thường chạy theo những đường uốn khúc để đánh lừa kẻ săn đuổi và làm chúng mất đà.
Ngày nay, đã có ít nhất trên sáu mươi giống thỏ. Ở nước ngoài thỏ được nuôi trong các lồng sắt, nhưng ở Việt Nam phần lớn thỏ được thả ở ngoài vườn và cho tự đi kiếm ăn. Thỏ được nuôi để ăn thịt hoặc lấy lông. Ngoài ra thỏ còn được dùng trong cách phòng thí nghiệm. Vì thỏ có cấu tạo gần giống cơ thể người nên được dùng để thử những loại thuốc mới. Thịt thỏ thơm, được dùng để chế biến nhiều loại thức ăn. Ngoài ra, tai thỏ ngâm rượu còn là một loại thuốc quý. Lông thỏ được dùng may áo bông, làm khăn,… vừa đẹp lại vừa ấm.
Khi đẻ con, thỏ thường nhổ một ít lông ngực để lót ổ cho con. Thỏ đã trở thành một nhân vật nổi tiếng trong các câu chuyệ cổ tích và phim hoạt hình như em nào cũng biết bộ phim hoạt hình “Hãy đợi đấy” nói về một chú thỏ là một con sói. Thỏ con tuy nhỏ bé nhưng thông minh, nhanh nhẹn, luôn chiến thắng con sói già gian ác.
Thỏ đã trở thành một laòi vật nuôi kinh tế ở nước ta, và cũng còn được nuôi trong nhiều gia đình. Giữ gìn, bảo vệ loài thỏ là bảo vệ hệ đa dạng sinh thái môi trường. | Thuyết minh về con thỏ | 666 | |
Thuyết minh về con trâu (bài hay)
Hướng dẫn
Đề bài: Thuyết minh về con trâu làng quê Việt Nam
Hướng dẫn làm bài
Một số đoạn văn thuyết minh về con trâu có kết hợp với yếu tố miêu tả.
Đoạn 1: Con trâu trên đồng ruộng.
Đã bao đời nay, trâu là con vật không thể thiếu được của người nông dân Việt Nam. Trên đồng ruộng, trâu lực lưỡng khỏe mạnh kéo những đương cày thẳng tắp như kẻ chỉ. Lực kéo trung bình trên ruộng 70- 75 kg bằng 0,36 – 0.4 mã lực. Trâu loại A mỗi ngày cày 3 – 4 sào, loại B cày 2 – 3 sào và loại C cày 1,5 – 2 sào Bắc Bộ. Vì vậy con trâu có ý nghĩa rất lớn đối với công việc đồng áng của người nông dân, câu tục ngữ: Con trâu là đầu cơ nghiệp xuất phát từ thực tế đó. Mùa gặt, trầu cần cù siêng năng kéo những xe lúa vàng ươm nặng trĩu về chất đầy kho. Những lúc mùa vã, trâu trong thả đứng gặm cỏ trên những bờ ruộng, trên lưng trâu một vài chú cò trắng tinh nghịch sà xuống, đó là biểu tượng cho cảnh yên bình của làng quê.
Đoạn 2. Con trâu trong một số lễ hội.
Một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc mà lễ hội chọi trâu, thường được tổ thức vào đầu tháng tư hàng năm.
"Dù ai buôn bán trăm bề
Ngày ba tháng bốn thì về chọi trâu"
Trâu được chọn để chọi trường là trâu to độ 4 -5 tuổi vào lúc sung sức nhất, da bóng mượt, đuôi cong vút, thân mình mở nang, lực lưỡng và thường là đuôi ngắn thì sức mới khỏe. Khắp làng trên xóm dưới ai cũng chọn làng mình một con trâu to khỏe nhất, đẹp mã nhất để tham gia cuộc thi. Khi bắt đầu thi đấu hai con trâu nhìn nhau hằn học rồi sau đó chúng lao vào nhau như hai võ sĩ quyền anh. Xung quanh mọi người hò reo cổ vũ cho trâu của mình thật sôi nổi và hào hứng. Con trâu chiến thắng là con trâu húc ngã đối phương hoặc làm cho đối phương bỏ chạy. Cổ động viên bên chú trâu chiến thắng vui sướng la hét om sòm, không khí chọi trâu thật vui vẻ.
Câu 3. Con trâu với tuổi thơ.
Tuổi thở của trẻ em nông thôn hầu như đều gắn bó với con trâu. Hằng ngày vào lúc chiều tà buông xuống, những chú mục đồng vừa đưa trâu về làng vừa ngồi vắt vẻo trên lưng trâu thổi sáo. Cảnh bình yêu ấy đã làm tốn giấy mực của biết bao thi sĩ. Những trưa hè nắng gắt cả lũ chơi trò đánh trận giả trên lưng trâu. Giữa đầm làng tiếng hò reo, cười đùa vang động cả không gian. Những lúc rỗi rãi bày trò đua trâu, mỗi đứa chọn con trâu của mình rồi thúc lưng trâu xem con nào chạy nhanh nhất. Trâu vốn chậm chạp thế nhưng lúc tham gia cuộc đua xem ra cũng hăng lắm. Thích nhất là những buổi chiều đông kiếm được củ khoai cả bọn thả trâu chụm lại với nhau nướng khoai ăn. Có gì vui hơn thế?
Tham khảo bài làm của bạn Nguyễn Chí Thiện lớp 9A trường THCS Trà Vinh
Bao đời nay, hình ảnh con trâu lầm lũi kéo cày trên đồng ruộng là hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi đối với người nông dân Việt Nam. Vì thế, đôi khi con trâu đã trở thành người bạn tâm tình của người nông dân:
“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cất cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công…”
Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Trâu rừng là tổ tiên của các loài trâu nhà, sinh ở vùng Đông Nam Á nhiệt đới gió mùa thấp ẩm, hiện còn tồn tại ở miền Trung nước ta. Khoảng 5- 6 ngàn năm trước, trâu đã thuần hóa cùng với sự ra đời nền văn minh lúa nước. Người Việt cổ đã biết săn bắt trâu, thần hóa chúng để giúp con người trong việc cày cấy.
Đố các bạn đây là trâu đực hay trâu cái @@
Trâu là động vật thuộc lớp thú, màu da thường là màu đen với lớp lông mao bao phủ toàn thân. Da trâu rất dày, có lông tơ như chiếc áo choàng. Thấp thoáng trong bộ áo đẹp đẽ là một làn da căng bóng mỡ. Trâu có một cái đuôi dài, thường xuyên phe phẩy như cái quạt của con người để đuổi ruồi và muỗi. Hai tai dài cũng trợ giúp cho cái đuôi rất nhiều. Tai trâu khá thính, nó giúp trâu nghe ngóng được những tiếng động xung quanh. Người nông dân có thể nhận biết sự lành, dữ ở loài trâu một phần nhờ đôi sừng trên đầu. Trâu có đôi sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm, giúp trâu làm dáng và tự vệ chống lại kẻ thù. Trâu có một đặc điểm rất nổi bật là không có hàm răng trên, có thể vì vậy mà trâu phải nhai lại thức ăn. Không như các động vật khác, trâu có một kiểu ngủ rất đặc biệt.Hai chân trước của trâu gập vào trong, đầu ghé lên đó để ngủ.
Trâu mỗi năm chỉ đẻ từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con. Trâu nuôi con bằng sữa tiết ra từ tuyến vũ. Trâu con gọi là nghé, nghé sơ sinh nặng khoảng 22-25kg. Khi mới sinh ra khoảng vài giờ đến một ngày, nghé có thể đứng thẳng, vài hôm sau có thể mở mắt, đi lại theo mẹ.Nghé lớn rất nhanh, nghé chưa có sừng, lớn lên sừng mới nhú dần ra nhưng các bộ phận bên ngoài chắc khác gì mẹ trâu.
Trâu là một động vật rất có ích, là người bạn của nông dân,”Con trâu đi trước, cái cày đi sau”. Ngày xưa không có máy cày, trâu phải làm việc nặng nhọc, Trên con đường làng sáng tinh mơ hay giữa trưa hè nắng lửa, trâu vẫn cần cù nhẫn nại, mải miết làm việc cùng với người nông dân làm ra hạt lúa, hạt gạo. Trâu không chỉ kéo cày giúp con người trồng lúa, trồng hoa màu, mà còn là gia sản của người nông dân.Chẳng phải các cụ ta đã nói: “Con trâu là đầu cơ nghiệp” đó sao? Thật vậy, trâu có tầm quan trọng không nhỏ trong đời sống người nông dân. Điều đó cũng đã đi vào văn học dân gian với những câu ca dao quen thuộc:
“Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay”.
Đến mỗi làng quê Việt, bạn cũng có thể được thưởng thức món thịt trâu xào sả ớt hay nấu với lá lốt, lá trưng. Thịt trâu có thể chế biến được rất nhiều món ăn ngon, hấp dẫn. Đặc sản đấy! Trâu cũng có thể cung cấp sữa cho con người. Mỗi con trâu có thể cho 400 – 500 lít sữa trong một chu kì vắt. Da trâu tuy không tham gia vào việc làm ra những sản phẩm độc đáo như giày dép, túi xách như một số loài da khác vì đặc điểm da trâu cứng nhưng có thể làm mặt trống. Những chiếc trống gắn bó thân thiết với học sinh, với nhà trường và các lễ hội. Sừng trâu cũng có thể làm tù và, đồ thủ công mĩ nghệ. Phân trâu là phân bón rất tốt cho cây trồng.
Không chỉ gắn bó với người nông dân, trâu còn góp phần tạo nên những kỉ niệm đẹp tuổi thơ ở khắp mọi vùng quê đất Việt. Trâu là người bạn thân thiết với trẻ em nông thôn một buổi đi học, một buổi đi chăn trâu. Nhà thơ Giang Nam trong bài “Quê hương” đã là người trong cuộc để nói với lũ trẻ chăn trâu:
"Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường,
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ.
Ai bảo chăn trâu là khổ
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.”
Trong lúc các chú trâu thong thả gặm cỏ hay đầm mình trong dòng mương mát rượi, thì lũ trẻ bày trò chơi trận giả. Cũng có lúc ta gặp cảnh thật yên bình, yên ả: các cậu bé, cô bé chăn trâu nằm nghỉ ngơi trên lưng trâu ngắm cảnh diều sáo vi vu trên bầu trời. Hình ảnh tuyệt vời của trẻ thơ chăn trâu được các nghệ nhân đưa vào tranh Đông Hồ.Nhìn tranh, ta lại nhớ câu thơ của nhà vua Trần Nhân Tông trong “Thiên trường vãn vọng”: “Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết”. Và cũng có thể, trên cánh đồng lúa, ta còn bắt gặp những em bé nông thôn vừa chăn trâu, vừa học bài.Thời thơ ấu ở làng quê thật đẹp biết bao!
Ngày nay, khi nông thôn đổi mới, máy móc nhiều cũng là lúc trâu được nghỉ ngơi. Còn nhớ những ngày người nông dân phải kéo cày thay trâu thì mới thấy cái giá trị khi có trâu. Trâu đã là biểu tượng của SEA Games 22 Đông Nam Á tổ chức tại Việt Nam. Biểu tượng “trâu vàng” mặc quần áo cầu thủ đón các vận động viên là sự tôn vinh trâu Việt Nam, tôn vinh người nông dân lao động.Trâu còn là một vật linh thiêng vì nó là một trong mười hai con giáp.Cứ mỗi năm vào mùa hè ở Đồ Sơn lại tổ chức hội chọi trâu để tìm con trâu khỏe nhất. Và trong chúng ta rất ít người biết về sự tích sông Kim Ngưu…
Biết bao thế kỉ đã trôi qua, có lẽ từ khi nền văn minh lúa nước của người Việt khởi nguồn thì loài trâu cũng đã trở thành báu vật của người nông dân. Trên nền bức tranh thiên nhiên của làng quê Việt, bên những cánh đồng xanh tốt, thẳng cánh cò bay, dưới lũy tre làng luôn có hình ảnh quen thuộc của con trâu hiện diện. Chúng ta chăm sóc và bảo vệ trâu chính là ta đã giữ gìn một biểu tượng văn hóa truyền thống của người Việt.
Các tìm kiếm liên quan đến Thuyết minh về con trâu, thuyết minh về con trâu ở làng quê việt nam, dàn ý thuyết minh về con trâu, thuyết minh về cây lúa, thuyết minh về cây chuối, thuyết minh về con trâu có biện pháp nghệ thuật, thuyết minh về con trâu có sử dụng miêu tả, dàn bài thuyết minh về con trâu, thuyết minh về con trâu lớp 9. | Thuyết minh về con trâu (bài hay) | 1,811 | |
Đề bài: Thuyết minh về con trâu của làng quê Việt Nam
Bài làm
Nếu bạn được sinh ra ở thành phố, thì chắc hẳn bạn sẽ còn rất lạ lẫm với hình ảnh con trâu ngoài đời thực, chứ không phải là qua sách báo, hay ti vi. Nhưng đối với mỗi đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở quê như chúng tôi, thì hình ảnh những chú trâu cần mẫn cày ruộng, hay dìm mình xuống những dòng sông mát thì lại quá đỗi gần gũi, thân thuộc. Bởi vậy mà từ trước tới nay, hình ảnh con trâu luôn là biểu tượng của người dân Việt Nam.
Ấy thế mà, kỳ Seagame lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam thì linh vật mà nước ta lựa chọn chính là hình ảnh con trâu vàng. Trâu luôn là biểu tượng của sự hiền lành, chăm chỉ, cần mẫn và là người bạn của những người nông dân. Đối với mỗi người nông dân, nếu nhà ai có trâu thì đó chính là tài sản quý giá nhất. Nếu bạn đã từng một lần đi về quê chơi, chắc hẳn bạn sẽ rất thích thú với hình ảnh những chú trâu kéo cày, xới từng thửa đất để cho sau khi đất hà hơi, sẽ có thể tiếp tục trồng trọt. Bởi vậy mà ông cha ta mới có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp” cũng là như vậy.
Không phải ngay từ thuở đầu, trâu đã trở thành bạn với con người, mà trâu trước kia là trâu rừng và được con người thần hóa và trở thành loài trâu như bây giờ. Trâu Việt Nam thường có một bộ lông đen óng, với một thân hình vạm vỡ, chiếc sừng sắc nhọn và hướng về phía sau. Nhưng bạn hãy thận cẩn vì nếu chiến đấu, thì chiếc sừng tưởng chừng vô hại ấy sẽ trở thành một vũ khí lợi hại nhất. Nhưng đó chỉ là những chú trâu tham gia chọi thôi nhé. Trâu là loài động vật thuộc lớp có vú. Trâu nuôi chủ yếu để kéo cày, trâu đực trung bình cày bừa từ 3~4 sào còn trâu cái có thể cày bừa từ 2 đến 3 sào, không những vậy trâu còn được coi là một tài sản quý của của nhà nông.
Hình ảnh những chú trâu đang thong dong gặm cỏ, những em bé ngồi vắt vẻo trên lung trâu với nhưng chiếc diều sáo trong tay đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực của những nhà văn, nhà thơ. Trâu vẫn luôn là một người bạn thân thiết của mỗi người dân Việt Nam, ấy thế mà còn những câu ca dao đi mãi với thời gian:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Trâu không chỉ được biết đến với công việc kéo cày mà đã từ lâu, mảnh đất Hải Phòng đã nổi tiếng với lễ hội chọi trâu:
“Nào ai đi ngược về xuôi, mùng chín tháng tám chọi trâu thì về”
Một trong những di sản văn hoá của Hải Phòng thì không thể bào có thể thiếu được lễ hội chọi trâu Đồ Sơn – một lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Đây là một nét sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống phản ánh cuộc sống vật chất và tâm linh của một cộng đồng trong quá khứ. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được khôi phục lại hơn 10 năm nay và được Nhà nước xác định là 1 trong 15 lễ hội quốc gia, bởi lễ hội này không chỉ có giá trị văn hoá, tín ngưỡng, độc đáo mà còn là điểm du lịch hấp dẫn với mọi người. Mỗi “ông trâu” trên xới đấu thắng-thua sẽ chứng tỏ tài năng của các ông chủ trâu, của phường xã mình. cả một vùng văn hoá ven biển mà Đồ Sơn là trung tâm. Đây là một lễ hội độc đáo của người dân Đồ Sơn, nó gắn liền việc thờ cúng thuỷ thần với nghi lễ chọi và hiến sinh trâu, có cả sự giao thoa giữa những yếu tố văn hoá nông nghiệp đồng bằng với văn hoá cư dân ven biển. | Thuyết minh về con trâu của làng quê Việt Nam | 711 | |
Đề bài: Thuyết Minh Về Con Trâu Ngắn Gọn
Bài làm
Nhắc đến con trâu chúng ta nghĩ ngay đến con vật to khỏe nhưng hiền lành chăm chỉ. Trên những cánh đồng chúng ta bắt gặp hình ảnh con trâu cần mẫn kéo cày. Có thể nói con trâu gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam. Con trâu – là động vật nhai lai thuộc họ bò, phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn, lớp thú có vú- loài động vật này chủ yếu vào việc cày kéo.
Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần chủng, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Lông màu xám hoặc xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp ngắn bụng to, mông đốc, bầu vú nhơ, sừng có hình lưỡi liềm. Ngày xưa, người ta phân biệt trâu lành hay trâu dữ là một phần nhờ vào đôi sừng trên chỏm đầu: sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm cùng cặp mắt to dữ thì phải coi chừng và có biện pháp thuần phục. Nếu trâu cái trung bình từ 350-400 cân, có tầm vóc từ vừa đến to, linh hoạt và hiền lành thì trâu đực nặng từ 400-450 cân có tầm vóc lớn, cân đối, dài đòn trước cao sau thấp, tính khí hăng hái nhưng hiền lành.
Không chỉ có thế con trâu còn có một vị trí to lớn trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau đã trở thành hình ảnh gần gũi bao đời nay. Chính vì vậy nó là một phần không thể thiếu của người nông dân. Hình ảnh con trâu ung dung gặm cỏ non, xanh mát và trên trời là những cánh diều bay cao giữa không trung đã in sâu trong tâm trí người Việt Nam. Chăn trâu thả diều là một trong những trò chơi của trẻ em nông thôn, một thú vui đầy lý thú. Trên lưng trâu còn có bao nhiu là trò như đọc sách, thổi sáo… Những đứa trẻ đó lớn dần lên, mỗi người mỗi khác nhưng sẽ không bao giờ quên được những ngày thơ ấu:
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta,
Cái cày nối nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Ngoài ra trâu con gắn liền với những lễ hội truyền thống như chọi trâu đâm trâu. Lễ hội chọi trâu ở Hải Phòng là nổi tiếng nhất. Hải Phòng là vùng đất có truyền thống văn hoá với nhiều di tích lịch sử và danh thắng mang đặc trưng của miền biển. Trong những di sản văn hoá ấy, nổi bật là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn – một lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Lễ hội nói chung là một sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống phản ánh cuộc sống vật chất và tâm linh của một cộng đồng trong quá khứ. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được khôi phục lại hơn mười năm nay và được Nhà nước xác định là một trong 15 lễ hội quốc gia, bởi lễ hội này không chỉ có giá trị văn hoá, tín ngưỡng, độc đáo mà còn là điểm du lịch hấp dẫn với mọi người.
Con trâu cũng có mặt trong lễ hội đình đám Việt Nam như tục chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), tục đâm trâu ở Tây Nguyên, nhưng từ lâu lắm rồi người Đồ Sơn đã lưu truyền câu ca dao cổ:
“Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu”
Cũng có nhiều ý kiến về nguồn gốc ra đời của lễ hội chọi trâu đưa ra những căn cứ giải thích khác nhau, nhưng ở Đồ Sơn vẫn có câu thành ngữ “Trống mọi làng cùng đánh, thánh mọi làng cùng thờ” để lập luận Hội chọi trâu ra đời cùng với việc trở thành hoàng làng. Không những thế để nói lên sự sung túc, thành công của nhà nông có câu: “Ruộng sâu, trâu nái”.
Tìm hiểu nguồn gốc ấy để thấy rằng lễ hội chọi trâu có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống người Đồ Sơn từ xưa tới nay. Ngoài nhu cầu vui chơi, tìm hiểu, qua lễ hội người ta tưởng nhớ đến công ơn của các vị thần, duy trì kỉ cương làng xã, để cầu nguyện cho “nhân khang, vật thịnh”.Chọi trâu không chỉ đơn thuần “hai con trâu chọi” mà nó đã trở thành tục lệ, tín ngưỡng độc đáo ở vùng biển Đồ Sơn.
Người dân đặt vào lễ hội niềm tin và hi vọng bởi những cặp trâu chọi sẽ quyết định thắng thua, thành bại cho phe giáp ngày trước, phường xã ngày nay. Người Đồ Sơn gắn lễ hội chọi trâu với việc thờ cúng thành hoàng làng với mong muốn những chuyến đi biển thuận buồm xuôi gió, cho nên ngày Hội càng trở nên thiêng liêng, trang trọng. Vào Hội, mọi người được dịp hoà mình vào cộng đồng để tình cảm kết nối bền chặt, gắn bó hơn. Vì thế mà tinh thần đoàn kết, ý thực cộng đồng cũng được duy trì, khẳng định.
Con vật thiêng này cũng là con vật đã in đậm vào kí ức tuổi thơ khi nhớ về làng quê. Nhà thơ Giang Nam đã ghi nhận kí ức tuổi thơ khi nhớ về quê hương:
“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ
Ai bảo chăn trâu là khổ
Tôi mơ màng như chim hót trên cao.”
Ngày nay, có rất nhiều máy móc hiện đại đã xuất hiện khắp nơi trên cánh đồng làng quê Việt Nam nhưng con trâu vẫn là con vật gắn bó thân thiết với người nông dân. Trâu luôn là con vật không thể thiếu ở làng quê Việt Nam – con vật linh thiêng trong sâu thẳm tâm hồn người dân Việt Nam. Con vật thiêng ấy sẽ mãi mãi in đậm trang kí ức của người dân Việt, nhất là những người xa xứ.
Từ khóa từ Google:
thuyet minh trau vn ngan gon | Thuyết Minh Về Con Trâu Ngắn Gọn | 1,036 | |
Đề bài: Thuyết Minh Về Con Trâu Việt Nam
Bài làm
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cái cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đó ai mà quản công.
Từ xưa đến nay, dòng họ nhà tôi đã gắn bó cực kì thân thiết với con người. Đặc biệt khi nói tới làm nông là phải nhắc tới họ nhà Trâu chúng tôi – những đối tượng gián tiếp làm ra những hạt gạo trắng ngần.
Trước kia, dòng họ nhà tôi vốn là trâu rừng, do được con người thuần hóa nên mới ở nhà phụ họ cày bừa. Chúng tôi thuộc nhóm trâu đầm lầy, đặc biệt thích những vùng bùn lầy và có thể ngâm mình hàng giờ dưới những vũng bùn mát mẻ. Điểm khác biệt của chúng tôi với loài trâu cạn là có bộ lông ngắn, thưa và màu đen với lớp da dày. Đặc biệt là cặp sừng to rộng ở trán như hai thanh gươm sắc bén, giúp chúng tôi tự vệ và giao đấu trong những cuộc cạnh tranh, nó như là sự oai phong đầy hiên ngang. Ngoài ra, chúng tôi có thân hình chắc khỏe, vạm vỡ có điều hơi thấp hơn so với mấy anh bò. Bụng chúng tôi rất lớn, luôn phình to, có thể chứa được vài chục kilogam cỏ mỗi ngày. Mông căng tròn cộng thêm chiếc đuôi dài, phe phẩy như chiếc chổi giúp xua đuổi lũ ruồi, muỗi đáng ghét. Do không có hàm trên nên việc nhai cỏ của chúng tôi đôi lúc gặp khó khăn, thường thì nhai thức ăn sơ sơ sau đó nuốt xuống bụng, vào lúc rảnh rỗi chúng tôi lại nằm quây quần bên bóng râm, chậm rãi nhai lại số cỏ đó. Nhờ vậy mà chúng tôi có thể hấp thụ toàn bộ chất dinh dưỡng có trong cỏ tươi.
Vào buổi sáng, chúng tôi sẽ vác lên vai một cái cày, rồi theo sự hướng dẫn của các bác nông dân mà cày ruộng. Lực kéo của chúng tôi khá cao, trung bình nằm khoảng 0,36 – 0,4 mã lực, chúng tôi rất khỏe nên mới có thể vác nổi cái cày nặng trịch như thế mà cày hết thuở ruộng này đến thuở ruộng khác, mỗi ngày có thể cày từ 3-4 xào ruộng.
Chúng tôi rất tự hào mà nói rằng, chúng tôi rất chăm chỉ, dù đồng ruộng có khó cày đến đâu, thì dòng họ tôi cũng cần mẫn làm cùng với người nông dân, mà góp phần tạo ra lúa gạo trắng thơm, chỉ mong rằng chúng tôi sẽ được mọi người yêu quý. Ngoài việc làm ruộng ra, thì chúng tôi cũng có thể kéo xe, chở hàng,…Và có một bài đồng giao để giới thiệu các đặc điểm của họ nhà trâu chúng tôi như thế này:
Ăn cỏ đồng bằng, uốn nước hồ ao
Còn sống mày ở với tao
Khi chết tao cầm dao xẻ thịt mày
Thịt mày nấu cháo lênh bênh
Da mày làm trống tụng kinh trong chùa
Sừng tao lấy tiện con cờ
Cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa”.
Có thể nói chúng tôi rất có ích ho con người. Đối với các em nhỏ, thì chúng tôi là một phần không thể thiếu trong kí ức tuổi thơ của họ. Để phụ gia đình thì chiều chiều các em thường đi chăn trâu. Các em dẫn bọn tôi đến một cánh đồng cỏ bát ngát, chúng tôi thỏa sức mà nhai gặm cả chiều. Có khi, tôi thấy các em chơi thả diều, nằm thong dong bên bóng cây, cứ mải miết nhai rồi nhìn những cánh diều bay cao vút trông thật thích thú. Thật là một bức tranh đồng quê thanh bình. Nhưng đôi khi cũng không thiếu sự sôi động, các em bẻ lá mà chơi đánh trận giả – thật dễ thương, và chúng tôi – từ những người được chăn đã trở thành những người bảo mẫu, đứng ở đó mà ngắm nhìn các em. Và rồi sau những giờ sôi động đso thì các em lại nằm lên lưng bọn tôi đi về.
Mặt khác, chúng tôi còn góp phần tô đậm nền văn hóa Việt Nam thông qua các lễ hội như: troi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng, hay lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên,… Ngoài ra, vào Sea Game 22 – 2003, chúng tôi – chú trâu đã được vinh dự chọn làm biểu tượng của giải đấu này. | Thuyết Minh Về Con Trâu Việt Nam | 753 | |
Thuyết minh về con vật nuôi trong gia đình mà em yêu thích
Hướng dẫn
Thuyết minh về con vật nuôi trong gia đình mà em yêu thích
Ủa sao con chó Becgie?
Nhà mình nuôi nấng khác gê dạo này.
Xa xa lấp ló sau cây
Hình như có kẻ đứng đây làm gì?
Hay là hắn định lấy gì?
Yên tâm Becgie ta sẽ xử ngay vụ này
“Gâu…” chắc các bạn biết tôi là ai rồi phải không? Từ mỗi chiều đi học về cô chủ nhỏ của tôi lại đọc bài thơ cô làm cho tôi nghe. Thật hạnh phúc? Cũng bởi ngoại hình vạm vỡ của tôi! Nào, bây giờ tôi sẽ nói về tôi cho các bạn nghe nhé!
Đã từ rất lâu, tổ tiên của chúng tôi là loại chó sói, cáo….Qua một quá trình thật dài, cho đến nay đã có rất nhiều loài khác nhau: chó nhà, chó cảnh, chó săn, chó nghiệp vụ….Với Becgie tôi, các bạn biết rồi đấy, với bản chất, tính cách dũng mãnh, cứng rắn, thích nghi cao, trung thành, không thể mua chuộc thì tôi được đi cùng với các chiến sĩ công an, quân đội để bảo vệ và chiến đấu. Đối với tôi, dù là một bước chân, một luồng ánh sáng xuyên qua khe cữa….cũng không thể nào qua mắt được. Tôi là loài có tính cảnh giác “max level” luôn. Cơ thể trưởng thành của tôi nặng 41 kg và chiều cao đến bả vai là 65cm. Tôi được phủ trên mình một bộ lông vàng lửa pha đen không thấm nước. Mỗi lần được tắm xong tôi chỉ cần rũ mạnh một phát là lông khô ngay. Nếu bạn được nhìn thấy tôi lúc đó mới thấy được sức mạnh hoang dại, sự thông minh và tính cách linh hoạt mà ít loài chó nào sánh kịp. Không thể không nói đến đôi tai dựng thẳng đứng và vểnh ra đằng trước cùng chiếc mũi thính có thể đánh hơi, phân biệt được hơn 200 triệu mùi- nhờ thế chúng tôi mới có thể phát hiện được chất nổ và ma túy cho các lực lượng điều tra chuyên nghiệp. Với đôi mắt linh hoạt, hình hạt nhân, hơi nghiêng, màu lông vàng quanh mắt hơi sậm màu. Qua đó, thể hiện được sự tự tin, năng động và vựng vàng của tôi. Đầu có chiều rộng tương xứng với chiều dài của thân, mõm chắc khỏe, lưỡi khô và tốt. Ngoài ra còn có bộ răng sắc bén, đủ 42 chiếc, hàm trên 22 chiếc, hàm dưới 20 chiếc. Bởi vậy, con mồi nào mà vào tầm ngắm của tôi thì nhừ xương ra nhé! Và bao tử tôi sẽ ôm trọn miếng mồi đó. Gru….gru…chắc tôi lại them đồ ăn rồi. Nhưng bạn cũng phải cẩn thận với tôi đó! Mỗi khi tức giận và bị kích thích thì cổ tôi lại ngẩng cao hơn so với bình thường, nhưng ngược lại khi chạy dạo sẽ thấp hơn một chút. Khi còn bé, tôi đã được huấn luyện đầy đủ vì nếu không vận động thường xuyên thì tôi sẽ trở nên ũ rủ, kém năng động và hỏng mất thế đứng bằng hai chân sau. Nhờ thế nên giờ thể lực, cơ bắp, bụng và cơ ngực của tôi vô cùng săn chắc với chiếc đuôi cong cong. Cơ thể tôi được nâng đỡ bởi tứ chi chắc chắn, bắp đùi rộng, cứng cùng bờ mông cong nhưng đầy uy lực. Tôi có thể chạy 80-90km/h vận tốc không hề tệ đúng không nào? Nghe thì có chút đáng sợ nhưng đôi lúc Becgie tôi cũng vô cùng đáng yêu đó nhé. Haha…haha….
Mỗi lần thấy cô chủ, bố và mẹ cô ấy đi đâu về là tôi lại nguẩy đuôi lịa lịa, dung hai chi trước đạt lên tay họ, chồm và chạy quân chân họ. Tôi yêu họ rất nhiều, và cảm thấy vui sướng khi thấy họ về nhà, ngày nào mà tôi không chạy ra thì họ lại la om sòm lên cho mà coi. Ngày nào tôi cũng được ăn ba bữa no nê, được cô chủ dắt đi dạo, được bố cô chở đi tiêm phòng dại, kiểm tra cân nặng…rất nhiều thứ. A! nhiêu khi có bọn trộm vào vườn hái xoài, tôi chỉ cần sửa lên vài tiếng là chạy mất dép. Những lúc như thế tôi thường được dành tặng một chén sữa thơm ngậy. Họ yêu thương tôi như người thân của họ vậy. Vì thế, nếu ai mà có ý định đụng vào họ tôi sẽ xử lý ngay và luôn.
Tôi rất vui khi nhận được tình cảm từ loài người. Đôi khi, tôi quấy phá họ lấy roi quất tôi nhưng tôi biết đó chỉ là cảm xúc nhất thời. Sau đó, họ lại vuốt ve, xoa đầu, cưng nựng tôi như muốn xin lỗi vậy. Tôi mong các loài động vật nói chung và loài chó nói riêng cũng đều được đối xử tốt như tôi bây giờ. Những người hay bắt giết động vật cũng sẽ dần hiểu ra động vật chúng tôi cũng có những suy nghĩ riêng, tình cảm riêng. Vì vậy, hãy bảo vệ và yêu thương chúng tôi. | Thuyết minh về con vật nuôi trong gia đình mà em yêu thích | 878 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn thuyết minh về một loài động vật có ích đối với con người. (Ví dụ: con vịt).
Bài làm
Vịt là loài gia cầm được người nông dân chăn nuôi từ lâu đời bởi nó mang lại rất nhiều lợi ích. Hình ảnh từng đàn vịt khoảng vài chục con thong dong bơi lội trên mặt ao, mặt đầm hay hàng ngàn con sục sạo kiếm mồi, kêu ồn ã cả một quãng đồng là hình ảnh quen thuộc ở làng quê.
Các giống vịt chủ yếu của nước ta gồm vịt đàn hay còn gọi là vịt tàu, vịt cỏ. Loại này thân nhỏ, đầu và mỏ thanh tú, lông có nhiều màu: đen, nâu, xám, xanh đen pha trắng… trọng lượng chỉ độ 1 kg đến 1,5 kg. Vịt đàn thường được nuôi thành từng đàn lớn, hàng trăm hay hàng ngàn con. Chúng có sức chịu đựng kham khổ và ít mắc bệnh, kiếm mồi rất giỏi trên đồng ruộng. Vịt đàn đẻ nhiều, trứng nhỏ nhưng ngon. Thịt vịt đàn được nhiều người ưa thích vì có vị ngọt đậm và thơm. Nông dân ở các vùng đồng bằng miền Bắc, miền Nam thường nuôi vịt đàn theo lối chăn thả tự nhiên từ trước đến nay.
Bên cạnh giống vịt đàn còn có giống vịt bầu. Vịt bầu lớn con hơn vịt đàn, cổ ngắn, chân thấp, lông nhiều màu, dáng đi lạch bạch. Thịt vịt bầu cũng mềm và ngọt nhưng nhiều mỡ hơn vịt đàn. Các gia đình nuôi vịt bầu vừa phục vụ cho nhu cầu sử dụng ngày giỗ, ngày Tết, vừa bán để tạo nguồn thu nhập quanh năm. Đồng bào miền Nam trước đây nuôi rất nhiều giống vịt cổ lùn, có những đặc điểm tương tự như vịt bầu ngoài Bắc, để tận dụng nguồn thức ăn phong phú từ kênh rạch và đồng ruộng.
Hiện nay, các trại chăn nuôi quốc doanh và tư nhân đầu tư khá lớn về mặt vật chất để nuôi giống vịt nhập từ nước ngoài vào, gọi là vịt siêu thịt. Vịt siêu thịt được nuôi theo kiểu công nghiệp trong chuồng trại, ăn cám hỗn hợp, được theo dõi và tiêm chủng thường xuyên. Trọng lượng của giống vịt này khá lớn, sau 3 tháng có thể đạt tới trên 3 kg một con. Đặc điểm vượt trội của nó là chất lượng thịt đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu, chế biến thành nhiều món ăn cao cấp.
Để việc chăn nuôi vịt ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả cao, người nông dân phải nắm vững kĩ thuật chăm sóc, từ khâu chọn giống đến chế độ dinh dưỡng, chuồng trại, vệ sinh phòng bệnh… Vịt là loài thủy cầm ăn tạp. Thức ăn của chúng gồm nhiều loại. Loại cung cấp prô-tê-in có thóc, ngô, khoai, sắn, cám… Loại cung cấp chất khoáng có bột vỏ sò, bột xương… Thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giúp cho vịt khỏe mạnh, tăng trưởng nhanh, đẻ nhiều và chất lượng thịt cao.
Trong giai đoạn hiện nay, ngành chăn nuôi trong đó có chăn nuôi vịt đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế chung của cả nước. Vịt là loài gia cầm đem lại nhiều lợi ích cho đời sống của con người, là nguồn thu nhập thường xuyên của nông dân. | Thuyết minh về con vịt nhà em | 570 | |
Thuyết minh về con ếch
Hướng dẫn
Thuyết minh về con ếch
Chắc hẳn những ai đã có thời gian sống ở vùng nông thôn thì không thể không biết những cánh đồng, những con diều hay cả những con vật mà chỉ có những người thực sự gắn bó mới biết tới. Một trong những con vật gắn liền với tuổi thơ mỗi chúng ta đó chính là chú ếch.
Loài động vật này tuy không hề xa lạ đối với chúng ta những lại nhiều người chưa thực sự thấy chúng ở ngoài đời thực. Đặc biệt là những em bé sống ở vùng thành phố. Ếch nói chung là loài động vật thiên địch của của ruồi, muỗi đặc biệt là côn trùng phá hoại mùa màng..
Ếch được biết tới là một loài động vật không đuôi thuộc nhóm động vật lưỡng cư thường có thân ngắn cũng là một trong những nhóm động vật có sương sống. Có rất nhiều nguyên nhân cho nên ngày nay số lượng ếch không còn nhiều như trước nữa cho nên cần phải rat ay nhằm bảo vệ sự đa dạng phong phú của loài động vật này
Khi người ta nhắc tới ếch nhiều người sẽ nhầm với một loài vật cùng họ hàng với nó chính là cóc, tuy nhiên ếch để dùng cho những con da trơn, có chất nhờn còn cóc dùng để gọi những con có da khô và sần. Xét về hình dáng bề ngoài của ếch thì gồm có 9 đốt tiền xương cùng hay ít hơn, xương chậu dài và nghiêng về phía trước, sự có mặt của xương cụt, không đuôi,, xương quay và xương trụ hợp nhất,xương mắt cá nhân thuôn dài, thiếu xương trán, có xương móng, hàm dưới thiếu răng. Ếch khá là đặc biệt chúng hô hấp thông qua da, cho nê một khi da ếch ẩm ướt thì chúng mới có thể sinh sống và phát triển được.
Loài ếch nói chung trải qua các gia đoạn từ trứng ếch, sau đó nở ra những con màu đen, có đuôi bơi dưới nước được gọi là nòng nọc và có đầu dạng con ếch trưởng thành. Những con nòng nọc ấy to dần lên và rụng đi phần đuôi hình thành nên tứ chi và mắt mũi đó chính là những con ếch nhỏ. Chúng nhảy lên bờ và bắt đầu kiếm ăn lớn lên và trở thành những con ếch trưởng thành giống như chúng ta vẫn thường thấy.
Ếch không những là một trong những thiên địch và động vật có ích cho nhà nông mà chúng ta cần bảo vệ mà loài ếch còn tạo nên những món ăn thơm ngon bổ dưỡng và là đặc sản nổi tiếng nữa.
Bên cạnh đó những câu chuyện liên quan tới loài ếch cũng được nhắc và viết nhiều trong sách vở mang tính giáo dục cao.
Ếch là một trong những loài vật thân quen đối với chúng ta với người nông thôn với người dân. Ếch ngày càng trở thành một loài vật gần gũi và chúng ta nên góp phần bảo vệ sự đa dạng của loài động vật này.
Nguồn: Bài văn hay | Thuyết minh về con ếch | 532 | |
Đề bài: Thuyết minh về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Trãi
Bài làm
Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Đán.
Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Sau đó không lâu, Trần Nguyên Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê.
Năm 1400, để cứu vãn chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần và tiếp tục thi hành các cải cách như chính sách hạn nô, hạn điền, tổ chức lại giáo dục, thi cử và y tế.
Cũng năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi. Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổi. Hồ Quý Ly cử ông giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn từ năm 1374, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược Việt Nam. Nhà Hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung Quốc.
Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù.
Nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi:
– Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?
Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở lại tìm con đường đánh giặc, cứu nước.
Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt. Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc.
Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa theo Lê Lợi. Ông gặp vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang. Ông trao cho Lê Lợi bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi là Bình Ngô sách.
Trong bài tựa ức Trai di tập, Ngô Thế Vinh cho biết: Bình Ngô sách “hiến mưu trước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người”.
Lê Lợi khen chiến lược của Nguyễn Trãi là đúng. Và ông đã vận dụng chiến lược này để đánh quân Minh. Từ đây, ông thường giữ Nguyễn Trãi gần bên mình để cùng bàn mưu tính kế đánh quân Minh.
Cuối năm 1426, Lê Lợi lập bản doanh ở bến Bồ Đề (Gia Lâm). Tại đây, ông cho dựng một cái chòi cao ngang bằng tháp Báo Thiên ở Đông Quan. Lê Lợi ngồi tầng thứ nhất của chòi, Nguyễn Trãi ngồi tầng thứ hai. Hai nhân vật luôn luôn trao đổi ý kiến với nhau.
Trong kháng chiến, Nguyễn Trãi chủ trương phải dựa vào dân thì mới đánh được giặc, cứu được nước. Khi kháng chiến đã thắng lợi, ông cũng thấy rằng phải lo đến dân, thì mới xây dựng được đất nước. Trong tờ biểu tạ ơn được cử giữ chức Gián nghị đại phu tri tam quân sư, ông đã viết: “Chí những muốn, việc cố nhân đã muốn: để tâm dân chúng, mình lo trước điều thiên hạ phải lo”.
Năm 1437, khi vua Lê Thái Tông cử ông định ra lễ nhạc, ông cũng nói cho vua biết những điều mà vua phải làm trước hết là chăn nuôi nhân dân:
– Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc.
Do luôn luôn “lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ”, Nguyễn Trãi lúc nào cũng sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính. Nhà của ông ở Đông Kinh (Thăng Long) chỉ là một túp nhà tranh (góc thành Nam lều một gian). Khi ông cai quản công việc quân dân ở hải đảo Đông Bắc, nhà của ông ở Côn Sơn “bốn mặt trống trải, xác xơ chỉ có sách là giàu thôi” (thơ Nguyễn Mộng Tuân, bạn Nguyễn Trãi).
Bài Bình Ngô đại cáo của ông là một “thiên cổ hùng văn”. Đó là một thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc. Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi là những thư từ do ông viết trong việc giao thiệp với quân Minh. Những thư này là những tài liệu cụ thể chứng minh đường lối ngoại giao vào địch vận hết sức khéo léo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi làm cho quân Lam Sơn không mất xương máu mà hạ được rất nhiều thành.
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn giữ được. Tác phẩm này rất quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam và lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.
Năm 1442, cả gia đình ông bị hãm hại (tru di tam tộc) khiến cho người đương thời vô cùng thương tiếc.
Năm 1464, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng quan tước và tìm hỏi con cháu còn sót lại.
Nguyễn Trãi là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nước ta. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông truy tặng “Ưc Trai tâm thượng quang Khuê Tảo”. | Thuyết minh về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Trãi | 1,054 | |
Đề bài: Thuyết minh về cá lòng tong nấu đọt cóc
Bài làm
Khi mùa nước nổi bắt đầu dâng ớ các tỉnh đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu, thì miền hạ lưu sông Cửu Long dòng sông như mênh mông hơn. Khi con nước dâng cao bờ bãi là thời điểm bắt đầu của mùa cá lòng tong. Mùa này kéo dài cho đến cuối năm âm lịch.
Để đánh bắt cá lòng tong, người nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long áp dụng hai cách. Thứ nhất là chặn ụ. Người ta đào một cái ao rộng khoảng mười mét vuông, mở một cửa có rãnh nhỏ, ngắn dẫn ra sông (hoặc kênh, rạch). Nơi rãnh tiếp giáp kênh, rạch được chặn lại bằng phương tiện nào đó mà họ có được, nhưng phải đạt yêu cầu là cá vào rất thuận lợi mà ra thì… không bao giờ. Cách thứ hai là làm mùng. Dụng cụ là một miếng vải mùng khá rộng, mắc vào bốn thanh tre, ấn xuống sông (hoặc kênh, rạch), bên trên rắc cám rang dụ cá đến ăn. Dụng cụ đánh bắt này giống như những chiếc vó mà nông dân ta đã làm từ nhiều chục năm nay. Nhưng để có được những con cá lòng tong nhỏ nhắn, xinh xinh một cách thú vị không gì hơn bằng câu. Chỉ cần môt chiếc cần câu cùng một ít cơm nguội là người ta có thể tiêu khiển một cách… ích lợi bên bờ sông trong một trưa, một chiều nước lớn. Móc cơm vào lưỡi câu, quăng xuống nước. Lưỡi câu vừa chạm mặt nước, nhanh tay giật lên. Tòng teng cuối dây câu là một chú cá lòng tong đang vặn mình, lấp lánh ánh bạc trong nắng. Cứ thế mà câu một cách thích thú, chẳng mấy chốc cá đầy một giỏ mang về.
Cá lòng tong xưa nay thường được người dân đem kho, kho khô hoặc kho nước với tiêu bột ăn cơm nóng. Nhưng nếu cá được kho khô với chút mỡ cùng một ít tiêu bột thì cái ngon “thị giác" tăng hẳn lên, do mình cá bóng nhảy những mỡ một cách hấp dẫn. Cá lòng tong đá (loại lòng long lo con) được dùng để chiên hoặc nướng rồi "ăn suông chấm cá với nước mắm mặn nguyên chất giầm chút ớt hiểm xanh, ăn kèm với nhúm rau thơm. Vị ngọt của cá, mùi thơm của rau hòa quyện, hít một hơi gió châu thổ… thì còn gì bằng.
Nhưng lòng tong còn được chế biến thành một món ít ai biết được. Món này tuy ngon độc đáo nhưng thực hiện lại rất đơn giản. Đó là món cá lòng tong nấu canh đọt cóc. Bắc nồi nước lên bếp. Cá làm sạch, để ráo. Khi nước sôi, cho cá và một nhóm đọt lá cóc đã được rửa sạch vào. Nước sôi vài dạo, nêm mắm muối, bột ngọt vừa ăn. nhắc xuống, múc ra tó, rắc chút tiêu bột. Gấp cá lòng long chấm nước mắm ớt, thèm vị chua độc đáo của đọt cóc thật hấp dẫn. Không giống như vị chua của me, lá me, lá giang; hay vị chua của bần…, vị chua của đọt cóc lâng lâng cảm khoái lan dần khắp người khi ta húp một muỗng nước canh. Bữa cơm này nếu được ăn chung với cá lòng tong kho mỡ trong một chiều mưa gió lành lạnh thì còn gì thích thú bằng. | Thuyết minh về cá lòng tong nấu đọt cóc | 588 | |
Đề bài: Thuyết minh về cách làm một món ăn mà em yêu thích
Bài làm
Nhắc đến những món ăn được làm từ vịt: vịt quay Bắc Kinh, vịt quay Lạng Sơn, vịt nướng,… ai ai cũng nghĩ đến một món ăn béo ngậy. Nhưng có một món ăn cũng được chế biến từ vịt mà không hề gây cảm giác béo ngấy. Đó là món vịt quay me.
Nguyên liệu làm món vịt quay me khá cầu kì. Trước hết, ta cần có một con vịt cân nặng chừng 1,5 kg, chú ý mua vịt còn sống, tránh mua vịt làm sẵn; một miếng gừng khoảng 50 gram; ba thìa (muỗng) rượu trắng, hành ta, tỏi, tiêu, muối, đường, bột ngọt, dấm, hai thìa cà phê dầu mè, một quả dừa xiêm, hai thìa súp tương hột, một vắt me chín to, một muỗng súp bột năng, 100 gram xà lách xoong, hai quả cà chua, hai quả ớt, hành lá, một củ cà rốt, một củ cải trắng, hai chiếc bánh mì.
Khi đã có đủ những nguyên liệu cần thiết, ta tiến hành sơ chế. Trước hết, với hành và tỏi ta cần băm nhỏ. Với vịt, cần cắt tiết, làm sạch lông, rửa sạch rồi moi dưới bụng lấy bộ lòng ra. Gừng giã nhỏ, hoà với rượu, vắt lấy nước, tẩm vào vịt, để độ nửa giờ để vịt bớt tanh. Sau đó, rửa sạch vịt, để ráo, ướp vào vịt những gia vị sau: hành tỏi băm nhỏ, một chút tiêu, muối, đường, bột ngọt và dầu mè sao cho vừa ăn. Tiếp đến cho vịt vào chảo mỡ đã khử tỏi, rán (chiên) vàng. Vịt rán xong đem chặt miếng vừa ăn.
Me chín ta cho nước nóng vào, tán cho me ra chất chua. Với cà chua, ớt, hành lá thì tỉa hoa; riêng ớt ta để lại một chút đem băm nhỏ, lọc bỏ hạt. Cà rốt, củ cải trắng cũng tỉa hoa rồi đem ngâm dấm và đường.
Sau những việc trên, ta cho vịt đã chiên vàng vào xoong, chế nước dừa vào cho ngập, bắc lên bếp, nấu cho vịt mềm.
Tiếp theo, bắc chảo mỡ nóng, phi thơm hành tỏi, cho tương hột và nước me vào, nêm chút đường, bột ngọt, tiêu vừa ăn, cho vào đó vịt đang hầm, nấu tiếp cho vịt thật mềm là được, nếm lại cho vừa ăn. Bột năng hoà nước cho vào cho nước nấu được sanh sánh,- nhắc xuống.
Vậy là công đoạn nấu nướng đã xong, để việc chuẩn bị thưởng thức món vịt quay me được trọn vẹn, ta cần trang trí món ăn sao cho đẹp mắt. Ta xẻ vịt ra đĩa sao cho giống hình dáng con vịt đang ngồi, miệng vịt cho ngậm hoa ớt, đùi vịt quấn giấy cắt tua, giữa để cà chua và ớt tỉa hoa, xung quanh để xà lách xoong và cà rốt, củ cải trắng tỉa hoa cho xen kẽ. Món ăn này nên dùng nóng với bánh mì.
Món vịt quay me thường được thấy trong thực đơn của những nhà hàng sang trọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể tự làm món ăn này trong những ngày nghỉ rảnh rỗi có nhiều thời gian. Khi ấy, cả gia đình quây quần cùng thưởng thức món ăn sang trọng này thì thật thú vị! | Thuyết minh về cách làm một món ăn mà em yêu thích | 561 | |
Thuyết minh về cách làm đèn ông sao
Trung thu ngày rằm tháng 8 theo lịch âm là ngày Tết thiếu nhi của mọi trẻ em trên đất nước. Ngày lễ đó chắc chắn phải có những chiếc đèn ông sao đủ màu sắc bắt mắt, lung linh trong đêm rằm. Hiện nay, có nhiều loại đèn khác nhau nhập về nước ta nhưng đèn ông sao vẫn là món đồ chơi truyền thống của trẻ em.
Đèn ông sao truyền thống được các bậc cha mẹ làm cho con chơi, ai cũng yêu thích nhờ cách làm đơn giản. Sau đây sẽ là hướng dẫn giúp các em tự làm đèn ông sao ngay tại nhà.
Chuẩn bị dụng cụ thực hiện.
Que tre
Dây buộc
Keo dán
Giấy bóng màu
Bút, thước kẻ
Cách làm như sau:
Bước 1: Chẻ các mảnh tre thành 10 que dài bằng nhau (mỗi que có độ dài 50cm). Chẻ thêm 5 que tre ngắn khoảng 10cm.
Bước 2: Sắp xếp 10 que tre dài thành hình 2 ngôi sao 5 cánh, dùng tay cố định thanh tre lại bằng dây thép hoặc kẽm.
Bước 3: Chồng 2 ngôi sao vừa làm lên nhau rồi dùng dây cố định 5 đỉnh của 2 ngôi sao lại với nhau.
Dùng các que tre ngắn đã chuẩn bị cho vào phần điểm giao giữa các ngôi sao dựng chúng lên tạo thành khung sao có hình 3D. Dùng dây thép hoặc kẽm để buộc chặt các điểm giao nhau của các thanh tre cố định chúng lại thật chắc chắn.
Bước 5: Dùng giấy màu nhiều màu sắc dàn lên bề mặt thanh tre, chỗ vừa quết keo dán trước đó.
Thực hiện công việc dán giấy màu phủ kín đèn ông sao nhưng nên nhớ chừa 1, 2 ô để đặt nến bên trong và đốt nến. Rất nhanh chiếc đèn ông sao đã hoàn thành rồi đó.
Dàn ý thuyết minh về cách làm đèn ông sao
Đối với các bài văn thuyết minh, chắc chắn sẽ có nhiều chưa biết cách làm, đặc biệt là thuyết minh về cách làm đèn ông sao. Sau đây là dàn ý thuyết minh về cách làm đèn ông sao để các bạn tham khảo.
1.Mở bài:
– Giới thiệu về chiếc đèn ông sao: Đèn ông sao là món đồ chơi quen thuộc của các bạn trẻ, đặc biệt là vào mỗi dịp Tết Trung thu.
– Nhưng không phải ai cũng biết làm cho riêng mình một chiếc đèn ông sao. Cách làm thực ra cũng rất đơn giản.
2.Thân bài:
a, Nguồn gốc và ý nghĩa về chiếc đèn ông sao:
– Nguồn gốc: Chưa ai biết chính xác chiếc đèn có nguồn gốc từ đâu. Nhưng ai cũng cho rằng đã từ rất lâu người ta đã biết mô phỏng những ngôi sao trên bầu trời để tạo nên món đồ chơi cho trẻ em.
– Chiếc đèn ông sao thường được dùng vào dịp Tết Trung thu. Đó là một tết cổ truyền của Việt Nam. Khi đó mặt trăng ở vào độ đẹp nhất, tròn và to. Các ngôi sao bao quanh cũng trở nên sáng và lấp lánh hơn. Việc mô phỏng theo các ngôi sao trên bầu trời thể hiện nét đẹp của một truyền thống về Tết trăng rằm. Ngoài ra còn biểu hiện đời sống tinh thần của những đứa trẻ ngây thơ, trong sáng.
– Để chuẩn bị làm một chiếc đèn ông sao hoàn thiện thì cần các nguyên liệu, dụng cụ gồm:
+ Các thanh tre hoặc trúc (khoảng 10 thanh), độ dày từ 5mm – 1cm, được vót nhọn
+ 5 que tre hoặc trúc, độ dài 8cm – 10cm, độ dày 5mm
+ Giấy bóng màu (chuẩn bị các màu sắc khác nhau)
+ Các dụng cụ khác: dây để buộc, keo dán, thước kẻ, bút chì
c, Cách làm:
– Đầu tiên là làm khung
+ Dùng 10 thanh tre (trúc) đã chuẩn bị với chiều dài bằng nhau, sau đó lấy 5 thanh buộc vào nhau thành hình sao 5 cánh. 10 thanh được 2 cánh sao 5 cánh.
+ Chú ý: Khi buộc phải vót nhọn hai đầu thanh tre tiếp giáp nhau và nên buộc ít vòng dây.
+ Dùng dây buộc chặt để ráp 2 hình sao với nhau. Lưu ý phải buộc chặt ở đầu 5 cánh sao.
+ Gắn các que tre ngắn ở 5 đầu gốc đầu của cánh sao. Như vậy là đã hoàn thành được khung của đèn ông sao
– Sau đó là dán giấy vào khung để hoàn thành chiếc đèn ông sao hoàn chỉnh:
+ Căn và cắt giấy bóng đã chuẩn bị theo các hình tam giác và hình tứ giác như khung của đèn ông sao.
+ Tiếp theo là dán giấy lên đèn theo hình của khung. Lưu ý nên chừa khoảng trên để có chỗ thông hơi và khoảng dưới để bỏ nến vào.
– Thành phẩm: Chiếc đèn hoàn thành phải đúng khung hình ông sao. Các hình tam giác và ngũ giác ở giữa phải đều nhau. Màu sắc của chiếc đền nên chọn các màu đỏ, xanh, trắng, vàng để chiếc đèn được lung linh và rực rỡ hơn.
– Chiếc đèn ông sao là món đồ chơi quen thuộc của trẻ em và cũng là đồ hàng của các nghệ nhân.
-Hiểu được cách làm chiếc đèn các bạn sẽ thêm trân trọng và hiểu cho các nghệ nhân đã vất vả làm nên món đồ chơi tưởng chừng như đơn giản này.
Chỉ với 5 bước thực hiện bạn sẽ có ngay chiếc đèn ông sao truyền thống để đi chơi lễ trung thu, cách làm đèn ông sao này vừa dễ vừa nhanh ai cũng có thể thực hiện. Chúc các bạn thành công. | Thuyết minh về cách làm đồ chơi (đèn ông sao) | 945 | |
Thuyết minh về cái cặp sách học sinh lớp 9
Hướng dẫn
Thuyet minh ve cai cap sach – Đề bài: Hàng ngày em đến trường cùng chiếc cặp sách đựng sách vở của em. Em hãy viết bài văn thuyết minh về cái cặp mà em vẫn mang đến trường hàng ngày đó.
Trong tất cả các dụng cụ của học sinh, chúng tôi được xem như là anh cả, bởi lẽ chúng tôi có thân hình to lớn nhất. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là những chiếc cặp xinh xinh giúp các bạn đựng đồ dụng học tập.
Họ hàng chúng tôi có tự bao giờ không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xa xưa, khi con người có nhu cầu đi học. Cha ông chúng tôi trước kia được làm rất đơn giản, thân hình chỉ gồm những mảnh da lớn được may lại, nắp cặp có khóa sắt hoặc có day kéo để đóng mở cặp. Còn ngày nay, với công nghệ tiên tiến và hiện đại, chúng tôi được thiết kế với nhiều kiểu mẫu đẹp hơn, đa dạng hơn. Họ hàng chúng tôi có nhiều loại: cặp đeo, cặp mang trên vai, cặp xách. Chất liệu để làm ra chúng tôi cũng phong phú hơn xưa. Có loại làm bằng da mềm, có loại làm bằng vải dù, vải gin, vải bố… Riêng tôi, tôi có một thân hình tương đối đẹp, được làm bằng một loại vải da tốt. Bên ngoài có trang trí nhiều hình vẽ và màu sắc nổi bật. Tôi thích nhất là hình chú chó Pikachu ngộ nghĩnh, đáng yêu ở phía trước mặt cặp. Bên trên là nắp cặp với một cái khóa bằng sắt bóng loáng để đóng, mở. Mỗi khi đóng, mở cặp, những âm thanh vang lên lách cách rất vui tai. Bên dưới nắp cặp là một cái túi phụ có dây kéo để các cô, cậu học trò đựng các đồ vật nhỏ cần thiết. Bên hông là một cái túi lưới để đựng những chai nước mà các cô, cậu thường hay mang đến lớp. Tôi không chỉ có quai đeo mà còn có một cái quai nhỏ để xách. Bên trong quai có lót xốp nên sử dụng rất êm. Quan trọng nhất là bên trong cơ thể tôi. Nơi ấy có ba ngăn chính dùng để đựng sách vở. Ngoài ba ngàn chính tôi còn có một ngăn phụ để đựng bút, thước, compa. Mỗi ngăn cặp được ngăn bởi một miếng vải mỏng và bền.
Tuy thân hình chúng tôi cấu tạo chỉ như thế nhưng chúng tôi rất có ích. Nhờ có chúng tôi, các cô, cậu chủ cảm thấy tiện lợi hơn, thoải mái hơn khi đến trường. Chúng tôi che nắng cho sách, vở. Và chúng tôi chũng lấy làm vinh dự với chức năng bảo vệ nguồn tri thức của các cô, cậu học trò. Có chúng tôi, nguồn tri thức ấy sẽ không bị mất đi, không bị mai một đi khi trải qua mọi sự thay đổi của thời tiết.
Để chúng tôi phát huy hết vai trò của mình thì cần phải có sự bảo quản của con người. Cách bảo quản chúng tôi cũng dễ thôi: Khi đi học về, các cô, cậu chủ nhớ treo chúng tôi lên móc, để ở nơi sạch sẽ. Khi chúng tôi bị ướt, các cô, cậu chỉ cần dùng khăn lau khô rồi phơi lên. Chúng tôi cũng cần được giặt sạch rồi phơi khô để vải không bị mục hoặc mốc. Khi có bụi bám vào, cần lau chùi cho chúng tôi sạch sẽ, nhìn vào sẽ trông đẹp hơn, mới hơn. Đặc biệt, để dây kéo hoặc ổ khóa được bền thì cần sử dụng nhẹ nhàng, cẩn thận. Nếu không cẩn thận thì các bộ phận này dễ bị hỏng.
Chúng tôi cũng không tầm thường chút nào đấy chứ! Chúng tôi là những người bạn tốt của các bạn học sinh, luôn đồng hành cùng các bạn, giúp các bạn mang theo mình nhiều tri thức để sau này trở thành những người tài đức vẹn toàn, giúp ích chó đất nước và mở ra cho mình một tương lai mới. | Thuyết minh về cái cặp sách học sinh lớp 9 | 712 | |
Thuyết minh về cái cặp sách
Hướng dẫn
Đề bài: Thuyết minh về cái cặp sách.
Hướng dẫn lập dàn ý thuyết minh về cái cặp sách
I. MỞ BÀI:
– Giới thiệu chiếc cặp sách là người bạn đồng
hành lâu dài với lứa tuổi học trò trong suốt thời
gian cắp sách đến trường.
II. THÂN BÀI:
1. Nguồn gốc, xuất xứ:
– Xuất xứ: vào năm 1988, nước Mỹ lần đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách mang phong cách cổ điển.
– Từ sau 1988, cặp sách đã được sử dụng phổ biến nhiều nơi ở Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới.
2. Cấu tạo:
– Chiếc cặp có cấu tạo rất đơn giản.
+ Phía ngoài: chỉ có mặt cặp, quai xách, nắp mở, một số cặp có quai đeo,.
+ Bên trong: có nhiều ngăn để đựng sách vở, bút viết, một số cặp còn có ngăn để đựng áo mưa hoặc chai nước,.
3. Quy trình làm ra chiếc cặp:
– Có nhiều loại cặp sách khác nhau như: cặp táp, cặp da, ba-lô,. với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như: của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc: Tian Ling, Ling Hao,. mang những phong cách thiết kế riêng biệt. Tuy nhiên cách làm chúng đều có phần giống nhau.
+ Lựa chọn chất liệu: vải nỉ, vải bố, da cá sấu, vải da,.
+ Xử lý: tái chế lại chất liệu để sử dụng được lâu dài, bớt mùi nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của chất liệu đó.
+ Khâu may: thông thường các xí nghiệp sử dụng máy may để may từng phần của chiếc cặp lại với nhau theo thiết kế.
+ Ghép nối: ghép các phần đã được may thành một chiếc cặp hoàn chỉnh rồi được tung ra thị trường với những giá cả khác nhau.
4. Cách sử dụng:
– Tùy theo từng đối tượng mà con người có những cách sử dụng cặp khác nhau:
+ học sinh nữ: dùng tay xách cặp hoặc ôm cặp vào người.
=> Thể hiện sự dịu dàng, thùy mị, nữ tính.
+ Học sinh nam: đeo chéo sang một bên
= > Thể hiện sự khí phách, hiêng ngang, nam tính.
Nam sinh viên Đại học
Đeo cặp một bên thể hiện sự tự tin và năng động
=> Thể hiện sự nhí nhảnh, ngây thơ của lứa tuổi cấp 1.
Các nhà doanh nhân: sử dụng các loại cặp đắt tiền, xịn, thường thì họ xách trên tay.
=> Thể hiện họ thật sự là những nhà doanh nhân thành đạt và có được nhiều thành công cũng như sự giúp ích của họ dành cho đất nước.
– Nhìn chung, khi mang cặp cần lưu ý không nên mang cặp quá nặng, thường xuyên thay đổi tay xách và vai đeo.
5. Cách bảo quản:
– Học sinh chúng ta thường khi đi học về thì quăng cặp lên trên cặp một cách vô lương tâm khiến cặp dễ bị rách hay hư hao. Nên bảo quản cặp bằng những phương pháp sau đây để giữ cho cặp bền tốt và sử dụng được lâu:
+ Thường xuyên lau chùi hoặc giặt cặp để giữ độ mới của cặp.
+ Không quăng cặp hay mạnh tay để tránh làm rách cặp hay hư hao.
+ Cứ khoảng 1 – 2 lần mỗi năm, hãy làm mới cặp bằng xi đánh giày không màu.
+ Để sửa chữa cặp khi bị rách, đừng nên mang đến hàng sửa giày hay giặt khô vì như vậy sẽ có nguy cơ bị hỏng do dùng sai công cụ. Hãy đưa đến thợ sửa cặp chuyên nghiệp.
+ Đừng bao giờ cất cặp da trong túi nilon, nó có thể làm khô túi hoặc bị chất dẻo dính vào da.
+ Thường xuyên nhét giấy vụn hoặc áo phông cũ vào cặp để giữ hình dáng.
+ Đặt cặp trong túi nỉ của cửa hàng hoặc vỏ gối để giữ khả năng đứng thăng bằng của cặp.
6. Công dụng:
– Cặp là vật để chúng ta đựng sách vở, bút viết mỗi khi đến trường.
– Cặp cũng là vật để che nắng, che mưa cho sách vở. Một số bạn cũng sử dụng cặp để che mưa cho chính bản thân.
– Cặp cũng là vật đã để lại không biết bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn, đồng thời cũng tô lên nét đẹp của tuổi học trò – cái tuổi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.
– Cùng với những vật dụng tiện lợi khác, chiếc cặp sách đã trở thành một người bạn trung thành và luôn đồng hành với mỗi con người, đặc biệt là đối với những học sinh – chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam.
Bài làm thuyết minh về cái cặp sách
Trong tất cả các dụng cụ của học sinh, chúng tôi được xem như là anh cả, bởi lẽ chúng tôi có thân hình to lớn nhất. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là những chiếc cặp xinh xinh giúp các bạn đựng đồ dụng học tập.
Họ hàng chúng tôi có tự bao giờ không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xa xưa, khi con người có nhu cầu đi học. Cha ông chúng tôi trước kia được làm rất đơn giản, thân hình chỉ gồm những mảnh da lớn được may lại, nắp cặp có khóa sắt hoặc có day kéo để đóng mở cặp. Còn ngày nay, với công nghệ tiên tiến và hiện đại, chúng tôi được thiết kế với nhiều kiểu mẫu đẹp hơn, đa dạng hơn. Họ hàng chúng tôi có nhiều loại: cặp đeo, cặp mang trên vai, cặp xách. Chất liệu để làm ra chúng tôi cũng phong phú hơn xưa. Có loại làm bằng da mềm, có loại làm bằng vải dù, vải gin, vải bố… Riêng tôi, tôi có một thân hình tương đối đẹp, được làm bằng một loại vải da tốt. Bên ngoài có trang trí nhiều hình vẽ và màu sắc nổi bật. Tôi thích nhất là hình chú chó Pikachu ngộ nghĩnh, đáng yêu ở phía trước mặt cặp. Bên trên là nắp cặp với một cái khóa bằng sắt bóng loáng để đóng, mở. Mỗi khi đóng, mở cặp, những âm thanh vang lên lách cách rất vui tai. Bên dưới nắp cặp là một cái túi phụ có dây kéo để các cô, cậu học trò đựng các đồ vật nhỏ cần thiết. Bên hông là một cái túi lưới để đựng những chai nước mà các cô, cậu thường hay mang đến lớp. Tôi không chỉ có quai đeo mà còn có một cái quai nhỏ để xách. Bên trong quai có lót xốp nên sử dụng rất êm. Quan trọng nhất là bên trong cơ thể tôi. Nơi ấy có ba ngăn chính dùng để đựng sách vở. Ngoài ba ngàn chính tôi còn có một ngăn phụ để đựng bút, thước, compa. Mỗi ngăn cặp được ngăn bởi một miếng vải mỏng và bền.
Để chúng tôi phát huy hết vai trò của mình thì cần phải có sự bảo quản của con người. Cách bảo quản chúng tôi cũng dễ thôi: Khi đi học về, các cô, cậu chủ nhớ treo chúng tôi lên móc, để ở nơi sạch sẽ. Khi chúng tôi bị ướt, các cô, cậu chỉ cần dùng khăn lau khô rồi phơi lên. Chúng tôi cũng cần được giặt sạch rồi phơi khô để vải không bị mục hoặc mốc. Khi có bụi bám vào, cần lau chùi cho chúng tôi sạch sẽ, nhìn vào sẽ trông đẹp hơn, mới hơn. Đặc biệt, để dây kéo hoặc ổ khóa được bền thì cần sử dụng nhẹ nhàng, cẩn thận. Nếu không cẩn thận thì các bộ phận này dễ bị hỏng.
Chúng tôi cũng không tầm thường chút nào đấy chứ! Chúng tôi là những người bạn tốt của các bạn học sinh, luôn đồng hành cùng các bạn, giúp các bạn mang theo mình nhiều tri thức để sau này trở thành những người tài đức vẹn toàn, giúp ích chó đất nước và mở ra cho mình một tương lai mới.
Đọc thêm tả cái cặp sách của em | Thuyết minh về cái cặp sách | 1,352 | |
Thuyết minh về cái cặp
Hướng dẫn
Hướng dẫn lập dàn ý thuyết minh về cái cặp sách
Thuyết minh về cái cặp – văn mẫu lớp 8
I. MỞ BÀI:
– Giới thiệu chiếc cặp sách là người bạn đồng hành lâu dài với lứa tuổi học trò trong suốt thời gian cắp sách đến trường.
II. THÂN BÀI:
1. Nguồn gốc, xuất xứ:
– Xuất xứ: Vào năm 1988, nước Mỹ lần đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách mang phong cách cổ điển.
– Từ sau 1988, cặp sách đã được sử dụng phổ biến nhiều nơi ở Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới.
2. Cấu tạo:
– Chiếc cặp có cấu tạo rất đơn giản.
Phía ngoài: Chỉ có mặt cặp, quai xách, nắp mở, một số cặp có quai đeo,.
Bên trong: Có nhiều ngăn để đựng sách vở, bút viết, một số cặp còn có ngăn để đựng áo mưa hoặc chai nước.
3. Quy trình làm ra chiếc cặp:
Có nhiều loại cặp sách khác nhau như: Cặp táp, cặp da, ba-lô..v.v., với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như: Của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc: Tian Ling, Ling Hao.v.v.., mang những phong cách thiết kế riêng biệt. Tuy nhiên cách làm chúng đều có phần giống nhau.
Lựa chọn chất liệu: Vải nỉ, vải bố, da cá sấu, vải da..v.v..
Xử lý: Tái chế lại chất liệu để sử dụng được lâu dài, bớt mùi nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của chất liệu đó.
Khâu may: Thông thường các xí nghiệp sử dụng máy may để may từng phần của chiếc cặp lại với nhau theo thiết kế.
Ghép nối: Ghép các phần đã được may thành một chiếc cặp hoàn chỉnh rồi được tung ra thị trường với những giá cả khác nhau.
4. Cách sử dụng:
– Tùy theo từng đối tượng mà con người có những cách sử dụng cặp khác nhau:
Học sinh nữ: Dùng tay xách cặp hoặc ôm cặp vào người.
=> Thể hiện sự dịu dàng, thùy mị, nữ tính.
+ Học sinh nam: Đeo chéo sang một bên
= > Thể hiện sự khí phách, hiêng ngang, nam tính.
Nam sinh viên Đại học
Đeo cặp một bên thể hiện sự tự tin và năng động
Học sinh tiểu học: Đeo sau lưng để dễ chạy nhảy, chơi đùa cùng đám bạn.
=> Thể hiện sự nhí nhảnh, ngây thơ của lứa tuổi cấp 1.
Các nhà doanh nhân: Sử dụng các loại cặp đắt tiền, xịn, thường thì họ xách trên tay.
=> Thể hiện họ thật sự là những nhà doanh nhân thành đạt và có được nhiều thành công cũng như sự giúp ích của họ dành cho đất nước.
– Nhìn chung, khi mang cặp cần lưu ý không nên mang cặp quá nặng, thường xuyên thay đổi tay xách và vai đeo.
Thuyết minh về cái cặp
5. Cách bảo quản:
– Học sinh chúng ta thường khi đi học về thì quăng cặp lên trên cặp một cách vô lương tâm khiến cặp dễ bị rách hay hư hao. Nên bảo quản cặp bằng những phương pháp sau đây để giữ cho cặp bền tốt và sử dụng được lâu:
Không quăng cặp hay mạnh tay để tránh làm rách cặp hay hư hao.
Cứ khoảng 1 – 2 lần mỗi năm, hãy làm mới cặp bằng xi đánh giày không màu.
Để sửa chữa cặp khi bị rách, đừng nên mang đến hàng sửa giày hay giặt khô vì như vậy sẽ có nguy cơ bị hỏng do dùng sai công cụ. Hãy đưa đến thợ sửa cặp chuyên nghiệp.
Đừng bao giờ cất cặp da trong túi nilon, nó có thể làm khô túi hoặc bị chất dẻo dính vào da.
Thường xuyên nhét giấy vụn hoặc áo phông cũ vào cặp để giữ hình dáng.
Đặt cặp trong túi nỉ của cửa hàng hoặc vỏ gối để giữ khả năng đứng thăng bằng của cặp.
6. Công dụng:
Cặp là vật để chúng ta đựng sách vở, bút viết mỗi khi đến trường.
Cặp cũng là vật để che nắng, che mưa cho sách vở. Một số bạn cũng sử dụng cặp để che mưa cho chính bản thân.
Cặp cũng là vật đã để lại không biết bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn, đồng thời cũng tô lên nét đẹp của tuổi học trò – cái tuổi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.
III. KẾT BÀI:
– Cùng với những vật dụng tiện lợi khác, chiếc cặp sách đã trở thành một người bạn trung thành và luôn đồng hành với mỗi con người, đặc biệt là đối với những học sinh – chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam.
Bài tham khảo 1
Trong tất cả các dụng cụ của học sinh, chúng tôi được xem như là anh cả, bởi lẽ chúng tôi có thân hình to lớn nhất. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là những chiếc cặp xinh xinh giúp các bạn đựng đồ dụng học tập.
Họ hàng chúng tôi có tự bao giờ không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xa xưa, khi con người có nhu cầu đi học. Cha ông chúng tôi trước kia được làm rất đơn giản, thân hình chỉ gồm những mảnh da lớn được may lại, nắp cặp có khóa sắt hoặc có day kéo để đóng mở cặp. Còn ngày nay, với công nghệ tiên tiến và hiện đại, chúng tôi được thiết kế với nhiều kiểu mẫu đẹp hơn, đa dạng hơn. Họ hàng chúng tôi có nhiều loại: Cặp đeo, cặp mang trên vai, cặp xách. Chất liệu để làm ra chúng tôi cũng phong phú hơn xưa. Có loại làm bằng da mềm, có loại làm bằng vải dù, vải gin, vải bố… Riêng tôi, tôi có một thân hình tương đối đẹp, được làm bằng một loại vải da tốt. Bên ngoài có trang trí nhiều hình vẽ và màu sắc nổi bật. Tôi thích nhất là hình chú chó Pikachu ngộ nghĩnh, đáng yêu ở phía trước mặt cặp. Bên trên là nắp cặp với một cái khóa bằng sắt bóng loáng để đóng, mở. Mỗi khi đóng, mở cặp, những âm thanh vang lên lách cách rất vui tai. Bên dưới nắp cặp là một cái túi phụ có dây kéo để các cô, cậu học trò đựng các đồ vật nhỏ cần thiết. Bên hông là một cái túi lưới để đựng những chai nước mà các cô, cậu thường hay mang đến lớp. Tôi không chỉ có quai đeo mà còn có một cái quai nhỏ để xách. Bên trong quai có lót xốp nên sử dụng rất êm. Quan trọng nhất là bên trong cơ thể tôi. Nơi ấy có ba ngăn chính dùng để đựng sách vở. Ngoài ba ngàn chính tôi còn có một ngăn phụ để đựng bút, thước, compa. Mỗi ngăn cặp được ngăn bởi một miếng vải mỏng và bền.
Tuy thân hình chúng tôi cấu tạo chỉ như thế nhưng chúng tôi rất có ích. Nhờ có chúng tôi, các cô, cậu chủ cảm thấy tiện lợi hơn, thoải mái hơn khi đến trường. Chúng tôi che nắng cho sách, vở. Và chúng tôi chũng lấy làm vinh dự với chức năng bảo vệ nguồn tri thức của các cô, cậu học trò. Có chúng tôi, nguồn tri thức ấy sẽ không bị mất đi, không bị mai một đi khi trải qua mọi sự thay đổi của thời tiết.
Để chúng tôi phát huy hết vai trò của mình thì cần phải có sự bảo quản của con người. Cách bảo quản chúng tôi cũng dễ thôi: Khi đi học về, các cô, cậu chủ nhớ treo chúng tôi lên móc, để ở nơi sạch sẽ. Khi chúng tôi bị ướt, các cô, cậu chỉ cần dùng khăn lau khô rồi phơi lên. Chúng tôi cũng cần được giặt sạch rồi phơi khô để vải không bị mục hoặc mốc. Khi có bụi bám vào, cần lau chùi cho chúng tôi sạch sẽ, nhìn vào sẽ trông đẹp hơn, mới hơn. Đặc biệt, để dây kéo hoặc ổ khóa được bền thì cần sử dụng nhẹ nhàng, cẩn thận. Nếu không cẩn thận thì các bộ phận này dễ bị hỏng.
Chúng tôi cũng không tầm thường chút nào đấy chứ! Chúng tôi là những người bạn tốt của các bạn học sinh, luôn đồng hành cùng các bạn, giúp các bạn mang theo mình nhiều tri thức để sau này trở thành những người tài đức vẹn toàn, giúp ích chó đất nước và mở ra cho mình một tương lai mới.
Suốt quãng đời cắp sách tới trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước,… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì vật dụng để đựng các thứ kể trên chính là chiếc cặp – một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm!
Cặp sách được sử dụng nhiều trong quá trình học tập cũng như trong đời sống. Chắc chắn một điều rằng, cặp sách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người. Việc phát minh ra cặp sách là do người Mỹ nghĩ ra vào năm 1988.
Về cấu tạo, bên ngoài, ta dễ thấy nhất: Nắp cặp, quai xách, kẹp nắp cặp, một số cặp có quai đeo, một số khác có bánh xe nhỏ được dùng để kéo trên đường,… Cấu tạo bên trong, có thể có một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng tập sách, đồ dùng học tập, áo mưa, có thể có ngăn đựng ví tiền hay cả đồ ăn, nước uống nữa,…
Về quy trình, cho dù quy trình làm ra chiếc cặp như thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ có những công đoạn chính gồm: Lựa chọn chất liệu, xử lí, khâu may, ghép nối. Chất liệu thì có rất nhiều loại cho phù hợp với yêu cầu của người dùng: Vải nỉ, vải bố, da cá sấu, gải da,… Dù làm bằng chất liệu gì thì cặp cũng phải chắc, vì nó phải khiêng vác rất nặng các tập sách. Kèm theo đó, kiểu dáng cặp cũng phải phù hợp, ví dụ như con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động. Con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Con nít thì đeo cặp ra sau lưng để dễ dàng chạy nhảy, vui đùa. Cùng với màu sắc, hiện đang thịnh hành rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp cho từng lứa tuổi.
Một số lời khuyên về việc sử dụng cặp cho đúng cách: Chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình. Nên xếp những đồ vật nặng nhất vào phần trong của cặp (phần tiếp giáp với lưng). Xếp sách vở và đồ dùng học tập sao cho chúng không bị xô lệch. Chắc chắn rằng những vật dụng để trong cặp đều càn thiết cho các hoạt động trong ngày. Đối với cặp hai quai, chúng ta không nên đeo lủng lẳng một quai, dễ cong vẹo người. Đối với cặp chỉ có một quai, nên thay đổi vai đeo để tránh cong vẹo người. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải,…
Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao,… phổ biến ở khắp mọi nơi như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Nhưng cho dù chúng đẹp đến đâu, bền cỡ nào đi chăng nữa, cũng từ từ theo thời gian mà hỏng dần đi nếu như chúng ta không biết cách bảo quản nó, chẳng hạn như quăng chúng ình ình mỗi khi gặp chuyện bực mình hoặc ham vui mà quăng nó đi. Thế nên, chúng ta không nên quăng cặp bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên lau chùi cặp cho sạch sẽ.
Nói tóm lại, cặp sách là một vật dụng rất cần thiết trong việc học tập và cả trong đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách, nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích và có thể được coi là người bạn luôn luôn đồng hành với mỗi chúng ta. Đặc biệt là đối với học sinh – chủ nhân tương lai của đất nước. | Thuyết minh về cái cặp | 2,090 | |
Đề bài: Thuyết minh về cái kéo
Bài làm
Cái kéo gắn liền với cuộc sống của mỗi nhà, bởi những công việc thường ngày trong gia đình thường sử dụng đến kéo. Không những thế, trong một số lĩnh vực như công nghiệp, y tế… cũng sử dụng đến kéo. Điều đó cho thấy việc phát minh ra cái kéo đã giúp ích cho con người rất nhiều trong cuộc sống.
Kéo có nhiều loại tùy theo tính chất công việc từng loại kéo mà người ta sáng tạo ra các mẫu kéo phù hợp với công dụng của nó như: kéo chốt đuôi, kéo kẹp, kéo khớp…
Kéo chốt đuôi: Bước phát triển tiếp của kéo là chiếc kéo có chốt ở đuôi. Đó là hai lưỡi kéo mà phần đuôi của chúng được gắn một cái chốt tạo thành khớp nối. Sử dụng chiếc kéo kiểu này trong thực tế khá rắc rối, vì để cắt được cần phải ấn các lưỡi kéo vào nhau, và sau đó phải dùng tay tách chúng ra khỏi nhau.
Kéo kẹp: So với kéo khớp, kéo kẹp với cần kéo hình chữ U nằm ngang có tiến bộ hơn hẳn, vì nó có thể sử dụng được bằng một tay do sức đàn hồi của vật liệu mà cánh kéo có thể tự mở ra. Kép kẹp chỉ xuất hiện khi người ta sản xuất được đồng thau hay hợp kim của sắt có thể rèn được vào khoảng năm 1000 trước CN. Đó là điều kiện để cánh kéo có thể đàn hồi được. Vì độ đàn hồi của đồng thau mau chóng giảm đi, nên kéo kẹp bằng đồng thau ngày một hiếm dần. Người ta đã tìm được kéo kẹp bằng sắt ở Trung Âu được sản xuất vào khoảng năm 500 trước CN. Có những mẫu kéo thời đó có lò xo hình chữ U, để tăng độ căng, người ta dần chuyển cần kéo sang dạng gần tròn. Thời Đường ở Trung Quốc đã có dạng kéo kẹp mà cần kéo có dạng cần bắt chéo lên nhau như hai chữ oo liền nhau. Đến tận thế kỷ 17, kéo kẹp là dạng kép phổ biến nhất ở châu Âu.
Kéo khớp: Dạng kéo khớp được sử dụng ngày nay xuất hiện khoảng năm 300 trước CN. Vì chỉ còn rất ít di vật còn lại nên không thể xác định chính xác năm xuất hiện. Vào thế kỷ 17 và từ đó trở đi những loại kéo chuyên dụng được phát triển: kéo cắt giấy dài và lưỡi mỏng, kéo bản lưỡi rộng để cắt vải và kéo đa năng có lưỡi nhọn dần.
Kéo được cấu tạo bằng hai thanh kim loại được mài sắc tạo thành lưỡi kéo, phần đuôi uốn cong tạo thành tay cầm. Lưỡi kéo có thể được làm bằng sắt hay một hợp chất sắt pha gang, phần tay cầm được bọc bởi một lớp nhựa dẻo hoặc nhựa cứng.
Có thể nói, kéo là một dụng cụ chủ yếu dùng để cắt, tuy nhiên, tùy theo mục đích sử dụng mà kéo cũng có nhiều loại khác nhau như: kéo cắt vải để thợ may tạo nên quần áo đẹp, đa dạng và hợp thời trang; các em bé thì dùng kéo cắt giấy để cắt giấy xếp tàu bay, tên lửa…; thợ hớt tóc không thể tỉa ra các mô-đen nếu không có kéo; kéo cắt tôn cắt sắt; kéo phục vụ cho việc bếp núc để cắt cá, cắt bánh tráng, khô bò…; còn có kéo dùng trong y tế khi phẫu thuật…
Kéo là một vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống, tuy nhỏ nhưng kéo thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiêp, thủ công nghiệp và sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, kéo có rất có ích cho cuộc sống của con người, không có kéo, chúng ta sẽ rất vất vả. | Thuyết minh về cái kéo | 658 | |
Đề bài: Thuyết minh về cấu tạo, công dụng và cách bảo quản chiếc phích nước (bình thủy).
Bài làm
Dù giàu, dù nghèo thì mỗi gia đình cũng có một cái phích (bình thủy) để đựng nước nóng. Phích nước là đồ vật quen thuộc, rất tiện dụng cho cuộc sống hằng ngày.
Phích có nhiều loại và nhiều kích cỡ khác nhau. Loại nhỏ chứa được khoảng nửa lít, loại lớn chứa được hai lít hoặc hai lít rưỡi. Các thương hiệu được nhiều người ưa dùng là phích Rạng Đông của Việt Nam hay phích Trung Quốc, vừa tốt vừa bền, giá cả lại hợp lí.
Vỏ phích gồm quai xách, nắp, thân và đáy, thường được làm bằng nhôm, nhựa hoặc sắt tráng men, in hoa hay hình chim, hình thú rất đẹp. Nút phích bằng loại gỗ xốp nhẹ (li-e), bọc vải thun mỏng màu trắng hoặc được làm bằng chất dẻo; quai xách bằng nhôm hoặc nhựa.
Bộ phận quan trọng nhất là ruột phích. Ruột phích được cấu tạo bằng hai lớp thủy tinh mỏng cách nhau một khoảng chân không. Lòng phích tráng bạc. Đáy phích có van hút khí và núm thủy ngân. Phích tốt có thể giữ được nước nóng trong một ngày.
Hôm đi siêu thị Miền Đông để mua chiếc phích biếu ông nội, ba dẫn em đi theo. Trên kệ, hàng trăm chiếc phích được trưng bày trông rất đẹp mắt. Ba hướng dẫn em cách chọn. Mở nắp phích ra, nhìn từ trên miệng phích xuống dưới đáy, lớp bạc tráng phải kín. Điểm màu sẫm ở chỗ van hút khí càng nhỏ càng tốt. Áp miệng phích vào tai, nghe tiếng kêu o o đều đều. Ba em cẩn thận tháo đáy phích ra để xem núm thủy ngân còn nguyên vẹn hay không.
Mỗi sáng, mẹ em đổ nước cũ ra, tráng qua một lượt cho sạch cặn đọng trong lòng phích, rồi mới rót nước sôi vào và vặn nắp thật chặt. Vì biết cách sử dụng và giữ gìn cẩn thận nên chiếc phích nhà em sau mấy năm vẫn tốt. Ba em đóng chiếc thùng gỗ nhỏ, cao khoảng vài tấc để đựng phích. Ba còn dặn mọi người cẩn thận đặt phích xa tầm tay trẻ nhỏ để tránh nguy hiểm.
Cùng bao nhiêu đồ dùng khác, chiếc phích là vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi gia đình. | Thuyết minh về cái phích nước (bình thủy) | 404 | |
Đề bài: Thuyết minh về cái phích nước nhà em
Bài làm
Phích nước chính là đồ dùng quan trọng có nhiệm vụ là để giữ nhiệt cho nước nóng lâu hơn. Vì có chức năng này cho nên phích nước là vậy dụng quen thuộc và không thể thiếu được trong mỗi gia đình.
Hiện nay thì phích nước có rất nhiều loại, kiểu dáng mẫu mã cũng như được làm từ những vật liệu khác nhau. Có rất nhiều mẫu mã phích nước có được hình dáng, kích thước to nhỏ khác nhau. Tuy nhiên về cơ bản thì phích nước lại có chung những đặc điểm chúng là có hình trụ, nó cao khoảng 30 cho đến 40 cm. Với hình dáng này thì cũng giúp cho phích nước có thể đứng thẳng mà không bị đổ ra gây nguy hiểm cho người dùng.
Xét về mặt cấu tạo của chiếc phích nước thì nó cũng được làm theo nguyên lý chống sự truyền nhiệt của nước. Phích nước bao gồm hai bộ phận chính đó là ruột phích và vỏ phích, trong đó thì chiếc ruột phích được xem chính là bộ phận quan trọng nhất của cái phích. Ruột phích lại được làm bằng hai lớp thuỷ tinh còn phần ở giữa chính là một môi trường chân không để có thể làm mất khả năng truyền nhiệt của nước ra ngoài. Điều này cũng khiến cho phích nước giữ được nước nóng lâu hơn, còn ngay ở phần phía trong lòng và ngoài của ruột phích lại chính là một lớp thuỷ tinh được tráng bạc. Khi được tráng ánh bạc thì nó có tác dụng hắt nhiệt trở lại để giữ nhiệt càng lâu hơn. Để ý ta nhận thấy được cứ càng lên trên cao đầu phích, miệng cuat chiếc phích càng nhỏ và cũng đã lại để giảm khả năng truyền nhiệt của nước ra môi trường bên ngoài và để nước nóng lâu hơn. Còn để gắn với chiếc miệng nhỏ nhắn của chiếc phích đó cũng chính là cái nút có thể làm bằng gỗ hoặc bằng nhựa cứng khít với miệng phích để cản trở sự thoát hơi nước của phích. Đồng thời người tc cũng lấy nước và đổ nước nóng vào phích thông qua chính miệng của chiếc phích này.
Thuyết minh về cái phích nước nhà em
Nói riêng về đặc điểm cấu tạo của ruột phích có hiệu quả giữ nhiệt cho nước rất tốt. Người ta có thể được nước nóng trong vòng 6 tiếng đồng hồ mà nước khi đổ vào từ 100°c vẫn còn giữ được 70°c. Điều này cũng sẽ đảm bảo dùng nước được lâu và nước đủ nhiệt để pha chế trà, pha chế cà phê, mỳ tôm… thật tiện dụng. Lý do mà phích nước có thể nóng lâu như vậy đó chính là vì ruột phích được làm bằng hai lớp thuỷ tinh giữ nhiệt. Thế nhưng người dùng cũng phải bảo quản ruột phích cẩn thận không thì sẽ vỡ. Để khắc phục được điều này thì có vỏ phích, chiếc vỏ phích làm tấm bình phong để che chắn cho ruột phích. Chiếc vỏ phích có thể làm bằng tre, mây, sắt, nhôm còn khi xã hội ngày càng phát triển thì vỏ phích chuyển sang làm bằng nhựa cứng vừa nhẹ, đẹp và cũng khá bền, mẫu mã đẹp khiến người sử dụng vô cùng yêu thích. Trên thân phích có quai xách giúp mọi người xách phích sẽ dễ dàng hơn. Chính trên phần trên của chiếc nắp phích lại có nút của chiếc phích. Chiếc nút phích có các lớp ren xoáy chặt với miệng phích khiến cản trở hơi nước thoát ra.
Người dũng cũng để ý rằng khi rót nước xong phải đậy nút phích cẩn thận vì nước trong phích nóng sẽ dễ gây bỏng cho người dúng. Khi dùng thì người dùng chú ý nút phích bằng nhực phải xoáy chặt sao cho đúng gen, còn với nút phích làm bằng gỗ thì cũng nhớ phải đạy sao cho vừa khít nhất, không để hở để hơi nước không thoát ra ngoài được.
Minh Nguyệt | Thuyết minh về cái phích nước nhà em | 700 | |
Đề bài: Em hãy thuyết minh về cái phích nước
Bài làm
Trong gia đình có biết bao những đồ dụng cần thiết và một trong số đó không thể không kể đến chiếc hích nước là đồ dùng để giữ nhiệt cho nước nóng. Chiếc phích này thì cũng rất thông dụng và thường có trong mọi gia đình.
Phích nước trong mỗi gia đình hay sử dụng hiện nay thì cũng đa dạng về mẫu mã, kiểu dãng, màu sắc. Ta dường như có thể nhận thấy được cũng có rất nhiều loại được làm từ những vật liệu khác nhau, có cấu tạo và hình dáng khác nhau. Ta như thấy được về hình dáng phích nước thường có hình trụ, cao khoảng 35 – 40cm, giúp cho phích có thể đứng thắng mà không bị đổ ra trước hay sau.
Về cấu tạo của chiếc phích nước thông dụng. Đó chính là phích nước được làm theo nguyên lý chống sự truyền nhiệt của nước, và nó cũng đã được cấu tạo bao gồm hai bộ phận đó chính là Ruột phích và vỏ phích. Ruột phích được xem chính là bộ phận quan trọng nhất. Ruột phích đã được làm bằng hai lớp thuỷ tinh. Đặc biệt ở giữa là môi trường chân không để có thể làm mất khả năng truyền nhiệt của nước ra ngoài. Đặc biệt hơn đó chính là ở phía trong lòng và ngoài của ruột phích là lớp thuỷ tinh được tráng bạc có tác dụng hắt nhiệt trở lại để giữ nhiệt. Theo nguyên lý thì cứ càng lên trên cao đầu phích, miệng phích càng nhỏ lại để giảm khả năng truyền nhiệt của nước ra môi trường bên ngoài. Thế rồi ta như thấy đượ gắn với chiếc miệng nhỏ nhắn là cái nút có thể làm bằng gỗ hoặc bằng nhựa cứng luôn vừa khớp với miệng phích để có thể cản trở sự thoát hơi nước và sự đối lưu truyền nhiệt của nước.
Thông thường một ruột phích có hiệu quả giữ nhiệt cho nước rất tốt, trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Thế rồi ta như thấy được chính nước từ 100°c còn giữ được 70°c sẽ đảm bảo dùng nước được lâu và lúc này đây ta như thấy được nước sôi cũng sẽ đủ nhiệt để pha chế trà, cà phê… chính điều này dường như cũng đã tạo nên một nét đẹp văn hoá vừa mang tính chất cổ truyền của dân tộc vừa mang một phong cách hiện đại. Và phong cách này ta như lại còn gọi là nét văn hoá “cafe” đậm đà bản sắc dân tộc. Có lẽ chính là do vì ruột phích được làm bằng hai lớp thuỷ tinh nên rất dễ vỡ. Vì vậy ta như thấy được vỏ phích là lớp để bảo quản ruột phích như là một tấm bình phong, thực sự những vỏ phích ngày xưa có thể làm bằng tre, mây, sắt, nhôm… Ngày nay, ta cũng như thấy được nền công nghiệp nhựa phát triển, vỏ phích cũng được thay thế dần bằng nhựa cứng vừa nhẹ, đẹp lại vừa bền và tốt. Gắn trên vỏ phích được biết đến cũng chính là một chiếc quai bằng nhựa, sắt… tuỳ theo từng loại phích, mà ta như thấy được chính chiếc quai đó có thể quay đi quay lại một cách dễ dàng giúp chúng ta có thể xách di chuyển đi chỗ khác mà không phải bưng bê. Thế rồi không thể kể đến trên chiếc nút phích là nắp phích, nó có chức năng năng bảo vệ nút phích không cho trò em nghịch ngợm gây bỏng nước nóng. Nút phích cũng đã được băng các lớp ren xoáy chặt với miệng phích. Chiếc nắp phích dường như đó có thể lấy làm cốc đựng nước cũng được.
Điều quan trọng nhất nhất không được quên đó cũng chính là ta phải giữ gìn chiếc nút phích, vì nút phích để giữ khoảng chân không góp phần làm giảm khả năng truyền nhiệt của nước.
Thực sự chiếc phích nước là một đồ dùng rất tiện lợi cho cuộc sống hàng ngày trong mỗi gia đình. Nó đồng thời cũng giống như người bạn thân trong mỗi gia đình. Thế ròi ta như thấy được chính sáng sớm bác nông dân mang phích nước nóng ra đồng thông buổi pha ấm trà uống thật nóng rít điếu thuốc lào khi đã cày xong thửa ruộng thì sảng khoái biết bao.
Minh Nguyệt | Thuyết minh về cái phích nước | 760 | |
Đề bài: Thuyết minh về cái quạt
Bài làm
Cây quạt là vật dụng có từ rất lâu đời mà ông cha ta đã sáng tạo ra nó để quạt mát khi trời oi bức, ngoài ra cái quạt cũng còn được vận dụng để làm vật trang trí treo trong nhà, dùng để phục vụ cho các hoạt động văn hóa như múa…
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, vào mùa hè thời tiết nóng bức nên nhu cầu làm mát rất phổ biến, cái quạt ra đời để giúp mọi người xua tan phần nào nóng bức đó.
Quạt nói chung được chia thành 2 nhóm: Quạt bằng tay và Quạt máy.
Về quạt bằng tay có nhiều loại: Quạt nan (làm bằng nan cây tre), Quạt mo (làm bằng bẹ cây cau), Quạt giấy (làm bằng giấy), Quạt bằng tấm xốp (làm từ sản phẩm bìa, xốp)… Để làm một chiếc quạt nan theo kiểu truyến thống, chúng ta cần chuẩn bị nguyên liệu gồm 8-12 thanh tre vót mỏng, giấy, kéo, keo dán. Xếp các thanh tre lại, thanh nọ chồng lên thanh kia rồi dùi 1 lỗ xuyên qua đầu mút các thanh, cố định chúng bằng 1 cái trục sao cho chúng dễ dàng tách ra thành hình nan quạt và dễ dàng khi xếp lại. Sau đó tách các nan quạt ra, ướm 2 tờ giấy lên và cắt thành hình cung theo mong muốn, dùng keo dán 2 tờ giấy vừa cắt lên 2 mặt của các nan quạt sao cho các nan quạt được tách đều nhau. Vậy là chúng ta đã có 1 cái quạt đơn giản có thể mở ra gập vào.
Về Quạt máy (chạy bằng điện) cũng có nhiều loại: quạt để bàn, quạt treo tường, quạt trần, quạt thông gió, quạt không cánh, quạt hơi nước… Để có một chiếc quạt máy, tùy theo nhu cầu làm mát và túi tiền, chúng ta có thể ra siêu thị điện máy hoặc cửa hàng điện để mua 1 chiếc quạt điện với đủ chức năng theo mong muốn. Mang quạt về, chúng ta chỉ việc cắm điện vào, bật quạt lên để làm mát cho cả nhà.
Về tính tiện lợi, quạt bằng máy có thể làm mát mạnh hơn, và vì máy chạy nên chúng ta không cần quạt tay vẫn có gió mát, tha hồ nằm ngủ, ngồi chơi hay làm bất kỳ điều gì mà gió vẫn cứ thổi mát cho chúng ta suốt ngày, không biết mệt mỏi; hơn thế nữa, ta có thể hẹn giờ mở, hẹn giờ tắt cho quạt máy rất tiện dụng. Tuy nhiên, khi không có điện thì quạt máy không hoạt động được, khi đó quạt tay sẽ là cái hữu dụng nhất cho mọi người.
Từ ngàn xưa, trên các làng quê Việt Nam đã có nhiều nghệ nhân làm quạt. Nhiều nhất là ở vùng quê Bắc Bộ. Đã có nhiều làng nghề làm quạt phát triển gắn bó cùng với những thăng trầm của quê hương. Đặc biệt, quạt đã trở thành hình tượng văn hóa nghệ thuật và ăn sâu vào đời sống văn hóa con người Việt Nam qua các câu chuyện cổ tích, thơ ca, hò vè, chẳng hạn như chuyện Thằng Bờm là một ví dụ:
“Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú Ông xin đổi ba bò chín trâu”
Nhà thơ Vương Trọng có bài thơ “Gió từ tay mẹ” sáng tác năm 1974, đây là tác phẩm hay nhất về chiếc quạt nan, lời thơ có đoạn:
“Quạt nan như lá
Chớp chớp lay lay
Quạt nan mỏng dính
Quạt gió rất dày
Gió từ ngọn cây
Có khi còn nghỉ
Gió từ tay mẹ
Thổi suốt đêm ngày”.
Thật giản dị và cảm động! Có ai trong chúng ta không từng được mẹ quạt đưa vào giấc ngủ. Đúng là chiếc quạt “Nan- ti on- nan” của mẹ không có định giờ, không có chức năng khử độc, không bơm ô xy, không có màng lọc mạ vàng, không công nghệ nano-không có thương hiệu quốc tế, nhưng có tình mẹ bao la.
Ngày nay, em không có cơ hội được mẹ cầm cái quạt nan quát mát đêm ngày như trong thơ, nhưng em vẫn cảm nhận được rằng nếu không có quạt mát (hay máy lạnh) thì mẹ cũng sẽ dùng quạt mo hay quạt nan quạt cho em ngủ khi trời nóng. | Thuyết minh về cái quạt | 730 | |
Thuyết minh về cây bàng trường em
Hướng dẫn
Sau đây là những bài văn thuyết minh về cây bàng trường em được nhiều bạn viết rất hay và ấn tượng. Với mỗi người một ý nhưng lại diễn tả được nhiều vẻ đẹp và ý nghĩa khác nhau của cây bàng thân thuộc hàng ngày. Với những góc nhìn khác nhau và nhiều cảm nhận riêng biệt khác nhau, những tác giả ra cho ra đời những tác phẩm văn học thuyết minh về cây bàng trường em rất hay và ý nghĩa.
Thuyết minh về cây bàng trường em bài mẫu 1:
Tuổi thơ tôi gắn bó với cây bàng cổ thụ. Tôi nhớ những lần trốn nắng, trú mưa trong sự chở che hào phóng của tán bàng, những lần thưởng thức mùi vị ngọt chát hấp dẫn của quả bàng chín, những lần nhấm nháp vị bùi bùi khó tả của nhân quả bàng…
Hồi năm bảy tuổi cho đến khi đủ mười tám tuổi để nhập ngũ, dù đã đi ngược về xuôi, vào Nam ra Bắc, nhưng tôi chưa từng nhìn thấy một cây bàng nào từng trải và to lớn như cây bàng phố tôi. Thân nó to, phải hai, ba vòng tay người lớn mới ôm xuể. Còn tán nó rộng, che kín cả một cái sân lớn diện tích cả trăm mét vuông. Sinh thời bác tôi bảo: Cây bàng lớn này dễ thường đã sống cả trăm năm, đáng được gọi là cây bàng cổ thụ.
Tuổi thơ tôi gắn bó với cây bàng cổ thụ. Tôi nhớ những lần trốn nắng, trú mưa trong sự chở che hào phóng của tán bàng, những lần thưởng thức mùi vị ngọt chát hấp dẫn của quả bàng chín, những lần nhấm nháp vị bùi bùi khó tả của nhân quả bàng và nhớ cả những lần đi bắt ve, những lần chơi trốn tìm hớ hênh quanh gốc bàng. Tất cả cho tôi hình dung về một khái niệm bàng của riêng đám trẻ phố tôi.
Tôi thích nhất là vào tiết rét lộc vào cữ tháng 2 âm lịch, theo cách phân chia mùa đông của các cụ nhà ta: Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba cộc rét. Vào thời điểm ấy, những lộc bàng râm ran như thể đang mời mọc nhau, mời gọi nhau mọc, mời gọi nhau lớn cho kịp phủ kín cành vào đầu mùa hạ. có thể nói: Lá bàng (cũng giống như một số cây khác thuộc hộ nhà xoan) có biểu hiện rõ nhất về sự chuyển mùa, nếu như có một ai đó chịu khó quan sát sự phát triển và tàn lụi lẫn sự đổi thay màu lá của nó. Có lẽ vì thế mà từ bao đời nay, đám trẻ hay lưu luyến mấy câu trong lời một vầi bài hát: Mùa đông lá đỏ, mùa hạ lá xanh…như một điệp khúc chào đón mùa hè quay trở lại (sau này tôi mới biết đây là phần mở đầu trong ca từ một ca khúc của nhạc sĩ Hoàng Vân viết cho thiếu nhi vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước). Có một nhà thơ, trong khi nhìn ngắm mùa đông, nhìn ngắm màu đỏ của lá bàng mà đã viết được một bài thơ thật xúc động: Vẫn gió bấc căm căm/ Vãn mơ hồ mưa bụi/ Vẫn những lá bàng uốn cong mình mà cháy/ Đỏ như khi phải từ biệt bầu trời/ Anh chẳng biết thế nào để yêu em thêm nữa/ Khi mùa đông tới gần….
Nhưng đến năm tôi hai mươi ba tuổi thì cây bàng cổ thụ ấy không còn nữa. Vì lấy đất dành cho sự mưu sinh, người ta đã triệt hạ nó. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về đứng trên mảnh đất từng gắn bó với cây bàng cổ thụ mà lòng không khỏi xót xa, tiếc nuối. Trong lòng tôi tự dưng thấy trống trải thiếu thốn…
Bây giờ, cứ mỗi khi nhìn thấy lá bàng đỏ rực lên sau khi hoàn tất chức phận của mình, để mà rụng về gốc, trong buổi giao mùa, tôi lại nao nao nhớ cây bàng cổ thụ. Cũng phải, vì nó là một phần kỷ niệm không thể thiếu trong khoảng trời thơ ấu và đáng nhớ của chúng tôi.
Thuyết minh về cây bàng trường em bài mẫu 2:
Nhìn từ xa, cây bàng như một chiếc ô khổng lồ nhiều tầng xoè tán chùm bóng mát cả một khoảng sân trường rộng cho chúng tôi vui chơi giải trí sau mỗi giờ học căng thẳng. Lại gần cây bàng tròn, thẳng mầu nâu sẫm như dãi giầu qua nhiều năm tháng. Cây bàng là một loại cây rất nhậy cảm với sự thay đổi của bốn mùa. Nhìn lá bàng người ta có thể nhận biết chính xác các mùa trong năm.
Cứ thế, những chiếc lá bàng chuyển dần mầu sắc cho đến khi những cơn gió lạnh buốt từ phương Bắc tràn về thì cây bàng không còn một chiếc lá nào nữa. Còn lại những cành trơ trụi trông có vẻ khẳng khiu gông mình chịu đựng cái rét lạnh buốt của mùa đông nhưng trong những cành khẳng khiu ấy vẫn trần trề nhựa sống.
Rồi tiết trời như ấm lại, xuân đã về. Chỉ một tuần thôi thì những trồi non xanh li ti đã điểm hết những cành to, cành nhỏ. Thoáng cái đã thấy mầu xanh non bao phủ lấy toàn thân cây và chuyển dần sang mầu xanh đậm. Những chiếc lá của tầng thấp, tầng cao phát triển nhanh đến kì lạ. Từ bé bằng bàn tay trẻ nhỏ mà nay đã phè phè như cái quạt mo.
Cho đến khi mùa hạ về, lá vàng rợp mát cả một khoảng sân và đây là thời điểm mà tụi nhỏ chúng tôi tụm năm tụm bẩy vui đùa nhảy nhót hết sức thỏa mái vào những giờ chơi dưới gốc bàng mát rượi thân yêu này. Bàng còn là nơi gọi chim về tụ hội ca hát nhảy múa trong vòm lá. Càng tô điểm cho cây vẻ đẹp mĩ miều.
Tụi nhỏ chúng tôi yêu cây bàng này lắm bởi nó đã gắn bó với ngôi trường tôi. Nó còn là nơi chứng kiến bao kỉ niệm vui buồn của chúng tôi. Dù mai này có phải xa mái trường, xa cây bàng yêu dấu này thì hình ảnh về cây bàng mãi mãi in đâm trong tâm trí tôi.
Thuyết minh về cây bàng trường em bài mẫu 3:
Bạn bè tôi thích tả cây phượng vĩ rắn rỏi, với màu hoa đỏ rực rỡ, tả cây sấu già, tả cây dâu da.
Tôi chọn cây bàng ấy. Nhỏ, gầy guộc và cô đơn.
Mùa xuân, mầm lá nhú lên, rồi lớn dần, lớn dần. Hè đến, những chiếc lá to, xanh bóng, che được một khoảng sân. Một khoảng sân rất nhỏ. Mùa thu, lá chuyển vàng. Mùa đông, lá đỏ rồi lìa cành. Lá đến rồi lá đi. Chỉ còn cây bàng vẫn đứng đấy. Cô đơn và trơ trụi.
10 năm trước, tôi thêm mắm thêm muối vào bài văn tả cây bàng của mình. Đại ý, cây bàng ấy là nơi tôi và bạn bè thường hay chơi đùa quanh cây bàng, tán lá che rợp cả một góc sân, chúng tôi vẫn ngồi dưới gốc cây để truy bài trong những chiều hè nóng nực,…
Thật ra, chỉ có nó và tôi, tôi và nó trong những buổi chiều muộn ở lại trường chờ mẹ họp hội đồng.
Tôi đã nhìn thấy, ngắm nghía nhiều cây bàng. Cây bàng ở gần nhà tôi- cái cây tôi chứng kiến từ lúc nó còn là cây non, đến lúc nó cao bằng tôi, và bây giờ khi nó trở thành cây bàng to lớn với ba bốn tầng lá. Cây bàng ở trường đại học, rất gần với ô cửa sổ lớp tôi, thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn vẩn vơ ra ngoài cửa sổ, nhìn những tia nắng mùa thu lọt qua tán lá
Nhưng tôi nhớ cây bàng ở trường tiểu học. Cây bàng nhỏ bé, gầy guộc nơi cuối sân trường.
Đã rất lâu rồi, tôi không viết một bài văn miêu tả. Đã rất lâu rồi, tôi chưa trở về trường tiểu học.
Nó còn đấy không? Cây bàng cô đơn của tôi.
Cây Bàng Cuối Thu
Thu đi trên những cành bàng
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi
Hôm qua đã rụng một rồi
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn
Hôm nay lá thấy tôi buồn
Lìa cành theo gió lá luồn qua song
Hai tay ôm lá vào lòng
Than ôi chiếc lá cuối cùng là đây!
Quạnh hiu như tấm thân này
Lại âm thầm sống những ngày gió mưa…
Nguyễn Bính
Thuyết minh về cây bàng trường em bài mẫu 4:
Chắc hẳn mỗi người học trò nào cũng có những kỷ niệm về mái trướng, thầy cô và bè bạn, với tôi kỷ niệm ấy gắn với cây bàng ở sân trường có lẽ không bao giờ tôi quên được hình ảnh về cây bàng này. Từ xa nhìn lại, cây bàng như chiếc ô xanh kỳ lạ. Rễ cây nổi lên mặt đất như những con rồng đang uốn lượn. nhưng đệp nhất vẫn là lá bàng. những ngày cuối đông lá bàng chuyển từ màu lục già sang màu vàng rồi chuyển sang màu đỏ thật lộng lẫy, không sót một chiếc lá nào. Bây giờ, cây bàng nổi bật với những chiếc lá đỏ như đồng giữa bầu trời lạnh lẽo mùa đông khiến ta cảm thấy ấm áp. CHỉ cần một cơn gió nhẹ thoáng qua đã làm chiếc lá banngf rơi xuống.
Lúc ấy, trông những chiếc lá bàng thật giống những chiếc máy bay., rơi đột ngột từ trên cao xuống bị gió thổi làm cho lảo đảo, lảo đảo mấy vòng rồi cuối cùng đã hạ cánh xuống mặt đất. Những chiếc máy bay hạ cánh trồng lên nhau như một chiếc thảm rực rỡ khiến cho những cành bàng trở nên trơ trụi. Để rồi màu xuân đến, lộc non tràn đầy trên những cành khô khốc ngày nào.
Những lộc non ấy xanh biêc một màu xanh đến kỳ lạ, xanh tươi đẹp đến nỗi người vội vã đến mấy cũng phải dừng lại đôi chút để ngắm lá bàng. Vàa dường như trog mỗi cành lộc non như ẩn chứa cái gì đó vô cùng mạnh mẽ, một sức sống mãnh liệt, tràn đầy sức sống. Đến mùa hạ, lá bàng đã rắn rỏi hơn cả, chiếc lá to dần lên thật dày, xanh um mát rượi. Ánh sáng xuyên qua giờ chỉ còn làmàu ngọc bích.
Chính vì lẽ đó mà chúng em rất thích được ngồi dưới tán lá bàng đọc truyện, chơi nhảy dây, đá cầu… Mùa thu đến, hoa bàng đã nở rộ xinh xinh như những ngôi sao tí hon rồi dần trở thành những quả bàng vàng ươm, thơm lừng và ngọt lịm, nhân ăn bùi bùi như lạc.
Thời gian thấm thoát trôi qua cũng đã năm năm rồi, sắp phải xa mái trường tiểu học Cát Linh yêu dấu, sắp phải xa bạn bè xa cây bàng nhưng có lẽ suốt đời này em sẽ không bao giờ quên và mãi khắc ghi vào trong tim hình ảnh cây bàng với những kỉ niệm bạn bè của thuở nào.
Thuyết minh về cây bàng trường em bài mẫu 5:
Cây bàng trường tôi
‘‘ Mùa đông áo đỏ
Mùa hạ áo xanh
Cây bàng khi mở hội
Là chim đến vây quanh…’’
Lời hát ấy – bao giờ cũng ngân vang trong lòng tôi – mỗi lúc đến trường – nhìn lên cây bàng quen thuộc, thân thương. Cây bàng trường tôi, tuổi còn non trẻ lắm, thân vươn thẳng, xòe ba tán lá tròn xoe như những chiếc ô chồng lên nhau trông thật ngộ nghĩnh. Nó lớn nhanh – rất nhanh. Lần đầu tiên, trông thấy nó, nó chỉ mới một tầng lá xanh, mà nay đã lớn bổng lên, chồng thêm nhiều tán lá mới. Thật tuyệt vời!Mỗi mùa, cây bàng có một dáng vẻ riêng – đặc biệt – không thể trộn lẫn với bất kỳ loài cây nào.
Mùa hè, những chiếc lá trưởng thành xanh thẫm, đan nhau tỏa bóng rợp mát một góc sân. Những bông hoa nho nhỏ – đơn sơ – giản dị – khiêm tốn chen lẫn trong những tán lá xanh. Giờ chơi, gốc bàng là nơi lý tưởng nhất để các em học sinh quây quần trò chuyện. Dưới ánh nắng gay gắt mùa hè, bóng mát cây bàng mới tuyệt vời làm sao. Cây bàng như xòe muôn vàn cánh tay thân thiện che chở cho các em tránh nắng hè… Rồi đến ngày những cây phượng nở bừng sắc đỏ.
Sân trường lặng ngắt, vắng tiếng cười đùa, hò reo quen thuộc. Cây bàng như ủ rũ, như buồn nhớ. Nó đứng bơ vơ, lặng lẽ trong sân trường, trông cô độc làm sao!… Khi tiếng trống khai trường giục giã, một năm học mới bắt đầu. Cây bàng như khởi sắc, hân hoan.
Nó đong đưa những chiếc lá xanh thẫm, xen lẫn vài chiếc lá ươm vàng, tô điểm thêm những chiếc lá đã bắt đầu ngả sang đo đỏ. Nó như khoác chiếc áo mới – màu xanh lốm đốm vàng, đỏ, vẫy muôn nghìn cánh tay chào đón những dáng hình quen thuộc và, chen lẫn trong tán lá đầy màu sắc ấy, lấp ló những trái bàng, vàng mơ – ngòn ngọt – bùi bùi.. Rồi những cơn gió lạnh se se – mùa đông đến rồi. Cây bàng rực đỏ một màu. Rồi những chiếc lá đỏ ấy lần lượt xa cành. Khi chia tay với cây mẹ thân yêu, những chiếc lá kia có bồi hồi luyến tiếc? Riêng tôi, vẫn cứ thích ép những chiếc lá bàng đỏ ấy, mỗi chiếc mỗi sắc màu riêng. Cùng là màu đỏ, nhưng chiếc đỏ sậm, chiếc đỏ sâm sẫm, cái đỏ hồng tươi, cái đo đỏ chen lẫn vàng thẫm…
Quan sát sự thay đổi sắc màu dần dần của chúng mà thấy bùi ngùi khó tả. Rồi đến lúc thân cây trơ trụi, vươn những cánh tay khẳng khiu lên bầu trời xám xịt màu chì, mưa giăng mưa, gió đan gió, cây bàng trường tôi vẫn sừng sững giữa trời.. Rồi thật bất ngờ, cây bung những chồi xanh non biêng biếc, một màu xanh non tơ, tràn đầy sức sống – báo hiệu mùa xuân.
Tôi yêu thích nhất màu xanh nõn ấy. Nó cho tôi biết bao niềm tin yêu và hy vọng vào cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn mãi không ngừng – cho dù có gặp bao nỗi gian nan hay thất vọng. Ơi! Màu xanh cuộc sống. Sức sống ấy như trỗi dậy sau giấc ngủ dài mùa đông. Mùa xuân sân trường như sáng bừng lên bởi dáng vẻ tươi mới đầy sức sống ấy. Những chiếc lá mượt mà reo vui, chào đón một năm mới bắt đầu, tràn trề ước mơ, hy vọng…
TB:
1/. tả bao quát
Dáng cây cao to… cành đưa bốn phía tạo bóng mát rộng
cảm giác giống như là bác bảo vệ canh gác. ( bạn nêu một vài cảm xúc hay sử dụng những từ miêu tả có tính biểu cảm )
2/. tả chi tiết
Rễ: cắm sâu xuống đất tìm dưỡng chất -> tính cần cù, chăm chỉ chắt chiu dưỡng chất
Thân: xù xì, màu nâu ( như đất mẹ ) -> nhỏ chưa = vòng tay 2, 3 đứa trẻ nhưng cây vẫn đứng vững vàng chống chọi ới mưa bão -> Mạnh mẽ, kiên cường
Cành: chia nhiều nhánh
Lá: to hơn bàn tay của em… màu sậm, gân lá trồi lên -> dù to nhưng mảnh mai -> dáng vẻ dù bên ngoài mạnh mẽ nhưg bên trong rất yếu ớt cần che chở
+ hoa..
+ quả….
3/: kể về 1 kỉ niệm
vd: bị điểm kém, chạy xuống gốc cây ngồi khóc, cảm giác đc cây an ủi và bảo vệ
hay là trèo cây hái trái bàng té nhưng có cành bàng đỡ,cành bàng hy sinh để em đc lành lặn v..v..v
KB: Cảm nghĩ về cây bàng ( yêu, thương, quý,… )
gợi ý cho bạn nè: dù mọi ng` vẫn thường bảo Phương mới là cây gắn bó với tuổi thơ khi đi học nhưg đối với em thì Bàng mới chính là Cây-Học-Trò giữ biết bao kỉ niệm buồn vui lẫn lộn…
P/S: Mọi bài văn trên điều do sưu tập từ nhiều nguồn và nhiểu trang Web khác nhau nhưng quên tác giả và người viết, vậy nên mong xin lỗi nếu tác giả chưa cho phép đăng. Cuối cùng chúc những ai đọc được dòng này có một ngay may mắn và gặp nhiều niềm vui trong cuộc sống. | Thuyết minh về cây bàng trường em | 2,822 | |
Thuyết minh về cây bút bi (bút máy)
Hướng dẫn
Đề bài: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Hướng dẫn lập dàn ý thuyết minh về cây bút máy (bút bi)
1. Mở bài: Nêu khái quát vai trò của bút bi trong xã hội ngày nay (Bút máy là một dụng cụ học tập rất cần thiết cho người học sinh. Trong thời đại ngày nay, khi bút bi đang chiếm ưu thế thì bút máy vẫn được nhiều người sử dụng với ưu điểm mà bút bi không có được).
2. Thân bài:
* Cấu tạo:
+ Ngày xưa bút (bút tay) chỉ có ngòi cắm vào cán bút (cán này không thể đựng mực hoặc dẫn mực được). Người viết phải luôn cầm theo lọ mựa, viết đến đâu chấm vào mực đến đó.
+ Ngày nay bút có câu tạo phức tạp hơn có phần ruột chứa được nhiều hơn, người viết chỉ cần bơm đầy mực là có thể sử dụng cả ngày không cần phải xách theo bình mực rất bất tiện gọi là bút máy. Bút máy có cấu tạo gồm hai phần:
Vỏ viết: Được làm bằng nhựa (có khi bằng sắt …). Bên dưới là phần thân viết bao bọc bên ngoài để bảo quản cho ruột viết. Phần nắp đậy phía trên phần thân. (hai phần này có khi đồng bộ cùng màu hoặc có màu sắc tương phản, phần nắp thường có màu sáng nổi bật).
Ruột viết: Phần đầu để viết (tạo nét chữ) gồm có ngòi bằng kim loại. Có một lưỡi gà đỡ ngòi viết và điều hoà mực vừa đủ khi ngòi tạo chữ.
– Phần dưới gồm một ống dẫn mực nhỏ xíu bên trong có một đầu cắm vào lưỡi gà. Một ống nhựa mềm dẻo đựng mực nối vào phần giữa bao bọc ngòi và lưỡi gà ở phần trên.
-> Nhìn chung thì cấu tạo của cây viết rất đơn giản nhưng cũng rất tinh vi dần theo tháng năm.
* Các loại bút: Bút Hồng Hà, bút Hê-rô, bút Trung Quốc 307, bút Kim Tinh …
* Tác dụng, cách bảo quản:
– Bơm mực đầy ống nhựa bằng cách bóp mạnh rồi cấm phần đầu bút vào bình mực vào buông tay từ từ, mực bị hút vào ruột rất nhiều có thể sử dụng suốt buổi học rất tiện lợi. Không bị mực đổ vấy bẩn áo quần, tay chân, tập vở rất sạch sẽ.
– Phần ngòi bút là phần quan trọng cho nên khi mua bút, người sử dụng cần lựa chọn ngòi thật kĩ. An nhẹ mũi ngòixuống giấy để tạo chữ kiểm tra độ êm tay của ngòi.
– Cần giữ ngòi không bị tróc ra (gai) thì sẽ không thể viết được. Tránh mạnh tay để xuống bàn, ngòi đâm mạnh vào vật cứng tưa ra, đầu viết sẽ bị sốc, khó viết. Khi viết xong phải đậy nắp bút lại rồi mới đặt xuống bàn.
– Mực lọc không có cặn để không làm tắc ống dẫn mực. Khi sử dụng lâu lâu ta cần phải rửa bút bằng nước nóng, lau khô bơm mực sử dụng tiếp.
– Không vặn nắp bút quá chặt tay, nắp sẽ bể. Bỏ bút vào trong hộp dựng tránh rớt xuống đất dễ hư ngòi, bể vỏ.
KB: Bút rất thiết thực của mọi người dân đặc biệt là với học sinh. Quí trọng và giữ gìn bút kĩ hơn.
Bài làm thuyết minh về cây bút máy.
Suốt quãng đời cắp sách đến trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì tôi yêu quý nhất là cây bút bi, một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm!
Chiếc bút bi đầu tiên, được một nhà báo Hungary làm việc tại Anh tên Laszlo Biro giới thiệu vào năm 1938. điều khiến Ông nghĩ ra việc sáng chế ra loại bút này là vì những cây bút máy luôn gây cho Ông thất vọng, chúng thường xuyên làm rách, bẩn giấy tờ, phải bơm mực và hay hư hỏng… Vào ngày 15 tháng 6 năm 1938 ông Biro được nhận bằng sáng chế Anh quốc. Từ khi bút bi được ra đời nó đã được cải tiến nhiều để phù hợp với người dùng và đã trở nên thông dụng khắp thế giới. Tuy có khác nhau về kiểu dáng như chúng đều có cấu tạo chung giống nhau. Bút bi có ruột là một ống mực đặc, đầu ống được gắn với một viên bi nhỏ có đường kính khoảng từ 0,7 đến 1 milimet, được coi như là ngòi bút. Khi ta viết mực được in lên giấy là nhờ chuyển động lăn của viên bi này và loại mực dùng cho bút khô rất nhanh.
Con người thường ít nghĩ đến những gì quen thuộc, thân hữu bên mình. Họ cố công tính toán xem trung bình một đời người đi được bao nhiêu km hay một người có thể nhịn thở tối đa bao nhiêu phút nhưng chắc chưa có thống kê nào về số lượng bút họ dùng trong đời! Một cây bút cũng giống như cơ thể con người vậy, ruột bút là phần bên trong cơ thể, đầu bi chính là trái tim và mực chứa trong bút được ví như máu, giúp nuôi sống cơ thể. Còn vỏ bút giống như đầu, mình, tứ chi vậy… chúng phải cứng cáp thì bút mới bền, hoạt động tốt cũng như tạo cho người sử dụng cảm giác thoải mái. Màu sắc và hình dáng bên ngoài giống như quần áo, làm tăng thêm vẽ đẹp cho bút. Các chi tiết của bút dù quan trọng hay thứ yếu đều góp phần tạo nên một cây bút. Như một kiếp tằm rút ruột nhả tơ, âm thầm giúp ích cho đời để rồi khi cạn mực, chúng bị vứt bỏ một cách lạnh lùng. Mấy ai nhớ đến công lao của chúng!
Bước vào năm học mới, các nhà sản xuất bút bi như Bến Nghé, Đông Á, Thiên Long, Hán Sơn… đã lần lượt cho ra đời hàng loạt mẫu mã từ đơn giản cho đến cầu kỳ như bút bấm, bút xoay, bút hai màu, ba màu… đủ chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng như cầu người sử dụng. Các cậu nam sinh thì chỉ cần giắt bút lên túi áo đến trường nhưng nhiều bạn gái lại thích “trang điểm” cho bút các hình vẽ, hình dáng xinh xắn lên thân hay đầu bút còn được đính thêm con thú nhỏ ngộ nghĩnh… Thế là những chiếc bút bi lại theo chân trò nhỏ đến trường, giúp các cô, cậu lưu giữ những thông tin, kiến thức vô giá được thầy cô truyền đạt lại với cả tấm lòng!
Có cây bút vẻ ngoài mộc mạc, đơn giản song cũng có cây được mạ vàng sáng loáng. Nhìn bút, người ta biết được “đẳng cấp” của nhau, nhưng nhìn vào nét chữ người ta mới đoán được tính cách hay đánh giá được trình độ của nhau. “Một chiếc áo cà sa không làm nên ông thầy tu”, một cây bút tuy tốt, đắt tiền đến cỡ nào cũng chỉ là vật để trang trí nếu vào tay kẻ đầu rỗng mà thôi! Bút là vật vô tri, nên nó không tự làm nên những câu chữ có ý nghĩa nhưng nếu trong tay người chủ chuyên cần, hiếu học nó sẽ cho ra đời những bài văn hay, những trang viết đẹp. Để trở thành người chủ “tài hoa” của những cây bút, người học sinh cần rèn luyện cho mình thói quen vở sạch, chữ đẹp và luôn trau dồi kiến thức học tập… hãy biến chúng thành một người bạn thân thiết, một cánh tay đắc lực trong việc học tập bạn nhé!
Cùng với sách, vở… bút bi là dụng cụ học tập quan trọng của người học sinh, vì vậy chúng ta cần phải bảo quản bút cho tốt. dùng xong phải đậy nắp ngay để tránh bút rơi làm hư đầu bi, bộ phận quan trọng nhất của bút. Đặc biệt là luôn để bút ở tư thế nằm ngang giúp mực luôn lưu thông đều, không bị tắc. Một số loại bút bi có thể thay ruột khi hết mực và mình xin mách các bạn một mẹo nhỏ là nếu để bút bi lâu ngày không xài bị khô mực thì đừng vội vứt bỏ mà chỉ cần lấy ruột bút ngâm trong nước nóng độ 15 phút… cây bút của bạn có thể được phục hồi đấy!
Có thể nói rằng bút bi là một trong những phát minh quan trọng của con người. Ngày nay cứ 1 giây lại có 57 cây bút bi được bán ra trên thế giới, chứng tỏ tầm ảnh hưởng quan trọng của nó. Khoa học tiến bộ, nhiều công cụ ghi chép tinh vi hơn, chính xác hơn lần lượt xuất hiện nhưng bút bi vẫn được nhiều người sử dụng bởi nó rẻ và tiện lợi. Cầm cây bút bi trên tay, nắn nót từng chữ viết cho người thân yêu, chúng ta mới gửi gắm được trong đó bao nhỉ.
Bài làm thuyết minh về cây bút bi.
Bút bi là một dụng cụ học tập quen thuộc của mỗi một học sinh và nó sẽ luôn gắn bó với chúng ta suốt chặng đường tiếp thu học vấn cũng như công việc.
“Nét chữ là nết người” – câu thành ngữ ngắn gọn đã đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi người dânViệt Nam, nhắc nhở ta về học tập cũng như tầm quan trọng của nét chữ. Bởi học tập là một quá trình đầy khó khăn vất vả để xây dựng những nhân tài phục vụ cho tổ quốc ngày càng tuơi đẹp. Và trong quá trình gian nan đó, đóng góp một công lao không nhỏ chính là cây bút bi.
Bút bi được phát minh bởi nhà báo Hungari Lazo Biro vào những năm 1930. Sau thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, ông Biro phát hiện ra được một loại mực in giấy rất nhanh khô. Từ đó, ông đầu tư thời gian nghiên cứu và chế tạo ra một loại bút sử dụng loại mực như thế.
Bút bi được tạo thành từ 2 bộ phận chính là Vỏ bút và Ruột bút. Ở bộ phận thứ nhất là vỏ bút thường có chất liệu làm bằng nhựa (hay kim loại được phủ sơn) được sử dụng để bào vệ các thiết bị bên trong, đồng thời làm cho cây bút được đẹp và sang trọng hơn. Vỏ bút thường có dạng hình ống trụ tròn dài từ 14-20cm, trên thân bút thường được in tên nhà sản xuất và một vài thông số kỹ thuật (tùy loại bút).
Về chủng loại, bút bi có hàng nhập nước ngoài (hàng ngoại) và hàng sản xuất trong nước (hàng nội). Có người cho rằng “hàng ngoại nhập là tốt nhất” nhưng thực ra chưa phải là như thế. So về mặt giá cả của loại bút bình thường, bút bi nội có giá trung bình từ 1500 đồng đến 5000 đồng một cây, còn bút ngoại nhập có giá từ 5000 đồng đến 10000 đồng, thậm chí còn lên đến 15000 đồng một cây. Trong khi đó, so sánh về chất lượng, bút bi nội và bút bi ngoại đều có cùng dung tích mực, độ bền như nhau. Chính vì vậy, bút bi nội được các bạn học sinh ưa chuộng và sử dụng nhiều hơn.
Ở bộ phận thứ hai là ruột bút có vai trò quan trọng trong số các bộ phận của cây bút vì nó có chứa mực (mực xanh, mực đỏ, mực đen,…), có tác dụng giữ mực để đẩy mực ra ngoài khi chúng ta viết.
Trong ruột bút, ở phần đầu có một viên bi nhỏ (lăn tròn khi chúng ta viết) để làm điều hòa lượng mực có trong bút. Ruột bút thường được làm từ nhựa dẻo, rỗng để chứa mực đặc hoặc mực nước.
Đặc biệt, để làm nên cây bút bi thì không thể thiếu bộ phận đi kèm như: lò xo, nút bấm, nắp đậy, trên ngoài vỏ có đai để gắn vào túi áo, vở, tạo sự thuận lợi cho người dùng.
Cách sử dụng bút bi thì rất đơn giản. Chúng ta chỉ cần vặn nhẹ, hoặc ấn nút hoặc rút nắp bút lên. Sau đó thì dặt bút xuống để viết, khi viết xong, chúng ta cần đậy nắp bút lại cẩn thận, tránh làm rớt bút.
Cây bút bi là đồ vật không thể thiếu đối với người học sinh, nó vừa tiện lợi mà cũng rất thông dụng lại hiệu quả cao cho mọi công việc. Không chỉ học sinh mà những người làm văn phòng, làm kinh doanh cũng cần đến, bởi họ luôn phải ghi chép hay kí những hợp đồng hay những công trình nhận thi công.
Bút bi có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc. Đối với bản thân em, bút bi là dụng cụ học tập quan trọng, giúp em viết nên những nét chữ xinh xắn, tròn đẹp, viết nhanh và vẽ nên những gì em thích. Em không thể thiếu bút bi mỗi ngày đến lớp, vì vậy em rất yêu quý và gìn giữ bút bi mỗi ngày | Thuyết minh về cây bút bi (bút máy) | 2,267 | |
Thuyết minh về cây bút bi
Hướng dẫn
Thuyết minh về cây bút bi
Bài làm
Đối với mỗi chúng ta, bút bi có lẽ là một vật dụng quen thuộc, phổ biến nhất. Ai ai cũng phải dùng đến chiếc bút bi, từ người già đến trẻ nhỏ, từ học sinh đến người đi làm, bút bi luôn là vật dụng hữu ích, theo bước chúng ta trong học tập, công việc cũng như cuộc sống.
Từ nhỏ đi học, chúng ta đã được dạy cách dùng bút bi sao cho đúng nhất. Trừ những em nhỏ học cấp một, đang còn phải luyện chữ sao cho đẹp, ngay ngắn bằng bút máy, thì khi bắt đầu lên cấp hai, các thầy cô đã dạy cho học sinh các dùng bút bi. “ Nét chữ là nết người”, viết chữ đẹp đã khó, làm quen và viết đẹp bằng bút bi lại càng khó hơn, do đang quen dùng bút máy. Nhưng khi đã viết quen rồi, chiếc bút bi lại trở thành vật dụng không thể thiếu, gắn bó với mỗi người trong suốt quá trình học tập, lao động gian nan, vất vả.
Nói về bút bi, không phải ai cũng biết nguồn gốc ra đời của nó. Bút bi được một nhà báo người Hungari tên Lazo Biro phát minh ra vào khoảng những năm 1930. Ông nghiên cứu loại bút mực nhanh khô, để dùng trong viết báo, tranh làm bẩn giấy tờ. Và chiếc bút bi ra đời từ đó. Ông đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1938 với phát minh chiếc bút bi của mình.
Kể từ đó, bút bi hiện diện ở khắp mọi nơi trong cuộc sống. Nhờ sự tiện lợi, giá thành lại rẻ của nó, ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu một chiếc bút bi với muôn hình vạn trạng, từ lớp học, văn phòng, nhà ga, trong túi xách, xe hơi…Bất cứ nơi nào, chỉ cần người ta có nhu cầu, bút bi sẽ xuất hiện ở đó như một sản phẩm tất yếu.
Do sự phát triển của thị trường, bút bi được cải tiến với rất nhiều thiết kế, hình dáng, màu sắc khác nhau. Các em học sinh thì có những chiếc bút với đầy đủ màu sắc, hình thù ngộ nghĩnh, đem lại cảm hứng cho các em khi học tập. Còn với những người đi làm, bút bi lại được thiết kế với kiểu dáng đơn giản, tinh tế hơn, phù hợp với mục đích sử dụng.
Không chỉ thế, bút bi còn được sử dụng với nhiều mục đích khác, như để quảng cáo cho thương hiệu, người ta sẽ in hình, logo của thương hiệu trên thân bút bi rồi đem tặng, như một hình thức gửi gắm thông điệp cho người dùng. Rồi bút bi không chỉ để viết, mà nay còn được dùng để vẽ nên những tác phẩm nghệ thuật, làm đẹp cho đời.
Qua những gì đã nói đến, có thể thấy bút bi thật sự là một phát minh, một ý tưởng hết sức hữu ích đối với con người. Ngày nay, người ta đã thống kê được rằng, cứ mỗi một tích tắc trôi qua, lại có hàng chục, hàng trăm chiếc bút bi được bán ra trên thế giới. Từ đó có thể thấy được tầm quan trọng của bút bi, chúng ta cần phải gìn giữ, sử dụng sao cho đúng mục đích, để bút bi có thể phát huy được hết những công dụng của nó. | Thuyết minh về cây bút bi | 589 | |
Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Hướng dẫn
Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Bài mẫu 1: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Khoa học kĩ thuật phát triển, một nhà báo người Hungari đã chế tạo ra cây bút mực Lazso Biro năm 1930. Cùng với anh của mình, ông lắp vào đầu bút một viên bi nhỏ, có thể xoay tự do trong một cái hốc. Khi di chuyển đầu bút trên giấy, viên bi đó xoay tròn, và kéo mực xuống in trên giấy.
Bài làm
Cha ông ta có câu “Nét chữ nết người”. Nhìn vào nét chữ, người ta có thể đánh giá chính xác phần nào tính cách của người viết. Vì vậy, nhiều người rất quan tâm đến nét chữ của mình. Đồng hành cùng con người là đồ vật nhỏ bé mà kỳ diệu không thể không nhắc tới là những cây bút. Gần gũi quen thuộc nhất là cây bút bi.
Chữ viết ra đời đánh dấu bước tiến hóa quan trọng của nhân loại. Ngay từ những năm bắt đầu việc học, con người đã biết sử dụng các công cụ để có thể viết chữ. Thô sơ nhất là lông vịt, lông ngỗng chấm vào mực được bào chế từ các loại lá, quả, hoa có màu sắc giã nát ra. Khoa học kĩ thuật phát triển, một nhà báo người Hungari đã chế tạo ra cây bút mực Lazso Biro năm 1930. Cùng với anh của mình, ông lắp vào đầu bút một viên bi nhỏ, có thể xoay tự do trong một cái hốc. Khi di chuyển đầu bút trên giấy, viên bi đó xoay tròn, và kéo mực xuống in trên giấy. Qua nhiều thời đại, những năm gần đây người ta mới phát minh ra chiếc bút bi vừa nhỏ gọn, nhẹ và rẻ tiền, thuận lợi mang theo hơn.
Về cấu tạo chung, mỗi chiếc bút bi đều có hai bộ phận chính là vỏ bút và ruột bút. Vỏ bút có thể được làm bằng chất liệu nhựa phổ biến, hoặc một số loại bút được nhà sản xuất làm bằng kim loại nhẹ. Vỏ bút được thiết kế theo hình trụ, tròn và dài từ 10-15 cm. Trên vỏ bút có thể trang trí nhiều họa tiết hoặc dán tên nhà sản xuất, số lô sản xuất và màu sắc của chiếc bút. Bên trong vỏ là ruột bút, chứa một ống mực đặc, khi viết, mực được in lên giấy là nhờ chuyển động lăn của một viên bi nhỏ ở phía ngòi bút, đường kính khoảng từ 0,5 đến 1. 2 mm. Có loại bút được thiết kế kiểu nắp đậy. Dùng xong thì đậy nắp lại để mực không bị khô và tắc nếu rơi xuống đất. Có loại bút lại được thiết kế với phần vỏ có cái núm bấm lên xuống, nhờ lực của lò xo lắp vào ngòi bút. Khi cần dùng, bấm ngòi bút sẽ lộ ra khi không viết nữa thì bấm thêm lần nữa, ngòi bút lại thụt vào, rất đơn giản, thuận tiện.
Trên thị trường hiện nay, bút bi được sản xuất đa dạng về chủng loại, mẫu mã, màu sắc. Có loại bút bi đậy nắp, có loại bấm, có loại xoay thân bút, có loại trượt,… tùy vào nhu cầu và kinh tế mỗi người. Có loại nhập ở nước ngoài về. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều thương hiệu bút bi uy tín chất lượng như Thiên Long, Bến Nghé. Giá một cây bút bi khá rẻ, chỉ từ 1500 đồng trở nên một cây. Một số loại bút trang trí hoặc để làm quà tặng thì giá sẽ cao hơn tùy thuộc vào chất liệu và mục đích người sử dụng.
Bút bi đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Nó là cánh tay đắc lực cho học tập, viết lách. Bút bi đồng hành cùng bao lớp học sinh, bao nhà thơ nhà văn, nhà báo. Người ta còn có thể vẽ được bức tranh đẹp hay xăm hình nghệ thuật bằng bút bi. Lợi dụng màu sắc đa dạng của bút bí, những cô cậu học trò tài năng đã khéo léo trang trí trang vở của mình, khiến cho bài học thêm sinh động, dễ nhớ. Bút bi còn mang giá trị đặc biệt khi được dùng làm quà tặng. Món quà ấy như một lời chúc chân thành mong người nhận sẽ thành công. Công nghệ thông tin, thiết bị điện tử phát triển như vũ bão. Song, bất cứ ai khi ra ngoài vẫn không quên mang theo bên mình chiếc bút bi nhỏ nhắn để trong túi sách, hoặc kẹp ngay trên túi áo của mình. Đơn giản để ghi chú nhanh chóng, hay ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ. Bút bi đóng vai trò quan trọng với việc giữ gìn chữ viết của cả nhân loại. Nó là thứ để con người ghi nhớ cách viết ngôn ngữ của dân tộc mình.
Bút bi phong phú, nhiều công dụng như vậy nên chúng ta cần biết cách chọn lựa và sử dụng nó. Hãy chọn cho mình một chiếc bút phù hợp với việc làm và túi tiền của mình. Sau khi sử dụng, cần có ý thức cẩn thận bảo quản để tiếp tục sử dụng.
Trong cuộc sống, bao thế hệ qua đi, cây bút bi vẫn là ngươi bạn đồng hành không thể vắng bóng của con người. Nó gần gũi, thân thuộc với mỗi cá nhân. Bút bi xâm nhập vào cuộc sống hiện đại và phát huy thế mạnh của nó, cùng con người xây dựng những giá trị sống mới.
Bài mẫu 2: Văn mẫu thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Ở dạng nguyên chất, vàng không đáp ứng được những tiêu chuẩn đàn hồi nên dùng vàng pha là tốt nhất. Loại vàng hay được sử dụng để chế tạo ngòi bút là vàng mười bốn nghìn và vàng mười tám.
Bài làm
Từ thuở xa xưa, Khi sáng tạo ra được những ký tự, con người đã luôn khao khát lưu lại bằng văn bản những cuộc phiêu lưu như là một bằng chứng thể hiện khả năng chinh phục thiên nhiên, cuộc sống để lại cho thế hệ sau. Để làm được điều đó, người ta cần hai thứ: dụng cụ để viết và vật để lưu những ký tự đó.
Người Xume là những người đầu tiên ghi lại lịch sử trên những phiến đất sét. Cách thức này được gọi là “chữ hình nêm” (tức chữ Ba Tư cổ), có từ khỏang 3.000 năm trước. Bút và giấy đầu tiên được ra đời trong nền văn minh Ai Cập cổ. Những người chép sử đã sử dụng cây sậy với đuôi được nhai nát để chấm lên chất màu. Sau đó, họ vẽ những chữ tượng hình lên tường hoặc giấy cói. Dần dần, cùng với sự phát triển của chất màu, những cây sậy được “lên đời” thành dụng cụ sắc nhọn với đường rãnh ở cuối, dọn đường cho việc ra đời bút lông chim.
Đến giữa thế kỷ 19, kim loại được sử dụng để chế tạo đầu bút vì dễ làm được chuẩn xác mà lại bền. Thế nhưng, người viết vẫn phải chấm bút vào lọ mực nên mỗi khi di chuyển thì rất phiền phức.
Năm 1884, anh nhân viên môi giới bảo hiểm Lewis Waterman phát chán với những bất tiện trên đã tiến hành một cuộc cách mạng trong thế giới bút. Waterman phát hiện ra rằng lực hút mao dẫn có mối liên hệ động lực với áp suất khí quyển. Waterman tạo ra hai hoặc ba rãnh để không khí và mực đồng thời vận động. Không khí sẽ thế chỗ của phần mực đã sử dụng. Và cuộc cách mạng bắt đầu.
Bút máy gồm có ba phần nắp bút được làm bằng nhôm, có khi được mạ đồng. Thân bút có thể chia thành ba phần: bình mực dự trữ, ống dẫn và ngòi bút. Trong đa số bút máy hiện đại, phần này dự trữ mực theo hai cách. Một cách đơn giản là đổ mực vào bình. Cách thứ hai sử dụng hệ thống pistol. Ống dẫn đưa mực xuống ngòi bút bằng một loạt các rãnh.
Bút máy tạo nên những nét đậm nhạt khác nhau tùy thuộc vào lực tay người viết, góc độ của bút với mặt giấy và độ quay của đầu ngòi bút. Hiệu quả là những nét tao nhã được tạo nên và hình thành cả nghệ thuật viết chữ đẹp.
Những kim loại quý đóng vai trò quan trọng trong việc chế tạo ngòi bút, giúp ngòi bút có độ bền và viết đẹp hơn. Thường thì người ta dùng ngòi bút bằng thép không rỉ hoặc mạ vàng. Ở dạng nguyên chất, vàng không đáp ứng được những tiêu chuẩn đàn hồi nên dùng vàng pha là tốt nhất. Loại vàng hay được sử dụng để chế tạo ngòi bút là vàng mười bốn nghìn và vàng mười tám.
Đầu ngòi bút không thể làm bằng vàng vì sẽ nhanh mòn trong thời gian ngắn. người ta chọn một chất liệu rắn, thường là Iridium hoặc Rhodium. Nhờ đó, người dùng có thể viết cả đời mà đầu bút vẫn nguyên vẹn. Thân bút thường làm bằng những chất liệu bền để nâng tuổi thọ cho cây bút. Những cây bút máy đời đầu có vỏ bằng cao su đã qua xử lý lưu huỳnh rất chắc chắn.
Ngày nay, các nhà sản xuất sử dụng những chất liệu hiện đại hơn. Ở Italia, người ta dùng Celluloid cho những cây bút đắt tiền. Loại chất liệu này có khả năng chống va đập rất tốt và có thể tạo nên vẻ tao nhã, lịch lãm. Những cây bút làm bằng celluloid lúc mới dùng có mùi long não do có chất này trong quá trình nitơ hóa celluloid. Axetat hay nhựa tổng hợp cũng là các chất liệu quen thuộc đáp ứng được yêu cầu về độ bền.
Loại bút vừa túi tiền thường có thân được làm bằng đồng thau phủ sơn, giúp cây bút có độ thăng bằng tốt và có dáng vẻ bắt mắt. Những chất liệu hiện đại giúp tạo nên nhiều màu sắc cho cây bút hơn. Còn với những cây bút cao cấp, thân bút thường được làm bằng bạc, bạc mạ vàng, vàng hoặc thậm chí cả bạch kim.
Ngày nay đã xuất hiện nhiều loại bút máy của các hãng nổi tiếng. Những cây bút đẹp của hãng Paker. Những nét bút lướt nhẹ nhàng trên giấy tập của hãng Pilot và nhiều hãng khác. Giá thành những cây bút cao cấp này không dưới 100$ một cây. Những cây bút làm bằng vàng hoặc mạ vàng, giá thành không dưới 1000$.
Bút không có thuộc tính chọn chủ như những cây đũa phép trong truyện Hary Potter. Con người chọn nó tùy vào túi tiền, cá tính của họ. Có cây giá bình dân 15.000đ đến 20.000đ… loại được ưa chuộng nhất trên thị trường, cũng có cây lên cả bạc triệu.
Nhìn bút, con người biết được “đẳng cấp” của nhau, nhìn vào nét chữ họ đoán tính cách, đánh giá những gì thành chữ họ rõ trình độ của nhau.
Một cái áo cà sa không làm nên ông thầy tu, một cây bút tốt, đắt đến cỡ nào cũng chỉ là vật để trang trí nếu vào tay kẻ đầu rỗng.
Ngày nay, nhiều loại bút bi đa dạng nhiều kiểu dáng và giá thành rẻ đã ra đời và chiếm lĩng thị trường văn phòng phẩm; đã xuất hiện nhữhng cây bút điện tử thông minh. Liệu cây bút máy còn tồn tại được bao nhiêu lâu nữa?
Nhưng, dù bút hiện đại có đa dạng cỡ nào cũng không thể thay thế được bút máy bởi những nét chữ thanh đậm sống động, có hồn đòi hỏi con người phải gai công rèn luyện. Cây bút máy dù bị thu hẹp thị trường nhưng giá trị của nó vẫn không thể nào thay đổi với thời gian.
“Dù cho sống thác ai ơi
Bút ta vẫn sống trọn đời tươi vui”
Bài mẫu 3: Bài văn mẫu thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Cây bút máy thường có chiều dài khoảng hơn 10 cm, đường kính khoảng 1 cm. Bút máy có hai phần chính: bên ngoài và bên trong, vỏ bút gồm nắp và thân. Nắp bút có thể được làm bằng nhựa hoặc được làm bằng kim loại (nhôm, sắt mạ bạc, mạ vàng)
Bài làm
Trong đời mỗi học sinh, chúng ta đã sử dụng rất nhiều loại bút như bút bi, bút chì, bút xóa, nhưng cây bút làm em ấn tượng và khó quên nhất đó là cây bút máy, cây bút đã giúp em viết lên những nét chữ đầu tiên của đời mình.
Nhiều nguồn tài liệu đã chỉ ra rằng cây bút máy có nguồn gốc từ châu Âu, được đưa vào nước ta từ đầu thế kỉ XX, nhưng phải đến giữa thế kỉ nó mới trở thành vật dụng quen thuộc và phổ biến.
Cây bút máy thường có chiều dài khoảng hơn 10 cm, đường kính khoảng 1 cm. Bút máy có hai phần chính: bên ngoài và bên trong, vỏ bút gồm nắp và thân. Nắp bút có thể được làm bằng nhựa hoặc được làm bằng kim loại (nhôm, sắt mạ bạc, mạ vàng), có cái để gài vào túi áo hoặc sách vở. Thân bút hình trụ rỗng, thon dần về phía đuôi, vỏ bút có nhiệm vụ bảo vệ cho các bộ phận bên trong.
Chúng ta chỉ việc cho ngòi bút vào bình mực sau đó cuốn phần bầu mực lại rồi thả tay ra, mực sẽ được bơm lên đầy bầu mực. Sau khi bơm xong chúng ta cần cho đầu bút vào phần thân bút, xoay từ từ cho gắn chặt vào nhau là có thể sử dụng được.
Để giữ gìn và bảo quản bút khi viết xong, nên lấy giấy mềm hoặc miếng giẻ ẩm, lau kĩ ngòi bút cho mực không đóng cặn. Thường xuyên vệ sinh bút bằng cách tháo rời các bộ phận ra cho vào nước lã; rửa và thông thật sạch rồi lau khô, lắp lại như cũ. Với những người biết giữ gìn và bảo quản tốt, bút máy có thể sử dụng được trong một thời gian rất dài. Khi sử dụng không được để ngòi bút đâm vào vật cứng vì nó sẽ hỏng ngòi, không viết được.
Cây bút máy có nhiều điểm hạn chế so với bút bi, nhưng bút máy viết chữ rất đẹp, chữ không bị mất nét, vì vậy hiện nay nhiều người vẫn yêu thích dùng bút máy. Chiếc bút máy đã trở thành người bạn không thể thiếu của em, em sẽ giữ gìn bút thật cẩn thận và học tập thật tốt để xứng đáng với lợi ích mà cây bút mang lại cho em.
Bài mẫu 4: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Sử dụng bút tuy là đơn giản nhưng chúng ta cũng nên biết cách bảo quản bút sao cho bút có thể sử dụng được lâu và bền hơn như: sau khi sử dụng bút xong thì nên bấm đầu bút thụt lại để không bị rớt xuống đất, khô mực hoặc va chạm vào các vật cứng sẽ dễ làm vỡ vỏ bút hoặc làm bể đầu bi.
Bài làm
Trong cuộc sống hiện đại hiện nay, việc sử dụng các loại viết để học tập và làm việc là không thể thiếu nhưng để lựa chọn loại viết phù hợp với thời đại công nghệ thông tin sao cho vừa nhanh, tiện lợi và ít tốn kém cũng là điều vô cùng quan trọng và sự ra đời của bút bi đáp ứng nhu cầu đó.
Từ những năm bắt đầu việc học người ta đã biết sử dụng các công cụ để có thể viết chữ. Thô sơ nhất là sử dụng lông vịt, lông ngỗng chấm vào mực, mực được bào chế từ các loại lá, quả, hoa có màu sắc giã nát ra. Nhưng đó là trong những năm còn lạc hậu việc sử dụng viết lông ngỗng để viết rất bất tiện vì lúc nào cũng phải mang theo lọ mực, sử dụng xong lại phải lau sạch và việc cứ phải liên tục chấm đầu lông ngỗng vào mực cũng rất mất thời gian và sau đó một nhà báo người Hungari đã chế tạo ra cây viết mực Lazso Biro. Việc sử dụng bút mực để rèn chữ là một điều rất tốt vì nét chữ sẽ đẹp song giá thành một cây bút máy khá đắt, nặng và khi viết khá chậm. Cho đến những năm gần đây người ta mới phát minh ra bút bi. Nó vừa đáp ứng nhu cầu rẻ, tiện lợi và nhẹ nữa phù hợp với nhiều đối tượng, nhất là học sinh, sinh viên.
Cấu tạo bên trong của bút cũng khá là đơn giản: vỏ bút được làm bằng nhựa hoặc bằng các kim loại dẻo trong suốt. Bên trong là ruột bút, ống dẫn mực, ngòi bút, lò xo. Ngòi bút có đường kính từ 0,25mm đến 0,7mm tùy theo nhu cầu của người sử dụng. Còn về việc sử dụng bút cũng khá là dễ dàng, khi cần thiết chỉ cần ấn vào đầu bút ngòi bút sẽ tự động lộ ra để chúng ta có thể sử dụng. Khi không sử dụng nữa ta chỉ cần ấn lại đầu bút, ngòi bút sẽ tự động thụt lại, lúc đó bạn có thể mang bút đi khắp mọi nơi mà vẫn yên tâm tránh được các tác nhân bên ngoài va chạm vào ngòi bút.
Hiện nay người ta còn tìm ra cách để chế tạo những bút lạ hơn như bút nhũ, bút nước, bút dạ quang… phù hợp với người tiêu dùng, vừa phù hợp với túi tiền vừa có thể theo học sinh đến trường, theo các nhân viên văn phòng đến cơ quan,… Ngoài ra còn có các phát minh về một số loại viết có thể viết được dưới nước, ở những nơi có áp suất khí quyển thấp. Nói gì thì nói, ta cũng không thể phủ nhận những khuyết điểm còn có ở bút bi là rất khó rèn chữ vì ngòi bút nhỏ, trơn và rất cứng không phù hợp với những học sinh cấp Một đang luyện chữ vì khi nào nét chữ đã cứng và đẹp ta hãy sử dụng, ngoài ra bút còn rất dễ bị tắc nghẽn mực trong khi sử dụng có thể là do lỗi của các nhà sản xuất hoặc cũng có thể do chúng ta làm rơi viết xuống đất và làm ngòi bút va chạm vào các vật cứng.
Do vậy, sử dụng bút tuy là đơn giản nhưng chúng ta cũng nên biết cách bảo quản bút sao cho bút có thể sử dụng được lâu và bền hơn như: sau khi sử dụng bút xong thì nên bấm đầu bút thụt lại để không bị rớt xuống đất, khô mực hoặc va chạm vào các vật cứng sẽ dễ làm vỡ vỏ bút hoặc làm bể đầu bi.
Một đặc điểm nhỏ mà ít ai nghĩ đến là có thể biến những cây bút bi thành những món quà nhỏ, xinh xắn, dễ thương và vô cùng ý nghĩa để làm món quà tặng người thân, bạn bè, thầy cô. Bút còn là người bạn đồng hành với những anh chiến sĩ ngoài mặt trận, để các anh có thể viết nhật kí, viết thư về cho gia đình. Viết xong, các anh có thể giắt cây bút vào túi áo không sợ rơi mất, khi cần thiết có thể lấy ra dễ dàng và sử dụng ngay.
Bài mẫu 5: Bài mẫu thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi
Ngày nay, trong thời đại truyền thông phát triển, bút bi còn trở thành một phương tiện… quảng cáo hữu hiệu. Bút bi thường được tặng miễn phí như một dạng quảng cáo – tên công ti, sản phẩm được in trên thân bút. Những năm gần đây, bút bi cũng trở thành phương tiện sáng tác nghệ thuật. Người ta có thể dùng bút bi để vẽ những bức tranh ấn tượng.
Bài làm
Đồ dùng nào là vật không thể thiếu đối với người học sinh khi đến trường? Sách, vở, cặp hay thước…? Có thể sẽ có rất nhiều đáp án nhưng chắc chắn ràng nếu không có cây bút thì chúng ta không thể ghi lại bài học trên lớp. Và trong thời đại ngày nay, cây bút bi là một đồ dùng học tập vô cùng quan trọng.
Có rất nhiều loại bút như bút chì, bút mực. Nhưng khi bút bi ra đời, nó liền tạo nên một cuộc cách mạng rộng khắp và ngày nay bút bi đã khẳng định mình là công cụ dùng để viết phổ biến nhất.
Người đầu tiên trên thế giới xin cấp bằng sáng chế bút bi là một người Mĩ vào năm 1888. Nhưng lúc ấy, bút bi vẫn chưa được chú ý lắm. Năm 1938, László Biró – một biên tập viên người Hungary – để giảm thiểu những hạn chế của bút mực như tốn thời gian tiếp mực, mực lâu khô, đầu bút quá nhọn, hay làm lem bẩn giấy tờ,… đã tạo ra loại bút bi sử dụng mực in báo khô rất nhanh. Loại bút này có chứa một ống mực đặc, mực được viết lên giấy nhờ chuyển động lăn của viên bi nhỏ gắn nơi đầu ống chứa mực. Biró được nhận bằng sáng chế lần lượt tại Anh rồi Argentina. Năm 1945, nhờ sự hợp tác của nhiều nhà sản xuất mà cây bút bi được thay đổi, cải tiến về kiểu dáng và bán tại thị trường Hoa Kỳ. Theo thời gian, cây bút bi dần chiếm lĩnh thị trường bút châu Âu rồi toàn thế giới. Kể từ năm 1990, ngày tháng 9, ngày sinh nhật của Biró – cha đẻ cây bút bi – đã được chọn là ngày của những nhà phát minh tại Argentina.
Chiếc bút bi ngày nay dù khác nhau về hình dáng song về cấu tạo cơ bản vẫn giống nhau. Nó bao gồm một ống mực đặc, một đầu có gắn một viên bi nhỏ với đường kính khoảng từ 0,7 đến 1 mm. Loại mực dùng cho bút bi khô rất nhanh, thường là ngay sau khi được viết lên giấy. Theo thời gian, người ta cũng chế tạo ra nhiều loại màu mực khác nhau: màu đen, màu xanh, màu đỏ,… Bao ngoài ống mực – hay còn gọi là ruột bút – là một vỏ bút. Vỏ bút có rất nhiều hình dáng, màu sắc đa dạng khác nhau. Chúng thường được trang trí rất ấn tượng để tạo sự hấp dẫn đối với người sử dụng. Bút bi có thể sử dụng nắp để đậy đầu bi tránh làm khô mực, hỏng bút hoặc dùng đầu bấm để đầu bi rụt vào bên trong vỏ bút. Loại phổ biến nhất hiện nay là bút bi bấm. Để đưa đầu bi vào trong cần phải có lò xo để kéo vào. Việc điều khiển đầu bi có thể dùng nhiều cách khác nhau như dùng nút bấm ở đầu, xoay thân bút, hoặc trượt.
Nhắc đến bút bi là nhắc đến tác dụng viết, ghi chép các kí tự: ghi bài trên lớp, sáng tác thơ ca, ghi lại tiến trình buổi họp,… hay đơn giản là ghi lại một thông tin cần lưu ý. Ngày nay, trong thời đại truyền thông phát triển, bút bi còn trở thành một phương tiện… quảng cáo hữu hiệu. Bút bi thường được tặng miễn phí như một dạng quảng cáo – tên công ti, sản phẩm được in trên thân bút. Những năm gần đây, bút bi cũng trở thành phương tiện sáng tác nghệ thuật. Người ta có thể dùng bút bi để vẽ những bức tranh ấn tượng. Nhiều người còn dùng bút bi để vẽ hình lên người họ, còn được gọi là hình xăm bằng bút bi. Có nhiều tác dụng như vậy nhưng giá một chiếc bút bi lại rất rẻ, thường chỉ dao động từ một đến hai, ba nghìn đồng. Bởi sự gọn nhẹ, kinh tế và tiện ích nên bút bi hiện diện khắp nọi nơi: trong giỏ xách, trong cặp, trong túi, trong cốp xe,… Theo một thống kê đáng tin cậy, trên thế giới cứ mỗi giây lại có 57 chiếc bút bi được bán ra.
Chiếc bút bi từ lâu đã trở thành một người bạn thân thiết đối với mọi người đặc biệt là những người học sinh, sinh viên. Để bảo quản những người bạn thân thiết này chỉ cần lưu ý vài chi tiết nhỏ. Một là khi viết xong nhớ đậy nắp hoặc bấm nút để ngòi bi rụt vào bên trong vỏ. Hai là tránh để bút rơi bởi có thể gây gãy thân bút; đặc biệt là tránh làm rơi khiến đầu bi đập xuống đất: khi ấy bút sẽ hỏng hoàn toàn, bi bị vỡ, mực không ra được nữa. Người bạn ấy quan trọng nhưng không hề “làm cao” chút nào, ngược lại thật dễ tính!
Có thể khẳng định rằng bất cứ ai có thể viết đều đã ít nhất một lần sử dụng bút bi trong đời. Thuận tiện, kinh tế và không cần cầu kì trong việc bảo dưỡng, bút bi đã trở thành một cuộc cách mạng trong cách viết của con người. | Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi | 4,329 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn thuyết minh về cây bút máy.
Bài làm
Trong rất nhiều loại bút mà con người sử dụng hằng ngày thì cây bút máy tiện dụng và cần thiết đối với tầng lớp học sinh, sinh viên, giáo viên và công chức.
Cây bút máy có nguồn gốc từ châu Âu, được đưa vào nước ta từ đầu thế kỉ XX, nhưng phải đến giữa thế kỉ nó mới trở thành vật dụng quen thuộc và phổ biến.
Cây bút dài 14 cm, đường kính khoảng 1 cm. cấu tạo của bút máy gồm hai phần chính: bên ngoài và bên trong, vỏ bút gồm nắp và thân. Đa số nắp làm bằng nhựa, cùng loại nhựa với thân bút, phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên. Hoặc được làm bằng kim loại (nhôm, sắt mạ bạc, mạ vàng), có cái để gài vào túi áo hoặc sách vở. Thân bút hình trụ rỗng, thon dần về phía đuôi, vỏ bút có nhiệm vụ bảo vệ cho các bộ phận bên trong.
Bên trong bút gồm các bộ phận: ngòi bút, lưỡi gà, ống dẫn mực và ruột đựng mực. Ngòi bút làm bằng kim loại không rỉ, ở đầu có chấm tròn nhỏ gọi ià hạt gạo. Nửa trên của ngòi có rãnh giữa để dẫn mực khi viết. Nửa phần dưới cong, ốp sát vào bộ phận lưỡi gà có các rãnh ngang làm nhiệm vụ giữ không cho mực tràn ra đầu bút. Ống dẫn mực ngắn độ 3 cm, nhỏ như cây tăm, làm bằng nhựa trong và dẻo. Đầu trên gắn vào lỗ tròn của lưỡi gà, đầu kia thông với ống chứa mực. Ống chứa mực dài khoảng 5 cm, bằng cao su hoặc nhựa mềm, được bảo vệ bằng lớp kim loại mỏng.
Khi ta nhúng đầu ngòi bút vào bình mực, lấy ngón tay cái và ngón tay trỏ bóp nhẹ vào ruột bút thì mực sẽ được hút vào ống chứa (ruột bút). Xong xuôi, cho đầu bút vào phần thân bút, xoay từ từ cho gắn chặt vào nhau là có thể sử dụng được.
Lúc viết xong, ta nhớ lấy giấy mềm hoặc miếng giẻ ẩm, lau kĩ ngòi bút cho mực không đóng cặn. Cứ dùng khoảng 1 tháng thì tháo rời các bộ phận ra cho vào nước lã; rửa và thông thật sạch rồi lau khô, lắp lại như cũ. Nếu bảo quản tốt, bút máy có thể sử dụng được trong một thời gian rất dài. Tuyệt đối không được đâm ngòi bút vào vật cứng, đầu ngòi sẽ hư, không viết được nữa.
Đối với lứa tuổi học sinh, cây bút máy là vật dụng không thể thiếu. Viết bằng bút máy, nét chữ sẽ đều và đẹp hơn hẳn viết bằng bút bi. Chiếc bút máy Hồng Hà mà bố mua tặng cho em từ năm ngoái đến giờ trông vẫn như còn mới. Ngày ngày, cây bút cùng em tới trường. Nó đã trở thành người bạn nhỏ thân thiết của em. | Thuyết minh về cây bút máy | 511 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây bưởi
Bài làm
Nhắc đến Việt Nam, người ta thường chỉ nhớ đến những cây tre, cây chuối dân dã mà ít ai biết đến cây bưởi – một loài cây cũng khá quen thuộc với người dân Việt Nam từ xưa đến nay. Bưởi cho hoa thơm, quả ngọt, vỏ bưởi còn dùng để đun nước gội đầu cho các bà, các cô nữa. Đó là một loài cây có rất nhiều tác dụng.
Đề trồng được một cây bưởi thì có rất nhiều cách, nhưng người ta thường chiết bưởi để trồng. Cách đó rất nhanh và hiệu quả nhất. Khi chiết nên chọn những cành nhiều lá, không cần thiết là phải có quả, khi cành đó mọc rễ, ta có thể lấy đi, cắm xuống đất để trồng. Bưởi chiết khi mới trồng sẽ rụng hết lá để bắt đầu một cuộc sống mới, một năm sau bưởi đã ra lá mới và hai, ba năm sau nó đã to cao hơn trước rất nhiều, có khả năng ra hoa kết quả được. Có rất nhiều giống bưởi ngon như bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi…
Bưởi là loại cây ăn quả, rễ cọc, thân cành xù xì. Khi lớn bưởi có thể cao đến ba mét hoặc bốn mét, có nhiều cành, xum xuê. Lá bưởi rất đặc biệt, lá nhỏ ở gần cuống hình trái tim, lá to nối tiếp lá nhỏ hình bầu dục (trông rất giống trâu lá đa mà trẻ con nông thôn thường làm để chơi). Bưởi ra hoa kết quả vào hai mùa: mùa thu và mùa xuân. Hoa bưởi trắng, năm cánh mịn uốn cong xuống dưới để lộ ra nhị vàng, hoa cũng rất thơm – một mùi thơm dịu, nhẹ nhàng, tinh tế. Bưởi có quả tròn, nhỏ, nhưng cũng có quả rất to, thường để bày trên mâm ngũ quả.
Cây bưởi gắn liền với cuộc sống của người dân Việt Nam. Bưởi chua ra quả vào tháng 8 âm lịch – tức là mùa trung thu. Thật vậy! Trung thu phá cỗ mà không có bưởi là mất vui. Ngon nổi tiếng là bưởi Phúc Trạch ở Hà Tĩnh. Quả bưởi nhỏ, múi đều, ăn rất ngon. Vào đêm trung thu, các nhà thường bày mâm ngũ quả lên bàn thờ và bưởi là thứ quả không thể thiếu. Tết âm lịch là mùa ra quả của bưởi ngọt. Ngày Tết, nhà nhà đều mua bưởi về ăn để thưởng thức hết vị ngọt mát của bưởi, ăn nó như ăn cả mùa xuân vào lòng, vào dạ. Cây bưởi còn có rất nhiều tác dụng khác nữa: lá bưởi, vỏ bưởi đun với hương nhu, lá sả có thể làm nước gội đầu cho thiếu nữ, rất sạch và thưra. Đó là thứ nước gội đầu được ưa chuộng chỉ sau nước bồ kết mà thôi! Hạt bưởi còn có thể dùng để chữa rụng tóc. Vào một nhà dân mà vườn nhà đó trồng những cây bưởi sai trĩu trịt quả, thưởng thức mùi hoa thơm của bưởi ta mới thấy trong lòng nhẹ nhõm và cảm thấy bưởi tuyệt vời biết bao.
Cây bưởi đúng là một loại cây không thể thiếu đối với cuộc sống của người dân Việt Nam. Nó là một phần của những ngày lễ, ngày hội quan trọng ở Việt Nam. Thật không thể tưởng tượng được thiếu bưởi, cuộc sống tinh thần của người dân Việt Nam sẽ vô vị đến mức nào và suy cho cùng thì bưởi quả đúng là một loài cây quen thuộc đối với người dân nước ta. | Thuyết minh về cây bưởi | 610 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây cau
Bài làm
Cây cau thuộc họ cọ. Cau là loại cây lưu niên, một đời người, một đời cau. Trước nhà, dọc hai bên ngõ, hàng cau cao vút. Thân cau tròn có từng khoanh; có cây cau cao trên mươi mét. Tàu cau như tàu dừa, ngắn và nhỏ hơn, đu đưa trước gió, lựa như đuôi con chim xanh biếc.
Hoa cau trắng ngần, hương đưa thoang thoảng. Quả cau kết thành buồng; mỗi buồng có vài chục quả đến vài trăm quả. Quả cau hình trứng hoặc tròn hơi dài, màu cọ, bên trong có một hạt. Cau kết trái mỗi năm hai vụ. Cau lưu niên ra hoa, kế! trái quanh năm. Khi bổ quả cau ra, hạt có hoa vẫn rất đẹp.
Có cau phải có trầu. Dân gian gọi trầu, cau là tân – lang. Tục ăn trầu của dân ta đã có từ lâu đời. Truyện cổ tích Trầu cau rất cảm động. Khách đến nhà theo phong tục cổ truyền, chủ nhà mời khách ăn trầu, nên mới có câu -.Miếng trầu là đầu câu chuyện". Bà Chúa thơ Nôm có bài thơ “Mời trầu". Cụ Tam Nguyên Yên Đổ có câu thơ:
"'Đầu trò tiếp khách trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta"
(Bạn đến chơi nhà)
Gái trai ngày xưa ướm duyên, tỏ tình bằng cách mời trầu. Sính lễ nhất định phải có buồng cau, chai rượu. Số người ăn trầu ngày một ít đi, nhưng buồng cau trong lễ cưới hỏi không thể thiếu.
Cau được bổ làm bốn, làm sáu, phơi khô dễ ăn dần. Hạt cau là vị thuốc để diệt trừ giun, sán, tiêu đờm, khử độc. "
Khi mua cau nên chọn buồng sây quả, quà tròn to, xanh bóng, loại cau bánh tẻ, ăn vào vị chát hơi đắng là cau ngon.
“Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu, mời anh xơi trầu.
Trầu này têm những vôi tầu
Giữa têm cát cánh, hai đầu quế cay"
Ca dao
Câu hát của thôn nữ ngày xưa, hỏi ai trong chúng ta ngày nay còn nhớ? | Thuyết minh về cây cau | 349 | |
Thuyết minh về cây chuối làng quê Việt Nam
Bài làm
Ca dao Việt Nam có câu:
Đầu làng có cây chuối
Cuối làng có cây đa
Quả thực vậy, cùng với những bóng tre, những cây đa, cây si cổ thụ, những bụi chuối xanh mướt đã trở thành hình ảnh đẹp, bình dị mà cũng đầy quen thuộc của làng quê Việt Nam. Cây chuối đã gắn bó và trở thành loài cây gần gũi trong đời sống của người Việt Nam, của làng quê Việt Nam.
Trên khắp dải đất hình chữ S, có biết bao giống chuối khác nhau: chuối tiêu, chuối ngự, chuối cau, chuối hột, chuối ba hương,… Mỗi loại chuối có một vẻ riêng, đặc trưng riêng: Chuối tiêu trông cong như lưỡi liềm, chưa chín có màu xanh đậm, chín rồi thì chuyển màu vàng ươm. Chuối ngự lại vàng óng như tơ, quả nhỏ và thon thon. Chuối cau có hình dáng như tên gọi, tròn và mập mạp như quả cau nhỏ. Các giống chuối tuy khác nhau về dáng vẻ, nhưng tất cả đều có hương vị dẻo thơm và nhiều công dụng trong đời sống con người.
Chuối thường sinh trưởng tốt ở những nơi ẩm ướt, nên dễ hiểu vì sao, ở làng quê, chuối thường mọc rất nhiều bên cạnh những bãi sông hay ao hồ; còn ở rừng, bên những khe suối hay thung lũng lại là nơi xuất hiện của những rừng chuối dại bạt ngàn. Rễ chuối thuộc loại rễ chùm cho nên không ăn sâu vào mặt đất. Chuối thường mọc thành từng bụi, nhưng để chuối sinh trưởng tốt thì người ta thường trồng từ 1-3 cây mỗi bụi. Nhìn từ xa, những những cây chuối mọc thành từng bụi xanh tốt thật chẳng khác nào những người anh em ruột thịt trong một nhà, luôn yêu thương gắn bó bên nhau.
Lá chuối mọc thành từng tàu, lúc mới ra chỉ cuộn tròn như chiếc hoa loa kèn, lúc đã khôn lớn thì xanh mướt và xòe rộng như một tấm phản. Lá chuối xanh thẫm ở mặt trên, còn mặt dưới lại có màu xanh nhạt hơn và có phấn trắng. Đặc biệt, khi đã già, lá chuối rũ xuống bám chặt lấy thân cây chứ không rơi rụng như những lá cây khác, sau đó sẽ dần chuyển từ màu vàng tươi sang màu nâu nhạt. Chính vì lá chuối khô bám chặt lấy thân cây nên để loại bỏ những lá khô, người nông dân phải dùng dao để tước lá. Phải chăng vì thế mà có nhà thơ trung đại nào đã từng mượn đặc điểm này của lá chuối để ca ngợi khí tiết của người quân tử: “Thà ôm hương chết trên cành/ Còn hơn rụng rơi trong gió”. Lá chuối cũng có rất nhiều công dụng: Lá chuối tươi có thể dùng để gói bánh chưng, gói xôi,… hay làm thức ăn cho gia cầm. Lá chuối khô được dùng làm nguyên liệu đốt. Phần xương chạy theo lá chuối khô rất bền, có thể dùng nó để buộc rau ra chợ bán.
Ngoài những bộ phân trên, cây chuối còn rất nhiều bộ phận hữu ích khác. Nõn chuối mới ra đã từng được Nguyễn Trãi ví với “bức tình thư còn phong kín”, trông thật e ấp. Người dân quê thường dùng nõn chuối ăn kèm với bún riêu, bún ốc hoặc ăn như một thứ rau sống. Giữa màu xanh mướt của bụi chuối, có thể nhìn ra một màu đỏ tươi của bắp chuối – giống như một búp sen treo ngược. Người dân cũng thường cắt bắp chuối để xào hoặc làm nộm rất ngon.
Trong đời sống văn hóa, chuối là loại quả gắn liền với sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt. Trong mâm ngũ quả ngày Tết không thể thiếu chuối. Người Việt còn mua chuối để thắp hương trong ngày rằm, mồng 1. Cây chuối còn là biểu tượng cho làng quê Việt Nam. Cây chuối đã đi cả vào đời sống tinh thần của người nông dân qua những so sánh, liên tưởng thú vị:
Hay:
Trẻ trồng na, già trồng chuối
Gió đưa bụi chuối te tàu
Chàng Nam thiếp Bắc làm giàu ai ăn?
Tóm lại, cây chuối đã gắn bó trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam từ bao đời nay. Cây chuối không chỉ là hình ảnh đẹp của làng quê Việt, mà còn là loại cây có nhiều công dụng, mang lại giá trị thiết thực cho người Việt. | Thuyết minh về cây chuối làng quê Việt Nam | 763 | |
Thuyết minh về cây chuối trong đời sống Việt Nam
Hướng dẫn
Mở bài: Giới thiệu chuối là cây trồng thân thuộc với người dân Việt Nam.
Thân bài: Dựa vào những chi tiết sau để viết bài.
– Hiện nay Việt Nam có các loại chuối như chuối tiêu, chuối ngự, chuối cau, chuối hột, chuối ba hương (chuối lùn).
– Đặc điểm của chuối:
+ Sinh trưởng tốt ở những nơi ẩm ướt.
+ Rễ chuối thuộc loại rễ chùm cho nên không ăn sâu vào mặt đất.
+ Chuối tự sinh trưởng trong môi trường tự nhiên.
– Chuối thường mọc từng bụi từ, nhưng để chuối sinh trưởng tốt người dùng trồng mỗi bụi từ 1 – 3 cây. Những cây nhỏ, yếu sẽ được loại bỏ. Nếu bụi chuối quá nhiều cây, có thể đào chuối và trồng ở chỗ khác.
-Thân chuối có hình tròn thẳng đứng và nhẵn thin như những chiếc cột nhà bóng loáng. Thân của chuối được cấu tạo từ những bẻ gộp vào nhau, bên trong bẻ chuối có những lổ hình vuông nhỏ chạy song song với cây chuối. Bẻ càng ở phía ngoài thì màu sắc càng thẫm và bẽ nằm ở chính giữa thì có màu trắng. Thân chuối có những công dụng sau:
+ Sau khi lấy quả chuối, thân chuối được dùng để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm bằng cách xắt mịn ra từng lớp.
+ Ngoài ra có thể dùng thân chuối để làm dây trói cua bằng cách tách từng bẻ chuối và phơi dưới nắng mặt trời. Khi khô bẻ chuối rất dẻo và dai nên có thể dùng làm đây buộc.
-Lá chuối lúc mới ra: cuộn tròn như chiếc hoa loa kèn, lúc đã khôn lớn xanh mướt và rộng như một tấm phản. Mặt trên của lá chuối có màu xanh thẫm, mặt dưới của lá chuối có màu xanh nhạt và có phấn trắng. Công dụng của lá chuối:
+ Dùng để gói bánh.
+ Làm thức ăn cho gia cầm.
+ Lá chuối khô có thể được dùng làm nguyên liệu đốt.
-Lá chuối khô: khi lá chuối đã già chúng rũ xuống bám chặt lấy thân cây chứ không rơi rụng và lìa xa như những lá cây khác. Ban đầu còn vàng tươi sau đó khô dần dần thành màu nâu nhạt. Để loại bỏ lá chuối khô, người ta dùng dao cắt đứt lá. Phần xương chạy theo lá chuối khô rất bền, có thể dùng nó để buộc rau ra chợ bán.
-Nõn chuối mới ra giống như một bức thư thuở xưa được viết trên giấy hoa tiên còn phong kín.
-Bắp chuối: có màu đỏ tươi, hình dáng giống như một búp sen khổng lồ treo ngược. Khi nải trong bắp đã nở hết, người dân cắp bắp chuối để xào hoặc làm nộm rất ngon.
– Buồng chuối: để chuối to, đẹp và đều. Mỗi buồng tối đa người nông dân để lại khoảng 10 buồng.
-Quả chuối: cong cong như một vầng trăng lưỡi liềm đầu tháng. Chuối xanh có thể xắt lát mỏng và dùng để quấn ăn với thịt, bún…. Chuối chín thơm ngon và có nhiều dinh dưỡng. Có thể ăn ngay hoặc dùng chuối chín để làm bánh kẹo.
Kết bài: Chuối rất gần gũi với con người Việt Nam và món ăn bổ dưỡng trong đời sống hàng ngày.
Tham khảo bài làm của bạn Đỗ Thị Nhàn lớp 9A trường THCS Ngô Thì Nhậm
Đất nước Việt Nam ta được thiên nhiên ban tặng cho rất nhiều loại trái cây thơm ngon. Mỗi loài mang một hương vị khác nhau, một hình dáng khác nhau. Và có lẽ về sự dẻo thơm thì chuối là loại quả thơm ngon nhất trong số tất cá các loại hoa quả. Ngoài ra, cây chuối còn rất nhiều tác dụng trong đời sống Việt Nam.
Đố các bạn đây là chuối gì?
Chuối được trồng rất nhiều ở nông thôn và rất ưa nước nên người ta thường trồng bên ao hồ rất nhanh tươi tốt; còn ở rừng, bên những khe suôi hay thung lũng, chuối mọc thành rừng bạt ngàn, vô tận. Chuối phát triển rất nhanh. Chuối có gốc tròn như đầu người, lớn dần theo thời gian, có rễ chùm nằm dưới mặt đất. Thân chuối thuôn, thẳng, có màu xanh rì là do từng lớp lá mọc đè lên nhau thành từng lớp, từng lớp, bao trùm cái ruột rỗng bên trong. Lá chuối mọc thành từng tàu, to bản. Mỗi cây chuối đều cho một buồng chuối. Có buồng chuối trăm quả và nhiều hơn thế. Không thiếu những buồng chuối dài từ ngọn cầy uốn trĩu xuống tận gốccây. Chuối chặt theo nải. Quả chuối có nhiều hình dạng tuỳ thuộc vào từng loại khác nhau. Ví dụ: chuối ta có dáng thuôn dài, vỏ xanh; còn chuối tiêu quả căng tròn, vỏ mỏng, thịt dày, vỏ vàng. Ngoài ra còn có chuối hương, chuối ngự. chuối sứ, chuối mường…
Trong đời sống vật chất của con người Việt Nam thì chuối là một loài cây hữu dụng từ thân đến lá, từ gốc đến hoa, quả. Thân chuối rồng nên người xưa hay dùng thay phao, ngoài ra còn làm thức ăn cho gia súc. Lá chuối tươi rửa sạch dùng để gói xôi, bánh giầy, bánh cốm, bánh chưng… và một trò chơi dân gian mà trẻ con hay chơi là cưỡi ngựa. Lá chuối khô cũng dùng để gói bánh gai hay cuộn chặt thay nút chai khá tốt. Bắp chuối thì chẻ ngọn nhỏ làm nộm, tương tự với nõn chuối làm rau sống hay ăn kèm với bún ốc, bún riêu. Trái chuối xanh hay được nấu cùng các thức ăn có vị tanh như ốc, lươn,… vừa khử tanh lại vừa làm cho món ăn thêm ngon, thêm đa dạng. Trái chuối chín là một thức quả được nhiều người ưa chuộng.
Cây chuối cho ta thật nhiều công dụng, không chỉ trong đời sống vật chất mà còn ởđời sống tinh thần: cây chuối là biểu tượng cho làng quê Việt Nam. Nải chuối chín không thể thiếu trong các mâm cúng trời, đất, tổ tiên. Cây chuối gắn liền với cuộc sông nông thôn, với đất nước, dân tộc ta.
Cây chuối gắn bó từ bao đời nay và đã dâng hiến tất cả cho con người Việt Nam, từ đời sống vật chất cho tới đời sống tinh thần. Cây chuối là niềm tự hào không chỉ của thiên nhiên, của đất mẹ mà còn của nông dân Việt Nam; cây chuối sẽ mãi là hình ảnh đẹp trong lòng mọi người.
Các tìm kiếm liên quan đến thuyet minh ve cay chuoi, thuyet minh ve cay chuoi lop 8, thuyet minh ve cay chuoi lop 9, thuyet minh ve cay chuoi co yeu to mieu ta, thuyet minh ve cay chuoi lop 10, thuyet minh ve cay chuoi o que em, dan y thuyet minh ve cay chuoi, bai van thuyet minh ve cay chuoi lop 9, bai van thuyet minh ve cay chuoi o que em. | Thuyết minh về cây chuối trong đời sống Việt Nam | 1,182 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây chuối
Bài làm
Đất nước Việt Nam ta được thiên nhiên ban tặng cho rất nhiều loại trái cây thơm ngon. Mỗi loài mang một hương vị khác nhau, một hình dáng khác nhau. Và có lẽ về sự dẻo thơm thì chuối là loại quả thơm ngon nhất trong số tất cá các loại hoa quả. Ngoài ra, cây chuối còn rất nhiều tác dụng trong đời sống Việt Nam.
Chuối được trồng rất nhiều ở nông thôn và rất ưa nước nên người ta thường trồng bên ao hồ rất nhanh tươi tốt; còn ở rừng, bên những khe suôi hay thung lũng, chuối mọc thành rừng bạt ngàn, vô tận. Chuối phát triển rất nhanh. Chuối có gốc tròn như đầu người, lớn dần theo thời gian, có rễ chùm nằm dưới mặt đất. Thân chuối thuôn, thẳng, có màu xanh rì là do từng lớp lá mọc đè lên nhau thành từng lớp, từng lớp, bao trùm cái ruột rỗng bên trong. Lá chuối mọc thành từng tàu, to bản. Mỗi cây chuối đều cho một buồng chuối. Có buồng chuối trăm quả và nhiều hơn thế. Không thiếu những buồng chuối dài từ ngọn cầy uốn trĩu xuống tận gốccây. Chuối chặt theo nải. Quả chuối có nhiều hình dạng tuỳ thuộc vào từng loại khác nhau. Ví dụ: chuối ta có dáng thuôn dài, vỏ xanh; còn chuối tiêu quả căng tròn, vỏ mỏng, thịt dày, vỏ vàng. Ngoài ra còn có chuối hương, chuối ngự. chuối sứ, chuối mường…
Trong đời sống vật chất của con người Việt Nam thì chuối là một loài cây hữu dụng từ thân đến lá, từ gốc đến hoa, quả. Thân chuối rồng nên người xưa hay dùng thay phao, ngoài ra còn làm thức ăn cho gia súc. Lá chuối tươi rửa sạch dùng để gói xôi, bánh giầy, bánh cốm, bánh chưng… và một trò chơi dân gian mà trẻ con hay chơi là cưỡi ngựa. Lá chuối khô cũng dùng để gói bánh gai hay cuộn chặt thay nút chai khá tốt. Bắp chuối thì chẻ ngọn nhỏ làm nộm, tương tự với nõn chuối làm rau sống hay ăn kèm với bún ốc, bún riêu. Trái chuối xanh hay được nấu cùng các thức ăn có vị tanh như ốc, lươn,… vừa khử tanh lại vừa làm cho món ăn thêm ngon, thêm đa dạng. Trái chuối chín là một thức quả được nhiều người ưa chuộng.
Cây chuối cho ta thật nhiều công dụng, không chỉ trong đời sống vật chất mà còn ởđời sống tinh thần: cây chuối là biểu tượng cho làng quê Việt Nam. Nải chuối chín không thể thiếu trong các mâm cúng trời, đất, tổ tiên. Cây chuối gắn liền với cuộc sông nông thôn, với đất nước, dân tộc ta.
Cây chuối gắn bó từ bao đời nay và đã dâng hiến tất cả cho con người Việt Nam, từ đời sống vật chất cho tới đời sống tinh thần. Cây chuối là niềm tự hào không chỉ của thiên nhiên, của đất mẹ mà còn của nông dân Việt Nam; cây chuối sẽ mãi là hình ảnh đẹp trong lòng mọi người. | Thuyết minh về cây chuối | 537 | |
Thuyết minh về cây cối trong việc bảo vệ môi trường sống
Hướng dẫn
Thuyết minh về cây cối trong việc bảo vệ môi trường sống
Sinh thời Bác Hồ ta đã nói:
“Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”
Thật vậy những lời Bác nói chẳng có lời nói nào là sai là thừa cả. Cây cối xanh tươi có vai trò rất lớn với cuộc sống của con người chúng ta. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Bác lại nói lên câu thơ như thế. Là một vị lãnh tụ đồng thời trí tuệ hơn người Bác dường như nhận ra vai trò của cây cối trong đời sống của con người trên trái đất này cho nên Bác đã để lại câu thơ muôn đời ấy nhắc nhở chúng ta. Vậy thì cây cối có những lợi ích vai trò gì?
Cây xanh là những thực thể thực vật của thiên nhiên có vai trò rất lớn đến việc trao đổi chất với môi trường. Còn môi trường thì ta có thể tạm thời định nghĩa là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó.
Cây xanh có vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của con người mà đặc biệt là nó có vai trò bảo vệ môi trường. Có thể nói bảo vệ môi trường đồng thời cây xanh bảo vệ con người.
Cây xanh còn bảo vệ môi trường đất của chúng ta. Theo như chúng ta đã biết thì những nơi có cây xanh thì độ che phủ lớn thì đất sẽ tránh khỏi những xói mòn rửa trôi. Đất cũng có rất nhiều chất dinh dường để phục vụ mủa màng thế nên cây xanh chính có nhiệm vụ che phủ tránh cho đất khỏi những xói mòn rửa trôi khi mưa xuống.
Không những thế cây xanh còn có vai trò bảo vệ môi trường không khí. Theo nguyên lý sống của cây thì ban ngày nó nhả ra khí oxi mà hấp thụ khí CO2 vì thế cho nên những chất độc hại trong không khí hầu như là được hút sạch trả lại cho con người một bầu không khí trong lành khỏe mạnh. Nhờ thế mà cây xanh giúp cho chúng ta chống lại hiệu ứng nhà kính có sức hủy diệt ghê gớm. Thật mát mẻ biết bao khi mùa hè đến những bóng mát với khí oxi của nó sẽ khiến cho con người ta tránh được sự oi bức của nắng cùng những tia cực tím nguy hại có thể làm cho da người bị ung thư.
Đó là vai trò trong đời sống thiên nhiên của chúng ta cây xanh còn có vai trò trong đời sống xã hội và tâm hồn con người. Cây xanh trở thành một cảnh đẹp mà một đô thị nào cũng cần phải có ngoài những tòa nhà cao nhiều tầng. Nó mang lại màu xanh khát khao và hi vọng đồng thời nó thể hiện cho một nền hòa bình yên ổn ấm êm của một dân tộc. Thử tưởng tượng nếu như một quốc gia một thành phố thiếu vắng đi những cây xanh ấy thì thử hỏi rằng có thấy sức sống không?. Vì thế mà cây xanh cũng trở thành hình ảnh trong hội hòa, thành ý thơ trong những bài thơ thành nốt nhạc trong những bài hát.
Chính vì thế mà mỗi chúng ta hãy bảo vệ môi trường sống của mình bằng cách trông nhiều cây xanh và xử lý chất thải trước khi đổ ra môi trường. Cây xanh không chỉ có vai trò thiên nhiên mà còn có vai trò đối với tâm hồn của chúng ta. Có thể nói nó không chỉ thanh lọc những chất bụi, cặn bã độc hại mà nó còn thanh lọc chính tâm hồn của con người. | Thuyết minh về cây cối trong việc bảo vệ môi trường sống | 711 | |
Đề bài: Thuyết Minh Về Cây Dừa Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật & Tự Thuật
Bài làm
Nếu người Pháp tự hào về một đất nước có dòng sông Se-in xanh biếc lững lờ trôi, nếu người Trung Hoa mến yêu xứ sở có đỉnh Ân Cương cao vời vợi, có những Trường Giang, Hoàng Hà cuồn cuộn sóng dâng… thì em cũng gắn bó trái tim mình với một màu đất đẹp núi, đẹp sông, đẹp lòng người nhân hậu. Việt Nam quê hương em, nơi em sinh ra, ngoài có những cánh đồng lúa xanh mướt thẳng cánh cò bay thì còn có hàng dừa rũ tóc xuống ao soi mình duyên dáng. Từ bao đời nay, cây dừa đã đi vào thơ ca, vào cuộc sống của người dân hiền hậu, gắn bó với đời sống con người trước sau nghĩa tình. Ca dao có câu:
“Dừa xanh đứng sừng sững giữa trời
Đem thân mình hiến cho đời thuỷ chung”
Cây dừa là loài cây chủ yếu được trồng ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, cây dừa hầu như có mặt khắp đất nước, nhưng dừa tập trung từ Quảng Ngãi đến Cà Mau, đặc biệt là vùng Bình Định, Bến Tre. Có rất nhiều loại dừa khác nhau, trong đó có hai loại chính là dừa cao và dừa lùn. Dừa lùn hay còn gọi là dừa kiểng, thường được trồng làm cảnh trong gia đình hoặc khu vui chơi công cộng. Dừa cao thì được chia ra rất nhiều loại khác nhau như: dừa xiêm, trái thường nhỏ, màu xanh, nước ngọt, thường dùng để uống; dừa bi, trái thường to, màu xanh đậm, thường dùng để chế biến thực phẩm; dừa nếp, trái vàng xanh mơn mởn; dừa lửa lá đỏ, quả vàng hồng; dừa dâu trái rất nhỏ, màu hơi đỏ; dừa dứa, trái nhỏ, màu xanh, nước ngọt, thơm mùi dứa; dừa sáp, cơm dừa vừa xốp, vừa mềm mại lại dẻo như bột đã được nhào sệt, đồng thời lại có màu vàng đục như sáp, chỉ có ở Trà Vinh. Mỗi cây dừa đều bao gồm: thân, lá, hoa, buồng, trái. Thân dừa cao, có những đốt như hổ vằn, thường có màu nâu sậm, đường kính khoảng 45 cm. Cây dừa cao khoảng đến 25m. Còn thân dừa lùn có màu xanh, nhiều đốt, đốt trên cùng là nơi xuất phát những phiến lá ôm lấy thân rồi toả ra. Lá dừa có màu xanh, gồm nhiều tàu, khi héo có màu hơi nâu. Hoa dừa có màu trắng, nhỏ, kết thành chùm. Quả dừa phát triển từ hoa dừa, có lớp vỏ dày bên ngoài, cơm dừa trắng bên trong. Mỗi cây dừa có nhiều buồng dừa, mỗi buồng dừa có rất nhiều quả. Trung bình mỗi buồng từ năm đến mười trái dừa, có loại 120 trái.
Đọt dừa non hay còn gọi là củ hủ dừa, là một thứ thức ăn độc đáo. Có thể làm gỏi, lăn bột, xào….rất thích hợp với người ăn chay. Tuy nhiên, món này không phải lúc nào cũng có, vì mỗi khi đốn một cây dừa, người ta mới lấy được củ hủ để dùng. Thậm chí ngay cả con sâu sống trên cây dừa (còn gọi là đu ông dừa) cũng là một thứ ăn ngon. Do ăn đọt dừa nên đu ông dừa béo múp míp, người ta chế biến nó thành những món ăn khoái khẩu và bổ dưỡng ở các quán ăn trong thành phố. Tuy nhiên, thứ có giá trị nhất vẫn là trái dừa. Trái dừa tươi được chắt ra lấy nước giải khát, có công năng hạ nhiệt, giải độc. Ngày xưa trong chiến trận, thiếu các phương tiện y tế, người ta còn dùng nước dừa thay thế cho dịch truyền. Dừa khô còn có nhiều công dụng hơn nữa. Nước dừa dùng để kho cá, kho thịt, thắng nước màu. Cơm dừa rám dùng để làm mứt, cơm dừa dày được xay nhuyễn, vắt nước cốt làm kẹo dừa, nấu dầu dừa, làm xà phòng. Bã dừa dùng làm bánh dầu, để bón phân hoặc làm thức ăn cho gia súc. Gáo dừa được sử dụng làm than hoạt tính, chất đốt hoặc các mặt hàng thủ công mĩ nghệ rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Xơ dừa được đánh tơi ra dùng làm thảm, làm nệm, làm dép đặc trị cho những người bệnh thấp khớp hoặc bện làm dây thừng, lưới bọc các bờ kè chống sạt lở ven sông.
“Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ
Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ
Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió
Tôi hỏi nội tôi: dừa có tự bao giờ?”
Hay:
“Ai đứng như bóng dừa, tóc dài bay trong gió
Có phải người còn đó là con gái của Bến Tre”
Có thể nói, dừa được ví như một hiện thân của con người Việt Nam bất khuất, kiên cường và anh dũng, sẵn sàng đối mặt với mọi gian lao, giữ vững cơ nghiệp ngàn năm của ông cha để lại. Xin được mượn câu thơ sau của nhà thơ Lê Anh Xuân để kết cho bài viết này:
“Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút
Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng
Rễ dừa bám sâu vào lòng đất | Thuyết Minh Về Cây Dừa Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật _ Tự Thuật | 897 | |
Thuyết minh về cây dừa nước – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Dừa nước là loài duy nhất trong họ Cau, sinh sống trong đầm lầy. Loài này sinh trưởng tại miền nam châu Á và Bắc Úc. Hóa thạch của phấn hoa dừa nước đã được xác định niên đại đến 70 triệu năm về trước.
Thân cây dừa nước mọc ngang dưới lòng đất, chỉ có lá và cuống hoa mọc lên trên mà thôi. Vì vậy, nó không được xem như một loại cây gỗ, mặc dù tán lá có thể cao đến 9 mét. Hoa cái nở rộ thành chùm ở đầu cụm hoa hình cầu, hoa đực màu đỏ hoặc vàng dạng đuôi sóc trên những nhánh kế sau. Khi hoa đã thụ phấn, những trái nhỏ ép vào nhau lớn lên thành như một quả bóng đường kính cỡ 25 – 30cm trên mỗi đầu cuống (quầy dừa). Hạt dừa nước khô già sẽ rơi rụng và phân tán theo thủy triều, có khi mọc mầm ngay khi trôi nổi.
Dừa nước mọc trong những vùng sình lầy dọc theo bờ sông, hay vùng ven cửa biển có thủy triều lên xuống, có nước chảy chậm bồí đắp phù sa dinh dưỡng. Nếu để tự nhiên, dừa nước sẽ phát tán sinh sôi nảy nở theo sự đưa đẩy của thủy lưu. Dừa nước rất thường gặp dọc theo bờ biển và các cửa sông đổ vào Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, từ Bangladesh tới các hải đảo Thái Bình Dương. Loài dừa nước có thể sống còn qua một thời kì khô ráo ngắn hạn. Dừa nước được coi như một loài thực vật đang có nguy cơ bị diệt chủng tại Singapore.
Cuống hoa dừa nước (quầy dừa) chưa nở hoa có thể được trích lỗ hứng nhựa ngọt để làm rượu. Cũng để nhựa ấy tự lên men thành một loại giấm nguyên chất. Mầm dừa non ăn được, cũng như những cánh hoa nở có dùng như trà (chè). Cái (thịt) dừa non thì được dùng vào các món giải khát khác nhau. Người ta cho lợn ăn dừa nước vào mùa khô để thịt heo sẽ ngọt. Lá dừa nước thật non còn được dùng để làm giấy vấn thuốc lá.
Khai thác dừa nước là một truyền thông lâu đời ở Đông Nam Á, khi mà một bộ phận khá lớn cư dân các vùng duyên hải tây Thái Bình Dương lấy dừa nước làm nguồn thu nhập chính.
Ở nước ta, nông dân ngày nay mới chỉ sử dụng trái dừa nước để ăn và lá để lợp nhà hay làm củi, không mấy ai biết đến kĩ thuật rút nhựa dừa nước từ cuống hoa để nấu đường, ủ rượu, làm bia, lên men giấm, chưng cất cồn và một số loại sản phẩm có giá trị khác trong khi đó lại là nguồn thu nhập ít có hiệu quả nhất của dừa nước. Sản lượng đường dừa nước trung bình 20,3 tấn/ha cao hơn so với đường mía (khoảng 5 đến 15 tấn/ha).
Dừa nước là một loại cây có nhiều tác dụng đối với cuộc sống con người. Tuy nhiên, hiện nay do tốc độ đô thị hóa, diện tích dừa nước ngày càng bị thu hẹp và có nguy cơ bị mất dần.
Tags:Văn 8 | Thuyết minh về cây dừa nước – Đề và văn mẫu 8 | 558 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây dừa
Bài làm
Dừa là cây thuộc họ cọ, có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á, ở Ma-lai-xi-a. Miền Nam nước ta trồng nhiều dừa; ở Bến Tre dừa trồng thành rừng. Dừa xiêm to quả, dừa lừa nhiều quả.
Gốc dừa to, mốc thếch, có nhiều khoanh nhiều ngấn. Tàu dừa uốn cong, lá dài, cứng và bóng, có thể lợp nhà. Hoa dừa trắng phau như hoa cau, mỗi năm có hai lứa. Mỗi cây dừa có nhiều buồng; mỗi buồng dừa có thể trên dưới mười quả. Quả dừa hình tròn, hình trứng hoặc có dáng ba cạnh, quả dài độ 20- 35cm, đường kính có thể từ 20- 25cm. Khi non màu xanh lục, khi già màu cọ vàng đậm; vỏ ngoài mềm, mỏng và nhẵn, có thể bảo vệ quả khi rơi không bị vỡ nát, vỏ giữa là tầng chất xơ, dày và mềm, rấi nhẹ, chịu được ẩm ướt, làm cho quả nổi, không thể bị chìm, vỏ trong cùng (vỏ dừa) có chất sừng rất cứng.
Cơm dừa màu trắng nõn, béo ngậy, thơm và bùi. Nước dừa, sữa dừa trong, ngọt, rất bổ, một thứ nước thiên nhiên giải khát tuyệt vời.
Dừa có giá trị kinh tế cao. Xơ dừa, vỏ dừa là nguyên liệu quý. Cơm dừa, nước dừa để ăn, để uống, ép thành dầu dừa, làm mứt dừa, kẹo dừa, làm thuốc bổ dưỡng, trị được nhiều thứ bệnh, nhất là bệnh sán dây. Kẹo dừa Bến Tre là hàng đặc sản xuất khẩu nổi tiếng. | Thuyết minh về cây dừa | 261 | |
Thuyết minh về cây hoa gạo (Hoa Mộc Miên)
Hướng dẫn
Thuyết minh về cây hoa gạo hay bài mẫu 1:
Một năm có bốn mùa. Mỗi mùa có ba tháng. Mỗi tháng lại có một mùa hoa để người ta thương, người ta nhớ. Với tôi, tháng ba là mùa hoa gạo. Cho dù có nhạc sĩ tên tuổi gọi hoa bằng cái tên rất đẹp – hoa Mộc miên – thì tôi vẫn chỉ thích được gọi loài hoa dân dã có mầu đỏ rực như lửa cháy khôn nguôi, với những cánh hoa dầy dặn, gợi cảm như đôi môi người đàn bà đang yêu, cũng bằng một cái tên giản dị, quê mùa đầy chất “ẩm thực”- hoa gạo.
Hay bởi tuổi thơ, nhà tôi ở gác hai của một căn nhà nằm trên con phố cổ nhìn ra đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và hồ Gươm. Trước cửa dẫn vào đền có những cây gạo lớn. Tôi biết đến bông gạo lần đầu tiên, ấy là khi một chiều, trời mùa hè đang hầm hập chợt nổi giông gió. Những bông gạo trắng trước cửa đền bỗng bay rợp, khiến cho bầu trời chỉ mù mịt những đám bông nhẹ và trắng tinh như vô hình.
Mẹ chỉ cho tôi: “Bông gạo đấy con ạ. Bông của nó tốt lắm, làm gối rất êm mà lại mát, thấm mồ hôi!” Tôi kinh ngạc. Làm sao mà loại hoa đỏ thẫm, mập mạp, dân dã nhường kia lại dâng hiến cho đời thứ bông thanh khiết nhẹ nhàng nhường kia. Hoa vắt kiệt sức mình, hay đấy là “tâm hồn” hoa đã được thanh lọc, để chỉ mang đến cho đời những giấc mơ bình yên và dịu êm?
Từ đấy, mỗi lần đi học qua cửa đền, thấy những bông hoa gạo đỏ rụng bời bời trên vỉa hè bị ai đó vô tâm, vô tình dẫm nát, tôi thấy xót lắm. Từ đấy, bông gạo trắng tinh như có sức mê hoặc, dẫn dụ tôi. Vào mùa hè đang chang chang nắng, trời bỗng sầm sầm rồi nổi giông.
Từ ban công của căn nhà nhìn ra phía đền, chỉ cần thấy một vài bông gạo bắt đầu bung nở, bay nhè nhẹ trên không trung, là tôi lén mẹ chạy ra đền Ngọc Sơn, đuổi theo nhặt những bông gạo trắng xốp như len, giữa có một cái hạt nhỏ và đen như hạt đỗ đen, lăn tròn trên mặt đất như có chân. Rồi chạy thật nhanh về nhà trước bữa cơm chiều dọn ra. Mẹ tôi dữ đòn vô cùng. Tôi nhớ, gia cảnh dạo đó sa sút lắm, nhưng mẹ vẫn giữ phép nghiêm của những gia đình trung lưu nền nếp.
Cả nhà tôi quây quần quanh mâm cơm trong cơn mưa sầm sập và không khí oi nồng. Bữa cơm thời bao cấp chỉ rặt một loại gạo tồn kho, hạt gạo rời rạc, có khi thoảng mùi mốc. Thức ăn nhiều khi chỉ có bát canh mồng tơi rau đay nấu suông, chút tép rang, lạc rang hoặc vài bìa đậu rán, cùng đĩa cà muối sổi chấm với nước mắm dầm ớt rõ cay. Hôm nào tươi lắm mới có thịt rim mặn hoặc cá rán.
Vậy mà chúng tôi ăn rất ngon miệng. Vậy mà đứa trẻ là tôi vẫn có một cảm giác hạnh phúc ấm áp khó tả, dù mẹ có khi cứ ca cẩm vì mua phải loại gạo mốc “chẳng có chút nhựa nào”. Rồi như vô tình, mẹ kể cho chúng tôi nghe bữa cơm của thợ gặt ngày mùa ra sao. Ấy là mẹ kể lại theo lời của bà ngoại, tức cụ ngoại tôi, chứ mẹ cũng là dân thành phố, sống ở thành phố từ nhỏ có ở quê ngày nào đâu.
Mẹ kể hấp dẫn lắm. “Bát cơm của thợ gặt ấy à. Cơm gạo mới thơm phức, cứ vun gọi là đầy có ngọn, như cái đấu ấy. Thức ăn chỉ có tép rang, dưa muối. Thợ ăn một loáng là sạch trơn!”. Chúng tôi mắt tròn mắt dẹt nghe, lạ lẫm như chuyện ngày xửa ngày xưa…, dù chẳng hiểu “cái đấu” là cái gì. Rồi mâm cơm cũng sạch trơn tự lúc nào. Hay mẹ tôi muốn các con được ngon miệng hơn, quên đi cái thứ gạo rời rạc thường gọi là gạo “mậu dịch”?
Nhưng có những thứ của thời xưa ấy, giờ bỗng thành quý hiếm. Như cái gối bằng bông gạo chẳng hạn. Hằng đêm tôi vẫn gối đầu lên cái gối nho nhỏ nhồi bông gạo mẹ mua ở đâu không rõ. Chiếc gối êm ái, mát rượi, đôi chỗ vẫn lợn cợn những hạt bông ở giữa, nhỏ như hạt đỗ đen. Hằng đêm, tôi gối đầu lên chiếc gối, gối đầu lên tình thương của mẹ, mê mải đọc câu truyện cổ tích có ba mẹ con “con Gạo” và “thằng Nhà” chạy trốn bọn phìa tạo trong rừng sâu.
Còn nhỏ, tôi đã hiểu sự gửi gắm khát khao có gạo ăn, có nhà ở của con người, của nhà văn. Nhưng giờ lớn lên, sao không còn thấy hoa gạo cháy đỏ trời nữa? Nhà cũ của cha mẹ tôi cũng không còn ai ở. Không biết mỗi khi trời giông gió, bông gạo có còn bay trắng xóa cả mắt người nữa không
Nghe tôi kể về tuổi thơ, anh mỉm cười nhìn tôi như đứa em gái nhỏ: “Anh sẽ đưa em đi tìm hoa gạo”. Tôi nhớ, dạo đó là tháng ba, tháng của mùa hoa gạo, mùa trảy hội chùa Hương. Ôi chao, dọc con đường từ suối Yến vào, miên man là hàng cây gạo. Hoa gạo nở đỏ trời.
Những bông hoa như những ngọn nến lớn lập lòe trên cây. Hoa soi cho con người trên đoạn hành trình gập gềnh đến với cửa Phật, với Mẫu Thượng ngàn, trên con đường hướng con người tới cái thiện. Hay hoa soi cho con người nhìn lại chính tâm hồn mình, rọi cả vào những góc u uẩn nhất, nơi những muộn phiền, thất vọng, những buồn đau xưa cũ đang dần quên?
Sự ám ảnh và si mê hoa gạo của tôi cũng trở thành nỗi ám ảnh trong anh: “Anh và em thi nhau xem ai phát hiện được hoa gạo trước nhé”. Có những chuyến đi, bất ngờ cây hoa gạo hiện ra trước mắt như tiền định. Có cây thân gốc mốc thếch, sù sì như một người đàn bà từng trải, bản lĩnh và vững chãi. Có cây lại mảnh mai như một thiếu nữ mộng mơ, đang thuở dậy thì. Nhưng dù là đàn bà hay trinh nữ, dù từng trải hay thơ ngây, những cánh hoa gạo đều dầy dặn, đầy sinh khí, cháy đỏ, mãnh liệt một tình yêu với trời đất, với sông núi cỏ cây. Hay với chính nhân gian?
Lại có những chuyến đi mỏi mắt mà chẳng gặp, dù chỉ một cánh hoa. Nhưng bù lại, mới thấy non sông mình như lụa là gấm vóc. Mới thấy được bao thân phận khổ đau mà mỗi người trong số họ như những trang sách hay và bí ẩn mà tôi phải đọc, để hiểu và chiêm nghiệm. Mới thấy thế gian là dâu bể nhưng sự sống và được sống trong đời vẫn là thú vị, thiêng liêng để mỗi ngày qua là một ngày trân quý.
Mới hay khi cái tình trai gái, cái tình của người nam người nữ được xẻ chia với núi sông, với cuộc đời rộng lớn, thì tri kỷ như rễ cây hoa gạo bám chặt vào đất mẹ.
Cảm ơn hoa gạo, cảm ơn loài hoa dân dã, dung dị với những nắm bông nhỏ trắng tinh nhẹ như hơi thở, lại mang đến cho tôi nhiều đến thế, giàu có đến thế và nặng nợ đến thế. Cả con tim biết đập rộn ràng vì tình yêu, vì nghĩa đời rộng lớn. Cả tầm nghĩ và mắt nhìn xa hơn.
Năm tháng cứ rộng dài theo đời người. Cái khao khát có gạo, có nhà trong câu chuyện ngày xửa ngày xưa… con bé tôi từng mải mê đọc, giờ đã thành hiện thực. Đâu đâu cũng có thể bắt gặp những ngôi biệt thự, những chung cư hiện đại. Tôi cũng đã có một ngôi nhà riêng rộng rãi, đẹp hơn nhiều căn nhà nhỏ của mẹ cha nơi phố cổ. Bữa cơm hàng ngày chỉ một loại gạo dẻo thơm, ngon ngọt mà cái tên gạo- Trân châu- hệt ngọc ngà của trời đất.
Vậy nhưng sao lòng người lại bất an? Sao giờ người ta lại ao ước “cổ tích”- bao giờ cho đến ngày xưa? Cái ngày thanh bình, không tệ nạn, không tham lam, hối lộ… Hoá ra, sự bình an của tâm hồn chỉ thật sự trọn vẹn trong sự bình yên nhân thế.
Và không hiểu sao mỗi khi tháng ba về, hay những đêm hè, ngả đầu lên chiếc gối bông mút êm ái, bên ngoài trời nổi giông gió, tôi bỗng trằn trọc nhớ căn gác nhỏ với ban công sơn xanh, nhìn ra đền Ngọc Sơn. Nơi có những cây gạo sừng sững trước cửa đền, như chứng nhân tuổi thơ tôi, với những chiều bông gạo bay trắng trời trắng đất.
Bỗng âm thầm da diết, những bữa cơm quây quần bên cha mẹ bên chị bên em, ăn bát cơm gạo “mậu dịch” chan canh mồng tơi rau đay nấu suông, có quả cà muối sổi chấm nước mắm dầm ớt rõ cay… Và cứ thế mà thao thức…
Hoa gạo ơi!
Thuyết minh về cây hoa gạo hay bài mẫu 2:
Xét về mặt to lớn, có thể cây hoa Gạo có thể lép vế hơn so với Bao báp, nhưng đối với nhiều loài cây, chúng cũng thuộc dạng khổng lồ. Mặc dù sống cách nhau hàng chục ngàn km nhưng hai loại cây này lại cùng họ Gạo.
Dường như chưa có nghiên cứu nào về độ tuổi của các cây hoa Gạo khổng lồ ở Việt Nam nhưng đến nơi đâu có loài cây này, hỏi thăm các cụ cao tuổi, ai cũng bảo chúng có từ thời cụ kỵ. Nhiều gốc cây lớn tới mức 4-5 người ôm mới xuể.
Thường xuất hiện ở những vùng quê, cây hoa Gạo luôn nổi bật bởi cái vẻ ngoài to lớn, cổ thụ của mình. Cứ vào khoảng cuối tháng 2, lá rụng sạch khiến nó càng trở nên ấn tượng hơn bởi những cành tua tủa vươn ra. Chỉ sau khoảng vài tuần, từ những cái cành khô khốc đó bỗng dưng nhú nụ to cỡ cái chén và nhanh chóng nhuộm đỏ cả một góc trời.
Cây hoa Gạo thường được trồng ở đầu làng. Có người nói trồng ở đó để ma chỉ đến được đó, không vào làng vì cây hoa Gạo giữ ma. Cũng có thể vì lý do đó mà chẳng ai trồng cây hoa Gạo trong khuôn viên nhà cả.
Nhưng cũng có nơi, cây hoa Gạo được coi như một cái mốc xác định địa giới. Cứ nhìn thấy bóng cây gạo, người ta biết đó là đầu làng. Hay dọc theo bờ sông, gốc gạo đánh dấu bến thuyền, chợ ven sông, quán nước, chỗ nghỉ chân của người làm đồng…
Người xưa thường lấy mốc thời gian hoa gạo nở để xem thời tiết, đánh dấu ngày chuyển mùa. Cứ thấy hoa gạo nở, người ta biết những đợt rét cuối cùng sắp hết, mùa nóng đang đến. Vậy nên mới có câu: “Bao giờ cho đến tháng ba. Hoa gạo rụng xuống bà già cất chăn…”.
Ở một số nơi, hoa gạo còn được gọi là hoa Mộc miên, Hồng miên, Pơ lang hay Cổ bối. Cách gọi đó không phổ biến và thường chỉ được 1 vài vùng, 1 vài dân tộc gọi như vậy.
Một trong những nơi mà cây hoa Gạo được nhắc đến nhiều nhất là Tây Nguyên. Với cái tên Pơ Lang, loài cây và hoa này đi vào thơ ca của bà con dân tộc. Người ta thường ví cây Kơ-nia là biểu trưng sức mạnh vạm vỡ của các chàng trai Tây Nguyên thì Pơ-lang chính là biểu tượng cho những cô gái yêu kiều
Cũng giống như Bao báp, cây hoa Gạo cũng được coi là một loài cây có dược tính cao. Theo sách “Cây cỏ Việt Nam” thì từ hoa đến vỏ cây, rễ và vỏ rễ đều có thể dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần, có đặc tính thanh nhiệt, giải độc, cầm máu… chữa được các bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, băng huyết, viêm loét v.v… Sách sử Trung Quốc còn ghi: Tương truyền vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, vua Nam Việt là Triệu Đà đã dâng tặng vua nhà Hán một cây hoa gạo quý làm vật triều cống!
Thuyết minh về cây hoa gạo hay bài mẫu 3:
Cây gạo sân đình, cây gạo bến sông trong tâm thức văn hóa người Việt như “cọc tiêu” đánh dấu mỗi ngôi làng. Hoa gạo – loài hoa nở vào tháng ba, đặt một dấu chấm hết cho mùa xuân với màu đỏ chói chang “cháy” hết mình đã thắp sáng bao trang thơ. Cây gạo, hoa gạo trở thành một biểu tượng cho quê hương vững bền, điểm tựa tinh thần của con người trong cuộc sống. Khai thác vẻ đẹp hoa gạo, bài thơ của Nguyễn Khắc Hào tập trung khai mở nhiều tầng nghĩa mới từ quan sát, suy ngẫm, liên tưởng của riêng anh.
Gặp tháng ba mùa hoa gạo nở
Thức một khoảng trời vạt sông quê
Kìa mắt ai ngước nhìn mơ mộng quá
Ta như quen như lạ lẫm lối về.
Không nuôi sống ai mà thành hoa gạo
Vô tư như chẳng biết có ai nhìn,
Khát vọng gì gửi trong màu hoa ấy
Cuối xuân rồi hoa gọi nắng hè lên.
Ơi hoa gạo vẽ lên trời sắc đỏ
Thảm cỏ xanh, giàn đuốc, tháng ba xanh
Đường quê mưa mẹ ngang vai gánh mạ
Tay lượm bông hoa gạo cho mình.
Ơi hoa gạo đẹp kiêu kỳ đến vậy
Rụng xuống rồi vẫn thắm đỏ như son,
Có ai biết những ngày hoa gạo trút
Một khoảng trời trơ trụi nỗi cô đơn.
Cây gạo sân đình, cây gạo bến sông trong tâm thức văn hóa người Việt như “cọc tiêu” đánh dấu mỗi ngôi làng. Hoa gạo – loài hoa nở vào tháng ba, đặt một dấu chấm hết cho mùa xuân với màu đỏ chói chang “cháy” hết mình đã thắp sáng bao trang thơ. Cây gạo, hoa gạo trở thành một biểu tượng cho quê hương vững bền, điểm tựa tinh thần của con người trong cuộc sống.
Khai thác vẻ đẹp hoa gạo, bài thơ của Nguyễn Khắc Hào tập trung khai mở nhiều tầng nghĩa mới từ quan sát, suy ngẫm, liên tưởng của riêng anh.
Như tên gọi, bài thơ xây dựng hình tượng xuyên suốt: hoa gạo, trong một không gian xuyên suốt: một khoảng trời, mở đầu và kết thúc, đối chiếu, hô ứng. Trong tâm cảm nhà thơ, hoa gạo vừa là hình ảnh thiên nhiên vừa là ẩn dụ như mang hồn người, phận người.
Ơi hoa gạo vẽ lên trời sắc đỏ
Thảm cỏ xanh, giàn đuốc, tháng ba xanh.
Hai dòng thơ 16 chữ, cảnh và tình hòa quyện. Một bức tranh về làng quê lúc cuối xuân trong sáng như có chứa cả sức sống tràn về với hai màu xanh – đỏ tương phản, tôn rước nhau lên. Cảnh có tầng lớp: trên cao, dưới thấp, có diện (bầu trời, thảm cỏ), có điểm: giàn đuốc chói ngời của hoa gạo. Có hình ảnh tả thực: thảm cỏ xanh, nhân hóa: vẽ lên trời sắc đỏ, chuyển đổi cảm giác – không gian hóa thời gian: tháng ba xanh.
Thuyết minh về cây hoa gạo hay bài mẫu 4:
“Mỗi độ tháng ba về
Ai vãi lửa đam mê vào bầu trời cháy bỏng?”
Những bông hoa Gạo đỏ rực, cháy bỏng những đam mê báo hiệu cho chúng ta biết đã bước vào tháng ba, tháng giao mùa giữa mùa xuân và mùa hạ. Ở đâu đó trên mọi miền đất nước vượt lên màu xanh của lũy tre làng là những cây gạo điểm những bông hoa đỏ thắm, rực rỡ cả một góc trời.
Hoa Gạo hay còn được gọi bằng một cái tên khác như hoa Mộc Miên nghe vừa lạ lại vừa quen. Cái màu hoa ấy xua tan đi cái lạnh lẽo của mùa đông, mang đến sự bình yên ấm áp của cái thời khắc giao mùa ấy. Sự sống của làng quê dường như thắm đượm lên thêm khi những bông hoa Gạo đỏ rực nổi bật giữa xanh cao yên tĩnh của đất trời. Trên những con đường làng hoa Gạo rực rỡ như muốn níu lấy ánh mắt của những người nông dân còn đang bận bịu với công việc đống áng. Cái thứ hoa đang nhen nhói khắp các triền đê, thắp lên trong ta cả một vùng trời thương nhớ. Những chấm đỏ đốt trong sương mù báo hiệu nơi ấy có những dòng sông với những bến đò. Đối với bọn trẻ con chúng tôi ngày ấy, cây Gạo là cả một thế giới linh thiêng, bí ẩn qua những câu chuyện truyền thuyết từ xa xưa về những con ma thần bí quanh quẩn bên gốc gạo già.
Lớn lên chút nữa, mỗi mùa hoa Gạo về khi cái tết vừa mới qua đi lại báo hiệu cho lũ học trò chúng tôi biết mùa thi sắp tới. Có hôm ngẫu hứng mấy đứa rủ nhau ra gốc cây gạo ngồi ôn bài. Cây Gạo già cỗi che trở như ôm trọn chúng tôi vào lòng. Đến khi trưởng thành xa quê hương lên thành phố học, nơi chốn phồn hoa đô thị, tôi không tìm thấy được cái loài hoa ấy nữa. Nhưng cây gạo hồi đó, những bông hoa đăng đỏ rực hồi đó vẫn ở sâu thẳm tận trong lòng tôi, nơi những kí ức trở thành những gì thiêng liêng nhất, cao cả nhất.
Thuyết minh về cây hoa gạo hay bài mẫu 5:
Làng tôi ở bao năm trời tình làng nghĩa xóm gắn kết, thương yêu nhau qua từng đụn rơm nghèo, bờ ruộng chênh vênh và ngọn rau rừng đắng. Tôi đi xa từng ấy năm vẫn nhớ cái ranh giới làng quê không phải là “cây đa, bến nước sân đình” hay lũy tre xanh bao bọc, mà ngay cổng làng là cây gạo to sừng sững không biết có từ thuở nào vẫn giang những cánh tay chào đón.
Tháng ba này trên khoảng trời quê hương đã thắp lên một màu đỏ rực, như ngọn đèn trời chiếu sáng cho làng quê thanh bình và như soi đường cho những đứa con xa quê đừng quên lối.
Tôi nhớ ngày bé thơ còn đi chân đất đến trường, mỗi khi tháng ba về cả lũ bạn đứa nào cũng chỉ đợi trống tan trường rồi ùa nhau chạy về thật sớm. Chỉ để làm sao về đến đầu làng thật nhanh, đứa nào cũng hứng cái mũ lan rộng vành chờ hoa gạo rụng. Nhưng vào những ngày bão lớn, cây gạo đứng một mình giữa khoảng trống trơ bị gió quật rụng xuống rất nhiều hoa gạo đỏ, như thể gió trời đã dập tắt từng ngọn đèn nhỏ trên những bàn tay cây gạo. Lũ nhỏ chúng tôi, chẳng ai bảo ai nhưng đều buồn vời vợi, nỗi buồn hiếm hoi của tuổi cắp sách đến trường. Những bông gạo rụng chúng tôi nhặt về bằng hết, đứa thì đặt trên cửa sổ có những viên gạch vỡ nham nhở, đứa thì thả vào một cái chậu nước rồi để trong nhà, cũng có đứa ương bướng cố ép vào trang vở. Dù biết rằng hoa gạo mọng nước không dễ gì ép như hoa phượng hay bằng lăng tím, bởi hoa gạo không cam lòng để màu đỏ tươi của mình chuyển thành sắc tím đen trong trang vở trắng. Hoa gạo chỉ thích thắp đỏ giữa khoảng trời làng quê yên bình vào đúng độ tháng ba.
Sau này tôi đi xa, mỗi lần nhớ về làng quê tôi lại nhớ đến những kỉ niệm một thời sâu hoa gạo đỏ đội lên đầu tự nhận làm cô dâu, rồi thể nào thằng bạn cũng tít mắt cười nhận “ để tao làm chú rể”. Lũ bạn ê ồ suốt cả buổi chiều, cho đến khi bóng tối đã dần bao trùm ngõ xóm mới lũ lượt kéo nhau về, có đứa vẫn còn dặn với theo: “Ngày mai đến lượt tao làm cô dâu nhé!”. Bây giờ nghĩ lại vẫn còn thương những kỉ niệm hồn nhiên ấy, dù những đứa bạn năm xưa đã con bồng, con bế, chú rể của riêng mình ngày nào giờ cũng đã đi đón cô dâu. Tôi trở về đi ăn cưới bạn vào đúng độ hoa gạo nở rộ nên bảo với đứa bạn rằng:
– Đúng tháng ba năm sau mình sẽ lấy chồng.
Con bạn bông đùa:
– Chờ hoa gạo chắc?
Tôi cười.
Tháng ba này vẫn ngồi giữa thành phố xa xôi, trời đang nóng bỗng chuyển gió mùa, lòng lại xót xa thương hoa gạo rụng. Không biết trẻ con bây giờ có còn hứng hoa như ngày xưa không, hay để cánh hoa tả tơi rơi trên nền cỏ để ngày mai có thể cái nắng gắt, oi nồng lại trở về thiêu những cánh hoa rơi. Lâu lắm rồi không về thăm quê, đang bảo lòng có khi tháng ba này lại xách ba lô về nhặt hoa gạo đỏ… | Thuyết minh về cây hoa gạo (Hoa Mộc Miên) | 3,640 | |
Thuyết minh về cây hoa sen
Bài làm
Sen là một loài thực vật sống dưới nước và chiếm giữ một vị trí cổ xưa. Ở Việt Nam, sen được xếp vào bộ tứ quý: Lan, sen, cúc, mai và xếp hàng theo “tứ quân tử” cùng tùng, trúc, cúc. Hoa sen rất thích hợp với môi trường có khí hậu nhiệt đới như nước ta. Từ Bắc vào Nam, nó có mặt khắp mọi nơi, gần gũi và thân thiết với mọi người như cây tre, cây đa…
Nếu ở miền Bắc, hoa sen chỉ nở vào mùa hè, thì ở hầu khắp miền Nam quanh năm đâu đâu cũng thấy sen khoe sắc thắm.Những cánh, nhụy và gương hạt đã tạo nên một bông hoa sen có nét đẹp thanh thóat và màu tươi sáng. Sen được đỡ bằng một cuống hoa dài và đưa sen mọc khỏi trên mặt nước. Lá sen rất xanh có một lớp nhung trắng phủ trên bề mặt khi ánh náng chiếu vào làm lớp nhung trắng đó óng ánh li ti mờ ảo rất đẹp. Gương hạt sen hình phễu, nhẹ, xốp, màu đỏ tía, không có mùi, có tác dụng cầm máu rất hiệu quả lên được chế biến thành nhiều loại thuốc để chữa bệnh băng huyết,cao huyết áp,…và là nguồn càm hứng.
Hoa sen mọc trong bùn, sống trong bùn nhưng vượt lên khỏi nó để hướng đến mặt trời mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn. Cũng giống như một người được sinh ra trên thế giới, tồn tại giữa cuộc đời nhưng đã vượt thoát khỏi sự tham lam, sâu hận, dục vọng và không bị vấy bẩn, ô nhiễm bởi dòng đời. Và có lẽ hoa sen đẹp nhất khi được ví với hình tượng Bác Hồ, người cha già dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta:
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Trong lòng mỗi người dân Việt, sen là loài hoa tượng trưng cho vẻ đẹp tươi sáng, cao sang và thuần khiết mang tính chất dân tộc.Có lẽ, không người Việt Nam nào không thuộc bài ca dao đầy tính triết lý này:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Sen sống trong bùn nhưng sen vươn lên trên lầy, toả hương thơm ngát. Sen có một sức sống mạnh mẽ đến kỳ lạ và tự tính của sen là tinh khiết, vô nhiễm. Tượng trưng cho bản tính thân thiện, phong thái tao nhã, tinh thần “vượt lên” trong mọi nghịch cảnh và giá trị đạo đức. Ngoài ra, kiến trúc tiêu biểu lấy cảm hứng từ hoa sen là chùa Một Cột. Theo truyền thuyết, chùa được hình thành từ một giấc mộng đài sen của vua Lý Thái Tông. Chùa có hình dáng hoa sen, mọc lên từ hồ nước, chỉ với “một cột” như một cọng sen.
Cái đẹp là để người ta yêu! Nhưng có người yêu cái đẹp rực rỡ, chói ngời, lại có người yêu cái đẹp giản đơn, mộc mạc. Còn tôi, tôi yêu cái đẹp bình dị nhưng khiến người ta phải ngẫm suy. Phải chăng vì hoa sen cũng thế nên tôi mới cảm nhận được cái đẹp trong loài hoa này? Giữa chốn đầm lầy lạnh lẽo, mầm hoa kiên trì chắt lọc những tinh hoa từ đất mẹ. Thế rồi một sớm mai nắng đẹp, hoa sen vươn lên, xòe cánh đón nắng mai. Từng cánh hoa tinh khôi, thoảng nhẹ chút hương theo gió. Miền đất ngai ngái mùi bùn, ấy mà sen vẫn rạng ngời vươn cao. Bất giác, ta nhớ đến những con người giữa cái nghèo đói vây quanh, tưởng họ sẽ buông tay mặc cho số phận,nhưng không, họ vẫn là chính họ! Và rồi, họ mơ một ngày mai tươi sáng, họ sẽ là đóa sen thơm tỏa ngát giữa cảnh đời chông gai. Sen đã khắc họa vào tim ta chất thanh cao…Sen thầm lặng, hiền hòa nhưng cao quý biết chừng nào.
Dù thời gian đang hằn những bước chân vào tạo hóa nhưng tôi tin, sen dù có trải qua bao cuộc đổi thay vẫn sẽ giữ được vẻ đẹp thanh khiết, mùi hương dịu dàng giống như con người Việt Nam vẫn luôn vươn lên để tỏa sáng như đóa sen vươn mình, đón nắng mai nơi bùn đất. Và rồi một ngày, sắc sen rạng rỡ giữa cuộc sống mến thương. | Thuyết minh về cây hoa sen | 758 | |
Thuyết minh về cây hoa đào
Bài làm
Mỗi độ tết đến xuân về không khí người người nhà nhà đi sắm sanh tết và trang hoàng lại nhà cửa bắt đầu trở nên nhộn nhịp. Khi tiết trời mùa đông dần nhường cho nắng ấm mùa xuân tràn về cũng chính là lúc người ta thấy trên những nhành mai nhành đào, búp nụ bắt đầu chúm chím chỉ chờ đến ngày để bung hoa tươi thắm.
Hoa đào là một biểu trưng không thể thiếu trong dịp lễ tết truyền thống của người dân Bắc Bộ cũng giống như thịt mỡ dưa hành hay bánh chưng bánh tét, cành hoa đào ngày tết đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ và hết sức thiêng liêng. Cánh đào khoe sắc, đươc chưng trên bàn thờ tổ tiên như để hi vọng một năm mới đến với nhiều điều may mắn, tài lộc sum vầy.
Hoa đào thường có nhiều loại và màu sắc của chúng khác nhau, thân cây và số lượng cánh hoa cũng vô cùng đa dạng. Đào phai được tìm thấy nhiều ở nước ta, vì dễ trồng và chăm sóc. Loại hoa này có năm cánh, hồng nhạt, nở trong 4-5 ngày rồi bắt đầu tàn. Đào bạch lại vô cùng thanh khiết với màu trắng muốt, đẹp đẽ và tinh khôi. Đào nhật tân lại tạo nét riêng biệt với số lượng cánh và màu sắc hồng đậm, thân cây lại rêu phong rất cổ kính nên được rất nhiều người ưa chuộng và mang về nhà mỗi dịp tết đến xuân về.
Không chỉ mang tính chất biểu trưng và trang trí cho nhà cửa ngày tết, cây đào còn được sử dụng để dùng vào các mục đích khác. ĐỐi với chị em phụ nữ, rất thích hoa đào, bởi khi dùng cánh hoa đào làm thuốc, có tính mát đắp lên mặt khiến cho khuôn mặt hồng hào tươi tắn và tràn đầy sức sống. KHông những thế loài cây này còn được biết đến là một loại thuốc chữa trị bí đại tiện.
Ngày nay khi cuộc sống con người ngày càng no đủ, có nhiều lựa chọn cho ngôi nhà của mình nhưng người ta vẫn không quên phong tục đi chợ tết sắm sanh đồ đạc và tậu một cành đào đẹp về cho căn nhà của mình trở nên ấm úng và vui vẻ.
Mỗi khi nụ hoa đào nở, lại bắt đầu báo hiệu cho tết đến xuân về, lòng người như càng thêm vui vẻ và hứng khởi khi thời gian được đoàn viên và quy tụ gia đình lại bắt đầu. Cuộc sống dẫu có hiện đại bao nhiêu thì những giá trị mà cành đào ngày tết mang lai sẽ không bao giờ phai nhạt. Ông bà truyền lại con cái đời đời lưu giữ những giá trị truyền thống mà ông cha ta đã quyết tâm giữ hàng ngàn năm lịch sử. | Thuyết minh về cây hoa đào | 493 | |
Thuyết minh về cây lúa nước Việt Nam
Hướng dẫn
–Mở bài: giới thiệu chung về cây lúa (hoặc một loài cây nào đó) trên đồng ruộng Việt Nam (hoặc ở quê em).
-Thân bài:
+ Lúa là một loài cây nông nghiệp quan trọng ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Hàng năm, việc thu hoạch lúa gạo đã cung cấp nguồn lương thực chính cho người dân.
+ Cây lúa gắn bó với đời sống của người dân Việt Nam. Nền văn minh lúa nước sông Hồng có ngàn năm nay (có thể dẫn vài câu ca dao nói về sự gắn bó của người dân Việt Nam với cây lúa).
+ Nghề trồng lúa có nhiều gian nan, phụ thuộc vào đất đai, thời tiết, người nông dân vất vả một nắng hai sương trông lúa làm ra hạt gạo (có thể đưa số liệu về tính thời vụ của cây lúa, trích một vài câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm trồng lúa của người Việt Nam).
+ Việt Nam có 2 vựa lúa lớn: châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, châu thổ đồng bằng Nam Bộ ; ngoài ra lúa được trồng dải đồng bằng ven biển miền Trung, trên các thung lũng giữa các vùng núi cao (cánh đồng Mai Châu, Mường Thanh…) trồng trên nương… Lúa là nguồn cung cấp lương thực chính (có thể lấy số liệu lương thực thu và xuất nhập khẩu hàng năm ở Việt Nam) ; nhà nước đầu tư để tạo ra các giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn, vừa ngon vừa cho năng suất cao.
Có nhiều sản phẩm được làm từ cây lúa: sản xuất cồn, rượu, sản xuất bột mĩ phẩm, sản xuất hãng mĩ nghệ từ cây lúa (hàng bện bằng rơm rạ), sản xuất giấy, than hoạt tính, phân bón từ vỏ trấu, từ rơm rạ… không kể việc người nông dân dùng thân cây lúa lợp mái nhà, làm phên và từ xa xưa làm áo tơi, ổ rơm… (có thể trích các câu ngạn ngữ: no cơm tấm, ấm tổ rơm…).
+ Cây lúa được tôn vinh trong đời sống Việt Nam (kể tên một số lễ hội đình đám liên quan đến việc trồng lúa: hội xuống đồng, lễ cúng cơm mới, hội vào mùa, lễ cầu mua… tục dâng thờ cúng cơ…).
+ Cây lúa với tuổi thơ ở nông thôn Việt Nam: đi giữa biển lúa vàng, ngửi hương lúa mới, mùi rơm rạ… chạy trên những cánh đồng vừa gặt, những kỉ niệm gắn với ngày hội xuống đồng, những ngày cùng gặt, những kỉ niệm gắn với ngày hội xuống đồng, những ngày cùng cha mẹ gieo, cấy, gặt hái, phơi thóc…
-Kết bài: Cây lúa là cây lương thực quý, có vị trí đặc biệt tròn tình cảm của người nông dân Việt Nam.
Bài làm
"Việt Nam đất nước ta ơi!
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn."
(Lê Anh Xuân)
Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam, đâu đâu cũng có những cánh đồng lúa mênh mông, xanh tốt. Từ đồng bằng Bắc Bộ đến đồng bằng duyên hải miền Trung rồi đến đồng bằng sông Cửu Long, lúa là loại cây trồng chủ yếu. Lúa gắn bó với người nông dân Việt Nam.
Việt Nam được xem là “cái nôi của nền văn minh lúa nước”.
Lúa là loại cây trồng thân cỏ, thân ngắn và phát triển thành bụi, rễ chùm, bám cạn, là cây lương thực chính trong sản xuất nông nghiệp.
Lúa được ươm mầm từ những hạt thóc căng mẩy. Hạt thóc giống ngâm nước ấm, ủ lên mầm rồi gieo xuống đất bùn. Chỉ độ 3 – 4 ngày thì những mầm non vươn lên rồi trở thành những cây mạ xanh tươi. Lúa phát triển rất nhanh, từ một thân lúa, lúa đâm nhiều thân mới rồi tựa vào nhau sinh sồi nảy nở trở thành từng bụi, từng khóm lúa. Khi lúa đang thì con gái, lá lúa vươn dài, hơi cong, xanh mướt một màu. Thân lúa lúc này cần nhiều chất dinh dưỡng để ngậm đòng, kết hạt. Khi trồng lúa ta cần chú ý đến giai đoạn sinh trưởng này. Trong chăm sóc lúa, nhà nông chúng ta luôn tâm niệm:
"Nhất nước Nhì phận Tam cần Tứ giống".
Đó là 4 yếu tố chính để làm nên mùa vụ. Từ những ngày đầu gieo trồng cho đến lúc lúa trưởng thành ta phải lưu ý cung cấp đủ nước cho lúa nhưng cũng không để ngập úng làm lúa chết. Bởi thế mà hệ thống thủy lợi ra đời nhằm đáp ứng việc tưới tiêu cho lúa. Song song với việc cung cấp đủ nước là việc bón phân. Giai đoạn làm đất để chuẩn bị gieo cấy ta nên bón phân trâu, bò hoặc phân xanh ủ mục. Giai đoạn mạ non cần bón phân u-rê để lúa nhanh có sức vươn lên. Đến giai đoạn làm đòng thì lúa cần nhiều dinh dưỡng nền ta chú ý cung cấp đủ lượng và chất. Có thể kết hợp phân u-rê và NPK hoặc một số loại phân hóa học kết hợp với từng giống lúa. Trong giai đoạn này lúa cần sự chăm sóc nhất là nhổ cỏ – bón phân – diệt trừ sâu bệnh. Có như thế lúa mới có sức ngậm đòng, kết hạt, đem lại kết quả ở mùa vụ. Khi lúa ngậm đòng cần chú ý trừ sâu bệnh và bơm thuốc dưỡng cây để bông lúa mẩy hạt nhiều hơn, cho năng suất cao hơn. Giai đoạn lúa chín chỉ cần cung cấp vừa đủ nước, không phải bón phân và phun thuốc cho lúa nữa.
Nếu được gieo trồng và chăm sóc thật kĩ thì lúa sẽ không phụ công người. Mùa vàng về, cánh đồng lúa trải dài như tấm thảm khổng lồ. Đồng quê. bát ngát dậy một mùi hương lúa mới, hương lúa thấm sâu tròng từng nếp khăn, từng vạt áo của người nông dân. Còn gì đẹp hơn cánh đồng lúa trong mùa gặt hái:
"Đồng chiêm phả nắng lên không
Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng
Gió nâng tiếng hát chói chang
Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời."
Tiếng hát mùa gặt – Nguyễn Duy
Cứ thế, một năm có hai vụ mùa chính. Vụ chiêm xuân từ tháng giêng đến tháng 4, tháng 5. Vụ mùa từ tháng 6 đến tháng 9, tháng 10. Có nơi lại làm thêm một vụ phụ đối với giống lúa ngắn ngày. Cây lúa nuôi sống con người, đem đến cho đất nước một nguồn thu lớn. Trong sản xuất nông nghiệp, lúa có tầm quan trọng đặc biệt. Lúa đưa nền kinh tế gia đình và nền kinh tế quốc dân ngày một đi lên. Lúa giúp con người có cơm no áo ấm.
Ngày nay, đất nước ta đang hội nhập và phát triển, Việt Nam là thành viên của WTO nên hoạt động buôn bán với nước ngoài ngày càng được mở rộng. Chúng ta nhập khẩu các thiết bị máy móc, xe cộ, linh kiện điện tử,… và xuất khẩu lúa gạo, hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm,… Bởi vậy cây lúa Việt Nam chiếm vị thế rất quan trọng đối với con người và đất nước. Đó là chưa kể đến rơm rạ sau khi thu hoạch còn là nguồn thức ăn chính cho trâu bò. Rơm khô còn là chất đốt, ủ phân bón ruộng, dùng để làm nấm. vỏ thóc dùng để ủ ấp trứng,…
Cây lúa sẽ còn gắn bó mãi với người nông dân Việt Nam, với đất nước Việt Nam. Lúa làm cho đất nước thêm trù phú, cuộc sống của người nông dấn ngày càng no ấm. Lúa góp phần tôn vinh dân tộc Việt Nam. | Thuyết minh về cây lúa nước Việt Nam | 1,304 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây lúa nước
Bài làm
Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”.Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.
Đối với người Việt nói riêng hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Cadao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v..
Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng.
Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó.
Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”.
Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất.
Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thonthả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.
Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trỗ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trỗ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…
Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!
Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.
Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.
Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước -nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó,gần gũi với người Việt, hồn Việt là lẽ dĩ nhiên. | Thuyết minh về cây lúa nước | 978 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây lúa
Bài làm
Hạt gạo, củ khoai, bắp ngô… là nguồn lương thực chính của nhân dân ta đã bao đời nay. Màu xanh lúa con gái, màu vàng tươi của cánh đồng lúa chín là hình ảnh thân thuộc quê hương đất nước chúng ta.
Nước ta có nghề trồng lúa đã lâu đời. Hầu như ở miền quê nào cũng có đồng lúa, ruộng lúa, nương rẫy trồng lúa. Bình nguyên sông Hồng, bình nguyên sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất ở nước ta.
Có hai vụ lúa chính: vụ chiêm và vụ mùa. Nước ta có hàng trăm giống lúa như: lúa gié, lúa ba giăng, lúa di hương, lúa mộc tuyền, lúa móng chim,… Quý nhất là lúa ' tám xoan, lúa dự, gạo trắng, dẻo và thơm. Cơm tám giò chả, ăn mãi không biết no. Lúa nếp cũng có nhiều loại: nếp cái, nếp rồng, nếp mỡ, nếp nàng tiên,v.v…
Nghề trồng lúa là nghề căn bản của nhà nông. Dân cày cần cù, một nắng hai sương, quanh năm bám lấy ruộng đồng: cày bừa. cấy hái, tát nước, bón phân, làm cỏ:
"Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa".
"Ruộng thấp tát một gầu dai,
Ruộng cao tlứ phái tảl hai gầu sòng".
(Ca dao)
Miền Bắc quen gieo mạ, cấy lúa Miền Nam lại sạ lúa. Lúa sau khi sạ, mạ sau khi gieo độ 10 ngày đã xanh rờn bát ngát. Lúa con gái xanh ngắt một màu. Những cơn mưa rào cuối xuân đầu hè được gọi là cơn mưa vàng, làm cho đồng lúa tươi tốt bời bời:
"Lúa chiêm đứng nép đầu bờ,
Nghe ba tiếng sấm phất cờ mà lên".
Lúa đứng cây rồi, lúa có đòng đòng. Lúa trổ dâng hương thoang thoảng. Hoa lúa trắng nõn. Rồi lúa ngậm sữa, lúa uốn câu. Độ nửa tháng sau, đồng lúa ừng vàng, lúa chín rộ. Cánh đồng quê như một tấm lụa mỡ gà khổng lồ căng rộng, trải dài đến tận chân trời xa. Lúa reo rì rào như cất tiếng hát. Đồng quê vui náo nức trong mùa gặt. Tiếng xe chở lúa, tiếng máy đập lúa, tiếng hát vang rộn xóm thôn. Những năm bội thu, mùa gặt là ngày hội của đồng quê. Cơm gạo mới, mẻ cốm ngọt ngon, đĩa xôi gấc dẻo thơm cứ quyện lấy hồn người.
Cây lúa thật quý giá vô cùng. Rạ rơm làm được bao việc. Để đun bếp, làm phân, để lợp nhà, làm thức ăn cho trâu bò. Nhà nghèo dùng lót ổ trong mùa đông tháng giá: "No cơm tấm, ấm ổ rơm" Rạ rơm là nguyên liệu dé’ trổng nấm xuất khẩu, vỏ trấu để ù bếp, để độn phân chuồng. Cám để nuôi heo, để ép thành dầu cám. Bát cháo cám năm đói 1945 nhiều người già còn nhắc lại. Hạt lúa là hạt vàng. Hạt gạo là hạt ngọc. Gạo để nấu cơm ăn ngày 3 bữa:
"Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần".
(Ca dao)
Gạo xay giã thành bột để làm bún, làm bánh đúc, bánh cuốn, bánh đa:
"Bánh đúc thiếp đổ ra sàng,
Thuận thiếp thiếp bán, thuận chàng chàng mua".
(Ca dao)
Bánh chưng, bánh giầy, bánh LÌ, bánh gai, bánh xèo, bánh rán, bánh cốm, bát chè cốm,… trăm thứ bánh, trăm thứ quà. Hương vị quê nhà mới đậm đà biết bao!
Nghề nông ngày một phát triển. Điện, máy, thuốc trừ sâu đã về làng. Nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Người nông dân Việt Nam mang bao phẩm chất tốt đẹp: cần cù. kiên nhẫn, bền bỉ, dẻo dai, thương người, thương nhà và thương nước. Cây lúa nhân hậu như người dân cày nên lúa không thoái hóa thành cỏ dại. Màu xanh của lúa gợi lên vẻ đẹp ấm no thanh bình. Hương sắc của lúa tượng trưng cho vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm của người thôn nữ quê ta.
Nâng bông lúa, ngắm nhìn đồng lúa mà lòng bâng khuâng. Tình yêu đồng quê dâng lên dào dạt trong lòng ta. Màu xanh của lúa trường tồn trong dòng chảy thời gian với quê hương xứ sở. Câu ca xưa vấn vương mãi hồn người:
"Bao giờ cây lúa còn bông,
THì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn". | Thuyết minh về cây lúa | 729 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây mai
Bài làm
Trồng hoa là để được vun vén, chờ đón cái đẹp của hoa và cũng là để gửi gắm tâm sự, tình cảm của lòng người trồng hoa, vậy nên mới có Khuất Nguyên yêu hoa Lan; Đào Tiềm trồng hoa Cúc; mới có Nguyễn Trãi “Hái cúc, hương lan, hương bén áo/Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn”; và Cao Bá Quát cả một đời chỉ cúi đầu trước hoa Mai mà thôi (“Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”).
Hoa là biểu trưng cho cái đẹp, mỗi loài hoa đều có ngôn ngữ riêng. Hoa Mai là một trong bốn loài cây được xếp vào hàng tứ quý, gồm Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Người Việt xưa cho rằng Tùng, Cúc, Trúc, Mai có những tính chất đặc biệt nổi bật, tượng trưng cho những phẩm chất tốt đẹp của con người. Tùng vững chãi, chịu đựng được sự khắc nghiệt của thời tiết. Trúc thanh mảnh, nhưng dẻo dai bền chắc. Hoa Cúc đẹp bình dị, hương thơm nhẹ nhàng, thanh tao. Cúc tượng trưng cho nếp sống khiêm tốn, điềm đạm (Phú quý lòng hơn phú quý danh – Nguyễn Trãi).
Mai là cây hoa kiểng dễ sống, sống mạnh và được coi là giống cây dễ trồng nhất.
Cây mai không quá kén đất trồng. Bằng chứng cho thấy các loại đất thịtt, đất cát pha, sét pha, đất phù sa, đất đỏ bazan, thậm chí đất có lẫn đá sỏi… vẫn trồng mai được. Miễn là đất đó không phải là đất chết, đất quá nghèo nàn chất dinh dưỡng không thể trồng các giống cây được.
Cây mai kỵ đất bị úng thuỷ, đất thường xuyên bị ngập lụt, vì rễ cái của mai rất dài nên nước ngập lâu ngày rễ sẽ bị thúi khiến cây bị úa héo và chết dần.
Ngoài rễ cái ra, cây mai còn có vô số rễ bàng mọc tua tủa quanh đoạn cổ rễ, có nhiệm vụ hút các chất dinh dưỡng trong tầng đất mặt để nuôi cây. Rễ cái bị thúi hay bị đứt không có khả năng mọc dài ra được, nhưng rễ bàng lại khác, bị đứt chúng lại mọc ra, vì vậy bộ rễ bàng cũng đóng một vai trò quan trọng cho việc sinh trưởng và phát triển của mai.
Hoa mai:
– Đối với cây mai kiểng, yếu tố chủ yếu là dáng cây và điều khiển ra hoa đúng kỳ. Nếu cành là quá tốt thì ức chế ra hoa, nếu còi cọc quá thì số hoa ít và không đẹp. Do trồng trong chậu, lượng đất bị giới hạn nên việc bón phân, chăm sóc cho mai là hết sức cần thiết hơn mai trồng trực tiếp trên ngoài đất vườn.
– Cây mai thích hợp với những nơi có khí hậu nóng ẩm, từ 25o-30o là tốt nhất, mai có thể chịu đựng được nhiệt độ cao hơn trong nhiều ngày, thậm chí nhiều tháng, nhưng với những vùng có khí hậu mát lạnh dưới 10o thì mai sinh trưởng kém.
– Cây mai ưa nắng, nhưng khả năng chịu khô hạn chỉ ở mức tương đối. Mai thích hợp với vùng có 2 mùa mưa nắng rõ rệt. Trong mùa mưa thì mưa nhiều, mùa nắng thì trùng vào mùa cây thay lá, trổ hoa. Bằng chứng là ở miền Nam, năm nào mà thời tiết cuối năm thay đổi như mưa nhiều hoặc giá lạnh thì cây mai cũng nở hoa không đúng ngày.
Mai có xuất xứ từ cây hoang dại, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đặc biệt với khí hậu miền Nam. Cây mai sinh trưởng và phát triển mạnh, có tuổi thọ cao và nếu được chăm sóc chu đáo sẽ cho hoa nhiều và có màu sắc đẹp. Cây mai mỗi năm rụng lá một lần vào cuối mùa Đông (tháng 1 – tháng 2 Dương lịch) và nở hoa vào đầu mùa Xuân, chỉ riêng mai Tứ Qúy là nở hoa quanh năm. Hiện nay nhờ kỹ thuật lai tạo giống, các nghệ nhân đã tạo ra được các giống mai có nhiều cánh, cánh xếp nhiều tầng như mai Huỳnh Tỷ, mai Giảo, mai Cúc, mai Cửu Long…và đa dạng về màu sắc như Bạch Mai, mai Miến Điện, mai Bến Tre, mai Tứ Quý… | Thuyết minh về cây mai | 732 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây mơ và quả mơ
Bài làm
Cây mơ thuộc họ tường vi, lá nhỏ, dài màu xanh nhạt. Trên thế giới, rất ít nước trồng được mơ. Ở nước ta nơi nào cũng trồng được mơ, nhưng ngon, thơm và giòn đặc biệt là mơ Hương Tích.
Giêng, Hai mơ nở hoa trắng cành. Hương hoa toả lâng lâng. Quả mơ hình cầu, phía đầu lõm vào, phía cuối chụm lại như cái vuốt nhọn rất xinh. Khi chưa chín, quả mơ màu xanh, bao bọc bởi một lớp lông trăng trắng, lúc chín chuyển màu vàng, dậy hương thơm.
Vào đầu mùa hè, mơ chín rộ. Quá mơ nhỉnh hơn đầu ngón tay cái người lớn; quả tươi ăn chua chua, thơm giòn.
Mơ tươi ướp đường là một trong những thứ đồ uống giải nhiệt, giải khát được nhiều người yêu thích. Mơ đem phơi khô, sấy khô, chế biến thành ô mai, thoại mãi, mai trần bì hoặc rượu thanh mai. Mơ ngâm muối rồi đem hong, đem phơi, đem sấy, phía ngoài có lớp phấn trắng, gọi là bạch mai, mai sương, mai muối, vừa làm thuốc vừa để ăn để giải khát, chống ho…
Mơ dễ trồng, quả mơ rất quý. Vài quả ô mai ngậm miệng lúc ho, lúc khát, một chén rượu thanh mai thết khách quý….càng cho ta thấy giá trị đặc biệt của cây mơ, quả mơ nơi vườn quê. | Thuyết minh về cây mơ và quả mơ | 239 | |
Thuyết minh về cây tre việt nam văn 9
Hướng dẫn
Thuyết minh về cây tre việt nam văn 9
Từ bao đời nay, cây tre là người bạn gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam. Tre đã cống hiến tất cả sự sống cho con người nên ta phải yêu quý và bảo vệ cây tre Việt Nam.
Tre là một loại cây khẳng khiu, có nhiều công dụng. Lá tre thường được người miền Nam lấy để gói bánh tro vào dịp lễ giết sâu bọ. Lạt tre dùng để cột bánh. Thân tre được dùng để làm đũa. Các thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre. Nhân dân ta thường đong dầu, đong nước mắm khi mua bán bằng ống tre. Thời cách mạng, bộ đội Việt Nam dùng ông tre để đựng nước, nấu cơm. Trong quán ăn ở vùng nông thôn, người ta cũng chẻ thân tre để làm ống tăm cho khách sử dụng sau bữa ăn. Thân tre chẻ nhỏ để nhóm bếp rất đượm lửa.
Tre có một số loại thông dụng như: tre gai, tre xanh, tre ngà, tre rừng… Bên cạnh đó, nó còn có anh em bà con như: lồ ô, trúc, tầm vông… Tre xanh lúc còn sống có màu xanh mượt, đốt dài và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng từ 6 – 8cm. Cao không đến 10m. Tre gai kích thước ốm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh gai, sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp. Người ta thường trồng làm cảnh. Tre rừng, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm.
Hình ảnh cây tre dã đi vào ca dao, thơ văn và ca từ. Chẳng hạn như:
Rễ siêng chẳng ngại đất nghèo
Tre bao nhiễu lá bấy nhiêu cần cù
Nghiêng mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành…
(NGUYỄN DUY)
Ông bà ta có nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn tre tốt:
Trồng tre, trồng trúc, trồng dừa
Muốn nên cơ nghiệp thì chừa lang vân
Người ta còn sử dụng tre già hay tre non vào những việc khác nhau:
Tháng tám tre non làm nhà
Tháng năm tre già làm lạt
Người thợ mộc còn so sánh độ bền của tre như sau:
Tre già là bà gỗ lim
Ai từng đọc truyện Thánh Gióng hẳn không quên bụi tre Đằng Ngà khi Thánh Gióng nhổ tre đánh tan giặc ngoại xâm: “Chẻ tre nghe Gióng”.
Tre không những đi vào thơ văn mà măng tre còn là một thực phẩm chế biến đa dạng. Các món ăn từ măng tre: măng tươi, măng khô, bún măng vịt, măng xào thịt ba rọi, thịt kho măng, măng luộc chấm mắm tôm, măng chua… Bún măng vịt là món ăn được nấu với vịt non, béo, măng tươi hoặc khô đã được luộc và thay nước nhiều lần, khi ăn người ta cho bún, một ít hành răm và rau sống vào nữa, trở thành một món ăn vừa thơm vừa béo với nước dùng ngọt dịu. Măng tươi đã luộc kĩ, có màu vàng chanh, được xắt miếng xào chung với thịt ba rọi trở thành một món ăn dân dã và rất ngon nếu có thêm một vài lát ớt đỏ thì lại càng hấp dẫn. Thịt heo kho măng cũng là một món ăn “bắt mắt”, nấu nhanh và để được vài ngày, tiết kiệm được thời gian nấu nướng mà khi chan vào chén cơm nóng thì cũng rất ngon miệng. Măng luộc phải chọn măng trúc non, vào mùa mưa. Sau khi luộc nhiều lần, ta xắt mỏng rồi chấm với mắm tôm hoặc nước mắm ngon ăn kèm với cơm như một món rau. Nó sẽ có một vị vừa ròn vừa mát, kèm theo một vị ngọt dịu của măng tươi. Nói tóm lại thì cây tre luôn là người bạn đồng hành và nó đóng góp tất cả lợi ích của bản thân mình cho con người Việt Nam. | Thuyết minh về cây tre việt nam văn 9 | 700 | |
Thuyết minh về cây tre Việt Nam – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài tham khảo
Cây tre là một cây khẳng khiu nhưng có nhiều công dụng. Lá tre thường được người Việt Nam lấy để gói bánh vào dịp Tết Đoan Ngọ. Thân tre thì dùng để làm đũa, muỗng; các thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre; nhân dân ta thường đong dầu, đong nước mắm khi mua bán bằng ống tre. Trong quán ăn ở vùng nông thôn, người ta cũng chẻ nhỏ thân tre để làm tăm cho khách dùng sau bữa ăn. Đôi khi người nông dân cũng dùng thân tre để nhóm bếp.
Tre có một số loại thông dụng như tre gai, tre xanh, tre ngà, tre rừng… Bên cạnh đó nó còn có anh em bà con như lồ ô, trúc, tầm vông… Tre xanh lúc còn sông có màu xanh mượt, đốt dài và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng từ 6cm đến 8cm, cao không đến 10m. Tre gai kích thước ôm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh, gai sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp, người ta thường trồng làm cảnh. Tre rừng thì không trồng được, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm. Ngược lại, lồ ô là loại tre rừng khổng lồ, bề ngang và chiều cao gấp hai, ba lần tre xanh. Nó mọc thành từng bụi, từng hàng như rừng, trong vùng đất hoang. Người ta đốn lấy thân làm nhà tranh, nhà sàn rất chắc chắn. Lồ ô to lớn bao nhiêu thì trúc lại mảnh mai, yếu ớt bấy nhiêu, vì thân rỗng và kích thước nhỏ bé. Có hai loại trúc là trúc xanh và trúc vàng. Gần đây nước ta có nhập thêm một ít trúc kiểng gọi là trúc Nhật. Những cây trúc kiểng này có hình dạng đặc biệt, thân màu vàng óng, lá xanh mượt mà rất được mọi người ưa chuộng, trồng làm cảnh và thường bày ở mái hiên, phòng khách. | Thuyết minh về cây tre Việt Nam – Đề và văn mẫu 8 | 381 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây tre Việt Nam
Bài làm
Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”
Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.
Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.
Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng_ hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Àn xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Mặt khác, hình tượng của cậu bé Thánh Gióng vươn vai hóa thân thành người khổng lồ rất có thể liên quan đến khả năng sinh trưởng rất nhanh của cây tre ( theo các nhà Thực vật học, thì cây tre phát triển điều kiện lý tưởng, có thể cao thêm từ 15 -20cm mỗi ngày). Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre xanh đã trở thành “pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng hóa. Tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn côngtrong các cuộc chiến. Chính những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược để giàng Độc lập_ Tự do cho Tổ Quốc. “ Tre giữ làng, giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…”
Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.
Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.
Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước_tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên ường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.
Hà nội tre không còn nhiều (Lăng Bác thì có tre ngà )Giờ mở rộng Hà nội tre lại bát ngát các vùng quê ôm làng ôm xóm.Chiều về khói rơm không còn quấn quýt bên tre,(vì đun than, đun ga ),nhưng tôi vẫn thấy cây tre vươn thẳng gắn bó với thôn quê dẫu bao năm đổi thay từng ngày lên phố. | Thuyết minh về cây tre Việt Nam | 925 | |
Thuyết minh về cây tre – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Thuyết minh về cây tre
Bài làm
Cây tre là loài cây gắn liền với dân tộc Việt Nam, là biểu tượng cho tinh thần Việt, con người Việt qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Bên cạnh đó tre còn để lại biết bao giá trị vật chất cho nhân dân ta.
Tre là loại cây mọc tự nhiên, người ta chưa xác định được thời gian ra đời. Chỉ biết rằng tre đã có từ lâu lắm rồi, và gắn bó với người Việt hàng ngàn đời nay. Ta bắt gặp hình ảnh của tre trong các truyện cổ tích như: Thánh Gióng, Cây tre trăm đốt, ta nhìn thấy tre trong mỗi làng mỗi xóm. Tre có nhiều loại: tre, nứa, mai, vầu,… cả chục loại khác nhau, nhưng đều từ mầm tre mọc thẳng. Nhưng nếu tính riêng về tre, ta có thể nhận biết hai loại là tre xanh và tre đằng ngà. Tre xanh thì thân tre và cành lá tre đều một màu xanh nõn nà, còn tre đằng ngà thì toàn bộ cây là một màu vàng xuộm.
Tre có cấu tạo khác biệt so với các loài cây lấy gỗ khác. Thân cây thường khoảng bốn mươi, năm mươi đốt, trong ruột rỗng, vỏ ngoài mịn và vươn thẳng tắp lên cao vút tới năm, bảy mét. Thân tre có màu xanh mượt, nhưng ở tre già có màu bạc phếch. Tre có hai loại là tre đực và tre cái. Tre đực thân nhỏ, có đốt mau hơn tre cái, đặc biệt là có ruôt đặc. Với loại tre này nếu ngâm nước một thời gian rồi phơi khô thì độ cứng chắc cũng không thua gì gỗ lim. Vì vậy mà tre đực thường được dùng dựng nhà dựng cửa. Tre cái có ruột rỗng hơn, đốt thưa hơn tre đực, thường được dùng làm lạt, đan rổ. Lá tre màu xanh, hình thuôn dài, sờ vào thấy ráp do có lớp lông bao phủ, hoàn toàn không thấy gân lá. Lên cao tre bắt đầu phân cành, phân nhánh. Các cành tre được đâm ra từ những đốt tre, vì vậy chỉ cần có một cây trưởng thành là lập tức có măng mọc lên: Độ vươn của tre dựa vào ánh sáng, càng nắng, càng gió thì tre càng phát triển, càng vươn cao. Cây măng non thường có lớp bẹ lá màu sẫm, khi cây cao được trên một mét thì bẹ lá mới bắt đầu rụng. Có một điều mà mọi người không biết ở tre: đó là hoa tre! Hoa tre màu trắng ngần, nhỏ li ti, rụng vào mùa đông, và mọc ở cao tít trên các cành cây gần ngọn. Tre không bao giờ mọc đơn độc mà luôn mọc thành bụi, thành lũy rộng dài.
Tre gắn bó với đời sống vật chất, tinh thần của con người. Xưa kia khi chưa có gạch ngói, xi măng cốt thép, tre là vật liệu để xây dựng nhà cửa. Tre giản dị hơn với những cái nơm tre, rổ tre, gầu tre, đũa tre,… phục vụ chính đời sống của người dân. Tre còn gắn liền với những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Chính vậy mà Thép Mới từng viết: “Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”. Cây tre đã trở thành người bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam. Sẽ thật thiếu vắng nếu ngày Tết không có bát canh măng. Tre đã đi vào đời sống tuổi thơ ngay từ buổi lọt lòng, đứa trẻ đã được nằm trong chiếc nôi tre, chiếu tre, rồi lớn lên cầm cây đũa tre ăn cơm, lấy tre làm diều thả chơi mỗi buổi chiều hè. Tre đi vào tâm thức người Việt, là biểu tượng cho tình đoàn kết, cho sự kiên cường bất khuất, phẩm chất ngay thẳng, thuỷ chung của con người. Tre còn mãi trong chiếc huy hiệu Đội với hình ảnh búp măng non, biểu tượng cho thiếu niên Việt Nam. Giờ đây người ta đã thấy được nhiều giá trị mà tre mang lại. Những vật dụng làm từ tre có tính nghệ thuật cao được nhiều nước trên thế giới ưa thích.
Lê Thị Hoa
(Trường THCS Ngọc Thuỵ)
>> Xem thêm Giới thiệu về chiếc kính đeo mắt tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Thuyết minh về cây tre | Thuyết minh về cây tre – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 | 764 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây tre
Bài làm
Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Thế nhưng những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá… bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.
Về tính năng, không thể kể hết tính đắc dụng của tre đối với người dân Việt Nam: làm nhà cửa (vì kèo, lanh tô, phên liếp, vách tường…), làm vô số vật dụng: cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cái cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ; làm chông, làm tên bắn chống giặt ngoại xâm…
Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi thứ ra đồng và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm… nhiều thứ vật dụng làm bằng tre còn được dùng đến ngày nay.
Đấy là còn chưa nói tới các loại vật dụng của nhà nông, cũng như nhiều loại vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre. Cây gậy tầm vông thời đánh Pháp xâm lược là một chứng tích đã đi vào lịch sử. Cây nêu dựng lên trước cửa nhà vào dịp năm mới thời xưa để trừ ma quỷ, cái ống đựng bút và quản bút lông của các nhà nho mà những năm gần đây về nơi thôn dã ta còn thấy, đến những cánh diều mà hôm nay con trẻ còn chơi… tất cả đều làm từ tre. Vật dụng ngày càng có vẻ thuận tiện hơn, có vẻ đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế. Thậm chí có một thời ấu trĩ, người ta đã chặt đi những bụi tre gai quanh làng với lý do là chúng làm đất bạc màu.Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.
Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các neỏ đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả_ được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”
Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.
Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.
Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng_ hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Àn xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.
Mặt khác, hình tượng của cậu bé Thánh Gióng vươn vai hóa thân thành người khổng lồ rất có thể liên quan đến khả năng sinh trưởng rất nhanh của cây tre (theo các nhà Thực vật học, thì cây tre phát triển điều kiện lý tưởng, có thể cao thêm từ 15 -20cm mỗi ngày). Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre xanh đã trở thành “pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng hóa. Tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn côngtrong các cuộc chiến. Chính những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược để giàng Độc lập_ Tự do cho Tổ Quốc. “ Tre giữ làng, giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…”
Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.
Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.
Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước_tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên ường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam. | Thuyết minh về cây tre | 1,453 | |
Thuyết minh về cây đa Việt Nam
Hướng dẫn
Mình xin tổng hợp vài một số bài văn hay, ý nghĩa nhân văn cao về chủ đề Thuyết minh về cây đa Việt Nam được sưu tập từ nhiều nguồn khác nhau rất hay. Cây đa là một trong những cây linh thiêng ở đầu làng mà nhân dân tín ngưỡng. Với nhiều góc nhìn và cảm nhận khác nhau về đây đa mà ta có thể cho ra đời hàng hàng bài văn lời hay, ý đẹp về chủ đề này. Nhưng với những cách nhìn tổng quát, khác biệt và độc đáo lại tạo ra được nhưng bài văn thuyết minh về cây đa Việt Nam cực kì hay. Vày đưới đây là những bài văn mà mình đã sưu tầm được.
Thuyết minh về cây đa Việt Nam bài mẫu 1:
Không biết tự bao giờ cùng với bến nước, sân đình, cây đa đã trở thành biểu tượng của làng quê đất Việt. Ai đó xa quê hẳn không thể không có những phút nao lòng mỗi khi nhớ về những kỷ niệm bên gốc đa làng. Cây đa đi vào ca dao, trong chuyện cổ tích, trong mỗi khúc dân ca. Quên sao được câu chuyện của bà dưới gốc đa có Thạch Sanh, chú Cuội. Nhớ vô cùng điệu “Lý cây đa” người thương ta đã hát. “Cây đa, bến nước, sân đình” phải chăng đã trở thành những thiết chế văn hoá không thể thiếu được của làng ta xưa?
Thật vậy, với đặc tính sinh vật của mình, cây đa đã gắn bó sâu sắc với làng. Đa rất dễ trồng và sống lâu tới ngàn tuổi. Trong bão táp phong ba, trải qua bao thế hệ, cây đa vẫn sừng sững toả bóng mát giữa trời, ôm cả một góc quê hương. Cành đa vươn đến đâu buông rễ chùm, rễ nổi đến đó. Từ rễ hoá thành thân, để cây đa có thêm nhiều cội. Có cây có tới “chín cội” lừng lững uy nghiêm cả một góc làng. Những cội đa đó như những cánh tay khổng lồ cơ bắp cuồn cuộn nâng cả tán cây lên giữa trời xanh. Ngoài những cội chính ra đó, đa còn có bao nhiêu là rễ chùm rễ phụ buông lơ lửng lưng trời như tóc ai đang xoà bay trong gió. Trẻ chăn trâu tha hồ ẩn náu trong từng cội đó chơi trò đuổi bắt. Lá đa xanh ngắt bốn mùa gọi chim về làm tổ. Trong vòm lá chim ríu rít gọi bầy. Dưới gốc đa trẻ nô đùa hò hét. Và kia, con trâu nhà ai đang mơ màng lim dim nằm nhai cỏ để cho lũ chim sáo nhảy nhót cả lên đầu.
Đa không có giá trị kinh tế như các loài cây khác, không cho quả thơm như mít, như xoài; không có hoa đỏ như gạo, hoa tím như xoan. Đa chỉ có tấm thân lực lưỡng, trăm cành hiên ngang và tán lá quanh năm xanh ngắt. Đa chỉ có bóng mát cho đời. Đa càng sống lâu càng khoẻ chắc kiên cường. Bởi thế, giá trị tinh thần của đa thật lớn. Đa là cây cao bóng cả của làng. Chim muông tìm đến đa để làm tổ. Người thương lấy gốc đa làm nơi hò hẹn, đợi chờ. Xao xuyến làm sao, một đêm trăng, cành đa la đà trước ngõ để cho ai đó ngắm trăng ngơ ngẩn đợi người! Những trưa hạ oi nồng, gốc đa thành nơi dừng chân cho bao lữ khách. Người làng ra đồng, ra bãi gồng gánh trên vai, cả con trâu cái cày cũng lấy gốc đa làm chỗ nghỉ. Quán nước ven đường dưới gốc đa ấy râm ran bao chuyện ở đời. Bát nước chè xanh hay bát vối đặc cùng với ngọn gió mát lành dưới bóng đa rì rào ấy đã xua đi bao gian khó nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh. Cổng làng bên cạnh gốc đa, nơi thuở thiếu thời ta chong chong chờ mẹ đi chợ về có gió cành đa vỗ về ôm ấp để đến bây giờ cái cảnh ấy vẫn hoài niệm canh cánh mãi trong ta. Và anh nghệ sỹ, góc máy nào, gam màu nào để anh có được một tấm ảnh, một bức tranh cổng làng ta, mái đình quê ta với gốc đa sần sùi rêu mốc, lá đa xanh ngát đẹp ngời đến thế!
Cây đa đi vào lịch sử mỗi làng. Thời chống Pháp, ngọn đa là nơi treo cờ khởi nghĩa, gốc đa là nơi cất giấu thư từ, tài liệu bí mật. Thời chống Mỹ, ngọn đa lại là chòi gác máy bay, nơi treo kẻng báo động. Còn mãi trong ta hình ảnh cây đa Tân Trào thủ đô kháng chiến khi xưa. Đa là nỗi kinh hoàng cho lũ giặc, là bình yên cho xóm cho làng. Phải chăng “thần cây đa” cũng là từ ý nghĩa đó. Đa là một trong những biểu tượng của làng.
Bác Hồ, người “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới”, Người đã phát động Tết trồng cây và việc trồng cây mỗi mùa xuân đến theo lời Bác dạy là một nét đẹp văn hoá của người Việt Nam chúng ta. Cả cuộc đời Người, Bác đã trồng biết bao cây xanh tạo bóng mát cho đời, trong đó có nhiều cây đa. Tết Kỷ Dậu (1969) Tết cuối cùng của Bác Hồ, Bác đã trồng cây đa cuối cùng tại xã Vật Lại (Ba Vì). Những cây đa Bác trồng đã vươn cành xanh lá toả bóng rợp mát quê hương. Theo chân Bác, cùng với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, chúng ta hãy trồng thêm nhiều cây đa nữa ở những nơi trung tâm làng xã để cho “cây đa, bến nước, sân đình” mãi là những tín hiệu bình yên, biểu tượng của một làng quê văn hoá Việt Nam.
Tôi đọc bài viết hoài niệm về giếng làng của tác giả Trần Văn Lượng một người con quảng văn, sống tại TP HCM. Tôi nghỉ rằng thời xa xưa mỗi làng quê Việt Nam đều gắn liền cây đa, giếng nước, đình làng đã đi vào thơ ca, nhạc họa. Quê hương chúng ta có bài viết về đình làng, giếng nước thế rồi trong lòng tôi lại ấp ủ trào dâng ý tưởng đến cây đa, nơi chứa đựng bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Bởi vậy tôi mạo muội đôi dòng ký ức về cây đa
Tôi đọc bài viết hoài niệm về giếng làng của tác giả Trần Văn Lượng một người con quảng văn, sống tại TP HCM. Tôi nghỉ rằng thời xa xưa mỗi làng quê Việt Nam đều gắn liền cây đa, giếng nước, đình làng đã đi vào thơ ca, nhạc họa. Quê hương chúng ta có bài viết về đình làng, giếng nước thế rồi trong lòng tôi lại ấp ủ trào dâng ý tưởng đến cây đa, nơi chứa đựng bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Bởi vậy tôi mạo muội đôi dòng ký ức về cây đa,bản thân cũng không rõ lắm nguồn gốc cây đa làng ta trồng từ bao giờ. Theo tôi suy đoán phải chăng ông cha chúng ta khi xây dựng đình làng, miếu mạo thì nghỉ đến trồng cây đa và đào giếng làng có lẽ công việc thẩm định này phải xin nhờ đến các bậc tiền bối và các nhà sử học…Tuổi thơ tôi cũng như bao thế hệ lớn lên từ làng quê yêu dấu, nơi chôn rau cắt rốn và ra đi trên mọi nẻo đường đất nước. Tôi còn nhớ hồi đó có sự may mắn, gia đình tôi sống gần cây đa, khoảng hơn năm trăm mét. Hằng ngày mỗi lần ra chợ, tắm con sông quê hương tôi và bạn bè cùng trang lứa thường đi qua con đường có lũy tre xanh và cây đa này. Cây đa được trồng cách đình làng khoảng hai trăm mét cạnh bến xóm Nam, còn gọi là xóm Đình, nằm trong khuôn viên chợ Mai. Cây đa cổ thụ, vóc dáng cao lớn, sừng sững uy nghiêm, đứng trên thế đất cao vững chải tựa như người lính đứng canh giữ hòn đảo thân yêu giữa trùng khơi.
Đường kính gốc cây khoảng hai người lớn ôm mới xuể. Thân cây xù xì, có nhiều u bướu màu nâu đen, uốn lượn vươn ra hướng bờ sông xanh trong, mặn nồng. Mang theo nhiều rể phụ đâm ra tua tủa lơ lửng lưng trời giống “ chòm râu ” trong thật tuyệt vời. Dưới gốc cây đa nào là rể chính, rể phụ, rể ngang, rể dọc đua nhau bám sâu vào lòng đất. Có một số rể mọc ngoằn ngoèo nổi lên như con rồng hội tụ vào gốc cây. Tán lá xum xuê xanh rờn, lá đa to bằng bàn tay người lớn. Mỗi dịp tết đến Xuân về, hay những buổi trưa hè oi ả, hoặc đến mùa quả chín. Vui nhất là sau các trận bóng đá kịch tính tại sân trường.
Lũ trẻ chúng tôi đa phần là con cháu “ xóm Đình tụ họp ”, lứa tuổi từ năm đến mười lăm tuổi, nay ở độ tuổi trung niên. Một số thành ông bà nội ngoại lại kéo nhau về nô đùa, vui chơi, thay nhau trèo cây hái quả đa da căng tròn chính mọng, to bằng ngón tay cái, dài khoảng hai đốt ngón tay, màu vàng đỏ.
Trong ruột quả có nhiều sợi mềm hạt nhỏ li ti như hạt vừng đen. Khi ăn có vị ngọt thơm lừng. Nếu quả đa tuổi đang xanh thì thịt chắc và vị chát. Có lúc ngẩu hứng, chúng tôi thi nhau hái lá đa, chọn những lá to bản, đẹp vừa ý, cắt một phần ba đầu cuống lá tạo dáng hai cái sừng trâu. dùng một sợi dây dài khoảng độ một gang tay người lớn, nhỏ như sợi chỉ buộc vào đầu cuống lá xuyên ra sau. Đồng thời uốn gấp tròn phần lá còn lại, kéo sợi dây tạo thành “con trâu” thật hiền lành, dễ thương. Rồi trên tay mỗi đứa trẻ cầm một “con trâu lá đa” cứ thế từng cặp trâu cho húc đầu vào nhau, y hệt lễ hội “ chọi trâu Đồ Sơn, Hải Phòng ” trên ngọn cây đa cao vút, có tổ chim quạ to tướng lũ trẻ chỉ biết ngắm nhìn mỗi khi Quạ mẹ kiếm được mồi bay về tổ cho Quạ con thật tình cảm ấm áp như tình người. Ở Làng cứ hai đến ba tháng “ đến hẹn lại lên ” có một đến hai tối mọi người được thưởng thức chương trình phim nhựa màn ảnh rộng chiếu ngoài trời nay gọi là phim bải. Tại gốc cây đa này lại rộn ràng tiếng hát, tiếng thuyết minh phim của các “ liền anh, liền chị ” ánh điện tỏa sáng lung linh hòa lẫn với tiếng máy phát điện, tiếng loa đài phóng thanh ồn ào náo nhiệt. Riêng lũ trẻ chúng tôi thì đùa giỡn, nghịch ngợm đi lại lộn xộn, mất trất tự ảnh hưởng đến sự chăm chú của người xem…Bây giờ nghỉ lại thật là vui.
Ngoài ra củng tại gốc cây đa này chứng kiến người cán bộ xã tận tụy với công việc, hết mình vì dân đêm đêm tay cầm đèn bão như con mắt thần quan sát mực nước lên xuống trong mùa mưa lũ. Cập nhật thông tin, báo động cho dân làng khi có nguy cơ cao và tìm phương án tốt nhất di chuyển dân đến địa điểm an toàn. Thời gian cứ thế thấm thoắt trôi đi, lịch sử là một dòng chảy liên tục, thời gian không bao giờ trở lại. Vì điều kiện công việc lâu lâu lại có dịp về quê, thời gian eo hẹp. gần đây tôi có tâm sự với anh Phạm Văn Mùi nguyên chủ tịch UBND xã Quảng Văn nay có cháu nội, ngoại. tuy nhiên sức khỏe của anh đang còn sung mãn lắm. Anh bảo: “ hiện tại cây đa không còn nữa… ” theo tôi xã nên có kế hoạch triển khai trồng lại cây đa theo đúng vị trí quy hoạch tổng thể của xã nông thôn mới, để “ trả lại tên cho em ” xứng tầm với cây đa, là bảo vật xã nhà. giờ đây hình ảnh cây đa thân quen không có nữa, chỉ là trong kí ức của mọi người. điều quan trọng đó là cả tấm lòng, tình cảm của chúng ta dành cho thế hệ mai sau.
Thuyết minh về cây đa Việt Nam bài mẫu 3:
Từ bao đời nay, mỗi người Việt đều coi mái đình, cây đa như một biểu tượng của làng quê truyền thống, đặc biệt là làng quê Bắc Bộ. Cây đa với ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu tượng đã xuất hiện trong văn học dân gian, đặc biệt là ca dao và cũng có mặt trong văn học bác học. Theo thống kê của chúng tôi, trong bộ Kho tàng ca dao người Việt của Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật 1995 (chủ biên), NXB VHTT, Hà Nội, cây đa xuất hiện trong 58 lời ca dao với ba phạm trù ý nghĩa: gợi hứng bắt vần, biểu vật và biểu tượng.
Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai. Nói về sức sống của cây đa, từ khoảng giữa thế kỷ 15 Nguyễn Trãi đã viết bài Lão dung (cây đa già) trong Quốc âm thi tập:
Tìm được lâm tuyền chốn dưỡng thân
Một phen xuân tới một phen xuân.
Mỗi lần xuân đến cây lại “một phen xuân” nghĩa là cành lá tươi tốt hơn, cây đâm cành, nảy lộc sum suê hơn. Không phải ngẫu nhiên mà những bậc cao niên, những người đã có nhiều thành tựu ở một lĩnh vực nào đó thường được đồng nghiệp và xã hội coi là “cây đa, cây đề”, biểu tượng cho sức làm việc quên mình, dẻo dai, cho sự tích lũy kiến thức phong phú.
Trong ca dao ý nghĩa vững bền của cây đa được thể hiện qua những lời ca nói về tình yêu đôi lứa:
Có quán tình phụ cây đa
Ba năm quán đổ cây đa hãy còn.
Ba năm là khoảng thời gian quá ngắn so với tuổi đời của cây đa, song điều đó không quan trọng. Vấn đề mà tác giả dân gian muốn nói là sự phụ bạc trong tình yêu sẽ dẫn đến kết quả không tốt đẹp, ít nhất là sự ân hận, nuối tiếc bởi tình yêu đích thực chỉ có một và nó sẽ trường tồn. Quán hàng có thể đổ sau một vài năm song cây đa thì còn lâu dài, không chỉ ba năm mà có thể từ đời này sang đời khác. Cũng với ý nghĩa trường tồn ấy cây đa xuất hiện trong ca dao như một nhân chứng của thời gian, chứng kiến những sự đổi thay của con người, của đất trời, đôi khi là cả một vòng đời người.
Thời gian cứ miệt mài trôi phủ dần từng lớp sương khói trên mỗi mái đầu, con người đến một lúc nào đó muốn tìm lại “những ngày xưa thân ái” của mình. Cảnh vật đã khác xưa nhiều, cả con người cũng khác, riêng chỉ có “cây đa bến cũ” là vẫn còn đó, xù xì thân hình nhưng xanh tươi búp lá. Trong tình yêu đôi lứa điều này càng có ý nghĩa:
-Trăm năm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa;
– Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ;
– Cây đa là cây đa bến cũ, bến cũ là bến đò xưa
Ôi thôi rồi người khác sang đưa
Thiếp nhìn chàng lưng léo, nước mắt sa xuống như mưa hỡi chàng.
“Cây đa bến cũ” đã trở thành một mô-típ quen thuộc trong khá nhiều lời ca dao.Tất cả những lời ấy đều có chung một âm hưởng man mác buồn khi nhìn lại cảnh xưa, khi bắt gặp cây đa già vẫn trầm mặc nơi chốn cũ như một biểu tượng của thời gian.
Nói đến làng quê Việt Nam là nói đến cây đa. Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ thường ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích. Đến vùng đất mới Nam Bộ, hình tượng già cỗi, thâm u của bóng đa hay sự khép kín tự nhiên của những lũy tre làng đã nhường chỗ cho không gian thoáng đạt, rộng mở với những cây bần, cây đước… của làng Nam Bộ. Mặc dù vậy hình ảnh cây đa làng nơi cố hương vẫn luôn in dấu trong tâm hồn mỗi con người đất phương nam.
Có thể nói cây đa là biểu tượng của làng quê Bắc Bộ. Cuộc sống sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa. Cũng ở bài Cây đa già Nguyễn Trãi viết:
Tuy đa chưa có tài lương đống
Bóng cả như còn rợp đến dân.
Ở lời thơ này Nguyễn Trãi nói tới bóng rợp của cây đa che cho dân chúng nghỉ mát sau giờ lao động song cũng còn một ẩn ý khác nữa là: một cây đa bình dị nơi làng quê lại gắn bó, che chở được cho dân trong khi đó nhiều vị quan, tướng có “tài lương đống” lại chẳng quan tâm gì đến dân.
Với người dân quê truyền thống, gốc đa là nơi bình đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ. Thi sĩ dân gian đã viết:
Có tiền thì hãy lân la vào hàng.
Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá, chơi những trò chơi dân gian. Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân trước khi về làng hoặc đi khỏi làng. Gốc đa là nơi “trâu trong làng gặm cỏ gốc đa xanh”, gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái:
– Em đang dệt vải quay tơ
Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà
Hẹn giờ ra gốc cây đa
– Phượng hoàng chả thấy, thấy gà buồn sao
Nào khi ngồi cội cây đa
Người thương có nhớ chăng là người thương.
Làng quê là đề tài bất tận cho ca dao cũng như rất nhiều loại hình văn học nghệ thuật khác. Trong không gian làng quê trìu mến ấy cây đa là hình tượng gợi cảm hứng sâu sắc. Những “bức tranh quê” trong ca dao thường có cây đa:
– Đầu làng có cây đa xanh
Trăng thanh gió mát lọt vào tận nơi;
– Cát Chính có cây đa xanh
Có đường cái lớn chạy quanh xóm làng.
Cây đa gắn bó với người dân quê từ thuở bé và trở thành biểu tượng in dấu suốt cuộc đời, nhất là đối với những người xa quê. Mỗi người lại có cho mình những kỷ niệm, những câu chuyện riêng về cây đa làng.
Không chỉ có vậy, cây đa làng Việt còn là biểu tượng tâm linh của con người. Trong làng, cây đa có mặt ở nhiều vị trí khác nhau nhưng hầu như nó không vắng bóng ở các di tích, đặc biệt là đình chùa. Hình ảnh “cây đa, bến nước, sân đình” cũng là mô-típ thường thấy trong văn học Việt Nam, đặc biệt là ca dao. Tục ngữ có câu:
Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề;
Cây thị có ma, cây đa có thần.
Cây đa được gọi là cây thiêng nơi thần trú ngụ. Điều này có nguồn gốc từ tín ngưỡng bản địa Việt Nam: tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh và tín ngưỡng thờ cây. Trong truyện kể dân gian các làng quê có nhiều câu chuyện về những linh hồn trú ngụ nơi gốc đa làng làm tăng tính huyền bí và linh thiêng của di tích. Hình ảnh “lá đa rụng xuống sân đình” xuất hiện không ít trong ca dao:
Lá đa rụng xuống sân đình
Không ai tưởng bạn thì mình tưởng cho.
Cây đa xanh tốt tỏa bóng làm cho các di tích trở nên thiêng hơn, con người khi bước đến di tích cũng cảm thấy được thư thái hòa đồng hơn với thiên nhiên, tĩnh tâm bước vào chốn thiêng. Cây đa ở các làng quê Bắc Bộ thường đứng sừng sững trước cửa hoặc trong khuôn viên di tích. Thực ra cây đa vốn không phải là cây thiêng ở chùa. Cây thiêng nhất ở chùa phải là cây bồ đề, sau đó là cây gạo, cây sung, cây tre… Nhưng ở Việt Nam do điều kiện khí hậu và cây giống khó khăn nên chỉ chùa lớn mới có bồ đề, còn những chùa nhỏ thì thường vẫn khiêm tốn bên gốc đa già cỗi. Cây đa được coi là nơi ngự trị của các thần linh dân dã, và các linh hồn bơ vơ. Cây đa nào càng già cỗi, càng xù xì, rậm rạp thì càng gắn bó với thần linh. Gốc đa ở các di tích thường được dân chúng thắp hương chung để tỏ lòng tôn kính các vị thần linh dân dã hoặc cầu cho những linh hồn bơ vơ về nương nhờ lộc Phật không đi lang thang quấy nhiễu dân làng. Với ca dao, cây đa trong vai trò là cây thiêng, là biểu tượng của thần linh đã được thể hiện hoàn toàn khác:
Ở cho phải phải phân phân
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.
Biểu tượng “thần cây đa” được phân tích trong mối quan hệ hữu cơ giữa thần và cây để đưa đến bài học giáo dục cho con người: phải cư xử đúng mực, vừa phải, mức độ, sống hòa hợp với cộng đồng bởi cuộc sống luôn có sự nhờ cậy lẫn nhau như cây đa khi có thần ngự, tức là được linh thiêng hóa thì nó mới thành cây thiêng. Ngược lại thần cũng cần có cây đa để nương nhờ bóng Phật, hưởng lộc các chúng sinh. Trong trường hợp khác biểu tượng “thần gốc đa” cũng lại được đưa ra như là bài học giáo dục con người một cách nhẹ nhàng:
Chanh chua anh để giặt quần
Người chua anh để làm thần gốc đa.
Lời “cảnh báo” của chàng trai với những cô gái chanh chua cũng thật là sâu cay: người chua ngoa sẽ chỉ trở thành những linh hồn bơ vơ, không nhà cửa, trú ngụ nơi gốc đa mà thôi.
Như vậy cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa mang đậm yếu tố tâm linh. Phải chăng chính sự kết hợp này đã tạo nên biểu tượng cây đa có sức sống bền lâu trong văn học dân gian, văn thơ bác học và trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam.
P/s Một cái nhìn tổng quát hay cá nhân về cây đa cũng phần nào lột ta được sự khác biệt và ấn tượng về loại cây này. Với những bài thuyết minh về cây đa Việt Nam sẽ giúp bạn được ít nhiều hiểu thêm về văn hóa, cuộc sống và những góc gì nhìn nhau về cây đa. Ngoài ra với những bài văn trên bạn sẽ giúp bạn tự tìm được cho mình một bài viết về cây đa hay cho mình. | Thuyết minh về cây đa Việt Nam | 3,977 | |
Đề bài: Thuyết minh về cây đào ngày tết
Bài làm
Ngày xưa, ở phiá Ðông núi Sóc Sơn, Bắc Việt, có một cây đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào xum xuê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng.
Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào là bỏ chạy xa bay. Ðến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng.
Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Ðể ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành đào về cắm trong nhà. Ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.
Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành đào về cắm trong nhà trừ ma quỵ Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này, không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hoà hợp được trang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.
Cây đào (danh pháp khoa học: Prunus persica) là một loài cây có lẽ có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng để lấy quả hay hoa. Nó là một loài cây sớm rụng lá thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5–10 m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7–15 cm và rộng 2–3 cm. Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá; hoa đơn hay có đôi, đường kính 2,5–3 cm, màu hồng với 5 cánh hoa. Quả đào cùng với quả của anh đào, mận, mơ là các loại quả hạch.Quả của nó có một hạt to được bao bọc trong một lớp vỏ gỗ cứng (gọi là “hột”), cùi thịt màu vàng hay ánh trắng, có mùi vị thơm ngon và lớp vỏ có lông tơ mềm như nhung.
Tên gọi khoa học persica có lẽ có từ niềm tin ban đầu của người châu Âu cho rằng đào có nguồn gốc ở khu vực Ba Tư (Persia) (hiện nay là Iran). Sự đồng thuận lớn trong giới các nhà thực vật học ngày nay đã cho rằng nó có nguồn gốc từ Trung Quốc và được đưa vào Ba Tư cũng như khu vực Địa Trung Hải theo con đường tơ lụa vào khoảng thời gian ban đầu của lịch sử nhân loại, có lẽ vào khoảng thiên niên kỷ 2 TCN (Huxley và những người khác, 1992).
Các giống đào trồng được chia thành hai loại là “hột rời” và “hột dính”, phụ thuộc vào việc hột có dính với cùi thịt hay không; cả hai loại này đều có cùi thịt trắng hay vàng. Quả đào với cùi thịt trắng thông thường có vị rất ngọt và ít vị chua, trong khi loại có cùi thịt màu vàng thông thường có vị chua kèm theo vị ngọt, mặc dù điều này cũng có sự dao động lớn. Cả hai màu thông thường đều có các vệt đỏ trong lớp thịt của chúng. Loại đào cùi trắng, ít chua là phổ biến nhất tại Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia châu Á xung quanh, trong khi người châu Âu và Bắc Mỹ ưa thích loại có cùi thịt màu vàng và có vị chua hơn.
Đào được biết đến tại Trung Quốc và Nhật Bản không chỉ như là một loại quả phổ biến mà còn gắn liền với nhiều truyện dân gian và tín ngưỡng. Momotaro (Đào Thái Lang), một trong những nhân vật bán lịch sử và cao quý nhất tại Nhật Bản, được sinh ra trong một quả đào khổng lồ trôi theo dòng sông.
Tại Trung Quốc, quả đào được coi là được các vị tiên ăn do các tính chất huyền bí của nó đối với sự trường thọ dành cho những người ăn nó. Ngọc Hoàng, vị thần cai quản thiên đình, có vợ tên là Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu mời các vị tiên ăn những quả đào trường sinh và như thế đã đảm bảo cho sự tồn tại vĩnh cửu của họ. Các vị tiên được Tây Vương Mẫu thết đãi một bữa tiệc sang trọng tại hội bàn đào. Các vị tiên phải chờ đợi 6.000 năm để có được bữa tiệc sang trọng này; cây đào tiên chỉ ra lá sau mỗi một nghìn năm và cần tới 3.000 năm để làm quả chín. Các bức tượng bằng ngà voi họa lại những người tham dự bữa tiệc của Tây Vương Mẫu thông thường có ba quả đào.
Quả đào đóng một vai trò quan trọng trong tín ngưỡng Trung Hoa và là biểu tượng của sự trường thọ. Một ví dụ liên quan đến quả đào là chuyện về Trương Đạo Lăng, được nhiều người cho là người đã sáng lập ra Lão giáo. Trương Quả Lão, một trong số Bát Tiên của người Trung Quốc, thường được họa lại là mang theo quả đào trường sinh. Hoa đào cũng được đánh giá cao trong văn hóa Trung Hoa, tương tự như hoa mai (mơ).
Đào là một trong những cây ăn quả quan trọng nhất, sản lượng toàn thế giới hàng năm đạt tới 7 – 8triệu tấn. Cách đây hơn 300 năm, Đào đã được trồng ở các tính miền Tây Bắc Trung Quốc, hiện nay Đào được trồng nhiều ở các nước: Trung Quốc, Mỹ, Ý, Pháp, Nhật, Achentina… ở nước ta, Đào được trồng nhiều ở các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Đào cũng được trồng ở vùng núi các tỉnh miền Bắc nhưng hiệu quả kinh tế kém, ở vùng đồng bằng, Đào được trồng chủ yếu để cho hoa là chính.
Đào có vị thơm, ngon, giàu chất dinh dưỡng. Trong 100g cùi thịt quả Đào có 0,9g protein, 0,1g lipit, 7g gluxit, 8mg canxi, 20mg phốtpho, 10mg sắt, 2mg caroten, 8,3mg Vitamin B1, 2mg Vitamin B2, 6mg Vitamin C, các axit hữu cơ: xitric, tactric, clorogenic. Đào rất bổ dưỡng nhưng không nên ăn nhiều vì Đào tính ấm, vị ngọt, chua, ăn nhiều dễ sinh bốc hoả, đầy chướng bụng, sinh mụn nhọt.
Ngoài thịt quả, các bộ phận khác của cây Đào đều là những vị thuốc quý. Nhân hạt Đào (Đào nhân) vị đắng ngọt, tính bình vào 2 kinh tâm và can, có tác dụng phá huyết tan ứ, làm tan đờm, nhuận tràng, điều hoà chức năng cơ quan hô hấp, giảm ho, chữa bế kinh, đau bụng kinh, cao huyết áp, viêm ruột thừa, tụ huyết sưng đau do chấn thương, điều trị chứng tắc nghẽn mạch máu.
Rễ Đào: Dùng ngoài da chữa sưng đau, sắc uống chữa viêm gan vàng da.
Nhựa thân cây Đào: Chữa kiết lỵ ra máu, đái tháo đường, viêm phế quản.
Cành Đào: Chữa sốt rét.
Lá Đào: Có amygdalin, axit tanic, cumarin. Thường dùng lá Đào diệt sâu bọ: Ngâm vào nước tù đọng diệt được bọ gậy, cho vào hố xí diệt được giòi, đun lấy nước chữa lở ngứa, ghẻ, viêm âm đạo.
Hoa Đào: Có tác dụng hạ khí, tiêu báng nước, lợi tiểu. Dầu hoa Đào làm kem bôi mặt, da mặt sẽ mịn màng… | Thuyết minh về cây đào ngày tết | 1,326 | |
Đề bài: Thuyết minh về Côn Sơn và Kiếp Bạc
Bài làm
Mời bạn hành hương về miền Đông Bắc của Tổ quốc, vùng đất thiêng của Đại Việt, sông núi, rừng cây, bãi cỏ, cánh đồng… đã mấy trăm năm nay, đã nghìn năm qua còn lưu giữ bao dấu tích của Người xưa. Hồn thiêng núi sông tụ hội anh linh của tiền nhân, của những anh hùng với bao chiến công chói ngời sử sách.
Núi Phượng Hoàng – Kỳ Lân, nơi Chu Văn An ở ẩn, chùa Côn Sơn, Giếng Ngọc, Thạch Bàn, Bàn Cờ Tiên, Đền Kiếp Bạc,… mỗi một danh thắng, mỗi một di tích lịch sử gợi nhớ gợi thương trong lòng ta về tổ tiên ông cha với bao tự hào. Nghe thông Côn Sơn reo, ta tưởng như nghe tiếng mài gươm của Nguyễn Trãi thuở “bình Ngô”. Nghe tiếng sóng Lục Đầu Giang vỗ, ta tưởng như nghe tiếng reo cùa trăm vạn hùng binh dưới ngọn cờ người anh hùng Trần Quốc Tuấn đang ào ào xông tới Vạn Kiếp tiêu diệt giặc Nguyên-Mông.
Khu di tích Côn Sơn nằm ở giữa hai dãy núi Phượng Hoàng – Kỳ Lân, xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, gần làng Chi Ngại quê hương của dòng họ Nguyễn Trãi. Khu di tích này gồm có núi non, chùa, tháp, rừng thông, khe suối và các di tích nổi tiếng gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân lịch sử. những dấu tích thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp.
Ta đến Chùa Côn Sơn, Chùa có tên là Tư Phức tự, nhân dân địa phương thường gọi là chùa Hun, có từ trước đời Trần, nơi tu luyện của Trạng nguyên Lý Đạo Tái, Pháp danh Huyền Quang. Nguyễn Trãi có thời gian được vua giao chức “Đề Cử" chùa Côn Sơn. Trải qua biến thiên về lịch sử và thời gian, chùa Côn Sơn ngày nay chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới tán lá xanh của những cây cổ thụ. Trong chùa còn đầy đủ hệ thống tượng Phật, trong đó có tượng Di Đà Tam Tôn, tượng Trúc Lâm Tổ – tức Trần Nhân Tông, tượng Nhà sư Huyền Quang, tượng ông bà Trần Nguyên Đán, hai pho tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Hiện trong chùa còn nhiều di vật có giá trị được lưu giữ như 8 bia thời Trần – Lê.
Ta hãy soi hồn mình vào Giếng Ngọc. Nằm ở sườn núi Kỳ Lân, bên phải là lối lên bàn cờ tiên. Tương truyền đây là giếng nước do thiền sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quí. Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa.
Rồi đến Thạch Bàn: Bên suối Côn Sơn có một phiến đá lớn, mặt phẳng và nhẵn gọi là Thạch Bàn, nơi Bác Hồ tới thăm Côn Sơn (15/2/1965), Bác dã dừng chân nghỉ tại đây. Tương truyền khi xưa Nguyễn Trãi lấy làm “chiếu thảm” nghi ngơi, ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước.
Và ta ngắm nhìn Bàn cờ tiên. Từ chùa Côn Sơn leo lên các bậc đá đến đỉnh núi, là một khu đất bằng phẳng, tại đây có một phiến đá khá rộng, tục gọi là Bàn Cờ Tiên. Hiện Bàn Cờ Tiên có dựng nhà bia theo kiểu vọng lâu đình, hai tầng cổ, tám mái. Đứng tại đây, du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn: Lục Đầu Giang -Côn Sơn-Kiếp Bạc.
Đền thờ Nguyễn Trãi: Năm 2002, tỉnh Hải Dương đã xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi trên một khu đất rộng trong quần thể khu di tích Côn Sơn. Trong đền thờ có tượng Nguyễn Trãi bằng đồng với kích thước hợp lý đặt trong nhà tưởng niệm rất trang trọng.
Hội Côn Sơn có hai dịp trong năm: hội Xuân từ ngày 16 đến 22 tháng Giêng Âm lịch nhằm tưởng nhớ vị tổ thứ 3 của thiền phái Trúc Lâm; hội Thu từ 15 đến 20 tháng 8 Âm lịch tưởng niệm Nguyễn Trãi.
Đến Kiếp Bạc ở xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Nơi dây là thung lũng trù phú trông ra sông Thương và ngã sáu Lục Đầu Giang, xung quanh có dẫy núi Rồng bao bọc. Trần Hưng Đạo, người anh hùng dân tộc, vị chỉ huy tối cao trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông hồi thế kỷ XIII đã đặt bản doanh ở đây, trên vị trí chiến lược này.
Đền thờ ông được xây dựng vào đầu thế kỷ XIV, trên một khu đất trung tâm thung lũng, nơi đã diễn ra chiến thắng Kiếp Bạc lừng lẫy do ông chỉ huy và cũng là nơi ông về sống những năm tháng cuối đời. Trong đền hiện còn 5 pho tượng bằng đồng: tượng Trần Hưng Đạo, phu nhân, hai con gái, Phạm Ngũ Lão cùng 4 bài vị thờ 4 con trai.
Hàng năm, hội đền dược tổ chức vào ngày mất của Trần Hưng Đạo (20 tháng 8 âm lịch) thu hút rất đông đảo khách thập phương về dự “Tháng 8 giỗ Cha”. | Thuyết minh về Côn Sơn và Kiếp Bạc | 881 | |
Đề bài: Thuyết minh về cảnh đẹp của Hồ Thác Bà
Bài làm
Hồ Thác Bà là một viên ngọc quý của miền Tây Bắc nước ta. Năm 1961, công trình thuỷ điện Thác Bà bắt đầu xây dựng, đến năm 1971 mới hoàn thành, hồ Thác Bà có từ đây. Nó nằm trong lưu vực sông Chảy thuộc hai huyện Yên Bình và Lục Yên tỉnh Yên Bái.
Là một trong ba hồ nước nhân tạo to lớn nhất của Việt Nam, rộng gần 20.000 ha, với trên 80 km chiều dài, chiều rộng từ 8-10 km, có chỗ sâu tới 45m. Hồ Thác Bà có tới 1331 hòn đảo lớn nhỏ, xen kẽ những dãy núi đá vôi xanh thẫm, trong đó có khá nhiều đảo trồng cây ăn quả như bưởi, quýt, hồng,… Cảnh quan thiên nhiên vừa kì vĩ vừa thơ mộng.
Ai đã một lần lên Tây Bắc và ghé chơi hồ Thác Bà? Từ cảng Hương Lý, sau khoảng một giờ ngồi ca nô, du khách đã tới nhà máy thuỷ điện Thác Bà rồi lên tháp hương cầu may tại đền Thác Ong, lần lượt vào thăm các hang động đá vòi như động Thuỷ Tiên, động Xuân Long, động Bạch Xà.
Động Thuỷ Tiên hun hút dài khoàng 100m, nhũ đá lấp lánh muôn hổng nghìn tía, đặc biệt có hình tiên nữ trong bộ xiêm y lộng lẫy thướt tha đang múa hát, mỗi nàng một vẻ, gắn với cổ tích li kì. Động Xuân Long nằm ấn trong dãy núi đá trập trùng; càng đi sâu vào khách tham quan không khỏi ngỡ ngàng trước nhưng tượng đá, nhũ đá có màu sắc và hình dáng kì lạ. Núi Cao Biền là dãy núi lớn và dài nhất của thăng cảnh hồ Thác Bà. Những buổi sáng sớm hay buổi chiều mùa hè, những đêm trăng thu, du khách leo lên đính núi phóng tầm mắt ngắm cảnh hồ bao la, mênh mông trong màn sương với vẻ đẹp lung linh huyền ảo; càng ngắm càng đắm càng say.
Ngược dòng sông Chảy, du khách tới thăm khu di tích lịch sử đền Đại La, hang Hùm, chùa Lãi, núi Vua áo Đen, nơi đây còn lưu giữ bao dấu vết văn hoá thuộc nền văn hoá Bắc Sơn của người Việt cổ. Câu ca ngày xửa ngày xưa còn vọng theo thời gian làm bồi hồi xao xuyến du khách gần xa:
Nhiều tiền chợ Ngọc, chợ Ngà,
Không tiền lơ lửng Thác Bà, Thác Ông.
Xung quanh hồ Thác Bà nhấp nhô những mái nhà lá, nhà sàn của đồng bào Dao, Tày, Nùng, Mông, Mán, Phù Lá, Cao Lan. Tiếng mõ rừng chiều, tiếng cá đớp mồi vẫy trăng, tiếng máy ca nô, tiếng thuỷ điện rì rầm, tiếng gió lồng hang động, tiếng sóng vỗ, tiếng rít của đàn vịt trời, cái hợp âm trầm hùng ấy càng lắng nghe càng thú vị.
Đúng như dân gian đã nhắc:
Đi một ngày đàng học một sàng khôn
Đến thăm hồ Thác Bà, lúc trở về xuôi, ta khẽ ngâm lời ca:
"Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớThác Ông, Thác Bà
Nhớ Xuân Long, nhớ Bạch Xà
Chợ Ngọc, chợ Ngà nhớ mãi không nguôi ” | Thuyết minh về cảnh đẹp của Hồ Thác Bà | 537 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn thuyết minh về cấu tạo và công dụng của chiếc xe đạp.
Bài làm
Chiếc xe đạp được phát minh ra ở Châu Âu và được nhập vào nước ta khoảng đầu thế kỉ XX. Xe đạp là phương tiện giao thông chuyển động bằng sức người, cấu tạo đơn giản, dễ điều khiển… rất thuận lợi cho việc đi lại.
Cấu tạo của xe đạp gồm hệ thống truyền động, hệ thống điều khiển và hệ thống chuyên chở.
Hệ thống truyền động gồm khung xe, bàn đạp, trục giữa, ổ bi giữa, dây xích, đĩa ổ líp, hai trục, ổ bi và hai bánh trước, sau. Khi đi, người ta ngồi lên yên xe, tay cầm ghi đông, chân đạp bàn đạp làm cho trục xe chuyển động, đĩa chuyển động kéo theo dây xích (sên), làm quay ổ líp và bánh sau, tạo lực đẩy cho xe tiến về phía trước. Đĩa răng cưa có đường kính lớn hơn đường kính ổ líp, số răng cưa của nó nhiều gấp hơn hai lần số răng cưa của ổ líp. Khi đĩa chuyển động một vòng thì ổ líp chuyển động hơn hai vòng. Ổ líp chuyển động làm bánh xe chuyển động theo. Đường kính bánh xe thường là 650mm hay 700mm, gấp 10 lần đường kính ổ líp. Như vậy, ổ líp quay một vòng thì bánh xe lăn được một quãng dài. Ổ líp quay sẽ làm cho xe chạy nhanh về phía trước.
Hệ thống chuyên chở gồm yên xe, bộ phận đèo hàng hoặc giỏ đựng hàng. Yên xe lắp trên khung xe là chỗ ngồi của người đi xe. Dàn đèo hàng (gác-ba-ga) lắp ở phía sau yên, dựa trên trục bánh xe sau, có thể chở được hàng tạ. Giỏ đựng hàng gắn ở phía đầu xe, dựa trên trục bánh trước.
Ngoài các bộ phận chính như trên, xe đạp còn có bộ phận chắn bùn lắp trên bánh sau và bánh trước (gác-đờ-bu), có bộ phận chắn xích che phía trên sợi dây xích, có đèn lấy nguồn điện từ đi-na-mô lắp ở trước càng xe, có đèn tín hiệu lắp ở phía sau xe, có chuông lắp gần chỗ tay cầm để xin đường lúc cần thiết.
Xe đạp là phương tiện giao thông rất tiện lợi trên quãng đường ngắn từ dăm cây số đến vài chục cây số như đi trong làng hay trong thành phố nhỏ. Xe đạp chuyển động bằng sức người nên không gây ô nhiễm môi trường. Người đi xe đạp chỉ cần sử dụng một lực rất nhỏ nhưng đi được một đoạn dường dài. Đi xe đạp cũng là một cách vận động cơ thể có ích như hoạt động thể thao, thể dục.
Trong kháng chiến 9 năm chống Pháp, chiếc xe đạp đã cùng dân công thồ hàng phục vụ cho bộ đội đánh thắng trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Trong kháng chiến chống Mĩ, chiếc xe đạp lại cùng lực lượng thanh niên xung phong vận chuyển lương thực, vũ khí trên tuyến đường Trường Sơn, góp phần quét sạch quân xâm lược Mĩ ra khỏi bờ cõi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày nay, chiếc xe đạp là phương tiện đi lại rất thuận lợi cho nhiều tầng lớp trong xã hội, nhất là các bạn học sinh ngày ngày đến trường học tập. | Thuyết minh về cấu tạo và công dụng của chiếc xe đạp | 573 | |
Thuyết minh về cốm Làng Vòng Hà Nội
Hướng dẫn
Thuyết minh về cốm Làng Vòng Hà Nội
Chứa đựng sự tinh túy được chắt lọc từ cây lúa và lòng người đất Hà thành.
“Hà Nội mến yêu của ta, thủ đô mến yêu của ta”. Hình ảnh thân thương của đất Thăng Long luôn ngự trị trong trái tim của mỗi con người đất Việt. Với 36 phố phường, với sen hồ Tây và xanh ngắt nước hồ Gươm, với ngọt ngào hương hoa sữa…
Không chỉ có vậy, Hà Nội còn quyến rũ lòng người bằng nét văn hóa ẩm thực gần gũi và đặc sắc.
Hà Nội từ xưa đã nổi tiếng với nhiều thứ đặc sắc: “Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì, Tương Bần, húng Láng còn gì ngon hơn”. Trừ tương Bần thuộc tỉnh Hưng Yên, ba thứ còn lại đều thuộc ngoại thành Hà Nội.
Cốm ra đời trong hoàn cảnh ngẫu nhiên, đặc biệt.
Câu ca dao xưa, không rõ tự khi nào đã nhắc đến cốm. Cả nước ai cũng biết đến cốm làng Vòng là thứ đặc sản của thủ đô. Riêng người Hà Thành coi nó như một cái gì đó quý giá, tự hào, linh thiêng…
Chuyện kể rằng: Vào một năm trời đói rét, nước ngập mênh mông. Có một gia đình nọ ở làng Vòng thuộc Dịch Vọng, Cầu Giấy gặt chạy được một tí lúa nếp non, đói quá phải rang lên mà ăn.
Cốm làm bằng thứ nếp hoa vàng được ghi chép từ thời Lê Quý Đôn vào thế kỉ XIII là ngon và thơm nhất.
Nếp hoa vàng làm nên món ăn thanh tao.
Vào vụ Đông Xuân, không cấy được nếp hoa vàng, chỉ cấy được nếp mới, ít thơm hơn. Nhưng với đôi bàn tay khéo léo thì cốm vẫn ngon, vẫn thắm đượm lòng người.
Nghề làm cốm làng Vòng lan truyền tới các làng lân cận Mai Dịch, Mễ Trì… và trở thành đặc sản của 36 phố phường. Hằng năm, vào dịp Tết Trung Thu, tiết trời sẹ lạnh, đã có cốm. Trên trời, trăng thu sáng trong, ôm trọn cánh đồng lúa đang dần trĩu bông đón chờ mùa gặt tháng Mười.
Chẳng biết tự bao giờ đã có tên “cốm”, về cách phát âm, “cốm” với “cơm”, hay là một thứ cơm không nấu và rang lên?
Cốm được đem bán rộng rãi khắp phố phường. Các bà, các chị gánh cốm bằng chiếc đòn gánh đầu cong vút, với đôi quang nhỏ, cái thúng, cái mẹt xinh xinh có xập lá sen, hồn nhiên rao: “Ai muốn cốm hoa vàng… “
Hương cốm và hương sen hòa quyện vào nhau. Người xa quê cầm gói cốm bọc trong lá sen, được buộc bằng mấy cọng rơm nếp non còn xanh, cảm thấy lòng lâng lâng khó tả. Đó là cảm giác nhớ về quê hương, đứng trước đồng lúa chín và đầm sen dịu mát. Làng quê chợt hiện về, có mẹ già còng lưng vất vả, có ruộng đồng xanh ngát một màu.
Tôi nhớ ngày còn bé, mẹ tôi hay làm chè cốm mỗi khi có dịp. Anh em tôi thường hí hửng xung quanh mẹ chờ nồi cốm chín. Chè mẹ nấu thì thật tuyệt.
Cốm ăn với chuối tiêu trứng cuốc vào mùa thu thì khỏi chê. Đôi khi, dạo quanh phố phường trong tiết thu se lạnh, bất chợt bắt gặp đôi ba cô bé, cậu bé ngồi quay quần bên gánh cốm ven đường, cảm thấy tâm hồn lắng đọng. Hồn Hà Nội chợt ngập tràn trong tôi.
Giờ đây, cốm được chế biến thành nhiều món như: cốm xào, chè cốm, bánh cốm, chả côm, kem cốm, kẹo cốm…
Cốm nhẹ nhàng góp mặt vào văn hóa ẩm thực Việt Nam. Cốm du lịch khắp đất nước. Thậm chí vượt biên giới ra các nước khác. | Thuyết minh về cốm Làng Vòng Hà Nội | 639 | |
Thuyết minh về cốm làng Vòng – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Cốm làng Vòng nổi tiếng khắp Hà Nội. Trước thời kì chiến tranh tiếng thơm của cốm làng Vòng truyền đưa vào đến Thanh Nghệ, đến Huế Quảng, đưa xuống Nam Định, Hải Phòng và vào thấu đến Sài Gòn Nam Bộ. Mỗi năm cứ thấy gió mùa thu nổi sóng trên đồng lúa miền Bắc là nhiều người lại nhắc đến cốm Vòng – cái món quà thổ ngơi thơm lành của ruộng lúa nếp ngoại thành Thủ đô. Khi những cây sấu đứng đường của Hà Nội mà bắt đầu lộp độp rụng xuống những trái sấu chín cây thì trên vỉa hè Hà Nội cũng bắt đầu hiện ra cái hình ảnh người gánh cốm đi bán rong. Trái với thói thường của hàng rong, gánh cốm cứ êm ả mà đi, người bán cốm không cất tiếng rao hàng. Hình thù người gánh cốm cũng phần nào gợi lên phẩm chất như thứ quà giản dị thơm thảo hiền hậu, vừa chắc chắn vừa tinh tế. Đứng trên ban công nhìn xuống, đứng trong ngõ hoặc đứng trong quầy nhìn ra, mà nhận được gánh cốm thì khắc gọi lấy mà mua. Cái gánh cốm Vòng cổ truyền đã quá quen với con mắt của nhiều người chết đi sống lại nhiều lần với Hà Nội. Ai mà lầm được cái gánh cốm Vòng có cái đòn gánh dị thường một đầu thẳng một đầu cong vút lên như cái ngọn chiếc hia tuồng Bình Định.
Thế thôi, nhưng nhớ lại như thế thì buồn muốn khóc. Tại sao? Chính tôi cũng không biết nữa..
Ờ, mà lạ thật, chẳng riêng gì mình, sao cứ đến đầu thu thì người Hà Nội nào, ở phiêu bạt bất cứ nơi đâu cũng nhớ ngay đến cốm Vòng? Chưa cần phải ăn làm gì vội, cứ nghĩ đến cốm thôi, người ta cũng đã thấy ngất lên mùi thơm dịu hiền của lúa non xanh màu lưu li đặt trong những tàu lá sen tròn cũng xanh muôn muốt màu ngọc thạch!
Không, cốm Vòng quả là một thứ quà đặc biệt nhất trong mọi thứ quà Hà Nội – đặc biệt vì mỗi khi thấy gió vàng hiu hắt trở về thì lại nhớ đến cốm, mà đặc biệt hơn nữa là khắp các “nẻo đường đất nước” chỉ có Hà Nội có cốm thôi.
Cốm là một thứ quà của đồng ruộng quê hương mang đến cho ta nhưng hầu hết các vùng quê lại không có cốm. Tôi còn nhớ lúc tản cư ở vùng Hà Nam, mỗi khi thấy mây thu phủ ngang trời, người ta gặp nhau ở chợ vẫn thường chỉ nói một câu: “Bây giờ ở Hà Nội là mùa cốm!”. Thế rồi nhìn nhau, không nói gì nữa, nhưng mà ai cũng thấy lòng ai chan chứa biết bao nhiêu buồn…
Tags:Văn 8 | Thuyết minh về cốm làng Vòng – Đề và văn mẫu 8 | 491 | |
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh chùa Bà Đanh
Hướng dẫn
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh chùa Bà Đanh
Miền Bắc Việt Nam ta có câu tục ngữ “vắng như chùa Bà Đanh” để ám chỉ một nơi hẻo lánh ít người lui tới, hay một cuộc vui chơi nào đó, mà có rất ít người tham dự…
Có người cẩn thận tìm xem “Chùa Bà Đanh” thuộc địa phương nào mà ít người lui tới? Hóa ra, ngôi, nhà ấy nằm sau trường Chu Văn An bây giờ, nay thuộc quận Tây Hồ. Ấy là theo tài liệu ghi chép trong sách cũ viết về Hà Nội, chứ bây giờ ngôi chùa không còn. Sách chép: “Sở dĩ chùa vắng, vì ban đầu từ thế kỉ 12, đấy là chỗ trại giam tù binh Chiêm Thành, nên người ta ngại đi qua khu vực đó. Sau này chỗ đó dựng lên một ngôi chùa, song vì chùa nhỏ, lại khuất nẻo, nên cũng ít người lễ bái”. Cách giải thích này có vẻ thiếu sức thuyết phục. Sự sùng bái tín ngưỡng của người xưa đâu có kém bây giờ; một ngôi chùa dù nhỏ, nằm ngay ven phía Bắc thành Hà Nội, lẽ nào lại rơi vào cảnh vắng vẻ đến trở thành điển hình trong câu tục ngữ nói trên? Nhất là, khi có người hỏi: “Vậy còn tên Bà Đanh xuất xứ từ đâu?” Thì hình như không một nhà nghiên cứu nào đưa ra được câu trả lời thỏa đáng.
Mục đích chuyến đi ấy, chúng tôi lại chỉ nhằm tìm hiểu về danh thắng “Ngũ động thì sơn” nơi có ngọn núi nổi tiếng, có đến năm hang động trong lòng núi, mỗi hang chứa sức cả ngàn người. Tương truyền, đây là chỗ giấu quân lí tưởng của Lý Thường Kiệt, một danh tướng của triều Lý từ thời phạt Tống. Hiện nay, tại chân núi phía bờ sông, còn đền thờ vị danh tướng này, đền tuy nhỏ nhưng lại uy nghi, thơ mộng… Điều thú vị lần ấy, do tìm hiểu qua nhân dân địa phương, chúng tôi phát hiện tại một làng nhỏ bên kia sông có một ngôi chùa không lớn lắm song rất đẹp. Muốn đến chùa, khách phải xuống đò đi xuôi xuống chừng nửa cây số, chếch với đền thờ Lý Thường Kiệt. Ngôi chùa được dựng lên từ thời Lý (thế kỉ thứ 11) do một người đàn bà giàu có trong làng cung tiến..Làng có tên là Đinh Xá, tên nôm gọi là làng Đanh; vì vậy ngôi chùa được gọi là “chùa Bà Đanh”. Khuôn viên của chùa tuy khiêm tốn, nhưng nội tự rất khang trang, Đặc biệt khác với tất tả các ngôi chùa toàn miền Bắc thường có chỉ cửa “Tam quan” (ba cửa) riêng chùa Bà Đanh lại có cửa “Ngũ quản” (năm cửa). Còn sở dĩ “chùa vắng” vì đây cũng là vùng bán sơn địa, không phải nơi buôn bán sầm uất, chùa lại nằm cách con sông, muốn sang phải lụy đò, bởi thế nên ít người lui tới. Từ cảnh huống đó, mới nảy sinh câu tục ngữ “Vắng như Chùa Bà Đanh” mà dân địa phương khẳng định, đó là nơi xuất xứ.
Có lẽ đến lúc tuyến du lịch được khai thông thì ý nghĩa câu tục ngữ không còn tuyệt đối đúng… vì chùa Bà Đanh không vắng nữa chặng? | Thuyết minh về danh lam thắng cảnh chùa Bà Đanh | 575 | |
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh chùa Hương Tích – Hà Tĩnh
Hướng dẫn
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh chùa Hương Tích – Hà Tĩnh
Chùa thường được gọi là chùa Hương, tọa lạc ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, trên đỉnh Ngàn Hông, núi Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh. Hồng Lĩnh là thắng cảnh nổi tiếng của Hà Tĩnh đã được chạm khắc vào Anh đỉnh, một trong 9 đỉnh đồng lớn ở cố đô Huế năm Minh Mạng thứ 17 (1836).
Từ quốc lộ 1A ngang qua thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, đi khoảng 5km về hướng Đông thì tới chân núi Hồng Lĩnh. Từ đây, chúng ta đi bộ ven triền núi đến miếu Linh Sơn hoặc đi thuyền trên lòng hồ Nhà Đường khoảng l,5km tới miếu Cô thì dừng lễ trình trước khi lên chùa.
Chùa được dựng từ thời Trần, nhưng đã gắn với truyền thuyết xa hơn, đó là sự tích Bà Chúa Ba tức Công chúa Diệu Thiện, con gái Sở Trang Vương, đến tu hành và đắc đạo ở đây.
Quần thể chùa Hương được chia làm ba phần chính: Thượng điện, đền Thiên Vương và am Thánh Mẫu. Theo truyền thuyết, am Thánh Mẫu là nơi Công chúa Diệu Thiện tu hành và hóa Phật Quan Âm. Chung quanh chùa còn có nhiều cảnh quan như: động Tiên Nữ, am Phun Mây, miếu Cô, suối Tiên Tắm…
Tác giả Bảo Ngọc trong báo Du lịch Việt Nam (số 10, ngày 07-03- 2003) cho biết Lưu Công Đao năm 1811 đã mô tả chùa Hương Tích trong Thiên Lộc huyện phong thổ chí như sau: “Trên đỉnh núi có bức thành đá, bên thành có 99 cái nền, cái nào cũng ghép bằng đá mài đẽo trơn phẳng gọi là nền Trang Vương… Người ta lấy đá xây thành am, trong am dặt tượng Quan Âm và một số tượng bằng đá. Bên phải am có chùa Phật, bên trái chùa cỏ đền thờ Đại vương núi Hồng.
Chùa còn giữ một số di vật cổ như: gạch thời Trần, chuông thời Lê…
Hằng năm, lễ hội chùa từ đầu tháng giêng đến 19 tháng 2 âm lịch, đã đón tiếp đông đảo khách thập phương đến tham quan, chiêm bái.
Chùa đã được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. | Thuyết minh về danh lam thắng cảnh chùa Hương Tích – Hà Tĩnh | 400 | |
Đề bài: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Hương
Bài làm
Chùa Hương thuôc huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội khoảng 70 km về phía tây nam. Từ đây đi ô tô qua thị xã Hà Đông, Vân Đình, thẳng đến bến đục thì dừng. Du khách xuống đò, lướt theo dòng xuối Yến Vĩ trong xanh giữa hai bên là cánh đồng lúa. Trước mắt là những dãy núi trung điệp đẹp vô cùng!
Có thể nói cái đẹp của Hương Sơn đc tạo nên từ bàn tay khéo léo kì công của con người và sự ban tàng của mẹ thiên nhiên. Các ngôi chùa đc xây rải rác trên triền núi đá vôi, thấp thoáng bên dưới là những rừng cây xanh thẳm. Từ chân núi đi ngược lên hàng ngàn bâc đá cheo leo,hành khách sẽ thắp nhang ở chùa ngoài rồi vào chùa trong, lên chùa Giải Oan, chùa Thiên Mụ,với đọng hinh bồng, đọng Hương Tích. Chùa nào cũng cổ kính uy nghi ẩn hiện trong làn mờ mờ ảo ảo, tạo nên một bầu ko khí huyền bí linh thiêng.Mỗi người đến đây đều mang theo một riêng nhưng tất cả mọi người đều cảm thấy trút bỏ đươc vướng bận hằng ngày, tất cả đều lâng thoải mái.
Trên con đường đóc quanh co, dòng người nối đuôi nhau, già trẻ, gái trai đủ mọi lứa tuổi, miền quê. Tất cả mọi người đều có được sự thân quen như người trong nhà trước câu “Nam mô A Di Đà Phật ”. Hương Sơn có rất nhiều động nhưng lớn nhất, kì thú nhất phải nói đến động Hương Tích. Lên đến đây, mọi mệt nhọc đều tan biến hết, trong lòng lâng lâng niềm hứng khởi. nơi đây hoa mơ nở trắng như tuyết điểm, hương thơm thoang thoảng trong gió. Tiếng chim ríu rít, tiếng suối roc rách lúc gần lúc xa. Đưng s tên cửa động, du khách hít căng lồng ngực không khí thơm, trong lành.
Được chúa Trịnh Xâm ca ngợi là “Nam Thiên đệ nhất động”. Từ bên ngoài, cửa động như miêng một con rồng khổng lồ ăn sâu vào trong lòng núi. Đáy rộng và phẳng có thể chứa được mấy trăm người. Ánh đèn nến lung linh huyền ảo. Những nhũ đá, cột muôn hình vạn trạng, lấp lánh bảy sắc cầu vồng.
Muốn tham quan được hết chùa Hương phải mất máy ngày mới thăm hêt được. Ngồi trong động Hinh Bồng, lắng tai nghe tiếng gió tạo thành tiếng nhạc du dương trầm bổng ta sẽ được đắm mình vào trong cõi mộng. Trên đỉnh núi co một tảng đá lớn tương truyền dó là bàn cờ tiên. Mỗi năm một lần nơi đây các vị tiên ông thương hay đánh cờ đọ tài cao thấp ở đó. Còn có biết bao những sự tích, huyền thoại gắn liền với chùa Hương, tạo thêm cho vẻ kì bí linh thiêng của chốn phong cảnh hữu tình này.
Khi đi về, trong tay ai cũng đều mang về một thư gì đó làm kỉ niệm. Du khách lên xe mà long bâng khuâng lưu luyến, không ai bảo ai mỗi người đều quay lại ngắm nhìn để in đậm những kỉ niệm về chùa Hương càng thêm tự hào về giang sơn gấm vóc mong sớm đến năm sau để lại có dịp tới thăm chùa Hương một lần nữa. | Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Hương | 578 | |
Đề bài: Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Chùa Tây Phương
Bài Làm
Nói đến Hà Nội, người ta thường nghĩ ngay đến những danh lam thắng cảnh nổi tiếng nơi đây như: Văn Miếu Quốc Tử Giám, hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn, chùa Trấn Quốc,… và chắc chắn không ai không nhắc tới ngôi chùa linh thiêng nhất, được xếp vào di tích quốc gia đặc biệt. Đó chính là chùa Tây Phương.
Chùa Tây Phương thuộc xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Tương truyền, chùa được xây dựng vào thế kỉ VI. Người xưa kể lại rằng vào những năm 324 – 326 có niên hiệu Hàm Hòa thời Đông Tấn Cát là một chức quan ở huyện Giao Châu nghe tin trên núi Cát Lậu có Chu Sa Đỏ, muốn tìm để làm thành thuốc trường sinh nên ông đã cùng nhân dân lập nên ngôi chùa nhỏ để thờ tự. Trải qua các cuộc chiến tranh và sự bào mòn của thời gian chùa đã bị tàn phá nặng nề. Vào năm 1794 ở thời Tây Sơn chùa đã được đại tu và có tên là chùa Tây Phương được biết tên chữ là Sùng Phúc Tự. Người dân gọi là chùa Tây.
Chùa Tây Phương nằm trên đỉnh núi Câu Lậu (núi Tây Phương) cao chừng 50m. Núi Câu Lậu được ví như con trâu đầu đàn quay đầu xuống dòng sông Tích uống nước. Vì nơi đây có 9 ngọn núi trông xa tựa như một đàn trâu. Qua cổng Tam Quan, chúng ta phải bước qua 237 bậc làm bằng đá ong thì mới tới chùa. Chùa được xây dựng dựa trên kiến trúc mặt bằng chữ tam; có 3 tòa nhà song song là Hạ – Trung – Thượng; tường bao quanh chùa và được xây kín, liền tạo thành kết cấu viền chữ còng. Kiến trúc chùa đã trở thành điển hình của các chùa ở miền Bắc với hai tầng mái giấu thiềm, lợp ngói mũi hài, các góc mái đao vươn lên cong vút, bên trên có gắn tứ linh thú (bốn con vật linh thiêng). Chùa có 64 pho tượng, phần nhiều được làm bằng gỗ mít. Trong đó có 18 tượng La Hán và kiến trúc đặc sắc nhất là pho tượng phật bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay. Cửa sổ trong chùa được chạm khắc hihf tròn, mang ý nghĩa “sắc sắc không không”. Bên trong có nóc mái, rui mè đều có mông ô vuông được trang trí tô mầu mô phỏng áo Cà Sa nhà Phật. Chùa có một chiếc chuông nặng tới 200kg. Cũng nhờ những nghệ thuật đặc sắc này mà vào ngày 24/04/1962 chùa Tây Phương đã được công nhận và xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia.
Tượng phật ở đây được đánh giá rất cao. Đó là những kiệt tác xuất sắc của các nghệ nhân xa xưa. Viết về các vị La Hán ở chùa Tây Phương, Huy Cận có bài thơ rất nổi tiếng:
Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay.
Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.
Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe từa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn….
Hình tượng La-hán trong bài thơ rất mới lạ. “Khi đọc bài thơ Các vị La-hán chùa Tây Phương của Huy Cận, một nhà nghiên cứu văn học cho rằng: Nhà thơ vẽ ra những hình vẽ bên ngoài chủ yếu là để thể hiện nội tâm của những vị A-la-hán, mà cũng chính là nội tâm đau đớn, quằn quại, vật vã, đầy đau khổ, của những con người nơi trần thế…”. Các pho tượng là hiện thân của cuộc sống nghèo nàn, cực khổ mà nhân dân ta phải chịu đựng ở thế kỷ XVIII. Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay là nghệ thuật đặc sắc nhất, là phật bà đại từ đại bi, lluôn quan tâm, lắng nghe âm thanh khổ nạn của chúng sinh rồi hiện phép thần thông cứu giúp.
Thật tự hào vì nơi đây có danh lam thắng cảnh tuyệt vời như vậy. Chúng ta hãy bảo vệ giữ gìn những nét đẹp văn hóa, điêu khắc đặc trưng của quê hương mình. | Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Chùa Tây Phương | 753 | |
Đề bài: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Ngũ Hành Sơn
Bài làm
Ngũ Hành Sơn nằm cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 8 km về phía đông nam, trên một bãi cát mênh mông gần bờ biển, thuộc làng Hoà Khuê, ấp Sơn Thủy, huyện Hòa Vang quận Ngũ Hành sơn. Thuở xa xưa người Chiêm Thành, thờ thần linh theo tín ngưỡng của họ, ngày nay còn lưu lại di tích qua những tượng thần bằng đá, những đền tháp và hình tượng khắc trong vách đá ở Chùa Linh Ứng, trong động Huyền Không. Ngũ Hành Sơn bao gồm 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn, Hoả Sơn(Âm Hỏa sơn va Dương Hỏa sơn), Thổ Sơn.
Thuở xa xưa người Chiêm Thành, thờ thần linh theo tín ngưỡng của họ, ngày nay còn lưu lại di tích qua những tượng thần bằng đá, những đền tháp và hình tượng khắc trong vách đá ở Chùa Linh Ứng, trong động Huyền Không. Ngũ Hành Sơn bao gồm 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn,Hỏa sơn(được chia làm 2 loại: Âm Hỏa sơn và Dương Hỏa sơn) va Thổ sơn.
* Kim sơn (Metall – metal) là hòn núi khiêm tốn nhất trong 5 ngọn núi kéo dài từ đông sang tây, sông Trường nối dài ra sông Đà Nẵng, có đò Bến ngự ngày xưa Vua chúa thường cập bến nơi đây để ngọan cảnh, qua thời gian biển dâu biến thành ruộng đồng, sông Trường có tên „Lộ Cảnh Giang là sông Cổ Cò“, đã bị vùi lấp biến thành ruộng hoặc hồ nước còn dấu tích của những đoạn sông chưa bị lấp kín
* Mộc sơn (Holz – wood) phiá đông nam nằm song song với núi Thủy sơn dù mang tên là mộc, nhưng cây cối mọc rất ít núi cũng có hang động nhỏ, Mộc sơn có khối đá cẩm thạch trắng giống hình người
* Thuỷ sơn (Wasser – water) phiá đông bắc là núi đẹp nhất, du khách thường đến ngoạn cảnh gọi là Chùa Non Nước, phong cảnh hữu tình có thể nói núi Thủy sơn nằm dài từ đông sang tây rộng 15 ha, có nhiều Chùa được xây cất lâu đời, có động Thạch nhũ, có hai chùa đẹp chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng, đường lên núi làm bằng từng cấp lót đá, trên đỉnh 3 ngọn núi mang tên là „Tam Thai“ bởi vì nó giống như „Sao Tam Thai“ tức là 3 ngôi sao làm thành cái đuôi của chùm sao Đại Hùng Tinh. Du khách từ vùng biển muốn lên thăm Linh Ứng phải bước lên khoảng 108 tầng cấp, nếu đến chùa Tam Thai nằm ở phiá nam phải đi xa hơn những tầng cấp dài 156 bậc. Ngày nay phần lớn du khách đến Thuỷ sơn bằng xe từ đường Huyền Trân, hai bên đường là làng chuyên về nghề điêu khắc tạc tượng, bằng đá cẩm thạch
* Hỏa sơn (Feuer – fire) ngọn núi hướng về phiá tây nam sườn núi hiểm dốc hang động hoàn toàn im lặng, đối diện với hòn Kim Sơn, bên trái đường Sư Vạn Hạnh, trên dãy núi Hỏa sơn còn lại những đống gạch vụn từng mảnh hay đôi khi nguyên vẹn, trong những hố đá gạch sụp lở đó là di tích đền tháp của người Chiêm Thành. Hoả sơn nơi người ta khai thác lấy đá cẩm thạch. Đá cẩm thạch non nước có nhiều vân, sắc đẹp hồng, xám, trắng, những loại đá khác nhau rất hữu ích cho công nghiệp, đá vụn để trãi đường, tô tường nhà. Hỏa Sơn gồm có một hòn Âm và một hòn Dương, nối liền với nhau bằng một đường đá thiên tạo nhô cao hẳn lên.
Hòn Âm Hỏa Sơn nằm phía đông, gần đường Lê Văn Hiến, chóp núi tròn nhô lên cao hơn. Sườn núi có nhiều thớ đá nằm nghiêng và chạy nghiêng cắt ra từng đoạn, cây cối mọc ở các kẻ đá, ở mỏm núi phía đông có một cái hang thông từ sườn phía nam ra sườn phía bắc. Nhân dân địa phương thường đi theo đường này đến các hòn Kim Sơn và Thổ Sơn.
Hòn Dương Hỏa Sơn nằm ở phía tây. Ngày xưa, khi còn giao lưu được giữa Hội An và Đà Nẵng bằng đường thủy, ở đây có một bến sông, ghe thuyền đi về buôn bán vô cùng tấp nập. Trên bờ sông, sát chân hòn Dương Hỏa Sơn có khu miếu Ông Chài, hiện đã bị đổ nát. Tên dân dã “núi Ông Chài” có thể bắt nguồn từ đó. Tại một điểm cao trên sườn núi cheo leo, vách đá thẳng đứng, phía bắc Dương Hỏa Sơn nhìn về phía Kim Sơn, có ba chữ Hán lớn, nhìn từ xa rất rõ “Dương Hoả Sơn” và một dòng chữ nhỏ phải đến gần mới thấy: “Sắc Minh mạng thập bát niên thất nguyệt nhật cát lợi”.
* Thổ sơn (Erde – earth) là núi thấp nằm chính giữa có dạng vuông, cạnh không đều nhau, Thổ sơn không có phong cảnh đẹp chỉ có đất sét đỏ và đá cát lẫn lộn. Theo truyền thuyết Thổ sơn là nơi linh địa ngày xưa người Chiêm Thành đồn trú nơi đây, còn tìm thấy những nét về văn minh người Chiêm Thành điêu khắc vào đá như một cứ điạ từ đó xuất phát đi cướp phá các vùng biển có tàu buôn đi từ Trung hoa xuống đến vùng biển Mã lai. Thổ sơn thấp bao quanh những ngọn núi cao hơn. | Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Ngũ Hành Sơn | 938 | |
Đề bài: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Phố cổ Hội An
Bài làm
Thị xã có những dãy phố cổ gần như nguyên vẹn, đó là loại nhà hình ống xuyên suốt từ phố nọ sang phố kia. Trong đó có một dãy phố nằm sát ngay bờ sông Hội An. Nhà ở đây toàn bằng gỗ quý, trong nhà treo hoành phi, câu đối, cột nhà trạm trổ hoa văn rất cầu kỳ… Hội An là một bảo tàng sống, khu phố cổ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới.
HOA ÐĂNG PHỐ CỔ
Thương cảng Hội An với tên gọi xưa kia là cảng Ðại Chiêm được hình thành khi những thương gia nước ngoài, nhất là người Nhật Bản và người Trung Quốc từng bước thiết lập cơ ngơi để sinh sống cũng như buôn bán lâu dài.
Khung cảnh và ánh sáng kỳ ảo trong khu phố cổ quyện với giọng ca Bài Chòi, Hò Khoan, Giã Gạo…vẳng lên từ con thuyền đậu dưới bến sông, dưới mái hiên, nơi đầu phố …
Thị xã nhỏ bé nằm trên đất Quảng Nam này từng là nơi chứng kiến hai cuộc giao thoa văn hoá lớn trong lịch sử dân tộc Việt: Lần thứ nhất cách đây hơn 5 thế kỷ, khi nước đại Việt tiến về phương Nam mở mang bờ cõi, và lần thứ hai cách đây hai thế kỷ, khi người phương tây theo các chiến thuyền và thương thuyền đặt chân lên mảnh đất này với ý đồ truyền bá và thôn tính. Cả hai sự kiện lớn đó đều kéo theo tương tác văn hoá lớn lao và nền văn hóa Việt đã vượt qua thử thách đồng hoá để tự cải biến và tồn tại cùng thời cuộc.
Giờ đây, du khách tới Hội An, ngoài việc khám phá sự bình dị chân thật trong tâm hồn người dân phố Hội, sẽ mất nhiều thời gian chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính và tĩnh lặng của các mái ngói phủ rêu xanh mướt và nét chạm trổ tinh vi trong những căn nhà gỗ đã tồn tại từ hơn ba trăm vòng quay xuân hạ thu đông.
Bước chân vào khu phố cổ, du khách sẽ ngỡ ngàng trước một thế giới biệt lập, tách khỏi mọi dòng chẩy và sức phá huỷ của thời gian. Không có tiếng động cơ gầm rú cũng chẳng có những thương hiệu rực rỡ đèn mầu. Tất cả đã lùi xa sau lưng, cả không gian và thời gian đều lắng đọng trong những nếp nhà gỗ cổ xưa. Cầu chùa, dẫy nhà cổ hai tằng quay lưng phía bến sông Hoài, Hội quán Quảng Ðông, Phúc Kiến… đang lặng lẽ tồn tại để con người hoài niệm về một thời quá khứ. Ðặc biệt, khu phỗ cổ mạng một vẻ lãng mạng, sâu lắng và bình yên dưới ánh đèn lồng huyền ảo mỗi đêm 14 âm lịch hàng tháng. Xưa kia, nếu như người Việt quen dùng đĩa đèn dầu lạc, thì người Nhật Bản và Trung Hoa đã đưa tới Hội An thói quen sử dụng đèn lồng.
Sáng kiến khôi phục việc thắp đèn lồng thay cho ánh sáng điện từ mùa thu năm1998 đã mang lại hiệu quả không ngờ ngay từ buổi đầu tiên. Vào mỗi đêm 14 âm lịch, mọi sinh hoạt của thị xã bình yên này được quay trở về với tập quán của hơn 300 năm trước, và khu phố cổ nằm trong giới hạn của bốn con đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi, Bạch Ðằng đã hàng loạt tắt đèn và treo trước hiên nhà những ngọn đèn lồng huyền ảo.
Dù toả sáng nhờ ngọn điện thông thường, song ánh sáng của đèn lồng mờ dịu và phảnh phất dấu ấn của thời gian xưa cũ. Những chiếc đèn tròn, lục lăng theo phong cách Trung Hoa treo dưới mái hiên và hai bên cửa ra vào, đèn quả trám hoặc ống dài kiểu Nhật Bản phất giấy trắng lơ lửng dọc theo hàng cột, đèn trụ vuông, đèn quả trám to nhỏ các cỡ… tất cả đã tạo lên một thế giới lung linh, huyền ảo. Trong đêm hoa đăng, phố cổ đã tự nguyện ngừng sử dụng các thiết bị điện như TV, đèn đường, đèn neon… nhưng người dân Hội An không thấy đó là điều bất tiên cho cuộc sống của mình.
Cường độ ánh sáng giảm đi, song chất men say của thị xã lãng mạn đã bốc mạnh trong mỗi con người khi đi qua phố cổ.
Trong ngôi nhà cổ rêu phong, bóng người phụ nữ áo dài thời trước cặm cụi làm việc dưới ánh đèn lồng được tạo thành từ chiếc nơm cá giản dị, bên vỉa hè, hai người già râu tóc bạc phơ đang chìm đắm vào suy nghĩ với ván cờ tướng thắp sáng bởi ngọn nến lung linh… Dường như con người đang được sống với dĩ vãng khi mà những phiền toái của cuộc sống hiện tại chưa hiện hữu.
Trong bầu không khí cổ tích đó, hãy kiểm nghiệm sự hiện hưu bằng việc nếm một vài món ăn phong vị xứ Quảng như bánh Bo, bánh Vạc, Cao lầu tại các nhà hàng còn giữ nguyên hình ảnh đầu thế kỷ. Tại tiệm ăn FaiFo trên đường Trân Phú, những chiếc đèn lồng nhỏ xíu hình dáng cổ điển chiếu một nguồn ánh sáng vàng ấm áp, hoà điệu cùng cặp đèn lớn có dán lời cầu ước chữ Hán theo phong tục cổ xưa trước mái hiên. Ðộc đáo hơn là cách bài trí của tiệm cafe có tên “Treated”. Tại đây, người chủ đã khoét thủng trần gỗ và lồng vào những chiếc rá tre vo gạo bình dị. Hàng lỗ thủng đều đặn của rá tre đã tạo ra một nguồn ánh sáng ngộ nghĩnh và độc đáo. Có phải người chủ nào cũng đủ cam đảm khoét thủng trần gỗ của nhà mình ra?
Hiện diện trên phố Hội An là vô số các cửa hàng bầy bán các loại đèn lồng làm kỷ niệm. Tuỳ theo chất liệu vải bọc ngoài mà ngọn đèn đưa tới những loại ánh sáng khác nhau. Ðó có thể là mầu đỏ may mắn, mầu vàng tươi vui, mầu gấm huyết diụ kiêu sa hay sắc xanh lãnh lẽo. Tuy nhiên khó so sánh được với những chiếc đèn lồng có tuổi hàng thế kỷ đang được các gia đình sinh sống lâu đời ở đây gìn giữ và chỉ chưng ra trong đêm hội hoa đăng. Những ngọn đèn này được chế tác từ gỗ quý, chạm trổ cầu kỳ và trên mỗi tấm kính là một tác phẩm hội hoạ thật sự. Các tích truyện cổ nổi tiếng được nghệ nhân xưa vẽ trên kính, sinh động và hoàn hảo như một bức tranh đắt giá. Mỗi khi ngọn nến bên trong toả sáng, cảnh mây trắng, trời xanh hoặc nước biếc sẽ liên tục quay tròn, hắt bóng các chi tiết lên mặt kính.
Khung cảnh và ánh sáng kỳ ảo trong khu phố cổ quyện với giọng ca bài chòi, hò khoan, giã gạo… vẳng lên từ con thuyền đậy dưới bến sông, dưới mái hiên, nơi đầu phố… tạo ra sức cuốn hút kỳ lạ đối với du khách. Không quá trang nghiêm như Cố Ðô Huế, không quá sôi động như chợ Lớn, nét cổ truyền nơi đây mang một vẻ thuần khiết, thu hút những tâm hồn ưa chuộng lãng mạn của những ngày xa xưa. | Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Phố cổ Hội An | 1,272 | |
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Đá Chông Đồng Nai
Hướng dẫn
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Đá Chông Đồng Nai
Có dịp đến Đồng Nai, mời bạn ghé thăm danh thắng Đá Chồng nằm giữa khu dân cư sầm uất của huyện lị Định Quán, cách Biên Hòa 82km và Thành phố Hồ Chí Minh 1121m về phía đông bắc, ngay bên quốc lộ 20. Đây là con đường huyết mạch nối liền Đà Lạt (Lâm Đồng) với các tỉnh lị trù phú vùng đồng bằng Nam Bộ. Sự thuận tiện giao thông và vị trí tọa lạc của Đá Chồng Định Quán sẽ là nơi dừng chân lí tưởng cho du khách tham quan.
Với độ cao gần 37m so với mặt đường, từng hòn đá khổng lồ xếp chồng lên nhau, hòn trên cùng hơn phân nửa năm chìa hẳn ra bên ngoài, đã gây cho về một cảnh quan thiên nhiên thật hùng vĩ và đa dạng đến mức tuyệt vời.
Đứng cạnh Đá Chồng là hai quả núi Bạch Tượng sừng sững chiếm diện tích khoảng mấy trăm mét vuông, hình dáng giống như đôi voi đang phục.
Trên đỉnh voi có tượng Thích Ca cao hơn 20m ngự đài sen mặt nhìn về hướng đông. Thân tượng bị bể một mảng lớn là vết tích những trận chiến đấu ác liệt thời chiến tranh, dưới chân núi Voi còn có hang đá sâu hơn 10m. Đây là thắng cảnh kì thú, du khách thường đến thăm sau khi viếng chùa Thiện Chơn, xây dựng cách đó không xa. Đối diện Bạch Tượng là Hòn Dĩa có hình thù khá độc đáo. Phần trên Hòn Dĩa là phiến đá hình chữ nhật không đều, một đầu to một đầu nhỏ nằm dè lên tảng đá nhỏ hơn nó rất nhiều, tạo nên vẻ đẹp lạnh lùng, hiếm có. Phóng tầm mắt ra xa hơn, bạn sẽ nhìn thấy hòn Sư Tử nhô giữa chập chùng cây lá muốn chứng tỏ sự hiện hữu của mình và nhà máy đường La Ngà đang tỏa khói quyện trời cao.
Trong khoảng không gian rộng lớn, bạn sẽ phải trầm trồ kinh ngạc trước bức sơn thủy hữu tình trải tít tận trời. Những ốc đảo xinh xinh, những thung lũng mênh mông được phủ một màu xanh bạt ngàn với vườn chuối, cà phê và nhiều loại cây nhiệt đới. Dưới chân đồi, thấp thoáng ẩn hiện hồ nước, dòng suối uốn lượn quanh quanh, len lỏi xuyên qua bao làng mạc trù phú để sau đó hòa nhập dòng chảy với dòng sông Đồng Nai hiền hòa.
Đá Chồng còn là nơi cư trú rất lớn của loài người cách nay hàng nghìn năm. Trong phạm vi quần thể Đá Chồng, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt bằng đá, đồng, đất nung của người tiền sử và phát hiện những công trình kiến trúc bằng gạch nung. Đây là những cứ liệu quan trọng bổ sung cho danh mục di chỉ thuộc nền văn hóa Óc Heo – Phù Nam ở thềm cao nguyên Đông Nam Bộ – một loại hình khảo cổ quan trọng được phát hiện và khai quật nhiều ở các tỉnh miền Nam. Mặt khác, nó cũng góp phần minh chứng cho sự hiện diện của một vương quốc cổ mà nền văn hóa bị chôn vùi ấy đã cổ sức hấp dẫn mạnh mẽ giới nghiên cứu khoa học cùng các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước.
Trong suốt cuộc trường kì kháng chiến chống Pháp và Mĩ, là một bộ phận cửa căn cứ chiến khu Đ, Đá Chồng đã chứng kiến những sự kiện lịch sử trọng đại ghi dấu chiến công vẻ vang của quân dân Đồng Nai. Đầu 3/1948, bằng trận phục kích La Ngà táo bạo, các chiến sĩ đội 10 Biện Hòa đã tiêu diệt gọn đoàn xe chở sĩ quan Pháp đi dự hội nghị ở Đà Lạt, nhiều sĩ quan và binh lính bị thiệt mạng, trong đó có hai đại tá. Chiến thắng La Ngà vang dội cả nước và làm chấn động dư luận nước Pháp. Cũng trên địa điểm lịch sử này, tháng 6/1968, lực lượng vũ trang địa phương ghi tiếp chiến công lừng lẫy: tiêu diệt sáu tiểu đoàn lính Mĩ ngụy. Và sau đó không lâu, Đá Chồng lại chứng kiến cuộc bôn tập thần tốc của đoàn quân cách mạng tiến về đồng bằng, làm nên đại thắng mua xuân giải phóng miền Nam. | Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Đá Chông Đồng Nai | 763 | |
Đề bài: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Đà Lạt
Bài làm
HỒ THAN THỞ
Hồ Than Thở nằm cách trung tâm Đà lạt khoảng 6km về hướng Đông Nam, trên đường đi Chi Lăng-Thái Phiên. Thoạt đầu nơi đây chỉ là một hồ nhỏ, không rõ từ lúc
nào được gọi là Hồ Than Thở. Về sau người Pháp đã làm đập chặn nước tạo thành hồ và đặt tên là Lac des Soupirs, mãi đến năm 1956 hồ mới được gọi lại theo tên cũ.
Năm 1975, sau khi hòa bình lập lại, có lẽ cho rằng cái tên Than Thở ủy mị quá, đã có lúc hồ được đổi tên thành Sương Mai. Nhưng trong lòng người dân Đà lạt cũng như du khách đều lưu luyến tên cũ, không gọi Sương Mai nên đến năm 1990, chính quyền địa phương đã cho sử dụng lại tên cũ của hồ.
Hồ Than Thở còn là nơi gắn liền với câu chuyện tình điễm lệ làm thổn thức lòng người. Đó là chuyện kể về mối tình của đôi trai gái, thường hẹn hò nhau bên bờ suối. Chàng trai lên đường tòng quân đánh giặc. Nơi quê nhà, cô gái nhận được tin chàng tử trận, liền quyên sinh theo người mình yêu. Không ngờ, chàng trai thắng trận trở về, giữ vẹn lòng chung thủy chàng cũng chết theo cô gái. Từ đó, hồ được mang tên là hồ Than Thở và cái tên ấy đã tồn tại từ 200 năm nay.
Ngày nay hồ Than Thở được đầu tư tôn tạo thành một công viên giải trí với những bồn hoa thảm cỏ được chăm tỉa công phu, những trò chơi đu quay, xe đạp nước, cưỡi ngựa… tuy có thay đổi bộ mặt ảm đạm của hồ nhưng cũng vì thế làm mất đi nét trầm mặc huyễn hoặc vốn đã là cái “hồn” của hồ Than Thở.
HỒ XUÂN HƯƠNG
Nằm ngay trung tâm thành phố, ở độ cao 1477m, Hồ Xuân Hương nguyên là thung lũng có dòng suối Cam Ly chảy qua, nơi quần tụ của các cư dân Lạch buổi banđầu. Năm 1919, từ sáng kiến của viên công sứ Cunhac, kỹ sư công chánh Labbé đã tiến hành việc ngăn dòng suối làm thành hồ. Đến năm 1923 lại xây thêm một đập nữa ở phía dưới tạo thành hai hồ.
Do ảnh hưởng của cơn bão tháng 3 năm 1932, cả hai đập đều bị vỡ. Mãi đến năm 1934-1935 một đập lớn bằng đá mới được kỹ sư Trần Đăng Khoa thiết kế xây dựng phía dưới hai đập cũ tạo thành một hồ lớn – người Pháp gọi là Grand Lac. Đập này nằm trước Dinh Quản Đạo mà vị Quản đạo bấy giờ là Phạm Khắc Hòe vẫn được dân địa phương xưng gọi “ông Đạo” nên khi đập cũng là cầu xây xong, người dân quen gọi là “Cầu Ông Đạo”, còn tồn tại đến ngày nay.
Hồ có chu vi 5000m, rộng 25ha với hình dạng trăng lưỡi liềm. Mặt hồ phẳng lặng như tấm gương soi bóng những tán tùng già cỗi, những hàng liễu rũ thướt tha, và sẽ được hơn khi mùa xuân về, lúc những cành anh đào nở rộ một màu hồng rực rỡ khiến mặt hồ bừng lên như đôi má cô gái Đà lạt tuổi xuân thì.
Hồ được mang tên Xuân Hương từ năm 1953 như muốn làm sống mãi hình ảnh lãng mạn của nữ sĩ thơ Nôm nổi tiếng Việt Nam thế kỷ thứ 19: Hồ Xuân Hương.
HỒ TUYỀN LÂM
Theo quốc lộ 20 lên đèo Prenn, qua khỏi thác Datanla một đoạn, du khách rẽ trái rồi đi tiếp khoảng 2km giữa rừng thông trùng điệp, sẽ đối mặt với một hồ nước mênh mông mà từ lâu đã mang một cái tên đầy ấn tượng: Tuyền Lâm.
Hồ Tuyền Lâm được tạo thành bởi dòng suối Tía và thượng nguồn sông Đa Tam từ núi Voi đổ về. Trong nổ lực tạo nguồn nước dự trữ và tưới tiêu cho các cánh đồng huyện Đức Trọng, từ năm 1982 Bộ thủy lợi đã tiến hành việc đắp đập ngăn nước tại đây. Công trình xây dựng đến năm 1987 mới hoàn thành đã mở rộng mặt hồ đến 32km2 với độ sâu có nơi trên 30m nối liền các núi đồi tạo thành một cảnh quan thiên nhiên hoành tráng.
Du thuyền trên hồ, du khách có dịp chiêm ngưỡng bao điều kỳ diệu của núi đồi Đà lạt mà ở mỗi góc độ luôn cho phép những khám phá mới lạ. Sẽ thú vị hơn khi ghé thác Bảo Đại, du khách có dịp làm quenmột gia đình sống đơn lẻ nơi đây trong sự gắn bó lạ lùng với thiên nhiên. Và khi ghé khu dã ngoại Nam Qua, Đá Tiên hay của công ty Du lịch thưởng thức món thịt nướng bên ché rượu cần, trong những căn nhà sàn xinh xắn hoặc thả mình trên bãi cỏ mượt êm giữa thênh thang gió lộng, du khách như bị “say” niềm vui cuộc sống và cảm thấy thỏa lòng trong cái thú viễn du …
THÁC PRENN
Nằm ngay dưới chân đèo Prenn, trên đoạn đường từ Thành phố Hồ Chí Minh lên Đà Lạt. thác Prenn là một trong những đoạn thác còn giữ được vẻ hoang sơ của núi rừng Tây Nguyên.
Đường đến thác phải đi ngang qua một con suối có chiếc cầu nhỏ xinh xinh. Từ độ cao 30m, những hạt thủy tinh nước lấp lánh buông mình xuống mặt hồ tạo thành bức mành nước thiên nhiên tuyệt đẹp. Tiếng nước đổ ầm ào, tiếng chim rừng ríu rít, tiếng vi vu của gió làm xạc xào từng nhánh thông gầy tạo ra những âm thanh sôi động như khúc nhạc vui tươi của nàng xuân đang trỗi lên đón bước chân du khách. Bên dưới chân thác, từng cánh hoa dại lung linh khoe sắc làm cảnh quan càng trở nên quyến rũ hơn.
Muốn du ngoạn cùng mây, gió, bạn có thể ngồi lên cabin của hệ thống cáp treo để tìm cho mình cảm giác phiêu bồng khi lướt ngang qua dòng thác. Không những thế, đến thác Prenn du khách còn được tham gia những trò chơi độc đáo của người dân bản xứ: bắn nỏ, bắn tên, uống rượu cần…
THÁC CAMLY
Thác Camly là thác nằm gần trung tâm thành phố nhất, chỉ cách Đà Lạt khoảng 2km về
phía tây. Nhiều người cho rằng, chữ Camly có nghĩa là dòng suối ngọt mát
thấm vào lòng người.
Cũng có ý kiến cho rằng, Camly là do biến âm của K’Mly, tên một vị tù trưởng của bộ tộc K’Ho, được bộ tộc này chọn làm tên vùng đất từ sau khi ông qua đời để ghi nhớ công lao. Tên Cam Ly thật đẹp và mang âm hưởng Việt Nam nên ông Cunhac đã lầm tưởng đây là tên do người Việt đặt cho. Dù với cách hiểu thế nào thì Camly vẫn luôn là “linh hồn” của Đà Lạt.
Thác Cam Ly ngày nay đã được đầu tư tôn tạo với nhiều tiểu cảnh mang đậm dấu ấn Tây Nguyên, những con đường tuy được bê tông hóa nhưng nhờ khéo chọn giải pháp phù hợp đã không phá vỡ những nét hoang dã cố hữu … Thác Cam ly rất thơ mộng vào những mùa mưa có nước lớn.
Không ồn ào và rầm réo như những dòng thác hoang sơ khác, thác Camly khiêm tốn và lặng lẽ chảy qua các ghềnh đá hoa cương, nước bắn tung tóe trông đẹp và lấp lánh như những hạt pha lê dưới ánh mặt trời. Là cảnh đẹp tiềm thức của người Đà Lạt nói riêng và du khách nói chung. Camly đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các văn nghệ sĩ…
CHÙA LINH PHƯỚC
Chùa Linh Phước được xây dựng từ năm 1949 đến năm 1952 thì hoàn thành. Chùa tọa lạc trong một con hẻm ở số 120 Tự Phước – Đà Lạt. Bên trong chùa là ngôi tiền đường bảo tháp cao 27m được chạm khắc khá sắc sảo, điện thờ Phật Bà Quan Âm.
Chánh điện khá lớn, rộng hơn 22m và dài 33m, thờ Phật Thích Ca. Trang trí quanh tường là những bức phù điêu được chạm khắc bằng miểng chén sứ với nghệ thuật rất tinh vi kể lại lịch sử Đức Phật.
Khuôn viên chùa khá đẹp với những hòn giả sơn, nhiều chậu cây cảnh và hoa phong lan khoe sắc. Đặc biệt, uốn quanh hồ nước là một con rồng có những chiếc vảy sặc sỡ được trang trí bằng phương pháp đắp nổi nhiều mảnh sành sứ, thủy tinh.
Bên cạnh những kiến trúc độc đáo ấy, trong tòa tháp cao 7 tầng của chùa Linh Phước còn có một Đại hồng chung khổng lồ cao hơn 4m, trọng lượng 8,5 tấn được đúc năm 1999.
THUNG LŨNG TÌNH YÊU
Như một nét đặc trưng ở Đà Lạt, Thung lũng tình yêu thực sự là điểm đến của nhiều du khách muốn thưởng ngoạn cảnh trí tuyệt đẹp và thơ mộng của tạo hóa ban tặng cho loài người.
Thoạt đầu người Pháp gọi nơi này là Valley d’Amour; đến thời Bảo Đại làm Quốc trưởng được đổi thành thung lũng Hòa Bình. Năm 1953, khi Chủ tịch Hội đồng thị xã lúc bấy giờ là Nguyễn Vỹ đề xuất chuyển đổi tên gọi các danh từ tiếng Pháp sang tiếng Việt nhằm thể hiện tiếng độc lập của dân tộc, thì cái tên Thung lũng Tình yêu đã ngày càng trở nên quen thuộc và in đậm trong tâm thức nhiều người.
Nơi đây có những bãi cỏ xanh mướt một màu, hồ nước uốn lượn như chú rồng nhỏ đang cuộn mình ôm lấy những quả đồi nối tiếp nhau rợp mát bóng thông xanh. Trong khu du lịch này, đồi Địa Đàng là địa điểm lý tưởng nhất được tạo nên bởi hồ nước trong vắt bao quanh. Từ đây, bạn có thể ngồi thong thả cần câu và ngắm nhìn mặt nước nhẹ rung mỗi khi có một chú cá ngoi lên đớp mồi…
Từ trên đồi cao nhìn xuống, Thung lũng tình yêu hiện ra tựa như bức tranh thủy mặc của người nghệ sỹ tài hoa với những nét chấm phá sắc sảo, những gam màu tươi tắn…làm say đắm lòng người. | Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Đà Lạt | 1,744 | |
Đề bài: Em hãy thuyết minh về hoa hồng
Bài làm
Con người chúng ta mà cứ mỗi khi nhắc đến thế giới loài hoa với biết bao muôn vàn sắc màu. Ta như cũng cảm thấy được rằng cũng thật khó có thể quên được loài hoa hồng kiêu sa, kiều diễm. Và chính vì sắc đẹp cũng như mùi hương của loài hoa này dường như cũng đã được mệnh danh đó chính là “nữ hoàng của các loài hoa”.
Hoa hồng ta như được biết đó cũng là một trong những loài hoa vốn có nguồn gốc từ xứ sở Ba Tư xa xôi. Thế rồi ta cũng như đã biết được rằng, cũng chính từ đất nước Ả-rập thần bí này, thì những bông hoa hồng đến với khắp các quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, ta cũng như đã nhận thấy được rằng, có lẽ chưa có mảnh đất nào có bóng con người mà hoa hồng chưa đặt chân đến. Nhưng ta cũng có thể thấy được rằng, có lẽ là nổi tiếng nhất, có thể nhắc đến hoa hồng của những đất nước Bun-ga-ri. Một nhà thơ Việt nam đã từng thốt lên câu thơ đó chính là:
Hoa hồng Bun-ga-ri. Ôi! Loài hoa diệu kì!
Không thể nào có thể phủ nhận được chính vẻ đẹp và những ý nghĩa thiêng liêng của hoa hồng dường như cũng đã tạo nên sức hút diệu kì thu hút và chinh phục hàng triệu trái tim con người. Không chỉ người Việt mà còn đối với rát nhiều người – những người yêu cái đẹp, yêu hoa.
Hoa hồng ngày nay dường như cũng có rất nhiều tác dụng trong đời sống hàng ngày. Điều dễ nhận thấy được ở đây đó chính là hoa hồng được dùng để làm cảnh trong nhiều gia đình. Chúng ta có thể trồng hoa hồng trong vườn nhà, chúng ta cắm hoa hồng trong lọ để chho đẹp. Hoặc mỗi chúng ta tặng nhau những đoá hoa hồng… Sở dĩ ta như thấy được những bông hoa hồng thường được trao tặng nhau một cách trang trọng như thế bởi hoa hồng có nhiều ý nghĩa. Hoa hồng đỏ hay còn gọi là hồng nhung ai ai cũng có thể biết nó để tượng trưng cho tình yêu cháy bỏng, nồng nàn. Hoa hồng có màu vàng như cũng đã thể hiện tình bạn cao quý, chân thành. Hoa hồng cam là một màu sắc như đã thể hiện sự thành đạt, hiển vinh… Thế rồi ta như thấy được chính số lượng hoa hồng trong mỗi đoá cũng mang những ý nghĩa nhất định thể hiện suy nghĩ của người tặng như muốn gửi gắm đến người được tặng và đặc biệt hơn đó chính là đối với những đoá hồng đỏ.
Ngày nay, người ta dường như không chỉ dùng để làm đẹp, hoa hồng lúc này đây lại như đã còn rất nhiều tác dụng khác. Thế rồi ta cũng rất dễ nhận xét thấy được cũng chính từ cánh hoa hồng, nhiều quốc gia đã chiết xuất tinh dầu tạo nên những nền công nghiệp nước hoa khổng lồ như Bun-ga-ri, Pháp,… Qủa thật những điều này cũng như chính từ hoa hồng, thì dân gian ta chế ra những bài thuốc chữa nhiều bệnh thông thường có thể kể ra đó chính là các bệnh như cảm, đau bụng,…
Minh Nguyệt | Thuyết minh về hoa hồng | 573 | |
Đề bài: Em hãy thuyết minh về hoa mai
Bài làm
Mỗi một loại hoa thông thường nhất cũng đều mang những màu sắc, mùi hương đặc trưng của nó. Mẹ tự nhiên có thể cho một loài hoa có cả sắc có cả hương và cho những loài hoa có được sắc đẹp rực rỡ để có thể khỏa lấp thiếu sót về mùi hương của mình. Nhưng với hoa mai – là một trong những loài hoa vừa có sắc đẹp vừa có hương. Sắc hhoa mai đẹp một cách thanh tao và mùi hương phải cảm nhận thật gần mới có thể cảm nhận được. Hoa mai chính là loài hoa có cốt cách thanh cao nhất trong các loài hoa cho nên nhà thơ Cao Bá Quát cũng đã có câu:
“Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”.
Ta như thấy được chính trong thiên nhiên, hoa nào cũng đẹp. Hoa Mai chính là một loài hoa mang sắc màu, góp mặt vào một trong bốn loài cây được xếp vào hàng tứ quý, gồm Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Và theo quan niệm của người Việt xưa cho rằng Tùng, Cúc, Trúc, Mai thì luôn luôn có được những tính chất đặc biệt nổi bật, tượng trưng cho những phẩm chất tốt đẹp của con người. Ta như biết được chính cây Tùng vững chãi, chịu đựng được sự khắc nghiệt của thời tiết. Thế rồi đó cũng chính là cây trúc như là một cây rất thanh mảnh, nhưng nó đồng thời cũng thật là dẻo dai bền chắc. Hoa Cúc đẹp bình dị, biết bao nhiêu, nó cũng được xem chính là số ít loài hoa có được sự sống mạnh mẽ và kèm theo đó cũng chính là hương thơm nhẹ nhàng, thanh tao. Cúc cũng là một loài hoa như cũng đã tượng trưng cho nếp sống khiêm tốn, điềm đạm (Phú quý lòng hơn phú quý danh – Nguyễn Trãi). Bên cạnh đó ta như thấy được hoa mai lại có được vẻ tươi đẹp rực rỡ, hương hoa tinh khiết. Hoa mai dường như cũng đã tượng trưng cho phẩm tiết cao quý, khí phách của người quân tử, đồng thời cũng chính là niềm cảm hứng trong thơ ca. Màu vàng như cũng đã còn tượng trưng cho Vua (thời phong kiến) và màu vàng cũng tượng trưng cho nòi giống Việt Nam ta vậy.
Nếu như ta thấy được loài hoa Đào là sắc xuân của Hà Nội thì phương Nam cũng lại hãnh diện khi có sắc vàng của hoa mai. Thực sự hoa mai có thể nói là một vật không thể thiếu trong mỗi gia đình bên mâm ngũ quả. Và đối với người dân trong miền Nam cho dù nghèo hay giàu, dù ở thành thị hay nông thôn người ta đều như cố kiếm cho bằng được một nhành Mai khoe sắc – đâu cần phải gì cao sang. Hoa mai sẽ giúp cho không gian nhà bạn thêm ấm áp hơn, sắc xuân đã về từ những bông ho mai vàng khoe sắc dưới ánh nắng xuân dịu nhẹ. Thực sự hoa mai như một điểm nhấn, một điều gì đó rất thiêng liêng mà ta khó lòng có thể bỏ qua một loài hoa nhẹ nhàng những cũng rất kiều diễm này – Hoa chính là sứ giả của mùa xuân.
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Trong dân gian ta lại có rất nhiều các loại mai và cũng không thể nào có thể kể sao cho kỳ hết được những loại mai đó. Những chỉ biết rằng mỗi loài mai lại mang được sắc thái riêng. Cũng là màu vàng đó như có thể đậm nhạt hơn, những cánh hoa như cũng khác nhau, nhưng đều góp phần điểm tô cho đất trời.
Không rõ nguồn gốc của loài hoa mai này nhưng chỉ biết rằng nó đã có mặt được trên thế giới này điểm tô cho đời từ biết bao nhiêu năm nay. Và loại hoa này đã có một vị trí đặc biệt trong lòng của người dân Việt ta, đặc biệt là người dân Nam Bộ.
Minh Nguyệt | Thuyết minh về hoa mai | 701 | |
Đề bài: Em hãy thuyết minh về hoa phượng
Bài làm
Hoa phượng được biết đến là một trong những loài hoa đẹp và có màu sắc rực rỡ. Nó còn được trở thành biểu tượng cho thành phố Hải Phòng xinh đẹp nữa.
Phượng vĩ hiện nay cũng đã có thật nhiều tên, từ tên khoa học Delonix regia, hoa phượng lại thuộc gia đình Caesalpiniaceaẹ và họ poincianas có cùng một họ với đậu Leguminosae, giống Delonix. Đầu tiên ta như thấy được hoa phượng có giống phát xuất từ Madagascar. Cây hoa phượng vĩ lúc này đây như cũng đã được đi du lịch đến khắp mọi miền nhiệt đới trên thế giới, và không thể không nói đến nhất là đông nam Á và châu mỹ Latinh. Có lẽ cũng chính vì vậy, ta như biết được cây hoa phượng vĩ đã có thật nhiều tên gọi thông thường theo từng ngôn ngữ khác nhau. Không ai có thể phủ nhận được chính vì màu sắc rực rỡ đỏ rực nổi bật trên nền trời, nên phượng vĩ được so sánh như những ngọn lửa giữa rừng hay những ngọn đuốc sáng mà như đã được thổ dân vùng Madagascar cho vào hạng hoàng tộc của thảo mộc. Cây hoa phượng cũng chính còn là loài cây biểu tượng của quần đảo Bắc Mariana.
Cây phượng theo tài liệu Khoa học ghi chép lại thì cây thuộc vào loại thân mộc, cao khoảng 6 – 12 mét. Cây phượng lại có được cành dài khoảng 20 – 40cm. Là của cây cũng thật đặc biệt nó như dày đặc những lá kép nhỏ li ti. Phượng vĩ khi đến mùa thì nó nở rất lâu, kéo dài từ tháng năm, tháng sáu cho đến tháng chín thì mới hết được. Quan sát những bông hoa phượng đỏ thẫm, đường kính khoảng 6 – 10cm mỗi hoa. Rất dễ quan sát thấy được hoa có 5 cánh hoa xoè rộng với những đốm đậm li ti trên cánh, và nếu như chỉ cần nhìn thoáng qua ta cũng có thể phát hiện ra rằng chính một trong năm cánh hoa màu vàng cam, hơi quăn góc, và thô hơn những cánh còn lại. Thế rồi khi ta quan sát thật kỹ bên trong nhụy hoa là tập hợp của mười nhánh, dài khoảng 10cm. Bông hoa phượng chính với phấn hoa thu hút ong bướm. Đặc biệt hơn ta như thấy được sau khi hoa tàn, từ đài hoa mọc ra trái phượng, dẹp và dài khoảng 60cm, thế rồi khi mà chín đen thẫm và vỏ cứng, ta như lại thấy được nó cũng lại có hạt màu nâu thẫm bên trong.
Cây phượng được trồng cũng như nó có sức sống thật mãnh liệt, nó cũng cứ mãi phát triển tốt trên mọi loại địa hình có thể kể đến đó chính là ven biển, đồi núi, trung du. Cây hoa phượng lúc này đây cũng đã thuộc loại ưa sáng, mọc khoẻ, phát triển nhanh, không kén đất và đặc biệt là cây cũng rất dễ gây trồng. Tuy nhiên, không thể không nói đến rằng nhược điểm lớn là tuổi thọ không cao. Khi cây hoa phượng mà được trồng trên đường phố chỉ 30 tuổi là đã già cỗi và phải thay cây. Ở trường học thì cây hoa phượng cũng chỉ có tuổi thọ từ 40 cho đén 50 tuổi mà thôi.
Gỗ phượng xét thấy được nó như thuộc loại trung bình, dùng trong xây dựng, đồ gỗ dân dụng, đóng hòm, xẻ ván. Cây phượng còn có các công dụng hữu hiệu đó chính là cây cũng như đã cho vỏ và rễ làm thuốc hạ nhiệt, chống sốt. Vỏ cây có thể sắc nước uống trị sốt rét, những triệu chứng của bệnh đầy bụng, tê thấp, giảm huyết áp. Không dừng lại ở đó thì chính lá trị tê thấp và đầy hơi. Qủa cây phượng thì có thể góp mặt trong vai của bộ gõ âm nhạc với tên gọi đó chính là shak-shak hay maraca.
Đối với đất nước Việt Nam, phượng vĩ đã được người Pháp du nhập vào trồng khoảng những năm cuối thế kỷ 19 tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Và nó như còn chính là biểu tượng của thời học sinh vậy, học sinh ai ai cũng gắn với những cây phượng được ngồi dưới gốc cây và dùng hoa phượng dể chơi những trò chơi dân gian hay là dùng để ép trong trang sách. Thật dễ nhận thấy được rằng, cũng chính là do mùa nở hoa của phượng trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay của học sinh nghỉ hè.
Minh Nguyệt | Thuyết minh về hoa phượng | 797 | |
Đề bài: Thuyết minh về hoa sen trong đầm
Bài làm
Nếu nói về quốc phục của nước Việt Nam ta không thể không nhắc đến áo dài, và nói về quốc hoa không thể nào thiếu được hoa sen. Hoa sen từ lâu cũng đã gắn bó mật thiết với văn hoá tinh thần của người dân Việt Nam. Hình ảnh hoa sen luôn được ví đẹp như những người thiếu nữ Việt Nam nó còn tượng trưng cho sự thanh cao, thanh khiết của con người. Ấy vậy mà ta vẫn nhận thấy được câu thơ như vang vọng:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Cứ khi nhắc đến hoa sen thì ai ai cũng nhớ tới một loài hoa mộc mạc, giản dị và vô cùng thanh cao trong đầm nước. Hình ảnh lá sen to và lá lại còn được tròn nổi trên mặt nước như một cái mâm khổng lồ. Phần thân cũng như phần cuống của hoa sen cũng lại đều có màu xanh. Chú ý hơn đó chính là những chiếc búp sen có màu xanh lục và nó lại có được hình bầu dục trông thật đẹp làm sao. Cứ khi nào mà nở, hoa sen màu hồng thắm trông thật dịu mát làm sao và nó lại đan xen chút màu trắng nhìn cũng thật là dịu mát biết bao nhiêu. Phần nhị cũng như là nhuỵ sen có những túi phấn có màu vàng được khéo léo gói kín bên trong toả ra được một hương thơm ngát và vô cùng dễ chịu lắm. Phần đài sen khi được nở to khi lá và nhị rụng đi, lúc đó nó cũng chỉ còn trơ lại và phát triển thành bát sen chứa trong đó biết bao nhiêu hạt sen.
Thuyết minh về hoa sen trong đầm
Cứ đến mùa hạt sen thì khi chưa đi đến đầu làng mà đã ngửi thấy được cái mùi hương thơm ngào ngạt, thoang thoảng tuy không nồng nhưng có quyến luyến mãi trong từng vạt áo, bay trên đồng lúa. Đến mùa hạt sen cũng chính là lúc mà những bông sen tàn trơ lại đó còn chính là các bát sen xanh to bằng bát cơm. Thế rồi cũng chẳng bao lâu thì chính với những hạt sen già nó như cứ mẩy căng tròn mới đẹp làm sao. Quan sát ta nhận thấy được cứ mỗi bộ phận của sen dường như cũng lại đều có những công dụng vô cùng là hữu ích giúp cho con người chúng ta. Hình ảnh những bông hoa sen rất thơm dùng để ướp trà đó là một thú vui vô cùng thanh cao của người thứ thiệt. Chắc chắn rằng nếu như bạn là người yêu nghệ thuận pha và uống trà thì chẳng thể nào không nghe đến ướp trà cánh sen, chè tâm sen. Uống trà ướp sen cũng luôn có tác dụng chữa bệnh mất ngủ rất tốt, rất tốt cho sức khỏe của con người.
Còn về phần hạt sen có thể ăn lúc non vừa ngọt vừa thơm, không hề sai khi nói rằng hạt sen, những bát sen chính món quà vặt của trẻ con thôn quê mỗi khi mùa sen đến. Những hạt sen già đã được các bà mẹ khéo tay để nấu thành những món chè thanh mát ăn trong những ngày hè. Chẳng còn gì tuyệt vời hơn khi nắng nóng mà được ăn bát chè sen mát thì chẳng còn gì thích hơn.
“Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Những bông hoa sen cũng còn là hoạ tiết chính và trung tâm trong các đồ vật trang trí trong các công trình văn hoá cổ. Hay cũng là một hoa tiết nổi trội chính trong các bức tranh dân gian. Hay ta nhận thấy được hình ảnh của chùa Một Cột nằm giữa hồ sen điều này dường như cũng đã minh chứng cho sự quan trọng của hoa sen với đời sống của dân tộc ta luôn gắn bó và thân thuộc.
Không thể phủ nhận được hình ảnh hoa sen chính là một hình ảnh đẹp, hình ảnh vô cùng thanh cao luôn luôn gắn với đời sống tinh thần, đời sống văn hóa của dân tộc ta. Cứ nói đến làng quê Việt thì chúng ta lại nhắc nhớ đến hình ảnh bông hoa sen luôn luôn gắn bó thân thiết và trở thành quốc hoa của dân tộc Việt muôn đời. | Thuyết minh về hoa sen trong đầm nước | 764 | |
Thuyết minh về hoa đào, hoa mai, hoa hồng, hoa cúc
Bài làm
Mùa xuân đến mang trong mình sự náo nức, vui tươi của ngày Tết. Ngày Tết lại mang trong mình sức sống của mọi vật, của hoa cỏ, cây cối. Hoa thì hoa nào cũng đẹp, cũng thơm, nhưng không ai lại không khẳng định rằng hoa đẹp nhất, thơm nhất, có sức sống mạnh mẽ nhất vào những ngày Tết.
Hoa ngày Tết từ bao đời nay đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của người Hà Nội – người Việt Nam.
Hà Nội vào mùa xuân náo nức lòng người. Tiết xuân se lạnh, những hạt mưa xuân nhẹ nhàng tô thắm cho hoa, làm chồi non lộc biếc nở rộ trong các vườn hoa Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm… Hoa theo các cô hàng hoa tràn vào năm sáu phố phường của thủ đô.
Ngày Tết không thể thiếu hoa đào – một loài hoa đặc trưng cho Hà Nội, biểu tượng cho mùa xuân và sức sống bất diệt của Bắc Việt:
Một đóa đào hoa khéo tốt tươi Tường xuân mơn mởn thấy xuân cười.
Một đóa hoa đào mang lại bao nhiêu cảm xúc, niềm vui cho mỗi người. Sau mùa đông giá lạnh, hoa đào lại nở rộ như sưởi ấm lòng người, như báo hiệu cho một sự khởi đầu một năm mới đã đến. Hoa đào có nhiều loại nhưng được biết đến nhiều nhất là đào bích, đào phai, đào mộng tự, đào bạch. Thường hoa đào cũng là một trong các thú chơi của người Hà Nội, người chơi đào thường thích đào Sa Pa vì cái vẻ sù sì rêu mốc của cành, loáng thoáng nụ và hoa, được ẩn trong lá một sức sống mãnh liệt, thắng mọi thử thách.
Kể đến hoa đào, không thể không kể đến hoa mai. Khác với hoa đào là biểu trưng của miền Bắc, hoa mai lại là biểu trưng cho miền Nam, biểu trưng cho sự tinh khiết, thanh bạch của tấm lòng tri âm tri kỉ. Mai cũng có rất nhiều loại: chi mai, bạch mai, mai tứ quý, hồng mai, hoàng mai. Thú chơi mai thật cầu kì, công phu, vì để tôn được vẻ đẹp của mai thật không dễ. Nhưng từ bao đời nay, người chơi mai vẫn tiếp thụ được những nét tinh túy của văn hóa đất Việt – văn hóa phương Đông.
Khoảng từ mồng mười Tết trở đi chính là thời điểm hoa lên ngôi với đủ mọi chủng loại. Trong đó, ngoài đào và mai còn có hoa hồng và hoa cúc. Hoa hồng rất được mọi người yêu thích vì nó là tượng trưng cho một tình yêu vĩnh cửu.
Thuyết minh về hoa đào, hoa mai, hoa hồng, hoa cúc
Hoa cúc có rất nhiều loại và đậm đà hương sắc như: cúc đại đóa, bạch mi, bạch khổng tước, hồng tử kì, cúc gấm, cúc đồng tiền, cúc ngũ sắc… Trong các loại cây hoa, cúc được xếp hàng thứ tư trong tứ quý (tùng, trúc, mai, cúc). Cúc ưa nhìn là bởi sự giản dị, là bởi vẻ đẹp đằm thắm lưu luyến lòng người. Cúc được ví với tính cách của người quân tử vì vẻ chịu đựng phong trần, thử thách của sương sa, tuyết lạnh mà hoa vẫn tươi và bền bỉ cùng thời gian. Không rung động sao được trước tính cách của một loài hoa đáng để mọi người suy ngẫm. Chẳng thế, các cụ nhà ta thường chơi hoa cúc, uống trà cúc. Chơi cúc và thưởng thức cúc với sự ngưỡng mộ tri âm tri kỉ. | Thuyết minh về hoa đào, hoa mai, hoa hồng, hoa cúc | 614 | |
Đề bài: Thuyết minh về hoa đào
Bài làm
Nếu mai là biểu tượng của mùa xuân phương Nam thì ở xứ Bắc, loài hoa vinh dự được chọn là hoa đào.\r\nCây đào có tên khoa học là Prunus persica. Cây đào chỉ có thể sống tốt trong một khu vực tương đối hạn chế, do chúng có các yêu cầu về độ lạnh mà các khu vực cận nhiệt đới khó có thể phù hợp, tuy nhiên chúng cũng chịu rét rất kém.
Loài cây này có thể chịu được lạnh từ khoảng -26 °C tới -30 °C. Các chồi hoa thường bị chết đi ở khoảng nhiệt độ từ -15 °C đến -25 °C, phụ thuộc vào khoảng thời gian rét. Một vài giống thì dễ nhạy cảm với lạnh hơn trong khi các giống khác có thể chịu được nhiệt độ thấp hơn (vài độ). Ngoài ra, nó cần nhiều nhiệt trong mùa hè để quả có thể chín được, điều này có nghĩa là nhiệt độ cao nhất trong mùa hè có thể nằm trong khoảng 20 °C – 30 °C. Đào cần được trồng ở nơi có nhiều ánh nắng, với sự thông thoáng gió tốt. Điều này cho phép không khí lạnh bị thổi đi vào những đêm sương giá và giữ cho khu vực được mát mẻ vào mùa hè.
Tổ tiên ta thuở bình minh dựng nước trên đất Bắc, khi chọn hoa đào để làm thú tiêu khiển trong ba ngày tết, chắc hẳn đã nghĩ tới màu đỏ thắm rực rỡ của đào giống như viễn ảnh của một năm mới sắp tới cũng trong sáng đẹp đẽ như màu hoa. Sau những ngày đông giá lạnh, sắc hồng của đào như sưởi ấm lòng người và vạn vật. Dưới mưa xuân, những cây đào bích, đào phai càng quyến rũ hơn, giống như khuôn mặt yêu kiều của một cô gái được che phủ mờ mờ bởi một tấm khăn voan mỏng manh. Việc miền Bắc chơi đào, trong khi miền Nam chơi mai trong dịp Tết được giải thích là sau khi mở rộng bờ cõi về phương Nam vốn có khí hậu nóng hơn không thích hợp với việc trồng đào, mỗi khi Tết đến, những người đi mở đất nhớ đến cành đào ngoài Bắc nhưng không thể có được đã chọn mai (một cây hoa rất phổ biến ở trong Nam, đẹp, nhiều hoa lại nở đúng mùa Tết) để thay thế.
Nếu ngày Tết mà thiếu hoa đào thì thiếu hẳn hương sắc mùa xuân. Mỗi dịp Tết đến xuân về, đào nở rộ như nhắc chúng ta nghĩ về gia đình, về một năm cũ đã qua… | Thuyết minh về hoa đào | 449 | |
Thuyết minh về hình ảnh cây nêu ngày Tết
Hướng dẫn
Thuyet minh ve hinh anh cau neu ngay tet – Đề bài: Ngày tết mọi người thường treo cây nêu trước nhà. Em hãy viết bài văn thuyết minh về hình ảnh cây nêu ngày Tết cho mọi người hiểu về nguồn gốc của nó.
Từ xa xưa cây nêu đã trở thành biểu tượng của ngày Tết Nguyên Đán ở Việt Nam, và đến bây giờ vẫn vậy, cứ đến những ngày cuối cùng của năm mọi nhà đều dựng cây nêu. Đây được coi là một biểu tượng của nền văn hóa Việt Nam.
Ông cha ta đã có câu:
“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”
Đây chính là những đặc trưng của ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền ở Việt Nam và cây nêu chính là một trong những đặc trưng đó. Cây nêu gắn với câu chuyện cổ tích từ xa xưa giữa con người và loài quỷ. Khi ấy, mọi ruộng đất đều nằm trong tay quỷ, con người chỉ như “người làm thuê”, với quy tắc mà quỷ đặt ra khi con người trồng lúa là “quỷ ăn ngọn còn người ăn gốc”, được Phật bày cách con người chuyển sang trồng khoai, và kết quả là con người thu được nhiều khoai còn phần của quỷ chỉ toàn những dây và lá là những thứ không ăn nổi.Quỷ rất hậm hực và khi vào mùa mới quỷ chuyển quy tắc “quỷ ăn gốc còn cho người ngọn”, con người lại chuyển sang trồng lúa và quỷ lại không nhận được gì ngoài những gốc rạ. Thấy vậy, vào mùa sau quỷ quyết định “ăn cả gốc lẫn ngọn”, Phật lại bày cho con người trồng ngô, và kết quả đều như những lần trước, lũ quỷ đều không nhận được gì vào vụ thu hoạch. Cuối cùng chúng tịch thu ruộng đất không cho con người làm nữa, nhờ vào sự gợi ý của Phật, con người xin với lũ quỷ cho một miếng đất chỉ bằng bóng của chiếc áo cà sa, tức là người sẽ trồng một cây tre và mắc chiếc áo cà sa lên đó bóng của chiếc áo cà sa đến đâu thì đó là phần đất của con người. Quỷ sau khi xem xét, chúng thấy chiếc áo cà sa chẳng đáng là bao nên chúng đồng ý. Nhưng chúng không thể ngờ, khi chiếc áo được mắc lên ngọn tre và khi được Phật làm phép thì cây tre cứ cao mãi lên, bóng của chiếc áo cà sa che kín cả bầu trời, cuối cùng quỷ không còn đất nữa phải chạy ra biển. Cuộc chiến của quỷ và con người còn kéo dài nhưng nhờ sự giúp đỡ của Phật nên chúng đều phải nhận thất bại. Và cứ thế vào ngày Tết Nguyên Đán, con người lại trồng cây nêu và kèm theo đó là một số đồ vật như chuông khánh hoặc vòng tròn nhỏ tùy vào phong tục của mỗi địa phương để ngăn không cho lũ quỷ quấy phá. Cây nêu có nhiều loại được làm từ những vật khác nhau tùy thuộc vào phong tục của mỗi vùng miền. Có nơi cây nêu được làm bằng một cây tre được tỉa sạch cành và lá ở dưới chỉ để mỗi phần ngọn, trên ngọn tre treo một vòng tròn nhỏ, có thể buộc vào vòng tròn đó nhiều thứ khác như vàng mã, lá dứa, cành đa…Ở một số nơi, cây nêu chỉ là một thân cây tre vút lên trời, trên thân cây tre có giấy màu và từng đốt tre có tua để trang trí. Nhưng cũng có nơi họ thay thế cây tre bằng cây mai – một loại cùng họ với tre và cây mai này cũng được trang trí tương tự để trở thành cây nêu trong ngày Tết.
Việc trồng cây nêu vào ngày Tết có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đó là tượng trưng cho mong muốn bảo vệ con người khỏi ma quỷ – ma quỷ tượng trưng cho những điều không may mắn, sự rủi ro. Mỗi một vật được gắn trên cây nêu cũng đều mang ý nghĩa riêng của nó. Như lá dứa có ý nghĩa để đe dọa ma quỷ vì theo sự tích câu chuyện xưa kia thì quỷ sợ lá dứa, tỏi và máu của loài chó, cành đa thì tượng trưng cho tuổi thọ và mọi điều tốt lành, tiền vàng mã để cầu tài, cầu lộc, ta thấy ở chùa người ta cũng thường xuyên đốt vàng mã để cầu sự may mắn. Thường là ngày 23 tháng Chạp – tức ngày ông Công ông Táo lên chầu trời, người ta sẽ dựng cây nêu vì mọi người cho rằng ma quỷ sẽ lợi dụng lúc này để quấy nhiễu con người nên dựng cây nêu để ngăn không cho chúng vào nhà, và đến ngày mùng 7 hoặc mùng 8 người ta sẽ hạ cây nêu vì lúc đó gia đình đã có những vị thần linh bảo vệ. Nhưng ở một số vùng dân tộc, cây nêu không những được dựng trong dịp Tết mà còn được dựng khi thu hoạch xong mùa màng, đó là dân tộc Sán Dìu, họ dựng cây nêu để tạ ơn trời đất và cầu mong sự bình yên cho con người.
Hình ảnh cây nêu ngày Tết mãi mãi là một biểu tượng có ý nghĩa sâu sắc thể hiện bản sắc văn hóa riêng của dân tộc ta mà không một nơi nào khác có. Mặc dù, bây giờ sự xuất hiện của biểu tượng này vào mỗi dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền đang dần dần đi vào sự lãng quên nhưng chắc chắn rằng bất kì một người dân Việt Nam nào cũng đều biết về sự tích cây nêu và ý nghĩa đặc biệt của nó đối với dân tộc ta.
Theo: Ngọ Thị Quỳnh | Thuyết minh về hình ảnh cây nêu ngày Tết | 1,005 | |
Thuyết minh về Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) – Bài 1
Hồ Hoàn Kiếm, hay còn thường được gọi là Hồ Gươm từ lâu đã đi cùng lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và gắn liền với cuộc sống tinh thần của nhiều người. Mặt hồ xanh biếc, bình lặng và trầm tư nằm giữa những khu phố cổ, những con đường tấp nập, mở ra một khoảng không thoáng đãng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Để rồi, bùng mình ngay giữa trung tâm phồn hoa, nhộn nhịp, Hồ Gươm trở thành một thắng cảnh tự hào của người Hà Nội – một lẵng hoa giữa lòng thủ đô.
Hồ đã có từ rất lâu, từ cái thuở song Cái còn nằm sâu trong lòng đất vài nghìn năm trước. Vào thời gian đó, hiện tượng song lệch dòng rất thường hay xảy ra. Sông Hồng cũng chuyển hướng chảy qua các phố mà ngày nay thường thấy như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt…rồi hình thành các phân lưu. Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành nên Hồ Hoàn Kiếm ngày nay. Ban đầu, hồ chưa có tên là Hồ Hoàn Kiếm mà được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Thuở xa xưa, do nước hồ quanh năm xanh ngát nên có tên là hồ Lục Thủy. Còn tên Hồ Hoàn Kiếm bắt đầu được gọi vào khoảng thế kỉ 15 gắn với truyền thuyết rùa thần đòi gươm. Tương truyền lại rằng, trong cuộc chiến chống quân Minh (1417 – 1427), khi Lê Lợi đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa, ông tình cờ bắt được thanh gươm có niên hiệu là Thuận Thiên. Gươm này đã theo ông suốt mười năm trinh chiến, giành lại nền độc lập. Lên ngôi vua đầu năm 1428, Lê Lợi – bấy giờ là vua Lê Thái Tổ trong một lần đi chơi thuyền trên hồ Lục Thủy thì có rùa vàng nổi lên. Khi vua tuốt gươm chỉ vào thì rùa liền ngậm gươm mà lăn xuống. Nghĩ rằng đó là trời cho mượn gươm dẹp giặc, nay giặc tan thì sai rùa đến đòi gươm nên hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. Có thời gian vào khoảng cuối thể kỉ 16, chúa Trịnh cho ngăn hồ thành hai phần tả – hữu, lấy tên là Vọng. Hồ Hữu Vọng sau này bị Tây lấp mất còn hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm mà giờ được phổ biến với tên gọi Hồ Gươm.
Cách đây 6 thế kỉ, dựa vào bản đồ thời Hồng Đức, Hồ Hoàn Kiếm gồm hai phần chạu từ phố nơi song Hồng chảy qua tới phố Hàng Chuối nối tiếp với nhánh chính của sông Hồng. Ngày nay, Hồ Gươm có vị trí giữa các khu phố cổ Hàng Ngang, Hàng Đào, Lương Văn Can… và các khi phố Tây do người Pháp quy hoạch cách đây hơn một thế kỉ như Tràng Thi, Tràng Tiền, Hàng Bài, Hàng Khay,…
Tháp Rùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ 19, từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886. Nằm ở trung tâm hồ, trên gò Rùa (Quy Sơn), tháp chịu nhiều ảnh hưởng của kiến trúc Pháp. Có thể thấy tháp có ba tầng và một đỉnh có nét như một vọng lâu vuông vức. Hai tầng đầu có kiến trúc giống nhau, gồm nhiều ô cửa hình vòm. Chiều dài có ba cửa, chiều rộng hai cửa. Tầng ba chỉ có một cửa hình vòm. Tháp Rùa ngoài giá trị là một công trình thẩm mỹ còn là nơi cho rùa phơi nắng và đẻ trứng. Đặc biệt hơn, đây là loài rùa lớn sống trong Hồ Gươm, hiếm khi nổi lên mặt nước. Tương truyền rằng hễ thấy rùa nổi lên thì tức là liên quan đến việc quốc gia đại sự. Năm 2011, loài rùa này được biết chỉ còn một cá thể sống sót, được gọi là Cụ Rùa đã được trục vớt và chữa trị vết thương. Rùa Hồ Gươm thuộc diện động vật quý hiếm đang được Nhà nước bảo vệ.
Hồ Gươm có hai đảo nhỏ, ngoài Quy Sơn thì đảo còn lại là đảo Ngọc – nơi được biết là vị trí tọa lạc của đền Ngọc Sơn. Đền nằm ở phía Bắc hồ, xưa kia có tên là Tượng Nhĩ, nghĩa tức tai voi. Sau này, đền được Lý Thái Tổ đổi là Ngọc Tượng khi rời đô ra Thăng Long và đến đời Trần mới được gọi là đền Ngọc Sơn. Dẫn vào đền là một công trình kiến trúc độc đáo khác của cây cầu cong màu đỏ rực. Đó là Cầu Thê Húc, nghĩa là nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sớm. Cầu do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng năm 1865.
Ngoài những công trình trên, hồ còn có nhiều công trình đặc biệt khác như: Tháp Bút, Đài Nghiên,… Vì vậy cũng có thể hiểu được lý do Hồ Hoàn Kiếm trở thành điểm du lịch ấn tượng, thu hút, là nơi những người Hà Nội xa quê nhớ về và là nguồn cảm hứng nghệ thuật bất tận của những thi nhân, nhạc sĩ và văn nghệ sĩ. Trên tất cả, hồ gắn liền với huyền sử một thời, là biểu tượng khát vọng hòa bình và đức văn tài võ trị của toàn dân tộc.
Trên đà phát triển ngày nay, người ta có thể xây dựng nên vô vàn những kiệt tác kì vĩ. Nhưng người ta vẫn cảm nhận được đâu đây cái hồn cốt thủ đô, tâm hồn người Hà Nội giữa cái hồn nước mênh mang, mơ màng ấy. Dạo quanh hồ là những thảm cỏ cắt tỉa công phu, những kè đá quanh hồ, hàng cây bố trí, chăm sóc khéo léo cho ta thấy được vị trí của Hồ Gươm trong lòng nhân dân thủ đô. Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần bảo tồn những di tích ấy để giá trị của chúng còn mãi với thời gian.
Thuyết minh về Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) – Bài 2
Hồ Hoàn Kiếm là một trong nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội và nằm ngay ở phần trung tâm của thành phố. Bất cứ người nào từ xa đến Hà Nội cũng muốn tới thăm cảnh hồ. Đứng dưới bóng liễu thướt tha ngắm mặt hồ trải ra như một tấm gương bầu dục mà ở giữa nổi lên Tháp Rùa cổ kính và lệnh về một phía ven hồ là đền Ngọc Sơn với nhịp cầu Thê Húc sơn đỏ uốn cong. Phía ngoài đầu cầu là Đài Nghiên, là Tháp Bút tượng trưng cho thủ đô ngàn năm văn hiến.
Hồ Hoàn Kiếm có thể được tạo lập do sông Hồng đã chuyển dòng. Nước trong hồ quanh năm có màu xanh lục nên từ xa xưa hồ đã có tên là Lục Thủy. Một số nhà nghiên cứu đã cho biết có một loại rong tảo đặc biệt sinh sôi nảy nở trong hồ và đã tạo ra màu xanh ấy. Đến thế kỉ XV nhân có chuyện vua Lê Thái Tổ trả gươm thần cho Kim Quy ở trên hồ mà hồ được đổi tên là hồ Hoàn Kiếm hay còn được gọi là Hồ Gươm. Sau có thủy quân luyện tập trên hồ mà mang thêm tên là Thủy Quân hồ.
Dải đất viền xung quanh hồ có nhiều cây cho bóng mát, cây cảnh, bồn hoa và được coi như một công viên bao bọc mặt hồ. Hằng ngày có nhiều người tới đây để dạo mát, gặp gỡ bạn bè hoặc ngồi nghỉ ngơi trên các ghế đá để ngắm cảnh mặt hồ lăn tăn gợn sóng, ngắm những cây phương vĩ nở đỏ hoa hoặc những cành liễu xanh mềm thướt tha soi bóng và tìm thấy sự thư giãn, thảnh thơi giữa nơi phố phường sầm uất, náo nhiệt.
Ở giữa hồ có một gò đất nổi lên. Ngày trước vua thường ra đó câu cá nên gọi là Điếu Đài. Đến cuối thế kỉ XIX, Tháp Rùa mới được xây dựng và đã trở thành biểu tượng của thủ đô Hà Nội. Về mùa đông, sau nhiều ngày giá rét bỗng lại có những ngày khí hậu ấm áp hơn, nắng cũng hửng lên. Vào những ngày này, nhiều con rùa lớn ngoi lên quanh chân tháp, nhô đầu lên hóng nắng và có khi còn chìa cả những cái mai lớn đường kính chừng một mét lên khỏi mặt nước. Vì thế, tháp này được gọi là Tháp Rùa.
Nhớ về Hà Nội
Đã lâu, không dịp về Hà Nội
Rất nhớ Hồ Gươm buổi dậy hanh
Rùa lên hóng nắng quanh chân tháp
Ngắm liễu lơ thơ đứng rủ mành.
Về ngôi đền Ngọc SƠn thì ta có thể lần theo sử sách để biết rằng đời Vĩnh Hữu, chúa Trịnh Giang cho lập cung Khánh Thụy trên đảo Ngọc nằm gần ven hồ để làm nơi hóng gió ngày hè. Sau đó chúa Trinh Doanh cho đắp gò Ngọc Bội trên bờ hồ gần đảo Ngọc để ghi nhớ một chiến công. Đến thế kỉ XIX chùa Ngọc Sơn mới được xây trên nền cung Khánh Thụy. Một thời gian sau, chùa không còn thờ phật mà chuyển sang thờ Thánh Văn Xương và anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn nên chùa được gọi là đền Ngọc Sơn. Năm 1864, nhà văn hóa lớn Nguyễn Văn Siêu đã cho Đài Nghiên và Tháp Bút ở ngoài phía cổng đền. Ca dap của nhân dân ta đã có những câu chứa chan cảm xúc thể hiện lòng tự hào dân tộc:
“Đài Nghiên, Tháp Bút chưa sờn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?”
Ngày nay, vẫn còn đó Đài Nghiên và Tháp Bút “viết thơ trên trời cao”. Muốn vào đền, ta phải đi qua một cây cầu gỗ uốn cong, sơn màu đỏ chói: cầu Thê Húc. Một cây đa lớn cành lá sum suê đã được trồng từ lâu đời tỏa bóng mát che rợp cả mái đền. Đèn có ba nếp: nếp ngoài là bái đường, nếp giữa là nơi thờ Thần Văn Xương và nếp sau thờ Đức Thánh Trần. Trấn Ba Đình nằm ở trước mặt bái đường nhìn thẳng về hướng Nam là Tháp Rùa.
Ngày nay Hồ Gươm vẫn được coi như di tích lịch sử của đất nước ta. Chính năm nay, những tháng đầu năm 2004 này, Hồ Gươm đang bị cạn nước. Để bảo vệ vùa và nhiều sinh vật khác sống trong hồ, người ta phải dùng xe chở nước sạch từ xa về xả xuống hồ. Nhân dân Thủ đô cũng như nhân dân cả nước luôn mong muốn hồ Hoàn Kiếm, một thắng cảnh của Hà Nội còn lưu nhiều dấu tích của lao động dân tộc luôn được giữ gìn và tôn tạo cho ngày càng sạch đẹp hơn, xứng đáng là “chiếc lẵng hoa xinh đẹp giữa lòng Hà Nội” như một nhà thơ nước ngoài đã viết. | Thuyết minh về Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) | 1,860 | |
Đề bài: Thuyết minh về Hội An phố cổ miền Trung
Bài làm
Thị xã Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam trên dải đất miền Trung. Ngày 4/12/1999, cùng với tháp Chàm-Mỹ Sơn, phố cổ Hội An đã được UNESCO cổng nhận là di sản văn hoá thế giới.
Từ thế kì 17, 18 có hàng trăm hàng nghìn người Hoa từ Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam… đến đôi bờ con sông Hoài sinh cơ lập nghiệp. Phố Hội An ngày một mở mang, đông vui. Ở đây hiện có những ngôi chùa cổ trên mấy trăm tuổi như: chùa Phúc Kiến, chùa Long Tuyển, chùa Triều Châu, chùa Chúc Thánh, chùa Phước Lâm,… Những lễ hội, những tập tục văn hoá xa xưa được lưu giữ mãi trong hồn người. Những chiếc áo vạt hò, quần chân quê, nón mê, guốc gỗ… của những người bán hàng rong như gợi nhớ gợi thương. Đặc biệt chiếc đèn lồng đủ mọi kích cỡ, dáng hình, màu sắc treo dọc phố, treo trước cửa nhà, treo hai bên bàn thờ tổ tiên đã ăn sâu vào kí ức và làm nên một Hội An cổ kính, hưng thịnh và tấp nập xưa nay.
Đúng 17 giờ đêm 14 âm lịch hàng tháng, có hàng trăm hàng nghìn đèn lồng được thắp sáng lung linh như sao sa. Dọc theo các phố Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng, Nguyễn Thị Minh Khai,… Hãy tản bộ dọc bờ sông Hoài, ai cũng cảm thấy tâm hồn mình thảnh thơi kì lạ. Hãy đến với một gánh hàng rong nhấm nháp một bát chè bắp Cẩm Nam thơm mát, nếm một bát mì Quảng béo ngậy, thưởng thức một tô Cao lầu đặc sản thơm đậm, ngọt ngào… Hương vị, sắc màu Hội An đó.
Hãy đến thăm Chùa Long Tuyền, Chùa Gầu, thắp lên một nén nhang, ngắm hàng trăm tượng Phật, câu đối, hoành phi sơn son thếp vàng. Những chiếc áo lam của bà con đi lễ hội chùa Cầu trong ánh đcn lồng, dưới bóng trăng rằm gợi lên bao cảm xúc dạt dào, lồng lộng trăng nước.
Phố cổ Hội An, một không gian cổ kính, thanh bình. Con sông Hoài thơ mộng. Chùa Cầu tráng lê, trang nghiêm. Màu thời gian nơi phố cổ gợi cho du khách tìm về giấc mộng ngàn xưa. | Thuyết minh về Hội An phố cổ miền Trung | 392 | |
Đề bài: Thuyết minh về Hội bơi trải Việt Trì, Bạch Hạc, Vĩnh Phúc
Bài làm
Bạch Hạc, Việt Trì thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, một vùng quê sông nước mênh mông, đồng lúa bát ngát. Đó cũng là một vùng quê có lễ hội thi bơi trải, đua trải kéo dài trong hai tháng, tháng 5 và tháng 6 âm lịch hàng năm, và được gọi là “tiệc bơi".
Bơi trải: gắn liền với hội làng, để tế thần cầu mong mưa thuận gió hòa, được mùa, an cư lạc nghiệp, thanh bình. Đào Xá thờ Lý Bôn, Kẻ Rau thờ Tam Giang Đại vương, Thổ Lệnh, Kẻ Hạc cũng thờ Tam Giang Đại vương là thủy thần Ngã ba sông. Còn Kẻ Me lại thờ Đảng Đạo Song Nga và Đức thánh Tản Viên. Đức Bác thờ Bát Nàn công chúa. An Đạo thờ Long Xà Đại Vương và út Soi Đại Vương, v.v…
Chỉ có xã Đào Xá tổ chức bơi trải vào ban đêm:
"Mồng chín có tiệc anh ơi,
Mồng mười hạ trải xuống bơi thờ thận.
Trai thanh tán bước vào đòn kiệu
Trống kiệu vào là trống canh ba
Trải bơi ra, ngọn cờ phe phẩy
Trải bơi vào, cờ phất trống rung…"
(Dân ca)
Các làng khác đều thi bơi trải vào ban ngày. Con thuyền đua rất dài, thon nhỏ, chia thành 24 khoang, có 48 tay chèo (24 X 2), một người cầm lái ngồi ở đuôi thuyền, một người đứng ở giữa thuyền phất cờ điệu và đánh trống. Các tay chèo là trai tân (chưa vợ) rất lực lưỡng, cường tráng, ở Lương Nha bơi trải có 5 thuyền con trai đua với 5 thuyền con gái, vui đáo để.
Vùng Ngã Ba Bạch Hạc có bài ca nói về các hội bơi trải trong vùng:
"Rau gác, Hạc bơi,
Hạc gác, Me bơi
Me gác, Đức Bác bơi,
Đức Bác gác, Dạng bơi…"
Hội trải làng này vừa rã đám, thì hội trải làng khác lại cờ mở trống rung. Mùa lễ hội dân gian diễn ra tưng bừng náo nhiệt.
Ở Vĩnh Phúc, hội bơi trải Kẻ Hạc và Kẻ Mơ là đông vui nhất, năm nào cũng có hàng vạn người gần xa kéo về dự hội.
Sau Kẻ Rau là đến hội trải Kẻ Hạc, diễn ra vào ngày 20 tháng 5 âm lịch. Kẻ Hạc có 4 giáp, mỗi giáp mỗi màu cờ sắc áo riêng: màu trải, màu mái chèo, mũ, áo quần các tay chèo phải cùng màu theo luật lệ quy định: trải Tiên Hạc màu xanh, trải Thần Trúc màu đỏ, trải Đồng Nam màu trắng, và trải Bộ Đầu màu vàng.
Buổi sáng ngày tiệc tế, các nam phụ lão ấu nhất là các thôn nữ mặc quần áo đẹp kéo ra đứng đông nghịt trên bờ. Tiếng chiêng trống nổi lên vang dội xóm làng. Khi các tay chèo đã ngồi vào khoang, tay nắm mái chèo sẵn sàng; trải dàn hàng ngang đều tăm tắp, thì một hồi trống rung lên, cuộc thi bắt dầu. Trống mõ thúc liên hồi kì trận. Hàng ngàn hàng vạn người reo hò. Các tay trải cúi rạp người chém mái chèo xuống nước, cánh tay hối hả, miệng hò: "Dô huỵch! Hồ huỵch!". Những con trải lưới băng băng, như những mũi tên phóng về phía trước. Các trải xuất phát từ cửa đình Hạc qua bến Gút đến Tiên Cát cầu Việt Trì, quay trở lại bến Gút về đỗ trước bến Hạc giữa tiếng trống, tiếng hò reo như sấm dậy. Ánh mắt các thiếu nữ sáng ngời lên…
Hội bơi trải Kẻ Me diễn ra 3 ngày sau đó, từ 25 đến 27 tháng 5 âm lịch. Kẻ Me có 3 giáp: Phù Yên, Bồ Thôn và Hạc Đình. Mỗi thôn có một thuyền rồng bằng gỗ chò, hai dầu sơn đỏ, giữa sơn đên. Mỗi thuyền chỉ có 40 người: 38 tay chèo, 1 bẻ lái, 1 cầm cờ. Ngày 24 hạ trải ở sông Phó Đáy, sáng 25 đua trải từ đình tới làng Diệm Xuân: chiều 26 bơi tới Bên Cả làng Nghĩa Yên: sáng 27 đua tới đình làng Hội Chữ. Chiều 26, cuộc bơi thi "cướp cờ" là háo hức, sôi động nhất. Chiều 27 bơi rước kiệu về Ngã Ba Chạ để "tiễn thánh về".
Hội bơi trải ở vùng Bạch Hạc, Việt Trì đã có hàng nghìn năm nay. Một lễ hội dân gian đậm đà màu sắc văn hóa – văn minh sông Hồng, cái nôi của nền văn minh Lạc – Việt. | Thuyết minh về Hội bơi trải Việt Trì, Bạch Hạc, Vĩnh Phúc | 751 | |
Thuyết minh về kinh nghiệm học văn hoặc làm văn
Hướng dẫn
Thuyết minh về kinh nghiệm học văn hoặc làm văn
Bài mẫu 1: Hãy thuyết minh về kinh nghiệm văn học hoặc làm văn
văn học luôn là những tác phẩm nghệ thuật chứa đựng cái đẹp, nó được tạo lên bởi “chân, thiện, mỹ”, không chỉ giúp chúng ta sống chính trực, nhân nghĩa hơn mà còn có tác dụng cải thiện những lỗ hổng trong văn hóa giao tiếp. Chỉ cần có ý thức và một chút ý muốn học, bạn nhất định sẽ cảm nhận được những giá trị của nó.
Bài làm:
M.Gorki nói “Văn học là nhân học”, khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của môn học này. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, có rất nhiều người bỏ mặc môn học này, một số khác thì buông xuôi. Nguyên nhân xuất phát từ việc các bạn chưa tìm được một phương pháp học văn hiệu quả cho bản thân. Phương pháp học giữ vai trò vô cùng quan trọng. Phương pháp học “Hiểu tác phẩm” là một trong những kinh nghiệm học hiệu quả của nhiều thế hệ học sinh.
Vì sao phải học hiểu? Bất kỳ tác phẩm nào cũng có giá trị của nó, đặc biệt các tác phẩm văn học lại là thành quả sáng tạo bằng cả trí tuệ và tâm hồn tác giả. Học hiểu trước tiên để nắm được những nội dung cơ bản nhất, khi đã hiểu rồi bản thân mới có hứng thú tìm hiểu nhiều hơn, hiểu nhiều hơn.
Một tác phẩm văn học không chỉ chứa đựng nội dung mà còn có giá trị nghệ thuật. Trước tiên, để có thể làm được những đề văn, lý giải được những vấn đề về tác phẩm đó ta phải học hiểu nội dung của nó. Nội dung của tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn. Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau. Nội dung được thể hiện qua hình thức của tác phẩm bao gồm hoàn cảnh ra đời, nhân vật, cốt truyện đối với truyện, chủ thể trữ tình, tình cảm thể hiện, và thể thơ đối với thơ bà tương tự với những thể loại văn học khác tùy theo đặc trưng từng thể loại. Bước đầu tiên trong việc học hiểu nội dung chính là đọc tác phẩm nghiêm túc. Trong quá trình đọc, bạn có thể gạch chân khoanh tròn những từ ngữ, chi tiết ấn tượng. Đối với thơ, nên thuộc, đối với truyện, nên nhớ. Thuộc thơ nhớ truyện là một trong những yêu cầu cơ bản của tất cả giáo viên dạy văn. Khi thuộc thơ, nhớ truyện rồi trong đầu đã cơ bản ghi nhớ những nội dung của tác phẩm. Không những thế bản thân còn đặc biệt ghi nhớ những chi tiết gây ấn tượng. Những chi tiết ấy khi tiến hành làm bài, bạn có thể phân tích sâu sắc hơn theo phong cách của mình, từ đó lưu lại đặc trưng riêng trong cách viết.
Học hiểu nội dung là bước đầu tiên trong kinh nghiệm học văn quý báu. Hiểu nội dung, tất cả những yếu tố liên quan sẽ sáng tỏ. Tuy nhiên, hiểu nội dung không thôi chưa đủ. Một bài văn chỉ nói về nội dung sẽ khô khan, không trọn vẹn. Mỗi tác giả, khi cầm bút sáng tác luôn để lại dấu ấn riêng trong tác phẩm của mình thông qua nghệ thuật tác phấm. Gía trị nghệ thuật ấy bao gồm ngôn từ, nhịp điệu, thể loại tác phẩm, những chi tiết đặc sắc, cách xây dựng nhân vật,…Phải hiểu được nghệ thuật mới hiểu được trọn vẹn nội dung, bởi lẽ nội dung cũng được thể hiện qua giá trị nghệ thuật. Hiểu được giá trị nghệ thuật sâu sắc hay không còn phụ thuộc vào hứng thú của người học nhiều hay ít. Nhưng, văn học luôn là những tác phẩm nghệ thuật chứa đựng cái đẹp, nó được tạo lên bởi “chân, thiện, mỹ”, không chỉ giúp chúng ta sống chính trực, nhân nghĩa hơn mà còn có tác dụng cải thiện những lỗ hổng trong văn hóa giao tiếp. Chỉ cần có ý thức và một chút ý muốn học, bạn nhất định sẽ cảm nhận được những giá trị của nó.
Hiểu được một tác phẩm văn học không phải dễ dàng nhưng không phải quá khó khăn. Hãy mạnh dạn hỏi những người thầy, người cô, những người bạn có thể giảng giải cho mình phần khó hiểu, mạnh dạn bày tỏ cảm nhận của bản thân để cùng giao lưu với mọi người về những tác phẩm văn học để từ đó hiểu được đầy đủ và sâu sắc hơn. Hiểu được tác phẩm, khi làm đề văn, khi học, tất cả mọi thứ đều sáng tỏ. Khi ấy, chỉ cần bình tĩnh nhớ lại, vấn đề sẽ nhanh chóng được giải quyết. Lấy ví dụ như “Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Chiếc lược ngà”. Khi đã hiểu tác phẩm bạn sẽ ngay lập tức gạch được ý đây là vấn đề về nội dung tác phẩm, đó là sự trân trọng ngợi ca tình cảm gia đình, sự lên án chiến tranh đã gây ra bao tổn thương và nội dung ấy được tác giả thể hiện qua ai, qua những ngôn từ, chi tiết như thế nào?
Văn học luôn đem đến những giá trị chân thực mà bất cứ ai hiểu được sẽ cảm thấy xứng đáng. Học hiểu tác phẩm là một kinh nghiệm học văn có hiệu quả, kết hợp với phương pháp học và làm khác, bạn nhất định có thể thành công tiếp thu cho mình nhiều hơn những giá trị văn học.
Bài mẫu 2: Thuyết minh về về kinh nghiệm văn học hoặc làm văn
Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử, thời đại và là nơi ghi dấu ấn tâm hồn, tư tưởng, tài năng của và tâm huyết của nhà văn trong một thời điểm nhất định. Muốn nắm bắt tác phẩm cần phải biết tác phẩm đó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nào. Khi tìm hiểu văn học cũng phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với giai đoạn văn học, trào lưu văn học, thời kì hoặc phương pháp sáng tác…
Bài làm:
Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa – thời kì mà con người như bị cuốn hút vào đồng tiền, cơn vũ bão của vật chất, văn chương, chữ nghĩa gần như trở thành một trang sức tầm thường, có cũng đc mà không có cũng chẳng sao. Hiếm người nhận thức được giá trí đích thực của việc học văn. Vậy thì, để nhận ra những giá trị của văn chương, cần có những phương pháp hiệu quả để tiếp cận, để học, để có những bài văn hay, thuyết phục những con người mù quáng đó.
Điều đầu tiên, chúng ta cần chọn thầy để học. Nếu được thầy cô giỏi, tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn, chúng ta sẽ vẫn thấy văn học hấp dẫn và thú vị hơn, hiểu vấn đề sâu sắc hơn. Hiện nay, tài liệu tham khảo tràn ngập thị trường, để mua được những cuốn sách tốt, chúng ta nên nhờ thầy cô có uy tín giới thiệu. Khi đọc tài liệu tham khảo, chúng ta không nên “bê” nguyên một bài viết của người khác vào làm bài của mình. Những người cầm bút nên nhớ không bao giờ được Đạo Văn. Đọc sách tham khảo không phải chỉ để chép mà còn để xem cách thức làm bài, triển khai vấn đề…
Nói chung, về văn xuôi, chúng ta nhất định phải nắm đc diễn biến câu chuyện, cách kể và giọng điệu của nhà văn, nhân vật trung tâm và những chi tiết, sự kiện xoay quanh nhân vật trung tâm đó.
Về thơ, cần phải nắm được cảm hứng chủ đạo của thơ, kết cấu cảm hứng của bài thơ, đoạn thơ, những chi tiết, hình ảnh mà nhà thơ sử dụng để bộc lộ cảm xúc.
Về kịch, phải nắm được những mâu thuẫn, xung đột, các lời thoại quan trong… Từ các chi tiết nghệ thuật ấy, tìm ra tư tưởng và tình cảm mà nhà văn gửi gắm cũng như tài năng nghệ thuật của nhà văn.
Còn làm sao để có thể viết được một bài văn hay? Văn chương không phải là chuyện cứ làm cho câu cú cầu kỳ, chữ nghĩa đến một bay bổng, uốn éo là hay. Một câu văn hay là một câu văn đơn giản, khúc chiết, rõ ràng và đủ ý. Chỉ có những lúc khi tâm hồn thăng hoa thì văn chương sẽ đạt đến một mức độ thuần túy, thanh khiết, chứ không bao giờ “bay bổng”. Muốn diễn đạt đến mức tinh tế thì phải chuẩn xác ngôn ngữ. Đơn giản nhưng chính là cái phức tạp nhất. Bằng cách nào? Đọc nhiều sách, và một cách đơn giản và thiết thực hơn là có một cuốn từ điển Tiếng Việt. Trong số chúng ta, phần lớn ai cũng có những cuốn từ điển ngoại ngữ mà không hề xuất hiện một cuốn từ điển Tiếng Việt, kể cũng nực cười. Chúng ta chỉ nên đọc chứ không nên tra. Chỉ có những người không hiểu gì về văn học và việc làm văn mới cho là văn chương lai láng, mơ mộng, càng dài càng tốt, muốn viết thế nào thì tùy.
Văn học là một môn khoa học nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, cần kết hợp tăng cường chất văn vừa tăng cường chính xác trong bài văn, nhất là tỏng việc trích dẫn kiến thức và dẫn chứng. Từ xưa, cụ Tú Xương đã dạy “Văn chương nào phải đơn thuốc / Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu.”
Khi viết văn, cần tuân thủ các nguyên tắc. Để đạt điểm cao, bài văn phải được trình bày sáng sủa, sạch đẹp. Vì vậy, trong quá trình triển khai ý làm bài, các em nên trình bày mỗi ý thành một đoạn văn, được phân biệt với dấu chấm xuống dòng. Cách trình bày như thế vừa giúp bài văn sạch đẹp hơn, gây thiện cảm đới với thầy cô giáo, các ý trong bài nổi bật hơn, thầy cô không thể bỏ sót ý, nên bài văn có lợi hơn về điểm số.
Diễn đạt là quá trình vô cùng quan trọng, sánh ngang với việt tìm ý cho bài văn. Không có ý, thì ko có gì để viết, nhưng có ý đầy trong đầu, mà không biết cách nói ra, thì ý dù hay, dù sâu sắc đến đâu cũng trở thành vô nghĩa. Cũng cần tránh trình trạng diễn đạt mập mờ, dễ gây hiểu nhầm cho người đoc. Vì vậy, chúng ta cần rèn luyện cho mình một cách diễn đạt đúng, nghĩa là nói và viết đúng ngữ pháp. Nếu chưa giỏi diễn đạt, hãy viết các câu văn ngắn, ít thành phần câu, tránh cầu kì, rườm rà và dễ bị mắc lỗi ngữ pháp. Và sau đó, khi đã tiến bộ, cần sử dụng linh hoạt các kiểu câu, linh hoạt các hình ảnh, các phép tu từ, chuyển nghĩa để lời văn có cảm xúc và chất văn.
Giống như quá tình tư duy, quá trình nhận thức của con người, khi học và làm văn, cũng cần qua ba bước là “HIỂU – NHỚ – VẬN DỤNG”. Muốn nhớ được kiến thức thì trước hết phải hiểu nó. Muốn hiểu thì phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ. Học văn không phải là cắm đầu ghi cho đầy vở, mà là phải hiểu, nhớ và ghi lại các ý hay, quan trọng. Gặp những vấn đề chưa hiểu, chúng ta cứ mạnh dạn hỏi, chắc chắn không thầy cô giáo nào từ chối. Kiến thức càng sắp xếp khoa học, chặt chẽ, rành mạch bao nhiêu thì càng dễ nhớ bấy nhiêu. Để tránh học vẹt, khi học văn, chúng ta không nên cầm sách học thuộc lòng, mà nên học theo phương pháp tái hiện
Sau giờ học trên lớp, hãy dành thời gian tĩnh tâm (khoảng 20- 30 phút) để nhớ lại kiến thức vừa học. Việc hệ thống kiến thức theo các bảng, theo mô hình nhánh cây… và việc liên hệ giữa văn học và cuộc sống cũng giúp chúng ta nhớ kiến thức lâu và sâu sắc.
Sau khi đã hiểu và nhớ, cần vận dụng lại bằng cách làm bài tập,.. Để dễ nhớ dẫn chứng và học văn đạt kết quả tốt, cần đọc tác phẩm. Ta nên đọc tác phẩm trước khi được học trên lớp, khi chưa hề nghe giảng. Điều này rất quan trọng, bởi những ấn tượng bạn đầu của các em khi tiếp xúc với tác phẩm sẽ được nhớ lâu và giúp định hướng tác phẩm.
Nhìn chung, để học văn đạt hịêu quả, chúng ta phải học văn bằng chính trái tim và cái đầu của mình, tự tìm một con đường riêng cho mình
Maxim Gorky đã từng nói “văn học là nhân học”. Đến với văn học, chúng ta sẽ tự mình đến với những cung bậc và cảm xúc khác nhau của đời thường. Đến với văn học, chúng ta sẽ nhìn đời sâu sắc hơn cũng như khám phá thêm nhiều điều bổ ích lí thú của cuộc sống. Vậy thì, chúng ta hãy học vằn một cách khoa học ngay từ hôm nay để có những kiến thức vững chắc và những bài văn hay.
Thực ra tự học không chỉ đối với môn văn mà tất cả các môn học hay những thứ cần học đều rất cần thiết và tốt. Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc chiếm lĩnh, ghi nhớ kiến thức hơn gấp nhiều lần so với cách học khác. Người có khả năng tự học sẽ gia tăng nhu cầu và xác định được tốt hơn mục đích học so với người khác. Hẳn rất nhiều người vẫn nhớ các nhà khoa học nổi tiếng thế giới như Anh-xtanh, Niu-tơn,… hay những tỉ phú, những tài năng thế giới như Bill Gates, Steve Jobs,… đều thành danh bởi họ có năng lực tự học.
Bài làm:
Không chỉ môn văn mà bất cứ môn học nào nếu chúng ta nghiêm túc, nỗ lực chắc chắn sẽ đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên để có được điều đó mỗi chúng ta đều phải học hỏi lẫn nhau từ kinh nghiệm của những người khác và rút ra kinh nghiệm của chính bản thân mình. Môn văn cũng vậy, việc chia sẻ kinh nghiệm học và làm văn rất cần thiết và bổ ích. Kinh nghiệm tự học văn, làm văn được chia sẻ dưới đây sẽ giúp chúng ta điều đó.
Thực ra tự học không chỉ đối với môn văn mà tất cả các môn học hay những thứ cần học đều rất cần thiết và tốt. Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc chiếm lĩnh, ghi nhớ kiến thức hơn gấp nhiều lần so với cách học khác. Người có khả năng tự học sẽ gia tăng nhu cầu và xác định được tốt hơn mục đích học so với người khác. Hẳn rất nhiều người vẫn nhớ các nhà khoa học nổi tiếng thế giới như Anh-xtanh, Niu-tơn,… hay những tỉ phú, những tài năng thế giới như Bill Gates, Steve Jobs,… đều thành danh bởi họ có năng lực tự học. Vậy tự học môn văn sẽ như thế nào?
Tự học đối với môn văn không quá khó như các bạn tưởng tượng. Trước hết bạn cần xác định mục đích tự học môn văn để làm gì? Bạn cần tự học những cái gì? Bạn tự học vào những thời gian nào? Trước khi bạn tiến hành học cụ thể cần phải xác định được những yếu tố đó trước, vì đây là mục tiêu bạn cần đặt ra trong quá trình tự học. Đối với môn văn, đa số các bạn học sinh xác định học văn là để đạt kết quả cao trong các bài kiểm tra, trong các kì thi, số còn lại yêu thích môn văn thực sự thì mục đích không phải chỉ là kết quả. Nhưng dù là mục đích gì thì khi học văn đều cần xác định các vấn đề bạn cần học. Đối với môn văn có hai vấn đề cần học đó là kiến thức văn học và kĩ năng viết bài văn. Khi đã xác định được mục đích và nội dung học, bạn sẽ cố gắng sắp xếp thời gian sao cho hợp lí để đáp ứng được điều đó.
Đầu tiên bạn phải tự học kiến thức môn văn trước. Việc tự tìm hiểu kiến thức môn văn thông qua nhiều nguồn mà có thể tổng hợp. Đầu tiên, bạn cần khai thác kĩ trong sách giáo khoa. Bao giờ trong sách giáo khoa cũng có hai phần bạn nên chú ý, đó là mục Kết quả cần đạt và Ghi nhớ. Ở đây bạn sẽ xác định được kiến thức trọng tâm bạn cần học là gì. Dựa vào đó bạn sẽ xây dựng kiến thức trọng tâm của bài học, kết hợp với phần giảng và cho ghi của thầy cô ở trên lớp để hoàn thiện. Khi đã xác định đầy đủ kiến thức cơ bản, sử dụng các câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa để tìm hiểu kiến thức, bạn tiến hành tìm hiểu các tài liệu bên ngoài. Sách tham khảo, internet là lựa chọn tiếp theo của bạn. Hiện nay có một thực trạng là có quá nhiều sách tham khảo, quá nhiều trang điện tử về môn văn, mà rất khó kiểm soát được.
Vậy làm thế nào tự học qua những tài liệu này? Trước hết hãy nhớ, không phải điều gì trong sách tham khảo, trên các trang web bạn cũng xem hết, cũng tin mà cần phải chọn lọc. Muôn vậy bạn cần phải dựa trên những kiến thức trọng tâm bạn đã xác định được ở trong sách giáo khoa rồi mới tìm và đọc những thứ liên quan. Sau đó hãy sử dụng một cuốn sổ tay, có cách ghi mục rõ ràng để chắt lọc các kiến thức đó, sao cho làm sáng tỏ nội dung mình cần ghi nhớ. Chẳng hạn khi đi tìm hiểu về thể loại truyện cổ tích thần kỳ để phục vụ cho việc học tác phẩm Tấm Cám, bạn cần chú ý hai vấn đề là đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thể loại này. Cho nên chỉ cần khoanh vùng trong sách tham khảo và trên các trang mạng để đọc, vừa đỡ mất thời gian mà lại trọng tâm. Hay khi tìm hiểu về vua An Dương Vương trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy việc tìm đọc về lịch sử Việt Nam ở thời Âu Lạc sẽ rất bổ ích cho các bạn khi tìm hiểu về công lao cũng như tội lỗi của vị vua này, giúp chúng ta đánh giá tốt hơn. Việc tự học kiến thức văn học bởi vậy sẽ có hiệu quả mà không mất nhiều thời gian.
Có được kiến thức với việc viết được bài văn là hai điều hoàn toàn khác nhau. Tiêu chí đánh giá một học sinh học văn tốt hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên kết quả bài làm. Nhưng trên lớp những giờ học làm văn thời lượng ít, mà chỉ vận dụng được phần nào đó để viết văn. Trong khi đó số lượng bài viết trong một năm chỉ có 7 bài, trong đó bao gồm cả 2 bài học kỳ. Vậy việc viết văn và được các thầy cô chấm và chữa cho là khá ít. Chưa kể có thầy cô chậm trả bài, trả bài qua loa, lời phê ít. Nên nhiều bạn học sinh chưa thể tự mình rút ra được những sai sót lần sau khắc phục được. Vậy chỉ có cách tự học rèn kĩ năng viết văn mới có thể khắc phục được.
Việc rèn kĩ năng viết đòi hỏi đầu tiên là phải chăm chỉ. Nhiều người nói rằng văn học là một bộ môn nghệ thuật, nên viết được văn phải có năng khiếu. Đúng là như thế, nhưng nếu bạn học văn để có điểm tốt thì đó không phải là yếu tố quyết định. Bên cạnh đó, khi luyện tập viết văn cũng như học kiến thức, bạn phải xác định viết một bài văn là viết những gì? Trước tiên là phải nắm được dạng đề, bởi một dạng đề có cách triển khai khác nhau. Hiện nay đa số các bạn sẽ học và thi ở dạng văn nghị luận, nên sẽ chú tâm vào dạng văn này. Bạn tìm hiểu thật kĩ các kiểu văn nghị luận, bố cục, dàn ý bài văn nghị luận, các thao tác nghị luận, lập luận… Sau đó, bạn tìm cách đọc những bài văn mẫu. Việc đọc văn mẫu giúp ích cho bạn rất nhiều trong cách triển khai, tổ chức bố cục, diễn đạt, hành văn trong bài viết. Tiếp tục là bạn phải tự mình tập viết những đoạn văn ngắn, những bài văn nhỏ. Có một lưu ý là khi mới tập không được viết cái gì quá lớn, quà dài sẽ dễ gây tâm lý chán nản. Khi tập bạn nên bắt đầu bằng những cái dễ, sau đó mới đến những cái khó.
Dù bạn học hỏi kinh nghiệm ở đâu, thì người học vẫn là bạn. Vì vậy kinh nghiệm tốt nhất là do tự chúng ta tạo ra. Cách thức tự học thực ra không quá mới mẻ, nhưng tự học sẽ giúp bạn tích lũy, trau đồi kiến thức tốt nhất. Nhiều người hiện giờ vẫn lao đầu, chạy xô đi học thêm. Điều này không phải là không tốt, nhưng vấn đề là về nhà chẳng có hoặc chẳng dành thời gian cho tự học nên việc đi học thêm không có nhiều tác dụng. Vậy nên, qua việc chia sẻ về kinh nghiệm tự học văn trên đây phần nào sẽ giúp các bạn sẽ tìm ra được cho mình cách học văn tốt nhất.
Bãi mẫu 4: Đề bài thuyết minh về về kinh nghiệm văn học hoặc làm văn
Những trang văn giống như thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch, phong phú hơn. Từ ngàn xưa, văn học là tiếng gọi con người quay trở về với bản chất thật của mình, giữ cho con người không sa xuống thành con vật cũng không trở thành ông thánh vô bổ, vô duyên.
Bài làm:
Trong thời buổi như hiện nay, giới trẻ chúng ta rất dễ chạy theo những môn học thời thượng, đó là những môn khoa học tự nhiên, môn ngoại ngữ với mong muốn đi du học và mở rộng quan hệ một cách hiện đại. Chúng ta hay nghĩ rằng những môn xã hội không cần người giỏi, chỉ cần học thuộc và trong ấy có môn văn. Nhưng đích đến cuối cùng của chúng ta là học cách làm người, là vươn tới thế giới của chân thiện mĩ, vậy thì thử hỏi liệu văn học thật sự không phải là môn học quan trọng ư? Vậy thì hôm nay mình sẽ chia sẻ với các bạn một vài kinh nghiêm về việc học văn nhé. Hi vọng rằng qua bài văn này, các bạn sẽ tìm được sự hứng thú và niềm vui với môn Văn và không còn cái nhìn phiến diện về nó nữa.
Trước hết, chúng ta cần nhìn nhận tích cực về ý nghĩa và giá trị của môn văn. Đó là những giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ mà qua mỗi hình tượng nghệ thuật đặc sắc nhà văn như muốn đối thoại với người đọc một vấn đề quan trọng về nhân sinh. Những trang văn giống như thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch, phong phú hơn. Từ ngàn xưa, văn học là tiếng gọi con người quay trở về với bản chất thật của mình, giữ cho con người không sa xuống thành con vật cũng không trở thành ông thánh vô bổ, vô duyên. Vậy thì “thơ ca không có người tôi đã mồ côi”. Vâng lời khẳng định của Raxun Gamdatop đã khẳng định được vai trò to lớn của văn học trong đời sống tinh thần của co người.
Từ đó, khi đã có thái độ đúng đắn và chân thành khi tiếp nhận văn học ta mới có nhiệt hứng và lòng say mê đi kiếm tìm những giá trị văn học chân chính. Để qua mỗi tác phẩm, ta thấy thêm được một bài học về sự trông nhìn và thưởng thức. Muốn học văn, đòi hỏi cần sự chăm chỉ rất cao. Khi tiếp xúc với một tác phẩm, ta cần hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm hoặc sâu hơn là bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội để hiểu đúng và cảm nhận sâu sắc tác phẩm ấy. Cần có một quá trình đào sâu, nghiên cứu, tích lũy kiến thức, làm giàu vốn hiểu biết cho bản thân. Một cách để học văn tốt là đọc nhiều, đọc là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình học văn. Khi đọc nhiều ta có thêm vốn hiểu biết cho bản thân, lại thêm hứng thú với các vấn đề đặt ra xung quanh tác phẩm. Như thế, ta giống như người đồng sáng tạo với tác giả, kiếm tìm những giá trị văn học. Những gì đọc được, tìm kiếm được nên ghi chép vào một quyển sổ riêng, làm tài liệu cho bản thân. Như vậy vừa tích lũy kiến thức, vừa tăng kĩ năng ghi chép, viết lách đúng không nào. Và một mẹo nhỏ đó là bạn nên đọc và tiếp xúc với văn bản trước chứ không phải là đọc từ tài liệu đọc vào và áp đặt quan điểm của người khác. Chính vì cách học ngược lại ấy mà nhiều học sinh cho rằng học văn chỉ học thuộc, cơ học, dễ dãi không có tính sáng tạo. Sáng tạo hay không là trong quá trình và thái độ học tập của bản thân, đừng đổ lỗi cho khách quan, ta có thể tham khảo nhưng đừng phụ thuộc như vậy sẽ chỉ làm mòn suy nghĩ và óc sáng tạo của bản thân mà thôi.
Mỗi môn học có một hứng thú và điều cuốn hút riêng, văn học cũng vậy đừng chạy theo những môn học thời thượng mà bỏ qua những giá trị bất biến về bản thân ta, về thế giới và về chính tâm hồn con người đầy phong phú, bí ẩn ấy. Văn học sẽ là phương tiện đặc biệt giúp bạn làm điều ấy. Hãy sáng suốt và thông minh trong hành trình học tập dài rộng ấy nhé. | Thuyết minh về kinh nghiệm học văn hoặc làm văn | 4,652 | |
Thuyết minh về kính đeo mắt
Hướng dẫn
Thuyết minh về kính đeo mắt
Bài mẫu 1: Bài văn mẫu thuyết minh về kính đeo mắt
Cùng với sự phát triển của mình, loài người với trí thông minh vượt trội so với các loài khác đã không ngừng phát minh ra những vật dụng mới để phục vụ cuộc sống của mình tốt hơn. Một trong những phát minh kì diệu của con người, vừa để bảo vệ đôi mắt, vừa là phụ kiện thời trang không thể thiếu chính là kính mắt.
Bài làm
Cùng với sự phát triển của mình, loài người với trí thông minh vượt trội so với các loài khác đã không ngừng phát minh ra những vật dụng mới để phục vụ cuộc sống của mình tốt hơn. Một trong những phát minh kì diệu của con người, vừa để bảo vệ đôi mắt, vừa là phụ kiện thời trang không thể thiếu chính là kính mắt.
Những chiếc kính mắt thực sự được ghi nhận đầu tiên tại Ý vào năm 1260. Lần đầu xuất hiện, những chiếc kính mắt chỉ đơn giản là một thấu kính bằng thạch anh, nhưng con người đã cải tiến, sáng tạo. Hiện tại, ta cí thể biết được rằng đôi kính mắt được làm ra trong khoảng thời gian giữa năm 1266 và 1352. Như vậy, kính mắt đã xuất hiện từ rất sớm để phục vụ cuộc sống con người. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành in vào thế kỉ XIV là một trong những động lực của việc nghiên cứu, phát triển và sản xuất kính. Vào thế kỉ XV, những cặp kính được sản xuất chủ yếu ở miền Bắc nước Ý và miền Nam nước Đức. Ban đầu, kính chỉ được sử dụng bởi những người có địa vị trong xã hội, như một cách để khẳng định vị thế và lối sống của mình, chứ không phải nhằm mục đích tăng thị lực. Nhưng trải qua thời gian, những chiếc kính mắt ngày càng thay đổi, khẳng định được vị trí của mình trong cuộc sống của con người.
Chiếc kính mắt được cấu tạo bởi hai phần chính là gọng kính và tròng kính (hay còn được gọi là mắt kính). Từ trước đến nay, gọng kính vẫn được làm bằng kim loại chống gỉ nhưng hạn chế của nó là trọng lượng lớn, gây cảm giác nặng nề cho người đeo. Sau khi polime xuất hiện, gọng kính dần được thay bằng chất dẻo ấy hoặc người làm kính sẽ thiết kế gọng kính mỏng, nhẹ, thời trang hơn. Gọng kính làm khung cho kính và là bộ phận nâng đỡ tròng kính. Gọng kính gồm hai bộ phận nhỏ là khung mắt và phần gọng. Hai bộ phận này được nối với nhau bằng một khớp sắt nhỏ để người sử dụng có thể gập kính lại và cất giữ một cách dễ dàng. Phần gọng dài giúp gài kính vào vành tai. Phần khung mắt có thêm một miếng đệm cao su để giữ kính cố định trên sống mũi, không bị trượt xuống và cũng để kim loại không làm xước da người dùng.
Tròng kính được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, tùy vào sở thích, nhu cầu của người sử dụng. Tròng kính có thể được làm bằng thủy tinh hoặc mi ca. Ngày nay, người ta thường sử dụng tròng kính làm bằng mi ca thay vì bằng thủy tinh như trước. Bởi lẽ, mi ca có các đặc tính tốt như tránh nguy hiểm do các mảnh vỡ, xác định được độ chính xác hơn (cho các tật khúc xạ), với tiêu chuẩn tốt hơn hầu hết các loại thủy tinh. Tròng kính mi ca cũng nhẹ hơn tròng bằng thủy tinh có thể làm cho tròng kính mỏng hơn tùy kĩ thuật và tay nghề của người làm. Hiện nay, có những kính được thêm những đặc tính khác như chống trầy xước và chống tia UV. Những loại kính chống tia UV được tráng một lớp chất đặc biệt có ánh xanh, tốt hơn so với cá loại kính thủy tinh hay chỉ có mi ca không.
Kính mắt được chia thành nhiều loại, tùy theo mục đích sử dụng của mỗi người. Nhìn chung, kính mắt được chia thành kính thuốc, kính râm, kính bơi, kính thợ hàn, kính thời trang,…Ngoài ra còn có một loại kính không cần gọng là kính áp tròng. Đây là một loại kính đặc biệt với tròng mắt vừa khít với mắt thật và có thể có nhiều màu sắc khác nhau, cũng có thể khiến cho mắt người dùng trở nên giãn to hơn bình thường. Kính thuốc là loại kính được chỉ định cho những người mắc các tật khúc xạ về mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị, lão thị. Những loại kính này cần phải có sự chỉ định của các bác sĩ khoa mắt sau khi đã tiến hành kiểm tra, khám mắt một cách toàn diện. Kính râm là loại kính màu đen, giúp mắt người nhìn tốt hơn trong ánh sáng ban ngày, bảo vệ mắt khỏi tia UV từ mặt trời hoặc chỉ đơn giản là bảo vệ đôi mắt. Trong lao động, người ta hay sử dụng kính an toàn. Kính an toàn là loại kính dùng để hạn chế những dị vật, chống mảnh vỡ bay vào mắt, chắn bớt ánh sáng hay bức xạ. Bên cạnh những loại kính vừa kể trên, còn có những loại kính khác là kính xem ảnh 3D, 4D, kính thời trang, thẩm mĩ,…
Trong quá trình sử dụng, muốn kính được bền và có hiệu quả tốt nhất, chúng ta cần có cách bảo quản kính phù hợp. Kính nên được đặt trong hộp kính, có bao lại bằng khăn để tránh bụi bám vào mắt kính, gọng kính. Khi đeo kính, ta cần dùng hai tay để tác động lên kính một lực cân bằng, tránh cho kính bị gãy. Kính sử dụng lâu ngày, mắt kính sẽ bị bẩn nên cần phải được vệ sinh bằng dung dịch chuyên dụng, có bán tại bệnh viện mắt hoặc các cửa hàng bán kính mắt. Đối với loại kính sử dụng trực tiếp trong mắt, ta cần phải kiểm tra kĩ mắt kính trước khi sử dụng. Đặc biệt, sau khi dùng xong, cần phải ngâm kính áp tròng trong dung dịch và đậy kín lại, tránh tình trạng kính áp tròng bị bám bụi, bẩn gây đau mắt, nhiễm trùng các vết xước.
Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Có lẽ vì thế mà kính mắt trở thành một vật dụng quen thuộc của con người để bảo vệ cánh cửa quý giá ấy.
Bài mẫu 2: Hãy thuyết minh về kính đeo mắt
Chiếc kính mắt là vật dụng không thể thiếu của con người ngày nay. Với những công dụng, tiện ích mà nó đem lại, chiếc kính ngày càng trở nên quen thuộc với con người. Phải nói rằng, nó là một trong những vật dụng hữu ích cho con người thời đại ngày nay.
Bài làm
Con người từ khi sinh ra đã có một sự thông minh vượt bậc so với các loài động vật khác. Bởi thế mà họ đã sáng tạo ra nhiều thứ để nhằm phục vụ cho cuộc sống của mình. Một trong những phát minh có tính ứng dụng cao của con người chính là những vật dụng thiết yếu hàng ngày. Trong đó có chiếc kính đeo mắt.
Chiếc kính đầu tiên được ra đời ở Ý vào năm 1920. Chiếc kính thô sơ nhất ban đầu chỉ gồm hai mắt kính nối với nhau bằng hai sợi dây rồi đè lên sống mũi. Vào năm 1930, để việc mang kính được dễ dàng hơn, một chuyên gia quang học ở Luân Đôn đã sáng tạo ra hai gọng kính. Có nhiều loại kính khác nhau tuy nhiên về cấu tạo chung của chúng là giống nhau. Kính mắt bao gồm hai bộ phận chính là tròng kính (mắt kính) và gọng kính. Tròng kính được làm từ nhựa tổng hợp hoặc thủy tinh khúc xạ ánh sáng. Tròng kính có thể chống được các tia UV, tia cực tím của ánh sáng Mặt Trời. Tròng kính có hình tròn hoặc vuông, có kích thước sao cho phù hợp với gọng kính. Thường trước khi chọn tròng kính, người mua sẽ chọn gọng kính trước. Gọng kính chiếm 80% vẻ đẹp của chiếc kính. Gọng kính là bộ phận nâng đỡ tròng kính và làm khung cho mỗi chiếc kính. Thông thường, gọng kính được làm từ nhựa bền, nhẹ, có nhiều màu sắc hoặc có thể làm bằng kim loại. Gọng kim loại cứng cáp và chắc chắn hơn gọng nhựa, tuy nhiên do nặng hơn cũng như giá thành cao hơn nên gọng kim loại ít được ưa chuộng. Ngày nay còn có loại gọng kính được làm bằng titan nhẹ bền đẹp nhưng giá thành khá cao nên cũng chưa phổ biến. Ngoài ra, kính còn các bộ phận, chi tiết nhỏ như ốc, vít để kết nối các bộ phận với nhau.
Từ khi ra đời, chiếc kính đã có nhiều chủng loại khác nhau, Có kính râm, kính thuốc, kính thời trang… Tùy chức năng của người dùng mà lựa chọn các loại kính khác nhau. Chẳng hạn kinh thuốc dùng cho những người có tật về mắt: cận, viễn, loạn. Đa số người dùng kính để khắc phục những bệnh về mắt của mình. Kính râm là loại kính khá khác so với kính thuốc. Nếu tròng kính của kính thuốc thường nhỏ, dày thì tròng kính của kính râm to hơn, mỏng hơn. Tròng kính của kính thuốc thường làm bằng thủy tinh thì kính râm thường là nhựa tổng hợp, có màu sắc bắt mắt. Kính râm có khả năng chống tia UV cao hơn so với các loại kính khác. Vì thế mà nó được ưa chuộng khi đi ra ngoài đường đặc biệt là những ngày nắng nóng. Kính râm có kiểu dáng, màu sắc đa dạng hơn kính thuốc rất nhiều. Chúng có màu sắc khá bắt mắt, không đơn giản như kính thuốc. Còn loại kính thời trang thì được dùng để tạo dáng cho mắt và khuôn mặt đẹp hơn, hợp thời trang hơn. Loại kính này có thể bắt gặp nhiều trên các tạp chí thời trang hay shot hình mẫu ảnh…
Mỗi loại kính đều có cách bảo quản riêng để kính được bền, đẹp, lâu hơn. Khi lấy và đeo kính cần dùng hai tay. Sau khi dùng nên lau chùi cẩn thận và cất vào hộp đựng kính để tránh rơi vỡ. Mắt kính làm bằng các chất liệu này rất dễ vỡ và trầy xước. Khi tròng kính bị trầy xước không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến tầm nhìn của người dùng. Lâu ngày, kính cần được vệ sinh bằng dung dịch chuyên dụng. Ngày nay, có rất nhiều kiểu dáng mẫu mã khác nhau của kính mắt để phù hợp với thẩm mỹ cũng như nhu cầu tính thẩm mỹ cao của người tiêu dùng. Chiếc kính mắt ngày càng đa dạng hơn. Có thể thấy được sự sáng tạo của con người ngày càng phát triển. Việc sử dụng kính ngày càng cần thiết đối với con người. Với sự phát triển của giáo dục cũng như các yếu tố khác như ngành điện tử phát triển như vũ bão tỉ lệ người mắc các tật về mắt ngày càng tăng đặc biệt là trẻ nhỏ, nhu cầu về sử dụng kính thuốc vì thế cũng tăng lên. Không thể phủ định lợi ích mà chiếc kính mắt đem lại cho con người. Đây được xem là phát minh có tính ứng dụng cao trong lịch sử nhân loại.
Chiếc kính mắt là vật dụng không thể thiếu của con người ngày nay. Với những công dụng, tiện ích mà nó đem lại, chiếc kính ngày càng trở nên quen thuộc với con người. Phải nói rằng, nó là một trong những vật dụng hữu ích cho con người thời đại ngày nay.
Bài mẫu 3: Bài mẫu thuyết minh về kính đeo mắt
Dù chủng loại phong phú như vậy nhưng về cơ bản, cấu tạo của các cặp kính rất giống nhau. Một chiếc kính đeo mắt gồm có hai bộ phận: Tròng kính và gọng kính.
Bài làm
Nếu nói rằng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn của mỗi chúng ta thì ắt rằng những cặp kính chính là những người giúp việc tận tâm, những người bảo vệ vững chắc, những vật trang trí duyên dáng cho khung cửa mộng mơ ấy.
Quả không quá khi nói như vậy về cặp kính đeo mất bởi kính, có rất nhiều loại và rất nhiều tác dụng, phù hợp với hầu hết nhu cầu của mọi người. Với những người bị bệnh về mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị kính giúp họ khắc phục được điểm hạn chế của bản thân. Người cận thị có thể nhìn được những vật ở xa, người viễn thị thì nhờ kính mà nhìn được những vật ở gần… Đối với người làm những công việc đặc thù như bơi, trượt tuyết, đi xe máy tốc độ cao,… kính lại giúp mắt họ tránh khỏi nước, tuyết, gió, bụi,… Những người không bị bệnh về mắt, không có những hoạt động trên, khi ra đường cũng nên mang theo một cặp kính: để tránh nắng chói và gió bụi. Thậm chí, có những người sử dụng kính như một vật trang trí đơn thuần. Giá trị thẩm mĩ của kính có được bởi sự đa dạng của kiểu dáng và màu sắc.
Việc sử dụng kính tác động rất lớn đến sức khoẻ của mắt bởi vậy cần sử dụng kính đúng cách. Để lựa chọn 1 chiếc kính phù hợp với đôi mắt, cần phải theo tư vấn của bác sĩ. Không nên đeo loại kính có độ làm sần vì loại kính này được lắp hàng loạt theo những số đo nhất định nên chưa chắc đã phù hợp với từng người. Mỗi loại kính cũng cần có cách bảo quản riêng để tăng tuổi thọ cho kính. Khi lấy và đeo kính cần dùng cả hai tay, sau khi dùng xong cần lau chùi cẩn thận và bỏ vào hộp đậy kín. Kính dùng lâu cần lau chùi bằng dung dịch chuyên dụng. Đối với loại kính tiếp xúc trực tiếp với mắt như kính áp tròng, cần phải nhỏ mắt từ sáu lần đến tám lần trong vòng từ mười đến mười hai tiếng để bảo vệ mắt. Kính áp tròng đưa thẳng vào mắt nên phải luôn luôn ngâm trong dung dịch, nếu không sẽ rất dễ bám bụi gây đau mắt, nhiễm trùng các vết xước… Trong quá trình học tập, làm việc, đeo kính phù hợp sẽ giúp chúng ta tránh khỏi nhức mỏi mắt, đau đầu, mỏi gáy, mỏi cổ…Đeo một chiếc kính trên mắt hẳn ai cũng tò mò muốn biết sự ra đời của kính? Đó là cả một câu chuyện dài. Vào năm 1266 ông Rodger Becon người Italia đã bắt đầu biết dùng chiếc kính lúp để có thể nhìn rõ hơn các chữ cái trên trang sách. Năm 1352, trên một bức chân dung người ta nhìn thấy một vị hồng y giáo chủ đeo một đôi kính có hai mắt kính được buộc vào một cái gọng. Như vậy chúng ta chỉ có thể biết được rằng đôi kính được làm ra trong khoáng thời gian giữa năm 1266 và 1352. Sự ra đời của những cuốn sách in trở thành động lực của việc nghiên cứu, sản xuất kính. Vào thế kỷ XV những căp kính chủ yếu được sản xuất tại miền bắc nước Ý và miền nam nước Đức – là những nơi tập trung nhiều người thợ giỏi. Năm 1629 vua Charles I của nước Anh đã ký sắc lệnh thành lập hiệp hội của các thợ làm kính mắt. Đến năm 1784, ông Bedzamin Franklin người Đức đã sáng tạo ra những đôi kính có hai tiêu điểm.
Chiếc mắt kính đeo mắt là một vật dụng quen thuộc với đời sống hằng ngày. Nếu biết cách sử dụng và bảo quản tốt, kính sẽ phát huy tối đa công dụng của mình. Hãy cùng tìm hiểu về kính để có thể biến “lăng kính” của “cửa sổ tâm hồn” trở nên phong phú và hoàn thiện hơn. | Thuyết minh về kính đeo mắt | 2,793 | |
Thuyết minh về loài hoa em thích – Hoa sen
Bài làm
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
Khi nhắc đến những gì đẹp đẽ nhất của Việt Nam, nếu không nói đến những bậc vĩ nhân như Bác Hồ thì phải kể đến những loài hoa làm say ngất lòng người, một trong số đó không thể không nhắc đến hoa sen – loài hoa mang vẻ đẹp tươi sáng, thuần khiết, thanh cao mà giản dị như khí chất của con người nơi đây.
Hoa sen hay còn gọi là sen hồng, là một loại thực vật thủy sinh thân thảo có nguồn gốc lâu đời ở châu Á và chiếm giữ một vị trí cổ xưa trong tất cả nền văn hóa đặc biệt của phật giáo.
Nếu bạn đến thăm vườn sen vào một sớm ngày hè, khi mặt trời chỉ vừa ló những tia nắng đầu tiên và những hạt sương còn đọng lại trên từng cánh hoa, kẽ lá thì mới thực sự cảm nhận được cái vẻ đẹp hoàn hảo của nó. Hoa sen nở xòe ra to bằng hai lòng bàn tay ghép lại, cánh sen rất mỏng, màu hồng nhạt dần về phía đài hoa cùng với nét sắc cạnh uyển chuyển khiến cho mắt ta phải mở to và sáng lên để nhìn nó thật rõ hay cả những hạt nước tí hon còn đọng lại. Những cánh hoa mỏng manh tưởng chừng chỉ một thoảng gió nhẹ có thể làm nó bay đi mất, nhưng không, đài sen lớn đủ sức để giữ những cánh hoa ở lại. Đài hoa nhấn một điểm vàng giữa bồng bềnh màu hồng lãng mạn, thật quá hoàn hảo cho một vẻ đẹp hoàn mỹ! Vẻ đẹp hoàn mỹ đó được nâng đỡ bởi cuống sen dài đâm từ bùn xuyên thẳng qua mặt nước và được làm nổi bật thêm trên nền xanh của lá. Bởi vậy vào mùa hè – mùa sen nở, vườn sen là một trong những địa điểm yêu thích của mọi người để thư giãn hay để có những bức ảnh đẹp.
Hoa sen mọc trong bùn nhưng không bị bùn làm vướng bẩn mà ngược lại ta sẽ có thể tận hưởng một mùi hương thơm dễ chịu khi đứng trong một vườn sen ngày hè. Như những người con Việt Nam sinh ra trong gian khổ lầm than, nhưng cám dỗ của cuộc đời nhưng họ không đắm chìm trong nó mà luôn tiềm tàng một sức sống chính nghĩa đẹp đẽ và làm rạng danh tổ quốc và để lại tiếng thơm cho đời. Vẻ đẹp hiện hữu và tiềm ẩn đó của hoa sen đã là một nguồn cảm hứng vô tận cho thi, ca, nhạc, họa.
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Bên cạnh vẻ đẹp mê hồn mang những giá trị nghệ thuật của mình, loài hoa nhiệt đới này còn là nguyên liệu tuyệt vời cho rất nhiều sản phẩm bổ dưỡng và tốt cho sức khỏe từ hầu hết các bộ phận của cây. Từ hạt sen, người ta đã tạo ra mứt sen, chè sen, hay là nguyên liệu cho những món ăn, tim sen và lá sen là nguyên liệu để sản xuất trà sen ngon thượng hạng, lá sen là một bài thuốc dân gian mang lại rất nhiều lời ích cho sức khỏe,…Rượu sen, tinh dầu sen, trà sen, chè sen, là những sản phẩm có một chỗ đứng vứng trên thị trường bởi những khác biệt và công dụng của nó mang lại.
Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà hoa sen lại được ví von như sự thánh thiện, thanh khiết, giản dị của người Việt Nam. Nó mang trong mình vẻ đẹp tao nhã, tinh khôi, giản dị, mang trong mình tâm hồn đẹp, nghị lực phi thường của con người Việt, lại còn đó chất chứa những tinh hoa của đất trời. | Thuyết minh về loài hoa em thích – Hoa sen | 678 | |
Đề bài: Thuyết minh về loài hoa mà mình yêu thích “Hoa sen”
Bài làm
Hoa sen là một loài hoa gắn liền với truyền thống dân tộc Việt Nam và các nước Á Đông. Hoa sen sống ở dưới các ao hồ, có lớp bùn sâu, những bông hoa sen thường có mùi thơm vô cùng quyến rũ, thanh khiết làm say đắm lòng người. Trong đạo phật hoa sen còn trở thành một biểu tượng thể hiện sự thanh cao, thoát tục của đức phật. Vì vậy, chúng ta thường nhìn thấy các đức phật Thích Ca Mầu Ni ngồi trong đài sen để tụng kinh, niệm chú cứu nhân độ thế.
Sở dĩ hoa sen được yêu mến, tôn trọng bởi vì xuất thân của hoa sen được lớn lên trong một môi trường bùn lấy, hôi tanh, một thứ hương rất khó chịu. Nhưng hoa sen vẫn luôn vươn cao, xanh tươi hướng tới ánh sáng mặt trời và mọc ra những bông hoa vô cùng tươi đẹp với mùi thơm thanh thoát, quyến rũ.
Hương thơm của hoa sen không gì có sánh được và rất có nhiều người ưa chuộng. Họ tìm cách ướp trà hoa sen, cốm sen, chè sen. Mùi vị của hoa sen là thứ mùi vô cung thanh tao, thoát tục, dễ ngửi và thoát tục.
Ở nước ta, hoa sen được xếp vào là một trong bốn loài hoa quý “tứ quân tử: là hoa: Lan, sen, cúc và mai. Hoa sen có thể sống ở trong khí hậu của những nước nhiệt đới, cận nhiệt đới. Trên đất nước hình chữ S của chúng ta trải dài chiều dọc tổ quốc đi tới đâu ta cũng có thể nhìn thấy rất nhiều hoa sen.
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Hoa sen sống trong bùn từ bùn mà đi lên, nhưng hương thơm của nó lại hoàn toàn không có chút gì tanh hôi, khó chịu như nơi mà nó sinh sống. Hoa sen cũng có sức sống vô cùng mãnh liệt luôn hướng mình lên cao, cành hoa ngay thẳng thể hiện ý chí, kiên cường, không ngại khó của người dân Việt Nam.
Trong tư tưởng của đạo Phật hoa sen được yêu quý, tôn sùng như một vị thần. Bởi nó chính là biểu tượng cho sự thanh cao, không nhiễm bụi trần, thoát tục của những người nhà Phật. Cũng chính vì nguyên nhân này hoa sen là biểu tượng cho sự thuần khiết, ngay thẳng, của đạo Phật.
Trong những công trình thiết kế kiến trúc của mình đạo Phật thường có nhiều bông hoa sen, đài sen…như biểu tượng của sự thanh cao của nhà phật và nhờ kiến trúc độc đáo đó giúp cho đạo Phật có những phong cách của riêng mình, không hề trộn lẫn vào những đạo giáo khác. Nhìn thấy hoa sen người ta có thể biết ngay đó chính là người nhà Phật.
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
Hoa sen của được yêu mến, sự thanh cao, vẻ đẹp của hoa sen được ví như chủ tịch Hồ Chí Minh linh hồn của dân tộc ta. Một con người mà khi nhắc tới ai cũng phải nghiêng mình kính phục. Việc so sánh hoa sen với Bác thể hiện sự trân trọng loài hoa có giá trị tinh thần sâu sắc trong lòng mỗi người dân chúng ta. | Thuyết minh về loài hoa mà mình yêu thích Hoa sen | 583 | |
Đề bài: Thuyết minh về loài hoa yêu thích
Bài làm
Trong cuộc sống, chúng ta được gặp rất nhiều loài cây, loài hoa. Mỗi loài cây, loài hoa lại có một nguồn gốc, đặc điểm, ý nghĩa riêng biệt. Có thể nó biểu trưng cho một điều thiêng liêng, cao cả nhưng có thể nó lại biểu tượng cho một điều giản dị, mộc mạc. Và cây hoa hồng cũng không nằm ngoài quy luật đó – một loài cây, loài hoa mà ai cũng đã từng có dịp chiêm ngưỡng, ngắm nhìn.
Hoa hồng xuất hiện cách đây khoảng 100 triệu năm – vào cuối thế kỉ Phấn trắng. Đây là một loài cây thường mọc thành bụi, rễ chùm, có gai. Nhưng hiện nay đã có loại hoa hồng không có gai. Hoa hồng được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa. Thực vậy, hoa hồng có khá nhiều màu: đỏ, trắng, vàng, hồng… và cả hoa hồng màu xanh nữa. Khi nở, nó tỏa ra một mùi thơm dịu, cánh hoa xếp xen kẽ nhau tạo nên một vẻ rất riêng mà không thể nhầm lẫn được. Phải chăng vì vẻ đẹp như vậy mà ngay từ thời xa xưa, cách đây hàng ngàn năm mà con người đã trồng và thưởng thức nó? Các giống hoa hồng mà ngày nay ta thường thây phát triển lớn hơn nhiều so với những bà con hoang dã của chúng. Cũng có lẽ bởi vì hoa hồng mọc hoang chỉ có năm cánh mà chỉ có thể ra hoa ít tuần chứ không thể liên tục hàng mấy tháng như cây hoa hồng vườn. Tôi có thể chắc chắn rằng không phải ai trong chúng ta cũng có được dịp nhìn thấy quả của cây.hoa hồng. Quả của cây này nhỏ, hơi dẹt, có màu đỏ. Nó chứa một lượng Vitamin c nhiều gấp 10 đến 100 lần so với các thức ăn khác. Đồng thời, đây cũng là một loại quả thuốc. Chúng ta có thể ngâm quả này trong nước sôi để uống, rất tốt cho bàng quang và thận, lại giúp đề phòng cảm lạnh. Hay như quả của một vài loại cây hoa hồng hoang dại cũng có thể được dùng để làm mứt.
Chính vì hoa hồng xuất hiện bên cạnh con người lâu như vậy nên ý nghĩa cùa nó cũng dần được khẳng định. Nhận thấy được vẻ đẹp của hoa hồng mà con người đã dùng nó để trang trí, làm đẹp cho ngôi nhà như ở trong phòng, trên bàn…, giúp ngôi nhà trở nên sinh động, gần gũi với thiên nhiên. Ngoài ra. mỗi màu hoa lại có một ý nghĩa riêng. Ví như hoa hồng đỏ – hay gọi là hoa hồng nhung biểu trưng cho tình yêu, hoa hồng thắm lại thể hiện cho sự trong trắng, tinh khiết và cả niềm tiếc thương vô hạn… Trong những lúc căng thẳng, nhìn thấy hoa ta như được giải tỏa phần nào. Và chắc rằng, cây hoa hồng còn có ý nghĩa hơn nữa, to lớn hơn nữa. Bởi tôi được biết rằng ở nước Anh, cách đây hơn 500 năm, đã xảy ra một cuộc chiến tranh hoa hồng. Giới quý tộc chia làm hai phe, đều lấy hoa hồng làm huy hiệu cho mình: một phe lấy hoa hồng nhung, còn phe kia lấy hoa hồng bạch. Có thể thấy được hoa hồng có tầm quan trọng như thế nào trong cuộc sống.
Đẹp, đầy ý nghĩa, nữ hoàng của các loài hoa là những gì ngắn gọn nhất để nói về hoa hồng. Cây hoa hồng gắn bó với con người từ thuở xa xưa đến tận bây giờ. Và chắc chắn rằng vẫn sẽ như vậy đến cả sau này nữa. | Thuyết minh về loài hoa yêu thích | 635 | |
Thuyết minh về lòng trung thực
Hướng dẫn
Thuyết minh về lòng trung thực
Đức tính trung thực được người ta nhăc tới không những trong đời sống thời nho giáo hà khắc ngày xưa mà còn có cả những trang viết và được gửi gắm qua những câu chuyện của hiện đại thời nay. Đây là một trong những đức tính cần thiết của mối con người, đặc biệt những con người những thế hệ trẻ trong thời đại mới thời đại mở của và phát triển nhanh chóng
Thế nào là đức tính trung thực. Đó là cách cư xử và đối xử thật thà hết lòng với mọi người, là thật thà, là ngay thẳng. những người mang đức tính này thường rất thẳng thắn chia sẻ và được nhiều người quí mến. Vì chính những người có đức tính này thường hào phóng thoải mái và dễ gần
Những người mang đức tính trung thực thường biểu hiện qua cách nói chuyện và cách họ đối xử với nhữn người xung quanh đặc biệt là trong đời sống hàng ngày. Đức tính trung thực nếu như môt loài hạt mầm sẽ khiến cho xã hội và đất nước ngày càng phát triển thịnh vượng hơn bơi đó chính là nguồn gốc cho mọi sự phát triển bền vững.
Đức tính trung thực được thể hiện ở nhiều mặt và lĩnh vực của cuộc sống hàng ngày của con người.Trong kinh doanh và sản xuất ra các loại sản phẩm và mặt hàng, nếu là người ngay thẳng, họ sẽ không sản xuâ’t nhũng loại kém chất lượng, bất hợp pháp, làm nguy hại đến người tiêu dùng…
Trung thực là một thứ đúc tính mà chúng ta có thể tôi luyên được. bằng việc làm và nói những thứ chân thành thì tự khắc một khi chũng ta làm điều xấu thì sẽ cảm thấy xấu hổ với bản thân.
Trong giáo dục biểu hiện của tính trung thưc không những được thể hiện ở những điểm những người học sinh sinh viên ngày ngày cắp sách tới trường mà còn được thể hiện ở cách mà các vị lãnh đạo trong giáo dục. Học sinh không trung thực với việc học của mình, luôn nghĩ học không phải là cho mình mà như một việc ép buộc vậy. Đồng thời ở một số trường, để đạt được những thành tích ảo họ có thể làm mọi thứ để làm giả giấy tờ hay phổ cập lượng học sinh giỏi …
Những hành vi thiếu trung thực khiến cho xã hội và đạo đức xa hội ngày càng tha hóa đi xuống, những người thiếu trung thực sau này lại trở nên tinh vi và lì lợm hơn trước những tố cáo của xã hội. Vì vậy, từ những lúc còn bé, phu huynh thầy cô là những người dẫn dắt các thế hệ học sinh của mình có những bài học và vốn hiểu biết sâu sắc về tính trung thực. Những điều đó sẽ nhanh chóng ăn sâu vào đời sống và con người bản thân của mỗi người sẽ nhận thức đưuọc điều gì nên và không nên.
Nguồn: Bài văn hay | Thuyết minh về lòng trung thực | 529 | |
Đề bài: Em hãy thuyết minh về lăng Bác
Bài làm
Hà Nội được xem chính là trái tim của nước Việt Nam thì quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Và không thể phủ nhận được khi người ta đến với thủ đô Hà Nội thì nơi mong muốn nhất chính là lăng Bác Hồ.
Khi mà cách mạng Tháng Tám thành công, thì một sự kiện trọng đại tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Có thể nhận thấy được chính sự kiện đó cùng tên Quảng trường Ba Đình đã được cả thế giới biết đến.
Vào ngày 2/9/1945 trong không khí vui tươi thì ta như thấy được nửa triệu nhân dân Hà Nội và phụ cận đã nô nức về Quảng trường này để dự lễ Tuyên ngôn Độc Lập. Thế rồi lễ đài lúc này đây như cũng đã được dựng giữa quảng trường, bốn mặt hình thang phủ vải đỏ, hơn hết nổi bật nhất đó chính là ở giữa có hình nổi ngôi sao vàng năm cánh. Khi mà đúng 14 giờ các vị trong khi Chính phủ lâm thời đã có mặt trên lễ đài. Thế rồi nửa triệu người hân hoan, xúc động, im phăng phắc lắng nghe tiếng nói của lãnh tụ. Và thế là nước Việt ta lúc bấy giờ như đã giành được độc lập nước nhà.
Ngày nay, thì ta như thấy được chính mặt chính của Quảng trường – mặt tây – là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng Bác trải qua hai năm xây dựng, ngày 19/8/1975 lăng khánh thành.
LăngBác Hồ lại có cấu tạo gồm ba lớp với chiều cao 21.6m. Thế rồi ta như thấy được chính lớp dưới kết cấu bậc nhiều cấp, có lễ đài dành cho đoàn chủ tịch khi mít tinh. Còn đối với phần giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài, hành lang, cầu thang lên xuống. Dễ nhận thấy được chính phần trên là mái lăng được tạo dáng cách điệu bông sen nở điều này cũng chính là một điểm nhấn cho lăng. Còn với mặt chính lăng có dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá hồng ngọc màu mận chín nhìn cũng rất đẹp và sang trọng.
Lăng chính là nơi giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người – Vị lãnh tụ kính yêu cảu dân tộc đã đuợc UNESCO tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân Văn hóa thế giới nhân kỷ niệm 100 ngày sinh (1890 – 1990).
Nhận thấy ở phía trước lăng là quảng trường với 320m chiều dài và 100m chiều rộng, đủ chỗ cho 20 vạn người dự mít tinh. Quảng trường Ba Đình lại có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi, xen giữa là lối đi rộng 1,4m. Giữa quảng trường, thì ta như thấy được trước lăng là cột cờ cao 25m.
Đặc biệt là sau khi từ sau năm 1954, có một số công trình được xây dựng thêm xung quanh khu vực Quảng trường Ba Đình. Ta dường như cũng thấy được rằng, chính bên cạnh những kiến trúc thuộc địa cũ. Đó dường như cũng chính là Hội trường Ba Đình và nó cũng đã được hoàn thành năm 1963 – công trình được phá dỡ năm 2008 để nhường chỗ cho dự án xây dựng Nhà Quốc hội mới. Ngài ra ta như còn nhận thấy được chính bảo tàng Hồ Chí Minh (hoàn thành năm 1990), Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ hy sinh vì Tổ Quốc đã được hoàn thành năm 1994. Qủa thực ngoài các công trình lớn như trên, trong quần thể kiến trúc ở Quảng trường Ba Đình có một số công trình nhỏ nhưng cũng rất quan trọng và ý nghĩa có thể kể đến như Chùa Một cột, khu vực nhà sàn Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch. Đây chính là nơi ở và làm việc của Người, hồ cá, vườn cây, rặng dừa, những hàng rao dâm bụt… Những điều này dường như cũng đã đi vào trong những áng thơ ca.
Minh Nguyệt | Thuyết minh về lăng Bác | 707 | |
Thuyết minh về lễ hội truyền thống Lễ hội đền Hùng
Hướng dẫn
Thuyết minh về lễ hội truyền thống Lễ hội đền Hùng
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Bất cứ những người con Việt Nam nào dù đi đâu về đâu cũng đều nhớ tới những giá trị văn hóa của dân tộc, nhớ tới những lễ hội tôn vinh chiến công, công sức dựng nước của mười tám vị vua Hùng- những người đã xây những nền móng đầu tiên của đất nước Việt Nam chúng ta. Do vậy, năm nào cũng thế, vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch, cả nước đều hướng tới Đền Hùng- Phú Thọ. Đây là nơi thờ tụng những vị vua Hùng và là nơi tổ chức lễ hội vào những ngày này. Nhà nước quy định, vào những năm chẵn sẽ được tổ chức theo nghi lễ của quốc gia còn những năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ phụ trách. Nhưng dù có ở năm nào đi chăng nữa thì vào những ngày này, mọi người ai cũng muốn được tới nơi đây để thể hiện tấm lòng thành kính của mình dâng lên cho tổ tiên và những người đi trước. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của đất nước chúng ta.
Lễ hội Đền Hùng và giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hằng năm vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch. Những ngôi đền thờ các vị vua Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây thể hiện một cách vô cùng sâu sắc những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống của nhân dân. Lễ hội được bắt đầu cũng từ chính thời đại của vua Hùng Vương trong quá trình dựng nước và giữ nước. Cũng chính bởi những lí do như vậy mà việc chúng ta suy trì lễ hội này và được tổ chức với quy mô lớn qua các năm càng chứng tỏ tấm lòng của nhân dân, những người thuộc thế hệ đi sau vẫn luôn nhớ tới với niềm biết ơn sâu sắc những vị cha ông ta đã hi sinh để bảo vệ cho đất nước.
Sau phần lễ tế những vị vua Hùng là phần hội. Đây cũng là phần được mọi người rất yêu thích, nhất là với những người thuộc thế hệ trẻ. Mở màn năm nào hầu như cũng là phần thi kiệu của những làng ở xung quanh. Sự tham gia hào hững khiến cho không khí của mùa lễ hội như được dâng cao lên rất nhiều. Bởi mọi người sẽ xem xét và chấm xem cỗ kiệu của làng nào là đẹp nhất thì năm sau, cỗ kiệu của làng đó sẽ được thay mắn những làng còn lại được rước lên đền Thượng làm lễ. Đó chính là niềm vinh dự vô cùng lớn lao đối với ngôi làng được giải nhất vì theo như tập tục cho rằng, ngôi làng có cỗ kiệu được chọn thì trong năm làm ăn sẽ gặp nhiều may mắn, được các Ngài phù hộ tốt lành. Qua đó, chúng ta thấy rõ được những đặc điểm trong đời sống tâm linh của những làng xã quanh chân núi Hùng nói riêng và toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung.
Trong lễ hội, chúng ta sẽ dễ dàng được xem nghi lễ hát Xoan. Đây là nghi lễ vô cùng độc đáo mà chỉ nơi đây mới có bởi chiếu theo lịch sử thì đây là điệu múa hát được bà Lan Xuân- vợ của vua Lý Thần Tông vô cùng yêu thích và có nhiều sự đóng góp giúp cho điệu hát này trở thành điệu hát thờ tại các đền thờ của vua Hùng. Không chỉ có hát Xoan mà ở đền Hạ còn có ca trù. Đây cùng là một loại hình ca hát truyền thống của dân tộc Viết Nam chúng ta. Bên ngoài sân, mọi người cùng nhau tụ tập để chơi một số những trò chơi dân gian như đu quay, đánh cờ, chọi gà, đấu vật,.. Với rất nhiều những trò chơi khác nhau, những người đến thăm hội được thưởng thức bất cứ một loại hình nào mà mình yêu thích. Ví như những bạn trẻ thường chọn chơi đánh đu trên những đu quay làm bằng tre, nứa rất chắc chắn. Buổi tối, những người yêu thích ca hát có thể cùng nhau tham gia những bài hát đối, hát giao duyên, hát chèo,… ngay tại sân của đền Hạ hoặc đền Giếng. Với biết bao những hoạt động bổ ích, hằng năm những lượt khách tới thăm đền Hùng là vô cùng nhiều. Ai cũng muốn được tới nơi thờ phụng tổ tiên của đất nước một lân để thể hiện tấm lòng thành kính. | Thuyết minh về lễ hội truyền thống Lễ hội đền Hùng | 821 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.